1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương

Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh

Đường Nghĩa Tịnh dịch

Bản Việt dịch của Tuệ Khai

***

QUYỂN 1

PHẨM THỨ NHẤT : TỰA

Tôi nghe như vầy, một thuở đức Thế Tôn (Bạc Dà Phạm) ở trên đỉnh núi Thứu Phong tại thành Vương xá với pháp giới thậm thâm thanh tịnh, nơi ở của Như Lai, cùng với chúng Đại Bí Sô, chín vạn tám ngàn người. Những vị ấy đều là A La Hán, có khả năng điều phục như đại tượng vương, các lậu đã trừ, không phiền não nữa, lòng giỏi giải thoát, tuệ giỏi giải thoát, việc làm đã xong, xả bỏ những gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các hữu kết, được đại tự tại, trụ giới thanh tịnh, phương tiện khéo léo, trí tuệ trang nghiêm, chứng tám giải thoát, đã đến bờ kia. Những vị ấy tên là : Cụ thọ A Nhã Kiều Trần Như, cụ thọ A Thuyết Thị Đa, cụ thọ Bà Thấp Ba, cụ thọ Ma Ha Na Ma, cụ thọ Bà Đế Lợi Ca, Đại Ca Diếp Ba, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Xá Lợi Tử, Đại Mục Kiền Liên… chỉ còn A Nan Đà trụ ở học địa. Những bậc Đại Thanh Văn như vậy.v.v… đều vào lúc quá trưa, ra khỏi định, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, lùi về ngồi một bên.

Lại có Đại Bồ tát gồm trăm ngàn vạn ức người. Những vị ấy có uy đức lớn như Đại Long Vương, danh xưng nghe khắp, mọi người hay biết, thí giới thanh tịnh, thường ưa phụng trì nhân hạnh tinh tấn trải vô lượng kiếp, vượt qua những tịnh lực, chuyên niệm hiện tiền, mở mang cửa tuệ, khéo tu phương tiện, tự tại du hí, thần thông vi diệu, đạt được Tổng trì, biện tài vô tận, đoạn các phiền não, lụy nhiễm đều mất, chẳng bao lâu sẽ thành Nhất Thiết Chủng Trí, hàng phục ma quân, đánh lên trống pháp chế ngự những ngoại đạo khiến cho chúng khởi tịnh tâm, chuyển bánh xe diệu pháp độ chúng người trời, cõi Phật mười phương đều đã trang nghiêm, hữu tình sáu đường không ai chẳng nhờ ích lợi, thành tựu đại trí, đầy đủ đại nhẫn, trụ ở tâm đại từ bi, có lực lớn kiên cố, trải thờ các đức Phật chẳng Bát Niết Bàn, phát lòng hoằng thệ đến tận đời vị lai, rộng ở chỗ Phật gieo trồng nhân tịnh, đối với pháp ba đời ngộ vô sanh nhẫn, vượt qua cảnh giới sở hành của hàng Nhị thừa, dùng đại thiện xảo hóa độ thế gian, đối với lời dạy của bậc đại sư đều có khả năng phu diễn pháp bí mật, tính không thậm thâm đều đã rõ biết, không nghi hoặc nữa. Những Bồ tát ấy tên là : Bồ tát Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân, Bồ tát Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân, Bồ tát Thường Tinh Tấn, Bồ tát Bất Hưu Tức, Bồ tát Từ Thị, Bồ tát Diệu Cát Tường, Bồ tát Quán Tự Tại, Bồ tát Tổng Trì Tự Tại Vương, Bồ tát Đại Biện Trang Nghiêm Vương, Bồ tát Diệu Cao Sơn Vương, Bồ tát Đại Hải Thâm Vương, Bồ tát Bảo Tràng, Bồ tát Đại Bảo Tràng, Bồ tát Địa Tạng, Bồ tát Hư Không Tạng, Bồ tát Bảo Thủ Tự Tại, Bồ tát Kim Cương Thủ, Bồ tát Hoan Hỷ Lực, , Bồ tát Đại Pháp Lực, Bồ tát Đại Trang Nghiêm Quang, Bồ tát Đại Kim Quang Trang Nghiêm, Bồ tát Tịnh Giới, Bồ tát Thường Định, Bồ tát Cực Thanh Tịnh Tuệ, Bồ tát Kiên Cố Tinh Tấn, Bồ tát Tâm Như Hư Không, Bồ tát Bất Đoạn Đại Nguyện, Bồ tát Thi Dược, Bồ tát Liệu Chư Phiền Não Bịnh, Bồ tát Y Vương, Bồ tát Hoan Hỷ Cao Vương, Bồ tát Đắc Thượng Thọ Ký, Bồ tát Đại Vân Tịnh Quang, Bồ tát Đại Vân Trì Pháp, Bồ tát Đại Vân Danh Xưng Hỷ Lạc, Bồ tát Đại Vân Hiện Vô Biên Xưng, Bồ tát Đại Vân Sư Tử Hống, Bồ tát Đại Vân Ngưu Vương Hống, Bồ tát Đại Vân Cát Tường, Bồ tát Đại Vân Bảo Đức, Bồ tát Đại Vân Nhật Tạng, Bồ tát Đại Vân Nguyệt Tạng, Bồ tát Đại Vân Tinh Quang, Bồ tát Đại Vân Hỏa Quang, Bồ tát Đại Vân Điển Quang, Bồ tát Đại Vân Lôi Âm, Bồ tát Đại Vân Tuệ Vũ Sung Biến, Bồ tát Đại Vân Thanh Tịnh Vũ Vương, Bồ tát Đại Vân Hoa Thọ Vương, Bồ tát Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương, Bồ tát Đại Vân Bảo Chiên Đàn Hương Thanh Lương Thân, Bồ tát Đại Vân Trừ Ám, Bồ tát Đại Vân Phá Ế… vô lượng Đại Bồ tát chúng như vậy .v.v… đều khi quá trưa, ra khỏi định, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, lui ngồi một bên. Lại có năm ức tám ngàn đồng tử Lị Xa Tỳ. Họ tên là: Sư Tử Quang đồng tử, Sư tử Tuệ đồng tử, Pháp Thọ đồng tử, Nhân Đà La Thọ đồng tử, Đại Quang đồng tử, Đại Mãnh đồng tử, Phật Hộ đồng tử, Pháp Hộ đồng tử, Tăng Hộ đồng tử, Kim Cương Hộ đồng tử, Hư Không Hộ đồng tử, Hư Không Hống đồng tử, Bảo Tạng đồng tử, Cát Tường Diệu Tạng đồng tử…. mà những người như vậy làm thượng thủ. Họ đều an trụ ở Bồ Đề Vô Thượng, ở trong đại thừa thâm tín hoan hỷ. Họ đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, lui về ngồi một bên.

Lại có bốn vạn hai ngàn thiên tử. Họ tên là Hỷ Kiến thiên tử, Hỷ Duyệt thiên tử, Nhật Quang thiên tử, Nguyệt Kế thiên tử, Minh Tuệ thiên tử, Hư Không Tịnh Tuệ thiên tử, Trừ Phiền Não thiên tử, Cát Tường thiên tử… mà những thiên tử như vậy làm thượng thủ. Họ đều phát nguyện lớn, hộ trì Đại thừa, tiếp nối làm hưng thịnh chánh pháp, có thể khiến cho chẳng đoạn tuyệt. Họ đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một bên.

Lại có hai vạn tám ngàn Long vương như : Liên Hoa long vương, Ê La Diệp long vương, Đại Lực long vương, Đại Hống long vương, Tiểu Ba long vương, Trì Sử Thủy long vương, Kim Diện long vương, Như Ý long vương… mà những long vương như vậy làm thượng thủ, đối với pháp Đại thừa, họ thường ưa thọ trì, phát tâm thâm tín, xưng dương ủng hộ, đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một phía.

Lại có ba vạn sáu ngàn những dược (dạ) xoa chúng mà vua trời Tỳ Sa Môn làm thượng thủ. Chúng tên là Am Bà dạ xoa, Trì Am Bà dạ xoa, Liên Hoa Quang Tạng dạ xoa, Liên Hoa Diện dạ xoa, Diệu Mi dạ xoa, Hiện Đại Bố dạ xoa, Động Địa dạ xoa, Thôn Thực dạ xoa… Những dạ xoa như vậy đều yêu thích Chánh pháp của Như Lai, thâm tín hộ trì chẳng phát sinh lười mệt, đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu quanh về bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một phía.

Lại có bốn vạn chín ngàn Yết Lộ Trà Vương mà vua Hương Tượng Thế Lực làm thượng thủ. Và còn Càn thát bà, A tô la, Khẩn na la, Ma hô lạc dà.v.v… tất cả thần tiên của núi rừng sông biển, cùng vương chúng sở hữu của các nước lớn, trung cung hậu phi, nam nữ tịnh tín, đại chúng người, trời…. đều vân tập lại hết, đều nguyện ủng hộ Đại Thừa Vô Thượng, đọc tụng, thọ trì, ghi chép, lưu bố… Tất cả đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu quanh bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một phía. Như vậy đại chúng Thanh Văn, Bồ tát, người trời, tám bộ long thần… đã vân tập rồi, mỗi mỗi đều hết lòng chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn dung, mắt chưa từng rời bỏ, nguyện ưa muốn nghe diệu pháp thù thắng. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, vào lúc xế trưa ngày hôm đó, ra khỏi định, quan sát đại chúng mà nói lời tụng rằng :

Diệu pháp Kim Quang Minh

Vua tối thắng các Kinh

Thậm thâm khó nghe được

Cảnh giới của chư Phật

Ta sẽ vì mọi người

Tuyên nói Kinh điển này

Cùng bốn phương bốn Phật

Uy thần chung hộ trì

Đông phương Phật A Súc

Nam phương Bảo Tướng Phật

Vô Lượng Thọ Tây phương

Bắc phương Thiên Cổ (Trống trời) âm

Ta lại diễn diệu pháp

Trong sám cát tường hơn

Hay diệt tất cả tội

Các nghiệp ác sạch trơn

Và tiêu mọi khổ hoạn

Thường cho vui không lường

Căn bản Nhất Thiết Trí

Các công đức trang nghiêm.

Chúng sinh thân chẳng đủ

Sắp tổn giảm mạng thân

Các tướng ác hiện tiền

Thiên thần đều lìa bỏ

Thân hữu ôm giận sân

Quyến thuộc phân ly hết

Đó, đây cùng trái ngang

Của quí đều tan mất

Sao xấu biến lạ lùng

Hoặc bị tà độc hại

Hoặc lại nhiều lo buồn

Bị mọi khổ ép bức

Ngủ thấy ác mộng luôn

Nhân đây sinh não phiền

Người đó phải tắm gội

Mặc áo sạch tinh thơm

Đối với vua Kinh diệu

Thậm thâm được Phật khen

Lòng chuyên chú không loạn

Đọc tụng, nghe, giữ gìn.

Do uy lực Kinh ấy

Các tai ngược lìa tan

Và mọi khổ nạn khác

Không gì chẳng tiêu tan.

Chúng bốn vua hộ thế

Và quyến thuộc đại thần

Những dạ xoa vô lượng

Đều ủng vệ một òng

Đại Biện Tài thiên nữ

Thủy thần sông Ni Liên

Thần mẹ Ha Lợi Để

Chúng Kiên Lao địa thần

Phạm vương, chúa Đế Thích

Khẩn na la, Long vương

Và vua chim Kim Sí

Chúng A Tô La thiên

Những thiên thần như vậy

Cùng đem theo bà con

Đều đến hộ người đó

Chẳng rời bỏ ngày đêm.

Ta sẽ nói Kinh đó

Phật hành xứ thậm thâm

Lời mật giáo chư Phật

Ngàn muôn kiếp nan phùng (khó gặp).

Nếu có nghe Kinh đó

Vì người khác tuyên dương

Hoặc lòng sinh tùy hỷ

Hoặc thiết lễ cúng dường.

Với những người như vậy

Sẽ ở kiếp không lường.

Thường được sự cung kính

Của trời, người, thần, rồng,

Phước tụ này vô lượng

Số hơn cát sông Hằng.

Người đọc tụng Kinh đó

Công đức ấy được liền

Cũng được các Bồ tát

Thâm hạnh mười phương tôn

Ủng hộ người trì pháp (Kinh)

Khiến lìa các khổ nàn.

Người cúng dường Kinh đó

Như trước tắm gội thân

Hoa thơm và ăn uống

Ý từ bi khởi luôn.

Nếu muốn nghe Kinh đó

Lòng vô cấu, sạch trong

Thường sinh niệm hoan hỷ

Các công đức lớn lên

Nếu đem lòng tôn trọng

Với người lắng nghe Kinh.

Thì sinh vào nhân đạo

Lìa xa các khổ nàn.

Thiện căn người đó chín (thục)

Được chư Phật ngợi khen

Mới được nghe Kinh đó

Và pháp sám hối chân.

PHẨM THỨ HAI : THỌ MẠNG NHƯ LAI

Bấy giờ, ở đại thành Vương Xá có một Đại Bồ tát tên là Diệu Tràng đã ở đời quá khứ, vô lượng câu chỉ na do tha trăm ngàn chỗ Phật thừa sự cúng dường, gieo trồng các căn lành. Lúc đó, Bồ tát Diệu Tràng một mình ở chỗ yên tĩnh, tác khởi suy nghĩ này : “Do nhân duyên gì mà thọ mạng của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm ?” Rồi ông lại suy nghĩ rằng : “Như lời đức Phật nói, có hai nhân duyên được thọ mạng lâu dài. Những gì là hai ? Một là chẳng hại sinh mạng, hai là bố thí cho người khác đồ ăn thức uống. Nhưng đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai từng ở vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số đại kiếp chẳng hại sinh mạng, hành Thập thiện đạo, thường đem đồ ăn thức uống ban cho tất cả chúng sinh đói khát, thậm chí cả máu thịt xương tủy của thân mình cũng đem thí cho khiến chúng sinh được no đủ, huống là đồ ăn thức uống”. Khi vị Bồ tát ở chỗ đức Thế Tôn tác khởi ý niệm này thì do uy lực của đức Phật nên ngôi nhà ấy bỗng nhiên rộng rãi nghiêm tịnh với lưu ly xanh, đủ thứ các loại báu trang hoàng chan hòa màu sắc như cõi Phật thanh tịnh. Có hưương thơm vi diệu cả hương thơm nhà trời tràn đầy sực nức. Ở bốn mặt nhà ấy đều có tòa sư tử thượng diệu do bốn thứ báu tạo thành, trên tòa ấy trải áo báu của trời. Ở những tòa này lại có hoa sen vi diệu được trang sức bằng đủ thứ trân bảo và đều có những đức Như Lai tự nhiên hiển hiện. Ở trên hoa sen có bốn đức Như Lai : Đức Bất Động ở phương Đông, đức Bảo Tướng ở phương Nam, đức Vô Lượng Thọ ở phương Tây, đức Thiên Cổ Âm ở phương Bắc. Bốn đức Như Lai đó đều đang ngồi kiết già, phóng ra ánh sáng lớn soi sáng khắp cùng đại thành Vương Xá và ba ngàn đại thiên thế giới này cho đến những đất nước chư Phật nhiều như cát sông Hằng trong mười phương, mưa xuống hoa trời, tấu lên nhạc trời… Bấy giờ, ở trong Nam Thiệm Bộ Châu này và ba ngàn đại thiên thế giới mà chúng sinh sẵn có nhờ uy lực của đức Phật nên được hưởng thụ niềm vui thắng diệu, không có sự thiếu thốn. Người thân chẳng đủ nhờ ơn đó được đầy đủ, người mù có thể thấy, người điếc được nghe, người câm được nói, người ngu được trí, nếu người tâm loạn thì được tâm như cũ, nếu người không áo thì được y phục, người bị ác tặc thì được sự kính trọng của người, người có cấu bẩn thì thân thanh khiết. Ở thế gian này, việc lợi ích sở hữu chưa từng có đều hiển hiện hết.

Bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng thấy bốn đức Như Lai và việc hy hữu thì vui mừng hớn hở, chắp tay một lòng chiêm ngưỡng tướng thù thắng của các đức Phật và cũng lại suy nghĩ về công đức không lường của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Chỉ với thọ mạng của ngài thì Bồ tát sinh lòng nghi hoặc, sao đức Như Lai công đức vô lượng mà thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm ? Bấy giờ, bốn đức Phật bảo Bồ tát Diệu Tràng rằng :

– Này thiện nam tử ! Ông nay chẳng nên suy nghĩ về thọ mạng dài hay ngắn của đức Như Lai ! Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Chúng ta chẳng thấy chư thiên, thế gian, Phạm, ma, Sa môn, Bà la môn, người, chẳng phải người.v.v… mà có thể tính toán biết thời lượng sống lâu của đức Phật, biết được giới hạn ấy, chỉ trừ đấng Vô Thượng Chánh Biến Tri !

Bốn đức Như Lai muốn nói về thọ lượng sở hữu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni nên do uy lực của Phật nên trời Dục giới, trời Sắc giới, những rồng, quỉ thần, Càn thát bà, A tô la, Yết lộ trà, Khẩn na la, Mạc hô lạc dà và vô lượng trăm ngàn ức na do tha Đại Bồ tát đến tập hội vào trong nhà tịnh diệu của Bồ tát Diệu Tràng. Bấy giờ, bốn đức Phật ở giữa đại chúng muốn hiển bày thọ lượng (thời lượng sống lâu) của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai mà nói kệ tụng rằng :

Nước tất cả các biển

Số giọt có thể lường

Không có thể tính biết

Thọ lượng Thích Thế Tôn !

Chẻ những núi cao diệu

Thành hạt cải đếm được

Không ai có thể tính

Thọ lượng đức Thích Tôn !

Tất cả đất đại địa

Có thể biết số trần (bụi)

Không ai có thể tính

Thọ lượng đức Thích Tôn !

Lượng hư không giả sử

Có thể đến tận biên (bờ cõi)

Không có thể đo biết

Thọ lượng đức Thích Tôn !

Nếu người trụ ức kiếp

Tận lực tính toán luôn

Cũng lại chẳng thể biết

Thọ lượng đức Thích Tôn !

Mạng chúng sinh chẳng hai

Và thí cho uống ăn

Do hai thứ nhân ấy

Dược thọ mạng viễn trường.

Vậy nên đấng Đại Giác

Thọ mạng khó biết lường.

Như kiếp không bờ cõi

Thọ lượng cũng như trên

Này Diệu Tràng phải biết

Khởi nghi hoặc chẳng nên !

Tối Thắng thọ vô lượng

Không thể biết đoản, trường !

Bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng nghe bốn đức Như Lai nói về thọ lượng vô hạn của đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà bạch rằng :

Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao đức Như Lai thị hiện thọ lượng ngắn ngủi như vậy ?

Bốn đức Thế Tôn bảo Bồ tát Diệu Tràng rằng :

-Này thiện nam tử ! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni kia ở đời ngũ trược, khi xuất hiện thì con người thọ một trăm tuổi, bẩm tính thấp hèn, căn lành mỏng manh, lại không tín giải. Những chúng sinh này có nhiều ngã kiến, nhân kiến chúng sinh thọ giả dục tà kiến, ngã, ngã sở kiến, đoạn kiến, thường kiến.v.v… Vì muốn lợi ích cho các chúng sinh này và chúng ngoại đạo… những loại như vậy sinh ra chánh giải, mau được thành tựu Vô Thượng Bồ Đề. Vậy nên đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi như vậy.

Này thiện nam tử ! Nhưng đức Như Lai kia muốn khiến cho chúng sinh thấy Niết Bàn rồi mà sinh tư tưởng khó gặp, tư tưởng ưu khổ.v.v… để ở chỗ Phật Thế Tôn nghe nói Kinh giáo thì mau chóng thọ trì, đọc tụng thông lợi, vì người giải nói chẳng sinh ra hủy báng. Vậy nên đức Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Vì sao vậy ? Vì những chúng sinh đó nếu thấy Như Lai chẳng Bát Niết Bàn thì chẳng sinh tư tưởng cung kính khó gặp và đối với Kinh điển thậm thâm của Như Lai nói cũng chẳng thọ trì đọc tụng thông lợi, vì người giảng nói. Sở dĩ vì sao ? Do thường thấy Phật nên chẳng tôn trọng vậy.

Này thiện nam tử ! Ví như có người thấy cha mẹ mình có nhiều tài sản, trân bảo tràn đầy. Họ liền đối với của cải chẳng sinh tư tưởng hy hữu khó gặp. Sở dĩ vì sao ? Vì đối với tài vật của cha sinh ra thường tưởng vậy. Này thiện nam tử ! Những chúng sinh kia cũng lại như vậy, nếu thấy đức Như Lai chẳng vào Niết Bàn thì chẳng sinh tư tưởng hy hữu, khó gặp. Sở dĩ vì sao ? Vì do thường thấy vậy ! Này thiện nam tử! Ví như có người cha mẹ nghèo cùng, của cái thiếu thốn. Nhưng người nghèo kia hoặc đi đến nhà của vua hoặc nhà của đại thần, thấy kho lẫm những nơi ấy đều đầy tràn những thứ trân bảo thì liền sinh lòng hy hữu, tư tưởng khó gặp. Người nghèo đó vì muốn cầu của cải nên rộng bày phương tiện sách tấn, siêng năng không lười biếng. Sở dĩ vì sao ? Vì bỏ bần cùng thọ an lạc vậy. Này thiện nam tử ! Những chúng sinh kia cũng lại như vậy, nếu thấy đức Như Lai vào với Niết Bàn thì sinh tư tưởng khó gặp… cho đến tư tưởng ưu khổ.v.v… mà khởi lên ý niệm : “Ở vô lượng kiếp, chư Phật Như Lai xuất hiện ở đời như khi hoa Ô đàm bạt (Ưu đàm bát la) một lần hiện”, thì những chúng sinh kia mới phát tâm hy hữu, tư tưởng khó gặp nên nếu gặp Như Lai thì lòng mơi sinh kính tín, nghe nói chánh pháp mới sinh tư tưởng thật ngữ, Kinh điển sở hữu đều thọ trì, chẳng sinh lòng hủy báng. Này thiện nam tử ! Do nhân duyên này nên đức Phật Thế Tôn đó chẳng tại thế lâu, mau chóng vào Niết Bàn. Này thiện nam tử ! Như vậy đức Như Lai dùng những phương tiện khéo léo như vậy để thành tựu chúng sinh.

Bấy giờ, bốn đức Phật nói những lời này xong thì bỗng nhiên biến mất.

Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Diệu Tràng cùng vô lượng trăm ngàn Bồ tát và vô lượng ức na du đa trăm ngàn chúng sinh đều chung nhau đi đến chỗ đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Chánh Biến Tri trong núi Thứu Phong, đảnh lễ dưới chân đức Phật, rồi đứng về một phía. Bồ tát Diệu Tràng đem những việc như trên bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Cùng lúc đó bốn đức Như Lai cũng đi đến núi Thứu Phong, tới chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đều tùy theo phương của mình mà ngồi vào tòa ngồi, rồi bảo Bồ tát thị giả rằng : “Này thiện nam tử ! Ông nay có thể đi đến chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì ta mà hỏi thăm ngài ít bệnh, ít não, đi ở nhẹ nhàng, hành động an vui chăng ?”. Rồi Phật lại nói rằng : “Hay thay ! Hay thay ! Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai hôm nay có thể diễn nói pháp yếu thậm thâm của Kinh Kim Quang Minh vì muốn lợi ích nhiều cho tất cả chúng sinh, trừ khử đói kém, khiến cho họ được an lạc, ta phải tùy hỷ !”. Thị giả của các đức Phật đều đi đến chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đảnh lễ dưới chân đức Phật, rồi lui về trụ ở một phía, đều bạch đức Phật rằng :

-Đấng Thiên Nhân Sư kia sai con hỏi thăm đấng Vô Lượng có ít bệnh, ít não, đi ở nhẹ nhàng, hành động an vui không ? Các vị Phật ấy lại nói rằng : “Hay thay ! Hay thay ! Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, hôm nay có thể diễn nói pháp yếu thậm thâm của Kinh Kim Quang Minh vì muốn lợi ích cho tất cả chúng sinh, trừ khử đói kém, khiến cho được an vui”.

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác bảo các Bồ tát thị giả đó rằng :

– Hay thay ! Hay thay ! Bốn đức Như Lai kia mới có thể vì sự ích lợi nhiều và an lạc của các chúng sinh mà khuyến thỉnh ta tuyên dương Chánh pháp !

Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ tụng rằng :

Ta thường ở Thứu sơn

Báu Kinh này tuyên nói

Thành tựu chúng sinh nên

Thị hiện bát Niết Bàn

Phàm phu khởi tà kiến

Lời nói ta, chẳng tin,

Vì thành tựu bọn đó

Thị hiện Bát Niết Bàn.

Trong đại hội có người Bà la môn, họ Kiều Trần Như tên là Pháp Sư Thọ Ký cùng với vô lượng trăm ngàn chúng Bà la môn cúng dường đức Phật rồi, nghe đức Thế Tôn vào Bát Niết Bàn thì nước mắt chan hòa, làm lễ dưới chân đức Phật mà bạch rằng :

-Thưa đức Thế Tôn ! Nếu quả thật đức Như Lai đối với các chúng sinh có lòng đại từ bi, thương xót đem lại lợi ích khiến cho họ được an lạc giống như cha mẹ, không ai bằng thì có thể cho thế gian làm chỗ qui y như trăng tròn trong sạch, dùng đại trí tuệ có thể vì họ soi sáng như mặt trời mới mọc, quan sát khắp chúng sinh yêu thương không thiên lệch như La Hầu La. Nguyện xin đức Thế Tôn ban cho con một nguyện !

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lặng im mà dừng. Nhờ uy lực của đức Phật nên ở trong chúng này, có một lị xa tỳ đồng tử tên là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến nói với Bà la môn Kiều Trần Như rằng :

-Thưa Đại Bà la môn ! Ngài nay theo đức Phật muốn xin nguyện vọng gì ? Tôi có khả năng cho ngài ?

Vị Bà la môn nói rằng :

-Thưa đồng tử ! Tôi muốn cúng dường Thế Tôn Vô Thượng. Nay tôi theo đức Như Lai cầu thỉnh xá lợi như hạt cải. Vì sao vậy ? Vì tôi từng nghe nói rằng, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân được xá lợi của Phật chừng hạt cải mà cung kính cúng dường thì người đó sẽ sinh lên trời Ba mươi ba, làm Đế Thích.

Lúc đó, đồng tử nói với vị Bà la môn rằng :

-Nếu muốn nguyện sinh lên trời Ba mươi ba thọ quả báo thù thắng thì cần phải chí tâm lắng nghe Kinh vua tối thắng Kim quang Minh, ở trong các Kinh rất là thù thắng, khó hiểu, khó vào, Thanh Văn, Độc Giác chẳng thể biết. Kinh này có thể sinh ra vô lượng vô biên quả báo phước đức… cho đến thành toàn Bồ Đề Vô Thượng. Tôi nay vì ngài lược nói việc ấy !

Vị Bà la môn nói rằng :

-Hay thay ! Thưa đồng tử ! Kinh Kim Quang Minh này thậm thâm tối thượng khó hiểu, khó vào, Thanh Văn, Độc Giác còn chẳng thể biết, huống gì chúng tôi là người biên địa hèn kém, trí tuệ cạn cợt mà có thể hiểu được sao ? Vậy nên tôi nay cầu xá lợi của đức Phật chừng như hạt cải để đem trở về bản xứ, đặt vào trong hộp báu, cung kính cúng dường để sau khi mạng chung được làm Đế Thích, luôn hưởng thụ an lạc. Làm sao ông nay chẳng thể vì tôi theo đức Minh Hành Túc cầu xin một nguyện vọng ấy ?

Nói lời đó rồi, bấy giờ, đồng tử liền vì Bà la môn mà nói kệ tụng rằng :

Nước sông Hằng chảy nhanh

Có thể sinh sen trắng

Chim vàng làm trắng hình

Quạ đen biến thành đỏ

Giả sử cây Thiệm Bộ

Sinh được quả Đa La

Trong cành Khiết thọ la

Lá Am la xuất hiện.

Những vật hy hữu kia

Hoặc có thể chuyển biến

Xá lợi đức Thích Ca

Rốt ráo chẳng thể được

Giả sử dùng lông rùa

Dệt thành y phục đẹp

Lạnh có thể mặc vào

Mới cầu xá lợi Phật.

Giả sử chân muỗi, ve

Có thể dựng lâu quán (lầu để vui chơi)

Vững bền chẳng dao động (lay động)

Mới cầu xá lợi Phật.

Giả sử con đỉa nước

Răng trắng trong miệng sinh

Như kim khâu dài sắc

Mới cầu xá lợi Phật.

Giả sử sừng thỏ đen

Dùng làm thành thềm bậc

Để đi lên thiên cung

Mới cầu xá lợi Phật.

Chuột nhờ bậc này lên

Khử A tô la hết

Ngăn vầng trăng trong không

Mới cầu xá lợi Phật.

Nếu ruồi rượu say mèm

Đi khắp trong thôn ấp

Nhà cửa khắp nơi làm

Mới cầu xá lợi Phật.

Nếu khiến nuôi lừa sắc

Đỏ như trái Tần bà

Khéo tạo tác múa ca

Mới cầu xá lợi Phật.

Quạ cùng chim cú mèo

Sống chung đồng một chỗ

Đó, đây thuận tùng nhau

Mới cầu xá lợi Phật.

Giả sử lá Ba la

Có thể làm dù che

Mưa lớn mà ngăn được

Mới cầu xá lợi Phật.

Giả sử thuyền bè to

Của báu chở đầy ghe

Có thể đi trên đất

Mới cầu xá lợi Phật.

Giả sử loài chim ri

Núi Hương, dùng mỏ ngậm

Tùy chỗ mặc sức đi

Mới cầu xá lợi Phật.

Lúc bấy giờ, Bà la môn Pháp Sư Thọ Ký nghe bài tụng này rồi cũng dùng tụng kệ đáp lại đồng tử NhấtThiết Chúng Sinh Hỷ Kiến rằng :

Hay thay ! Đại đồng tử

Trong chúng này Cát tường !

Lòng khéo léo phương tiện

Được ký Phật Không Trên (vô thượng)

Như Lai uy đức lớn

Có thể cứu thế gian

Ngài nên chí tâm thính

Tôi nay thứ lớp trình :

Cảnh chư Phật khó nghĩ

Không đồng đẳng thế gian

Tính thường trụ pháp thân

Tu hành không sai khác

Thể chư Phật đều đồng

Lời nói pháp cũng vậy

Vô tác của Thế Tôn

Cũng vốn vô sinh nữa

Thể Thế Tôn Kim Cương.

Ở hóa thân quyền hiện (quyền biến hiện ra)

Nên xá lợi Thế Tôn

Không như chừng hạt cải

Phật phi huyết nhục thân

Làm sao có xá lợi ?

Phương tiện lưu thân xương

Vì lợi ích sinh chúng

Chánh giác là pháp thân

Như Lai tức pháp giới

Đây là thân Phật chân

Cũng nói pháp như vậy.

Bấy giờ, ba vạn hai ngàn thiên tử trong hội nghe nói về thọ mạng lâu dài của đức Như Lai, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vui mừng hớn hở, được chưa từng có, dị khẩu đồng âm mà nói kệ tụng rằng :

Phật chẳng Bát Niết Bàn

Chánh pháp cũng chẳng diệt

Vì lợi chúng sinh nên

Thị hiện có diệt tận.

Thế Tôn chẳng nghĩ bàn

Diệu thể không dị tướng

Vì lợi chúng sinh nên

Đủ thứ trang nghiêm hiện .

Lúc bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng thân cận ở trước đức Phật và bốn đức Như Lai, cùng với hai đại sĩ, các thiên tử được nghe nói về sự thọ lượng của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai rồi thì đứng dậy, chắp tay cung kính, bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Nếu thật như vậy, các đức Phật Như Lai chẳng Bát Niết Bàn, không có xá lợi thì làm sao trong Kinh nói có Niết Bàn và xá lợi của Phật, khiến cho những người, trời cung kính cúng dường ? và các đức Phật đời quá khứ hiện nay có xương thân lưu bố ở thế gian cho người trời cúng dường được phước vô biên, nay lại nói không ? Thành ra phát sinh sự nghi hoặc, nguyện xin đức Thế Tôn thương xót chúng con mà phân biệt rộng rãi !

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Diệu Tràng và các đại chúng rằng :

– Các ông phải biết rằng, gọi Bát Niết Bàn, có xá lợi chính là mật ý. Ta nói về nghĩa như vậy thì các ông phải một lòng lắng nghe. Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát như vậy nên biết có mười pháp có thể hiểu cái lý thú chân thật của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nói có rốt ráo Đại Bát Niết Bàn. Những gì là mười ?

Một là các đức Phật Như Lai rốt ráo đoạn hết các Phiền não chướng và Sở tri chướng nên gọi là Niết Bàn.

Hai là, các đức Phật Như Lai giỏi có thể giải rõ vô tính của hữu tình và vô tính của pháp nên gọi là Niết Bàn.

Ba là, có thể chuyển thân y (nương) và pháp y nên gọi là Niết Bàn.

Bốn là, đối với các loài hữu tình mặc tình xoay vần ngưng nghỉ, nhân duyên biến hóa nên gọi là Niết Bàn.

Năm là, chứng được tướng chân thật không sai biệt, pháp thân bình đẳng nên gọi là Niết Bàn.

Sáu là, biết rõ sinh tử và Niết Bàn, tính không hai nên gọi là Niết Bàn.

Bảy là, đối với tất cả pháp, liễu ngộ căn bản ấy, chứng được thanh tịnh nên gọi là Niết Bàn.

Tám là, đối với tất cả pháp không sinh không diệt, giỏi tu hành nên gọi là Niết Bàn.

Chín là, Chân như pháp giới thật tế bình đẳng, được Chánh trí nên gọi là Niết Bàn.

Mười là, đối với tính các pháp và tính Niết Bàn, được không sai biệt nên gọi là Niết Bàn. Đó gọi là mười pháp nói có Niết Bàn.

Lại nữa, này thiện nam tử ! Đại Bồ tát như vậy nên biết lại có mười pháp có thể giải lý thú chân thật của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có rốt ráo Đại Bát Niết Bàn. Những gì là mười ?

Một là, tất cả phiền não lấy lạc dục làm gốc, từ lạc dục sinh ra, các đức Phật Thế Tôn đoạn dứt lạc dục nên gọi là Niết Bàn.

Hai là, do các đức Như Lai đoạn trừ các lạc dục, chẳng thủ lấy một pháp. Do chẳng thủ, thủ lấy nên không đi không lại, không có cái để lấy nên gọi là Niết Bàn.

Ba là, do không đi lại và không sở thủ thì đó là pháp thân chẳng sinh chẳng diệt. Do không sinh diệt nên gọi là Niết Bàn.

Bốn là, không sinh diệt này chẳng phải nói cái đã tuyên nói, ngôn ngữ đoạn dứt, nên gọi là Niết Bàn.

Năm là, không có nhân, ngã chỉ có pháp sinh diệt được chuyển y (nương) nên gọi là Niết Bàn.

Sáu là, phiền não theo mê hoặc đều chính là khách trần, pháp tính chính là chủ, không khứ không lai, Phật rõ biết nên gọi là Niết Bàn.

Bảy là, Chân như chính là Thật, còn lại đều hư vọng cả. Thể tính thật thì tức là Chân như. Tính Chân như thì tức là Như Lai. Đó gọi là Niết Bàn.

Tám là, tính của thật tế không có hý luận, chỉ độc có Như Lai chứng được pháp thật tế, đoạn dứt hý luận vĩnh viễn gọi là Niết Bàn.

Chín là, Vô sinh chính là thật, sinh chính là hư vọng, người ngu si ngụp lặn trong sinh tử. Thể của Như Lai thật không có hư vọng gọi là Niết Bàn.

Mười là, pháp chẳng thật chính là từ duyên sinh. Pháp chân thật chẳng từ duyên khởi, pháp thân Như Lai, thể là chân thật gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử ! Đó gọi là mười pháp nói có Niết Bàn.

Lại nữa, này thiện nam tử ! Đại Bồ tát như vậy nên biết lại có mười pháp có thể giải lý thú chân thật của đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có cứu cánh Đại Bát Niết Bàn. Những gì là mười ?

Một là, Như Lai giỏi biết thí và quả của thí không ngã và ngã sở. Thí và quả thí này chẳng chính phân biệt, trừ diệt vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Hai là, Như Lai giỏi biết giới và quả của giới vô ngã và ngã sở. Giới và quả giới này chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Ba là, Như Lai giỏi biết nhẫn và quả của nhẫn vô ngã và ngã sở. Nhẫn và quả nhẫn này chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Bốn là, Như Lai giỏi biết cần và quả của cần vô ngã và ngã sở. Cần và quả cần chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Năm là, Như Lai giỏi biết định và quả của định vô ngã và ngã sở. Định và quả định này chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Sáu là, Như Lai giỏi biết tuệ và quả của tuệ vô ngã và ngã sở. Tuệ và quả tuệ này chẳng chính phân biệt, trừ diệt vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Bảy là, các đức Phật Như Lai giỏi có thể rõ biết tất cả loài hữu tình chẳng phải loài hữu tình, tất cả các pháp đều vô tính, chẳng chính phân biệt, trừ diệt vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.

Tám là, nếu tự yêu mình thì liền khởi lên truy cầu, do truy cầu nên chịu mọi khổ não. Các đức Phật Như Lai diệt trừ tự yêu mình nên đoạn tuyệt vĩnh viễn không truy cầu nên gọi là Niết Bàn.

Chín là, pháp hữu vi đều có số lượng, pháp vô vi thì số lượng đều đoạn trừ. Phật lìa khỏi pháp hữu vi, chứng pháp vô vi không số lượng nên gọi là Niết Bàn.

Mười là, Như Lai rõ biết hữu tình và pháp thì thể tính đều không, lìa không chẳng phải có. Tính không tức là chân pháp thân nên gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử ! Đó gọi là mười pháp nói có Niết Bàn.

Lại nữa, này thiện nam tử ! Đâu chỉ Như Lai chẳng Bát Niết Bàn. Đó là hy hữu ! Lại có mười pháp hy hữu chính là hạnh Như Lai. Những gì là mười ?

Một là, sinh tử tội lỗi Niết Bàn tịch tịnh. Do đối với sinh tử và cả Niết Bàn chứng được bình đẳng, chẳng ở với lưu chuyển, chẳng trụ ở Niết Bàn, đối với các hữu tình chẳng sinh chán bỏ. Đó là hạnh của Như Lai.

Hai là, Phật đối với chúng sinh chẳng nghĩ rằng, những kẻ ngu này hành điên đảo kiến, bị sự ràng buộc bức bách của các phiền não, ta nay khai ngộ khiến cho họ giải thoát. Nhưng do lực thiện căn từ bi thuở xưa ở loài hữu tình kia theo căn tính của chúng, ý ưa thắng giải, chẳng khởi phân biệt, mặc cho chuyển vần tế độ, thị hiện giáo hóa, lợi ích vui mừng đến tận đời vị lai, không có cùng tận. Đó là hạnh của Như Lai.

Ba là, Phật không có ý niệm này : “Ta nay diễn nói mười hai phân giáo lợi ích cho hữu tình”, nhưng do lực thiện căn từ bi, vì những hữu tình đó nói rộng rãi, cho đến tận đời vị lai, không có cùng tận. Đó là hạnh của Như Lai.

Bốn là, Phật không có ý niệm này : “Ta nay đi đến thành ấp, tụ lạc kia, đến nhà của vua, đại thần, bà la môn, sát lợi, tỳ xá, mậu đạt la.v.v… Từ những chỗ ấy mà xin ăn”. Nhưng do lực tập quán hành động, ý nghĩ, lời nói của thân thuở xưa nên mặc cho sự chuyển vần đến nơi đó, vì sự lợi ích mà đi xin ăn. Đó là hạnh của Như Lai.

Năm là, thân của Như Lai không có đói khát, cũng không tướng yếu đuối mệt mỏi tiện lợi (?), tuy đi xin nhận lấy mà không có sự ăn uống, cũng không phân biệt. Nhưng vì mặc cho chuyển vần lợi ích hữu tình mà thị hiện có tướng ăn. Đó là hạnh của Như Lai.

Sáu là, Phật không có ý niệm này : “Những chúng sinh này có thượng, trung, hạ, tùy theo căn cơ, tính khí của họ mà vì họ nói pháp”. Nhưng Phật Thế Tôn không có phân biệt mà tùy theo khí lượng (lượng đồ chứa) của họ mà giỏi ứng theo cơ duyên, vì họ nói pháp. Đó là hạnh của Như Lai.

Bảy là, Phật không có ý niệm này : “Loài hữu tình này chẳng cung kính ta, thường đối với ta phát ra lời trách mắng, chẳng thể cùng với họ ngôn luận chung. Loài hữu tình kia cung kính ta, thường đối với ta chung nhau khen ngợi. Ta sẽ cùng với họ nói lời nói chung”. Nhưng mà Như Lai dấy lòng từ bi bình đẳng không hai. Đó là hạnh của Như Lai.

Tám là, các đức Phật Như Lai không có yêu ghét, kiêu mạn, tham tiếc và các phiền não. Nhưng mà Như Lai thường ưa tịch tịnh, khen ngợi thiểu dục, lìa khỏi các huyên náo. Đó là hạnh của Như Lai.

Chín là, Như Lai không có một pháp nào chẳng biết, chẳng giỏi thông đạt, đối với tất cả chỗ, gương soi trí hiện tiền không có phân biệt. Nhưng mà Như Lai thấy sự tạo tác sự nghiệp của những hữu tình kia, rồi tùy theo ý của họ, chuyển phương tiện dẫn dụ khiến cho họ được ra khỏi. Đó là hạnh của Như Lai.

Mười là, Như Lai nếu khi thấy một phần hữu tình được giàu thịnh chẳng sinh hoan hỷ, thấy họ suy tổn chẳng khởi lo buồn. Nhưng mà Như Lai thấy những hữu tình kia tu tập Chánh hạnh thì vô ngại đại từ tự nhiên cứu nhiếp. Nếu thấy hữu tình tu tập tà hạnh thì vô ngại đại bi tự nhiên cứu nhiếp. Đó là hạnh của Như Lai.

Này thiện nam tử ! Như vậy phải biết rằng, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nói có như vậy vô biên Chánh hạnh. Các ông phải biết, đó gọi là tướng Niết Bàn chân thật. Hoặc khi thấy có Bát Niết Bàn thì đó là phương tiện quyền biến và lưu lại xá lợi khiến cho các hữu tình cung kính cúng dường đều là lực thiện căn từ bi của Như Lai. Nếu người cúng dường thì ở đời vị lai lìa xa tám nạn gặp gỡ các đức Phật, gặp được thiện tri thức, chẳng mất thiện tâm, phước báo vô biên, mau chóng sẽ ra khỏi, chẳng bị sự trói buộc của sinh tử. Những diệu hạnh như vậy, các ông phải siêng năng tu hành, chớ nên buông lung !

Lúc bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng nghe đức Phật thân thiết nói chẳng Bát Niết Bàn và hạnh thậm thâm mà chắp tay cung kính bạch rằng :

– Con nay mới biết Như Lai đại sư chẳng Bát Niết Bàn và lưu lại xá lợi khắp lợi ích cho chúng sinh thì thân tâm vui sướng, khen chưa từng có !

Khi nói phẩm Thọ Lượng của Như Lai này thì vô lượng vô số, vô biên chúng sinh đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bốn đức Như Lai bỗng nhiên biến mất. Bồ tát Diệu Tràng làm lễ dưới chân đức Phật rồi, đứng dậy mà đi trở về chỗ cũ của ông ấy.