Phật Thuyết A Hàm Chánh Hạnh Kinh [佛說阿含正行經]

Hậu Hán An Thế Cao dịch

Bản Việt dịch của Thích Tâm Châu

***

Kinh A Hàm Chính Hạnh

Việt dịch: Thích Tâm Châu

Chính tôi được nghe: một thời kia đức Phật ở trong vườn cây của ông Kỳ-Đà và ông Cấp-Cô-Độc, thuộc nước Xá-Vệ.

Bấy giờ, đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: Nay ta sẽ vì các ông nói về kinh. Trong kinh, lời nói cao-thượng cũng quý, lời nói trung-bình cũng quý, lời nói rất thấp cũng quý. Mà, nói về đạo độ thế, cần lấy “chính tâm làm gốc”. Các ông hãy nghe ta nói và để cho đời sau được truyền-bá, thực-hành theo lời kinh ấy.

Khi ấy, các vị Tỳ-Khưu đều chắp tay thụ-giáo.

Đức Phật dạy: Trong thân người ta có năm thứ giặc, thường lôi kéo người ta vào đường ác. Năm thứ giặc ấy là những gì?

Một là, sắc (hình-sắc).

Hai là, đau-đớn (thụ: chịu đựng).

Ba là, tư-tưởng.

Bốn là, sinh-tử (hành-động).

Năm là, thức (nhận-thức). (2)

Đó là năm thứ mà người ta thường niệm đến.

Đức Phật dạy: Người ta thường bị mắt lừa-dối, tai lừa-dối, mũi lừa-dối, miệng lừa-dối và bị thân lừa-dối. Song, mắt chỉ trông được, không thể nghe được; tai chỉ nghe được, không thể trông thấy được, mũi chỉ biết ngửi hương-vị không thể nghe được; miệng lưỡi chỉ biết nếm mùi, không thể biết được hương-vị; thân-thể chỉ biết lạnh, ấm, không thể biết được mùi. Năm căn ấy đều thuộc về “tâm” và lấy “tâm” làm gốc. (3)

Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu! Các ông muốn cầu đạo, các ông nên đoan-chính tâm các ông. Nếu từ nơi si-mê phát-khởi, hẳn sẽ sa rơi vào mười hai nhân-duyên và liền có ra sự sinh-tử luân-hồi. Những gì là mười hai nhân-duyên? – Một là, căn-bản là si-mê (vô-minh). Hai là, hành (hành-động). Ba là, thức (nhận-thức). Bốn là, tự (danh-tự hay danh-sắc) (4). Năm là, lục-nhập (5). Sáu là, tài (tài-bồi, có chỗ gọi là xúc) (6). Bảy là thống (đau-khổ, có chỗ gọi là thủ). Tám là, ái (yêu). Chín là, thụ (cảm-thụ). Mười là, hữu (7). Mười một là, sinh. Mười hai là tử (8). Người làm việc thiện, sẽ được làm người. Người làm việc ác, chết phải vào trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh.

Đức Phật ngồi suy-nghĩ và nói: “Người ta do si-mê, nên có ra sự sinh-tử”. Si là gì? – Trước đây do từ trong si-mê, nên nay sinh làm người. Làm người, tâm si-mê không cởi-mở, mắt không khai tỏ, không biết chết đi sẽ xu-hướng về nơi nào; thấy Phật không hỏi, thấy kinh không đọc, thấy bậc Sa-Môn (9) không biết thừa-sự, không tin đạo-đức; thấy cha mẹ không kính; không nghĩ đến nỗi khổ của thế gian, không biết sự tra-khảo, trừng-trị kịch-liệt trong địa-ngục, thế gọi là si-mê, nên có ra sự sinh-tử. Và, sự sinh-tử không ngừng, nhanh như thời-gian hô-hấp, nguy-hiểm ngay đến thân-mệnh người ta. Trong thân người ta có ba sự, sau khi thân chết đi thời Thức đi, Tâm đi và Ý đi. Trong ba sự ấy, thường theo-đuổi nhau. Người làm việc ác, chết phải sa vào trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc sinh và quỷ-thần. Người làm việc thiện cũng có ba sự ấy thường theo-đuổi nhau, hoặc sinh lên cõi Trời, hoặc sinh trong cõi người. Những người bị sa-đọa vào trong năm đường (10), đều vì tâm không được đoan-chính.”

Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: Các ông đều phải nên đoan-chính tâm các ông, đoan-chính mắt các ông, đoan-chính tai các ông, đoan-chính mũi các ông, đoan-chính miệng các ông, đoan-chính thân các ông và đoan-chính ý các ông. Thân-thể sẽ tan-hòa với đất, nhưng khối thần-thức sẽ không phải vào trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, quỷ-thần.

Thấy nhà người ta có người con ác, bị quan nã-bắt, cũng đều vì tâm không được đoan-chính. Trong thân người ta có đến trăm tên gọi, như xe cũng có trăm tên gọi. Người hay tham, hay giận, không suy-nghĩ gì đến những sự trong thân, chết vào trong địa-ngục, hối không kịp được.

Đức Phật dạy: Thân ta xa-lìa đất nước, bỏ ngôi Chuyển-Luân-Vương lo cắt đứt sinh-tử, muốn độ những người thế-gian, khiến họ được đạo-quả Niết-Bàn. Người tinh-tiến thứ nhất sẽ được đạo-quả A-La-Hán; người tinh-tiến thứ hai tự đến được đạo-quả A-Na-Hàm. Người tinh-tiến thứ ba được đạo-quả Tư-Đà-Hàm. Người tinh-tiến thứ tư được đạo-quả Tu-Đà-Hoàn (11). Tuy thế, người không tinh-tiến lắm được, cũng cần nên giữ năm điều răn: Một là, không sát sinh. Hai là, không trộm-cắp. Ba là, không hai lưỡi. Bốn là, không dâm-dật. Năm là, không uống rượu (12).

Đức Phật dạy: Người ta dù khi ngồi, khi dậy, thường nên suy-nghĩ bốn việc này. Bốn việc ấy là những gì?

Một là, tự quán thân mình và quán thân người.

Hai là, tự quán sự đau-đớn nơi mình và quán sự đau-đớn nơi người.

Ba là, tự quán tâm-ý nơi mình và quán tâm-ý nơi người.

Bốn là, quán pháp nơi mình và quán pháp nơi người (13).

Người mà trong tâm khi sắp loạn-động, nên thu tâm lại, tự đoan-chính nhìn thẳng vào thân-thể, quán-tưởng rằng: “Thân này, no cũng cực, đói cũng cực, ở cũng cực, ngồi cũng cực, đi cũng cực, rét cũng cực, nóng cũng cực, nằm cũng cực. Khi sắp muốn nằm, nên tự sợ hãi ngồi dậy! Người ngồi không được đoan-chính, nên đứng dậy. Người đứng không được đoan-chính, nên kinh-hành. Người mà thảng hoặc tâm không được đoan-chính, nên tự chính. Ví như Quốc-Vương đem binh ra trận chiến-đấu, phải dàn những quân mạnh-mẽ ở đằng trước; tuy đã chống giặc ở khu trước, lại phải thích-hợp, có thể gìn-giữ được những người ở sau. Vị Sa-Môn đã bỏ nhà cửa, bỏ vợ con, cạo râu tóc làm Sa-Môn, tuy chịu khổ một đời, sau được giải-thoát mãi mãi. Người khi đắc đạo rồi, trong tâm mình vui vẻ, coi vợ như chị, em, coi con như bạn tri-thức, không còn có tâm tham-ái và thường rủ lòng lành thương; coi chư Thiên, nhân-dân, địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, cùng những loài sâu bay, bọ cựa trong mười phương, đều được giàu sang, an-lành, thoát khỏi sinh-tử, được đạo-quả Niết-Bàn. Thấy những loài sâu dưới đất, nên đem lòng từ thương xót nó. Biết lẽ sống, không vướng lại sự si-mê và thường có ý-niệm này: thường nghĩ ân-đức Thầy, phụng-sự Phật, như người nghĩ đến công ơn cha mẹ, như người tù bị tội tử-hình giam trong ngục, có bậc Hiền-giả đến xin cho khỏi bị tù; người bị tù có trí hiểu-biết, thường nghĩ đến ân đức bậc Hiền-giả. Vị Tỳ-Khưu được đạo-quả rồi, thường cũng phải nghĩ đến Phật như thế và nghĩ đến kinh-pháp cũng như người nghĩ đến việc ăn cơm vậy.

Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu nên thừa sự nhau, như em thờ anh. Trong ấy, nếu có người si-mê, nên học-hỏi người trí-tuệ; đắp-đổi dạy lẫn nhau. Học hỏi người trí-tuệ như trong nơi tối có ánh đèn. Không được cãi-cọ, kiện-cáo nhau. Thấy vàng bạc nên coi như đất, đá. Không được làm chứng càn cho người ta, ghép người ta vào tội-pháp. Không được truyền lời nói xấu của người ta và chuyển lời nói đấu-tranh nhau. Không được làm thương-tổn trong ý nói của người ta. Không nghe thấy đừng nói là nghe thấy, không trông thấy đừng nói là trông thấy. Đi đường thường nên cúi đầu trông xuống đất. Sâu-bọ không nên dẫm chết. Không được tham-đắm phụ-nữ người ta và không được dùng hình-bóng phụ-nữ người ta. Ngồi tự suy-nghĩ: “Bỏ tâm tham-ái, mới được gọi là đạo”.

Đức Phật dạy: Người muốn cầu đạo, nên cầu ở chốn không-nhàn vẳng-lặng, tự hô-hấp hơi thở nơi mình, biết cách thở dài, ngắn; thở ra không hít vào, hình-thể đều mệt, ngậm hơi không thở, hình-thể cũng mệt (14). Phân-biệt tự suy nghĩ: “Hình-thể này ai là người tạo-tác ra? Tâm nên xét ngoài, cũng nên xét trong. Tự suy nghĩ, vui-vẻ, cùng người ta có tâm khác hơn, thời trong khi ấy thấy không cần dùng những thứ trân-bảo của thiên-hạ nữa. Người, tâm hơi muốn theo chánh-đạo, ý lại muốn chút xao-động, nên nén dẹp, ngăn ngừa giữ lại ngay, thời ý liền hoàn lại. Ví như người có tấm gương, gương không sáng không thể thấy hình được, lau-chùi bụi nhơ trên gương, tự thấy hình ngay. Người ta bỏ được tham-dâm, giận-dữ, ngu-si cũng ví như tấm gương đã lau-chùi rồi. Suy nghĩ kỹ: “Thiên-hạ này đều không có cái chi là vững-bền và cũng không có cái chi là thường mãi.”

Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu giữ-gìn tâm mình, nên như tảng đá vuông bốn mặt. Tảng đá ở giữa sân, mưa rơi cũng không hoại được, ánh mặt trời thiêu đốt cũng không tan được, gió thổi cũng không chuyển được. Gìn giữ tâm thường như tảng đá ấy.

Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: Lòng người trong thiên-hạ cũng như nước chảy; trong giòng nước chảy ấy, có cỏ cây gì, đều tự trôi đi, không đoái nhìn lại nhau, thứ trôi trước không đoái nhìn lại thứ sau và thứ sau cũng không nhìn về thứ trước. Cỏ cây trôi đi, đều tự như thế. Lòng người cũng như thế, một niệm lại, một niệm đi, như cỏ cây trước, sau không nhìn lại nhau. Trong khoảng thiên thượng, thiên hạ này, không có cái gì ở chỗ nào lại vui trở lại. Gửi thân trong trời đất, bỏ thân này không sinh lại được. Đạo thành nên biết ơn thầy, thấy thầy liền thừa-sự, không thấy thầy nên suy-nghĩ lời răn dạy của thầy, như người nhớ nghĩ đến cha mẹ. Ý định có sự nhất tâm, liền có lòng thương-sót những loài sâu bay, bọ cựa cùng nhân-dân thiên-hạ. Và, ta ngồi ta tự vui cười là ta đã thoát thân trong thiên-hạ cùng năm đạo: một là Thiên-đạo, hai là Nhân-đạo, ba là Ngã-quỷ-đạo, bốn là Súc-sinh-đạo, năm là Địa-ngục-đạo. Người được đạo-quả A-La-Hán muốn phi-hành, biến-hóa cũng được; trong thân biến ra nước, lửa cũng được, ra chỗ kín mịn không kẽ hở, vào chỗ dầy-đặc không lỗ hổng cũng được và xa-lìa nỗi khổ thế-gian, chứng-đạo Niết-Bàn cũng được.”

Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: “Đạo không thể không làm, kinh không thể không đọc.”

Đức Phật nói kinh này rồi, năm trăm vị Sa-Môn đều được đạo-quả A-La-Hán. Các vị Sa-Môn ấy đều đứng dậy, tới trước đức Phật, đầu mặt cúi sát đất, làm lễ đức Phật mà lui.


Chú thích:

(1) Kinh này là cuốn kinh số 151 trong Đại-Tạng-kinh. A-Hàm (Agama) gọi tóm-tắt kinh sách Tiểu-thừa. A-Hàm dịch là “Pháp-quy” là muôn pháp quay về nơi có nghĩa là vô-lậu; lại dịch là “vô-tỉ-pháp” có nghĩa là diệu-pháp không có gì sánh kịp, và dịch là “thú vô” có nghĩa là tôn-chỉ nói ra đạt tới chỗ rốt-ráo không còn có chỗ quy-thú nữa.

(2) Đây là nói về 5 uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành và thức.

(3) Đây nói là sự phân-biệt giả-dối của năm căn và đều quy về tâm làm gốc.

(4) Danh-sắc: là nói báo thân trong thai tạng do tâm-thức (danh) và tứ đại (sắc) hòa-hợp, nương tựa nhau sinh trưởng.

(5) Lục-nhập: 6 căn xúc nhập với 6 trần.

(6) Vun trồng, tiếp xúc.

(7) Có sự tạo-tác kết thành nghiệp hữu-lậu.

(8) 12 nhân-duyên nơi đây so-sánh với nơi khác, phần danh-từ và thứ thự hơi có chút sai-biệt.

(9) Sa-Môn (Srmana): Xưa dịch là “Tức tâm, Tĩnh-chí, Bần-đạo v.v…” Nay dịch là “Công-lao, Cần-tức”, đều có nghĩa là vị tu-hành siêng-năng tu-tập, ngăn-dứt phiền-não nơi tâm, làm yên lặng, trong sạch thần-chí, có công cần-cù khó nhọc tiến tu về đạo giải-thoát (đạo Phật).

(10) 5 đường: Thiên, A-tu-la, Địa-ngục, Ngã-quỷ, Súc-sinh.

(11) Xem chú-thích nơi kinh Tội-Phúc Báo Ứng.

(12) Năm điều răn này so với chỗ khác có sự sai thứ-tự.

(13) Đây là nói về 4 chỗ quán-niệm (tứ niệm xứ): 1/ Quán thân không trong-sạch. 2/ Quán sự lĩnh-thụ là khổ. 3/ Quán tâm là vô thường. 4/ Quán pháp là vô ngã.

(14) Đây là nói về Sổ-tức-quán (cách đếm hơi thở).

01 | 佛說阿含正行經
02 | 後漢安息國三藏安世 高譯
03 | 聞如是: 一 時,佛在舍衛國祇樹給孤獨園。是
04 | 時,佛告諸比丘言:「我為汝說經,上語亦善,中
05 | 語亦善,下語亦善,語深說度世 之 道,正心
06 | 為本。聽我言,使後世 傳行之 。」諸比丘叉手受
07 | 教。 佛言:「人身中有五 賊,牽人入 惡道。何 等五
08 | 賊?一 者色,二 者痛痒,三者思想,四者生死,
09 | 五 者識,是五 者人所常念。」 佛言:「人常為目所
10 | 欺,為耳所欺,為鼻所欺,為口所欺,為身所
11 | 欺。目但 能見不能聞;耳但 能聞不能見;鼻但
12 | 能知香,不能聞;口但 能知味,不能知香;身體
13 | 但 能知寒溫,不能知味。是五 者,皆屬心,心為
14 | 本。」 佛言:「諸比丘!欲求道者,當端汝心,從癡但
15 | 墮十二 因緣,便 有生死。何 等十二 ?一 者本為
16 | 癡,二 者行,三者識,四者字,五 者六 入 ,六 者
17 | 栽,七者痛,八 者愛,九者受,十者有,十一 者
18 | 生,十二 者死。施行善者,復得為人,施行惡
19 | 者,死入 地獄、餓鬼、畜生中。佛坐思念:『人癡故
20 | 有生死,何 等為癡?』本從癡中來,今生為人,復
21 | 癡心不解目不開,不知死當所趣向?見佛不
22 | 問,見經不讀,見沙門不承事 ,不信 道德,見父
23 | 母不敬,不念世 間苦,不知泥犁中考治劇 ,是
24 | 名為癡故有生死。不止生死,如呼吸間,脆不
25 | 過於人命。人身中有三事 ,身死識去心去意
26 | 去,是三者,常相追逐。施行惡者,死入 泥犁、餓
27 | 鬼、畜生、鬼神中;施行善者,亦有三相追逐,或
28 | 生天上,或生人中,墮是五 道中者,皆坐心
29 | 不端故。」 佛告諸比丘:「皆端汝心,端汝目,端汝
30 | 耳,端汝鼻,端汝口,端汝身,端汝意,身體當
31 | 斷於土,魂神當不復入 泥犁、餓鬼、畜生、鬼神
32 | 中。視人家有惡子,為吏所取,皆坐心不端故。
33 | 人身有百字,如車有百字,人多貪好怒,不思
34 | 惟身中事 ,死入 泥犁中,悔無所復及。」 佛言:「我
35 | 身棄國,損遮迦越王,憂斷生死,欲度世 間人
36 | 使得泥洹道。第一 精進者,即得阿羅漢道。第
37 | 二 精進者,自致阿那含道。第三精進者,得斯
38 | 陀含道。第四精進者,得須陀洹道。雖不能大
39 | 精進者,當持五 戒:一 不殺,二 不盜,三不兩
40 | 舌,四不婬妷,五 不飲酒。」 佛言:「人坐起常當
41 | 思念是四事 ,何 等四?一 者自觀身,觀他人身。
42 | 二 者自觀痛痒,觀他人痛痒。三者自觀意,
43 | 觀他人意。四者自觀法,觀他人法。內復欲亂
44 | 者,心小自端視身體,飽亦極,飢亦極,住 亦極,
45 | 坐亦極,行亦極,寒亦極,熱亦極,臥亦極。臥
46 | 欲來時,當自驚起坐,坐不端者,當起立,立不
47 | 端者,當經行,心儻 不端者,當自正。譬如國
48 | 王將兵 出鬪,健 者在前 ,既在前 鄙復却適欲
49 | 却著後人;沙門既棄家,去妻子,除鬚髮,作沙
50 | 門,雖一 世 苦,後長得解脫。已得道者,內獨歡
51 | 喜,視妻如視姊弟,視子如知識,無貪愛之
52 | 心,常慈哀十方諸天人民,泥犁、餓鬼、畜生,
53 | 蜎飛蠕動 之 類,皆使富貴安隱度脫得泥洹
54 | 之 道,見地蟲當以 慈心傷 哀之 。知生不復癡,
55 | 能有是意,常念師事 佛,如人念父母,如獄中
56 | 有死罪囚,有賢者往請囚,囚黠慧常念賢者
57 | 恩。比丘以 得道,常念佛如是,念經如人念飯食。」
58 | 佛言:「諸比丘!轉相承事 ,如弟事 兄 ,中有癡
59 | 者,當問慧者,展轉相教。問慧者,如冥 中有燈
60 | 火,無得陰搆作惡,無得諍訟。見金銀當如
61 | 視土,無得妄證人入 罪法,無得傳人惡言,轉
62 | 相鬪語言,無得中傷 人意。不聞莫言聞,不見
63 | 莫言見,行道常當低 頭視地,蟲無得蹈殺。無
64 | 得自貪人婦女,無得形相人婦女。坐自思
65 | 惟,去貪愛之 心,乃得為道耳。」 佛言:「欲求道
66 | 者,當於空閑處坐,自呼吸其喘息,知息短長,
67 | 息不報形體皆極,閉氣不息,形體亦極。分別
68 | 自思惟:『形體誰作者?』心當觀外,亦當觀內。
69 | 自思惟歡然,與人有異心,當是時不用天下
70 | 珍寶,心稍欲隨正道,意復欲小動 者,當攝止
71 | 即還守,意即為還。譬如人有鏡,不明不見形,
72 | 磨去其垢,即自見形。人已去貪婬瞋恚愚癡,
73 | 譬如磨鏡。諦思惟天下,皆無有堅固,亦無有
74 | 常。」 佛告諸比丘:「持心當如四方石,石在中庭,
75 | 雨墮亦不能壞,日炙亦不能消,風吹亦不能
76 | 起,持心當如石。」
77 | 佛告諸比丘:「天下人心如流水,中有草木,各
78 | 自流去,不相顧望,前 者亦不顧後,後者亦不
79 | 顧前 ,草木流行,各自如故。人心亦如是,一 念
80 | 來一 念去,如草木前 後不相顧望,於天上天
81 | 下無所復樂,寄居天地間,棄身不復生。道成
82 | 乃知師恩,見師者即承事 ,不見師即思念其
83 | 教誡,如人念父母,意定乃能有一 心,便 有哀
84 | 天下人民蜎飛蠕動 之 類。坐自笑我已脫身
85 | 於天下及五 道,一 者天道,二 者人道,三者餓
86 | 鬼道,四者畜生道,五 者泥犁道。得阿羅漢者,
87 | 欲飛行變化即能,身中出水火即能,出無間
88 | 入 無孔亦能,離世 間苦取泥洹道亦能。」
89 | 佛告諸比丘:「道不可不作,經不可不讀。」 佛說
90 | 經已,五 百沙門皆得阿羅漢。諸沙門皆起前 ,
91 | 以 頭面著地為佛作禮。

01 | Phật Thuyết A Hàm Chính Hành Kinh

02 | Hậu Hán An Tức Quốc Tam Tạng An Thế Cao Dịch

03 | Văn Như Thị Nhất Thời Phật Tại Xá Vệ Quốc Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên Thị

04 | Thời Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Ngôn Ngã Vi Nhữ Thuyết Kinh Thượng Ngữ Diệc Thiện Trung

05 | Ngữ Diệc Thiện Hạ Ngữ Diệc Thiện Ngữ Thâm Thuyết Độ Thế Chi Đạo Chính Tâm

06 | Vi Bản Thính Ngã Ngôn Sứ Hậu Thế Truyền Hành Chi Chư Tỉ Khâu Xoa Thủ Thụ

07 | Giáo Phật Ngôn Nhân Thân Trung Hữu Ngũ Tặc Khiên Nhân Nhập Ác Đạo Hà Đẳng Ngũ

08 | Tặc Nhất Giả Sắc Nhị Giả Thống Dương Tam Giả Tư Tưởng Tứ Giả Sinh Tử

09 | Ngũ Giả Thức Thị Ngũ Giả Nhân Sở Thường Niệm Phật Ngôn Nhân Thường Vi Mục Sở

10 | Khi Vi Nhĩ Sở Khi Vi Tị Sở Khi Vi Khẩu Sở Khi Vi Thân Sở

11 | Khi Mục Đãn Năng Kiến Bất Năng Văn Nhĩ Đãn Năng Văn Bất Năng Kiến Tị Đãn

12 | Năng Tri Hương Bất Năng Văn Khẩu Đãn Năng Tri Vị Bất Năng Tri Hương Thân Thể

13 | Đãn Năng Tri Hàn Ôn Bất Năng Tri Vị Thị Ngũ Giả Giai Thuộc Tâm Tâm Vi

14 | Bản Phật Ngôn Chư Tỉ Khâu Dục Cầu Đạo Giả Đương Đoan Nhữ Tâm Tùng Si Đãn

15 | Đoạ Thập Nhị Nhân Duyên Tiện Hữu Sinh Tử Hà Đẳng Thập Nhị Nhất Giả Bản Vi

16 | Si Nhị Giả Hành Tam Giả Thức Tứ Giả Tự Ngũ Giả Lục Nhập Lục Giả

17 | Tài Thất Giả Thống Bát Giả Ái Cửu Giả Thụ Thập Giả Hữu Thập Nhất Giả

18 | Sinh Thập Nhị Giả Tử Thí Hành Thiện Giả Phục Đắc Vi Nhân Thí Hành Ác

19 | Giả Tử Nhập Địa Ngục Ngạ Quỷ Súc Sinh Trung Phật Toạ Tư Niệm Nhân Si Cố

20 | Hữu Sinh Tử Hà Đẳng Vi Si Bản Tùng Si Trung Lai Kim Sinh Vi Nhân Phục

21 | Si Tâm Bất Giải Mục Bất Khai Bất Tri Tử Đương Sở Thú Hướng Kiến Phật Bất

22 | Vấn Kiến Kinh Bất Độc Kiến Sa Môn Bất Thừa Sự Bất Tín Đạo Đức Kiến Phụ

23 | Mẫu Bất Kính Bất Niệm Thế Gian Khổ Bất Tri Nê Lê Trung Khảo Trị Kịch Thị

24 | Danh Vi Si Cố Hữu Sinh Tử Bất Chỉ Sinh Tử Như Hô Hấp Gian Thuý Bất

25 | Quá Ư Nhân Mệnh Nhân Thân Trung Hữu Tam Sự Thân Tử Thức Khứ Tâm Khứ Ý

26 | Khứ Thị Tam Giả Thường Tướng Đôi Trục Thí Hành Ác Giả Tử Nhập Nê Lê Ngạ

27 | Quỷ Súc Sinh Quỷ Thần Trung Thí Hành Thiện Giả Diệc Hữu Tam Tướng Đôi Trục Hoặc

28 | Sinh Thiên Thượng Hoặc Sinh Nhân Trung Đoạ Thị Ngũ Đạo Trung Giả Giai Toạ Tâm

29 | Bất Đoan Cố Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Giai Đoan Nhữ Tâm Đoan Nhữ Mục Đoan Nhữ

30 | Nhĩ Đoan Nhữ Tị Đoan Nhữ Khẩu Đoan Nhữ Thân Đoan Nhữ Ý Thân Thể Đương

31 | Đoán Ư Độ Hồn Thần Đương Bất Phục Nhập Nê Lê Ngạ Quỷ Súc Sinh Quỷ Thần

32 | Trung Thị Nhân Gia Hữu Ác Tử Vi Lại Sở Thủ Giai Toạ Tâm Bất Đoan Cố

33 | Nhân Thân Hữu Bá Tự Như Xa Hữu Bá Tự Nhân Đa Tham Hảo Nộ Bất Tư

34 | Duy Thân Trung Sự Tử Nhập Nê Lê Trung Hối Vô Sở Phục Cập Phật Ngôn Ngã

35 | Thân Khí Quốc Tổn Già Ca Việt Vương Ưu Đoán Sinh Tử Dục Độ Thế Gian Nhân

36 | Sứ Đắc Nê Hoàn Đạo Đệ Nhất Tinh Tấn Giả Tức Đắc A La Hán Đạo Đệ

37 | Nhị Tinh Tấn Giả Tự Trí A Na Hàm Đạo Đệ Tam Tinh Tấn Giả Đắc Tư

38 | Đà Hàm Đạo Đệ Tứ Tinh Tấn Giả Đắc Tu Đà Hoàn Đạo Tuy Bất Năng Đại

39 | Tinh Tấn Giả Đương Trì Ngũ Giới Nhất Bất Sát Nhị Bất Đạo Tam Bất Lưỡng

40 | Thiệt Tứ Bất Dâm Ngũ Bất Ẩm Tửu Phật Ngôn Nhân Toạ Khởi Thường Đương

41 | Tư Niệm Thị Tứ Sự Hà Đẳng Tứ Nhất Giả Tự Quan Thân Quan Tha Nhân Thân

42 | Nhị Giả Tự Quan Thống Dương Quan Tha Nhân Thống Dương Tam Giả Tự Quan Ý

43 | Quan Tha Nhân Ý Tứ Giả Tự Quan Pháp Quan Tha Nhân Pháp Nội Phục Dục Loạn

44 | Giả Tâm Tiểu Tự Đoan Thị Thân Thể Bão Diệc Cực Cơ Diệc Cực Trụ Diệc Cực

45 | Toạ Diệc Cực Hành Diệc Cực Hàn Diệc Cực Nhiệt Diệc Cực Ngoạ Diệc Cực Ngoạ

46 | Dục Lai Thời Đương Tự Kinh Khởi Toạ Toạ Bất Đoan Giả Đương Khởi Lập Lập Bất

47 | Đoan Giả Đương Kinh Hành Tâm Thảng Bất Đoan Giả Đương Tự Chính Thí Như Quốc

48 | Vương Tương Binh Xuất Đấu Kiện Giả Tại Tiền Kí Tại Tiền Bỉ Phục Khước Đích Dục

49 | Khước Trước Hậu Nhân Sa Môn Kí Khí Gia Khứ Thê Tử Trừ Tu Phát Tác Sa

50 | Môn Tuy Nhất Thế Khổ Hậu Trường Đắc Giải Thoát Dĩ Đắc Đạo Giả Nội Độc Hoan

51 | Hỉ Thị Thê Như Thị Tỉ Đệ Thị Tử Như Tri Thức Vô Tham Ái Chi

52 | Tâm Thường Từ Ai Thập Phương Chư Thiên Nhân Dân Nê Lê Ngạ Quỷ Súc Sinh

53 | Quyên Phi Nhu Động Chi Loại Giai Sứ Phú Quý An Ẩn Độ Thoát Đắc Nê Hoàn

54 | Chi Đạo Kiến Địa Trùng Đương Dĩ Từ Tâm Thương Ai Chi Tri Sinh Bất Phục Si

55 | Năng Hữu Thị Ý Thường Niệm Sư Sự Phật Như Nhân Niệm Phụ Mẫu Như Ngục Trung

56 | Hữu Tử Tội Tù Hữu Hiền Giả Vãng Thỉnh Tù Tù Hiệt Tuệ Thường Niệm Hiền Giả

57 | Ân Tỉ Khâu Dĩ Đắc Đạo Thường Niệm Phật Như Thị Niệm Kinh Như Nhân Niệm Phạn Thực

58 | Phật Ngôn Chư Tỉ Khâu Chuyển Tướng Thừa Sự Như Đệ Sự Huynh Trung Hữu Si

59 | Giả Đương Vấn Tuệ Giả Triển Chuyển Tướng Giáo Vấn Tuệ Giả Như Minh Trung Hữu Đăng

60 | Hoả Vô Đắc Âm Câu Tác Ác Vô Đắc Tránh Tụng Kiến Kim Ngân Đương Như

61 | Thị Độ Vô Đắc Vọng Chứng Nhân Nhập Tội Pháp Vô Đắc Truyền Nhân Ác Ngôn Chuyển

62 | Tướng Đấu Ngữ Ngôn Vô Đắc Trung Thương Nhân Ý Bất Văn Mạc Ngôn Văn Bất Kiến

63 | Mạc Ngôn Kiến Hành Đạo Thường Đương Đê Đầu Thị Địa Trùng Vô Đắc Đạo Sát Vô

64 | Đắc Tự Tham Nhân Phụ Nữ Vô Đắc Hình Tướng Nhân Phụ Nữ Toạ Tự Tư

65 | Duy Khứ Tham Ái Chi Tâm Nãi Đắc Vi Đạo Nhĩ Phật Ngôn Dục Cầu Đạo

66 | Giả Đương Ư Không Nhàn Xứ Toạ Tự Hô Hấp Kì Suyễn Tức Tri Tức Đoản Trường

67 | Tức Bất Báo Hình Thể Giai Cực Bế Khí Bất Tức Hình Thể Diệc Cực Phân Biệt

68 | Tự Tư Duy Hình Thể Thùy Tác Giả Tâm Đương Quan Ngoại Diệc Đương Quan Nội

69 | Tự Tư Duy Hoan Nhiên Dữ Nhân Hữu Dị Tâm Đương Thị Thời Bất Dụng Thiên Hạ

70 | Trân Bảo Tâm Sảo Dục Tùy Chính Đạo Ý Phục Dục Tiểu Động Giả Đương Nhiếp Chỉ

71 | Tức Hoàn Thủ Ý Tức Vi Hoàn Thí Như Nhân Hữu Kính Bất Minh Bất Kiến Hình

72 | Ma Khứ Kì Cấu Tức Tự Kiến Hình Nhân Dĩ Khứ Tham Dâm Sân Khuể Ngu Si

73 | Thí Như Ma Kính Đế Tư Duy Thiên Hạ Giai Vô Hữu Kiên Cố Diệc Vô Hữu

74 | Thường Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Trì Tâm Đương Như Tứ Phương Thạch Thạch Tại Trung Đình

75 | Vũ Đoạ Diệc Bất Năng Hoại Nhật Chích Diệc Bất Năng Tiêu Phong Xuy Diệc Bất Năng

76 | Khởi Trì Tâm Đương Như Thạch

77 | Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Thiên Hạ Nhân Tâm Như Lưu Thuỷ Trung Hữu Thảo Mộc Các

78 | Tự Lưu Khứ Bất Tướng Cố Vọng Tiền Giả Diệc Bất Cố Hậu Hậu Giả Diệc Bất

79 | Cố Tiền Thảo Mộc Lưu Hành Các Tự Như Cố Nhân Tâm Diệc Như Thị Nhất Niệm

80 | Lai Nhất Niệm Khứ Như Thảo Mộc Tiền Hậu Bất Tướng Cố Vọng Ư Thiên Thượng Thiên

81 | Hạ Vô Sở Phục Lạc Kí Cư Thiên Địa Gian Khí Thân Bất Phục Sinh Đạo Thành

82 | Nãi Tri Sư Ân Kiến Sư Giả Tức Thừa Sự Bất Kiến Sư Tức Tư Niệm Kì

83 | Giáo Giới Như Nhân Niệm Phụ Mẫu Ý Định Nãi Năng Hữu Nhất Tâm Tiện Hữu Ai

84 | Thiên Hạ Nhân Dân Quyên Phi Nhu Động Chi Loại Toạ Tự Tiếu Ngã Dĩ Thoát Thân

85 | Ư Thiên Hạ Cập Ngũ Đạo Nhất Giả Thiên Đạo Nhị Giả Nhân Đạo Tam Giả Ngạ

86 | Quỷ Đạo Tứ Giả Súc Sinh Đạo Ngũ Giả Nê Lê Đạo Đắc A La Hán Giả

87 | Dục Phi Hành Biến Hoá Tức Năng Thân Trung Xuất Thuỷ Hoả Tức Năng Xuất Vô Gian

88 | Nhập Vô Khổng Diệc Năng Li Thế Gian Khổ Thủ Nê Hoàn Đạo Diệc Năng

89 | Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Đạo Bất Khả Bất Tác Kinh Bất Khả Bất Độc Phật Thuyết

90 | Kinh Dĩ Ngũ Bá Sa Môn Giai Đắc A La Hán Chư Sa Môn Giai Khởi Tiền

91 | Dĩ Đầu Diện Trước Địa Vi Phật Tác Lễ

Kinh A Hàm Chính Hạnh
Đánh giá