1
2
3
4

Kinh A Di Đà

Việt dịch: Thích Nhật Từ

1. NHÂN DUYÊN PHÁP HỘI

Tôi nghe như vầy:

một thời đức Phật

ở chùa Kỳ Viên,

thuộc thành Xá-vệ,

do Cấp Cô Độc

và ông Kỳ-đà

phát tâm hiến cúng.

Pháp hội bấy giờ,

có khoảng một nghìn

hai trăm năm mươi

Tỳ-kheo xuất chúng,

trong đó nhiều vị

là A-la-hán,

danh vang khắp chốn:

ngài đại Ca-diếp,

ngài Xá-lợi-phất,

ngài Mục-kiền-liên,

ngài Ca-chiên-diên,

ngài Câu-hy-la,

Châu-lợi-bàn-đà,

ngài Ly-bà-đa,

ngài A-nan-đà,

ngài La-hầu-la,

Kiều-phạm-ba-đề,

ngài Tân-đầu-lô,

ngài Phả-la-đoạ,

Ca-lưu-đà-di,

ngài Kiếp-tân-na,

ngài Bạt-câu-la,

A-nậu-lâu-đà,

và ngài Nan-đà.

Các đại Bồ-tát

như A-dật-đa,

Càn-đà-ha-đề,

Văn-thù Sư-lợi

và Thường Tinh Tấn

cùng dự pháp hội.

Vua trời Đế-thích

và hàng chư thiên,

cũng đều có mặt.

2. THẾ GIỚI CỰC LẠC

Bấy giờ đức Phật

bảo Xá-lợi-phất,

hướng về phương Tây,

khoảng mười muôn ức

cõi nước chư Phật,

có một thế giới,

tên là Cực Lạc,

giáo chủ là Phật,

hiệu A-di-đà,

hiện đang thuyết pháp.

Này Xá-lợi-phất,

vì sao cõi ấy

gọi là Cực Lạc?

Dân chúng nước ấy

không còn đau khổ,

ngay cả từ “khổ,”

còn không có mặt,

huống chi có thật;

luôn sống an vui,

thân tâm thơi thới.

Cho nên cõi ấy

gọi là Cực Lạc.

Ở cõi nước ấy,

núi non đất đai,

thành quách cung điện,

các thứ phương tiện,

nhà cửa phố xá,

hạ tầng cơ sở,

cho đến hàng cây,

đều nạm bảy báu:

vàng, bạc, trân châu,

pha lê, mã não,

lưu ly, xà cừ.

Cho nên cõi ấy

gọi là Cực Lạc.

Ở cõi Cực Lạc,

có ao thất bảo,

nước tám công đức,

chảy hoài không dứt.

Cát dưới hồ ấy

là vàng đá quý.

Dọc theo bờ hồ,

có những lối đi,

với nhiều lầu các,

trang nghiêm đẹp mắt.

Hoa sen năm sắc,

lớn như bánh xe,

nở bày cánh nhuỵ,

rực rỡ lạ kỳ:

sen xanh ánh biếc,

sen vàng ánh rực,

sen đỏ ánh hồng,

sen trắng ánh tuyết,

hương thơm toả ngát,

tinh khiết nhiệm mầu.

Này Xá-lợi-phất,

ở cõi Cực Lạc,

nhạc trời réo rắc,

vẳng vọng tầng xanh,

như rời khỏi cành,

hoa mạn-đà-la,

điểm thêm hương sắc.

Dân chúng cõi này

thường nhặt hoa ấy,

vận sức thần thông,

bay khắp mười phương,

cúng dường chư Phật.

Trưa về bổn quốc,

ăn trong tỉnh thức,

xong rồi kinh hành,

từng bước thảnh thơi.

Này Xá-lợi-phất,

ở cõi Cực Lạc,

có nhiều chim quý:

Xá-lợi, Anh Vũ,

Bạch Hạc, Khổng Tước,

Ca-lăng-tần-già,

và chim Cộng Mạng,

ngày đêm sáu thời,

cất tiếng hót vang,

pháp âm vi diệu:

bảy bồ-đề phần,

tám con đường thánh,

giúp người nhiếp tâm,

niệm Phật Pháp Tăng,

trở về tỉnh thức.

Này Xá-lợi-phất,

ở cõi Cực Lạc,

gió nhè nhẹ thổi,

xao động hàng cây,

màn lưới lung lay,

tạo ra âm hưởng,

du dương trầm bổng,

vi diệu khôn cùng,

cũng như trăm ngàn

các loại nhạc cụ,

hoà tấu một lần,

giúp cho người nghe,

hân hoan vui vẻ,

niệm Phật Pháp Tăng.

Này Xá-lợi-phất,

thế giới Cực Lạc

với nhiều công đức,

trang nghiêm đặc sắc.

3. Ý NGHĨA PHẬT HIỆU

Này Xá-lợi-phất,

ông hãy nghĩ xem,

vì sao đức Phật

hiệu A-di-đà?

Này Xá-lợi-phất,

vì đức Phật ấy

là Vô Lượng Quang,

chiếu soi khắp cùng

thế giới mười phương,

ngay cả thành quách

không thể ngăn cách.

Này Xá-lợi-phất,

thọ mạng của Phật

và hàng thánh chúng,

ở cõi Tây Phương,

dài lâu vô lượng,

không thể nghĩ bàn.

Do vậy Phật ấy

hiệu A-di-đà.

4. DÂN CHÚNG TỊNH ĐỘ

Này Xá-lợi-phất,

đức A-di-đà,

từ khi thành Phật,

đã hơn mười kiếp,

giúp người chứng đắc

quả vị Duyên Giác,

cũng như Bồ-tát,

nhiều như số cát,

không thể kể xiếc.

Này Xá-lợi-phất,

người sanh cõi Phật

Cực Lạc Tây Phương,

không còn vấn vương,

dục lạc thế gian,

được bất thối chuyển.

Trong đó có vị

đã được thăng tiến,

làm Phật tương lai.

Những vị như vầy,

số không thể đếm.

5. PHÁT NGUYỆN VÃNG SANH

Này Xá-lợi-phất,

do vậy khi nghe

danh Phật Di-đà,

hãy nên nhiếp tâm,

phát nguyện vãng sanh

Tây Phương Cực Lạc,

làm bạn Bồ-tát,

tròn đầy trí đức.

Này Xá-lợi-phất,

những kẻ thiếu phước,

chướng nặng nghiệp dày,

lòng tin dễ lay,

sẽ không dễ gì

sinh về cõi ấy.

6. ĐIỀU KIỆN VÃNG SANH

Này Xá-lợi-phất,

bất luận nữ nam,

muốn được vãng sanh,

thì hãy chuyên cần,

khởi lòng khát ngưỡng,

nhớ nghĩ không quên,

thực tập quán niệm,

“nhất tâm bất loạn,”

trong vòng một ngày,

cho đến bảy ngày.

Trong giờ phút này,

tâm ý người ấy

phải thật yên tĩnh,

như vào thiền định,

không còn tán loạn,

đảo điên mộng tưởng.

Đến lúc qua đời,

Phật A-di-đà,

thánh chúng hà sa,

dang tay tiếp dẫn,

khiến được vãng sanh,

dự hàng chúng thánh,

không hề chia phân.

Này Xá-lợi-phất,

vì nhìn thấy được

lợi lạc hà sa

do niệm Di-đà,

ta khuyên các vị,

hãy nên chuyên tâm,

niệm Phật vãng sanh.

7. CHƯ PHẬT TÁN DƯƠNG

Này Xá-lợi-phất,

khi ta tán dương

Phật A-di-đà,

thì ở phương Đông,

A-súc Bệ Phật,

Tu-di Tướng Phật,

Đại Tu-di Phật,

Tu-di Quang Phật,

và Diệu Âm Phật,

và các Phật khác,

nhiều như số cát,

ở tại bổn quốc,

dùng lưỡi dài rộng,

phát âm vang vọng,

khắp cõi hư không,

nói lời khuyên dạy

tất cả mọi người

nên tin kinh này,

kinh được các Phật

tán thán hộ niệm.

Còn ở phương Nam:

Nhật Nguyệt Đăng Phật,

Danh Văn Quang Phật,

Đại Diệm Kiên Phật,

Tu-di Đăng Phật,

Vô Lượng Tinh Tấn Phật,

và các Phật khác . . . ;

Còn ở phương Tây:

Vô Lượng Thọ Phật,

Vô Lượng Tướng Phật,

Vô Lượng Tràng Phật,

đức Đại Quang Phật,

đức Đại Minh Phật,

đức Bảo Tướng Phật,

đức Tịnh Quang Phật,

và các Phật khác . . . ;

Còn ở phương Bắc:

có Diệm Kiên Phật,

Tối Thắng Âm Phật,

đức Nan Trở Phật,

đức Nhật Sanh Phật,

đức Võng Minh Phật,

và các Phật khác . . . ;

Còn ở phương Dưới:

có Sư Tử Phật,

đức Danh Văn Phật,

đức Danh Quang Phật,

đức Đạt-ma Phật,

đức Pháp Tràng Phật,

đức Trì Pháp Phật,

và các Phật khác . ..;

Còn ở phương Trên:

có Phạm Âm Phật,

đức Tú Vương Phật,

đức Hương Thượng Phật,

đức Hương Quang Phật,

đức Diệm Kiên Phật,

đức Tạp Sắc Bảo

Hoa Nghiêm Thân Phật,

Ta-la Thọ Vương Phật,

Bảo Hoa Đức Phật,

Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật,

Như Tu-di Sơn Phật,

và các Phật khác,

nhiều như số cát,

ở tại bổn quốc,

dùng lưỡi dài rộng,

phát âm vang vọng,

khắp cõi hư không,

nói lời khuyên dạy

tất cả mọi người

nên tin kinh này,

kinh được các Phật

tán thán hộ niệm.

Này Xá-lợi-phất,

theo ông tại sao

Kinh này là Kinh

được các đức Phật

tán thán hộ niệm?

Sở dĩ như thế,

là vì bất cứ

người nam hay nữ,

biết được kinh này,

và danh hiệu Phật

Cực Lạc Tây Phương,

thọ trì hết lòng,

chánh niệm tỉnh thức,

chuyên tâm niệm Phật,

thì những người ấy,

chư Phật hộ trì,

cho đến khi được

giác ngộ vô thượng.

Vì thế các vị

tin lời ta nói,

như chư Phật nói.

Này Xá-lợi-phất,

ai đã phát nguyện,

hoặc đang phát nguyện,

hoặc sẽ phát nguyện,

sanh về Cực Lạc,

thì ngay lúc nguyện,

đã được bất thối,

nơi đạo Vô Thượng

Chánh Đẳng Chánh Giác,

và đã có mặt

tại Cực Lạc rồi.

Này Xá-lợi-phất,

khi ta tán dương

công đức của Phật

Cực Lạc Tây Phương,

thì vô số Phật

cũng đang ca tụng

công đức ta rằng:

“Đức Phật Thích-ca

thật là hy hữu,

trong đời năm trược:

thế giới mong manh,

thấy biết sai lầm,

chúng sinh cang cường,

não phiền nghiệp chướng,

tuổi thọ ngắn ngủi,

mà vẫn tu tập,

đắc được đạo quả

vô thượng bồ-đề;

lại còn tuyên thuyết

pháp môn niệm Phật,

mang lại an lạc,

hạnh phúc đời đời,

giúp cho mọi loài,

thoát khỏi ba cõi.”

8. TÍN THỌ PHỤNG HÀNH

Phật vừa dứt lời,

ngài Xá-lợi-phất,

cùng các Bồ-tát,

các A-la-hán,

các hàng Thanh Văn,

tại gia xuất gia,

thiên a-tu-la,

vô cùng hoan hỷ,

phát nguyện thọ trì,

truyền bá kinh này.

BẠT TRỪ NHẤT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ-LA-NI

Nam-mô a-di-đa-bà-dạ, đa-tha-dà-đa-dạ. Đa-điệt-dạ-tha, a-di-rị-đô-bà-tỳ, a-di-rị-đa, tất-đam-bà-tỳ, a-di-rị-đa, tỳ-ca-lan-đế, a-di-rị-đa, tỳ-ca-lan-đa, dà-di-nị, dà-dà-na, chỉ-đa-ca-lợi, ta-bà-ha. (3 lần)

Đánh giá