Kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì Bảo Quang Minh

Tống Pháp Thiên dịch

Bản Việt dịch của Thích Như Điển

***

Ta nghe như vầy, một thuở nọ Đức Thế Tôn đang ở tại thành Vương Xá trong núi Linh Thứu cùng với trăm ngàn vị Tỳ Kheo đã đầy đủ các pháp thanh tịnh. Cũng có những bậc Sư Tử hống trí tuệ tròn đầy nhiều lợi ích cũng như các bậc Bồ Tát Ma Ha Tát. Các vị ấy có tên là :

Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát, Bảo Ấn Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát, Thường Hiện Bồ Tát Ma Ha Tát, Công Đức Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát, Phước Đức Âm Bồ Tát Ma Ha Tát, Đại Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Đức Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Tuệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Quang Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Khí Trượng Bồ Tát Ma Ha Tát, Diệu Cang Bồ Tát Ma Ha Tát, Trì Địa Bồ Tát Ma Ha Tát, Hiện Nhứt Thiết Bồ Tát Ma Ha Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát Ma Ha Tát, Kiên Lao Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Kiết Tường Bồ Tát Ma Ha Tát, Diệt Ác Thú Bồ Tát Ma Ha Tát, Trừ Nhứt Thiết Phiền Não Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát, An Tường Bộ Bồ Tát Ma Ha Tát, Ly Thủ Xả Bồ Tát Ma Ha Tát, Chiên Đàn Hương Bồ Tát Ma Ha Tát, Hải Tuệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Nan Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát, Thật Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát, Huệ Hạnh Bồ Tát Ma Ha Tát, Biện Tích Bồ Tát Ma Ha Tát, Diệu Hương Bồ Tát Ma Ha Tát, Từ Thị Bồ Tát Ma Ha Tát và rất nhiều vị Bồ Tát Ma Ha Tát như thế.

Tất cả đều an trụ nơi cửa của bất khả tư nghì giải thoát tam muội. Lại cũng đã chứng được phép không của vô lượng âm thanh. Xem nghe tất cả các âm thanh của các nước nơi có các Đức Phật, không sợ hãi. Thọ mệnh rất lâu chứng được tên lớn. Ba cõi không ngăn ngại lại cũng không bị phá hoại. Tất cả người trí đều là quyến thuộc. Thành tựu rất nhiều trí tuệ, làm cho chúng sanh đầy đủ. Tất cả đều đến bờ giác ngộ phía bên kia. Lại cũng chứng được phép không của thân, miệng, ý nghiệp. Chứng được tất cả trí tuệ và biết được rất nhiều hạnh nguyện. Chứng được phép không, vô tướng vô nguyện và pháp môn giải thoát. Những vị Bồ Tát như thế đều cùng đến đây để ngồi.

Lúc bấy giờ Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát từ trong chúng hội đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng:

Kính bạch Đức Thế Tôn: Phải hiểu pháp giới như thế nào?

Phật dạy rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Với pháp giới nầy không có tánh không thể hiểu biết được. Vì sao vậy? Nầy Thiện Nam Tử! Ví như hư không, lìa những hí luận cũng chẳng mất hí luận, chẳng nhận chẳng bỏ; chẳng có tánh, chẳng phải chẳng có tánh. Lại cũng chẳng có nơi chốn. Nầy Thiện Nam Tử! Nên biết pháp giới là như vậy đó.

Lúc bấy giờ Ngài Phổ Hiền Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Pháp giới trụ ở chỗ nào?

Nầy Thiện Nam Tử! Nơi chốn còn chẳng có, huống gì có nơi để trụ. Nầy Thiện Nam Tử! Pháp giới nầy không thể biết không thể nghĩ, không có tự tánh, không thể hiểu rõ hết. Nầy Thiện Nam Tử! Pháp giới tánh kia không thể biết, không thể thấy.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Bồ Đề có những gì?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Đề có vô lượng hình tướng không thể đo lường được.

Phổ Hiền Bồ Tát lại hỏi: Kính bạch Đức Thế Tôn: Pháp giới lại có phân biệt như thế nào?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Pháp giới gốc của nó không có phân biệt.

Phổ Hiền Bồ Tát lại hỏi: Kính bạch Đức Thế Tôn: Nếu mà pháp giới không thể phân biệt được thì tại sao phàm phu chúng sanh có thể hiểu được?

Phật bảo rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có kẻ phân biệt tức là những chúng sanh nầy mê muội nên mới sanh tâm phân biệt đối với việc không phân biệt nầy.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Sự giác ngộ của Như Lai thật sâu xa vi diệu khó thể giải thích được.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Đề tức là tất cả pháp vậy, lìa những hí luận, cho nên không có gì để phân biệt cả.

Lại cũng trong chúng hội có Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Nguyện vì chúng con mà nói pháp môn “Bảo Quang Minh Tổng Trì” nầy.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta hỏi ông tất cả pháp hải nơi Biện Tài Bồ Tát Ma Ha Tát. Ông ta vì ngươi mà nói vậy.

Lúc ấy Diệu Cát Tường Đồng Tử ở trước Đức Như Lai hai tay chắp lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Như Lai là bậc nhất thiết trí, là người thấy biết tất cả, tại sao Ngài không nói?

Phật bảo rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Vì có những Bồ Tát Ma Ha Tát, nên ở nghĩa nầy, Như Lai không nói.

Diệu Cát Tường thưa: Tuy nhiên bạch Thế Tôn! Tại sao Như Lai không nói pháp cho chúng con?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Vì ta không nói pháp cho hữu tình nơi đây. Cho nên Thiện Nam Tử! Ta hiển thị cho Bồ Tát kia nói lên bất khả tư nghì vậy.

Lúc ấy Ngài Cát Tường Đồng Tử bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Duy Nguyện Đức Như Lai lòng từ vô lượng hãy vì chúng con mà nói pháp môn “Bảo Quang Minh Tổng Trì”.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta hỏi Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát thay ta mà nói pháp môn nầy vậy. Nầy Thiện Nam Tử! Hãy biết rằng Bồ Tát Ma Ha Tát nầy trí huệ vô lượng.

Ngài Diệu Cát Tường: Nếu Như Lai bảo chúng con phải nghe Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát thì nay con hỏi.

Phật bảo: Nầy Diệu Cát Tường: Ta đã được các pháp môn giải thoát như vi trần. Tại sao lại hỏi Như Lai?

Diệu Cát Tường đáp rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con chưa nghe một pháp nào không phải Phật nói cho đến tất cả các Đức Như Lai đều nói chơn như thật tánh. Từ đó con có thể nhớ nghĩ thọ trì không quên như ngày hôm nay.

Phật bảo: Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Nay ta sẽ nói. Phật bảo: Nầy Diệu Cát Tường! Nay ta sẽ hỏi Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát về pháp môn Tổng Trì nầy.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát nầy đã thâm nhập thật tướng của Đại Thừa chưa?

Phật bảo: Thiện Nam Tử! Các ngươi nên biết rằng tất cả đều tự tại như là một vị Pháp Vương đã chứng đắc không gì khác. Nầy Thiện Nam Tử! Hãy biết rằng với phước đức nhiều không thể kể nên đã đạt pháp không. Chứng được bất khả tư nghì giải thoát tam ma địa môn.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử thừa Phật thánh chỉ nên đã đến trước Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát chắp tay cúi đầu một lòng cung kính bạch Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Thưa Ngài: Nguyện vì chúng con mà nói hai chữ pháp môn.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Sẽ hỏi hai chữ gì nơi ta?

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Thưa Ngài: Giác và người giác hai chữ nầy có tướng như thế nào?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói: Nầy Phật Tử: Giác vốn là không tướng, không tánh bất khả tư nghì, chẳng có chẳng không v.v… lìa các hí luận, cũng chẳng lìa các hí luận, không có ý nghĩa nên không thể đề cập đến được. Nầy Thiện Nam Tử! Đó là tánh giác của chư Phật vậy.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài! Nếu Phật pháp chẳng hí luận. Vì sao mà Phật pháp làm như vậy?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát bảo với Ngài Diệu Cát Tường rằng: Nầy Phật Tử! Lìa lời nói cho nên gọi là như vậy.

Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài: Thế nào là lìa ngôn ngữ để nói?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Diệu Cát Tường! Trí lìa lời nói.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài: Thế nào biết được trí?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Diệu Cát Tường! Trí lìa lời nói.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài: Thế nào biết được trí?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Diệu Cát Tường: Nghĩa là biết vô tánh, biết chẳng phải vô tánh.

Ngài Diệu Cát Tường lại hỏi: Thưa Ngài: Thế nào gọi là biết vô tánh và biết chẳng phải vô tánh? Vì sao mà nói pháp tam thừa?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói: Nầy Diệu Cát Tường! Thế giới lìa sự nhiễm ô vì sao gọi là có nói.

Diệu Cát Tường hỏi: Vì sao tất cả các pháp lại cũng vô tánh mà nói tánh của Như Lai vô lậu và Ngũ uẩn tánh cũng không thể có được?

Diệu Cát Tường thưa tiếp: Vì sao mà Bồ Đề có hí luận?

Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Phật Tử: Bồ Đề chẳng có hí luận mà cũng chẳng lìa hí luận. Tánh giác nầy chẳng có hí luận mà cũng chẳng phải chẳng hí luận, không lời nói nên không nói được vậy.

Lúc ấy Đức Phật tán dương Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát và nói rằng: Thiện tai! Thiện tai, Thiện Nam Tử: Như ta đã nói đây là pháp môn bất khả tư nghì, cao xa sâu sắc, cũng có thể nói lời rằng trên trời dưới đất loài người khó mà giải thích.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch Phật rằng: Kính bạch Thế Tôn: Tất cả pháp đều không thể biết, không thể thấy và không có pháp nào có thể nói.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Như thế đó, như thế đó.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Đây là pháp môn thanh tịnh lìa sự giãi bày, lìa sự hiểu biết.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Như thế đó, như thế đó.

Lúc ấy Ngài Huệ Hải Bồ Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã nói pháp môn thanh tịnh vậy.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Như vậy đó, như vậy đó. Lại nữa Thiện Nam Tử! Tất cả các pháp đều thanh tịnh nên cơn mưa pháp nầy cũng lại như thế.

Liền lúc ấy Bình Đẳng Tịch Tỉnh Ba La Đại Bà La Môn tử bạch Phật rằng: Kính bạch Thế Tôn. Đây là sự giác ngộ bình đẳng bất khả tư nghì, lìa tướng văn tự chữ nghĩa khó thấy, lìa các sắc tướng.

Phật bảo rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Như thế đó, như thế đó. Pháp giới tánh lìa khỏi tướng của sự tuyệt đối.

Lúc ấy Diệu Cát Tường Đồng Tử liền bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Tướng của không có phải là làm nên âm thanh, làm nên màu sắc, nên gọi là tướng?

Phật bảo: Nầy Diệu Cát Tường! Không có nghĩa là lìa âm thanh, lìa màu sắc, các lời nói mà cũng chẳng lìa những lời nói. Thiện Nam Tử! Pháp tánh là như vậy đó. Không có nghĩa là lìa chữ nghĩa nên gọi là không, lại cũng lìa lời nói nên gọi là không. Nầy Thiện Nam Tử! Không có nghĩa là tự tánh của tất cả pháp vậy.

Lúc ấy Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Lai xem việc chứng đắc nầy là một đại biến hiện bất khả tư nghì giải thoát Bồ Đề phải không?

Phật bảo Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất rằng: Đối với trí tuệ của các A La Hán và trí huệ của các vị Bồ Tát mới phát tâm còn xa lắm, còn nói gì đến Bồ Tát nầy đây. Vì sao vậy? Vì sơ phát tâm Bồ Tát chỉ sẽ thành Phật. Quả vị A La Hán thì chưa thể đến được.

Lúc ấy Ngài Nhứt Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Đức Phật nói con nay đã hiểu. Vì Thanh Văn thì không thể chứng được pháp Thanh Văn.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Thanh Văn nầy chẳng thể chứng được pháp Thanh Văn. Lại nữa Thiện Nam Tử! Nếu mà Thanh Văn cùng với Bồ Tát tranh nhau về Trí Tuệ có được thì ở đây không thể đề cập đến.

Lúc bấy giờ Diệu Cát Tường bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Lai vì sao mà nói Ngài Xá Lợi Phất chứng đắc được trí tuệ đệ nhất?

Phật bảo Diệu Cát Tường rằng: Như ta đã nói thật chẳng có chỗ nào chứng đắc.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử mới hỏi Ngài Xá Lợi Phất rằng: Trưởng Lão chứng được pháp Thanh Văn như thế nào?

Ngài Xá Lợi Phất bảo rằng: Ta ở nơi chẳng dính mắc.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Điều ấy có phải để cho những kẻ chẳng phải phàm phu chăng?

Chẳng phải vậy. Thiện Nam Tử.

Diệu Cát Tường bảo: Như vậy thế nào gọi là được trí tuệ đệ nhất?

Ngài Xá Lợi Phất bảo: Nên biết rằng không phải là kẻ phàm phu, lại cũng chẳng phải là kẻ trí tuệ đệ nhất.

Như vậy là người gì?

Ngài Xá Lợi Phất đáp: Nầy Thiện Nam Tử! Ta cũng chẳng biết! Trí huệ nầy có được nhiều do như biển cả. Cho nên ta nay chẳng phải đối đáp với ngươi.

Diệu Cát Tường hỏi: Thưa Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất! Chưa nói lời nầy. Ngài tự biết mình là người đã huân tập phước đức nhiều năm, vì sao mà khiêm nhường như vậy?

Ngài Xá Lợi Phất trả lời: Nầy Thiện Nam Tử! Ta tuy nhiều năm, nhưng không công đức cũng chẳng chứng. Lại nữa Thiện Nam Tử! Dụ như tất cả sự sai biệt của vạn pháp là do từ núi cao với một hạt bụi đáng động nơi kim cương vậy. Nầy Thiện Nam Tử! Ta lại cũng như thế! Giống như một sợi lông mà đem trí huệ ấy so với số lượng của nhiều hạt bụi vậy. Tất cả chúng sinh đều giống như ta, lại chẳng sai khác gì. Nầy Thiện Nam Tử! Huống là ta chỉ có một mình, cho nên ta nay chẳng mắc vào đó. Nầy Thiện Nam Tử! Giống như con voi dữ có thân hình vĩ đại, sức mạnh cũng lắm. Thế mà con người chỉ dùng cây roi mà chế ngự được. Ta cũng giống vậy đó. Nầy Thiện Nam Tử! Vì sao vậy? Nay có trí lực lớn, nhưng lực của ta yếu. Nầy Thiện Nam Tử! Lực của các ngươi giống như rồng lớn. Vì sao mà lực của ta có thể địch với lực kia được.

Trưởng Lão Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như người sanh ra mù muốn đi đến nơi khác, lúc ở giữa đường chắc chắn rằng chẳng có thể thấy thành ấp. Vì sao mà có thể đi du lịch như thế? Nầy Thiện Nam Tử! Điều nầy như thế nầy. Ta đối với kẻ kia cũng dụ như kẻ mù. Ta nay biết rằng Phật đạo sâu xa, tới đích thật lâu. Nên phải biết rằng như vậy.

Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Chớ làm như thế! Với uy đức của Như Lai có thể làm cho tất cả chúng sanh thay đổi cách nghe để được pháp nầy. Nầy Xá Lợi Phất! Huống là chứng được bất khả tư nghì giải thoát vậy. Lúc ấy Đức Thế Tôn nói pháp nầy rồi trên trời loài người có chín vạn hai ngàn chúng sanh đều chứng được pháp nầy.

Lúc ấy Ngài Pháp Huệ Bồ Tát nhờ uy thần của Phật nên nhập vào tam muội, tên Bồ Tát là Vô Biên Tướng Ưng Bảo Quang Minh Tam Ma Địa, lúc ấy Pháp Huệ Bồ Tát tức thời vào trong mười phương mười ngàn Phật sát vi trần thế giới. Cứ ở mỗi phương như thế đều có mười ngàn Phật sát vi trần chư Phật Thế Tôn, đều đến trước mặt. Lúc ấy các vị Phật mới hỏi Pháp Huệ Bồ Tát rằng: Một phương cũng như mười phương đều thế.

Lại được các Đức Thế Tôn tán thán. Lành thay! Lành thay Pháp Huệ! Nay nên nhập vào Bồ Tát Vô Biên Tướng Ứng Tam Ma Địa vậy. Lại nữa Thiện Nam Tử! Lúc ấy ở mỗi mỗi nơi có tất cả mười phương mười ngàn vị Phật ở trong sát độ vi trần cùng với các Đức Như Lai đến ngồi ở đó cũng giống như ta nay cùng với tất cả các Đức Như Lai cũng đồng một hiệu. Tất cả đều là Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na Như Lai có uy đức cao cả và có nguyện lực đầy đủ vậy. Được có lợi lớn cho đến việc chuyển đại pháp luân. Cũng giống như các vị Phật khác cùng nói kệ rằng:

Trí Phật vốn thanh tịnh

Phổ cập khắp pháp giới

Lại xem các chúng sanh

Vào ra trí Vô Ngại

Chẳng sánh tướng tương ưng

Tất cả lời nói lành

Liền chứng tất cả trí

Viên mãn nơi các pháp

Ba đời trí đều đủ

Nên nói pháp như vậy.

Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta nhờ oai thần lực của Phật nên nói Bồ Tát ở vào pháp môn thập trụ.

Lúc ấy Đức Thế Tôn cùng với các vị Vô Ngại trí làm cho Pháp Huệ Bồ Tát chứng được Tam Ma Địa, có tên là Vô Ngại, Vô Đoạn, bất không pháp, bất không trí, vô lậu vô tế, vô tận, vô lai, vô khứ, vô biên bổn tánh, vô trước… chứng được những Tam Ma Địa như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn lấy tay phải xoa đầu Pháp Huệ Bồ Tát. Đức Phật sau khi xoa đầu Bồ Tát rồi, tức thời Pháp Huệ Bồ Tát từ Tam Ma Địa mà dậy nói với các Bồ Tát rằng: Nầy chư Phật Tử! Có vị Bồ Tát có quyến thuộc rất nhiều, tận đến các pháp giới hư không. Nầy chư Phật Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát trong quá khứ từ tộc họ của Như Lai mà sanh ra. Trong hiện tại cũng từ trong dòng họ của Như Lai mà sanh và vị lai cũng từ trong dòng họ của Như Lai sẽ sanh như vậy.

Liền lúc đó các vị Bồ Tát Ma Ha Tát mới hỏi Ngài Pháp Huệ Bồ Tát rằng: Nầy Phật Tử! Nghe ta nói đây. Vị Bồ Tát Ma Ha Tát kia vì sao mà được sinh ra trong dòng họ của Như Lai từ trong quá khứ đến hiện tại và vị lai? Lại cũng được gọi là Bồ Tát, ở ngôi vị Bồ Tát vậy? Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát hỏi Bồ Tát Pháp Huệ rằng: Nầy Phật Tử! Lành thay hãy vì chúng tôi mà nói pháp môn thập trụ của Bồ Tát. Quá khứ Phật đã nói, hiện tại Phật đang nói và vị lai Phật sẽ nói. Nầy Phật Tử! Vì sao nói là pháp hành của Thập Trụ Bồ Tát?

Điều thứ nhất là phát tâm trụ, thứ hai trì địa trụ, thứ ba tương ưng trụ, thứ tư sanh quý trụ, thứ năm phương tiện cụ túc trụ, thứ sáu chánh tâm trụ, thứ bảy bất thoái trụ, thứ tám đồng chơn trụ, thứ chín vương tử trụ và thứ mười là quán đảnh trụ. Nầy Phật Tử! Đó là pháp hành của Thập Trụ Bồ Tát vậy.

Điều nầy quá khứ hiện tại vị lai 3 đời chư Phật Thế Tôn đã nói và sẽ nói. Nầy Phật Tử! Vì sao gọi là Bồ Tát phát tâm trụ? Nghĩa là Bồ Tát nầy chứng được sắc tướng nơi chư Phật nguy nga đẹp đẽ tốt đẹp quảng đại, thuyết pháp không có gì sánh bằng và hóa độ chúng sanh cũng ngộ lớn. Thấy tất cả những biến hiện quảng đại như thế, lại cũng nghe những pháp sâu xa khác nữa. Được pháp chưa từng có. Lại thấy những chúng sanh khổ não cho nên Bồ Tát phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm. Vì cầu Như Lai nhứt thiết trí, nhứt thiết tướng trí. Cho nên có tên là sơ phát tâm trụ. Lại cũng học mười lực. Những gì là mười?

Một là xứ phi xứ tri lực, hai là quá hiện vị lai phước nghiệp báo tri lực, ba là Thiền định giải thoát tam muội tri lực, bốn là đến tất cả xứ đạo tri lực, năm là vô số nhiều thế giới tri lực, sáu là vô số nhiều loại thắng giải tri lực, bảy là căn thắng liệt tri lực, tám là túc trụ ức niệm tri lực, chín là thiên nhãn tri lực và mười là vô lậu tri lực.

Nầy Phật Tử! Đây là sơ phát tâm Bồ Tát phải học 10 lực nầy. Các Bồ Tát sơ phát tâm tất cả các thời phải cung kính cúng dường các Đức Như Lai.

Các vị Bồ Tát ấy an trụ và xưng tán vậy. Vì thế gian là bậc đệ nhất thế chủ vậy. Cầu trí tuệ vô lượng của chư Phật. Cầu tịch tỉnh tướng tam ma địa, xa lìa luân hồi, chuyển bánh xe pháp. Cầu độ tất cả những khổ não của chúng sanh. Vì sao vậy? Vì chơn thật pháp mà phát tâm vậy. Nghe nhận gần gũi, xa lìa những tán loạn, kế tục không gián đoạn. Nầy Phật Tử! Do đây mà có tên là Bồ Tát sơ phát tâm vậy. Nầy Phật Tử! Lại nữa sao gọi là Bồ Tát Trì Địa Trụ?

Nầy Phật Tử! Trì Địa Trụ Bồ Tát nầy vì các chúng sanh đầu tiên phát ra mười loại tâm. Thế nào là mười?

Đó là tín tâm, niệm tâm, tinh tấn tâm, huệ tâm, nguyện tâm, giới tâm, hộ pháp tâm, xả tâm, định tâm và hồi hướng tâm. Nầy Phật Tử! Đây là Trì Địa Trụ Bồ Tát lại cũng đã phát mười loại tâm như vậy. Nầy Phật Tử! Đây là Trì Địa Trụ Bồ Tát thường nhớ nghĩ đến nghe nhiều, tương tục không gián đoạn, thường vui vẻ để phụng sự các thiện tri thức, cúng dường thân cận tất cả các bậc giác ngộ, phát ngôn khiêm nhường cung kính. Cầu kiên cố, vô úy trí, phát thú trí giác ngộ cho đến cầu tịch tỉnh dũng mãnh trí vậy. Cũng cầu diệu pháp lìa những hư giả, tâm không mê hoặc. Vì sao vậy? Nghĩa là phát ra những tâm thành thật như thế vì cầu tất cả Phật pháp vậy. Cho đến tùy theo nơi nào có thánh pháp đều tự mình đến đó để nghe thọ trì và gần gũi, lìa những tán loạn, liên tục không gián đoạn, chưa từng rời bỏ. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Trì Địa Trụ. Nầy Phật Tử! Lại nữa thế nào gọi là Bồ Tát Tương Ưng Trụ?

Nầy Phật Tử! Bồ Tát Tương Ưng Trụ nầy có mười việc muốn cầu tất cả pháp. Thế nào là mười? Đó là cầu tất cả vô thượng pháp. Xa rời tất cả những ưu não. Tất cả pháp không thể tính được. Lìa tất cả những nghi hoặc, không thể thay đổi được, chẳng có chẳng không, không lấy không bỏ. Nầy Phật Tử! Đó là Tương Ưng Trụ Bồ Tát vậy. Lại thấy tất cả chúng sanh giới đều bình đẳng, pháp giới bình đẳng thế giới bình đẳng, địa giới bình đẳng, thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, dục giới, sắc giới, vô sắc giới như thế tất cả các thế giới đều bình đẳng.

Vì sao vậy? Nghĩa là tất cả các pháp, tự tánh của nó là bình đẳng. Vì cầu thắng pháp đến khắp mười phương. Ở nơi trước chư Phật mà gần gũi lắng nghe và ghi nhận. Lìa những tán loạn, niệm niệm tương tục, không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Tương Ưng Trụ vậy. Nầy Phật Tử! Lại nữa sao có tên gọi là Bồ Tát Sanh Quý Trụ? Được sanh mười loại tròn đầy tịnh nghiệp, giãi bày lời nói của thánh nhơn. Thế nào là mười? Đó là khi nghe Bồ Tát thuyết pháp thì tôn kính thọ nhận, dần dần tăng trưởng chẳng thoái lai, liễu đạt các pháp, quán các thế gian chẳng hoại diệt, quán tất cả nghiệp tánh lìa vọng tưởng, quán tất cả quả báo đều chẳng giữ bỏ, quán luân hồi không đến không đi, quán Niết Bàn yên vui tịch tịnh.

Nầy Phật Tử! Đây là Sanh Quý Trụ Bồ Tát vậy. Có được mười loại viên mãn tịnh nghiệp giải thoát ngôn thuyết. Lại bảo Phật Tử, Sanh Quý Trụ Bồ Tát quán quá khứ Phật pháp bình đẳng hay nhớ nghĩ liên tục không gián đoạn. Quán vị lai Phật pháp bình đẳng nguyện sẽ học. Quán hiện tại Phật pháp bình đẳng siêng năng tu tập. Quán tất cả Phật pháp đều bình đẳng như vậy cho nên được quá khứ, hiện tại và vị lai. Nơi 3 giai đoạn nầy chứng đắc trực ngộ. Như thế mà tu tập, nhớ nghĩ không quên, tất cả Phật pháp đều quý trọng cung kính. Lại cũng quán quá khứ Phật pháp và học sự tăng trưởng của bình đẳng. Quán hiện tại Phật pháp cũng phải học sự tăng trưởng của bình đẳng.

Nầy Phật Tử! Đó là Sanh Quý Trụ Bồ Tát, như thế mà quan sát hướng về tất cả Phật pháp, tất cả đều bình đẳng và tăng trưởng sự tu tập. Vì sao vậy? Nghĩa là 3 đời bình đẳng tối thắng chơn thật trụ nơi không hư dối vậy. Cho đến nghe thấy ở nơi khác có pháp như thế đều phải tự thân mình hoặc khuyến tấn siêng năng, tâm chẳng tán loạn, niệm niệm tương tục, không cho gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Sanh Quý Trụ. Nầy Phật Tử! Lại nữa tại sao có tên là Bồ Tát Phương Tiện Cụ Túc Trụ? Nầy Phật Tử! Phương Tiện Cụ Túc Trụ Bồ Tát nầy quán vô lượng vô biên vô số A Tăng Kỳ bất khả tư nghì, không gì so sánh với chúng sanh giới. Do hư không chẳng sanh chẳng diệt tự tánh thanh tịnh, đồng với chơn tế và tánh chơn thật. Như thế mà xem tất cả chúng sanh; nên gọi là Bồ Tát Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Nầy Phật Tử! Phương Tiện Cụ Túc Trụ Bồ Tát nầy có 10 loại việc. Do tu thiện nghiệp mà làm phương tiện lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Nghĩa là làm cho tất cả chúng sanh phát tâm vô thượng đạo không thối chuyển. Thương tưởng tất cả chúng sanh không xa lìa. Giúp đỡ làm cho tất cả chúng sanh được an vui. Có lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh. Muốn làm cho tất cả chúng sanh đều chứng được đạo giải thoát một cách bất khả tư nghì. Làm cho tất cả chúng sanh rửa sạch được những nghiệp dơ. Nhiếp phục tất cả chúng sanh. Muốn làm cho tất cả chúng sanh hoan hỷ không chán ghét. Đó là những phương tiện dẫn đường cho tất cả chúng sanh vậy. Muốn làm cho tất cả chúng sanh được cứu cánh Niết Bàn tịch diệt an lạc.

Nầy Phật Tử! Đây là những phương tiện đầy đủ trụ nơi Bồ Tát như thế cho đến nghe và đem đi thuyết pháp ở nơi khác. Chính tự mình khuyến khích kẻ khác tu hành, tâm không tán loạn, niệm niệm liên tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Đây có tên là Bồ Tát Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Nầy Phật Tử! Lại cũng có tên gọi là Bồ Tát Chánh Tâm Trụ. Nầy Phật Tử! Với Chánh Tâm Trụ nầy Bồ Tát có mười pháp khác nhau. Phải nên vui nghe khuyến khích ý chí và ở trong Phật pháp mà trụ được nơi chánh tâm. Nầy Phật Tử! Thế nào là mười?

Đó là Phật có hình tướng, không hình tướng và ở trong đó chứng được chánh tâm trụ. Thuyết pháp có hình tướng không hình tướng đều ở trong Phật pháp mà giữ tâm chơn chánh. Nói về việc làm của Bồ Tát có hình tướng và không hình tướng ở nơi Phật pháp mà giữ tâm chơn chánh, như thế cho đến nói việc nầy cho tất cả chúng sanh ở đây hoặc ở những nơi khác. Những chúng sanh ở nơi cảnh giới phiền não, không phiền não. Chúng sanh dễ độ, chúng sanh khó độ cho đến một thế giới to lớn hơn, ra ngoài thế giới ấy, thế giới có hình tướng, thế giới không hình tướng; thế giới có pháp, thế giới không có pháp. Nầy Phật Tử! Đây là những cách trụ tâm chân chánh của Bồ Tát. Như thế cho đến ở trong Phật pháp và nghe những pháp nầy, đều gọi là những Bồ Tát chứng được ở nơi tâm chơn chánh vậy. Nầy Phật Tử! Chánh Tâm Trụ Bồ Tát nầy lại cũng nghe mười loại pháp khác nhau, nhập vào chơn lý, khuyến thỉnh cho đến nghe tất cả các pháp vô thượng cho đến tu học. Thế nào là mười?

Nghĩa là: không tướng, không tánh, không thật, không nhiễm, xa lìa, không dính mắc, không có tự tánh, như huyễn, như mộng, lìa những nghi hoặc, nghe như thế tất cả pháp rồi nên phát tâm khuyến khích tu tập. Vì sao vậy? Vì với tâm chơn chánh nầy Bồ Tát ở vào nơi pháp môn chơn thật, như thế cho đến nghe và vì người khác và đi đến nơi khác để nói lại như thế. Tự mình phải khuyến khích và tu tập, tâm không tán loạn, niệm niệm tương tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Đây có tên là Bồ Tát chánh tâm trụ. Nầy Phật Tử! Lại cũng có tên là Bồ Tát bất thoái trụ.

Nầy Phật Tử! Bồ Tát bất thoái trụ nầy nghe mười pháp không dính mắc và từ trong Phật pháp tâm không lui sụt. Thế nào là mười? Nghĩa là khi nghe biết được có Phật và chẳng phải chẳng có Phật. Những vị Bồ Tát nầy ở trong Phật pháp tâm chẳng thối chuyển vậy. Chẳng có pháp nào có và cũng chẳng có pháp nào chẳng có. Từ nơi Phật pháp tâm chẳng thối chuyển. Chẳng có Bồ Tát mà cũng chẳng phải chẳng có Bồ Tát. Từ nơi Phật pháp mà tâm không thoái chuyển. Chẳng chấp giữ Bồ Tát mà cũng chẳng phải chẳng chấp giữ Bồ Tát. Chẳng phải lìa hạnh của Bồ Tát mà cũng chẳng phải chẳng lìa hạnh của Bồ Tát. Bồ Tát chẳng ra đời mà Bồ Tát cũng chẳng phải chẳng ra đời. Từ nơi Phật pháp mà sanh tâm không thoái chuyển. Quá khứ chư Phật chẳng có đến mà cũng chẳng phải chẳng có đến. Vị lai chư Phật không đến mà cũng chẳng phải chẳng đến. Hiện tại chư Phật không an trụ mà cũng chẳng phải chẳng an trụ. Như thế chư Phật trong 3 đời đều bình đẳng chỉ một tướng không tướng. Không có cái cuối cùng và cũng chẳng có cái chẳng cuối cùng, lìa các chướng ngại. Những Bồ Tát nghe những pháp như thế đó. Không phải chỗ Phật pháp mà tâm chẳng thối chuyển.

Nầy Phật Tử! Đây có tên gọi là Bồ Tát Bất Thoái Trụ. Nầy Phật Tử! Những Bồ Tát bất thoái trụ nầy lại nghe mười loại pháp khác nhau từ đó mà siêng tu tập. Thế nào là mười? Đó là nghe tất cả chúng sanh và vì tất cả pháp mà tinh cần tu tập. Với thắng nghĩa đế nầy vì do nhiều nhân duyên khởi mà thành thắng nghĩa đế vậy. Tức tánh tức vô tánh, tức tướng tức vô tướng, tức hữu sắc, tức vô sắc, lìa các tướng, tâm một lòng hướng đến sự tu tập. Vì sao vậy? Nghĩa là nghe như thế tất cả các pháp về nhơn quả một cách triệt để không nghi ngại về các pháp chơn thật ấy, rồi giãi bày một cách thành thục. Như thế đó cho đến sau khi nghe phải đem pháp nầy đi đến chỗ khác để nói ra. Chính mình phải khuyến khích kẻ khác tu tập, tâm không tán loạn, niệm niệm tương tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Bất Thoái Trụ.

Nầy Phật Tử! Lại nữa tại sao có tên là Bồ Tát Đồng Chơn Trụ? Nầy Phật Tử! Vị Đồng Chơn Trụ Bồ Tát nầy chứng được mười pháp. Thế nào là mười? Nghĩa là chứng được thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, chứng được tất cả pháp khi chúng sanh khởi tâm động niệm. Vì tất cả chúng sanh khi bố thí thì đều hiểu rõ. Hay vì chúng sanh như thế mà giãi bày. Hay vì chúng sanh nhiều loại khác nhau ở các thế giới khác nhau cho đến địa giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, dục giới, sắc giới vô sắc giới, các thế giới như thế đều biết rõ mà giãi bày. Thần thông nhanh chóng tùy theo sự nhớ nghĩ mà đến. Nầy Phật Tử! Như thế cho nên có tên là Bồ Tát Đồng Chơn Trụ.

Nầy Phật Tử! Đồng Chơn Trụ Bồ Tát lại nghe mười pháp mà có thể tu tập. Thế nào là mười? Nghĩa là nghe về trí huệ của Phật, chấn động tất cả các Phật. Quán tất cả Phật, tìm đến các xứ Phật, đi đến các nơi Phật, qua lại nhiều A Tăng Kỳ thế giới, nghe A Tăng Kỳ nghĩa thú, xa lìa nhiều loại tự tánh sai biệt, phát một tâm niệm mà tỏa ra khắp A Tăng Kỳ nước Phật, nghe biết để tu tập. Vì sao vậy? Nghĩa là nghe những pháp chơn thật như thế đó. Thành thục giãi bày một nghĩa như thế. Như vậy cho đến sau khi nghe đem điều ấy đến phương khác mà thuyết pháp. Chính mình khuyến khích tu tập, tâm chẳng tán loạn, niệm niệm tương tục chẳng có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên gọi đây là Bồ Tát Đồng Chơn Trụ.

Nầy Phật Tử! Lại nữa tại sao có tên gọi là Bồ Tát Pháp Vương Tử Trụ?

Nầy Phật Tử! Bồ Tát Pháp Vương Tử Trụ nầy có mười loại pháp có thể hiểu rõ. Thế nào là mười? Nghĩa là có thể biết tất cả nơi sanh của chúng sanh. Có thể biết tất cả phiền não của chúng sanh. Hay biết tất cả những sự yêu đắm của chúng sanh. Có thể biết tất cả nơi của chúng sanh, có thể biết tất cả các diệu pháp của chư Phật, có thể biết tất cả tánh chơn thật của chư Phật, có thể biết nhiều pháp sai biệt của thế giới. Có thể biết trí tuệ của quá khứ, vị lai, hiện tại 3 đời chư Phật, có thể biết thế gian rộng rãi, các pháp đều không chắc chắn. Hay biết chơn tánh như như y nhiên tịch tịnh. Nầy Phật Tử! Cho nên điều nầy có tên gọi là Bồ Tát Vương Tử Trụ.

Nầy Phật Tử! Pháp Vương Tử Trụ Bồ Tát nầy lại cũng có mười loại pháp có thể khuyến khích tu tập. Thế nào là mười?

Đó là siêng học tất cả sự tác dụng của tất cả thành của vua. Vui với tất cả lễ lạc của thành vua, vui với tất cả chỗ ở nơi vương thành. Hoan hỷ khi vào tất cả vương thành, hoan hỷ khi có thể tự tại du lịch tất cả vương thành, ở nơi quán đảnh của pháp vương, ở nơi quan sát của pháp vương, được tự tại lực của pháp vương, kế tục ngôi vị pháp vương, chứng được lời nói của pháp vương. Vì sao vậy? Nghĩa là tu tập tất cả các chơn thật pháp không ngại. Như thế cho đến nghe rồi đi đến nơi kia để thuyết pháp, thân cận tự mình khuyến khích tu tập, tâm không tán loạn, niệm niệm tương tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Đây có tên gọi là Bồ Tát Pháp Vương Tử Trụ.

Nầy Phật Tử! Lại nữa sao có tên gọi là Bồ Tát Quán Đảnh Trụ?

Với Bồ Tát nầy có được mười loại thần thông. Thế nào là mười?

Nghĩa là hay làm cho A Tăng Kỳ thế giới giao động nhiều loại khác nhau. Hay chiếu sáng nhiều A Tăng Kỳ thế giới khác nhau. Hay xem xét A Tăng Kỳ thế giới khác nhau. Hay cùng với A Tăng Kỳ thế giới gia tâm tu tập. Hay vì thành tựu các thiện nghiệp khác nhau của A Tăng Kỳ thế giới. Hay biết được tâm sai biệt của chúng sanh ở những A Tăng Kỳ thế giới khác nhau. Hay vì mỗi một chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới mà cùng làm một lúc. Hay vì mỗi mỗi chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới mà liễu giải căn tánh của họ. Hay vì sự giáo hóa chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới. Hay biết được sự tác dụng tâm của chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới vậy. Lại nữa Thiện Nam Tử! Đây là Quán Đảnh Trụ Bồ Tát và những việc làm ấy miên mật và những Phật sự nầy khó có người hiểu biết hết. Vì sao vậy? Nghĩa là thân nghiệp không thể biết, khẩu nghiệp chẳng thể biết, ý nghiệp chẳng thể biết, biến hiện chẳng thể biết, quán sát mọi loài biến hóa chẳng thể biết, quán sát quá khứ có làm chẳng thể biết, một thoáng chốc có làm không làm cũng chẳng thể biết, quán sát trí huệ chẳng thể biết, tâm ý chẳng thể biết, tất cả dụng trí chẳng thể biết.

Nầy Phật Tử! Đây là Quán Đảnh Trụ Địa Bồ Tát vậy. Lại nghe về thập trụ của Thế Tôn. Thế nào là mười? Đó là nghe 3 thế trí, Phật trí, Pháp trí, pháp giới phân biệt trí, thế giới trung biến trí, tất cả thế giới so sánh với pháp giới trí. Chiếu sáng tất cả thế giới trí. Viên mãn tất cả chúng sanh trí, tất cả pháp trí, vô biên Phật trí. Các Bồ Tát nầy tất cả đều ở nơi trí tuệ của chư Phật vậy. Vì sao thế? Nghĩa là nghe như thế rồi tất cả đều bằng trí huệ. Nầy Phật Tử! Đây gọi tên là Bồ Tát Quán Đảnh Trụ.

Lúc ấy Ngài Pháp Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát vì các Bồ Tát mà nói về thập trụ pháp của các Bồ Tát rồi, liền lúc ấy nhờ thần lực Phật mà mỗi mỗi phương trong 10.000 nước Phật cho đến các thế giới nhỏ, mỗi mỗi nước Phật như thế mặt đất có 6 điệu chấn động. Đó là: động biến động, đẳng biến động, chấn biến chấn, đẳng biến chấn, kích biến kích, đẳng biến kích và liên tục biến động với những âm thanh khác khởi dậy v.v… Đó là do thần lực của Phật mà có. Lại cũng có mưa nhiều loại hoa trời, nhiều loại hương trời, nhiều loại hương tẩm bột, nhiều loại tóc trời, nhiều loại hương gỗ quý từ trời; nhiều loại thiên y, nhiều loại bảo cái từ trời, nhiều loại hoa sen quý từ trời, nhiều loại anh lạc từ trời, nhiều loại mây quý từ trời… như thế đó… nhiều loại mây khác nhau để cúng dường, chung quanh biến thành mưa. Lại cũng có nhiều loại âm nhạc vi diệu từ trời, từ trên không trung không đánh tự kêu, vang ra âm thanh lớn, ánh sáng vi diệu chiếu khắp bốn châu, cho đến núi Diệu Cao, Thiết Vi cũng đều trùm khắp mười phương để cúng dường. Lúc ấy Ngài Pháp Huệ Bồ Tát cùng trong lúc ấy ở mười phương thế giới đồng thời cũng nói về thập trụ pháp. Cho đến câu văn lời nói ý nghĩa chẳng tăng chẳng giảm đều đồng một nghĩa. Điều nầy cũng do uy thần của Phật mà có, phóng ra mỗi mỗi 10.000 quốc độ Phật trong vi trần thế giới, mỗi mỗi trong 10.000 quốc độ Phật đều có Bồ Tát số nhiều như vi trần. Các vị từ mười phương vân tập đến hỏi Pháp Huệ Bồ Tát rằng:

Nầy Phật Tử! Lành thay! Lành thay Phật Tử! Như ta nói Bồ Tát thập trụ pháp. Phật Tử! Cùng với tên ta và cùng nói pháp như ta và tất cả như thế tất cả đều cùng một tên là Pháp Huệ Bồ Tát. Từ đây 10 phương Như Lai tất cả đều đến chốn nầy. Các bánh xe pháp của thế giới cũng do uy đức của Phật mà chuyển pháp luân đến tất cả các nơi. Như thế đó, tất cả các tánh, tướng, lời nói, câu văn, ý nghĩ đều không tăng chẳng giảm. Nầy Phật Tử! Liền lúc ấy do uy đức của Phật mà tất cả đều thấy các Bồ Tát đều đến nơi đây giống như ta đang đến thế giới nầy. Cũng như thế đó tất cả mười phương thế giới quốc độ Phật tất cả 4 châu núi Diệu Cao nơi cung trời Đế Thích, ở mười ngàn quốc độ Phật có vô số Bồ Tát đồng đến để vân tập. Lúc ấy Ngài Pháp Huệ Bồ Tát thừa Phật oai lực quán sát mười phương pháp giới chúng sanh đều câu hội; nên muốn tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Thấy chư Như Lai trí thanh tịnh

Nguy nguy biến hóa lực như thế

Mười lực công đức đều trang nghiêm

Cho nên do đấy phát bồ đề

Thấy đây nhiều loại thần thông lớn

Thuyết pháp lợi ích cho chúng sanh

Lại thấy luân hồi các khổ não

Cho nên phát tâm bồ đề vậy

Do vậy Phổ Hiền trước Như Lai

Được nghe tất cả biển công đức

Giống như hư không chẳng có tướng

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Tất cả nơi đây và chỗ kia

Tất cả tánh hạnh đều rõ ràng

Mỗi mỗi sai biệt tánh mong cầu

Vì vậy cho nên phát bồ đề

Cho nên quá khứ và hiện tại

Nhẫn đến vị lai các lành dữ

Vì cầu trí nầy tu thiện pháp

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Thiền định giải thoát và tam muội

Giữ cho thanh tịnh sinh tốt đẹp

Vì cầu trí tuệ sinh cung kính

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Hay biến thế gian các căn bản

Như như thanh tịnh đều giống vậy

Vì cầu trí nầy học nơi kia

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Bồ Đề giải thoát khắp thế gian

Trong ấy có được nhiều loại ý

Vì cầu trí tuệ chẳng lần đếm

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Nhiều loại chẳng kể trong tam giới

Trong ấy lại có nhiều thế giới

Giới là tự tánh cầu trí huệ

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Biến hóa tất cả cầu pháp nầy

Như thế nương vào được an lạc

Tự tánh chơn thật biết rõ ràng

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Tất cả mỗi mỗi mà sanh ra

Do như chúng sanh từ đất có

Vô số mắt tuệ cũng cầu thế

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Quá khứ hiện tại và vị lai

Nếu hiểu chúng sanh tánh tướng gì

Như vậy quá khứ việc đều biết

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Chứa nhóm chúng sanh đầy thế gian

Cho đến mỗi mỗi gần thân cận

Như vậy phiền não cũng nên biết

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Ba cõi trí huệ cũng nên biết

Vô tận pháp môn nên giãi bày

Vì cầu như vậy trí chơn thật

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Tất cả các pháp chẳng y cứ

Bổn tánh vốn không chẳng dính mắc

Vì cầu thắng nghĩa nên phải biết

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Hay chuyển vi trần các nước Phật

Làm cho sông biển cũng thấm nhuần

Vì cầu Như Lai trí tuệ nầy

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Lại phóng ánh sáng chiếu mười phương

Mỗi mỗi ánh sáng từ miệng ra

Vì cầu trí kia có ánh sáng

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Bất khả tư nghì nhiều loại khác

Thức ăn đồ uống đều cung cấp

Ta nguyện đầy đủ như trí ấy

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Tất cả chúng sanh và nước Phật

Hay làm xa rời việc giết hại

Vì cầu pháp nầy được bền lâu

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Giả sử biển lớn trong nước ấy

Một lông trôi nổi cũng phải biết

Như vậy trí tuệ cũng muốn cầu

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Mười phương cho đến mỗi quốc độ

Mỗi mỗi nước kia lớn nhỏ thảy

Như vậy trí tuệ phải hiểu hết

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Quá khứ nhẫn đến kiếp vị lai

Hiện tại tất cả các thế gian

Như vậy kiếp số phải biết rõ

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Ba đời tất cả các Như Lai

Cho đến Thanh Văn Bích Chi Phật

Pháp gì tự tánh phải hiểu rõ

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Vô lượng vô số các thế giới

Mảy lông trong ấy cũng phải rõ

Tánh của tự tánh phải nên biết

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Bất khả tư nghì cảnh giới khác

Mảy lông cũng phải nên biết rõ

Vì chỗ lớn nhỏ đều phải biết

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Vô lượng vô số các thế gian

Một khoảnh sát na nghe cùng khắp

Vì cầu trí tuệ nghe thanh tịnh

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Tất cả thế gian các ngôn ngữ

Một chữ diễn thuyết cũng chẳng thừa

Vì tánh chơn thật nên phải biết

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Vô số giáo hóa trong ba cõi

Tất cả chúng sanh đều vĩ đại

Vì cầu nói pháp lưỡi rộng lớn

Cho nên khởi phát tâm bồ đề

Như nói tất cả các nước Phật

Mỗi một sát na cũng phải thấy

Vì cầu thuyết pháp trí vô ngại

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Như Lai có cả những thế gian

Mỗi một sát na đều biến hiện

Như vậy Phật pháp hiểu chơn thật

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Vô số vi trần thế giới thảy

Đều cùng tự tánh mà phát sanh

Vì cầu như vậy những trí tuệ

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Quá khứ cho đến Phật tương lai

Lại nữa hiện tại các thế gian

Mỗi một sát na tâm nên biết

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Một câu nói pháp khó nghĩ bàn

Như vậy kiếp hết hoặc chẳng hết

Vì cầu như vậy ngôn ngữ nầy

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Tám phương tất cả các thế gian

Như vậy liên tục không gián đoạn

Vì tự tánh nầy tâm nên rõ

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Do nơi ba nghiệp thân miệng ý

Làm ra mười phương đủ các loại

Do đây phải hiểu ba cõi không

Cho nên khởi phát bồ đề tâm

Phát tâm bồ đề như thế rồi

Cần mẫn phụng sự các Đức Phật

Mười phương vô số kiếp làm hết

Cho nên tôn trọng tâm chẳng đổi

Cho đến thế gian một lòng thờ

Tám phương mỗi mỗi đều chu biến

Như vậy Phật kia cùng thuyết pháp

Mỗi mỗi tôn trọng tâm chẳng lùi

Nếu một Bồ Tát làm an lạc

Làm cho chúng sanh khỏi luân hồi

Nên làm thế gian tướng tròn đủ

Đây là cung kính tâm chẳng lui

Diệu pháp tối thượng tối hy hữu

Sâu xa khó giải lìa lời nói

Cùng các Bồ Tát mà tuyên dương

Vì kính tâm kia chẳng lùi sụt

Thế gian chẳng động và chỗ ở

Như vậy khó được thật hy hữu

Diễn thuyết thanh tịnh diệu pháp âm

Cho nên tâm nầy chẳng thối chuyển

Được sanh tất cả trong Như Lai

Vô ngã vô nhơn lìa kiêu mạng

Vì cầu pháp nầy nên hiện diện

Cho nên siêng năng chẳng lui sụt

Vô số vô lượng A Tăng Kỳ

Được các Như Lai Tam Ma Địa

Làm giống Bồ Tát như vậy làm

Cho nên siêng năng tâm chẳng sụt

Cho đến cứu cánh Tam Ma Địa

Siêu sanh bờ kia cũng nên biết

Như vậy nói pháp của chư Phật

Cho nên cung kính tâm chẳng lùi

Xa rời luân hồi trong ba cõi

Chuyển ư như vậy pháp luân lành

Hay vì thế gian chẳng gián đoạn

Bồ Tát phải nên nói như vậy

Tất cả thế gian đều khổ não

Như vậy ác trược trong tai nạn

Gần gũi tất cả các hữu tình

Cho nên Bồ Tát nên nói vậy

Bồ Tát đầu tiên nói pháp nầy

Nhơn đây phát khởi tâm bồ đề

Trì giới thuyết pháp không giới hạn

Cho nên tên gọi phát tâm trụ

Lúc ấy Bồ Tát ở nơi đất

Đầu tiên hàng phục tâm như thế

An lạc lợi ích nơi thế gian

Như Phật xa lìa già bệnh chết

Lòng tin nhớ nghĩ và tinh tấn

Huệ tâm nguyện tâm lẫn trì giới

Hộ pháp xa lìa chẳng đến đi

Quyết định hồi hướng các chúng sanh

Nếu trụ nơi ấy tâm như thế

Đọc tụng thọ trì kinh Đại Thừa

Xa rời ồn náo ở yên tịnh

Tìm cầu tất cả bạn lành thảy

Người lành gần gũi thuận trí thức

Siêng năng tìm kiếm người trí thật

Thông suốt tất cả những lời nói

Thắng nghĩa đế lý cũng như vậy

Khi hiểu Như Lai thắng nghĩa rồi

Lìa những điên đảo chẳng nghi hoặc

Như thế bình đẳng tự nhiên yên

Đây là Phật Tử nói pháp đúng

Chứng được trị trì cũng như thế

Lành hay quán sát các Bồ Tát

Diễn thuyết pháp lành cúng dường Phật

Cho nên Phật Tử cần phải học

Lại nữa Bồ Tát đệ tam trụ

Pháp Vương dạy dỗ cầu làm Phật

Nếu hiểu không, vô thường rốt ráo

Tất cả tự tánh chẳng đến đi

Các pháp vốn yên lìa tự tánh

Giải bày rõ ràng tâm quyết định

Ở đây tất cả chẳng nghi ngờ

Phật Tử hãy nên nói như vậy

Vì biết tất cả chỗ chúng sanh

Và mở tất cả các pháp giới

Như vậy thế giới phải nên biết

Cho nên có tên Tương Ưng hành

Đất đai lửa nước cùng hết thảy

Cho đến gió máy và hư không

Dục giới sắc giới vô sắc giới

Tất cả thế giới phải nên biết

Cho đến ở ngoài thế giới khác

Phải thấy tự tánh của pháp giới

Như vậy rộng tuyên trí huệ lớn

Dũng mãnh tinh tấn cầu trí Phật

Lúc ấy Bồ Tát sanh chỗ tốt

Xuất gia sanh ra nơi Như Lai

Hữu tánh vô tánh tâm quyết định

Sanh ra nơi ấy thường chánh kiến

Ở đây Bồ Tát không thối chuyển

Vì cầu Phật đạo tâm chẳng lùi

Tất cả các pháp hay tu tập

Quán cả chúng sanh đều tự tánh

Tội lỗi chúng sanh như bụi nhỏ

Xa rời luân hồi những quả báo

Phật Tử lành nên phân biệt sanh

Bồ Tát sẽ làm lìa già cả

Quá khứ hiện tại và vị lai

Tất cả huệ pháp nên hiểu rõ

Căn lành bạn hữu cùng sanh ra

Như Phật ra đời cũng vậy thôi

Tất cả Như Lai đều trang trọng

Vào đời ba cõi đều bình đẳng

Hãy làm như thế mà sanh ra

Vượt lên ba đời làm nhiều việc

Đây tên thứ tư Bồ Tát trụ

Hãy nên xưng tán hình thức nầy

Pháp nầy phải hay biết rõ ràng

Bồ Tát hiểu rõ sanh nơi ấy

Điều nầy sau xưng loại thứ năm

Tên gọi Phương Tiện Cụ Túc trụ

Nhiều loại phương tiện độ quần sanh

Cầu vui nghiệp phước nơi phương khác

Như thế mà làm phước lớn hơn

Làm cho chúng sanh được giải thoát

Tận tâm hồi hướng tất an ổn

Gần gũi mọi loài làm xa khổ

Thế gian gặp nạn liền cứu giúp

Nhiếp phục cho họ sinh hoan hỷ

Mỗi mỗi dẫn dắt các chúng sanh

Chứng đại Niết Bàn tâm tịch tịnh

Vô biên tất cả các thế gian

Như vậy vô lượng không tính đếm

Nhiều quá không thể tính đếm được

Chẳng tánh chẳng tướng chẳng cứu cánh

Đây là Bồ Tát đệ ngũ trụ

Đầy đủ phương tiện độ quần sanh

Phật kia như vậy sáng tròn đủ

Thị hiện tất cả các công đức

Vô biên tất cả những chúng sanh

Quán pháp tự tánh không mê hoặc

Lưới nghi có không đều rõ biết

Trên đời người trời đều bền chắc

Nương Phật nương Pháp trong Bồ Tát

Thường hành hạnh lành lìa các tướng

Như thế rộng lớn nhiều chúng sanh

Lắng nghe diễn thuyết pháp phương tiện

Phiền não chúng sanh làm thanh tịnh

Dễ độ khó độ đều điều phục

Pháp giới rộng nói và chỉ bày

Bồ Tát ba đời vui nghe giữ

Quán sát tất cả tâm không động

Như vậy siêng năng nơi Phật Pháp

Chẳng còn tánh tướng lẫn có không

Bản tánh lìa nhiễm ta cũng vậy

Hiểu biết tánh kiếp như mộng huyễn

Vì nghe như thế các pháp hay

Bất thoái Bồ Tát cũng như thế

Nơi Phật nơi Pháp trong Bồ Tát

Hãy xem hình thức chẳng có không

Bất thoái chẳng có cũng chẳng không

Sanh cùng chẳng sanh hết chẳng hết

Có tướng không tướng chẳng khác một

Nhiều loại chúng sanh cũng chỉ một

Thắng nghĩa đế lý lìa có không

Mỗi mỗi sai biệt đều trân quý

Bồ Tát nơi đây tâm chẳng thoái

Như vậy khác nhau qua hội họp

Mỗi mỗi cõi trời đều nghe thấy

Lại nữa Bồ Tát đồng chơn trụ

Thân khẩu ý nghiệp đều thanh tịnh

Đi làm Phật sự không dính mắc

Cho nên tùy ý mà được sanh

Đều vì chúng sanh mà thực hiện

Du hành ra đi từng đất nước

Trí huệ mau theo ý của mình

Mười phương siêng năng cung kính lễ

Bồ Tát nơi nầy tâm không hai

Nghe Phật diễn bày pháp vi diệu

Biết rằng nước khác đang giao động

Như vậy nên biết chẳng có thừa

Diễn thuyết đi đến các nước Phật

Sát na biến đổi A Tăng Kỳ

Tùy hỏi diễn thuyết vô số nghĩa

Tự tánh sai biệt tánh cũng vậy

Phương tiện âm thanh hay chiếu soi

Vô số nước Phật trong một niệm

Lại nói Bồ Tát Vương Tử Trụ

Mật hạnh chúng sanh khó đo lường

Phiền não chứng tiêu vọng tưởng hết

Sự lý tương ưng nói phương tiện

Nhiều loại vi diệu phải nên làm

Phân biệt thế gian nhiều đời kiếp

Chơn tục hai đế nên hiểu rõ

Đế cầu như vậy pháp vi diệu

Nếu hay phương tiện vào vương thành

Như vậy mà đi khắp đầy đủ

Đến đi tự tại chẳng khó khăn

Làm chủ vương thành hay chiếu rọi

Do như quán đảnh vua diệu pháp

Như vậy uy đức lực đầy đủ

Vào trong vương thành liền nói pháp

Cho nên đây gọi Vương Tử Trụ

Đây hay tùy thuận các chúng sanh

Như Phật giáo hóa cũng lại thế

Điều Ngự ra đời cũng giống vậy

Được Phật an ổn trụ vương tử

Phật Tử Bồ Tát quán đảnh trụ

Nơi nơi tối thượng hay lợi ích

Một lông giọt nước làm giới hạn

Suy nghĩ so sánh chẳng thể đo

Như vậy mà làm các pháp Phật

Do đây tất cả pháp vi trần

Chúng sanh khó lường cũng nên biết

Cho nên vô số hãy nên nói

Tất cả Như Lai và Bồ Tát

Cho đến quá khứ vị lai Phật

Nếu ở mười phương trong hiện tại

Cho đến Thanh Văn Bích Chi Phật

Từ đây phát sanh tâm bồ đề

Như vậy số nầy khó đo lường

Công đức số lượng cũng khó biết

Tối sơ một niệm tâm bồ đề

Như vậy thế giới độ quần sanh

Chẳng thể cao hơn qua khỏi kia

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát liền bảo Ngài Pháp Huệ Bồ Tát rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Lành thay! Lành thay! Ta nay sẽ nói pháp môn “Bảo Quang Tổng Trì”. Lại nữa Thiện Nam Tử! Nơi các chúng sanh sẽ được vui vẻ bất khả tư nghì với công đức chư Phật tất cả bằng trí tuệ. Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có chúng sanh khi nghe được danh hiệu của Bảo Quang Tổng Trì liền thọ trì đọc tụng một lòng cung kính thâm sâu quyết định sẽ chứng thành Phật quả.

Lúc ấy Ngài Pháp Huệ Bồ Tát thưa: Thưa Ngài, so với tôi đây được Như Lai xoa đầu, có trí tuệ sâu dầy. Nếu có Thiện nam tử hay Thiện nữ nhơn nào đến được trong pháp hội nầy và nghe được pháp nầy hoặc có chúng sanh nào dùng tay để mang kinh nầy thì phải biết rằng những chúng sanh đó ở trong Phật pháp đều được Phật thọ ký.

Lúc ấy Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất từ chỗ ngồi đứng dậy liền bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Chúng con nay cũng như những người mù từ xưa đến nay chưa từng thấy nghe chánh pháp như thế nầy. Ngài chẳng chê trách chúng con. Nếu có chúng sanh nào chẳng nghe được pháp nầy thì chúng sanh kia cũng giống như kẻ sanh ra bị mù.

Phật bảo: Trưởng Lão! Như thế đấy! Như thế đấy! Nay ta đang nói.

Ngài Xá Lợi Phất liền bạch Phật rằng: Kính mong Ngài nói pháp khó thể nghĩ bàn nầy.

Phật bảo: Nầy Xá Lợi Phất! Nay ta làm cho các vị Phạm Vương, Đế Thích, hộ thế chư thiên cùng đến nơi nầy. Như Lai liền bảo Ngài Xá Lợi Phất: Đây là tối vi diệu pháp gọi là Bảo Quang Tổng Trì vì chúng hội nơi đạo tràng nầy mà thuyết pháp.

Lúc ấy Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất thọ lãnh lời dạy của Đức Phật mà hỏi về kinh Bảo Quang Tổng Trì pháp môn nầy. Sau khi vâng mệnh các vị Phạm Vương, Đế Thích hộ thế chư thiên đến rồi hỏi lời rằng: Tại Bảo Quang đạo tràng nầy Phật chờ chúng tôi đến đồng thời để nghe và lãnh hội pháp nầy. Ngay lúc ấy Đức Như Lai liền nói pháp Bảo Quang Tổng Trì bất khả tư nghì nầy. Các ngươi nên vân tập nhanh lên, thật khó gặp gỡ, bỏ qua sẽ hối hận. Đây là tối thắng pháp bảo vậy. Thế gian khó được, thật là hy hữu. Lúc chư Thiên nghe kinh nầy rồi liền vận thần thông, chỉ trong chốc lát các Phạm Vương, Đế Thích, hộ thế thiên đều vân tập lại, đến với Thế Tôn, đi nhiễu về bên mặt ba vòng, chắp tay cung kính, đối trước Đức Phật, yêu cầu Thế Tôn, duy nguyện Như Lai, thương tưởng đến chúng con và đời sau các chúng sanh mà nói pháp môn Bảo Quang Tổng Trì nầy.

Lúc ấy Đức Phật yên lặng chẳng đáp.

Liền đó chư thiên Phạm Vương, Đế Thích, hộ thế thiên thưa thỉnh 3 lần ân cần cung kính nhưng Thế Tôn vẫn yên lặng. Lúc bấy giờ Tôn Giả Xá Lợi Phất bạch với Thế Tôn rằng: Duy nguyện Đức Như Lai! Hãy nói pháp Bảo Quang Tổng Trì.

Phật bảo: Lành thay! Theo lời thỉnh cầu ta nói. Lúc ấy từ miệng Đức Thế Tôn phóng ra nhiều loại âm thanh biến khắp 3.000 thế giới. Đồng thời nếu Thiện Nam Tử nào được nghe pháp Bảo Quang Tổng Trì nầy mà thỉnh Như Lai thì chúng sanh ấy đều chứng được Bất Thoái chuyển chứng đến A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Lúc ấy Đức Thế Tôn lại bảo Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất rằng: Nầy Tôn Giả Xá Lợi Phất, hãy nên qua thỉnh Diệu Cát Tường Đồng Tử nói pháp nầy vậy. Diệu Cát Tường Đồng Tử đang ở tại xứ Phạt La ngồi dưới cây Bà La, đang thiền định tại đó, qua hơn trăm ngàn vạn không gian ánh sáng của trời trăng Ngài ở nơi lầu các đại trang nghiêm, các vị Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế Thiên đang vây bọc chung quanh cung kính, toàn thân màu vàng, kiết tường trang nghiêm, hào quang chiếu dọi.

Lúc ấy Ngài Xá Lợi Phất phụng nghe lời Phật qua đến nơi Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử, đến liền bạch với Ngài Diệu Cát Tường rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Như Lai thỉnh Ngài vì chúng con mà thuyết pháp môn Bảo Quang Tổng Trì.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử đáp Ngài Xá Lợi Phật rằng: Ta đây làm sao so được với Như Lai.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Thưa Ngài! Trí huệ của Ngài cao xa, con không dám nói, cho nên con không dám bàn cãi cùng Ngài.

Ngài Diệu Cát Tường bảo: Hãy dừng lại Xá Lợi Phất! Ta thật ngu si; nhưng nếu muốn nghe, ta sẽ vì ông mà nói.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Bạch Ngài: Con nay vui nghe. Sau khi nói lời ấy rồi tức thời 3.000 Đại Thiên Thế Giới cho đến thanh tịnh thiên cung và các thiên chúng. Trên cõi A Ca Ni Sắc (Akanstha) dưới cho đến Tứ Thiên Vương chư thiên cùng các quyến thuộc vô số câu hội, Đại Dược Xoa cùng các Phạm Thiên Vương và Đế Thích, Hộ Thế Thiên cùng các Thiên nữ v.v… tất cả đều vui nghe pháp nầy nên đều vân tập. Cho đến các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cùng với 33 cõi trời như Dạ Ma Thiên, Đẩu Suất Đà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Đại Phạm Thiên Vương, A Ca Nị Sắc Thiên cho đến các vị thiên chúng v.v… đều đến vân tập. Lại có các Đại Thanh văn chúng như: Tôn Giả Tu Bồ Đề, Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp, Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên, Tôn Giả Xá Lợi Phất, Tôn Giả Ma Ha Ca Chiên Diên, Tôn Giả A Nậu Lâu Đà, Tôn Giả Già Da Ca Diếp, Tôn Giả Ma Ha Câu Hi La, Tôn Giả Tổ Nô Phán Đà Ca, Tôn Giả Lợi Bàn Đà, Tôn Giả Y Vỉ Ca Diếp, Tôn Giả Điểu Ngư Mao Tố Ca Diếp, Tôn Giả Bố La Cách Mai Hằng La, Tôn Giả Lịch Nhiếp Ba, Tôn Giả A Nan Đà như vậy đó các Đại Thanh Văn cho đến Da Du Đà La cùng với 500 Tỳ Kheo Ni v.v… đều tập trung tại đây. Lại có Chuyển Luân Vương và các Tiểu Vương, Sát Đế Lợi Bà La Môn, Trưởng giả Cư sĩ cũng đều vân tập.

Lúc ấy Tôn Giả Xá Lợi Phất nhiễu Phật 3 vòng rồi nói lời rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Vì nhơn duyên gì mà ngày hôm nay tất cả đại chúng đều vân tập như thế, chúng con muốn biết.

Phật bảo Tôn Giả Xá Lợi Phất rằng: Đây là do uy đức của pháp Bảo Quang Tổng Trì vậy.

Ngài Xá Lợi Phất nói rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Pháp môn Bảo Quang Tổng Trì nầy nay chúng con đang muốn nghe.

Phật bảo: Nầy Xá Lợi Phất! Ngươi nên đến thỉnh Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử, Phổ Hiền Bồ Tát hai vị Đại Sĩ nầy sẽ vì ngươi mà nói.

Liền lúc ấy Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất bạch Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử rằng: Thiện Nam Tử! Hãy vì con mà nói vi diệu pháp bảo Bảo Quang Tam Ma Địa.

Ngài Diệu Cát Tường nói: Nầy Tôn Giả Xá Lợi Phất! Các người bây giờ đang muốn nghe pháp Bảo Quang Tổng Trì nầy phải không?

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Nay có 4 chúng Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế Chư Thiên vì nghe pháp nầy nên đã đến.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường liền cho Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất biết như thế. Nầy Xá Lợi Phất! Pháp nầy mật yếu không thể thấy nghe, như huyễn như hóa. Vì sao phải nói và nói cho ai nghe?

Xá Lợi Phất thưa: Nầy Thiện Nam Tử! Ngài nay đang nói và con vui nghe.

Diệu Cát Tường hỏi Tôn Giả Xá Lợi Phất. Lời nói nầy được gọi là gì?

Đáp rằng: Diệu Cát Tường. Không làm không nói.

Diệu Cát Tường lại hỏi: Xá Lợi Phất nói không là thế nào?

Đáp rằng: Diệu Cát Tường. Không lìa lời nói.

Diệu Cát Tường nói: Tôn Giả Xá Lợi Phất! Nếu không nầy mà lìa lời nói thì ta sẽ nói gì? Tôn Giả Xá Lợi Phất: Tức tất cả pháp đều xa lìa lời nói. Nếu nói như thế, ai có thể nghe được?

Trưởng Lão Xá Lợi Phất thưa: Thiện Nam Tử! Tất cả các pháp đều lìa khỏi ngôn ngữ lời nói thảy, như thế mà nói. Cho nên nói không, vô tướng, vô nguyện, lìa thủ, lìa xả, chẳng khác, chẳng không, lại cũng chẳng không lìa hí luận, chẳng phải chẳng lìa hí luận.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử nói với Tôn Giả Xá Lợi Phất như thế, các Đại Bồ Tát và Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế chư thiên tâm đại hoan hỷ cùng tán thán rằng: Lành thay Thiện Nam Tử! Đây là pháp Bảo Quang Tổng Trì vậy.

Lúc ấy Tôn Giả Tu Bồ Đề bạch Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử rằng: Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phải thọ trì đọc tụng như thế nào? vì họ mà giải thích pháp Bảo Quang Tổng Trì nầy vậy.

Ngài Diệu Cát Tường đáp: Nầy Tu Bồ Đề! Pháp Tổng Trì nầy không sanh không tịnh, như thế thọ trì, lìa tánh, lìa tướng, chẳng lìa lời nói, không lấy, không bỏ. Pháp nầy nên thọ trì như thế và vì họ mà giải nói.

Khi Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử nói pháp nầy rồi có 92 Bồ Tát đều dõng mãnh chứng được Tam Ma Địa. Lại có người và chư thiên 62 chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát từ chỗ ngồi đứng dậy trạch áo bày vai phải, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: Kính bạch Thế Tôn! Thế nào là làm cho Bồ Tát Ma Ha tát có lòng thương lớn?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Tát có lòng đại bi là Bồ Tát không xa rời 3 cõi nên có tên là Đại Bi. Hay làm cho tất cả chúng sanh thấy được quốc độ thanh tịnh của chư Phật nên có tên là Đại Bi. Nếu có những kẻ phá giới mà hay thương tưởng giữ gìn nên có tên là Đại Bi. Hay làm cho tất cả chúng sanh có ý chí cầu trí tuệ tu tập nên có tên là Đại Bi. Hay vì tất cả chúng sanh chẳng tiếc thân mệnh nên có tên là Đại Bi. Cho đến đầy mắt tủy não khó bỏ mà hay bỏ, khó làm mà hay làm cho tất cả chúng sanh nên có tên là Đại Bi.

Lại bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát vì các chúng sanh chẳng có tâm khác mà được an lạc lìa các tà kiến tức được giải thoát. Nầy Thiện Nam Tử! Đó là Bồ Tát Ma Ha Tát có lòng Đại Bi. Hãy cứ như thế mà giãi bày.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn, duy nguyện Như Lai vì Đại Bi vô lượng vì các chúng sanh an lạc trong thế gian mà nói pháp Bảo Quang Tổng Trì vậy, làm cho chư thiên và loài người trong pháp hội nầy được lợi ích an lạc. Tức thời Đức Thế Tôn thương các chúng sanh mà xuất phạm âm nói với các vị Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: Các ngươi nay ta vì đời vị lai 500 năm sau khi chánh pháp đã hết rồi thì ai có thể thọ trì và lưu bố rộng rãi pháp Bảo Quang Tổng Trì nầy?

Tức thời lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát xa rời tất cả những lo âu của Bồ Tát cùng với Dược Vương Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát cùng với tất cả các vị Bồ Tát xuất sanh pháp vương như Vô Tận Ý Bồ Tát, Hải Huệ Bồ Tát, Bảo Sư Tử Bồ Tát, Bảo Hiền Bồ Tát, Bảo Quang Bồ Tát, Bảo Phát Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Đẳng Quan Bồ Tát, Thường Quan Bồ Tát, Bảo Thủ Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Bảo Trang Nghiêm Bồ Tát, Kiết Tường Tràng Bồ Tát, Pháp Kiết Tường Bồ Tát, Tài Kiết Tường Bồ Tát, Phước Đức Kiết Tường Bồ Tát, Chiên Đàn Kiết Tường Bồ Tát, Pháp Huệ Bồ Tát, Cam Lồ Huệ Bồ Tát, Bất Tư Nghì Bồ Tát, Phước Đức Trang Nghiêm Bồ Tát, Công Đức Trang Nghiêm Bồ Tát, Trướng Nghiêm Bồ Tát, Thường Hoan Hỷ Căn Bồ Tát, Chúng Trí Sơn Phùng Vương Bồ Tát, Biện Thuyết Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Trì Địa Bồ Tát, Biện Ý Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Nguyệt Tạng Bồ Tát, Thanh Tịnh Nguyệt Tạng Bồ Tát, Nhựt Tạng Bồ Tát, Xuất Sanh Vương Bồ Tát, Ma Ha Di Lô Bồ Tát, Kiên Lao Huệ Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát… như thế 62 trăm ngàn câu hội đều là những Đại Bồ Tát Ma Ha Tát cùng một âm thanh đồng thời nói rằng: Bạch Đức Thế Tôn chúng con nay có thể vì đời vị lai 500 năm sau khi chánh pháp hết thường hay thọ trì, nói rộng truyền khắp cho chúng sanh pháp môn Bảo Quang Tổng Trì nầy.

Phật bảo: Lành thay! Lành thay! Nầy các Thiện Nam Tử! Hy hữu, hy hữu. Nầy các Thiện Nam Tử! Nay các ngươi đã vì chúng sanh mà phát đại nguyện thanh tịnh như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn bảo Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: Hãy lắng nghe đây! Hãy lắng nghe đây! Nầy các Thiện Nam Tử! Đây là chánh pháp vi diệu thuộc Bảo Quang Tổng Trì. Vì muốn lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh. Sau khi Đức Phật nói lời ấy rồi liền thăng lên tòa Sư Tử trang nghiêm ngồi kiết già phu tọa tức thời thuyết Bảo Quang Minh Tổng Trì Đà La Ni như sau: Nẳng Mô Tam Mãn Đa Phạt Nại La Giả Mạo Địa Tát Hằng Phược Giả Lịch Hạ Tát Hằng Phược Giả Lịch Hạ Ca Lỗ Nị Ca Giả Đản Nhĩ Dã Tha Án Bà La Đệ Bà La Đệ Ba La Bà Lịnh Đế Tát Phược Ha.

Đức Thế Tôn nói 3 lần như thế về pháp bảo thậm thâm Bảo Quang Tổng Trì Bí Mật Vi Diệu Tối Thượng nầy. Liền lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Pháp nầy được gọi là pháp gì?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Chẳng có pháp nào gọi là pháp cả tức là tất cả nghĩa, tức là vô tánh, nghĩa là tất cả pháp sánh với hư không, nghĩa là tất cả pháp có vô số nghĩa. Vô số nghĩa tức là tất cả nghĩa vô số, tức là tất cả nghĩa của pháp.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Vì sao mà gọi là tất cả pháp?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Ta nói tất cả pháp là mắt tai mũi lưỡi thân ý cho đến 6 thức và 12 nhân duyên. Nầy Thiện Nam Tử! Cho nên ta nay nói pháp nầy vậy. Tất cả các pháp cũng đều như thế. Lại nữa Thiện Nam Tử! Tất cả các pháp nguyên lai chẳng sanh diệt cho nên Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch với Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: Hãy làm như thế! Phật Tử! Pháp môn Bảo Quang Tổng Trì nầy Bồ Tát phải thọ trì ra sao?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bảo Ngài Diệu Cát Tường như thế nầy! Nầy Thiện Nam Tử! Hãy thọ trì Bảo Quang Tổng Trì nầy như đã nói mà thực hành. Vì sao vậy? Vì bổn tánh chẳng có sanh chẳng có diệt, chẳng có tướng chẳng có không. Vô tánh cũng có nghĩa là tự tánh. Tự tánh tức vô tánh vậy. Nầy Thiện Nam Tử! Hãy cứ như vậy mà thọ trì Bảo Quang Tổng Trì nầy, hãy quan sát kỹ lưỡng và đừng bị sự chấp trước vậy. Trí huệ là phần quyết định để trụ lại và phân biệt giãi bày. Bảo Quang Tổng Trì cũng có nghĩa là hãy quán sát tự tánh vậy.

Lúc ấy Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất bạch với Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Diệu Pháp nầy trụ thế được bao lâu?

Ngài Diệu Cát Tường đáp: Nầy Xá Lợi Phất! Cũng giống như tam độc tham sân si vậy.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Nầy Thiện Nam Tử! Tham sân si nầy trụ lại bao lâu?

Ngài Diệu Cát Tường đáp: Nầy Xá Lợi Phất! Tam độc nầy cũng như thế giới vậy.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Nầy Thiện Nam Tử! Thế giới nầy tồn tại bao lâu?

Ngài Diệu Cát Tường bảo: Nầy Xá Lợi Phất! Tam độc của địa giới giống như vô minh vậy.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Nầy Thiện Nam Tử! Vô minh tam độc trụ lại bao lâu?

Ngài Diệu Cát Tường đáp: Nầy Xá Lợi Phất! Như hư không giới vậy.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Nầy Thiện Nam Tử! Tam độc hư không giới trụ lại bao lâu?

Ngài Diệu Cát Tường đáp: Nầy Xá Lợi Phất! Như vô tánh tự tánh pháp vậy.

Lúc ấy Ngài Xá Lợi Phất bạch với Ngài Diệu Cát Tường lời như thế nầy: Nầy Thiện Nam Tử! Chúng tôi biết rõ điều nầy vì sao tôi có được sự hiểu biết và so sánh? Lại nữa Thiện Nam Tử! Dụ như tất cả mèo chồn ở trên núi Tu Di cuối cùng cũng chẳng hết. Như thế đó! Như thế đó! Nầy Thiện Nam Tử! Chúng tôi cũng lại như vậy. Vì sao mà như thể mèo chồn? Giống như tất cả Thanh Văn cùng với một Bồ Tát đồng luận nghĩa. Cuối cùng rồi chẳng thể khuất phục được Bồ Tát, hà huống đây là Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử.

Liền lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bảo Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Ta nay muốn bạch thưa Đức Như Lai. Kính bạch Ngài: Ở vào thời vị lai 500 năm sau phải hộ trì Bảo Quang Tổng Trì pháp bảo nầy như thế nào? Pháp sư trì kinh nầy phải làm sao cho được kiên cố?

Liền lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường từ pháp tòa đứng dậy liền bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Nếu có Pháp sư thọ trì đọc tụng giải thích chánh pháp nầy thì được công đức gì?

Phật bảo rằng: Nầy Diệu Cát Tường! Nếu có Tỳ Kheo trì giữ pháp nầy tương lai sẽ sanh vào pháp thân thanh tịnh, sẽ chứng quả vị cứu cánh giác ngộ thành Phật. Cứ như thế ở khoảng giữa thường hay ở nơi Phật pháp tâm chẳng thoái chuyển. Tất cả thiên ma và quyến thuộc cũng không thể não hại được. Nếu có Thiện Nam Tử nào nương nơi Pháp sư mà khởi tâm từ trong khảy móng tay thì người ấy tức thời xa lìa luân hồi, cứu cánh cho đến giác ngộ thành Phật. Lại nữa! Nầy Diệu Cát Tường! kẻ trì Bảo Quang Pháp Vương nầy nếu có kẻ khởi tâm khinh mạn phỉ báng thì kẻ đó đời đời răng thô, mũi bằng, không có lưỡi, tay chân biến dị, thân hình hay bịnh nặng, bần thần, đui mù, sanh ra giải đãi lười biếng.

Phật bảo Ngài Diệu Cát Tường: Như thế đó có nhiều chúng sanh u mê, ta chỉ lược nói mà thôi. Nầy Thiện Nam Tử! Những chúng sanh ấy sau khi mạng chung thọ vô số địa ngục như từng sợi lông nhỏ, nhiều loại khổ não từ địa ngục sinh ra. Nếu sanh ra làm người thường hay bị mù câm ngọng. Lại nữa nầy Diệu Cát Tường! Nếu có kẻ thấy được kinh chánh pháp nầy mà chê bai thì kẻ đó được thân tà ngụy xấu xí, thân thể bị lở loét đen đủi, da bị ghẻ lác giống như quỷ đói.

Ngài Diệu Cát Tường bạch Phật rằng: Con biết được Như Lai có trí tuệ vô lượng khó thể nghĩ bàn. Kính bạch Đức Thế Tôn! Những chúng sanh u mê như thế sẽ sanh về đâu? Kính mong Ngài hãy vì chúng con mà nói.

Phật bảo: Diệu Cát Tường hãy ngừng lại! Không nên hỏi nữa. Nếu ta nói những chúng sanh ngu mê ấy khi phỉ báng pháp nầy sinh nơi đâu thì nếu có người trên đời nầy nghe sẽ sinh ra sợ sệt, tất cả đều sinh nơi chỗ cùng đường.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Kính mong Đức Thế Tôn mở lòng từ bi diễn nói phân biệt. Nếu các chúng sanh ấy nghe được điều nầy thì những chúng sanh kia không sanh tâm kiêu mạn đối với pháp môn vi diệu không sanh không diệt nầy.

Phật bảo Ngài Diệu Cát Tường: Ở dưới đất nầy có nhiều địa ngục tên gọi khác nhau. Như là Viêm Nhiệt địa ngục, Cực Viêm Nhiệt địa ngục, Hắc Thằng địa ngục, Thức Nhiên địa ngục, Cực Thức Nhiên địa ngục, Cực Ác địa ngục, Kiềm Khẩu địa ngục, Thiết Hoàn địa ngục, Thiết Bổng địa ngục, Băng Mai địa ngục, Huyền Đầu địa ngục, Đảo Huyền địa ngục, Hầu Diện địa ngục, Diệm Hằng Thức địa ngục, Nồng Huyết địa ngục, Thường Xú địa ngục, Đà Phạc địa ngục, Thường Sát địa ngục, Sanh Cực Đại Đống Thống địa ngục. Phật bảo Ngài Cát Tường, như vậy đó có những địa ngục mà chúng sanh phỉ báng pháp nầy bị sanh vào nơi đó.

Liền lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Đức Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Những vị Pháp sư trì kinh nầy sau khi mạng chung sẽ sanh về đất nước nào?

Nầy nữa! Phổ Hiền Bồ Tát! Nếu có kẻ Thiện nam người Thiện nữ nào cùng các Pháp sư trì tụng kinh nầy thì sau khi mạng chung tức được vãng sanh về thế giới Bảo Trang Nghiêm. Đức Phật nói: Thế giới đó có nhiều vị Phật, có nhiều niềm vui không thể nói hết, có các Đức Như Lai đại biện thuyết. Lại cũng có vô số các vị Bồ Tát, thân tướng nguy nguy đặc biệt đẹp đẽ. Nầy Thiện Nam Tử! Khi các chúng sanh nầy mạng chung thì trong thế giới kia có 62 Câu Thi (một ức) đồng thời hiện tiền. Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta lược nói; nếu nói rộng ra công đức vô lượng vô số kinh nầy cho đến trăm ngàn kiếp cũng chẳng thể cùng tận được. Ngài Phổ Hiền Bồ Tát liền bạch Phật rằng:

Kính bạch Đức Thế Tôn! Ở đời vị lai sẽ như thế nào nếu có chúng sanh khi nghe chánh pháp nầy mà không sanh tâm phỉ báng?

Phật bảo Ngài Phổ Hiền Bồ Tát: Nếu trong 4 chúng đệ tử khi nghe được kinh nầy, lời nói phi pháp mà nói đây là tà pháp chẳng phải lời của Như Lai nói, không phải kinh thật hoặc nói rằng đã nghe kinh nầy trước và kinh nầy không đúng chánh pháp nên sinh khinh mạng phỉ báng thì kẻ ấy vĩnh viễn không bao giờ được nghe pháp và xa rời Tam Bảo. Những chúng sanh ngu muội như thế sau khi mạng chung bị đọa vào hắc ám địa ngục. Trong ngục nầy có nhiều vòng sắt bao quanh nhọn như kim châm vào đầu, sau khi châm rồi lại châm lại như vậy trải qua vô lượng trăm ngàn kiếp và từ địa ngục nầy sẽ sanh lại làm người, trải qua vô lượng trăm ngàn vạn kiếp thường không có hai mắt, sau đó trải qua trăm ngàn kiếp chẳng làm thân người và nếu có sanh làm thân người ở bất cứ nơi đâu cũng đều bị mù lòa lại chẳng có lưỡi, đầu, mặt không cân, bụng lớn, chân yếu, tiếng thường khốn khó, đói khát hoành hành, sắc mặt khô khan, miệng hay hôi hám, cả người đều xấu xa. Tất cả chúng sanh khi thấy thế sân hận đều muốn xa lánh.

Lúc bấy giờ tất cả trong chúng hội mọi người khác miệng cùng nói lên lời rằng: Như Lai hôm nay đã vì chúng con mà nói pháp nầy và chánh pháp ấy chúng con đã nghe, chúng con theo lời Đức Thế Tôn, Đức Thiện Thệ và chúng con sẽ làm cho những người đời sau thấy được sự thọ trì kinh điển nầy mà không sanh tâm hủy báng khinh mạn. Chúng con u mê giống như con thơ, chẳng biết chẳng hiểu chẳng có trí tuệ. Kính bạch Đức Thế Tôn. Khi Ngài nói xong kinh nầy rồi các Đại Thanh Văn cùng với các Thiên Đế Thích, Đại Phạm Thiên Vương, Hộ Thế Thiên, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di mỗi mỗi đều nói lời rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Chúng con nghe nói những kẻ phỉ báng pháp nầy có những tội về thân như thế đều lo lắng sợ hãi rất nhiều.

Phật bảo: Như vậy đó, như vậy đó! như ta đã nói. Các ngươi cũng đừng lo lắng khi ta được thánh trí nầy cũng đều do từ chỗ sợ hãi kia, huống nữa những người đệ tử của ta, thì các Thiện Nam Tử nương nơi các vị Pháp sư sanh tâm kính ngưỡng, chẳng thể tự thắng. Nếu có Thiên Long Dược Xoa, Càn Thát Bà v.v… người cũng như chẳng phải người không thể phá hoại. Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có Sa Môn, Bà La Môn thấy pháp vương nầy như thấy tháp miếu của Phật thì kinh nầy cũng lại làm cho trời người tôn kính bảo vật nầy.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường lại bạch Phật lần nữa: Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu trong tứ chúng đệ tử tin sâu và thọ trì kinh nầy thì được bao nhiêu phước đức?

Phật bảo Ngài Diệu Cát Tường rằng: Nếu có người hoặc Pháp sư thọ trì diệu pháp nầy cho đến nghe tên kinh hoặc một ngày hay trong khoảng khảy móng tay mà phát tâm từ bi thì ta liền biết, hoặc ngay lúc ấy phát tâm cúng dường đồ ăn thức uống hoặc cúng vườn tược, đất đai để làm Tăng phòng và nhiều loại cúng dường khác nhau thì rất quý.

Lúc ấy Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất liền bạch Đức Thế Tôn rằng: Như vậy những người nầy không còn bị tội ngũ vô gián nữa phải không?

Phật bảo Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất rằng: Hãy dừng lại lời nầy. Vì sao vậy? Nếu các chúng sanh thọ trì chánh pháp nầy tức được tiêu trừ tội ngũ vô gián.

Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất! Những người mắc tội ngũ vô gián khi nghe được kinh nầy có uy đức lớn cho nghiệp của ngũ vô gián sẽ tiêu trừ và được trở lại làm thân người, đời đời sẽ sanh vào trong Phật pháp, vĩnh viễn không bị đọa vào trong 3 đường ác thú.

Liền lúc ấy Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất khóc lóc như mưa bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như có người nói hủy báng kinh nầy cũng như chưa biết nghiệp báo sâu dầy, từ xưa đến nay chưa từng thấy, cho đến tội báo ở trong mộng cũng chưa từng thấy.

Lúc ấy Đức Thế Tôn bảo Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất rằng: Hãy dừng lại Xá Lợi Phất! đừng nhớ nghĩ nữa. Lại nữa Xá Lợi Phất! Ta nói pháp môn vô ngại nầy cho các ngươi nghe. Nầy Xá Lợi Phất! Đối với các chúng sanh do tự nghiệp lực sinh ra nhiều tội, tự làm tự lãnh chứ không phải người khác. Mỗi mỗi chúng sanh đều do nghiệp lực của mình tự tạo vậy, thọ những bệnh khổ, chẳng phải không có nguyên do mà đến. Nầy Xá Lợi Phất! Ta thường nói rằng tất cả các chúng sanh đều là những bạn lành, ai cũng muốn cầu an lạc, lìa những sự sợ hãi, muốn đến Niết Bàn hưởng nước cam lồ. Ta thường hay nói Bồ Đề là con đường chơn chánh cho nên bây giờ nói lại cho các chúng sanh phóng túng tham sân tự tạo thân nghiệp khẩu nghiệp và ý nghiệp, tâm sanh tà kiến, chẳng thể hiểu biết chơn chánh, tạo tác nhiều tội gần gũi nhiều sự tà vạy, từ thân phân biệt tạo ra các nghiệp ác. Do vậy đọa vào địa ngục thọ nhiều loại khổ. Chúng sanh tự tạo, chẳng phải Như Lai chẳng nói. Lại nữa Xá Lợi Phất! Ta thường như thế lấy lòng đại bi vì các chúng sanh cho đến mỗi mỗi chúng sanh cho đến kiếp cuối ta nguyện thay thế nơi địa ngục để khổ được hết không bỏ sót một chúng sanh nào.

Nầy Xá Lợi Phất! Tâm từ bi của Như Lai thường có như thế, dụ như trên đời cha mẹ chỉ sinh một con có hình thù đẹp đẽ, phước tướng viên mãn chẳng thể sánh bằng. Một ngày nọ tự nhiên chết đi thì cha mẹ lúc ấy vì người con nầy sanh tâm áo não, tình cảm lo lắng sầu buồn sinh bịnh khổ não. Như vậy đó Xá Lợi Phất! Như Lai bậc chánh đẳng giác cũng lại như vậy. Lòng thương chúng sanh như thấy con một. Như Lai lo lắng chẳng biết sự dính mắc bao giờ mới có thể xa lìa. Vì sao vậy?

Nầy Xá Lợi Phất! Dụ như biển lớn không dừng tử thi.

Nầy Xá Lợi Phất! Như Lai và phiền não không bị dính mắc. Lại nữa Xá Lợi Phất! Thân như huyễn mộng, lại như tiếng vang, tứ đại hợp thành giả danh làm người, trong ấy chẳng có gì thật. Thấy các hình tướng đều chẳng ở yên, chẳng có nơi chốn, chẳng phải chẳng có nơi chốn, chẳng lo sợ bị nhiễm bởi kẻ khác. Nầy Xá Lợi Phất! Như Lai cũng lại như vậy quán các hình tướng hóa độ quần sanh chẳng tham tiếc. Duy nhất chỉ có một loài hình tướng, không thể chỉ, không thể bày, giống như hư không, lìa các nghi hoặc, chẳng có hí luận. Như Lai cũng lại như thế chẳng có nghi hoặc, lìa những hí luận; nhưng mà chúng sanh chỉ hướng về sự mê hoặc không có thay đổi. Như Lai hay có tâm từ nên thường hay tùy thuận. Như có chúng sanh muốn đến nơi Phật lại cũng có chúng sanh bị đọa rồi lại bị đọa nữa. Vì sao vậy?

Đó là bổn nguyện của các Đức Như Lai vậy. Lại nữa Xá Lợi Phất! Như Lai bậc Chánh Đẳng Giác chẳng có sai lầm. Như Lai không còn vô minh, Như Lai trí tuệ cũng chẳng mê hoặc. Nầy Xá Lợi Phất! Ta nay vì trời người, tối tôn tối quý trong nghĩa đệ nhất không thể so sánh, chẳng thể cân đo. Nầy Xá Lợi Phất! Chẳng phải lời quấy, chẳng sai lời nầy. Phật bảo: Nếu có chúng sanh tại gia hoặc xuất gia mà sanh tâm hủy báng chánh pháp nầy thì như trước đã nói, tất cả ác tướng, nhiều loại địa ngục khổ sở đều phải thọ nhận.

Lúc ấy Ngài Tôn Giả Tu Bồ Đề chắp tay cung kính bạch Phật rằng: Pháp nầy vi diệu thật là khó có thể nghe được. Kính bạch Thế Tôn! Các chúng sanh đối với pháp nầy mà sanh tâm hủy báng thì sẽ bị quả báo như thế nào?

Phật dạy Ngài Tu Bồ Đề rằng: Kẻ phỉ báng pháp nầy sanh ra lưỡi dài cả trăm ngàn do tuần và trên đó có 500 ức lưỡi dao nhọn đâm chém xuống lưỡi. Lại từ miệng sanh ra lửa cực nóng, trong đó ánh lửa nóng bức thiêu đốt hợp lại trải qua trăm ngàn kiếp thọ đại cực hình khổ như thế. Tu Bồ Đề biết vì sao thọ những nghiệp báo như thế không? Vì chúng sanh ngu si do khẩu nghiệp tạo ra. Nầy Tu Bồ Đề, do chúng sanh ngu si nên phỉ báng pháp nầy cho nên phải thọ quả báo như thế.

Liền lúc ấy tất cả trong chúng hội do oai lực Phật đồng nói lời rằng: Như Lai nói về sự ác sâu dầy nầy thật là hy hữu. Lúc ấy Đế Thích Thiên chủ bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Ta đương vì các vị Tỳ Kheo trì kinh Pháp sư ở đời vị lai mà thường hay tôn trọng, dùng hoa hương, đồ ăn uống, y phục thuốc men, hương bột, hương tẩm nhiều loại để cúng dường, ngày đêm 3 thời cung kính lễ bái tôn trọng tán thán, chí tâm hộ trì. Bạch Thế Tôn! Kẻ Thiện Nam ấy sẽ sanh vào trong pháp của Như Lai cho đến đồng tên gọi với Như Lai. Vì sao vậy?

Như Quán Đảnh Sát Đế Lợi Vương khi sanh con, đoan nghiêm nguy nguy đầy đủ tướng làm vua, thấy vậy vui mừng. Nhân dân ở nước đó tôn trọng, hỏi thăm. Cũng giống như thấy Pháp sư lại cũng lễ bái tôn trọng.

Lúc ấy Đức Thế Tôn bảo Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Đế Thích Thiên chủ cũng thường hay nói như thế. Đối với các vị Tỳ Kheo trì kinh thì hay lân mẫn nhiêu ích tán thán ca ngợi hộ trì.

Phổ Hiền Bồ Tát thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Con cũng lại như vậy. Nếu ở đời vị lai có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn nào cũng lại được lân mẫn hộ trì nhiêu ích tức các tai nạn không có, làm cho an lạc. Ra khỏi cả hàng trăm do tuần cũng không sợ bị nhiễu hại.

Lúc ấy Đức Thế Tôn tán thán Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Vì ngươi mà nói. Lúc ấy Đức Thế Tôn dùng Phạn âm mà nói lại kệ rằng:

Làm cho kẻ khác tâm yên ổn

Tức hay tùy thuận các chúng sanh

Ba nghiệp thanh tịnh hay xưng tán

Chẳng sánh công đức pháp quý giá

Lúc bấy giờ Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha tát bạch Phật rằng: Thế Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát làm sao có thể đắc được Bảo Quang Tổng Trì?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát từ nơi Bảo Quang Tổng Trì nầy mà thực hành một pháp. Thế nào gọi là một pháp? Nghĩa là tất cả chúng sanh chẳng khởi ý sát hại làm cho được an lạc. Phổ Hiền Bồ Tát, lại có hai pháp. Thế nào là hai? Nghĩa là xa rời sân si, nói lời lành đẹp. Nầy Phổ Hiền Bồ Tát! Đây là hai pháp. Nếu có thể làm như thế, tức được pháp Bảo Quang Tổng Trì. Lại nữa Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát! Vì tất cả chúng sanh ý căn chẳng loạn, không có lúc nào rời bỏ. Lúc ấy lại bảo: Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hãy vì tất cả chúng sanh mà xa lìa sự yêu ghét. Lúc ấy Bồ Tát nói công đức của Bảo Quang Tổng Trì nầy thời cũng xưng dương tán thán công đức tối thắng nầy. Lúc ấy trên cõi trời người đâu đâu cũng có vô số chúng sanh đều được pháp lành nầy. Lại cũng làm cho Bảo Quang Tổng Trì nầy được công đức cao cả nhờ vào việc xưng tán Pháp sư.

Lúc ấy Ngài A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trạch áo bày vai mặt, cúi sát xuống đất, chắp tay cung kính ở trước Đức Phật mà bạch Phật rằng:

Kính bạch Đức Thế Tôn! Với Bảo Quang Tổng Trì chánh pháp vi diệu nầy như vậy rất cao xa.

Phật bảo A Nan: Như thế đó! như thế đó! Hình tướng cũng cao cả, thọ tưởng hành thức cũng sâu xa, việc không cũng sâu xa, như hư không sâu xa.

A Nan bạch Phật rằng: Con nay ở trước Như Lai được nghe 84 ngàn pháp tạng chưa từng nghe pháp vi diệu như thế.

Phật bảo A Nan: Bảo Quang chánh pháp nầy khó gặp khó nghe.

A Nan thưa: Phật nói chánh pháp nầy vi diệu như thế vì đời vị lai sau 500 năm khi chánh pháp mất đi thì có các chúng sanh muốn làm Phật sự phải nương vào pháp nào?

Phật bảo Ngài A Nan: Hãy nương vào chánh pháp của Thích Ca Mâu Ni Như Lai vậy. Cho đến các vị Pháp sư nếu có viết dịch, thọ trì cúng dường cung kính chánh pháp nầy thì phải biết rằng mắt thường chẳng bịnh, mũi lại chẳng bịnh, lưỡi cũng chẳng bịnh, răng cũng chẳng bịnh, tay cũng chẳng bịnh, chân cũng chẳng bịnh, đầu lại chẳng bịnh, tai cũng chẳng bịnh, các căn đều đầy đủ, thân không hôi hám lại chẳng chết yểu, thọ mệnh dài lâu, được tất cả chư thiên loài người thường hay hộ vệ. Đến cả vị Pháp sư kia khi mạng chung lại được sanh về thế giới tốt lành, sanh vào cõi trời, xa rời tất cả những việc hí luận.

A Nan thưa rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà Ngài nói chánh pháp nầy? Ma Vương độc hại chẳng thể chướng ngại.

Phật bảo A Nan: Tất cả Ma Vương đều y nơi pháp nầy không làm chướng ngại.

Sau khi Đức Phật nói lời ấy rồi, lúc ấy Ma Vương có tâm độc hại liền suy nghĩ rằng. Nếu có Bảo Quang Tổng Trì pháp nầy thì ta sẽ bị chướng nạn cho nên lúc ấy Ma Vương tự chính nghiệp lực của mình, tự thấy lửa dữ đến thiêu thân mình sợ hãi vô lượng, thất kinh mà chạy. Nầy A Nan! Pháp nầy thâm dịu khó sánh, bất khả tư nghì vậy. Nếu chánh pháp nầy tùy nơi tùy xứ thì như tháp miếu của Phật.

A Nan thưa rằng: Nếu Như Lai ở trụ xứ nơi chánh pháp ấy thì con cũng ở nơi ấy được thấy Như Lai, đến gặp Như Lai, đảnh lễ Như Lai, sau đó nghe pháp. Có được như thế không?

Phật bảo A Nan: Ngươi đừng nên để mất. Vì sao vậy? Hãy đừng coi thường chánh pháp nầy. Phải biết vì sao ta được trên trời và người tôn trọng quý kính đệ nhứt như thế? Lại nữa A Nan! Ta từ trong quá khứ đầu tiên là nghe pháp nầy, sau đó mới được giác ngộ.

A Nan bạch Đức Thế Tôn rằng: Đức Thế Tôn cung kính cúng đường như thế nào? Và ở nơi nào Như Lai đã nghe thuyết pháp Bảo Quang Tam Ma Địa nầy?

Phật bảo A Nan rằng: Ta đã chẳng ở trên cõi đời tại Càn Đạt Phược đã cung kính cúng dường cầu nghe pháp nầy. Ta từ xa xưa khi còn là Bồ Tát có Phật Thế Tôn hiệu là Bất Không Tích Tụ khai mở Bảo Quang Minh Tạng Như Lai và ta đã đến đó để nghe. Phật bảo A Nan rằng: Đức Phật kia đã vì ta mà thọ ký và kể từ đó đến nay trải qua trăm ngàn ức kiếp hay tu khổ hạnh. Cũng vì muốn nghe pháp nầy. Nầy A Nan! Cho nên ta trước tiên là kính lễ giáo pháp, sau đó kính lễ Như Lai là vậy. Lúc ấy tất cả Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế Chư Thiên cùng một âm thanh đồng nói lời rằng: Hoan hô pháp nầy chẳng có pháp nào trên. Đây là pháp tối thượng! Đây là pháp chẳng so sánh được. Thần biến như vậy. Nếu chỉ nghe đến chánh pháp nầy hoặc nghe đến tên của kinh thì nên hướng về đó để lễ bái. Vì sao vậy? Nếu có kẻ thọ trì đọc tụng hay vì kẻ khác mà nói thì kẻ đó như thấy Như Lai chẳng có sai khác.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn tán thán các vị Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế Chư Thiên rằng: Lành thay! Lành thay! Thánh chúng nói lời hay. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn từ miệng phát ra tướng lưỡi rộng dài bao trùm 3.000 thế giới rồi, liền bảo Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Ngươi hãy nghe đây! Ta nay thỉnh ngươi vì các chúng sanh mà nói pháp nầy. Vì sao mà những chúng sanh gặp được pháp nầy? Chẳng phải giữ riêng làm cho lợi lạc, như người mù chẳng thấy ánh sáng, lại như người đi buôn chẳng có phương tiện để tự mua sắm, cũng như người nghèo chẳng tự siêng năng, thường thấy kẻ khác, không nghe pháp nầy cũng như thế đó. Hãy vì chúng sanh, ví như thuyết nầy.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát từ chỗ ngồi đứng dậy cởi áo bày vai mặt cúi sát xuống đất chắp tay cung kính, đến ở trước Phật. Tức thời, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát từ nơi pháp tòa an tường mà dậy, liền lúc ấy 3.000 thế giới cung điện của chư Thiên 6 điệu vang động như biên động, đẳng biên động, chấn biên chấn, đẳng biên chấn, kính biên kính, đẳng biên kính, khổng biên khổng, đẳng biên khổng, dũng biên dũng, đẳng biên dũng, khởi biên khởi, ánh sáng vi diệu chiếu khắp thế gian và Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Đức Phật rằng:

Kính bạch Đức Thế Tôn! Vì sao Đức Thế Tôn hỏi con? Vì sao hỏi con Đức Thiện Thệ Thế Tôn? Có phải bậc Nhứt Thiết Trí chẳng vì lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh? Con chỉ là con của Đức Thế Tôn. Làm sao con có được trí tuệ của Như Lai? Làm sao con có lực của Như Lai? Cho đến nay con vẫn nương vào lời của Phật, y vào lời nói của Như Lai, con thường nương tựa. Do như cam lồ, chẳng hay trái mệnh, thường hay tùy thuận nơi Đức Thế Tôn.

Đức Phật tán thán Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. Lành thay! Lành thay! Phật Tử! Ngươi tức trưởng tử của Như Lai tối thắng tối thượng. Ta vì chúng sanh mà nói pháp nầy. Nầy Thiện Nam Tử! Ngươi hãy nương nơi ta mà thường hay hộ trì và tôn kính pháp nầy. Do chỗ quý báu, giống như trân bảo chớ có bỏ rồi! Ở đời vị lai có các Tỳ Kheo phá giới chẳng sanh kính tin. Nầy Thiện Nam Tử! Đừng nương nơi đó.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa: Thế Tôn hiểu con khi con xuất gia đã làm được hạnh gì?

Phật bảo: Thiện Nam Tử! Hãy đừng hỏi điều nầy nữa!

Phổ Hiền Bồ Tát thưa: Kính mong Đức Thế Tôn nói cho. Nếu Ngài không nói, làm sao bảo được là vì chúng sanh?

Phật bảo: Phổ Hiền Bồ Tát! Nay ngươi lắng nghe! Ta nay nói pháp nầy dụ như biển nước, Văn Thù Sư Lợi, Quan Thế Âm, vô lượng vô số vô biên các Bồ Tát Ma Ha Tát đều nhứt tâm lắng nghe. Vì đời vị lai, những người xuất gia kia sẽ tu hành như thế nào?

Lúc ấy Đức Thế Tôn bảo Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: Nầy Phật Tử! Những kẻ xuất gia kia khinh mạng chánh pháp nầy, cầu chỗ ở yên, tham trước lợi danh, chứa cất tài sản, làm nhà tốt đẹp, y phục chỗ nằm, đồ ăn uống, thuốc men muốn làm đầy đủ, tạo ra các ác nghiệp, chính mình tự phá tự hoại đó là những chúng sanh mê muội vậy. Ta nay nói kinh nầy làm cho lưu bố rộng rãi thường ở chẳng mất nhằm để giúp cho chúng sanh.

Lúc bấy giờ mười phương tất cả trời rồng Dược Xoa Càn Thác Bà v.v… đến Phật thưa rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Chúng con trời người 8 bộ cùng quyến thuộc suốt đời sẽ hộ trì kinh nầy và các vị Pháp sư cùng tất cả những Tỳ Kheo và các pháp tạng không bị nhiễu hại. Chúng con thường hay bảo trì tôn trọng cung kính, dùng hương hoa, y phục đủ loại quý giá để giữ gìn. Con cũng làm cho pháp nầy được ở dài lâu.

Lúc ấy Đức Thế Tôn vì Ngài Phổ Hiền và 93 ức Bồ Tát mà nói kệ rằng:

Lắng nghe tất cả lời nói đẹp

Tối thắng công đức đến bờ kia

Sai trái nguy hiểm đều phải bỏ

Một lòng chuyên tâm vui mà nghe

Nghe Phật tại xứ Ma Kiệt Đà

Bồ Đề gốc lớn tòa sư tử

Trú đại giải thoát Tam Ma Địa

Nơi đó như thể chúa của cây

Cho đến mười phương nhiều quốc độ

Được thấy Như Lai tướng chơn thật

Mười phương vô số sánh với Phật

Phật Tử đều có tên Cát Tường

Tất cả mười phương các cõi Phật

Phật Tử thường hay đi đây đó

Vì thế gian nầy nên được gặp

Văn Thù Sư Lợi trí vô biên

Hỏi cả chúng sanh tướng kiết tường

Phật Tử vì sao có công đức

Thế mà thực tế công đức lớn

Vô biên chúng sanh có thể giải

Hỏi những chúng sanh hiện cát tường

Văn Thù công đức hay giác ngộ

Phật Tử nếu mà nói pháp nầy

Được chứng thanh tịnh công đức Phật

Lại nữa Phật Tử phải nên biết

Sẽ được thực hiện công đức ấy

Phật Tử lắng nghe Hiền Cát Tường

Vô biên tối thắng công đức nầy

Ta nay lược nói phần nhỏ thôi

Như trong đại hải một giọt nước

Cho đến chứng được sự giác ngộ

Nếu có chúng sanh mới phát tâm

Vô biên công đức khó đo lường

Mỗi mỗi công đức tán dương hết

Ba La Mật Đa là công đức

Như Lai đã qua nhiều kiếp số

Chẳng thể nói hết công đức nầy

Như vậy mười phương tất cả Phật

So ra trong đó nói ít thôi

Sanh ra rất nhiều công đức lớn

Như chim trên trời khó đếm hết

Dưới đất một bụi khó thể so

Chẳng phải không nhân mà sanh vậy

Công đức bồ đề tùy nơi tâm

Phát lòng tin tưởng sanh nơi Phật

Như vậy hòa hợp sanh tâm rồi

Kia chẳng thương yêu vua phước ấy

Chẳng tự cầu an chẳng lợi danh

Diệt trừ thế gian những khổ não

Vì chúng sanh đây mà sanh ra

Ý ấy cũng vì các chúng sanh

Thanh tịnh quốc độ lẫn cúng dường

Tu tập pháp nầy chứng bồ đề

Từ tâm phát sanh trí thanh tịnh

Kia thường cung kính cầu giải thoát

Tôn trọng tất cả sanh ý Phật

Tất cả các pháp công đức giống

Sanh tâm như vậy hay cung kính

Phát tâm quy hướng nơi Phật Pháp

Phật Tử phát tâm làm việc nầy

Vô biên giác ngộ liền sanh ra

Sanh đại trượng phu ý cao cả

Phát tâm lực lớn chủ loài người

Cúng dường rộng rãi khó nghĩ bàn

Giáo pháp chẳng hoại khó nghĩ bàn

Sanh tâm cúng dường như vậy đó

Phát tâm nên chẳng khổ nơi thai

Dưỡng dục cù lao tất phải làm

Niềm vui theo đó tâm phát khởi

Cho nên lại thấy chỗ an lạc

Phát khởi vô biên tâm cung kính

Ta người kiêu mạn đều xả bỏ

Phát tâm tức là điều cao cả

Như vậy giữ gìn niềm an lạc

Phát tâm hay vì bỏ để vui

Phát tâm siêng làm những Phật sự

Phát tâm cầu được rừng công đức

Được Phật nói pháp tất cả nghe

Dũng mãnh lợi căn ánh sáng chiếu

Phát tâm kiên cố chẳng bị hoại

Tất cả phiền não đều tiêu trừ

Phát tâm hay nói Phật công đức

Phát tâm hòa hợp chẳng hòa hợp

Trong mỗi sát na đều xa lìa

Phát tâm vượt qua cảnh Ma Vương

Thấy đó là điều giải thoát lớn

Công đức chủng tử chẳng mất đi

Phát tâm trồng được gốc giác ngộ

Tối thượng trí tuệ đều tăng trưởng

Phát tâm được gặp tất cả Phật

Nghe Phật nói rõ đời quá khứ

Phát tâm bền vững được giải thoát

Pháp nầy thế gian khó gặp được

Do như biển lớn làm vua lớn

Nếu hay phát tâm cung kính Phật

Không tu không làm tất cả lìa

Lìa những quá hoạn các gièm pha

Lại hay xưng tán công đức kia

Trì giới cũng hay giữ tâm ngộ

Phương tiện tu học các công đức

Hay nương giới pháp mà tu học

Lại hay được Phật chỉ dạy cho

Nếu hay phát tâm cung kính Phật

Phật lại quảng đại hay cúng dường

Nơi Phật quảng đại cúng dường rồi

Lại hay quý trọng khó nghĩ bàn

Nếu thường phát tâm cúng dường pháp

Nghe kia Phật pháp tâm không lười

Nếu nơi Phật pháp tâm không lười

Bất tư nghì pháp làm giải thoát

Nếu hay phát tâm cung kính Tăng

Ở trong Tăng ấy tâm không thối

Như vậy phát tâm Tăng chẳng thối

Thường được phát tâm lực chẳng lui

Nếu được phát tâm lực chẳng lùi

Từ nơi căn tánh hiện ánh sáng

Nếu được lợi căn hiện quang minh

Lại hay xa rời ác tri thức

Nếu đã xa rời ác tri thức

Hãy nên cầu pháp nơi bạn lành

Nếu đã tìm pháp nơi bạn lành

Kia sẽ được giúp an lạc lớn

Nếu được an lạc lớn kia rồi

Chính lực của mình cũng phải bỏ

Nếu đã vứt bỏ tâm ngã mạn

Tức được chứng đến giải thoát lớn

Như vậy quảng đại giải thoát rồi

Tức được chư Phật thường chiếu soi

Nếu được chư Phật chiếu soi rồi

Tức khắc sẽ sanh tâm giác ngộ

Nếu đã được sanh tâm giác ngộ

Tức hộ giải thoát công đức lớn

Nếu được công đức giải thoát rồi

Tức được sanh vào nhà Như Lai

Sau khi sanh vào Như Lai rồi

Tức được giải thoát Diệu Tương Ưng

Nếu hay giải thoát Diệu Tương Ưng

Sự phát tâm kia đều thanh tịnh.

Nếu được phát tâm ý thanh tịnh

Thuyết kia tối thượng tối thù thắng

Nếu đã tối thượng thù thắng rồi

Thường hay làm hạnh Ba La Mật

Nếu được Ba La Mật Đa rồi

Tức hay tùy thuận Đại Thừa nầy

Nếu đã tùy thuận Đại Thừa rồi

Tức hay tùy thuận cúng dường Phật

Nếu đã tùy thuận cúng dường Phật

Tức được trí huệ thật kiên cố

Nếu được trí huệ kiên cố rồi

Thường hay thấy Phật khó nghĩ bàn

Nếu hay thấy Phật khó nghĩ bàn

Thấy Phật chẳng đến chẳng ở lại

Nếu hay thấy Phật chẳng đi ở

Pháp nầy ở đời thường chẳng diệt

Nếu thấy pháp nầy thường chẳng diệt

Xa lìa khổ não đã chứa nhóm

Nếu được xa lìa nhơn phiền não

Tức hay thuyết pháp chẳng giới hạn

Nếu được thuyết pháp vô biên rồi

Lại có lòng từ ở thế gian

Nếu dùng tâm từ ở thế gian

Tức lòng đại bi giữ chắc mãi

Nếu được lòng từ giữ gìn mãi

Tức là vì người pháp sung mãn

Nếu được hỷ lạc pháp căn bản

Xa rời tạo tác nhiều tội lỗi

Nếu bỏ tạo tác những tội lỗi

Không ta không người lìa chúng sanh

Nếu chứng vô ngã lìa chúng sanh

Người hay tự lợi hoặc lợi tha

Nếu hay tự lợi hoặc lợi tha

Xa lìa luân hồi các khổ não

Sẽ được lực lớn khó nghĩ bàn

Nếu được lực lớn như thế đó

Tức được nắm bắt trí thanh tịnh

Nếu đã sanh được trí thanh tịnh

Lao vào thế gian để tu hành

Nếu hay vào chỗ khó tu hành

Thành thục thế gian thật khó thay

Nếu hay thành thục ở thế gian

Chứa nhóm thế gian nhiều trí tuệ

Nếu được trí tuệ thế gian nầy

Tức hay tùy thuận nơi tứ nhiếp

Nếu hay tùy thuận nơi tứ nhiếp

Tức vì thế gian rộng bố thí

Nếu ở thế gian rộng bố thí

Tức ở phương tiện lực trí huệ

Nếu được phương tiện lực trí huệ

Tức ở dũng mãnh đạo vô thượng

Nếu ở dũng mãnh vô thượng đạo

Tuyệt nhiên chẳng thấy chúng ma quân

Nếu được chẳng thấy chúng ma quân

Tức hay xa rời bốn ma đạo

Nếu được xa rời bốn ma đạo

Tức hay đến được bất thối địa

Nếu hay đến được bất thối địa

Tức được tên là vô sanh nhẫn

Nếu được vô sanh nhẫn như thế

Được Phật thọ ký hiệu Thế Đăng

Nếu được thọ ký hiệu Thế Đăng

Tức ở tất cả trước Như Lai

Nếu được hay ở trước Như Lai

Được Phật bí mật biến hóa trí

Nếu được Như Lai biến hóa trí

Tất cả Như Lai đều thọ ký

Nếu được chư Phật thọ ký rồi

Tất cả công đức chúng trang nghiêm

Nếu được công đức chúng trang nghiêm

Được diệu phước đức thân thanh tịnh

Nếu được như thế thân thanh tịnh

Sẽ được ánh sáng Kim Sơn chiếu

Nếu được như thế ánh Kim Sơn

Tức được tướng tốt ba mươi hai

Nếu được tướng tốt ba mươi hai

Tức được tướng hảo trang nghiêm thân

Nếu được tướng tốt trang nghiêm rồi

Thân phóng ánh sáng chiếu khắp cả

Nếu được ánh sáng chiếu khắp cả

Ánh sáng vô lượng trang nghiêm thân

Nếu được như vậy trang nghiêm thân

Ánh sáng dưới chân sanh hoa sen

Nếu được ánh sáng tạo liên hoa

Được Phật cảnh giới ngồi hoa sen

Nếu được Như Lai cho ngồi tòa

Tức nay thấy rõ mười phương cảnh

Nếu được thấy rõ cảnh mười phương

Giáo hóa chúng sanh chẳng có gì

Nếu được giáo hóa như chẳng làm

Tức được trí huệ thật vô cùng

Nếu được trí huệ vô cùng tận

Nói ra pháp khó nghĩ bàn nầy

Nếu được nói ra pháp khó nghĩ

Làm cho vô lượng người vui vẻ

Làm việc lợi lạc khó nghĩ bàn

Nếu được như vậy làm việc nhiều

Mỗi mỗi trí lực phải nên biết

Nếu được như vậy lực trí huệ

Thế gian tùy loại độ quần sanh

Nếu được tùy loại độ quần sanh

Đời sống trí tuệ đều thành tựu

Nếu được túc mệnh trí như thế

Ba nghiệp thanh tịnh chẳng gián đoạn

Nếu được ba nghiệp thường chẳng dứt

Do tự nguyện lực theo sở cầu

Nếu được nguyện lực theo sở cầu

Tùy các chúng sanh hiện nhiều loại

Nếu được tùy hiện nhiều chúng sanh

Được bất tư nghì âm thanh quý

Nếu được như vậy âm thanh quý

Hay sanh nhiều loại các âm thanh

Phát ra như thế những tiếng tốt

Tức hay rộng khắp các thế giới

Như vậy rộng khắp các thế giới

Trong mỗi sát na đều phải biết

Nếu được như vậy hiểu tâm người

Bất sanh bất diệt chẳng thối chuyển

Nếu lìa sanh diệt chẳng thoái chuyển

Tất cả chướng não chẳng sanh lại

Nếu được chướng não chẳng sanh lại

Pháp thân công đức trí huệ đầy

Nếu được pháp thân trí huệ đủ

Pháp hành quang minh chiếu thế gian

Nếu được ánh sáng chiếu thế gian

Tức được thập địa mười loại thân

Nếu được thập địa mười loại thân

Tức được Bát Nhã đường giải thoát

Quán đảnh trang nghiêm làm tối thượng

Nếu được quán đảnh như thế rồi

Tam Ma Địa đạo rất thành tựu

Như vậy Tam Ma Địa chứng rồi

Được thấy mười phương tất cả Phật

Nếu thấy tất cả chư Phật rồi

Như vậy chư Phật hay quán đảnh

Tức được chư Phật xoa đầu cho

Tức hay biến hiện với pháp không

Như vậy biến hiện với hư không

Tùy nơi tùy chốn thường bền vững

Nếu được tùy nơi hay kiên cố

Trên trời loài người khó sánh được

Cho đến người, trời khó đo lường

Như vậy hay lìa những lực lượng

Qua các đo lường lìa ngôn ngữ

Đó là tất cả lực chẳng có

Như vậy tất cả lực chẳng có

Nghe tên thấy thân hay phương tiện

Cho đến phương tiện là như vậy

Hay làm thí chủ cho thế gian

Lại tên bất không đại trượng phụ

Chẳng quản từ bi nói diệu pháp

Vì những ác đạo hóa quần sanh

Diễn thuyết Bảo Quang tối thượng thừa

Dụ như Kim Cang mây quý tụ

Tánh Phật ví như biển rộng lớn

Bất tăng bất giảm chẳng tổn hoại

Vô biên công đức cũng như vậy

Chẳng có lúc nào chẳng nghe pháp

Từ Phật hiện ra làm giác ngộ

Thấy đó giống như đại pháp tạng

Đó hay thuyết pháp lìa mê hoặc

Mười phương thế giới chẳng quái ngại

Giống như ánh trăng chiếu sáng khắp

Giáo hóa chúng sanh ngàn phương tiện

Sát na sát na Phật giác ngộ

Tức thấy mười phương các thế giới

Thường chuyển pháp luân giúp thế gian

Dũng mãnh biến chuyển khắp mười phương

Lại các Thanh Văn Bích Chi Phật

Vô biên biến hóa Phật trang nghiêm

Lại qua bất khả tư nghì kiếp

Làm cho chúng sanh qua lại nghe

Nếu có nam nữ, đồng nam nữ

Trời người Tu La vua rồng thảy

Dược Xoa cho đến Ma Hầu La

Vì giải thoát trí đều thấy được

Nếu trong thế gian nhiều chủng loại

Tùy họ lời nói tất giống nhau

Tất cả dũng mãnh đều thấy rõ

Như vậy dũng mãnh đều quan sát

Hải ấn tam muội từ miệng sanh

Được vậy hải ấn chúng tam muội

Hay đẹp bất khả tư nghì lần

Nghiêm sức khó nghĩ sát na rồi

Cúng dường thập phương chư Như Lai

Như vậy cúng dường nhiều loại rồi

Lại được ánh sáng trang sức thân

Nếu được ánh sáng bất tư nghì

Tức được vô biên trí giải thoát

Nếu được vô biên trí giải thoát

Được bất tư nghì thân biến hóa

Nếu được như vậy thân biến hóa

Miệng và trí huệ đều biện tài

Nếu được miệng trí vô quái ngại

Bố thí biến hóa chẳng nghĩ bàn

Nếu được bố thí chẳng nghĩ bàn

Trì giới nhẫn tiến cũng như vậy

Nếu được trì giới nhẫn tiến qua

Thần định thần biến khó đo lường

Nếu được Thần Định thần thông biến

Xuất sanh phương tiện thần biến trí

Được vậy phương tiện trí thần biến

Xuất sanh rất nhiều các công đức

Từ miệng Phật sanh Tam Ma Địa

Tam Ma Địa vào mỗi vi trần

Tất cả vi trần đều nhập vào

Trong mỗi vi trần khó nghĩ bàn

Mỗi mỗi vi trần đều thấy rõ

Như vậy Phật ở nhiều vi trần

Trong ấy mỗi Phật đều rõ thấu

Mỗi mỗi vi tế chúng thanh tịnh

Vô thượng quý trọng pháp vi diệu

Như thật xa rời ngoài thế gian

Ra ngoài bí mật vượt lên cả

Thường hay trừ tối phóng quang minh

Bủa khắp nơi nơi chẳng cuối cùng

Nếu như thấy được một ánh sáng

Như vậy tất cả các vi trần

Vị tiên nầy hành Tam Ma Địa

Tức thì vô biên được giải thoát

Tam Ma Địa lực cúng dường Phật

Tất cả Như Lai cúng dường rồi

Lại ở nơi tay biến ngàn vạn

Làm đại trượng phu và cúng dường

Cho đến mười phương hoa tốt đẹp

Hương thơm tỏa khắp toàn mùi lạ

Mỗi mỗi tay ấy đều bố thí

Bồ Đề nơi gốc đến chỗ Phật

Giá trị ngàn vạn y áo thơm

Các loại tràng phang và bảo cái

Diêm Phù Đàn dùng để trang nghiêm

Tự trong tay ấy đem bố thí

Vô biên tất cả đều thọ dụng

Thanh tịnh cúng dường các tiên nhơn

Trong tay có gì đem thí cả

Ở chỗ nơi Phật gốc giác ngộ

Cho đến tất cả các loại nhạc

Đánh trống phát ra âm thanh hay

Tất cả nhã nhạc ống tiêu địch

Mỗi mỗi trong tay đều có đủ

Thường hay tán thán Đức Thế Tôn

Mỗi mỗi xưng tán đức chơn thật

Vô biên tất cả khắp mười phương

Mỗi mỗi đều từ tay tạo ra

Hoặc nơi ánh sáng làm nên Phật

Tất cả phía mặt sinh động tác

Mùi hương bay khắp các đất Phật

Cúng dường tất cả đèn thế gian

Ánh sáng đẹp đẽ vừa đẹp ý

Liên Hoa lầu các khó nghĩ bàn

Hoa sen sắc đẹp nhiều vô kể

Mỗi mỗi đều đem cúng chư Phật

Phóng quang minh lớn làm hoa đẹp

Mỗi mỗi vi diệu hoa như biển

Như vậy hoa đẹp đều trải khắp

Rộng ra cúng dường các Đức Phật

Phóng quang minh lớn chứa mùi hương

Mỗi mỗi vi diệu biển mùi hương

Như vậy mùi thơm bay khắp nơi

Rộng ra cúng dường các Đức Phật

Phóng quang minh lớn tẩm hương cúng

Mỗi mỗi hương tẩm như biển mây

Như vậy hương tẩm đều cùng khắp

Rộng ra cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn làm đẹp đẽ

Mỗi mỗi vi diệu biển mây đẹp

Như vậy tóc đẹp đều trải dài

Rộng thêm cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn mùi trân quý

Mỗi mỗi cúng dường hương như biển

Như vậy mùi hương đều bay khắp

Rộng lớn cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn áo đẹp đẽ

Mỗi mỗi vi diệu áo mây nước

Như vậy áo đẹp đều cùng khắp

Rộng lớn cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn trang nghiêm đẹp

Mỗi mỗi vi diệu tàng mây biển

Như vậy tàng đẹp đều cùng khắp

Rộng khắp cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn quý vô giá

Mỗi mỗi vi diệu mây quý hiển

Như vậy vật quý đều cùng khắp

Rộng ra cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn đẹp hoa sen

Nhiều loại hoa sen nhiều như biển

Như vậy nhiều hoa đều cùng khắp

Rộng ra cúng dường các Đức Phật

Phóng ánh sáng lớn nơi lầu các

Mỗi mỗi anh lạc nhiều như biển

Như vậy anh lạc biến cùng khắp

Rộng ra cúng dường các Đức Phật

Phóng quang minh lớn phang trang nghiêm

Phang kia xanh vàng cùng đỏ trắng

Vô số đồ đẹp dùng trang nghiêm

Tràng phang làm đẹp nơi đất Phật

Mỗi mỗi trang sức lưới Ma Ni

Tràng phang bảo cái như kết hoa

Nơi đây phát ra như tiếng Phật

Hay ở trước mặt Đức Như Lai

Giả sử cúng dường một Đức Phật

Tay tự cung cấp nhiều vô kể

Như vậy cho đến tất cả Phật

Tâm nầy biến hóa Tam Ma Địa

Nhiếp phục thế gian trí thần thông

Đó là tối thượng Tam Ma Địa

Hay làm tất cả các phương tiện

Như vậy hóa độ các chúng sanh

Hoặc có cúng dường các Đức Phật

Nhiều loại bố thí khó nghĩ bàn

Giới đức thanh tịnh tu khổ hạnh

Vô tận nhẫn nại chẳng lui sụt

Hoặc hay siêng năng lẫn dũng mãnh

An vui thần định lành tu tập

Trí huệ chứng được các ý nghĩa

Hay làm tất cả phương tiện lành

Hoặc hành từ bi cùng hỷ xả

Đồng sự ái ngữ lẫn lợi tha

Do trí chứa nhóm các phước nghiệp

Giải thoát bốn đến mười hai duyên

Hoặc có căn lực hiểu việc làm

Trong Thanh Văn Thừa được giải thoát

Quán duyên thanh tịnh Duyên Giác thừa

Thần thông biến hóa tối thượng thừa

Hoặc thấy vô thường các khổ não

Chẳng có thân mệnh gì hết cả

Chẳng có phiền não làm chướng ngại

Tam Ma Địa lực hay giải trừ

Vì các thế gian mà tinh tấn

Diễn dương diệu pháp độ quần sanh

Cầu cho tất cả được giải thoát

Dụ các chúng sanh tùy thế gian

Cùng các loại hình khó thể đo

Thần thông mật diễn Tam Ma Địa

Nghiêm trì vui thích hay biến hóa

Tùy ý dẫn dắt các thế gian

Tất làm hoan hỷ và an lạc

Hãy nghĩ chúng sanh khó xả bỏ

Nếu gặp đói khát ở chúng sanh

Mỗi mỗi an lạc đem giúp cho

Tất cả niềm vui tức từ tâm

Vì các thế gian rộng mở bày

Thường dùng mùi ngon việc ăn uống

Mỗi mỗi phục vụ như chỗ chứa

Của tiền như vua ta đều bỏ

Tất cả thế gian tùy ý cho

Gìn giữ tốt đẹp tướng của thân

Nguy nguy hạnh cả thường chẳng động

Tẩm hương của hoa nơi tâm ý

Hiện ra sắc tướng độ quần sanh

Thấy các niềm vui sanh hoan hỷ

Trí huệ cao cả nhiều hình tướng

Thấy việc tối thượng nhiều hình tướng

Tùy ý dạy dỗ cho thế gian

Ca Lăng Tần Già xuất âm lành

Hạc trắng chim quý đều ca hát

Trông trời xuất ra âm thanh lạ

Hằng diễn giải thoát pháp Như Lai

Tám vạn bốn ngàn Như Lai tạng

Tất cả tột cùng hay nên làm

Sai biệt diệu pháp cũng nên biết

Tùy ý hóa độ các chúng sanh

Chúng sanh khổ não tất đồng hành

Chẳng ác chẳng thiện lại cùng quả

Tạo tác tất cả các hành nghiệp

Tùy ý hóa độ các chúng sanh

Nếu gặp tai nạn sinh khổ não

Hãy thấy điều đó khó nhẫn được

Thay cho chúng sanh thọ các khổ

An lạc tất cả các thế gian

Nếu pháp hoặc có hoặc chẳng có

Vô trí vô phước chẳng giải thoát

Như vua sánh kia cùng tán dương

Cứu khổ chúng sanh lìa sanh tử

Hay lìa tham ái chúng kết chặt

Tâm gọi thế gian giải thoát chủ

Tất cả muốn vui tận nên siêu

Xa rời giải thoát ánh sáng chiếu

Lại phóng ánh sáng mười loại khác

Hay làm bậc Thánh vì phương tiện

Tất cả Thánh làm đều rõ biết

Quán xem thế gian tùy ý tạo

Chúng sanh cũng đồng Vô Lượng Thọ

Hẳn nhiên an ổn mà vui vẻ

Sanh Lão Bệnh Khổ chẳng thể đến

Quyết định tự thấy vô thường qua

Như vậy chúng sanh vui ánh sáng

Thế gian ngu muội như ánh đèn

Lão bệnh chết khổ đều chứa nhóm

Thế gian dẫn dắt các chúng sanh

Mười phương siêng năng bốn vô úy

Như Lai mười tám bất cộng pháp

Ta suy nghĩ rộng công đức lớn

Vì các thế gian làm Phật sự

Dụ như thế gian các huyễn thuật

Hay hiện nhiều loại sắc tướng khác

Thấy các Đức Phật biến hóa thảy

Như vậy thần biến dẫn mọi loài

Ta vì phương tiện làm nhiều loại

Lời lành thí dụ các chúng sanh

Giống như hoa sen chẳng dính bùn

Tùy ý tạo tác nhiều sai biệt

Hoa đẹp lợi ích nhiều tán thán

Múa hát ca xướng tướng bên ngoài

Lầu các trang nghiêm múa lưu chuyển

Như uyển hiện tướng chẳng đồng nhau

Hoặc làm người buôn nơi thôn dã

Trưởng giả mua hàng từ phố đến

Cùng các Đại Thần và quân sứ

Thuốc thang nhiều loại cùng luận sư

Hoặc nơi đồng ruộng có cây lớn

Trân bảo thuốc hay chẳng lường được

Như ý Ma Ni làm đẹp đẽ

Mất đường quên lối làm người dẫn

Đến cả vị lai sanh thế gian

Chúng sanh chẳng biết tự tạo nghiệp

Kinh doanh nông vụ mọi phương tiện

Thế gian nghề nghiệp nhiều loại khác

Hoặc hiện giận dữ chẳng tình thương

An lạc tất cả các chúng sanh

Sáng suốt luận nghị pháp khác nhau

Phật kia khai mở đường ánh sáng

Nếu những tối thượng Phật đã làm

Trên trời loài người đều giải thoát

Nếu người xuất gia tu khổ hạnh

Mở bày tối thượng tất cả trí

Nếu có ngoại đạo cũng xuất gia

Thường giữ chẳng nói như Đức Phật

Ở trần chẳng động tướng Sa Môn

Lại tự hay nương lời Phật dạy

Hoặc hay thường trì bỏ pháp thân

Hoặc tức chấp có chấp chẳng có

Tóc dài râu dài tướng đồng tử

Lại tự nương tựa nơi Bổn Sư

Hoặc có việc làm ngày năm kiểu

Giới chó giới bò áo da hươu

Đi lại ba lần để cúng dường

Lại tự nương tựa nơi Bổn Sư

Hoặc hay vui vẻ trí chư thiên

Chẳng thiện chẳng ác bỏ không nhơn

Tìm cầu gốc gác đồ ăn uống

Chấp vì mùi ngon khó hiểu pháp

Hoặc ngồi yên chỗ y áo đỏ

Hoặc bôi đen người hoặc nằm cỏ

Cầm gậy có tên cũng tu hành

Lại tự nương vào nơi Bổn Sư

Cho đến mỗi mỗi những ngoại đạo

Đều được làm cho lìa trói buộc

Kia làm trí huệ khổ hạnh nhiều

Như vậy ngoại đạo đều dẫn dắt

Thế gian đủ loại đều giáo hóa

Tà kiến làm sai gốc bổn linh

Vì họ phương tiện diễn diệu pháp

Thuyết chánh pháp nầy bảo họ làm

Hoặc nói Đại Thừa lời ngay thật

Chánh pháp mật yếu lời tốt đẹp

Hoặc nơi chánh đạo nói lời thật

Trong ấy hoặc nói câu vi diệu

Hoặc nhờ văn tự được giải thoát

Pháp tập nghĩa hay câu Kim Cang

Trí huệ phá hoại lời ngoại đạo

Luận thuyết nhiều loại lời giải thoát

Hoặc nơi loài người nói thần chú

Tuyên dương tất cả câu hay đẹp

Trong ấy lại có lời chư Phật

Long Vương Dược Xoa cũng có nói

Hoặc như La Sát có nhiều lời

Dược Xoa Tốt Xá Càn Thác Bà

Khẩn Na La nữ hay múa hát

Diễn dịch diệu pháp nghĩa giải thoát

Họ vì trí tuệ mà nói pháp

Nếu Phật nếu Pháp cũng như vậy

Trí đạo là pháp bất tư nghì

Nói Tam Ma Địa biến hóa nầy

Giải rõ thế gian Tam Ma Địa

Làm cho tất cả các thế gian

Hoặc phóng quang minh khó nghĩ bàn

Quang minh soi rọi các chúng sanh

Hoặc phóng quang minh tên Diệu Quán

Cho đến chúng sanh vì đây tin

Được chứng pháp không quan sát kỹ

Vô Thượng Trí và Vô Thượng Nhơn

Được thấy chư Phật và nghe pháp

Hoặc thấy chúng Tăng có công đức

Thấy tháp khen Phật thật hy hữu

Và thấy thanh tịnh ánh quang minh

Hoặc phóng ánh sáng tên Phổ Chiếu

Biến chiếu tất cả các thế gian

Mỗi mỗi vi trần đều biết hết

Vì muốn an lạc cho thế gian

Ánh sáng kia mới chiếu thế gian

Thường dùng đèn sáng cúng dường Phật

Sau khi cúng dường đèn sáng rồi

Thế gian làm chủ ánh sáng ấy

Hoặc giả tim đèn hay dầu đèn

Cây tùy cỏ rác cùng đèn ấy

Mùi thơm ngào ngạt đèn trân quý

Tất cả ánh sáng cúng dường Phật

Lại phóng ánh sáng tên Biến Chiếu

Tất hay quan sát các chúng sanh

Tham ái luân hồi biển sanh tử

Vì muốn cứu vớt các chúng sanh

Ánh sáng chiếu vào luân hồi ái

Tất làm lợi lạc chúng hữu tình

Tất được xa rời bốn loài ma

Khổ não bức bách làm an lạc

Làm cho đẹp đẽ số không ít

Hoặc nơi sông nước làm thuyền bè

Giả làm mắng chửi khen tiêu diệt

Ánh sáng nơi kia chiếu tận cùng

Xa rời tham dục giúp lợi lạc

Thuyết pháp hóa đạo cũng như vậy

Được Phật rưới cho nước cam lồ

Cứu khổ thế gian đói khát nữa

Hoặc làm ao hồ hay giếng nước

Xuyên tạc tạo tác thành giác ngộ

Từng phần ái dục xưng tán định

Tất cả tham ái được tiêu trừ

Lân mẫn chúng sanh phóng ánh sáng

Ánh sáng kia đều chiếu chúng sanh

Vui kia biến hóa sanh giác ngộ

Niệm niệm sanh tam ta sẽ được

Trang nghiêm tướng hảo ngồi đài sen

Đại bi lân mẫn các chúng sanh

Hằng thời diễn thuyết Phật công đức

Phóng quang làm cho sanh vui mừng

Lại phóng ánh sáng tên thích ý

Ánh sáng nầy hay giác hữu tình

Nơi Phật nơi Pháp sinh ái kính

Và hay vui vẻ với chúng Tăng

Chứng được Phật Pháp sanh tâm vui

Lại hay chờ đợi nơi chúng Tăng

Liền lễ Như Lai công đức Thánh

Như vậy được Phật khó làm vậy

Gặp chư Như Lai các pháp lành

Được tối vô thượng hành nhẫn nại

Giác ngộ được nhiều loài hữu tình

Niệm Phật niệm Pháp công đức Thánh

Mỗi mỗi công đức tâm giác ngộ

Làm cho ánh sáng như yêu cầu

Lại phóng ánh sáng vào phước đức

Ánh sáng nầy hay giác hữu tình

Xả thí vô số nhiều loại khác

Khuyến thỉnh vô thượng đại Bồ Đề

Sở cầu như ý đều đầy đủ

Như vậy nhiều loại vật hay cho

Tất cả tùy ý cho đi rồi

Chứa nhóm phước ấy phóng ánh sáng

Như vậy trí nầy phóng ánh sáng

Ánh sáng ấy chiếu các chúng sanh

Một pháp miệng nói không cùng hết

Lợi lạc tuyên dương hay quan sát

Pháp huệ nhiếp phục các chúng sanh

Trí huệ tất hay giải bày thảy

Diệu pháp nghĩa cao tuyên dương rồi

Tức trí phóng ra ánh sáng lớn

Nếu được trí tuệ phóng ánh sáng

Ánh sáng ấy hay chiếu chúng sanh

Chúng sanh chẳng không không sanh diệt

Các pháp tự tánh tức vô tánh

Như huyễn như sương trăng trên nước

Như mộng lại như ảnh trong gương

Pháp không chủ tể nương nơi không

Thường hành xuất sanh đèn trí tuệ

Pháp lực biến hóa phóng ánh sáng

Ánh sáng ấy giác ngộ chúng sanh

Vô tận tổng trì ai đắc được

Giữ chư Như Lai pháp tạng lành

Tổng trì diệu pháp tu tập rồi

Đại Tiên các pháp thường hộ trì

Tuyên dương pháp nầy vì thế gian

Tức làm pháp ấy phóng ánh sáng

Hoặc xả bỏ nhiều phóng ánh sáng

Ánh sáng ấy hay thức chúng sanh

Vô thường chẳng lâu biết an vui

Như vậy xa rời đều chứng được

Nếu các chúng sanh khó phục ngã

Hãy biết tự tánh như mây nổi

Biết rồi trí sáng liền an ổn

Đó là bố thí phóng ánh sáng

Lại phóng ánh sáng tên sám hối

Chiếu vào mọi nơi của chúng sanh

Giới pháp thanh tịnh sám hối rồi

Tâm lìa ảo vọng sẽ thành Phật

Nếu các chúng sanh nhờ trì giới

Hiện nghiệp tiêu trừ sanh thanh tịnh

Sánh bằng với phát Bồ Đề tâm

Phóng ra ánh sáng đến chỗ sám

Nhẫn nại phóng quang nhằm nghiêm sức

Ánh sáng ấy chiếu khắp chúng sanh

Sân tâm cực ác ý khó điều

Đầu tiên việc nhẫn là trừ hết

Tự nghiệp khó làm nhẫn nại thảy

Nơi tâm không động ấy Bồ Đề

Thường hay xưng tán việc nhẫn nại

Đó là nhẫn nại làm trang nghiêm

Lại phóng ánh sáng tỏ tường hơn

Chiếu đến giải đãi của chúng sanh

Tam Bảo thượng diệu các phương tiện

Tương tục dài lâu hay cúng dường

Tam Bảo nhiều loại các phương tiện

Tương tục phương tiện cúng dường rồi

Tức hay xa rời bốn ác ma

Tức được vô thượng đại Bồ Đề

Dạy cho chúng sanh hành tinh tấn

Như vậy cúng dường Tam Bảo rồi

Hằng giữ diệu pháp chẳng kể lúc

Ánh sáng lành thay sẽ được ngay

Lại phóng ánh sáng làm nhẫn nại

Phổ độ giác ngộ các chúng sanh

Giác ngộ xa rời tham sân si

Được tâm bình thản không gián đoạn

Cho nên hành nghiệp đều tiêu trừ

Xa rời tất cả điều bất thiện

Xưng dương tán thán việc thiền định

Nhẫn nại thanh tịnh phóng ánh sáng

Trí huệ nghiêm sức phóng quang minh

Thường chỉ mê mờ cho chúng sanh

Nếu nói chánh pháp được giải thoát

Thường hay chứng nhập các căn trí

Nếu nghe chánh pháp được giải thoát

Biến đổi qua lại căn nguyên rồi

Tức được mặt trời Tam Ma Địa

Được Phật trí tuệ ánh quang minh

Vua là sở hữu lại hay cho

Vì cầu diệu pháp ở giác ngộ

Tức hay luôn luôn nói diệu pháp

Trí huệ quang minh được trang nghiêm

Nếu Phật phóng ra ánh sáng nầy

Ánh sáng ấy chiếu khắp chúng sanh

Vô số khó hiểu ngàn Như Lai

Hiện ngồi trên đó hoa sen đẹp

Đại giác Như Lai giải thoát ngã

Vô biên biến hóa nói lời Phật

Làm Phật Như Lai chiếu mạnh đến

Tức được chiếu sáng quang minh nầy

Lại phóng ánh sáng thí vô úy

Làm nhiều khủng bố các chúng sanh

Cầu được qua khỏi sự triền phược

Như vậy khủng bố bị nạn kia

Và các chúng sanh được an ổn

Tức hay lìa được sự giết hại

Cứu các nghiệp hoặc khó cứu được

Được đại vô úy phóng ánh sáng

Lại phóng ánh sáng tên an lạc

Làm cho bệnh khổ mau tiêu trừ

Tất cả tật đố được trị liệu

An lạc thiền định Tam Ma Địa

Nhiều loại thuốc men cùng hoa quả

Hương thơm quý giá mùi trân bảo

Nước hương giọt mật và dầu mè

Ăn uống cúng dường đều sung túc

Thấy các Như Lai phóng quang minh

Chiếu thấy chúng sanh lúc mạng chung

Chỉ cho niệm Phật tức thấy Phật

Mạng chung quyết định sanh đất Phật

Khi mạng chung rồi nếu niệm Phật

Thấy các Phật tượng sinh tín tâm

Phật vì vãng sanh mà cứu độ

Được thấy chư Phật đang thuyết pháp

Lại phóng quang minh tên pháp quang

Ánh sáng nầy hay giác chúng sanh

Nghe pháp in ấn đọc tụng kinh

Thường được ái lạc nơi các pháp

Khai mở diệu pháp thật khó lường

Khuyến cầu diệu pháp ý đầy đủ

Vì các phương tiện hộ pháp nầy

Cho nên thuyết pháp được quang minh

Lại phóng ánh sáng tên ngôn ngữ

Phật tử giác ngộ chúng sanh kia

Bổn nguyện nghe rền ba ngàn cõi

Nghe các Như Lai nhiều lời nói

Lớn tiếng xưng tán bậc Đại Thánh

Tiếng lớn cao cả như tiếng chuông

Vì các chúng sanh ngôn ngữ Phật

Cho nên chứng được sáng ngôn ngữ

Lại phóng quang minh cho cam lồ

Ánh sáng kia hay giác chúng sanh

Biết được chúng sanh lúc khởi tâm

Tất cả công đức đều tương ưng

Vô số khổ não tai ách ấy

Thường hay không giả chẳng an ổn

Nếu hay dừng lại các tai biến

Nói pháp cam lồ tức đều được

Lại phóng ánh sáng tên tối thắng

Ánh sáng nầy hay giác chúng sanh

Thắng giới đó là Tam Ma Địa

Nghe Phật tối thắng trí huệ lớn

Khó lường tịnh giới Tam Ma Địa

Trí huệ đệ nhất đại năng nhơn

Xưng dương tán thán thí giác ngộ

Kia sẽ chứng được ánh sáng nầy

Vì cho hết sạch pháp bảo quý

Pháp nầy cúng dường bậc Đại Giác

Như vậy cúng Phật và tháp Phật

Chúng sanh cầu tốt mà không hoại

Cho các của quý được làm Phật

Như vậy cho nên phóng bảo nghiêm

Lại phóng ánh sáng Vãng chiếu Diệu

Ánh sáng nầy giác ngộ chúng sanh

Thích ý hương thơm ngửi chẳng hôi

Kia làm công đức của Như Lai

Trên trời loài người đều tỏa hương

Dùng để cúng dường các Đức Phật

Cúng nhiều tháp Phật chẳng chấm dứt

Cho nên phóng ra ánh sáng nầy.

Lại phóng ánh sáng nhiều loại đẹp

Mỗi mỗi tràng phang và bảo cái

Tạo nên âm nhạc và mùi thơm

Giữ gìn đầy đủ mùi hoa quý

Như vậy đủ loại cúng dường Phật

Hương hoa, hương xông và hương bột

Tràng phang bảo cái trương cao lên

Hay phát sinh ra điệu nhạc hay

Lại phóng ánh sáng sinh tâm tịnh

Tay cầm đồ báu đứng yên đó

Thanh tịnh trang nghiêm nơi tháp Phật

Chứng được thanh tịnh ánh sáng nầy

Lại phóng to lớn ánh sáng kia

Lại mưa đủ loại mùi hương quý

Hương ấy ngầm vào nơi tháp miếu

Cho nên chứng được ánh sáng màu

Lại phóng nhiều loại ánh sáng khác

Người không áo mặc được y đắp

Nhiều loại nhà cửa nhiều áo quần

Cho nên phát ra cho tất cả

Lại có ánh sáng cho đồ ăn

Cho cả những người nghèo đói khổ

Mỗi mỗi vị ngon của ăn uống

Cho rồi chứng được ánh sáng lớn

Lại có ánh sáng tên Thắng Nghĩa

Trong kho đồ quý cho người nghèo

Cúng dường Tam Bảo không chở hết

Đây gọi tên là Đàn Hành Thắng

Lại phóng ánh sáng mắt thanh tịnh

Kẻ mù được thấy các hình tướng

Như đèn cúng dường Phật và tháp

Giúp cho ánh sáng mắt thanh tịnh

Lại phóng ánh sáng tai thanh tịnh

Kẻ điếc đều có thể nghe được

Cúng Phật âm nhạc và tháp Phật

Giúp cho ánh sáng tai thanh tịnh

Lại phóng ánh sáng mũi thanh tịnh

Mũi căn không đủ nghe mùi hương

Cúng mùi hương quý Phật và tháp

Giúp cho ánh sáng mũi thanh tịnh

Lại phóng ánh sáng lưỡi thanh tịnh

Được Phật nhu nhuyến tiếng từ bi

Xa rời lời nói chẳng lợi ích

Giúp cho ánh sáng lưỡi đẹp đẽ

Lại phóng ánh sáng thân thanh tịnh

Thân căn chẳng đủ liền đầy đủ

Bỏ thân nhiều như Phật và tháp

Cho nên được thân thanh tịnh ấy

Lại phóng ánh sáng ý thanh tịnh

Tất cả ý hay đều chứng được

Nhờ ý nầy chứng Tam Ma Địa

Chứng được ánh sáng ý thanh tịnh

Lại phóng ánh sáng sắc thanh tịnh

Liền thấy tướng đẹp của Nhơn Vương

Nhiều loại màu sắc chẳng sánh bằng

Được gìn trang nghiêm ánh sáng tháp

Lại phóng ánh sáng nghe thanh tịnh

Chẳng nghe không nghe đều biết rõ

Sanh tin đều do ảnh hưởng nầy

Phóng ra ánh sáng nghe thanh tịnh

Lại phóng ánh sáng hương thanh tịnh

Tất cả mùi hôi thành mùi thơm

Mùi thơm làm nước cúng tháp Phật

Phóng sáng ở nơi gốc Bồ Đề

Lại phóng ánh sáng mùi thanh tịnh

Có độc chẳng độc biến mùi ngon

Cúng Phật Thanh Văn và cha mẹ

Cúng các vị ngon được ánh sáng

Lại phóng ánh sáng xúc thanh tịnh

Sờ mó tiếp xúc được an lạc

Kiếm bắn tên nhọn như mây mưa

Biến thành hoa báu đẹp đẽ lạ

Vô số áo mền xúc được vui

Làm cho chúng sanh qua đất Phật

Hoa tốt mùi hương áo thanh tịnh

Được cúng bảo cái phóng ánh sáng

Lại phóng ánh sáng pháp thanh tịnh

Tất cả những ai khó nghe pháp

Vì các thế gian mà xuất hiện

Được Phật diễn nói tất cả pháp

Tin pháp tự tánh thật chẳng sanh

Pháp thân báo thân cũng như vậy

Pháp hay vắng lặng giống hư không

Cho nên chứng được thanh tịnh pháp

Ánh sáng hiện tiền nên như vậy

Ngay nơi trước mặt một mảng lông

Cũng sanh tức khắc nhiều ánh sáng

Tất cả cũng đều tùy nghiệp duyên

Cũng như hiện tại một hạt bụi

Xuất hiện thêm vào hạt bụi khác

Như vậy tất cả cùng góp vào

Nơi Tam Ma Địa chư Phật hiện

Nếu phóng ánh sáng như vậy đó

Với ánh sáng nầy quá khứ giống

Nếu đây chẳng hiện ánh sáng ấy

Vì sao biến hóa sánh với Phật

Kia được phước đức lại có nhân

Tùy hỷ khuyến khích cũng như vậy

Nếu có được thấy tất an lạc

Sáng ấy thấy được nơi kẻ khác

Nếu làm phước đức được an hòa

Tương tục chẳng dứt cúng dường Phật

Như Lai công đức nên vui cầu

Thấy được quang minh như vậy đó

Do như người mù chẳng thấy sáng

Chẳng rõ ngày đêm và thế gian

Vì sao mắt ấy hay thấy sắc

Mỗi mỗi pháp ghi đều rành rõ

Điều Ngự phóng sáng cũng như vậy

Rõ ràng cho thấy chẳng cho mình

Chưa rời điên đảo lời vọng tưởng

Cứu cánh chưa được ý sâu dày

Ở nơi điện báu đều tốt đẹp

Mỗi mỗi đồ riêng đều tẩm hương

Đại chúng chẳng có thể biết hết

Giống như bệnh tật khó xa rời

Điều Ngự ánh sáng cũng như thế

Sáng nầy bị che chẳng thể biết

Hư cuồng nói dối chưa trừ hết

Cứu cánh chưa thể tâm rộng lớn

Thấy được ánh sáng hay phân biệt

Thường được điều lành và an lạc

Thân kia chẳng nghi ngoài vọng tưởng

Lìa ngã tức hiểu nhiều công đức

Biến hóa chủ bạn làm trang nghiêm

Nương vào vô thượng Tam Ma Địa

Vô biên tất cả đến mười phương

Hiển thị con Phật làm chủ bạn

Mỗi mỗi ba ngàn vi trần nước

Ánh sáng trang nghiêm ngồi đài sen

Tất cả thân đều ngồi xếp bằng

Biến hóa chỉ bày Tam Ma Địa

Đây đó mười độ nhiều như thế

Liên hoa ngồi đấy các quyến thuộc

Số nhiều Phật Tử vây chung quanh

An trụ vào ra Tam Ma Địa

Phật kia hóa đạo dùng năng lực

Chúng sanh từ Phật tạo công đức

Hỗ tương vây quanh hoa sen lớn

Đồng thời chắp tay và cung kính

Pháp nầy là Đức Điều Ngự Sư

Nếu vào trong tịnh Tam Ma Địa

Được các đệ tử vây chung quanh

Giống như vì sao quanh mặt trăng

Như bị trôi vào một phương nào

Hiển thị con Phật và quyến thuộc

Tất cả trong ấy đều như thế

Biến hóa trở thành Tam Ma Địa

Phương kia lại đóng chẳng loại trừ

Tối thượng Tam Ma Địa người vào

Hoặc có từ nơi Tam Muội vậy

Tự thân hiển thị ở mười phương

Hoặc tại phương Đông trong Tam Muội

Tây phương chẳng khởi hay dao động

Hoặc ở Tây phương trong Tam Muội

Đông phương liền hiện tướng người lớn

Tức hay vào ở trong mười phương

Phương khác lại hiện các Tam Muội

Rộng hay hiện khắp trí công đức

Phật kia thần biến Tam Ma Địa

Nếu tận phương khác đều như thế

Vô số Như Lai đều lui tới

Mỗi mỗi bước chân đều kính ngưỡng

Hiện tại an lạc Tam Ma Địa

Hoặc từ Tam Muội hiện chúng sanh

Tây thiên cuối cùng đều tịch lặng

Tất cả Như Lai đều hiện tiền

Hiện làm tất cả việc cúng dường

Như vậy Tây phương đã thấy rồi

Lại đến A Tăng Kỳ nước Phật

Từ nơi dưới chân mà đảnh lễ

Được ở yên ổn Tam Ma Địa

Kia được sánh với điều chánh kiến

Tận đến Đông phương các nước Phật

Tất cả Như Lai đều hiện tiền

Lại thấy vô số sự cúng dường

Vào ở trong đây các nước Phật

Mỗi mỗi nơi chẳng có động giao

Ở trong ấy hiện các Tam Muội

Mỗi mỗi cúng dường ánh sáng Phật

Tại nơi nhãn trần và Tam Muội

Hay hiện sắc tướng các cảnh giới

Thấy được bất khả tư nghì màu

Trên trời người đời đều ngạc nhiên

Sau thấy sắc trần Tam Muội rồi

Làm phút tư duy đến nhãn trần

Tự tánh của mắt chẳng sanh diệt

Như vậy khai mở những tướng không

Hoặc ở nhĩ trần nơi Tam Muội

Hay hiện tướng lớn các cảnh giới

Nhập vào tất cả loại ngôn ngữ

Trời người hỏi đến đều ngạc nhiên

Tức thấy thanh trần Tam Muội rồi

Phán bảo suy nghĩ cảnh giới nghe

Tự tánh của nghe chẳng sanh diệt

Cho nên mở bày các tướng không

Hoặc tại Tỉ trần nơi Tam Muội

Hay hiện hương thơm các cảnh giới

Như vậy hương thơm hay bay đến

Trên trời dưới người đều ngạc nhiên

Thấy nghe hương trần Tam Muội rồi

Lại cố tư duy đến Tỉ trần

Mũi kia tự tánh chẳng sanh diệt

Cho nên khai mở chẳng tướng không

Hoặc có thiệt trần trong Tam Muội

Hay hiện lưỡi lớn các cảnh giới

Như vậy vị ngon đều phổ cập

Trên trời loài người đều ngạc nhiên

Lại được mùi ngon Tam Muội rồi

Lắng tâm tư duy nơi thiệt trần

Tự tánh của lưỡi chẳng sanh diệt

Cho nên khai mở chẳng có tướng

Hoặc có thân trần nơi Tam Muội

Hay việc xúc lớn nơi cảnh giới

Thế gian xúc trần đều biến vào

Trên trời loài người đều ngạc nhiên

Tức thấy xúc trần Tam Muội rồi

Thân trần biến đổi để tư duy

Tự tánh của thân chẳng sanh diệt

Cho nên khai mở tướng chẳng có

Hoặc có tâm trần trong Tam Muội

Hay hiện cảnh giới pháp trần lớn

Liền thấy pháp trần Tam Muội rồi

Lại hiểu suy nghĩ của tâm trần

Tự tánh của tâm chẳng sanh diệt

Cho nên khai mở tướng chẳng có

Tam Muội ví như thân trẻ con

Xuất hiện lớn lên ở lâu dài

Hiện ra tráng niên Tam Muội rồi

Lại ở cho đến thân già nua

Ở đó thân già nơi Tam Muội

Lại phát tâm làm cận sự nam

Ở nơi Tam Muội Ưu Bà Tắc

Cải đổi biến thành thân Tỳ Kheo

Trụ ở Tam Muội thân Tỳ Kheo

Tức được đa văn thân Tỳ Kheo

Trụ ở đa văn thân Tam Muội

Tức được hữu học vô học thân

Liền ở như thế thân Tam Muội

Tức được ở nơi thân Như Lai

Ở đó Như Lai thân Tam Muội

Được Phật tối thượng sắc thân đẹp

Trụ ở tối thượng thân Tam Muội

Hóa thân hiện làm thân trời người

Từ chỗ hình trời thân Tam Muội

Xuất sanh nhiều loại thân của rồng

Từ chỗ thân rồng chứng Tam Muội

Sản sinh ra thêm thân Dược Xoa

Từ chỗ thân Dược Xoa Tam Muội

Xuất sanh tất cả thân Bộ Đa

Từ chỗ thân Bộ Đa Tam Muội

Hiện đó xuất sanh một mảng bông

Từ nơi bông nầy sanh Tam Muội

Xuất sanh tất cả những loại bông

Từ chỗ tất cả nơi bông ấy

Xuất sanh một sợi lông thật nhỏ

Từ chỗ thật nhỏ tóc Tam Muội

Xuất hiện tất cả cảnh phác trần

Mỗi mỗi phác trần trong Tam Muội

Lại hay xuất hiện số vi trần

Nếu thấy mỗi trần Tam Muội rồi

Xuất sanh tất cả các vi trần

Nếu thấy mỗi mỗi trần Tam Muội

Xuất sanh biển lớn các Kim Cang

Từ chỗ Kim Cang Tam muội nầy

Xuất sanh cây Ma Ni hoa quả

Từ chỗ Tam Muội Ma Ni nầy

Xuất hiện ánh sáng lớn Như Lai

Xuất hiện tất cả nước sông biển

Từ chỗ Tam Muội nước sông biển

Lại hiện lửa trần cảnh giới lớn

Từ chỗ hỏa trần Tam Muội ấy

Xuất sanh nhớ nghĩ đến phong trần

Từ chỗ Tam Muội nơi phong trần

Xuất sanh cảnh giới Đại Địa Trần

Từ chỗ Địa Trần trong Tam Muội

Xuất sanh tất cả cung điện trời

Từ nơi cung điện sanh Tam Muội

Suy nghĩ cho đến hư không giới

Tam Muội giải thoát khó nghĩ bàn

Tức được vô biên các công đức

Lại hay chiếu rọi nhiều kiếp số

Tất cả Như Lai chẳng thể lường

Tất cả Như Lai đều nói vậy

Nghiệp quả thế gian khó nghĩ bàn

Hóa rồng mây nước Phật nhập định

Trong định biến hóa bất tư nghì

Thấy đó xuất sanh nói phần nhỏ

Từ nơi đại chúng tất kinh ngạc

Pháp sư phương tiện trí nên biết

Cho nên liền nói hãy nên hiểu

Tức được trụ nơi tám giải thoát

Thanh Văn chứng một tức thành nhiều

Hoặc là được nhiều do từ một

Xem xét hư không ánh sáng ấy

Mờ nhạt sáng lớn đều tự nhiên

Bao vây đầy đủ thành lửa lớn

Lửa xong tiêu đi đến nạn nước

Nơi pháp ngồi nằm đều an trụ

Sát na thân biến bất tư nghì

Chúng kia chẳng có tâm Đại Bi

Bồ Đề xa rời nơi thế gian

Chỉ thân biến hóa bất tư nghì

Chẳng hề lợi tha cho thế gian

Giống như trời trăng đi nơi khác

Thường hay chiếu rọi khắp mười phương

Khe hồ ao rạch đều thành suối

Tròn đầy lớn nhỏ biển sông quý

Tức hiện sắc tướng bất tư nghì

Như mặt trời chiếu sáng mười phương

Như trí giải thoát các Tam Muội

Nếu thấy Như Lai Phật như vậy

Lên bốn phía hồ đều có lính

Mỗi mỗi bên trong đều hiện hình

Có kiếm cung đao tên áo giáp

Như mưa trên cỏ đều bằng thép

Màu sắc như thế mà trang nghiêm

Thấy được Như Lai lưới quang minh

Chẳng phân giận yêu lìa nghi hoặc

Giải thoát công đức Tam Ma Địa

Trong trời ngoài biển nói tên kia

Cho đến chúng sanh ra vào biển

Nghe kia nói vậy cần nên hiểu

Tự thân ngôn ngữ đều vui vẻ

Ái lạc tham sân tạp ngôn ngữ

Tất cả tùy loại hay biết cả

Được diệu tổng trì lực của pháp

Người đời trên trời chẳng có không

Tên là thấy được Bà Nhạ Sa

Bà La Môn nữ xưng tán họ

Chí nguyện chẳng có ái si tâm

Vì chẳng đố kỵ được siêu sanh

Chỉ có biện tài ái si còn

Chẳng thể thành tựu việc làm lớn

Danh xưng xa nghe ở thế gian

Vô nhơn chẳng vui biết công đức

Dụ như trí sáng làm huyễn thuật

Hay hiện đủ loại nhiều màu sắc

Hoặc ở ngày đêm tháng một lần

Trăm năm dụ như cơn gió thoảng

Vì sao huyễn hóa sanh ái si

Thế gian biến hóa như huyễn mộng

Định huệ xa rời nơi giải thoát

Hãy biết người lành hay hoan hỷ

Trời và Tu La đều đấu tranh

Trời được Tu La tự lui bước

Binh khí lên xe cho đi khỏi

Lính tráng tự lui để đi bộ

Tu La vì vậy sinh ái si

Tự nói thân biến chẳng nghĩ bàn

Giàu có mạnh mẽ khó thể địch

Hiện thân biến hóa hay như thế

Hay giữ rồng lớn và Kim Cang

Đế Thích quyến thuộc thành voi lớn

Voi nầy hiện ba mươi ba đầu

Mỗi mỗi lại hiện ra sáu ngà

Trên mỗi ngà ấy đều có hồ

Trong hồ nước hiện đều đầy đủ

Mỗi mỗi hồ ấy bảy hoa sen

Hoa sen mỗi mỗi đều trang nghiêm

Trong mỗi hoa ấy lại hiện bảy

Thiên nữ tất cả đều nên biết

Thường hay múa hát hoặc đờn địch

Đế Thích Thiên chúng cùng hòa vui

Cũng biết tự thân là thân rồng

Được cùng tất cả mà biến hóa

Mỗi mỗi tạo tác để trang nghiêm

Hoặc lúc hiện rồng là tối thượng

Kia hiện có yêu có hờn giận

Tư do phước nghiệp hiện thần biến

Trí lực phương tiện việc tương ưng

Chẳng Tam Ma Địa chẳng nên làm

Do như La Hầu thân biến hiện

Biến thành Kim Cang ở dưới chân

Hiện thân trong biển nước đến rốn

Đầu và Diệu Cao cũng bằng nhau

Kia có yêu giận tham sân si

La Hầu thần biến lực như vậy

Ma Vương phá hoại ánh đèn thế

Nếu hiện thần biến chẳng có hạn

Đế Thích hóa hiện bất tư nghì

Trời và Tu La lúc đấu tranh

Chế phục Tu La chẳng thể biến

Kia lại hiện thân làm Đế Thích

Hay biết Tu La lực rất mạnh

Đồng thời chạy đến trước Đế Thích

Mỗi mỗi chấp trì lực Kim Cang

Tu La chấp trì mà chiến đấu

Biến hiện ngàn mắt nên sợ hãi

Ánh sáng rực rỡ chấp Kim Cang

Thân phá áo giáp dùng lực mạnh

Tu La thấy vậy mới rút lui

Kia đó phước mỏng lực chẳng đủ

Đế Thích vì Trời hiện Thần biến

Tất cả thế gian đều hay cứu

Nói thần biến nầy phước vô tận

Không trung trống trời khuyến chư thiên

Nói cho họ nghe nghiệp quả báo

Biết Trời đắm say nơi dục lạc

Trống trời vang lên để cứu độ

Quán thân vô thường chẳng dừng nghỉ

Việc nầy tự tánh chẳng hiểu hết

Như huyễn như mây và sao trăng

Vạn vật tự tánh biết như mộng

Tất cả phiền não sợ nguyên nhơn

Trừ được cam lồ lìa vô thường

Trong ấy nếu có vui say đắm

Vô thường đến sớm như cọ sát

Tất cả quyến thuộc gặp đau khổ

Thánh giả tăng trưởng về tất cả

Đắm vui muốn vui như kẻ mù

Nếu có nghe pháp thoát vô thường

Tiếng trống Đế Thích thường khuyến bảo

Và các thiên chúng nói diệu pháp

Thường hay xiển dương lời nói đẹp

Vô biên phiền não đều nói rộng

Kia hay hiện nọ không sắc tướng

Trống trời vang lên âm thanh lớn

Tùy ý chư thiên hiện nhiều màu

Rộng vì chẳng làm cho chúng sanh

Trời và Tu La lúc bấy giờ

Chư thiên do phước mà thành tựu

Tiếng trống giữa trời khuyến chư thiên

Ra đấy tiếng vang đều giống nhau

Trống trời ra lệnh sanh hoan hỷ

Được sanh xa rời binh sợ hãi

Tu La Vương chúng tự rút lui

Sát na khủng hoảng đều mất đi

Trống như cam lồ qua nhiều kiếp

Cứu độ tất cả các thế gian

Xa rời phiền não chúng Ma Vương

Chẳng thọ phiền não nói an lạc

Đế Thích Thiên nữ chín mươi hai

Hóa thân làm cho kia hoan hỷ

Mỗi một huyễn thân cũng đồng vậy

Tất cả thiên nữ hiện như nhau

Các nữ đồng thời muốn vui chơi

Nếu ở tự tại trong tháp ấy

Bởi vì mở bày diễn pháp lành

Đế Thích thần biến mỗi sát na

Đế Thích có yêu có giận si

Chỉ tự vui say với quyến thuộc

Chẳng ai nơi đời chê phương tiện

Thế gian biến hóa lìa ái dục

Ma Vương đấu tranh ở thế gian

Nhiếp phục tất cả loài chúng sanh

Phiền não nghiệp lực đều trói buộc

Ngu mê chúng sanh chẳng thể thoát

Kia đó có yêu có giận si

Tất cả thế gian Ma Vương nhiếp

Ở trong mười loại nghiệp lực ấy

Tất cả thế gian tự phá hoại

Phạm Vương cung điện ba ngàn chủ

Cho đến Phạm Vương ba ngàn điện

Phổ hiện thân nầy ở trong đó

Phạm Thiên Vương xuất âm thanh hay

Phạm Vương vì đó ở thế gian

Định biết Phạm Vương hay biến hóa

Trải qua kiếp số như sát na

Chẳng thể một niệm sanh bi trí

Qua khỏi tam tai kiếp hoại rồi

Bất tư nghì tâm các thế gian

Chúng sanh nghiệp báo tâm sanh gió

Gió hay thành tựu cõi thế gian

Bốn biển núi non cung điện trời

Rộng khắp nhiều loại ánh sáng quý

Gió hay làm mây trở thành mưa

Mưa dừng gió hết mây tự tan

Gió hay thành thục trong thế gian

An lạc nhiều người của thế gian

Kia chẳng học nơi Ba La Mật

Lại chẳng học Phật các công đức

Hay luận thế gian bất tư nghì

Duy chỉ như vậy người chưa thấy

Cho đến bay chạy các loại thú

Tiếng nữ đồng nam cùng đồng nữ

Sấm sét chấn động nghe hải triều

Chúng sanh mỗi mỗi đều hay biết

Mỗi mỗi đều nghe tiếng tự tánh

Nói rộng giải nhiều chẳng ngại gì

Sông nước nơi nơi tiếng rõ ràng

Thế gian vui vẻ với âm thanh

Như Lai biển pháp thật hy hữu

Hay nhiếp tất cả chúng như biển

Biển được của quý nước chẳng cùng

Sông nước chảy xiết chẳng hề tăng

Do như tất cả biển thế gian

Định huệ giải thoát phước vô tận

Trí huệ xuất sanh các công đức

Được phước công đức cũng chẳng tăng

Sa Ngụ La rồng hay tự tại

Từ dưới qua cõi Hóa Lạc Thiên

Rộng mưa nhuần khắp bốn đại châu

Vô số chủng chủng để trang nghiêm

Trong Hóa Lạc Thiên có Diêm Phù

Hiện mây che khắp màu êm dịu

Hoặc biến màu hồng ánh sáng trong

Thấy được nhiều trời màu tuyết vàng

Trong cõi Diệm Ma Phệ Lưu Ly

Trong cõi Đao Lợi giữ lưu ly

Bốn Đại Thiên Vương màu thủy tinh

Kiêm Cang kiên cố màu mây biển

Khẩn Na La cung phát ra mùi

Trong cung của rồng màu liên hoa

Hiền Thủ lực lớn chim màu đen

A Tu La cung màu núi đá

Trên đó ánh sáng vàng đẹp đẽ

Thành khác châu khác mỗi mỗi đẹp

Trong Thiệm Bộ Châu màu xanh bích

Màu mây mỗi mỗi tùy châu hiện

Hóa Lạc Thiên ấy mây vàng hiện

Do như ánh sáng màu mặt trời

Sắc đẹp cũng giống vành trăng lặn

Thấy được nhiều trời màu vàng tím

Trong cõi Diệm Ma mây màu vàng

Trong cõi Đao Lợi màu lưu ly

Cõi Tứ Thiên Vương màu thủy tinh

Kim Cang kiên cố màu mây biển

Khẩn Na La cung núi đầy đủ

Trong cung Long Vương màu hoa sen

Hiền Thủ đại lực chim màu đen

Cung A Tu La màu Thiết Vi

Trên đó thanh tịnh ma ni sáng

Mỗi mỗi sai biệt mà trang nghiêm

Trong Thiệm Bộ Châu nguyệt ma ni

Ánh điện chiếu đến như mây kéo

Hóa Lạc Thiên và Phạm Vương Thiên

Đồng hiện đánh trống nghe khắp cả

Thấy được nhiều trời ưa vui nghe

Trong cung Diệm Ma Thiên Nữ nghe

Tứ Đại Vương Thiên Càn Thát Bà

Tướng núi vang vọng tiếng hải triều

Khẩn Na La thổi nhạc thành tiếng

Long Cung nghe tiếng ca Lăng Tần

Trong cung Hiền Thủ tiếng Long Nữ

Trong cung Tu La nghe tiếng đàn

Người hay vui nghe tiếng sáo thổi

Trong cõi Hóa Lạc mùi hương quý

Mưa hoa mỗi mỗi đều trang nghiêm

Diệu Ma Ni nguyệt trong mặt trăng

Mạn Đà La hoa và mùi hương

Thấy được nhiều trời màu ma ni

Mỗi mỗi đồ quý được trưng bày

Như ánh mặt trăng chiếu sáng cả

Mưa rơi màu vàng dính trên áo

Nhiều loại tràng phan và bảo cái

Nghiêm trì tẩm hương và hoa báu

Màu vàng chơn châu màu y hồng

Nơi cõi Diệm Ma cũng đang mưa

Trong cõi Đao Lợi châu như ý

Tẩm hương Chiên Đàn và trầm thủy

Trời Công Cô Ma Nhị sắc đẹp

Nước hoa cùng mưa các hoa quý

Trân quý ăn uống lực tăng trưởng

Được hương mỹ vị càng vui vẻ

Mang theo đồ quý bất tư nghì

Mưa khắp Thiên Vương và Long Cung

Mưa rơi biển lớn hay liên tục

Như vậy rất nhiều chẳng cùng tận

Kho báu chẳng hết còn lớn thêm

Mưa ấy kéo dài chẳng dứt hẳn

Áo đẹp trang nghiêm đều đầy đủ

Lại mưa mùi hương và mạt lợi

Hoặc đánh êm dịu tiếng Tỳ Bà

Khẩn Na La nữ mưa Anh Lạc

Long Cung hay mưa châu màu hồng

Ngục tối ánh sáng Ma Ni bảo

Phá hoại nhà ngục cung tên bắn

Trong cung Tu La mưa kiếm nhọn

Vô giá Anh Lạc làm cho yên

Mưa cũng có loại Chiêm Ba Ca

Mưa làm tươi mát các khí cụ

Từ mưa sinh ra nhiều ánh sáng

Người Diêm Phù Đề đều hoan hỷ

Lại hay vui vẻ với mưa pháp

Cây hoa, hoa quỷ và hương hoa

Những loại như thế yên cõi người

Như thế khó hiểu mây trang nghiêm

Tiếng sấm dội nghe mưa trang nghiêm

Như vậy rồng biến khó nghĩ bàn

Loài kia ở ngay nơi biển cả

Rồng hiện biến hóa khó hiểu hết

Nếu vào pháp hải trong công đức

Vô biên biến hóa không thể đo

Nghĩa nầy ví như nói phần nhỏ

Như vậy nói đó Điều Ngự Sư

Trí dũng mãnh nầy khó thí dụ

Nếu đây hiện ở cửa giải thoát

Nói giải thoát nầy là tối thượng

Quảng đại vi diệu ý vô thượng

Được điều chưa có ý chơn thật

Như vậy trên hết ý thậm thâm

Như pháp khó làm thật hy hữu

Thế gian sở hữu người người làm

Nếu nghe tối thượng giải thoát rồi

Thế gian cung kính mà xưng tán

Chúng sanh các loài khó nghe được

Như vậy pháp nầy nên tôn trọng

Nếu hay làm phước sinh an lạc

Tự mình và người sanh cung kính

So với nhơn gian khó nghi hoặc

Trong Thanh Văn thừa chẳng sanh nghi

Bích Chi Phật thừa cũng như vậy

Lại cũng chẳng nghi các thừa khác

Ở nơi Đại Thừa thật là khó

Cung kính kinh nầy thật khó được

Vì sao đọc tụng và thọ trì

Nếu pháp nầy còn làm sao được

Giả sử ba ngàn núi và biển

Tận kiếp vị lai cũng chuyên chở

Những điều khổ nhọc chưa hề khó

Cung kính kinh nầy lại khó hơn

Ba ngàn vi trần với chúng sanh

Mỗi mỗi đều qua trước mỗi kiếp

Như vậy phước ấy cũng chưa khó

Tin được kinh nầy mới là khó

Giả sử mười lần núi và biển

Như ở trong ấy hay chấp trì

Như vậy cố gắng cũng chưa khó

Cung kính kinh nầy thật khó được

Mười giây vi trần cùng chúng sanh

Mỗi mỗi trước mặt qua kiếp số

Tối thắng phước báo cũng chưa khó

Tin được kinh nầy thật là khó

Mười cõi vi trần với Như Lai

Mỗi mỗi kiếp qua trước mặt ở

Nếu trong pháp ấy giữ đọc tụng

Lại hơn công đức Khả Dứu Đa

Tất hay hàng phục cung Ma Vương

Dẫn đường vô tội tức an ổn

Nếu trong mười phương chúa Sư Tử

Ở trong miệng ấy hiện ra cả

Trong tay an ổn trên đầu cũng

Vô biên công đức phổ kiết tường

Tất cả Như Lai trong miệng ra

Như Lai dùng tay xoa đỉnh đầu

Giải thoát pháp môn nói pháp lành

Các người nên nói rộng pháp nầy

Đừng cho pháp nầy bị đoạn tuyệt

Thế Tôn Phật nói điều ấy rồi

Xong xuôi yên lặng mà ở đó

Lúc bấy giờ 3.000 Đại Thiên thế giới, tất cả chư thiên và nhơn dân như biển cả đồng thanh nói lời rằng: Đây là lần thứ hai Đức Thế Tôn chuyển pháp luân. Lành thay, lành thay! Hy hữu thay Đức Thế Tôn! Chúng con quá khứ chưa từng nghe lời nói như chánh pháp nầy. Nếu có chúng sanh nghe chánh pháp nầy cũng thật là hy hữu, tức thời chẳng sanh vào nhà bần cùng hạ tặc, tâm được bình đẳng, do vì cúng dường cung kính cho nhiều Đức Phật. Đối với các chúng sanh nầy được thay đổi cách sống. Như tháp miếu Phật, với các chúng sanh nầy, trên trời loài người, ma vương quyến thuộc sẽ không có thể hại được. Nếu trời và người, xuất gia hoặc tại gia cho đến các Vua, Đại Thần, Trưởng Giả, Tể Quan cũng chẳng có thể hại được.

Liền lúc ấy Ngài Tôn Giả Tu Bồ Đề bạch với Đức Phật rằng: Hy hữu thay Đức Thế Tôn! Làm sao chứng được? Làm sao kinh Bảo Quang Minh nầy thực hành ở thế gian? Kinh nầy quý giá. Tất cả đều do oai thần của Đức Như Lai mà xuất hiện nơi đời. Lại nữa các chúng sanh được nghe pháp nầy cũng nhờ vào thần lực của Đức Như Lai vậy.

Lúc ấy Đức Thế Tôn lại khai kim khẩu nói với Tôn Giả A Nan rằng: Ngươi nên thọ trì! Nầy A Nan! Với chánh pháp nầy hãy nên siêng năng tinh tấn thọ trì đọc tụng.

Lúc ấy Ngài Tôn Giả A Nan liền đi nhiễu quanh Phật 3 vòng mà thưa rằng: Kính bạch Đức Thế tôn! Con nay đang thọ trì chánh pháp nầy và luôn làm cho đừng mất đi.

Sau khi Phật nói kinh nầy xong, tất cả Thánh chúng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Cát Tường Đồng Tử, Tôn Giả Xá Lợi Phất v.v… chư Đại Thanh Văn, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà v.v… nghe Phật nói rồi, tất cả đều hoan hỷ đảnh lễ rồi lui ra.