Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (Phẩm Tu Từ)

Đường Đề Vân Bát Nhã Đẳng dịch

Bản Việt dịch của Thích Nữ Như Phúc

***

Như vầy tôi nghe:

Một thời đức Phật ở trong núi Thứu Phong, thành Vương Xá, cùng với vô lượng chúng đại Bồ tát vân tập và đại Bồ tát Di Lạc làm thượng thủ.

Bấy giờ, ở phương Đông có mười ức Phạm thiên đều an trú với tâm từ. Họ đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài và dâng cúng những phẩm vật tốt đẹp nhất. Cúng dường xong, mỗi vị tự ngồi lên tòa Liên Hoa, nơi được sinh ra từ những phước đức.

Các vị Phạm thiên cung kính tôn trọng, chiêm ngưỡng đức Như Lai. Phương Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới, nơi nào họ đến cũng đều thực hiện như vậy.

Các chúng Phạm thiên ở chỗ đức Phật bằng đôi mắt từ, lần lượt chiêm ngưỡng Như Lai, đồng thời quay lại chăm chú nhìn Bồ tát Di Lạc. Khi ấy, đại Bồ tát Di Lạc từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa hở vai áo phải, quỳ gối, chắp tay bạch Phật:

– Đại đức Thế tôn, đấng Nhất thiết trí! Đối với các pháp tánh, Ngài đã thông tuệ một cách chính xác và biết hết những nghiệp thiện ác của chúng sanh. Kẻ phàm phu do đây mà bị luân hồi sanh tử. Đức Như Lai khéo khai ngộ đạo tam thừa và đem tam thừa đồng quy về nhất thừa. Tất cả chúng sanh căn tánh khác nhau và ở trong phiền não che lấp buộc ràng, nhưng có chủng tánh của Như Lai. Ngài thấy rõ khắp tất cả không nhầm lẫn và biết các pháp đều không, như mộng, như huyễn, như quáng nắng, không có gì chắc thật. Nhưng tâm đại bi của Như Lai không cùng tận, dùng phương tiện khéo léo làm cho những hạng phàm phu thấy tướng vi diệu của sắc thân Phật. Thân Phật là sự thành tựu của trí tuệ siêu việt, chân thật tự nhiên, thường trụ không biến đổi, giống như hư không. Có chúng sanh nào tinh cần tu tập phước tuệ, không tùy theo tâm thức, rong ruổi nơi trần cảnh, không như con nai bị khát nơi đồng trống mênh mông, chạy theo quáng nắng mà cho là nước. Người như vậy thì được gặp Phật, thường nghe thuyết pháp, y theo lời dạy như lý tu hành.

Bạch đức Thế tôn, nay con đối với đấng Như Lai Ứng cúng Chánh đẳng giác muốn thỉnh hỏi ít điều. Cúi xin Ngài thương xót giảng nói cho con.

Bạch đức Thế tôn! Tại sao Bồ tát đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác ít dùng công sức, an vui, không mỏi mệt mà vẫn chứng được pháp Phật rộng lớn một cách nhanh chóng?

Tại sao Bồ tát ở trong sanh tử mà không bị vô lượng những nỗi khổ bức bách? Đối với pháp Phật nhanh chóng được viên mãn?

Khi ấy, đức Thế tôn bảo đại Bồ tát Di Lạc:

– Lành thay Di Lạc! Đối với Ta, ngươi thường có những điều thưa hỏi. Vấn đề ngươi đang hỏi rất thuận với ý Ta. Vì ngươi thương xót chư thiên nhân nơi tất cả thế gian và vô lượng chúng sanh có nhiều lợi ích an vui, cho nên mới thưa hỏi Ta ý nghĩ như vậy. Ta sẽ vì ngươi phân tích, giảng nói, làm cho các Bồ tát không phải trải qua nhọc nhằn gian khổ mà vẫn nhanh chóng chứng đắc tuệ giác Phật đà.

Phật tử! Nếu có chúng sanh vì mong cầu giác ngộ mà tu các hạnh, nguyện thường an lạc nên tu tâm từ để tự điều phục và tu tập như thế này: Trong từng ý nghĩ, chúng sanh ấy thường tu hành đầy đủ sáu hạnh ba la mật nên chóng đạt đến địa vị các nhẫn, chóng được Vô thượng Chánh giác viên mãn, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cọng, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, công đức tối thượng. Thân vị ấy trang nghiêm trọn đời vị lai, thường trụ an lạc và có thể diệt trừ tất cả những nghiệp nặng chướng duyên từ vô thỉ đến nay của tất cả chúng sanh.

Này Phật tử! Những vị Bồ tát nào tu tập tâm từ nên ở nơi vắng lặng yên tĩnh, đem niềm tin thanh tịnh tiếp nhận các pháp tâm, quán sát những giác quan trên dưới của thân đều do bụi trần tích tụ, do địa – thủy – hỏa – phong hòa hợp lại mà thành. Và nên tư duy: ngay trong mỗi một bụi trần kia đều có hư không, các hư không này đều dùng sự dung thọ làm tướng. Và nên nhớ rằng: những bụi trần kia trong sạch xuyên suốt, bên ngoài như lưu ly, bên trong như vàng ròng, vô cùng tốt đẹp trang nghiêm, mịn màng thơm ngát. Và nên quán sát tất cả thế giới có bao nhiêu chúng sanh, mỗi một chúng sanh có bao nhiêu chi tiết, mỗi một chi tiết có bao nhiêu bụi trần cũng đều như vậy.

Những vị Bồ tát nào đối với mình và tha thân của tất cả chúng sanh mà có những suy tư như vậy, chắc chắn được giải ngộ. Và nên nghĩ nhớ bụi trần của tự thân. Trong mỗi một hạt bụi đều có các cõi, trong cõi ấy có cung điện làm bằng lưu ly, cửa bằng bạc trắng, trụ bằng vàng, rộng rãi nguy nga, ánh sáng xuyên suốt. Nhà báu thẳng hàng, tường báu chung quanh, lầu báu gác báu phân bố khắp nơi. Trong mỗi tòa nhà ấy có những giường báu cõi trời được trải nệm mịn êm. Và có vô lượng vườn hoa vô cùng xinh đẹp trang hoàng chung quanh. Trong vườn hoa này đều có ao hồ, ven bờ được làm bằng bảy báu, vàng ròng giăng bốn phía chung quanh. Suối trong chảy thành dòng dẫn vào vườn hoa, bùn bằng bột hương, có cát vàng xen lẫn. Nước tám công đức trong lắng đầy hồ ao, hoa sen xanh, sen vàng, sen đỏ, sen trắng chen nhau đua nở đầy khắp mặt nước ao hồ. Bốn phía ao hồ có nhiều cây báu, hoa bằng trân châu màu sáng tốt tươi. Khi quả của cây này chín, đầy đủ mùi vị ngon. Dưới gốc cây này được đặt những ghế báu cõi trời, trước mỗi một ghế bày la liệt những thức ăn uống ngon ngọt vô cùng.

Và nên nhớ nghĩ tất cả những cõi nước Phật như vậy đất được tạo thành bởi chất lưu ly xanh. Những bảy báu tốt đẹp, lụa gấm trang nghiêm, có bao nhiêu bụi trần trong mặt đất ấy đều trong sạch vi diệu như châu báu trên trời, ánh sáng chiếu rực rỡ như ánh mặt trời đúng ngọ. Màu sắc tốt đẹp như vàng Diêm Phù Đàn, hương khí chan hòa như điểu La già chiên đàn, tánh chất mịn màng như y Ca chiên diên, sờ hoặc mặc vào thân có thể sanh vui vẻ.

Quán tưởng như vậy rồi thì nên nghĩ rằng: “Từ phương Đông này, có bao nhiêu chúng sanh nơi tất cả thế giới đều đến vào trong cung điện cõi nước của Phật ta. Phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên dưới, có bao nhiêu chúng sanh nơi các thế giới đó cũng đều như vậy”.

Và nên nghĩ rằng: Tất cả chúng sanh nơi sáu đường đều đồng oai nghi, sắc tướng tương tự. Thân họ mềm mại, thường có mùi thơm, đầy đủ trang nghiêm tướng của trượng phu, xa lìa bao khổ não, hưởng thọ khoái lạc cõi trời. Những chúng sanh này nếu cần đủ y phục tốt đẹp tức thời đi đến dưới cây kiếp ba, tùy theo sự cần dùng hãy nghĩ đến, liền có đầy đủ những vật dụng tang sức tốt đẹp, ví như trời Tha Hóa Tự Tại. Và có gió thơm từ tám phương thổi đến, gió ấy chạm thân làm cho tâm vui vẻ. Có những nhạc khí không cần người đánh, vỗ mà tùy theo ngọn gió lay động sẽ phát ra âm thanh tuyệt diệu.

Những chúng sanh này hoặc ở trong cung điện hoặc dạo vườn hoa. Có người ăn những thức ăn ngon cõi trời hoặc cầm vật đựng quý báu để uống nước cam lồ.

Có người ngồi nơi đài hoa sen, mình đeo chuỗi ngọc rũ xuống hai bên, đầy đủ của cải quý báu, đầy đủ các vật dụng, tùy theo sự ưa thích mọi thứ vui vẻ, diện mạo tươi tắn, thân tâm thư thái, thường không bệnh tật, sắc lực tràn đầy, không già không chết, công đức thế lực đều một loại như nhau, không bị người sai khiến, hoàn toàn dẹp hẳn tâm lý dâm nộ, ngu si, sẽ chứng giác ngộ, cứu cánh an lạc.

Này Phật tử! Người tu tâm từ này, nếu ở trong chúng sanh như vậy, gặp một chúng sanh có hành vi trái đối với ta, tâm duyên nơi đây nếu không sanh ý niệm thương thì nên dùng trí tuệ, tự mình quán sát sâu xa rằng: “Ta ở trong đời trước chắc hẳn đối với người này đã tạo ra nghiệp chướng nặng nề. Vì nguyên nhân đó mà hôm nay người này làm cản trở sự giác ngộ của ta. nếu ta đối với người này không sanh vui vẻ thì đối với tất cả những chúng sanh khác cũng không thể làm lợi ích cho họ được. Vì sao? – Vì từ vô thỉ đến nay, trong đường sanh tử không có một chúng sanh nào mà không ở trong thời quá khứ đã từng hại ta. Nếu ta không sanh lòng thương xót đối với chúng sanh này thì đối với tất cả chúng sanh khác cũng sẽ như vậy. Nay ta đối với khắp các chúng sanh đều làm việc lợi ích, vì thế nơi đây chắc chắn là nghĩ đến tâm từ”.

Nên tư duy thế này: “Nguyên nhân của sự sân hận có thể làm cho chúng sanh đọa vào địa ngục. Kẻ nào ôm thù kết oán, về sau ắt sanh trong loài rắn độc. Đời sau nếu ta thọ quả báo như đây sẽ làm cho người kia được tâm vui sâu xa, vì thế nên xả ly tất cả sự sân hận oán kết. Nếu ta có nhiều sân hận và oán kết thì hiện tại chư Phật Thế tôn ở mười phương đều thấy ta và nghĩ thế này: ‘ Vì sao người này muốn cầu giác ngộ mà sanh sân hận, oán kết? Người này thật là ngu si. Vì sân hận cho nên tự họ ở nơi các khổ, không thể giải thoát, làm sao có thể cứu độ tất cả chúng sanh? ’. Chúng sanh nhiều sân hận sanh ra trong đây bị làm thân dẫy đầy ác độc. Thế nên tu tập tâm từ, thương xót, vĩnh viễn rời xa tâm sân hận oán thù, có tâm bình đẳng lợi ích an vui tất cả chúng sanh”.

Người nào tư duy như vậy, được xa lìa sự sân hận oán kết, rồi tiếp đến nên nghĩ rằng: “Chư Phật nơi mười phương cùng các vị Bồ tát, Thanh văn, đại chúng vân tập đến đây vào trong cung điện cõi nước chư Phật của ta. Chư Như Lai này thân lượng lớn nhỏ hơn người gấp bội, đầy đủ các tướng tốt, đoan chánh, sạch thơm, dùng y phục cõi trời để trang nghiêm thân. Mỗi đức Như Lai đều ngồi trên tòa sư tử hoa sen ngàn cánh và có vô lượng chúng vây quanh, bảo cái che phủ và treo những bảo tràng có nhiều loại ngọc quý rủ xuống chung quanh. Có nhạc khí cõi trời không đánh tự kêu, âm thanh êm dịu, ai nghe cũng đều vui vẻ. Gió thơm tự động thổi những cây báu, tràng phan bảo cái, những vật ngọc quý phát ra âm thanh tuyệt diệu ca ngợi vô lượng công đức của Như Lai. Đồ vật làm bằng vàng và trang hoàng bảy báu nên tỏa ra ánh sáng giống như mặt trăng, mặt trời. Bao nhiêu vật hương thơm như kiên hắc chiên đàn, trong đó chứa đầy nước cam lộ, dùng để cúng dường chư Phật, Bồ tát và chúng Thanh văn. Các vị Bồ tát, A-la-hán này đều ở trong giáo pháp tối thượng của Như Lai dạo chơi vui vẻ”.

Và nên nghĩ rằng: “Tất cả chúng sanh đều ngồi trước tòa của chư Phật, được chư Phật giảng dạy tu hạnh từ, như sự tu tập của ta hôm nay. Lời Phật dạy tốt đẹp, vi diệu, làm đẹp ý bao người, làm cho chúng sanh đạt được an vui tối thượng. Ví như có người được nước cam lộ dùng để tắm gội, tức thời trừ hết khổ nhọc, thể chất tinh thần sảng khoái. Lời Phật dạy cũng như vậy, nhờ pháp thấm nhuần, tâm diệt trừ bao điều phiền não, thân tâm vắng lặng, được an lạc mãi mãi”.

Và nên nghĩ rằng: “Tất cả tràng phan bảo cái, vật dụng, y phục… bao nhiêu bụi trần ánh sáng rực rỡ hơn cả mặt trời, mặt trăng, mịn màng, mềm mại như chạm thân trời. Mùi hương tỏa ra như ngưu đầu chiên đàn, màu sắc trong sáng như châu báu Tỳ lưu ly. Tất cả hiện tượng, vật thể đều hiện nơi ấy”.

Và nên nghĩ rằng: “Mỗi một bụi trần thân Như Lai của chư Như Lai kia màu sáng mịn mềm, thù thắng vượt bậc, sánh với bụi trần trước hơn gấp trăm ngàn lần. Nên quáu sát sự suy tư của ta thấy tất cả chúng sanh tánh không, vô ngã, như mộng, như huyễn, như hoa nắng, như hoa mắt. Tất cả chư Phật cũng như vậy, tự tánh đều không, vốn không có ngã. Kẻ phàm phu thiếu trí tuệ nên cọng chấp những sự kiện kia là tự tánh có ngã, thế nên không thoát khỏi sanh tử. Và nên quán sát tất cả các pháp thể tướng vi tế, hoàn toàn vắng lặng. Người phàm phu do tự phân biệt sanh các cảnh giới. Chính mình phân biệt, rồi tự buộc ràng, đến nỗi không rõ tự tánh của tâm. Cùng lúc như vậy giống như trong mộng mê lầm chấp vào các cảnh. Và nên quán sát tất cả ba cõi đều là không. Không chẳng ngăn cản không. Tâm từ của ta hôm nay cũng là nhỏ hẹp”.

Nên nghĩ rằng: “Như tất cả chúng sanh cho đến chư Phật, tánh không, vô ngã. Biết rằng thân ta cũng như vậy. Tất cả cõi nước cũng chỉ là tưởng niệm”.

Hiểu rõ như vậy rồi, lại nên quán sát tất cả bụi trần nơi các bụi trần kia. Trong mỗi một bụi trần đều có cõi nước chư Phật ba đời. Các cõi nước này rất thanh tịnh, siêu việt hơn những cõi trước. Ba đời chư Phật, ba đời chúng sanh cho đến sự trang nghiêm ba đời đều hoàn toàn đầy đủ. Số kiếp ba đời nhập trong mỗi một ý nghĩ hay nơi một ý nghĩ. Ba đời chư Phật ngồi nơi tất cả chỗ, hiện tiền khắp nơi tất cả chúng sanh. Hoặc nhập thiền định hay thuyết pháp vi diệu, hoặc dùng thức ăn ngon hay uống cam lồ. Trước mỗi một đức Phật, ba đời Bồ tát và A-la-hán ngồi bao bọc chung quanh, ba đời vui vẻ, thân thể sung mãn. Cũng tự thấy mình ở chỗ chư Phật, hưởng thọ an lạc ba đời như vậy.

Và nên suy nghĩ rằng: “Trong từng ý nghĩ ba đời thân ta, mỗi thân đều mang vô lượng vật cúng tốt đẹp nhất để cúng dường tất cả chư Phật, Bồ tát, Thanh văn, cho đến bố thí muôn loài chúng sanh”.

Trong từng ý nghĩ từ nơi thân ấy phát ra nhiều loại mây thơm, trong mây ấy lại có vô lượng bảo cái trang trí rất đẹp, phủ kín trên tất cả chư Phật Như Lai, Bồ tát, Thanh văn, cho đến chúng sanh trong sáu nẻo. Mây thơm ấy lại rưới mưa cam lộ trời và bột thơm kiên hắc ngưu đầu chiên đàn. Hoa mạn-đà-la, hoa ma ha mạn-đà-la, hoa ba-đầu-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi, hoa diệu hương, hoa diệu ý… đều từ trên hư không rực rỡ tung bay xuống. Ánh sáng chớp sáng rực như ánh mặt trời. Tiếng sấm vang rền, ai nghe cũng vui vẻ. Tất cả chư Phật, Bồ tát, Thanh văn và các chúng sanh – hoặc đi đứng ngồi nằm trong bốn oai nghi – thân họ luôn luôn được an vui tối thượng.

Này Phật tử! Thí như thầy Tỳ kheo nhập vào Biến xứ định, đối với tất cả đều hoàn toàn trở thành địa, thủy, hỏa, phong. Với định như vậy nên tâm thầy ấy được an định. Người tu tâm từ cũng vậy, dùng từ thắng giải để an trú trang nghiêm.

Nên suy nghĩ: “Nay ta đã cho chúng sanh an lạc nhưng chỉ là tưởng, như huyễn, như hóa. Thí như nhà ảo thuật làm trò, ta cũng như vậy, ban cho các chúng sanh mọi thứ an vui, và như vật huyễn không có tự tánh. Tất cả chúng sanh cũng như vậy, xưa nay vốn không có tánh ngã và ngã sở. Như nai bị khát, ở giữa quáng nắng mà tưởng lầm là nước nên ruổi chạy khổ nhọc. Tâm ta hành từ, biết rằng cũng vậy. Vã lại, quáng nắng làm sao tìm thấy nước. Tất cả các pháp cũng như vậy, không có tánh ngã. Như trong giấc mộng thấy đủ thứ vật. Tâm mộng phân biệt cho là sự thật, đến khi thức giấc mới rõ là không thật có”.

Nên biết các pháp cũng đều như vậy. Như người bị đau mắt, ở trong nhà vắng vẻ thấy đủ thứ vật, cho đó là có. Người đó sau khi được thuốc A-già-đà trị dứt bệnh đau mắt mới biết những vật được thấy đều tan mất theo. Vì thế, chúng sanh do có thân tà kiến nên có ngã tưởng. Nếu được thuốc trí tuệ dập tắt những nhận thức sai lầm này thì bao nhiêu ngã tưởng cũng theo đó mà chấm dứt.

Vì thế ta nên tu từ như vậy, như từ trong mộng tỉnh giấc, xa lìa ngã và ngã sở.

Phật tử nên biết! Người tu tâm từ này mặc dầu chưa thể xa lìa sự phân biệt, chưa thể không khởi kiến chấp ngã và ngã sở, vẫn được sáu phước của Phạm thiên. Nếu ai xả bỏ sự phân biệt, xa lìa kiến chấp ngã và ngã sở thì được gọi là tâm từ rộng lớn. Đời trước đã qua, những người ấy có bao nhiêu tội chướng đều được diệt trừ, chẳng bao lâu sẽ chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Này Phật tử! Tất cả Bồ tát hãy nên tu tập tâm từ như vậy. Người do tu tâm từ nên gọi là người từ.

Này Phật tử! Người thiện nam, thiện nữ nào được nghe kinh tu từ này, có thể tiêu diệt được những nghiệp chướng ác từ vô thỉ đến nay, xa lìa những bệnh nguy ách, được tất cả mọi người kính mến. Trong khoảng thời gian ấy hoặc đến lúc qua đời, chắc chắn được gặp chư Phật mười phương thọ ký cho quả vị Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Hoặc được tam muội, hoặc được pháp nhẫn, hoặc được nhập đà la ni môn. Tâm người đó an ổn, không sợ chết, vĩnh viễn xa lìa tất cả các khổ nơi đường ác, chắc chắn được sanh về nước Phật thanh tịnh cực lạc.

Này Phật tử! Thí như có người ở trong ba cõi, có rất nhiều bảy thứ báu, mỗi ngày ba lần đem dâng cúng đức Như Lai trọn vẹn một kiếp. Công đức của người này nên biết cũng như vậy, huống gì người có khả năng tu tập. Giả sử vô lượng chư Phật Như Lai ở trong một kiếp nói về công đức ấy cũng không thể hết được. Đức Phật dạy kinh này xong, đại Bồ tát Di Lạc và các Phạm chúng đến từ cõi nước mười phương đều vô cùng hoan hỷ, tin thọ phụng hành.