Kinh La Ma Già

Tây Tần Thánh Kiên dịch

Bản Việt dịch của Thích Nữ Như Phúc

***

QUYỂN THƯỢNG

Như vầy tôi nghe:

Một thời đức Phật ngự tại vườn Cấp Cô Độc, rừng Kỳ-Đà, nước Xá Vệ, lầu gác trang nghiêm, giảng đường Thiện Thắng. Cùng với Đại Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, có các Bồ tát vị Bồ tát: Quang Minh Tràng, Tu Di Sơn Tràng, Bảo Tràng, Vô Ngại Tràng, Hoa Tràng, Tịnh Tràng, Nhật Quang Tràng, Tịnh Chánh Tràng, Ly Trần Tràng, Thế Tịnh Tràng, Địa Oai Đức Tràng, Bảo Oai Đức, Đại Oai Đức, Kim Cang Trí Oai Đức, Tịnh Oai Đức, Pháp Nhật Oai Đức, Công Đức Sơn Oai Đức, Trí Diễn Oai Đức, Phổ Hiện Thắng Oai Đức, Trì Địa Tạng, Hư Không Tạng, Liên Hoa Tạng, Bảo Tạng, Nhật Tạng, Công Đức Tịnh Tạng, Pháp Ấn Tạng, Thế Tịnh Tạng, Bất Kiêu Mạn, Liên Hoa Thắng Tạng, Thiện Tịnh Nhãn, Thanh Tịnh Nhãn, Tịnh Nhãn Tạng, Vô Trước Nhãn, Phổ Tập Nhãn, Thiện Quán Nhãn, Ưu Bát La Hoa Nhãn, Kim Cang Nhãn, Bảo Nhãn, Hư Không Nhãn, Thiên Nhãn, Phổ Nhãn, Thiên Quan, Pháp giới Diễn Trí Thiên Quang, Đạo Tràng Thiên Quan, Chiên Đàn Quan Thiên Quan, Phật Tạng Thiên Quan, Sơn Dõng Thiên Quan, Thế Tịnh Thiên Quan, Oai Nghi Thiên Quan, Vô Năng Thắng, Chư Phật Sư Tử Tòa Phú Quán, Phổ Pháp Giới Hư Không Quang Quán, Phạm Thắng Phát, Long Thắng Kế, Phật Biến Hóa Diễm Kế, Nhất Thiết Nguyện Hải Ma Ni Kế, Như Lai Viên Quang Thù Kế, Hư Không Đường Châu Bảo Kế, Như Lai Du Hý Châu Vương Võng Kế, Như Lai Pháp Luân Hương Kế, Nhất Thiết Tam Thế Hương Kế, Đại Quang, Ly Cấu Quang, Bảo Quang, Ty Trần Quang, Diễm Quang, Pháp Quang, Tịch Quang, Nhật Quang, Du Hý Quang, Thiên Quang, Công Đức Tướng Quang, Trí Tướng Diễm, Pháp Tướng Diễm, Thần Thông Diễm Tướng, Quang Diễm Tướng, Hoa Tướng Diễm, Châu Tướng Diễm, Bồ Đề Diễm Tướng, Phạm Tướng Diễm, Phổ Quang Diễm Tướng, Phạm Âm, Hải Âm, Biện Tài Âm, Thế Vương Âm, Sơn Tướng Kích Âm, Nhất Thiết Pháp Giới Phổ Âm, Nhất Thiết Pháp Hải Lôi Âm, Điều Phục Ma Giới Âm, Đại Bi Vân Lôi Âm, Nhất Thiết Thế Gian Tịch Âm, Pháp Giới Tuệ, Trí Dõng, Công Đức Tu Di Dõng, Công Đức Nha Dõng, Xưng Dõng, Phổ Diễm Dõng, Đại từ Dõng, Trí Hải Dõng, Như Lai Chủng Tánh Dõng, Quang Thắng, Diệu Thắng, Dõng Thắng, Thế Tịnh Thắng, Pháp Thắng, Nguyệt Thắng, Hư Không Thắng, Bảo Thắng, Tịnh Thắng, Trí Thắng, Thọ Vương Ấn Thắng, Pháp Vương An, Sơn Vương An, Châu Vương An, Long Vương An, Tịch Vương An, Bất Động Vương An, Tiên Nhân Hiền Lực Vương An, Thắng Vương An, Tịch Hương, Vô Cực Hương, Địa Hương Âm, Hải Lôi Hương Âm, Pháp Phong Hương Âm, Hư Không Hương Âm, Chúng Sanh Công Đức Hương Âm, Chúng Sanh Thiện Căn Hương Âm, Ma Giới Hương Âm, Trí Sơn Quang, Hư Không Ý, Tịnh Ý, Vô Trước Ý, Giác Ngộ Ý, Tam Thế Diễm Ý, Quang Ý, Phổ Minh Ý, Pháp Giới Diễm Ý, các đại Bồ tát này có đủ năm trăm vị.

Tất cả các vị Bồ tát này cùng tu hạnh Phổ Hiền và đều đầy đủ cảnh giới vô trước. Các ngài hiện khắp mười phương vô lượng cõi Phật, thân nhiều vô cực, ở khắp trong chúng hội chư Phật, từ lâu tu tập nơi cõi Tịnh Nhãn Vô Ngại, tâm không ngưng nghỉ, tích tụ khắp tất cả công đức chư Phật, nhất định thấu triệt nơi con đường giác ngộ, kết tụ vô lượng ánh sáng, trí thâm nhập tất cả pháp như biển, thường hành không vướng mắc, không chỗ thọ. Tâm được tuệ lớn, thân trường thọ vô lượng vô số kiếp, tứ biện tài không cùng tận, trí tuệ như hư không, không nương tựa, không một chút đắm trước. Tùy theo những gì chúng sanh ưa thích, như ý họ mà hiện sắc thân. Mắt tịnh trong suốt không chướng ngại, như mặt trời trong hư không, nơi tất cả pháp giới đều sáng suốt sung mãn.

Lại có năm trăm Thanh văn đã thông đạt Tứ đế từ lâu, thấy rõ căn tánh vô phân biệt, thâm nhập pháp tánh, lìa xa biển sanh tử, tùy thuận chúng Thánh đệ tử của đức Như Lai. Tâm được giải thoát đối với các kiết sử. Ở trong biển Phật pháp tâm không nghi hoặc, cùng vô số chư thiên vương tập họp và đã trồng các cội phước đức nơi chư Phật trước. Các ngài khắp vì các chúng sanh luôn làm người bạn thân thiết. Đã từ lâu thọ giới, tâm đầy đủ các công đức, siêu việt hơn cả trời người nhưng tâm không cao ngạo, tất cả phiền não đều đã chấm dứt. Tâm và trí giải thoát như hư không. Đối với pháp Phật không còn nghi ngờ và thâm nhập biển trí tuệ chư Phật. Tùy thuận oai nghi của các bậc Thánh Như Lai, thực hành lời dạy của chư Phật để thành tựu chúng sanh, ủng hộ hạt giống Phật pháp để không đoạn tuyệt. Nhờ căn lành này mà Bồ tát thường sanh vào ngôi nhà Phật pháp, đạt được trí tuệ và pháp môn chân thật.

Bấy giờ chư Bồ tát, đại chúng Thanh văn, chư thiên, ma, phạm và các thần tiên, mỗi vị cùng bà con quyến thuộc cung kính vây quanh, cảm kích suy nghĩ: nghĩ đến công hạnh đức Như Lai, nghĩ cảnh giới Phật, nghĩ sự biến hóa thần thông tự tại của Phật, nghĩ sự trì niệm Như Lai lực của Như Lai, nghĩ sự vô úy của Như Lai, nghĩ chỗ trú của Như Lai, nghĩ thiền định Như Lai, nghĩ nơi công đức thù thắng vi diệu Như Lai, nghĩ thân Như Lai, nghĩ trí tuệ vô bờ bến của Như Lai mà tất cả trời người không thể đo lường, không thể phân biệt, không thể phô bày, không thể dùng kiến thức để biết, không thể nói bằng lời, cũng không thể nói rõ ràng như thật. Ngoại trừ trì lực của Phật, năng lực tự tại của Phật, năng lực trí tuệ của Phật, năng lực biện tài của Phật, năng lực oai thần của Phật, năng lực tam muội của Phật, năng lực thần thông của Phật, năng lực bổn nguyện của Phật, năng lực căn lành quá khứ, năng lực thân cận thiện tri thức, năng lực tín tâm thanh tịnh, năng lực trụ phương tiện, năng lực ưa cầu căn lành thanh tịnh thù thắng vi diệu, năng lực tâm chánh trực giác ngộ sâu xa, nguyện lực nhất thiết trí.

Thế nên đức Thế tôn biết rõ những điều chúng sanh mong muốn, những niềm tin, những sự hiểu biết của họ mà tâm vẫn nhất như. Đức Thế tôn dùng âm thanh vô trước thức tỉnh tất cả biết đạo, nói đạo. Ngài khéo nói các địa vị và các công hạnh, các căn, những hạng người, những kính tin, những giải ngộ, những suy tư và biết cảnh giới bậc nhất thiết trí.

Ai ai cũng tư duy về công đức của Như Lai, cảm nguyện nói:

– Xưa kia, khi đức Như Lai còn là Bồ tát, hạnh nguyện thiện nghiệp. Ban đầu khi mới tu tập nhất thiết trí nguyện thù thắng ba la mật, thị hiện các thần thông và địa vị Bồ tát, trang nghiêm phương tiện, các âm hưởng siêu tuyệt, trang nghiêm hạnh Bồ tát, sanh ra biển mãn túc, trang nghiêm Bồ đề môn của Bồ tát. Thị hiện con đường tự tại của Bồ tát, sanh ra biển trang nghiêm Bồ tát, trang nghiêm Như Lai du hý thần thông, trang nghiêm Như Lai tự tại pháp luân, trang nghiêm Như Lai sát hai, trang nghiêm Như Lai hiện khắp mười phương điều phục chúng sanh mà không hiện thân tâm. Trụ nơi thành chánh pháp của chư Như Lai, công đức thù thắng siêu việt, thị hiện rộng khắp các đạo. Như Lai pháp vương vì tất cả chúng sanh thị hiện các nẻo, dùng sức thần thông tự tại chiếu khắp ánh sáng thanh tịnh. Như Lai là ruộng phước tối thượng của tất cả chúng sanh. Như Lai vì tất cả chúng sanh nói công đức bố thí tam-luân và giáo hóa tất cả muôn loài. Cúi xin đức Như Lai thương xót chúng sanh mà hiển hiện đầy đủ.

Bấy giờ đức Thế tôn biết tâm niệm của chư Bồ tát nên dùng thân đại bi, môn đại bi, tâm đại bi, tâm đại bi, bổn nguyện lực đại bi, tùy thuận đại bi rộng lớn như pháp tánh, cứu cánh như hư không, nhập Sư tử vương Phấn tấn tam muội. Vì Ngài muốn làm cho tất cả chúng sanh vui thích pháp thanh tịnh.

Khi ấy nơi rừng Kỳ-Đà, các lầu gác giảng đường bỗng nhiên sáng rực rỡ, nghiêm tịnh tỏa chiếu khắp nơi như trang nghiêm đất ấy. Kim Cang cõi Phạm thiên xen lẫn ngọc quý và các trân bảo trang hoàng tốt đẹp, mưa ngọc như ý và các hoa thơm đẹp, ánh sáng xuyên suốt tong ngoài cả khu rừng Kỳ-Đà. Có cây lưu ly thân cành hoa quả được tạo thành bởi các báu. Ánh sáng muôn màu quay vòng trở lại giữa khu rừng. Ngọc quý xinh đẹp dùng làm màn lưới đan kín với vàng Diêm phù đàn và giăng khắp bầu trời, che kín phía trên. Lại dùng những châu báu đặc sắc nhất để trang nghiêm lầu gác. Ngọc ma-ni sáng rực rỡ làm trụ và ánh sáng chiếu thẳng xuyên suốt cả vườn rừng. Cửa vàng, rèm ngọc, lan can trân bảo, bốn phía đường đi do các châu báu tạo thành. Ở riềm nhà chạy dọc hàng hiên cũng tỏa sáng và được trang trí bằng những hoa xinh đẹp kỳ diệu bằng ma-ni bảo vương. Những giải lụa, tràng phan, bảo cái đầy khắp cõi hư không. Nơi phía trước cửa sổ có cây báu hóa sanh, giống như rừng cây Sa-la thẳng tắp tự nhiên, quả như linh báu phát ra các âm thanh vi diệu. Dưới gốc cây chảy ra dòng nước lưu ly thơm dịu, trong mát, lượn lờ chảy quanh tinh xá Kỳ Hoàn.

Nhờ thần lực Phật, thần lực bổn nguyện mà mười phương thế giới số nhiều như bụi không thể nghĩ bàn, vô số cõi Phật thanh tịnh, vô lượng vô số đầy đủ những sự cúng dường đều hiện khắp nơi rừng Kỳ-Đà.

Lại có sông Công Đức Hương, nước trong chảy vòng ven bờ cả nước. Có vô lượng hoa báu sanh ra theo dòng nước không thể cùng tận. Hoa nước có âm thanh đều nói hạnh Bồ tát báo ứng, cây hoa nở sum suê tỏa hương mây phủ. Trong những lọng hương có rất nhiều không thể nghĩ bàn những lầu gác mây, có vô số không thể nghĩ bàn những vòng hoa anh lạc đều thòng rủ xuống, vô số ngọc ma ni báu tự nhiên tuôn ra. Y phục mềm mịn và các tràng phan báu, tràng phan bảo cái khói hương đều đầy đủ.

Có vô số những đài hoa báu như mây xoay vòng trong hư không. Tất cả những tràng phan và các lọng hoa, những tràng linh báu đều phát ra âm thanh vi diệu diễn nói tất cả danh hiệu chư Phật, hiển hiện tướng pháp luân thanh tịnh.

Còn có Sư tử Như Ý Châu Vương với âm thanh như biển rộng, giảng bổn nguyện hải môn của chư Phật. Tất cả pháp giới ma ni bao vương tướng pháp chói sáng để làm trang nghiêm.

Khi ấy nơi rừng Kỳ-Đà, trên không trung có bất khả tư nghì vô số các mây cây thơm. Biết bao nhiêu sự cúng dường đầy đủ như vậy, và các cõi Phật, các việc trang nghiêm nhiều vô lượng vô biên không thể nói hết.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử từ cõi nước phương Đông cầu thiện tri thức, dần dần đi đến cõi nước phương Nam và chuyển đến phương Tây, trông thấy trưởng giả Thiện Thắng nơi thành Khuất Đầu Ma. Muốn đến thành kia, Thiện Tài đồng tử vừa lặn lội trên đường đi đến thành, vừa chánh định tư duy trong hiện tại, tâm không phân tán, luôn an trú nơi nhất tâm thiền định. Tuy đang đi, Thiện Tài vẫn yêu thích chánh pháp, tâm không hối hận, không lui sụt, vẫn dõng mãnh tiến bước và không sợ con đường hiểm nạn. Luôn nghĩ đến thiện tri thức, tu đạo chánh giác. Vì đạt đạo an lạc nên thiện tâm không cùng tận.

Giữa đường, Thiện Tài suy nghĩ: “Ta phải làm thế nào để đạt được cảnh giới thù thắng? Bây giờ ta phải làm sao để chóng đến chỗ thiện tri thức, để hỏi đạo Bồ tát và hạnh tu Bồ tát. Đối với thiện tri thức làm nhân duyên Phật đạo, được các ba la mật thu nhiếp khắp tất cả, xa lìa các chướng ngại, vào pháp giới vô trước. Khắp vì tất cả chúng sanh đoạn những nghiệp ác đạo để trừ bỏ tâm ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng. Diệt trừ tất cả bụi bặm phiền não, phá dẹp tất cả các lưới kiến chấp, hoàn thành mũi tên toàn thiện, đem cung từ bi để bảo vệ chánh pháp, thành tựu nhân quả. Vì sao? – Nếu được gặp thiện tri thức, chắc chắn được thành tựu các công đức thiện. Thiện tri thức có khả năng là nhất thiết trí làm nền tảng vững chắc, thân tâm chánh định, nhan sắc không thay đổi. Cầu thiện tri thức oai nghi khả kính, không có tướng hung bạo”.

Dần dần Thiện Tài đi đến thành Khuất Đầu Ma, thấy trưởng giả Thiện Thắng ở nơi lầu giảng đường thành kia. Đến nơi, Thiện Tài thấy mình như người lội trong biển rộng, không thấy đâu bờ bến. Có trăm ngàn vạn ức các đại trưởng giả vây quanh, tất cả đều hoan hỷ ở hai bên trưởng giả Thiện Thắng, mỗi người đều ưa muốn nghe các pháp. Như người hoa tiêu vì những người khách buôn mà nói về những nơi có châu báu trong biển, trưởng giả Thiện Thắng có tài phân biệt châu báu trong biển Phật pháp và vì chúng sanh thuyết vô sở trước, vô sở phân biệt.

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử cúi đầu kính lễ thưa:

– Bạch đại thánh! Từ lâu tôi đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng không biết thế nào là hành đạo Bồ tát, tu hạnh Bồ tát.

Trưởng giả Thiện Thắng bảo Thiện Tài:

– Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Người đã phát tâm Bồ đề nên mới có thể khéo hỏi về kho báu đại trí tuệ để đạt pháp nghĩa sâu xa này, để đạt tận tất cả hạt giống khổ não nghi hoặc. Bây giờ đồng tử hỏi tôi để đến bờ nhất thiết trí, vì không có tâm phá hoại, hướng thẳng đại thừa, làm cho xa lìa tất cả sự sợ hãi nơi địa vị Thanh văn, Bích Chi Phật, thẳng nẻo Phật đạo, tu các pháp môn tam muội vắng lặng, khéo tu tất cả các hạnh Bồ tát. Nguyện du hý thần thông chuyển pháp luân bất thối, thanh tịnh các nghiệp đạo, nhanh chóng hồi hướng tâm nhất thiết trí. Đối với hạnh Bồ tát tu hành như thật, vì đạo Bồ tát nên đồng tử đến đây hỏi tôi. Người thực hành hạnh này thấy khắp mười phương có ngăn ngại, biết rõ nhất thiết trí và pháp môn đối trị. Vì trang nghiêm tất cả hạnh Bồ tát nên đến đây hỏi tôi.

Thiện nam tử! Tôi ở bờ biển nơi lầu giảng đường, tại thành Khuất Đầu Ma này, ngày đêm thường thuyết pháp môn đại từ đại bi Bồ tát tịnh hạnh.

Thiện nam tử! Tôi ở Diêm Phù Đề này thấy các chúng sanh nghèo khổ, chắc muốn nhiều sự lợi ích, sau đó tôi sẽ vì họ thuyết nghĩa KHÔNG sâu xa. Tùy theo sở nguyện của họ, tôi sẽ làm cho họ được đầy đủ. Hoặc dùng thực phẩm để giúp đỡ họ, hoặc dùng tài pháp để giúp đỡ họ, hoặc dùng nghiệp công đức để giúp đỡ họ, hoặc dùng trí tuệ để giúp đỡ họ, hoặc dùng nghiệp căn lành chánh trực để giúp đỡ họ. Nên đem căn Bồ tát để giúp đỡ, tức dùng căn Bồ tát để giúp đỡ họ. Nên đem phát tâm Bồ tát để giúp đỡ, tức dùng tâm Bồ tát để giúp đỡ họ. Hoặc nên đem sự từ bỏ nghi hoặc để phát tâm Bồ đề, tức dùng pháp từ bỏ nghi hoặc để giúp đỡ họ. Hoặc nên đem pháp hoan hỷ để phát tâm Bồ tát, tức dùng pháp hoan hỷ để giúp đỡ họ. Hoặc nên dùng đại bi phát tâm Bồ tát, tức dùng đại bi để giúp đỡ họ. Hoặc nên dùng pháp trừ sanh – lão – bệnh – tử – ưu bi khổ não, vô thường, định để phát tâm Bồ tát, tức dùng pháp khổ, không, vô thường để giúp đỡ họ.

Hoặc có chúng sanh nên đem tâm trụ nơi biển sanh tử không mệt mỏi, tức cùng ở nơi biển sanh tử để giúp đỡ họ. Hoặc có chúng sanh nên dùng Tứ nhiếp pháp phát tâm Bồ tát, tức dùng Tứ nhiếp pháp để giúp đỡ họ. Hoặc nên vì tuệ nhất thiết trí biển công đức mà phát tâm Bồ tát, tức dùng pháp tùy thuận biển trí tuệ công đức để giúp đỡ họ. Hoặc có chúng sanh nên dùng tất cả đối trị môn biển chánh pháp của chư Phật ba đời mà phát tâm Bồ tát, tức dùng biển chánh pháp chư Phật ba đời để giúp đỡ họ.

Thiện nam tử! Tôi dùng bao nhiêu pháp nhiếp thủ như vậy vì lợi ích cho chúng sanh, làm cho tất cả chúng sanh được pháp lợi lạc cho nên ở nơi bờ biển này.

Thiện nam tử! Tôi ở nơi bờ biển này biết khắp tất cả châu báu trong biển và chỗ sanh ra chúng. Biết cả nguồn gốc, tánh chất và giá trị quý hay tiện, cùng tướng trong sáng của châu báu. Biết ánh sáng báu, có thể phân biệt chính xác. Biết rõ tất cả công xảo kỹ thuật. Biết rõ các cung điện khác nhau của tất cả các rồng, rồng chúa và rồng con. Cũng có thể khéo diệt trừ các rồng ưa đánh nhau và có tướng ác đáng sợ. Biết rõ tất cả các thôn xóm, cung điện của La-sát chúa, có khả năng diệt trừ những La-sát đấu tranh, kiện tụng và mang đến sự sợ hãi. Khéo biết tất cả chỗ ở của những quỷ ly, mị, vọng, lượng và quỷ thần ác. Cũng có thể diệt trừ các nạn sóng biển vùi dập. Biết tất cả màu nước và những dòng chảy của suối nguồn. Có khả năng khéo xem biết thiên văn và những sự biến quái tai nạn khác. Lưu ý ngày đêm, không một khoảnh khắc nhỏ nào đánh mất tâm thường cứu độ. Phân minh rõ ràng không sai khác một mảy may. Biết giỏi những sách liệt kê toán số, chinh phục kẻ dưới, sử dụng tùy lúc. Biết rõ tất cả các tướng thay đổi không dừng trong từng sát-na, hoặc hợp hoặc tan, khéo biết tính toán các việc thế gian.

Thiện nam tử! Ông nay nên biết, tôi vì biết pháp môn Thập minh của tất cả chúng sanh này nên an trú thanh tịnh bên bờ biển, không sợ hãi và làm cho các chúng sanh kia đều được an ổn. Tôi thường dùng chánh pháp để an ủi, vỗ về họ.

Nếu trong Diêm Phù Đề có các thương gia buôn bán, muốn đến biển lớn tìm cầu trân bảo mà xưng tên tôi thì được rất nhiều trân bảo và an ổn may mắn trở về. Nếu có chúng sanh được nghe tên tôi thì những bụi bặm của thân tâm cho đến bụi bặm nơi y phục, vĩnh viễn được tiêu trừ, huống gì phiền não.

Nếu có chúng sanh mắt nhìn thấy tôi, thường được pháp hỷ vô thượng thanh tịnh, nghe pháp không chán, thân tâm vui vẻ an lạc nhờ được pháp này. Tôi thường khắp vì những nỗi khổ nội tâm của chúng sanh trong tất cả Diêm Phù Đề mà mưa trận mưa pháp lớn, làm cho họ được an vui.

Nếu có chúng sanh nghe tôi thuyết pháp ắt được an ổn vượt qua biển khổ sanh tử, thoát khỏi sự sợ hãi, chắc chắn được an vui nơi biển nhất thiết trí, vĩnh viễn xa lìa khát ái, không còn lo âu hoạn nạn, thường trụ nơi biển tam thế minh giải thoát.

Thiện nam tử! Ông nay nên biết, tôi có thể hòa nhập vào tất cả tâm chúng sanh và tâm tôi luôn hành đạo trong biển, làm cho chúng sanh kia tu nghiệp tịnh độ. Tôi biết khắp tất cả mười phương biển tịnh quốc, tùy ý vãng sanh, được nghiệp vô ngại. Tôi có thể trang nghiêm tất cả biển tịnh nghiệp căn, có thể thanh tịnh tất cả biển chúng sanh hạnh, làm cho họ được ở nơi biển nghỉ ngơi an lạc, vắng lặng, đại an.

Thiện nam tử! Tôi dùng sự biết đại từ bi và hỷ xả này để đối trị diệt tướng kích âm thanh pháp môn của Bồ tát Hỷ Tràng cùng chư đại Bồ tát, các ngài đã thành tựu vô lượng các công đức biển trí tuệ, khéo hay phân biệt tất cả biển thế giới hạnh, đoạn trừ tất cả biển nghiệp phiền não, thành tựu tất cả các biển pháp giới, bao gồm tất cả các chúng sanh và biển thế giới, nhập vào tất cả biển trí tuệ cao siêu, không bao giờ bỏ tất cả biển chúng sanh. Tâm ấy như đất, khéo hay tùy thuận tất cả biển chúng sanh, khắp vì giáo hóa tất cả biển chúng sanh, khéo tùy thuận biển oai nghi của tất cả chúng sanh. Chư đại Bồ tát hành pháp sâu xa như vậy, tôi phải làm thế nào để có thể biết, có thể nói về hạnh công đức kia?

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử cúi đầu đảnh lễ, nhiễu quanh trăm ngàn vòng rồi từ tạ trưởng giả Thiện Thắng, ra đi về hướng Tây.

Trưởng giả Thiện Thắng ngợi khen:

– Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử, ông hãy nên chánh niệm tư duy thiền định tam muội. Từ đây, đồng tử đi dần về phía Tây, hướng đến thành Danh Văn, qua khỏi thành này đi tiếp sẽ có nước tên Nan Nhẫn, thành tên Ca Lăng Đề. Cách thành này không xa có rừng Công Đức, trong khu rừng ấy có Tỳ kheo ni tên Sư Tử Phấn Tấn, thân màu vàng ròng, đoan nghiêm đệ nhất. Đồng tử hãy đến chỗ vị Tỳ kheo ni ấy để hỏi về hạnh Bồ tát, hỏi về giới Bồ tát, hỏi các pháp môn.

Khi ấy Thiện Tài đồng tử nhẹ nhàng dời bước, từ giã lui ra, dần dần đi đến rừng Công Đức, ven bờ suối Nhật Quang. Đồng tử thấy vị Tỳ kheo ni đang ngồi đoan nghiêm thiền định, có năm trăm đồng nữ tướng mạo xinh đẹp làm thị giả, và có năm trăm đồng tử bảo vệ các đồng nữ kia, cùng trăm ngàn thiên nữ đứng hầu hai bên.

Bên bờ suối Nhật Quang có một vườn cây tên Vương Viên. Vào trong vườn này thấy có một đại thọ tên Nhật Nguyệt Quang, phóng ra ánh sáng chiếu tỏa hàng trăm do-tuần để trang nghiêm vườn cây, hóa thành lầu gác trang trí bằng bảy báu, trên có ánh sáng.

Lại thấy cây đại thọ tên Phổ Quang Minh, cành lá nâng cao phủ khắp ba ngàn đại thiên thế giới, hình dáng như cây lọng, chảy ra các dòng nước có ánh sáng thanh tịnh.

Lại thấy rừng báu tên Hoa Tạng, cây vươn cao vô cực, hoa nở như thiên thọ vương, có ánh sáng rực rỡ như cung điện trời, màu trắng muốt đẹp như núi tuyết.

Lại thấy cây đại thọ tên Mỹ Vị, hoa vàng, quả vàng, hương thơm êm dịu, rất thích hợp lòng người.

Lại thấy một cây tên Thế Tịnh Quang, màu cây sáng chói, vô lượng vô biên ngọc chiên đàn dùng làm trái cây. Có A tăng kỳ các lưới ngọc đan nhau, lưới phủ trên cây giống như cung điện trời.

Lại thấy một cây tên Thiên Y, thường xuất vô lượng A tăng kỳ vô số các y phục báu.

Lại thấy các cây tên Âm nhạc, cành lá va chạm nhau phát ra tiếng du dương như Phạm âm.

Lại thấy các cây tên Phổ Hương Trang Nghiêm, mùi hương thấm nhuần khắp nơi không có chướng ngại.

Trong vườn rừng lại thấy ao, suối, lưới sáng bảy báu che phủ lên trên. Bốn phía ao có bốn dòng kênh, chia làm tám chi liên tục rót vào tám thứ nước công đức trong suốt tràn đầy. Bùn dưới đáy ao bằng bột ngưu đầu chiên đàn, các châu báu trang nghiêm, cát bằng hoàng kim, phun lên nước thơm này. Tiếng suối reo như nhạc trời làm vui đẹp lòng chúng sanh. Các châu báu được dùng làm lan can. Bên bờ ao được trải cát vàng, thường phóng ra các thứ ánh sáng muôn màu lấp lánh. Hoa sen trắng, hoa sen vàng, hoa sen đỏ, hoa sen xanh chen nhau đua nở trên mặt nước. Có các cây báu thành hàng thẳng tắp trang hoàng chung quanh bờ ao, dưới mỗi cây này có tòa sư tử trải vô lượng châu báu, vô lượng y trời. Những trân bảo quý đẹp dùng làm đồ trang sức, đốt hương vô giá xông tòa sư tử. Các màn, trướng thơm, trắng sạch tươi sáng, lưới báu phủ lên trên, rủ xuống những phong linh vàng phát ra tiếng hòa diệu.

Lại có vô lượng những giường, màn báu chung quanh tòa cao, dưới mỗi một gốc cây cũng lại như vậy.

Ở giữa những cây đại thọ có vô lượng tòa sư tử liên hoa bảo tàng. Lại ở giữa cây có tòa chúng hương tàng. Và ở giữa cây có các thứ tòa hương vân tàng. Và ở giữa cây có tòa sư tử bảo tụ tàng. Và ở giữa cây có tòa nhất thiết thế gian phổ quang ma ni thanh tịnh tàng. Và ở giữa cây có tòa nhạo kiến sư tử bảo tàng. Vô lượng hương vi diệu dùng làm tọa cụ. Nơi những tòa báu này, mỗi một tòa đều có vô lượng trăm ngàn những sàn tòa nhỏ để chung quanh. Mỗi một tòa nhỏ dùng vô lượng châu báu để trang nghiêm. Trên mỗi một tòa có vô lượng ngọc quý đầy đủ tất cả như đại bảo châu. Dưới mỗi một tòa có ánh sáng thù thắng chiếu khắp Vương Viên và rừng Nhật Quang. Trong ánh sáng ấy, mưa y báu và những vàng bạc châu báu mềm mại khả ái dùng để trải trên mặt đất. Ví như biển lớn đều đầy đủ các trân bảo.

Nơi suối Nhật Quang này có nước thơm Chiên-đàn, bước nhẹ thì gót chân lún xuống tùy theo sự vận chuyển của chân. Khi nhấc chân lên, nó trở lại hoàn toàn như cũ. Ở trong ao có nhiều loại chim đẹp như: chim hồng, chim nhạn, uyên ương, chim thúy, khổng tước. Mỗi loại chim tự quay lại nhìn bóng mình trong nước để cùng hót lên âm thanh êm dịu, hài hòa. Chúng bay lượn trong không trung và tụ tập nơi rừng chiên đàn, tại rừng Vương Viên này.

Nước suối Nhật Quang sanh ra vô tận loại hoa thanh tịnh có hương thơm vô giá. Tung những loại hoa này lên không gian, nó vượt xa hơn ao rừng Hỷ Kiến của trời Đế Thích. Cây báu, phong linh báu, cành lá hoa quả không đánh tự kêu, phát ra âm thanh tuyệt diệu. Có các thiên nữ đoan trang xinh đẹp như hoàng hậu trời Tự Tại. Rừng Vương Viên này sáng tỏ gấp bội, vượt hơn các cung trời. Các thiên nữ này trỗi nhạc, ca hát vang khắp Vương Viên, làm hoan hỷ tất cả các vị trời và ở giữa cây có những y phục trổ ra.

Ở bốn bên rừng có Tứ Thiên Vương, tất cả đều là đại quyền Bồ tát thống lãnh bốn binh chủng để làm bảo vệ. Các loại lâu đài, lọng hoa, gấm trời và các cung điện, nhà cửa cũng có binh chúng để bảo vệ mọi người và vườn này trang nghiêm giống như vườn Hoan Hỷ xinh đẹp rực rỡ của trời Đế Thích. Khắp nơi đều sạch đẹp, nhìn mãi không chán, hơn là giảng đường Thiện Tịnh Trang Nghiêm của trời Đại Phạm. Với quả báo của trời người trong ba cõi không thể sánh bằng. Vô lượng Phạm vương với mắt sáng suốt do quả báo thanh tịnh cũng không thể thấy hết rừng Công Đức và suối Nhật Quang này. Giả sử tập hợp cả trăm ngàn Phạm cung cũng không sánh bằng rừng và suối kia được. Vì nó xinh đẹp kỳ diệu không thể nói hết.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử thấy biết bao ánh sáng vi diệu trang nghiêm vườn rừng này, đều là bổn nghiệp tịnh hạnh của Bồ tát. Công đức chân thật này là sự thành tựu của nguyện lực và căn lành, siêu tuyệt quả báo tam giới thế gian. Bất khả tư nghì A tăng kỳ kiếp, Bồ tát đã ở nơi chư Như Lai trồng các cội công đức, không đắm trước thế gian, xa lìa đoàn thực cũng như nhà ảo thuật thấy các sắc tượng. Tu tất cả những nghiệp thanh tịnh, không đắm trước nơi hạnh thù thắng, không ai có thể phá hoại được.

Tỳ kheo ni Sư Tử Phấn Tấn là người hiểu rõ các pháp tánh, tướng như huyễn hóa, vốn tu công đức, trưởng dưỡng căn lành, thành tựu ngũ lực mà không có chỗ đắm trước.

Rừng Vương Viên này rộng mênh mông và trang nghiêm thanh tịnh, có thể dung chứa tất cả trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ca lâu la, Ma hầu la già, người và chẳng phải người… trong khắp tam thiên đại thiên thế giới, tất cả đều vân tập vào Vương Viên này mà vẫn không chật chội. Vì sao? – Vì tất cả đều nhờ sức oai thần của Tỳ kheo ni Sư Tử Phấn Tấn. Bất khả tư nghì thần thông biến hóa đều từ bổn nguyện của Bồ tát phát sanh.

Thiện Tài đồng tử thấy tất cả những tòa sư tử dưới các cây báu, trên mỗi một tòa có một Tỳ kheo ni tên Sư Tử Phấn Tấn đoan nghiêm thù thắng vi diệu, oai nghi đỉnh đạc, tâm lành vắng lặng, điều phục các căn như đại long tượng, như ngọc như-ý làm vừa lòng tất cả các ước nguyện, tâm không vướng mắc như hoa sen, như sư tử chúa oai hùng chinh phục muôn thú. Vì an trụ bất động nên được giới vô tướng. Tâm ấy thanh tịnh tiêu trừ phiền não cũng như mùi hương hạng nhất có thể diệt hết những mùi hôi. Như đại Dược vương và những thuốc tốt nhất chữa trị được các căn bệnh. Như vua lương dược, người có thiện tâm được gặp có thể trừ được các bệnh, ngược lại, người bất thiện gặp thuốc hay trở thành độc hại. Đại Bồ tát cũng lại như vậy, vì người có duyên hay vô duyên thuyết pháp vi diệu. Người có duyên thấy thân ta, nghe tiếng ta liền được vô ngại đà la ni, còn chúng sanh vô duyên thì tăng thêm hạnh ác, chúng sanh vô ký thì được thiện tâm như trời Ba Lâu Na trang nghiêm vi diệu, ban bố khắp thế gian đều được thanh tịnh, trưởng dưỡng căn lành như ruộng phước tốt.

Thiện Tài đồng tử thấy những đại chúng trên tòa này như là trời Tịnh Cư và quyến thuộc vây quanh, thấy trời Ma Hê Thủ La và quyến thuộc vây quanh. Những thiên chúng này nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni Sư Tử Phấn Tấn mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni vì các chúng trời Tịnh Cư và chúng trời Ma Hê Thủ La mà thuyết pháp môn vô tận, pháp hạnh vô thọ.

Và thấy nơi tòa này có Dục Lạc thiên tử cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chiêm ngưỡng, nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Phổ minh Âm thanh danh văn thanh tịnh. Và thấy nơi tòa này Tự Tại thiên vương, thiên tử, thiên nữ, quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni kia mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni vì chúng trời Tự Tại thuyết pháp môn Bồ tát danh tự tại thanh tịnh. Và thầy nơi tòa này Hóa Lạc thiên vương, thiên tử, thiên nữ cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Nhất thiết pháp thanh tịnh trang nghiêm.

Và thấy nơi tòa này Đâu Suất thiên vương, thiên tử, thiên nữ cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn An lạc tâm tàng toàn phục tự tại vô ngại đà la ni.

Và thấy nơi tòa này Dạ Ma thiên vương cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Xuất sanh vô lượng thanh tịnh thắng diệu trang nghiêm.

Và thấy nơi tòa này Thích Đề Hoàn Nhân cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Bất tịnh nhẫn yểm ly vô thường khổ không vô ngã.

Và thấy nơi tòa này Giải Không Sa Già La long vương, Thập Quang Minh long vương… cùng quyến thuộc vây quanh. Nan Đà long vương, Bạt Nan Đà long vương… cùng quyến thuộc vây quanh. Ma Na Tư long vương, Y Na Bàn Na long vương, A Nậu Đạt Đa long vương… mỗi long vương lại cùng với long tử, long nữ và quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Nhất thiết cứu hộ thiện xảo phương tiện.

Và thấy nơi tòa này Đề Đầu Lại Tra thiên vương, Lãnh Càn Thát Bà… cùng bà con nam nữ lớn nhỏ nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Hoan hỷ vô tận.

Và thấy nơi tòa này Ma Hầu La Già, A tu la vương cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vì Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Pháp giới Trang nghiêm minh tuệ tốc tật.

Và thấy nơi tòa này Đại Thiên Thế Lực Ca Lầu La vương cùng với bà con nam nữ lớn nhỏ vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Độ sanh tử hải vô sở úy.

Và thấy nơi tòa này Thiện Âm Khẩn Na La vương cùng bà con nam nữ lớn nhỏ vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Bản hạnh thanh tịnh vô trước.

Và thấy nơi tòa này Kim Giác Vân Kết Ma Hầu La Già vương cùng với bà con nam nữ lớn nhỏ vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Chư Phật hoan hỷ phổ tập.

Và thấy nơi tòa này vô lượng nam nữ, đồng nam, đồng nữ cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Vô Thắng.

Và thấy nơi tòa này các La sát vương thường ăn tinh khí chúng sanh. Họ cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Phổ từ bi quán.

Và thấy nơi tòa này, tất cả chúng Thanh văn xuất gia đều vân tập đến đông đủ nơi hội chúng. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Trí tuệ quang minh thắng.

Và thấy nơi tòa này những chúng xuất gia thích pháp Duyên Giác đều đến nơi hội chúng đông đủ. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Tịnh minh Phật công đức.

Và thấy chúng xuất gia thích pháp Đại thừa, họ cùng hàng quyến thuộc vây quanh đến ngồi đông đủ nơi hội chúng. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Phổ môn trí tuệ quang minh tam muội.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát mới phát tâm cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Nhất thiết chư Phật đại nguyện tụ.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Nhị địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Hư không minh tinh la ma ca tam muội.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Tam địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Trang nghiêm tịch tĩnh.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Tứ địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Nhất thiết chủng trí thế lực cảnh giới.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Ngũ địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Phổ tập tinh hoa tạng.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Lục địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Xuất thế thanh tịnh tạng.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Thất địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Phổ y chỉ thanh tịnh địa tạng.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Bát địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Pháp giới Tỳ la ma già phổ biến pháp thân hóa hiện nhất thiết hư không cảnh giới.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Cửu địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Vô ngại vô trước thanh tịnh lực trang nghiêm.

Và thấy nơi tòa này Bồ tát Thập địa cùng hàng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho họ nghe pháp môn Viên mãn vô chướng ngại tịnh danh tam muội.

Và thấy nơi tòa này Kim Cang lực sĩ cùng quyến thuộc vây quanh, nhất tâm chăm chú nhìn vị Tỳ kheo ni mắt không tạm rời. Vị Tỳ kheo ni thuyết cho ho nghe pháp môn Trí tuệ trang nghiêm Na la diên Kim cang tướng tam muội.

Tất cả đại chúng như vậy, tất cả chúng sanh, tất cả các cảnh giới, những người có duyên được hóa độ cùng tất cả bà con của họ đã trồng căn lành, tùy theo những điều mong muốn, những sự thực hành những đạo quả và ưa thích nghe nhiều giáo pháp của các chúng sanh. Vì nuôi lớn căn lành, vì tăng trưởng căn lành, vì trang nghiêm căn lành, tùy theo chỗ thích ứng của họ mà Bồ tát khai thị, nói rõ tuệ giác vô thượng. Bồ tát chuyển bánh xe pháp bất thối chuyển, làm cho chúng sanh đạt bất thối chuyển. Vì sao? – Vì đây đều do vị Tỳ kheo ni Sư Tử Phấn Tấn thành tựu pháp môn Phổ Nhãn trí tuệ quang minh xả ly, thành tựu pháp môn Nhất thiết chư Phật pháp giới vô tướng thanh tịnh, pháp giới thông đạt vô ngại. Vị Tỳ kheo ni này thành tựu pháp môn Vô trước vô ngại thanh tịnh bí tàng, thành tựu pháp môn Viên mãn bất khả tư nghì tịnh tạng, thành tựu pháp môn Thanh tịnh phổ hỷ kiến tàng, thành tựu mười vạn ức không thể tính đếm Bát- nhã ba la mật, thành tựu Phổ nhãn Bát-nhã ba la mật, thành tựu tất cả pháp giới Phật không thể hoại Bát-nhã ba la mật.

Bên dòng suối Nhật Quang nơi rừng Vương Viên này, tất cả đại chúng đại Bồ tát… Từ lâu họ đều đã gieo trồng căn lành, có duyên được vị Tỳ kheo ni Sư tử Phấn Tấn thuyết pháp giáo hóa nên đạt đến đạo quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tâm họ hoàn toàn vắng lặng, đắc bất thối chuyển.

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử biết Tỳ kheo ni Sư Tử Phấn Tấn từ lâu xa đã thành tựu hết tất cả các pháp môn như vậy nên mới hiện khắp các sắc thân để tự trang nghiêm và làm cho dòng suối Nhật Quang, rừng Vương Viên, các cây báu và các tòa sư tử đều hiện những việc vô cùng hy hữu. Đầy đủ tất cả vườn rừng, đường kinh hành hay thiền định và những thứ cần dùng, vật báu, giường, màn… Đồng tử thấy các đại chúng và tất cả bà con của họ đều ngồi trong vườn rừng ấy. Nhờ thần lực công đức của Bồ tát nên đầy đủ tất cả, có tám thứ âm thanh để thuyết các pháp vi diệu.

Thiện Tài đồng tử thấy những sự thể vô cùng kỳ lạ, hy hữu không thể nghĩ bàn. Lại nghe tám thứ âm thanh vi diệu và nghe bất khả tư nghì âm thanh vi diệu thanh tịnh, ca ngợi tuyên dương vô lượng pháp môn pháp vân. Nhờ pháp môn này, Thiện Tài đồng tử thân tâm được thấm nhuần, êm dịu. Pháp môn này gọi là chánh pháp đối trị vô tỉ.

Đồng tử được pháp môn này rồi, thân tâm hoan hỷ, hoát nhiên đại ngộ, thành tựu tất cả các đại pháp môn, cung kính chắp tay nhiễu quanh trăm ngàn vòng rồi đến trước đảnh lễ. Trong khoảnh khắc chưa ngẩng đầu lên, đồng tử thấy vị Tỳ kheo ni đã biến khắp tất cả tòa báu sư tử, phóng vô lượng ánh sáng sắc vàng rực rỡ, tỏa chiếu khắp rừng Vương Viên và ngàn cây nội cỏ, giống như mây sáng. Thần lực ánh sáng này làm cho cây cỏ đều xoay tròn về bên phải vô số vòng. Rừng cây hàng hàng tiếp nối nhau phóng ánh sáng tỏa chiếu vị Tỳ kheo ni.

Thiện Tài đồng tử thấy những tướng trang nghiêm như vậy rồi đứng chắp tay cung kính và đi lùi lại qua một bên, thưa:

– Bạch đại thánh! Trước đây tôi đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cúi xin đại thánh từ bi thương xót chỉ dạy cho tôi. Tôi không biết thế nào là học hạnh Bồ tát, tu đạo Bồ tát. Cúi xin đại thánh giải nói cho tôi.

Vị Tỳ kheo ni bảo Thiện Tài:

– Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, ta biết pháp môn Nhất thiết chủng trí phổ năng khai hiện vô để này.

– Bạch đại thánh! Pháp môn Nhất thiết chủng trí vô để, thể tánh thế nào?

– Thiện nam tử! Đây là pháp môn tam thế đại thánh trí tuệ quang minh trang nghiêm.

– Bạch đại thánh! Pháp môn tam thế chư Phật trí tuệ quang minh trang nghiêm, cảnh giới thế nào?

– Thiện nam tử! Người nhập vào pháp môn này được thâm nhập hiện tiền phân biệt chánh thọ nhất thiết chư pháp bất sanh bất diệt bình đẳng pháp lâm trang nghiêm tam muội. Trụ vào tam muội này, tức được thần thông như ý tự tại. Từ Diêm Phù Đề này, thị hiện ở trời Đâu Suất và mười phương vô lượng thế giới như vi trần. Ở trời Đâu Suất cũng lại như vậy. Ở nơi mỗi mỗi chỗ của tất cả chư Phật kia, thị hiện thân nhiều vô lượng vô số. Từ nơi tự thân xuất hiện ra vô lượng vô số vi trần hóa thân biển cõi Phật, cung kính lễ bái, tu các nghiệp phước, và đem vô lượng vô số bất khả thuyết bất khả thuyết số nhiều như cát bụi những mây hoa nhiều màu sắc xen nhau. Bất khả thuyết bất khả thuyết mây anh lạc sắc màu xen lẫn. Bất khả thuyết bất khả thuyết vòng hoa báu sắc màu xen lẫn. Bất khả thuyết bất khả thuyết mây hương bột, hương xoa hợp lại. Bất khả thuyết bất khả thuyết mây tràng phan bảo cái hợp lại. Bất khả thuyết bất khả thuyết mây màn báu, lưới phủ báu nhiều sắc màu xen lẫn. Bất khả thuyết bất khả thuyết mây tòa báu đẹp. Trước mỗi một tòa, có bất khả thuyết bất khả thuyết mây đèn sáng trang nghiêm rực rỡ. Mỗi mỗi đèn sáng có những châu báu để trang trí thêm đẹp. Cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết mây trang nghiêm đầy đủ tất cả hợp lại để cúng dường đức Như Lai. Và đem bất khả thuyết bất khả thuyết mây nước hương hợp lại, từ trong mây nước hương sanh ra bất khả thuyết bất khả thuyết mây hoa sen báu. Từ những mây hoa sen báu sanh ra bất khả thuyết bất khả thuyết mây trang nghiêm anh lạc trời và đầy đủ những ánh sáng báu trang nghiêm. Cho đến mây đầy đủ vật cúng dường của tất cả chư thiên trời A-ca-nị-thác. Và từ nơi nước hương này sanh ra bất khả thuyết bất khả thuyết mây đầy đủ các vật cúng dường của Chuyển luân Thánh vương và các tiểu vương trong tất cả thế gian. Và từ nơi nước hương sanh ra bất khả thuyết bất khả thuyết thiên long bát bộ, cho đến tất cả bất khả thuyết bất khả thuyết mây vật dụng cúng dường để cúng dường đức Như Lai. Biến khắp tất cả chỗ, tất cả chư Bồ tát ở cung trời Đâu Suất hóa cỡi voi trắng giáng thần thai mẹ, đản sanh cung vua, xuất gia học đạo, đến cội Bồ đề, thành Chánh đẳng giác, chuyển pháp luân thanh tịnh rồi bay lên trời Đao Lợi vì mẫu hậu mà thuyết pháp. Bồ tát ở trên trời hay trong nhân gian biến hiện tự tại, cho đến nhập Niết-bàn đều ở chỗ các đức Phật trồng những cội đức, nhờ năng lực nhân duyên bản nguyện này cho nên hóa hiện sanh thân biến hóa khắp các nơi để cúng dường chư Phật. Các vật cúng dường cũng lại như vậy. Bao nhiêu vật dụng các thứ cúng dường này cũng duyên từ số kiếp lâu xa sức tu tập đại nguyện trang nghiêm pháp giới sanh ra.

Nếu có chúng sanh biết ta đã tu tập cúng dường như vậy, sẽ ở nơi Vô thượng chánh đẳng chánh giác được bất thối chuyển. Hoặc có chúng sanh đến chỗ của ta, ta sẽ vì họ thuyết Bát-nhã ba la mật, phân tích chỉ dạy để được lợi ích an vui.

Thiện nam tử nên biết! Ta thường không khởi tướng chúng sanh, không đắm trước tướng chúng sanh. Bởi vì chúng sanh không có tướng. Ta biết tất cả âm thanh ngôn ngữ nhưng không đắm trước âm thanh, vì âm thanh không có tánh và tướng. Ta thấy tất cả tướng đẹp chói sáng của chư Phật nhưng không đắm trước tướng đẹp ấy. Vì sao? – Vì ta biết rõ pháp thân thì không có sắc tướng. Ta thọ trì tất cả pháp luân của chư Phật nhưng cũng không đắm trước tướng pháp luân. Vì thân tâm ta hiểu rõ tướng và pháp tánh của các pháp là chân như và thật tế. Ở trong mỗi một niệm phổ biến tràn đầy khắp hư không pháp giới nhưng ta cũng không đắm trước tướng pháp giới, vì biết rõ tướng của tất cả các pháp như huyễn hóa.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Nhất thiết chủng trí phổ năng khai hiện vô để Bồ tát.

Thiện nam tử nên biết! Chư đại Bồ tát không đắm trước nơi tất cả cảnh giới Bồ tát và cứu cánh pháp giới. Các ngài có thể dùng một thân ngồi kiết già đầy khắp mười phương tất cả thế giới. Nơi tự nội thân đều có thể thị hiện những việc trang nghiêm tốt đẹp ở tất cả mười phương cõi nước chư Phật. Trong khoảng mỗi sát-na biến khắp mười phương đảnh lễ cúng dường chư Phật. Nơi tự nội thân đều có thể thị hiện nguyện lực biến hóa thần thông của tất cả chư Phật. Có thể dùng một sợi lông quấn hết các núi Tu Di khắp mười phương rồi nhấc lên đặt ở vô lượng thế giới phương khác. Nơi mỗi một lỗ chân lông hiện tướng kiếp thành hoại của mười phương tất cả thế giới. Trong một khoảng sát-na ở khắp mười phương bất khả thuyết bất khả thuyết nhiếp thọ chúng sanh, không bao giờ xả bỏ hạnh đầy đủ tất cả biển trí thẳm sâu của chư đại Bồ tát. Ta làm sao có thể biết và có thể nói nguyện lực công đức kia được.

Thiện nam tử! Từ đây đi về phương Nam có nước tên là Hiểm Nạn, thành tên Bảo Trang Nghiêm, ở trong thành đó có một người nữ tên Bà Tu Mật Đa. Ông đến đó để hỏi thế nào là học Bồ tát, hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử cúi đầu kính lễ Tỳ kheo ni Sư Tử Phấn Tấn, chiêm ngưỡng thật lâu, rồi từ biệt đi đến phương Nam.

Thiện Tài đồng tử được ánh sáng trí tuệ lớn để chiếu rọi tâm mình, nuôi lớn đầy đủ tất cả căn lành. Vì muốn đem giáo hóa các chúng sanh nên đồng tử nhất tâm tư duy thật tướng các pháp, kiến lập tạng Nhất thiết thanh tịnh pháp thủy ngữ ngôn đà la ni, rộng tu và thọ trì Nhất thiết pháp luân đà la ni. Thành tựu năng lực tư duy để chúng sanh trở về nương tựa nguyện lực đại bi tất cả thế gian. Phương tiện quán sát pháp môn Nhất thiết chủng trí sung mãn pháp giới tốc tật tư duy nhất thiết tịnh pháp nguyện phổ quán sát quang minh. Trang nghiêm các thông minh lực khắp mười phương đều được tràn đầy tất cả pháp giới. Cứu cánh thành tựu viên mãn các hạnh Bồ tát và các nghiệp Bồ tát, nguyện lực trọn vẹn, đủ các thần thông.

Dần dần Thiện Tài đi đến nước Hiểm Nạn, thành Bảo Trang Nghiêm, tìm kiếm hỏi thăm nữ tôn giả Bà Tu Mật Đa hiện đang ở đâu. Có những người trong thành này suy nghĩ: “Ta chưa hề nghe có người nữ nào ở đây có trí tuệ sâu xa, khéo thu nhiếp các căn và thân tâm vắng lặng. Nay đồng tử này oai nghi đỉnh đạc, tâm tư điềm đạm, điều phục các căn, xa lìa buông lung điên đảo vọng tưởng, tỉnh thức trong hiện tại, quán sát kỹ lưỡng rõ ràng, nói năng hòa nhã, không quan tâm hình sắc, chánh niệm tư duy pháp tướng sâu xa, không tỏ ra mỏi mệt biếng nhác, tâm như biển rộng. Đây chẳng phải là người nhiễm dục điên đảo, không có tư tưởng dục tình, không rơi vào sa lầy dục vọng, không lệ thuộc các căn, vượt hẳn cõi ma, không bị tất cả các ma ràng buộc. Đồng tử này đầy đủ các công đức như vậy, cớ sao vì sắc đẹp mà hỏi cô gái này làm chi? Trong thành này có rất nhiều người thậm chí chưa nghe danh người nữ đây, huống hồ là biết!”.

Có một người nói:

– Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, nay ông chắc đạt nhiều lợi ích mới có thể hỏi tôn giả Bà Tu Mật Đa này. Theo như ý ông hỏi, ắt trước đây ông đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, quyết định đối với tất cả chúng sanh chắc chắn có thể bẻ gãy mũi tên dâm – nộ – si, không ôm ý tưởng bất tịnh, không đắm trước bất tịnh, hiểu rõ tất cả những sự ràng buộc chấp trước. Thiện nam tử! Hiện tôn giả Bà Tu Mật Đa đang ở trên lầu Trang Nghiêm, trong vườn Hoan Hỷ, phía Bắc thành này. Thiện Tài đồng tử nghe người ấy nói xong, hoan hỷ phấn chấn, đi đến chỗ đó và đứng ở bên cổng vườn, chắp hai tay quán sát bên trong khu vườn. Đồng tử thấy cung điện, nhà cửa rộng rãi, sạch sẽ, trang nghiêm. Mười loại tường báu bao vòng chung quanh, mười hàng cây đa la quý được trồng thẳng tắp, mười loại hào báu có nước trong vắt, trong hào có đầy đủ tám nước công đức, có hoa sen xanh, hoa sen trắng, hoa sen đỏ, hoa sen vàng chen nhau đua nở tươi đẹp phủ đầy trên mặt nước. Đáy hào được rải cát vàng, hai bên bờ châu báu trang hoàng tráng lệ. Ánh sáng rực rỡ sắc màu xen nhau tỏa chiếu khắp vườn rừng. Lầu gác, cung điện báu thanh tịnh trang nghiêm. Cửa sổ màn gấm gió thoảng hương thơm làm vui lòng mọi người. Những mành lưới đan nhau như những vòng tròn hoặc nửa vòng tròn để trang hoàng cho đẹp. Có lực sĩ Kim Cang đứng trợn mắt giơ chày, những sư tử quý vẫy đuôi gầm hét, tráng sĩ vua thú đứng thành hàng hầu bên cổng. Bốn góc cung thành có trụ minh châu, những cửa khuyết phóng ra các thứ ánh sáng. Trời mưa hoa châu báu gom tụ lại đến đầu gối. Đất sạch lưu ly như treo trên hư không, có ngọc vương như ý lấp lánh dưới đất. Kênh ngòi bằng vàng ròng chảy dòng nước thơm đẹp, hoa sen hoàng kim nở tươi tốt trên kênh đó. Từ nơi đài hoa sen phun lên nước có âm thanh tuyệt diệu để diễn dịch phân tán dòng pháp âm nghe khắp mười phương. Có cây chuối sắc vàng phóng ánh sáng lớn, nơi nào cũng tích tụ châu báu nhiều bằng gò núi. Mây hương trầm thủy uyển chuyển quyện tỏa thành vòng, hương xoa, hương bột tỏa ngát khắp cung thành. Những loài chim khác nhau phát ra tiếng hót dịu êm. Màn trướng báu lớn rủ xuống những hoa vàng, linh báu ma ni xen lẫn thêm những ngọc báu khác. Màn lưới bằng vàng Diêm Phù Đàn giăng kín cung tường. Đốt trăm ngàn vạn ức hương báu vô giá, khói hương ngào ngạt đầy khắp hư không. Vô lượng chư thiên đứng hầu quanh thành hàng, âm nhạc cõi trời không đánh tự kêu. Những bình tốt đẹp đựng ngọc như ý từ đất vọt lên và mưa vô lượng mây hoa báu cõi trời, vô lượng mây hương báu cõi trời, vô lượng mây tràng phan bảo cái, vô lượng mây thiên y anh lạc, vô lượng mây âm nhạc âm thanh cõi trời. Các thứ mây vật dụng cúng dường như vậy, tất cả đều phóng vô lượng hào quang giăng khắp hư không, chiếu đến mười phương cõi. Vô lượng vạn ức kho tàng kim cang báu đầy ắp trong cung. Mỗi một vườn báu đều được chạm trỗ điêu khắc những hoa văn, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau xuyên suốt không bị trở ngại.

Lại có vô lượng mười loại vườn báu dùng để bao quanh, trân bảo tốt đẹp trang nghiêm vô cùng thanh tịnh. Tôn giả Bà Tu Mật Đa đoan chánh vi diệu, đẹp như hoa nở, đầy đủ tướng tốt, thân toàn sắc vàng ròng, không cao không thấp, không mập không gầy, mắt màu xanh biếc như hoa sen xanh. Mái tóc mượt mà, xanh đen mướt rất đẹp, uy nghi tề chỉnh, tiến thối đường hoàng. Tay chân tươi mát, có trăm ngàn căm xe. Thiên hạ sáu cõi dục không thể sánh được. Tiếng hay vượt xa phạm âm. Tôn giả hiểu rõ các ngôn ngữ, khéo biết công xảo, kỹ thuật của thế gian. Thâm đạt tất cả những căn bản luận và tướng luận nghĩa đều rốt ráo tường tận. Biết giỏi chữ nghĩa, khéo biện tài chánh trí, phương tiện thiện xảo như cảnh giới huyễn. Biết rõ pháp môn phương tiện của Bồ tát, biết rõ phương tiện pháp giới của Bồ tát. Đầy đủ các tướng tốt, thân trang nghiêm bằng anh lạc, mão bằng ma ni báu, phóng ánh sáng lớn, tâm vương minh châu dùng làm tràng hoa. Bản nguyện quyến thuộc đều vây quanh. Thành tựu công đức viên mãn không thể hoại diệt, đầy đủ kho báu công đức không cùng tận. Thân phát ra ánh sáng chiếu khắp tất cả. Đó là ánh sáng lợi ích, ánh sáng êm dịu, ánh sáng vui tươi, ánh sáng khai tâm, ánh sáng trang nghiêm đạo tâm Bồ tát. Bồ tát dùng ánh sáng này để nghiêm tịnh tâm tất cả chúng sanh. Nếu người nào gặp được ánh sáng đây sẽ được xa lìa ngũ dục, nhổ hết các gốc khổ.

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử đến gặp tôn giả Bà Tu Mật Đa, chắp tay thưa:

– Bạch đại thánh! Trước đây tôi đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng chưa biết thế nào là học hạnh Bồ tát, tu đạo Bồ tát?.

Tôn giả đáp:

– Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Nhất ức ly dục vô cấu cụ túc trang nghiêm Bồ tát.

Thiện nam tử! Nếu trời thấy ta thì ta ở khắp mọi nơi đeo chuỗi ngọc trời chiếu sáng để trang sức với thân thiên nữ.

Nếu người gặp ta, thì ta với thân hình đồng nữ trang sức bằng sắc đẹp tuyệt vời và từ tâm thanh tịnh.

Nếu phi nhân gặp ta, thì ta hiện thân phi nhân nữ xinh đẹp đặc biệt, ở khắp nơi của phi nhân.

Nếu có chúng sanh đến chỗ của ta mà sanh tâm dâm – giận – si, điều này không bao giờ có. Họ chỉ đạt chánh pháp vô thọ của Bồ tát, thường vì chúng sanh thuyết pháp môn thanh tịnh giải thoát ly khổ.

Người nghe tên ta được quán nhàm chán xa lìa, chóng được thành tựu công đức tam muội, thân tâm vắng lặng không có chướng ngại.

Người thấy thân ta liền được hoan hỷ tam muội. Người nghe tiếng ta, liền được Vô lượng thinh tạng tam muội.

Người nghe tên ta liền được quy y Phật, Pháp, Tăng bảo và được Chư Phật sát phổ hiện sắc tam muội.

Nếu có chúng sanh cùng ở chung với ta, liền được Giải thoát quang tam muội.

Nếu có chúng sanh chăm chú chiêm ngưỡng ta, liền được Tịch tĩnh trang nghiêm tam muội.

Nếu có người thấy ta mà nhíu mày, ngáp, thở, liền được Hoại tán ngoại đạo tam muội.

Nếu có chúng sanh quán sát ta thì đắc Nhất thiết chư Phật cảnh giới quang minh tam muội.

Nếu có chúng sanh nói chuyện cùng ta, liền được Thủ hộ nhiếp thọ nhất thiết chúng sanh tạng tam muội.

Nếu có chúng sanh gãi cho ta, liền được Nhất thiết đức tập hoa tạng tam muội.

Nếu có chúng sanh gần gũi ta, liền được pháp môn Nhất ức vô nhiễm ly dục trang nghiêm Bồ tát vô trước vô cực minh tịnh nhất thiết trí cảnh giới.

Thiện Tài đồng tử bạch đại thánh:

– Xưa kia ngài ở chỗ nào? Tu công đức gì? Trồng căn lành gì? Có những nghiệp nào mà đạt pháp môn này?

Tôn giả đáp:

– Thiện nam tử! Thời quá khứ có đức Phật hiệu Vô Nhiễm Trước Hạnh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế tôn. Bấy giờ đức Như Lai Vô Nhiễm Trước Hạnh xuất hiện ở đời, vì thương xót và muốn đem lại sự lợi ích cho tất cả chúng sanh nên đi đến thành Phổ Hiền. Vừa đến cõi ấy, lúc đức Phật nhấc chân lên thì thành ấp, cả cõi nước chấn động sáu cách. Lúc bước chân xuống thì những gò nỗng, hầm hố đều tự bằng phẳng, trên hư không trong sáng tự nhiên nghiêm tịnh. Khi đức Thế tôn dẫm chân đến then cửa thì ngay lúc đó mặt đất lại chấn động, ngói gạch tường vách hóa thành bảy báu, rải các thứ hoa báu xếp thành vòm trên hư không, làm màn lưới che cả cung thành. Trăm ngàn vạn ức nhạc cụ của chư thiên được trang sức bằng những châu báu, treo tại hư không, không ai đánh tự phát ra âm thanh. Vô lượng chư thiên mỗi người đem kiệu riêng của họ xếp hàng đứng trong không trung và đảnh lễ dưới chân đức Phật. Mưa các hoa trời để cúng dường Phật. Khi đức Phật vào thành, phóng hào quang vàng rực rỡ giống như núi vàng. Vào lúc ấy, ta sống trong thành kia, làm vợ của trưởng giả cũng tên Bà Tu Mật Đa. Thấy sắc thân Phật tướng tốt chói sáng, đầy đủ thần thông, ta liền được khai phát căn lành đời trước. Khi đó, ta cùng người chồng trưởng giả vội vàng đến chỗ Phật và mở ngọc báu vô giá đang đeo để rải lên trên đức Phật. Ngọc báu được rải đều ở trên hư không, ta cung kính đảnh lễ Phật.

Bấy giờ đồng tử Văn Thù Sư Lợi làm thị giả đức Phật. Đồng tử bảo ta: “Thiện nữ nhân! Ngươi hãy mau phát tâm đạo Vô thượng”. Khi ấy ta mới phát tâm đạo Vô thượng Bồ tát “.

Tôn giả Bà Tu Mật Đa bảo Thiện Tài:

– Ta chỉ đạt được pháp môn Nhất ức vô nhiễm ly dục trang nghiêm vô trước. Chư đại Bồ tát trí tuệ phương tiện hóa độ chúng sanh pháp môn Đại hải thâm quảng tam muội. Sức trí tuệ lớn không thể tan hoại mà hàng phục cảnh giới. Ta phải làm thế nào để có thể biết và có thể nói về hạnh công đức kia được?

Thiện nam tử! Từ đây ông đi về phương nam, nơi ấy có thành lớn tên Thiện Tịch. Trong thành có trưởng giả tên Bất Kiêu Cao Quý Đức Vương. Vị đại trưởng giả này ngày đêm sáu thời luôn luôn cúng dường bảo tháp Chiên Đàn. Ông hãy đến đó để hỏi: “Thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát ?”.

Thiện Tài đồng tử cúi đầu đảnh lễ tôn giả Bà Tu Mật Đa rồi từ biệt đi về phương Nam. Đồng tử đi bộ đần dần đến thành lớn kia, đến gặp trưởng giả thưa:

– Bạch đại thánh! Trước đây tôi đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng chưa biết thế nào là học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát.

Trưởng giả đáp:

– Ta chỉ thành tựu pháp môn Bất diệt độ thật tế Bồ tát. Trụ nơi pháp môn này, ta biết rõ chư Phật Như Lai không Bát Niết-bàn, không nhập diệt độ. Ba đời Như Lai tuyệt đối không Niết-bàn và không có tướng Niết-bàn, trừ chư Phật phương tiện để độ chúng sanh giả dối không thật nên thị hiện Niết-bàn. Vì muốn làm cho xá lợi Phật được ban bố khắp nơi nên các Ngài làm cho tất cả chúng sanh đều được nhập luật hành (thi hành giới luật).

Thiện nam tử! Nếu người nào có thể biết Như Lai hoàn toàn không Bát Niết-bàn, thì người đó có thể mở bảo tháp Chiên Đàn.

Thiện nam tử! Bây giờ ông có thể đến đó lễ bái cúng dường.

Thiện Tài đồng tử đi đến bảo tháp cung kính đảnh lễ và mở tháp Chiên Đàn. Khi mở cửa tháp, niệm niệm tương tục, đồng tử đắc pháp môn Vô tận Phật tánh Viên quang minh tịnh vô tận tam muội.

– Thiện nam tử! Tâm ta trong từng khoảng sát-na luôn nhập chánh định và ơ trong chánh định nên đạt vô lượng vô số Viên quang minh tam muội. Trong mỗi một niệm, ta nhập Thắng tấn địa.

Thiện Tài đồng tử bạch đại thánh:

– Pháp môn này cảnh giới thế nào?

Trưởng giả đáp:

– Thiện nam tử! Khi ta nhập tam muội này là nhập khắp tất cả đạo môn tam muội. Nhờ thần lực tam muội cho nên được thấy mười phương vô lượng chư Phật Ca Diếp Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri. Mười phương vô lượng mỗi hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Ca Diếp Như Lai. Câu Na Hàm Mâu Ni Phật và mười phương vô lượng hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Câu Na Hàm Mâu Ni Phật. Thi Khí Như Lai và mười phương vô lượng hằng hà hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Thi Khí Như Lai. Tỳ Bà Thi Như Lai và mười phương vô lượng hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Tỳ Bà Thi Như Lai. Đề Xá Như Lai và mười phương vô lượng hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Đề Xá Như Lai. Phất Sa Như Lai và mười phương vô lượng hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Phất Sa Như Lai. Vô Thượng Thắng Phật và mười phương vô lượng hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Vô Thượng Thắng Phật. Vô Thượng Liên Hoa Phật và mười phương vô lượng hằng hà sa số vi trần biển thế giới cùng tên Vô Thượng Liên Hoa Phật.

Vô lượng chư Phật như vậy trình tự tiếp nối nhau liên tục không gián đoạn. Trong tướng lông trắng giữa chân mày của một đức Như Lai phản chiếu tất cả mười phương vô lượng tất cả chư Phật. Trong tướng lông trắng giữa chân mày của vô lượng tất cả chư Phật mười phương phản chiếu một đức Phật. Chân lông của tất cả chư Phật sáng chói cùng phản chiếu nhau cũng lại như vậy. Ngồi nơi tháp Chiên-Đàn, trong khoảng sát-na ta đều trông thấy chư Phật Thế tôn, tâm tâm tương tục không hề có một khoảng cách gián đoạn. Cũng trong khoảng sát-na ta được thấy Diêm Phù Đề số nhiều như cát bụi, và thấy trăm ngàn vạn ức Diêm Phù Đề số nhiều như cát bụi, cho đến mười phương hằng hà sa bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới chư Phật số nhiều như cát bụi, hoặc vượt hơn cả số này. Ta được thấy vô lượng vô biên số vi trần chư Phật, cho đến được thấy bất khả thuyết số vi trần biển thế giới chư Phật. Và thấy chư Phật từ lúc mới phát tâm, du hý thần thông vô ngại tự tại. Cũng thấy pháp môn Nhất thiết đại nguyện thanh tịnh diệu hạnh thành tựu phân biệt công đức bất nhị. Cũng thấy mãn nguyện ba la mật, thanh tịnh ba la mật, thành tựu thứ tự tất cả các địa Bồ tát, đắc phổ nhẫn thanh tịnh du hý thần thông, nuôi lớn căn lành, hàng phục bốn ma, thành tựu chúng sanh, nghiêm tịnh cõi Phật, thành đạo Bồ đề, chuyển pháp luân vi diệu, phóng ánh sáng lớn. Các đại chúng đây đều thấy tướng tâm tâm tương tục này, không hề có một khoảng cách gián đoạn.

Khi ấy trưởng giả Cao Quý Đức Vương bảo Thiện Tài đồng tử:

– Thiện nam tử! Ông có thấy trong tháp Chiên-Đàn này có ánh sáng thanh tịnh viên dung thanh tịnh thần thông trang nghiêm chư Như Lai chăng? Và đều nhập vào pháp môn Tỳ La Ma Già tam muội thần thông pháp luân bất nhị đó không? Chư Phật Như Lai do thần thông lực của pháp môn Minh tịnh bất nhị này mà hiện tất cả mọi nơi, chuyển pháp luân vi diệu để soi chiếu thân minh tịnh sung mãn khắp pháp giới.

Thiện Tài đồng tử bạch đại thánh:

– Nay tôi đã thấy tất cả cảnh giới thanh tịnh thần thông du hý của chư Phật và nghe âm thanh thuyết pháp của chư Phật, phân minh rõ ràng, không hư hoại nhĩ căn, thọ trì không quên, chánh niệm tư duy không mất câu nghĩa, phân tích có trình tự để giảng nói cho mọi người, trình bày giáo pháp lợi ích an vui. Dùng thần lực trí tuệ phân tích những giáo pháp Phật đà, truyền trao các chúng sanh. Tôi thấy đức Phật Di Lạc… trăm ngàn đức Phật thời vị lai; trăm ngàn vạn ức đức Phật, A Súc Bà, Tần Bà La, A Tăng Kỳ Phật, trong mỗi một niệm, từng khoảng sát-na tâm niệm sáng suốt thanh tịnh. Cũng thấy hằng hà sa bất khả thuyết bất khả thuyết số vi trần thế giới chúng sanh thời vị lai phát tâm Bồ tát, tu đạo Bồ tát, thực hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đầy đủ sáu ba la mật, du hý thần thông giáo hóa chúng sanh, thanh tịnh cõi Phật. Dùng cỏ cát tường trải dưới cội Bồ đề, hàng phục bốn ma, thành Chánh đẳng giác, chuyển pháp luân vô thượng, phóng ánh sáng lớn, thị hiện Niết-bàn, cho đến thị hiện chánh pháp, tượng pháp và kiếp số thành hoại, tâm tâm tương tục – tất cả hiển hiện rõ ràng, như thấy cõi nước mười phương thế giới này trong thời vị lai cũng lại như vậy. Và thấy trong hiện tại, đức Như Lai Tỳ Lô Giá Na A-la-hán Chánh đẳng chánh giác. Vô lượng vô số tất cả chư Phật, từ lúc mới phát tâm cho đến ngồi nơi đạo tràng chuyển pháp luân vô thượng và thị hiện Niết-bàn, chánh pháp tượng pháp, kiếp số thành hoại, trụ thế lâu mau. Như thế giới này và mười phương cũng vậy. Ba đời tất cả cõi Phật mười phương, khi kiếp hỏa nổi lên, nơi tháp Chiên Đàn ánh sáng càng hiển lộ gấp bội và nghe ba đời chư Phật trong mười phương đã thuyết pháp, đang thuyết pháp, sẽ thuyết pháp. Do năng lực trí tuệ, tôi đều có thể thọ trì điều mà tất cả thế gian, Thanh văn, Duyên giác và tiểu Bồ tát không thể sánh kịp.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn bất sanh bất diệt thật tế trang nghiêm bình đẳng Bồ tát này. Chư đại Bồ tát nơi một niệm đều biết pháp Phật ba đời vốn chân lý bình đẳng, trong một khoảng sát-na trang nghiêm vô lượng cảnh giới hải môn tam muội, trụ như thật tế, không có tướng chủ thể và khách thể cũng không hai ý, trụ nơi Phật trụ, ở nơi tất cả kiếp mà không tưởng kiếp. Trụ nơi pháp giới hoan hỷ thanh tịnh trang nghiêm, tam thừa hiền thánh, trí tuệ như thật bình đẳng không hai. Không đắm trước thế gian và quả thế gian, ấn thọ và pháp thọ quyết của tất cả ba đời đức Như Lai đều đầy đủ pháp giới, thường trụ bất diệt. Tất cả đức Như Lai âm thanh sung mãn, pháp giới vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, không thể nói hết được. Ta phải làm thế nào để có thể nói về hạnh công đức kia được?

Thiện nam tử! Ở phương Nam này có ngọn núi độc nhất tên Kim Cang Luân Trang Nghiêm Cao Hiển, ở đó có vị Bồ tát tên Quán Thế Âm trụ trên đỉnh núi. Ông hãy đến thỉnh hỏi thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử cúi đầu cung kính đảnh lễ Bồ tát Cao Quý Đức Vương xong, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, quyến luyến chiêm ngưỡng và chào từ biệt, đi về núi phương Nam.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử chánh niệm tư duy lời dạy của vị trưởng giả kia, tùy thuận theo kho tàng giải nói của Bồ tát, chánh niệm vào các sức nhớ nghĩ của Bồ tát, nương nhờ oai thần Phật và sức bản nguyện Phật, do tam muội chánh định nên trong từng niệm không có khoảng cách gián đoạn. Luôn nhớ nghĩ vô lượng chư Phật nơi bảo tháp Chiên Đàn, thương khóc như mưa, theo đường mà đi, lần lượt phân biệt được tất cả chư Phật và pháp của chư Phật. Trong nhất tâm, nhớ nghĩ định tuệ lực trang nghiêm chư Phật thần thông, để tự trưởng dưỡng căn lành giác ngộ, chánh niệm tư duy tất cả nghiệp không thể nghĩ bàn của chư Phật. Dần dần đồng tử đi đến cô sơn, leo lên từng bước một và nhớ nghĩ đức Quán Thế Âm, chánh niệm không xả. Nhìn từ xa thấy như đi ngang qua cái gò lớn phía Tây, đâu đâu cũng có suối chảy, hoa lá, cỏ cây, rừng núi. Có ao nước trong xanh biếc và có hoa vàng, cỏ thơm mềm mại, tươi tốt sạch đẹp. Tất cả đều từ công đức của Bồ tát sanh ra.

Lên đến đỉnh núi, Thiện Tài đồng tử thấy Bồ tát Quán Thế Âm ngồi nơi tòa Kim Cang tám cạnh, tòa phát ra ánh sáng, trang nghiêm không gì so sánh được. Bồ tát Quán Âm đang thuyết pháp cho vô lượng Bồ tát và quyến thuộc vây quanh. Khi ấy, Bồ tát toàn thân màu vàng ròng, tay cầm hoa sen đại bi bách bảo, thuyết kinh Đại Từ Bi để khuyến phát và bảo hộ tất cả chúng sanh nhập vào pháp môn Phổ môn thị hiện.

Thiện Tài đồng tử được trông thấy như vậy vô cùng mừng rỡ, phấn chấn, không nén được sự phấn khích trong lòng vì cảm thấy việc chưa từng có. Đồng tử chắp tay chiêm ngưỡng, mắt không tạm rời, suy nghĩ: “Thiện tri thức tức là Như Lai. Thiện tri thức tức là chánh nhân của Phật đạo. Thiện tri thức là mây pháp báu. Thiện tri thức là kho tàng hạnh công đức. Thiện tri thức khó thấy, khó gặp, tối thắng không gì sánh được và khó có thể đo lường. Thiện tri thức là mười hai hạnh đầu đà chánh nhân. Thiện tri thức là kho tàng trí tuệ vô tận. Thiện tri thức là mầm cây sanh công đức. Thiện tri thức có thể khai phát, mở bày, hướng dẫn tất cả cánh cửa trí tuệ. Thiện tri thức có thể làm cho tất cả chúng sanh được vào biển Nhất thiết trí, cứu cánh thanh tịnh, Phật tánh vô thượng cảnh giới giác ngộ”.

Thiện Tài đồng tử ca ngợi thiện tri thức xong, dần dần đứng gần. Khi ấy trông thấy Thiện Tài, Bồ tát Quán Thế Âm khen:

– Lành thay! Lành thay! Hãy đến đây đồng tử! Chuyên cầu đại thừa, bảo vệ chúng sanh, cứu giúp muôn loài, sanh tâm từ ái, tâm ngay thẳng, tâm sâu xa, tâm ưa cầu Phật pháp, sanh tâm đại bi, hướng hạnh Phổ Hiền, phát tất cả đại nguyện hạnh thanh tịnh, thành tựu tất cả đại nguyện trang nghiêm, thường ưa thọ trì tất cả mây báu Phật pháp, tâm không suy giảm, tăng trưởng căn lành, tu các công đức không có nhàm chán. Thuận theo thiện tri thức, không trái với lời dạy của họ, theo biển trí tuệ mênh mông của Văn Thù Sư Lợi, thành thục tâm hạnh, đức Phật thế lực quang minh tam muội, thân tâm nghiêm tịnh không có vẩn đục, vĩnh viễn xa lìa giải đãi, không bao giờ thoái chuyển. Thường gặp chư Phật, sanh tâm hoan hỷ, chấm dứt các việc ác, tu các hạnh lành, thành tựu trí tuệ, tâm không chướng ngại, sạch như hư không, chóng đạt pháp môn đối trị ly khổ, trụ nơi cảnh giới ánh sáng của chư Như Lai và bảo vệ thánh pháp, phổ biến giáo pháp.

Thiện Tài đồng tử đến gặp Bồ tát Quán Thế Âm, cúi đầu đảnh lễ, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính, rồi đứng lui về một phía và thưa:

– Bạch đại thánh! Trước đây con đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng chưa biết thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát.

– Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Nay ngươi đã có thể phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Thiện nam tư ! Ta đã thành tựu pháp môn Tỳ La Ma Già tam muội đại bi. (Hoa Nghiêm tam muội).

Thiện nam tử! Pháp môn này là hạnh Bồ tát. Tất cả công đức trí tuệ của Bồ tát đều nhập trong pháp môn này. Nhờ sức tam muội nên không di chuyển khỏi tòa này mà vẫn hiện khắp tất cả những sắc thân thanh tịnh. Dùng pháp môn hóa hiện đó để thanh tịnh hạnh chói sáng, ở nơi mười phương thế giới giáo hóa thành thục chúng sanh trong sáu nẻo. Thường ở chỗ tất cả chư Phật tùy duyên ứng hóa hiện tiền. Hoặc dùng bố thí giúp đỡ những người bỏn sẻn, Hoặc dùng giữ giới giúp đỡ những người phá giới. Hoặc dùng nhẫn nhục giúp đỡ những người sân hận. Hoặc dùng tinh tấn giúp đỡ những người giải đãi. Hoặc dùng thiền định giúp đỡ những người tâm tán loạn. Hoặc dùng trí tuệ giúp đỡ những người ngu si. Dùng sáu pháp hòa kính khéo tùy thuận chúng sanh. Dùng Tứ nhiếp pháp giáo hóa chúng sanh. Phóng lưới ánh sáng lớn để diệt trừ sự đau khổ bức bách bởi phiền não của chúng sanh. Dùng phương tiện ba la mật để thực hành bố thí, ái ngữ, lợi ích và đồng sự giáo hóa chúng sanh. Dùng tất cả lưới ánh sáng âm thanh vi diệu khắp vì mười phương tất cả chúng sanh diễn nói pháp giải thoát của bậc thánh. Thành tựu tất cả các ba la mật, tùy thuận chúng sanh mà đáng dùng uy nghi hình sắc của chư Phật hoặc Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác để được hóa độ, thì đều vì họ mà hiện thân như vậy, ngồi tòa Kim cang, tay cầm hoa trắng để thuyết pháp giải thoát của bậc thánh là pháp môn Tỳ Ma La Già Bồ tát bản hạnh đại bi. Nếu có chúng sanh đáng dùng uy nghi hình sắc của sáu cảnh giới để được độ thoát thì hiện thân sáu cảnh giới, ngồi tòa Kim cang, tay cầm hoa trắng để thuyết pháp giải thoát của bậc thánh là pháp môn Tỳ Ma La Già Bồ tát bản hạnh đại bi, làm cho chúng sanh kia đều được an vui. Dùng sắc thân vi diệu biến hiện tự tại, hiện thân đồng loại hóa độ khắp tất cả, tùy theo uy nghi của họ, cho đến đồng tâm để giáo hóa chúng sanh.

Thiện nam tử! Ta thường thực hành pháp môn đại bi này là Tỳ Ma La Già Bồ tát viên mãn trí tuệ quang minh tam muội. Ta ở nơi thời quá khứ đã phát thệ thanh tịnh nên đầy đủ nguyện lực. Do quả lực thệ nguyện thanh tịnh mà ta trụ nơi pháp môn này. Thế nên môn tam muội này gọi là pháp môn Đại bi câu Bồ tát hạnh Tỳ ma la già tam muội. Ta giáo hóa tất cả chúng sanh, vì các chúng sanh mà làm ngôi nhà vững chắc cho họ nương náu, làm chỗ cho họ trở về nương tựa và được chở che an ổn. Vì các chúng sanh làm chiếc cầu vĩ đại, làm hòn đảo lớn. Vì các chúng sanh làm ngọn đuốc lớn soi đường, làm bậc thầy chỉ lối đạt đến cứu cánh giác ngộ. Vì hóa độ chúng sanh nên ta phát nguyện rộng lớn: nếu người nào được nghe thấy ta đều được hoan hỷ. Ta muốn làm cho tất cả chúng sanh trong ngũ đạo vĩnh viễn xa lìa sự sợ hãi nơi đường hiểm nạn, sự sợ hãi nơi tâm lý bức bách phiền não, sự sợ hãi ngu si, sự sợ hãi trói buộc, sự sợ hãi giết hại, sự sợ hãi bần cùng, sự sợ hãi đời sống thiếu thốn, sự sợ hãi tranh cãi kiện tụng, sự sợ hãi đám đông, sự sợ hãi chết chóc, sự sợ hãi đọa vào bốn đường ác, sự sợ hãi các nẻo luân hồi, sự sợ hãi về không đồng ý, sự sợ hãi vì yêu mà không yêu, sự sợ hãi tất cả điều ác, sự sợ hãi thân bức bách, sự sợ hãi tâm bức bách, sự sợ hãi sầu lo, sự sợ hãi giải đãi, sự sợ hãi tham sắc tà dâm, sanh – già – bệnh – chết, ưu bi khổ não, mong cầu không toại ý, khổ vì yêu thương phải chia lìa, khổ vì oán ghét mà gặp gỡ… Ta vì muốn giải thoát tất cả biển khổ mênh mông về sợ hãi cho tất cả chúng sanh nên phát nguyện rộng lớn, trụ nơi pháp môn Tịnh tuệ quang minh này.

Này thiện nam tử! Pháp môn hiện tại chánh niệm cứu hộ tam thế nhất thiết chúng sanh bố úy chánh niệm pháp danh tự pháp luân, xuất hiện nơi đời vì giải thoát sự luân chuyển của chúng sanh trong ba cõi nên ta nhập pháp môn luận nghị. Vì trụ pháp môn này nên ta thị hiện phương tiện tất cả loại thân chúng sanh, tùy duyên ứng hiện. Dùng phương tiện này để dập tắt nỗi sợ hãi của chúng sanh, làm cho họ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đạt bất thối chuyển, cúng dường chư Phật, thọ trì chánh pháp.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Đại bi thanh tịnh Tỳ la ma già Bồ tát quang minh này. Chư đại Bồ tát đều đầy đủ tất cả đại nguyện thanh tịnh của Bồ tát Phổ Hiền, cứu cánh viên mãn hạnh Phổ Hiền, không đoạn tuyệt tất cả các dòng thiện căn, không diệt tất cả các dòng tam muội, thường tu hạnh nhất thiết trí chưa từng đoạn mất. Biết rõ tướng thành hoại của thế giới, diệt trừ những mầm mống bất thiện của chúng sanh, xuất sanh tất cả các dòng thiện căn, hoại diệt các dòng tâm sanh tử của chúng sanh, sản sanh dòng tâm thiện căn của chúng sanh. Ta làm sao có thể biết, có thể nói về hạnh công đức kia được ?

***

QUYỂN TRUNG

Lúc bấy giờ ở phương Đông có một vị Bồ tát tên Vô Dị Hạnh với hoa báu đỡ chân, đi trên hư không, đến núi Kim Cang Luân, thế giới Ta Bà. Khi Bồ tát đặt chân trên núi nơi thế giới Ta Bà thì mặt đất chấn động sáu cách và biến thành châu báu dùng để trang nghiêm. Các lỗ chân lông toàn thân của Bồ tát đều phát ra ánh sáng và chiếu dội lại làm phủ mờ cả ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và muôn sao. Thích, Phạm, Tứ thiên vương và tất cả trời, rồng, thần, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân và phi nhân… Ánh sáng ngọc hỏa, ánh sáng ngọc ma ni đều như đêm đen. Ánh sáng từ Bồ tát này chiếu khắp chốn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm la vương và các chỗ tối tăm, tiêu trừ các khổ, chấm dứt sự sợ hãi về bệnh khổ, phiền não, tất cả đều được an ổn. Mưa khắp nơi những trận mưa báu đầy ngập cõi Phật và mưa tất cả những vật dụng cúng dường, đem những vật cúng dường này để cúng dường đức Như Lai. Tùy các chúng sanh, nơi đáng hiện thân thì vì họ thị hiện, biến hiện khắp sáu nẻo rồi đến núi Kim Cang Luân, đến chỗ Bồ tát Quán Thế Âm.

Khi ấy, Bồ tát Quán Thế Âm bảo Thiện Tài:

– Thiện nam tử! Ngươi có thấy Bồ tát Vô Dị Hạnh nơi tòa này chăng?

– Bạch đại thánh, thưa vâng! Con có thấy.

– Ngươi hãy đến đó hỏi thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?

Thiện Tài đồng tử cúi đầu cung kính đảnh lễ dưới chân Bồ tát Quán Thế Âm, nhiễu quanh vô số vòng, chiêm ngưỡng không biết chán, nghĩ nhớ chân chánh những lời Bồ tát đã dạy, thâm nhập biển trí tuệ rồi từ biệt lui ra. Đến chỗ Bồ tát Vô Dị Hạnh cúi đầu kính lễ, nhiễu quanh bên phải bảy vòng rồi chắp tay đứng thưa:

– Bạch đại thánh! Trước đây con đã phát tâm vô thượng Chánh đẳng chánh giác nhưng chưa biết thế nào là học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?

– Thiện nam tử! Ta đã thành tựu pháp môn Phổ Hiền tốc hành.

– Bạch đại thánh! Ngài đắc pháp môn này nơi đức Phật nào? Từ đây đến cõi Phật đó bao xa? Đi mất bao lâu?

– Thiện nam tử! Chỗ đó rất khó biết. Chỗ mà tất cả trời, người, A tu la, nhân và phi nhân… đều không thể suy lường. Chỉ có hạnh siêng năng tinh tấn không thối chuyển, gần gũi thiện tri thức, được chư Phật thương tưởng thì mới có thể biết được. Nếu không đầy đủ sức thiện căn đã gieo trồng từ trước và trực tâm thanh tịnh, đầy đủ căn lành Bồ tát khai mắt trí tuệ, nghe nhiều, biết nhiều, còn chưa được khai ngộ, chưa có thể thâm nhập trí tuệ hiền thánh, huống chi là tin hiểu hành xứ của Bồ tát.

Thiện Tài đồng tử thưa:

– Bạch đại thánh! Cúi xin ngài vì con nói về danh hiệu của đức Như Lai ở nơi cõi nước kia. Con sẽ nương nhờ thần lực Phật và năng lực thiện tri thức, tin ngũ căn lực, thành tựu thần thông lực mà được tin hiểu.

Bồ tát Vô Dị Hạnh đáp:

– Ta đã đến cõi Phật đó tên là Diệu Thủ Pháp Tạng, đức Phật hiệu Phổ Hiền Thủ. Nơi cõi Phật đây ta đạt pháp môn Phổ hiện tốc hành này. Từ đó đến nay đã trải qua bất khả thuyết số kiếp vi trần cõi Phật, ở trong một niệm ta đã đi bất khả thuyết vi trần cõi Phật. Mỗi một bước đi vượt qua bất khả thuyết bao vi trần thế giới cõi Phật, đi qua các nước mà đức Phật đều hiện tiền. Ta dùng tất cả vật dụng cúng dường vô tận của Bồ tát để cúng dường hóa thân chư Phật. Vì sao? – Vì ta chứng đắc pháp môn Vô trước thanh tịnh pháp tánh sanh thân như thật tướng ấn tam muội. Nhờ công đức này mà ta có thể cúng dường pháp thân vô trước của Như Lai, dùng những sự hy hữu mà chư Bồ tát không thể thấy để cúng dường chư Phật. Tùy theo căn lành đời trước của các chúng sanh, ta thị hiện sắc thân và thuyết pháp cho họ. Phóng ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương, thích ứng tâm chúng sanh, tùy chỗ họ cần dùng đều được như ý. Thành tựu pháp tạng, phát ra âm thanh vi diệu, diễn nói chánh pháp làm lợi ích chúng sanh, đem pháp thân vi diệu để độ thoát chúng sanh, cho đến mười phương cũng lại như vậy.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát Phổ hiện tốc hành này. Chư đại Bồ tát ở khắp mười phương không có nơi nào mà không đến, vô lượng cảnh giới không thể hoại diệt. Pháp thân thanh tịnh đầy khắp pháp giới, phân biệt biết rõ các đường của chúng sanh, đầy khắp tất cả cõi Phật, tùy thuận tất cả pháp, quán ba đời bình đẳng, thuyết pháp bình đẳng, tùy thuận thế gian, không đắm trước Phật đạo, đến khắp mọi nơi mà không vướng mắc và không chướng ngại, khéo thuyết thật tướng các pháp bản tánh vắng lặng. Ta làm sao có thể biết, có thể nói về hạnh công đức của chư Bồ tát đó được?.

Thiện nam tử! Ở phương Nam này có thành tên Bà La Bà Đề, nơi đó có vị trời tên Đại Thiên. Ông hãy đến đó để hỏi thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?.

Thiện Tài đồng tử cúi đầu đảnh lễ dưới chân Bồ tát Vô Dị Hạnh, nhiễu quanh vô số vòng, chiêm ngưỡng quán sát rồi từ biệt, đi về phương Nam.

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử chánh niệm tư duy hạnh Tỳ la ma già vô chướng ngại của Bồ tát, luôn luôn chuyên tâm cầu cảnh giới trí tuệ của Bồ tát

Vô Dị Hạnh, là nơi phát ra cảnh giới sắc thân thần thông trí tuệ sáng ngời, cảnh giới của tất cả công đức trang nghiêm. Đồng tử dõng mãnh tinh tấn, kiên cố hoan hỷ, xuất sanh vô lượng bất khả tư nghì pháp môn trì hạnh an trụ thần thông, được trí quyết định, thân tâm vui vẻ, hoan hỷ khắp thân, đầy đủ các công đức, các địa tam muội, đà la ni địa, đại nguyện địa, các biện tài địa, đủ các lực địa.

Dần dần đồng tử đi đến cửa thành kia, tìm hỏi trời Đại Thiên hiện đang ở đâu? Lúc đó có người nói:

– Thiện nam tử! Trời Đại Thiên hiện đang ở trên lầu, phía trong thành, thành tựu sắc thân thanh tịnh vi diệu, hóa hiện thuyết pháp cho đại chúng vây quanh.

Thiện Tài đồng tử vào đến chỗ Đại Thiên, cúi đầu kính lễ, thưa:

– Bạch đại thánh! Trước đây con đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng chưa biết thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát.

Khi ấy, Đại Thiên liền duỗi bốn cánh tay vốc lấy nước trong bốn biển đặt trong lòng bốn bàn tay mà không làm cho nước chảy ra ngoài và đưa cho Thiện Tài đồng tử súc miệng, rửa mặt rồi cầm hoa sen bằng vàng để rải lên Thiện Tài và nói:

– Hy hữu thay thiện nam tử! Thật đặc biệt và kỳ diệu mới có thể từ xa xôi đến đây cầu thiện tri thức. Thiện nam tử! Các hạnh Bồ tát khó thấy, khó nghe, sâu xa vi diệu không thể nghĩ bàn. Bồ tát dõng mãnh tinh tấn, hình dung vi diệu, là hoa Phân-đà-lợi trong loài người, làm nơi trở về nương tựa của chúng sanh và bảo vệ, chở che cho tất cả muôn loài, làm lợi ích chúng sanh, luôn giúp đỡ không lìa bỏ, an ổn tất cả, chiếu khắp tất cả cõi mười phương, hiển bày chánh đạo, xa lìa ngu si, làm đại đạo sư, ủng hộ giữ gìn chánh pháp, dìu dắt chúng sanh được an lành không lo lắng. Đạt đến bờ giác, Bồ tát chắc hẳn sẽ đến thành Nhất thiết trí, kham nhẫn hy hữu ba nghiệp Bồ tát thành tựu viên mãn, làm tịnh những gì khó tịnh, đoạn trừ những việc ác. Đối với chúng sanh vạn loại thường dùng lời nói yêu thương, tùy phước duyên của họ đều ứng hóa hiện tiền, không bỏ lỡ cơ hội cứu độ nào.

Thiện nam tử! Ta chỉ thành tựu pháp môn Bồ tát vân võng quang minh.

Thiện Tài đồng tử thưa:

– Bạch đại thánh! Pháp môn Vân võng quang minh cảnh giới thế nào?

Bấy giờ Đại Thiên ở trước Thiện Tài chất đống thiên kim cũng như núi chúa, chất đống bạch kim, chất đống lưu ly, chất đống pha lê, chất đống xa cừ, chất đống mã não, chất đống dạ quang, chất đống thủy tinh, chất đống kim tinh, chất đống ngọc khai đạo chúng sanh, chất đống ngọc ma ni như tóc xanh biếc, chất đống ngọc Châu la, chất đống ngọc thủy quang, chất đống hổ phách, chất đống hổ phách tía, chất đống ngọc nhật tinh, chất đống di la khư bảo, chất đống tạp sắc bảo, chất đống Tỳ phú la bảo, chất đống lưới chân châu đỏ, chất đống ngọc chiên đàn và chất đống các anh lạc trang nghiêm chi tiết toàn thân, nhiều như núi Tu Di bao nhiêu hoa đẹp, hương thơm, hương thoa, hương bột, tất cả vòng hoa, tất cả thiên y, tất cả lọng báu, tất cả tràng phan, tất cả nhạc cụ, tất cả màn trướng… các vật dụng cúng dường nơi cảnh giới ngũ dục. Các châu báu như vậy chất cao như núi Tu Di.

Và lại xuất hiện vô số trăm ngàn vạn ức các chúng đồng nữ nói với Thiện Tài đồng tử:

– Thiện nam tử! Đồng tử có thể lấy tất cả những vàng bạc châu báu này để cúng dường đức Như Lai và đem ban bố cho tất cả mọi loài, giúp đỡ chúng sanh làm cho họ đều tu bố thí ba la mật, học bố thí ba la mật. Vì xả bỏ tất cả cho nên đem tâm xả này dạy bảo khắp các chúng sanh đều được tu hành và làm cho họ có thể xả bỏ những gì khó xả nhất.

Thiện nam tử! Ta đem vật này dạy đồng tử bố thí, dạy bảo chúng sanh cũng lại như vậy. Làm cho họ dùng căn lành vô tham huân tu thân tâm, khiến cho chúng sanh tu hạnh Phật và Bồ tát, gần gũi thiện tri thức, cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen, xuất sanh căn lành, trưởng dưỡng căn lành, thành tựu đầy đủ tất cả căn lành và phát tâm tuệ giác vô thượng.

Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh tham mê ngũ dục, nên vì chúng sanh đó mà thị hiện cảnh giới bất tịnh.

Người tham đất đai nên nói về sự vô thường.

Vì chúng sanh sân hận, sợ hãi, kiêu mạn, buông lung, oán thù tranh tụng như quỷ La-sát, sát sanh vô số, uống máu ăn thịt… những chúng sanh như vậy đều vì họ thị hiện, dạy bảo cho họ tu đại từ bi, làm cho họ vĩnh viễn xa lìa sân hận buông lung.

Nếu có người giải đãi, nên vì họ thị hiện những nạn nước trôi, lửa cháy, trộm cướp, vua ác, oán thù… hóa hiện vô thường để cho họ phát khởi căn lành.

Thiện nam tử! Những hạng chúng sanh xấu ác như vậy, nên dùng phương tiện trí tuệ diệt trừ các việc ác và tất cả chướng ngại oán địch nơi trí tuệ, thành tựu tất cả Vô ngại ba la mật.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát vân võng quang minh này. Chư đại Bồ tát diệt trừ phiền não như Đao Lợi thiên vương tiêu diệt nạn A tu la. Chư Bồ tát như nước, có thể dập tắt lửa phiền não dữ dội của chúng sanh. Chư Bồ tát như lửa, có thể thiêu rụi đống củi phiền não của chúng sanh. Chư Bồ tát như gió, thổi tan những vướng vít tham ái của chúng sanh, hoại diệt tất cả tâm ái nhiễm si mê. Chư Bồ tát như Kim cang nghiền nát tất cả sự chấp ngã hữu ái của chúng sanh… Chư đại Bồ tát thành tựu các công đức lớn như vậy, ta làm sao có thể biết, có thể nói được hạnh Bồ tát kia?!

Thiện nam tử! Phía Nam Diêm Phù Đề này có nước tên Ma Già Đà, dưới cội Bồ đề, nơi đạo tràng vắng lặng, có vị thần tên An Trú. Đồng tử đến đó để hỏi: thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?.

Thiện Tài đồng tử cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đại Thiên rồi từ biệt lui ra, rảo bước đến đạo tràng vắng lặng nước Ma Già Đà, nơi vị thần An Trú ở.

Bấy giờ mười ngàn địa thần, mỗi người nói:

– Đồng tử này đến đây cứu giúp tất cả chúng sanh tức là Như Lai tạng, có thể phá tan màn vô minh phủ mờ của chúng sanh, thường sanh nhà pháp vương thù thắng vi diệu, xa lìa cấu nhiễm và không bị chướng ngại, đầu đội mão gấm báu cõi trời. Đồng tử này có kho báu trí tuệ, chinh phục các luận nghị sư của ngoại đạo, vua pháp của pháp luân, giáo hóa chúng sanh.

Khi ấy, An Trú địa thiên cùng một vạn vị thần làm cho mặt đất chấn động, mưa nước hoa thơm, quét bằng gió thơm. Một vạn địa thiên đồng thời phát ra âm thanh vi diệu, vang khắp ba ngàn đại thiên thế giới, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Và có những cung điện quý giá dùng để trang nghiêm. Tất cả cây hoa đua nở sum suê tươi tốt, cành cây rủ xuống, những cây ăn quả đều có quả sum suê cũng đều rủ xuống. Bao nhiêu nước thơm từ ao, sông, suối nguồn chảy vòng trở lại về vực. Tiếng nước chảy xuống phát ra những âm thanh vui tươi. Châu báu các cõi trời trang nghiêm lầu gác. Kỳ lân, sư tử, voi lớn, nai trắng, chim phụng, khổng tước… những loài cầm thú khác nhau, mỗi loài cùng quyến thuộc đem đến những vật cúng dường. Mọi loài đều hoan hỷ phát ra âm thanh êm dịu. Vô lượng kho tàng trân bảo tự nhiên vọt lên. Gió nổi lên bốn phương giống như kim luân, thổi đến những hoa đẹp nhiều màu sắc rải khắp đạo tràng. Trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân và phi nhân… đầy khắp giữa vườn rừng.

An Trú địa thần bảo Thiện Tài đồng tử:

– Thiện nam tử, đến đây! Ngươi có muốn thấy kiếp xưa của mình đã từng ở đây gieo trồng căn lành và quả báo phước đức chăng?

Thiện Tài đồng tử cung kính đảnh lễ dưới chân An Trú địa thần và nhiễu quanh vô số vòng rồi lui về đứng một bên, thưa:

-Bạch đại thánh! Thưa vâng, con muốn thấy.

An Trú địa thần liền dùng ngón chân ấn xuống mặt đất thì có vô lượng vô số kho báu vàng ngọc mở ra trước mắt. Những chiếc bình cát-tường tự nhiên vọt lên.

– Thiện nam tử! Đây là phước báo bố thí từ xưa của ngươi đưa đến kho tàng vô giá này. Ngươi tha hồ tùy ý đem bố thí.

Thiện nam tử! Ta đã thành tựu pháp môn Bồ tát bất khả hoại trí tuệ tạng. Từ thời đức Phật Nhiên Đăng đến nay, ta đã đạt căn lành lớn, thường ở nơi đất này lần lượt ủng hộ chư Bồ tát, làm cho họ thâm nhập cảnh giới trí tuệ đến tận cùng căn để, đại nguyện viên thành, thanh tịnh hạnh Bồ tát, xuất sanh tất cả tam muội, tu tất cả thần thông, đầy đủ tất cả thần lực công đức rộng lớn của Bồ tát, đầy đủ thần lực oai đức lớn của chư Bồ tát, thành tựu trí tuệ không thể suy lường của Bồ tát, tâm ấy kiên cố không thể phá hoại. Phóng lưới ánh sáng, dạo khắp cõi Phật, nghe chư Như Lai thọ ký chuyển pháp luân và tất cả chỗ Như Lai chuyển pháp luân cùng tất cả vòm mây kinh điển. Dùng ánh sáng giáo pháp vĩ đại hóa độ khắp quần sanh, thọ trì thần lực tự tại của chư Phật, giữ gìn thần lực chói sáng pháp vĩ đại của chư Phật, chỉ bày giáo hóa đem lại hoan hỷ và lợi ích cho muôn loài. Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát bất khả phá hoại trí tuệ này.

Thiện nam tử! Vào thuở xa xưa, cách đây nhiều hơn số kiếp vi trần bằng núi Tu Di, có kiếp tên Quang Minh Tịnh, thế giới tên Nguyệt Tràng, đức Như Lai hiệu Thiện Nhãn.

Thiện nam tử! Ta ở nơi kiếp Quang Minh Tịnh, chỗ đức Phật Thiện Nhãn tư duy được pháp môn này và tu tập trưởng dưỡng thanh tịnh pháp môn, tăng thêm tinh tấn, cao rộng diễn nói phổ biến pháp môn này. Thời gian ấy, ta thường được thấy Phật từ kiếp quang minh cho đến kiếp hiền. Trong thời gian đó, có bất khả thuyết bất khả thuyết những kiếp nhiều như vi trần cõi Phật. Chư Phật trong vô số kiếp đó ta đều gần gũi, cúng dường đầy đủ chư Phật như vậy cho đến đạo tràng dưới cội Bồ-đề và các vật dụng trang nghiêm ta đều được thấy. Ở nơi mỗi một đức Phật ta được lắng nghe, lãnh hội tu tập. Được pháp môn này, ở chỗ chư Phật tu tập căn lành, do căn lành này, nghe nhân duyên các pháp, đạt pháp môn Bất khả hoại tạng trí tuệ.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát bất khả hoại tạng trí tuệ Chư đại Bồ tát ở nơi tất cả chư Phật, thân cận cúng dường. Chư Phật thuyết pháp đều được nghe và thọ trì. Tùy theo âm thanh chư Phật vì người khác giảng nói, niệm niệm tương tục, được thể nhập vào tâm Phật, trụ nơi bí mật của Phật, được pháp thân thanh tịnh, vượt khỏi trí tuệ ngăn che bởi vô minh của Bồ tát, xuất sanh tất cả kho tàng ảnh hưởng từ chư Phật, khéo nói câu nghĩa, ghi khắc không quên. Hiện khắp các sắc thân, đối với thân tướng bất nhị, các hạnh Bồ tát vô lượng vô biên, ta làm sao có thể biết, có thể nói hết được?

Thiện nam tử! Cõi Diêm Phù Đề này có nước tên Vô Não, thành tên Thắng Nhẫn. Ở trong thành đó có một Dạ thiên tên Bà Sa Bà Đà. Ngươi hãy đến đó hỏi thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát?

Thiện Tài đồng tử cúi đầu đảnh lễ dưới chân thần An Trú, nhiễu quanh vô số vòng, quyến luyến chiêm ngưỡng rồi từ biệt. Dần dần đồng tử đi đến chỗ của Dạ thiên.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử chánh niệm tư duy lời dạy của vị địa thần kia về pháp môn bất khả hoại trí tuệ. Tu tam muội biết rõ nẻo vào tự tại của Bồ tát, quán sát cách thức luật nghi của Bồ tát, tâm đồng tử thấu suốt sự an trú trong thần thông tự tại của chư Bồ tát. Quán sát tất cả pháp tánh thanh tịnh, thâm nhập cảnh giới sâu xa, trí tuệ rốt ráo của Bồ tát, thâm nhập pháp môn Bồ tát trí hải, tùy thuận pháp môn Bồ tát quán sát vô hoại trí hải, quán sát pháp môn Bồ tát thâm cực vô biên thanh tịnh bất hoại, quán sát pháp môn Bồ tát pháp vân pháp hải ấm phú.

Đồng tử đi mãi, dần dần đến nơi thành lớn kia và nhiễu quanh vô số vòng, đi vào bằng cửa Đông và đứng giữa thành. Lúc đó mặt trời lặn chưa bao lâu, với suy nghĩ ái mộ bậc thầy, như người khát cần nước và vâng theo lời dạy bảo của tất cả chư Bồ tát nên đồng tử nhất tâm chắp tay, muốn thấy đại sư Dạ thiên Bà Sa Bà Đà. Ở chỗ thiện tri thức, đồng tử tưởng nhớ đức Như Lai là bậc Ưng cúng, Chánh biến tri. Nhìn khắp cảnh giới, hiển hiện tất cả sắc thân cùng thần lực trí tuệ trong mười phương và đến khắp tất cả, ưa thấy thiện tri thức ở cảnh giới thanh tịnh, thấy khắp tất cả pháp môn từ tâm cảnh giới diệu tạng của chư thiện tri thức, được tất cả mắt trí tuệ chánh pháp, quán sát cảnh giới thập phương tam muội trí hải phổ nhãn, không xuất không nhập, đồng tánh nhất như tất cả biển trí chói sáng pháp giới, mắt đại trí tuệ sâu rộng vô biên.

Thiện Tài đồng tử trông thấy Dạ thiên kia trong hư không ở trên thành, ở lầu châu báu, nơi thế giới Hương Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm, ngồi trên hoa sen báu, toàn thân như vàng ròng, búi tóc trên đảnh xinh đẹp với màu vàng ròng trong sáng, mắt màu xanh biếc, phân biệt rõ ràng tinh tế, sắc tướng đoan nghiêm, đẹp thù thắng vi diệu bậc nhất. Những châu báu trang nghiêm thân hy hữu không gì sánh được. Ai trông thấy cũng hoan hỷ, nhìn mãi không chán. Dạ thiên mặc áo đỏ, trang sức bằng châu báu tốt đẹp, búi tóc trên đảnh giống như Phạm vương.

Bấy giờ Dạ thiên liền vì Thiện Tài đồng tử thuyết thần chú Lê kế Phạm vương đảnh pháp thân ấn:

– Lặc đam, bà la bà sa na, đà la ni. Miên già phạm ma xà trà chấn na, xá lợi la, ma cưu thác, đà la ni. Miên già, chiết ca la đà la ni, đa soa ha, xà soa ha.

Thiện nam tử! Nếu người nào được thần chú này thì các lỗ chân lông trên thân người ấy sẽ hiện khắp tất cả nhật, nguyệt, ngũ tinh và hai mươi tám ngôi sao, cũng hiện ra tất cả ngôi sao chiếu sáng rực rỡ. Do ánh sáng này chiếu khắp vô lượng thế giới tất cả chúng sanh. Trong khoảng sát-na có thể thấy chúng sanh ở trong ba đường ác chịu tám nạn khổ. Nơi một lỗ chân lông đều thấy chỗ hóa sanh của chúng sanh: hoặc thấy chúng sanh ưa sanh cõi trời, hoặc có chúng sanh ưa đắc quả Thanh văn thừa, hoặc có chúng sanh ưa đắc Nhất thiết chủng trí. Nơi một lỗ chân lông đều hiển hiện tất cả. Hoặc có chúng sanh ưa thấy những loại phương tiện hình sắc, oai nghi, âm thanh thuyết pháp và các ngôn ngữ. Và ở nơi một niệm đều trông thấy tất cả sự vi diệu như vậy, pháp âm trong trẻo tùy chỗ thích nghe trải qua vô số kiếp. Cũng ở nơi lỗ chân lông đều thấy nghe tất cả các hạnh của chư Bồ tát, hoặc thấy Bồ tát dõng mãnh tinh tấn tu các tam muội thần thông lực, cảnh giới thần lực tự tại của Bồ tát, chỗ ở của Bồ tát, ánh sáng Bồ tát, pháp môn thần thông phấn tấn Bồ tát. Thể hiện tất cả như vậy, tùy chỗ giáo hóa chúng sanh nơi lỗ chân lông đều được thấy nghe. Đây là bản hạnh sở đắc của Bồ tát.

Thiện Tài đồng tử được thấy nghe như vậy rồi, tâm rất hoan hỷ, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Dạ thiên, nhiễu quanh vô số vòng, chắp tay cung kính và đứng qua một bên, bạch với thiên thần:

– Trước đây con đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, sanh tâm tin hiểu, nhờ thiện tri thức được thấy chư Phật, nghe pháp công đức. Cúi xin thiên thần, hôm nay vì con khai thị chỉ bày những sở hành của Bồ tát và đạo Nhất thiết trí. Nếu có Bồ tát hướng đến đạo này, sẽ được Thập lực thập địa Bồ tát.

Dạ thiên bảo Thiện Tài đồng tử:

– Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi biết cung kính thiện tri thức, vâng theo lời dạy của họ. Nếu có Bồ tát cung kính thiện tri thức và vâng theo lời dạy của họ, sẽ chóng đạt đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Thiện nam tử! Chỉ có ta là thành tựu pháp môn Bồ tát Quang minh phổ chiếu chư pháp hoại tán chúng sanh ngu si phá ma.

Thiện nam tử! Ta đối với những chúng sanh tà kiến xấu ác, phát tâm đại từ. Đối với những chúng sanh ngũ nghịch tạo nghiệp bất thiện, phát tâm đại bi. Đối với chúng sanh tu nghiệp thiện, phát tâm hoan hỷ. Đối với chúng sanh thiện ác, sanh tâm vô nhị. Đối với chúng sanh nhiễm ô, phát tâm thanh tịnh. Đối với chúng sanh tà kiến chấp ngã, phát tâm bình đẳng. Đối với chúng sanh hạ tiện dơ bẩn phát tâm hoan hỷ. Đối với chúng sanh đắm trước dục lạc, sanh tâm thanh tịnh. Đối với chúng sanh ưa sanh tử luân hồi, phát thiện tâm tùy thuận hiểu rõ bánh xe sanh tử. Đối với chúng sanh ưa Thanh văn, Duyên giác, phát sanh tâm an lập trụ đạo giác ngộ Nhất thiết trí.

Thiện nam tử! Ta thường tư duy như vậy để giáo hóa tất cả chúng sanh, thành tựu pháp môn Bồ tát quang minh phổ chiếu hoại tán chúng sanh ngu si phá ma. Sau nửa đêm, khi con người hoàn toàn vắng lặng là lúc mà tất cả quỷ thần chen nhau đuổi chạy, lúc đạo tặc hoành hành, lúc Tỳ kheo rời bỏ oai nghi, lúc khói mây bụi mù che phủ, tối tăm không thấy ánh sáng mặt trăng, mặt trời. Ta ở những nơi đó mà làm đôi mắt sáng dắt dẫn vượt qua con đường tăm tối.

Nếu có chúng sanh ở tại thành ấp, thôn xóm, phố thị hoặc núi non, đồng vắng, hoặc trong tám ngàn biển lớn, cho đến nơi sông nước bình nguyên, rừng núi, con đường nguy hiểm tối tăm sợ hãi. Nạn sấm sét trời gầm, nạn ác thú và người ngu khủng bố, nạn giặc cướp nơi sa mạc, nạn bệnh dịch đói khát trong nước, nạn chiến tranh tàn phá… Ta dùng thần lực của thần chú để diệt trừ những tai nạn sợ hãi kia.

Nếu có chúng sanh gặp tai nạn nơi biển, cuồng phong sóng dậy, sóng lớn dập vùi làm cho khách buôn rối mù không thấy đâu bờ bến. Những tai nạn về sóng nước như vậy, ta đều hiện diện ở đó để làm nơi nương tựa bình yên, hoặc làm hòn đảo để dừng chân, hoặc làm hình con tàu cứu vớt những người bị chìm dưới nước, hoặc làm người tài giỏi, hoặc làm người cá, hoặc làm hình voi chúa, hình ngựa chúa, hoặc làm hình voi con, hình con giải, ba ba, cá sấu, hình A tu la vương, hình long vương thần biển, hoặc làm cẩu vương, hình muỗi mòng…. Ta hiện tất cả những loại hình tướng như vậy để làm nẻo quay về, làm phương tiện độ thoát tất cả nạn khổ. Nguyện cho chúng sanh lìa khổ ngũ ấm, đắc đạo giải thoát.

Tất cả nhân gian sống trong đêm dài tăm tối, nơi ngói sỏi, gai gốc, gò nỗng, đồi non, rắn độc, sư tử, hổ beo, bò cạp, tất cả sự độc hại, nạn cuồng phong, lạnh, nóng… Những lúc ấy, ta làm hình mặt trời, mặt trăng, hình ngôi sao sáng, hình sao lưu, hình sao chổi, hoặc làm tiếng sấm sét vang rền, hoặc làm hình ánh sáng châu báu, hoặc làm hình sao hỏa, hoặc sao thái bạch, hoặc các hình sao biến quái tai nạn khác… Hoặc làm các cung điện trời, hoặc làm hình thiên vương, hoặc làm các hình trời, rồng, thần, bát bộ, hoặc làm hình Chuyển luân Thánh vương, hình các tiểu vương và các loại hình người, hoặc làm hình Bồ tát, hoặc làm hình Như Lai. Ta dùng thần lực đà la ni và vô số phương tiện để che chở, bảo vệ chúng sanh. Nguyện cho chúng sanh thường được an ổn, đại bi che chở được ở chỗ Phật ở. Hoặc làm hình hang đá núi cao, hoặc làm hình khe suối, ao hồ, rừng cây, cỏ thuốc, cây hoa quả. Hoặc làm trăm loại thực phẩm ngọt ngào thơm ngon, hoặc làm băng tuyết, hoặc làm hình bóng râm che mát, hoặc làm những con đường, con hẻm đều bằng phẳng. Hoặc làm hình những giống chim: ca-lăng-tần-già, khổng tước chúa… Hoặc làm hình cây thuốc chúa phóng ánh sáng. Hoặc làm hình thần đất, thần núi. Hoặc làm hình bó đuốc lớn điện sáng.

Nếu có chúng sanh ở núi hiểm nguy, đầm bằng, các chỗ sợ hãi, ta dùng thần lực đà la ni để cứu giúp họ. Ta dùng vô số phương tiện như vậy để làm cho các chúng sanh thoát khỏi khổ lo và xa lìa biển sanh tử. Phát sinh tâm niệm này làm cho các chúng sanh vượt khỏi núi ngã mạn. Ta lại nguyện cho họ vượt qua dòng sanh tử, làm đuốc tuệ rạng ngời phá tan bóng tối vô minh, đất cháy thân ngũ ấm, qua khỏi đầm lầy sanh tử.

Thiện nam tử! Ta đối với chúng sanh ngu si nơi hiểm nạn sanh tử, dùng thần lực đà la ni để tháo gỡ sự trói buộc, khủng bố của lưới sanh tử, những lời nguyền rủa, mắng nhiếc, lưỡi đôi chiều, lời hung ác, lời phỉ báng quanh co… những lúc như vậy ta sẽ làm tiếng chim Ca-lăng-tần-già cất tiếng hót tuyệt diệu về đà la ni, làm cho những chúng sanh đó được vui vẻ, thoát khỏi buồn lo.

Nếu có những trẻ con hay đồng tử, thanh niên hay già cả bị đui mù, câm ngọng, lưng gù, tay chân co quắp, ghẻ lở, ung thư… cho đến bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh, ta dùng thần lực đà la ni làm đại y vương, hiện diện trước bệnh nhân để nói về các phương pháp trị bệnh giúp mỗi người được thuyên giảm.

Thiện nam tử! Ta lại suy nghĩ: Nếu thấy những chúng sanh say đắm nơi rừng gai gốc ngũ dục, say đắm về những ngôn từ điên đảo sai lầm, say đắm lãnh thổ, đất đai và sanh kiêu mạn… những nạn khổ say đắm đủ thứ như vậy, bức bách thân người, không hiểu không biết, trong mê muội luôn đeo đuổi bên chúng sanh phải nhớ việc gì và nghĩ việc gì. Ta dùng thần lực đà la ni hiện thân chỉ dẫn, dắt dìu cho họ con đường chân chánh và đem lại cho họ sự an vui. Nhờ ân lực của ta, mà họ xa lìa được những nạn khổ, đến chỗ an ổn. Ta vì những người đó lại phát thệ nguyện: Làm cho các chúng sanh xa lìa ba đường ác, vĩnh viễn được giải thoát tất cả khổ đau, chuyên cầu trí tuệ, hướng đạo giác ngộ, không còn những buồn lo, thường được an ổn, đoạn hẳn sự ràng buộc của ngũ ấm.

Nếu có những quốc vương, vương tử, thiện nam, thiện nữ ở những đất nước nhỏ bé nơi biên phòng, lo sự cạnh tranh kiện tụng của quốc gia, lo sự nghiệp đời sống, nhà cửa, ruộng vườn, lo về danh tiếng, địa vị và sự tự do… Biết bao nhiêu nạn lo sợ, nguy ách như vậy, ta ở nơi đó dùng sức phương tiện của thần chú làm cho họ hòa đồng với nhau và được an ổn.

Ta lại phát nguyện làm cho các chúng sanh đoạn trừ được tất cả những chấp trước nơi năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, vượt qua dòng sông sanh tử, an trụ bên bờ giác ngộ. Và nguyện cho chúng sanh được ở cảnh giới Nhất thiết trí Phật, vĩnh viễn không còn kiến thức sai lầm, phát sanh tất cả hạnh Phật an lạc.

Nếu có chúng sanh vướng mắc nơi nghiệp tụ lạc, bị vô minh ràng buộc, sáu mươi hai tà kiến và những chấp trước sai lầm, chịu nhiều khổ não, thật đáng xót thương. Ta dùng phương tiện thần chú, vì họ thuyết pháp, làm cho họ nhàm chán, rũ bỏ; dùng giáo pháp nhiếp phục họ. Ta suy nghĩ: Làm sao cho các chúng sanh an trụ nơi địa đạo chánh pháp vô thượng. Và ta suy nghĩ: Nguyện cho các chúng sanh đều được xa lìa làng xóm trống rỗng của lục nhập, siêu việt hoàn toàn cảnh giới sanh tử, ở an nơi thành Nhất thiết trí, nơi vắng lặng an vui.

Này thiện nam tử! Như người lầm phương hướng, tưởng Đông là Tây, tưởng Tây là Đông, tưởng Nam là Bắc, tưởng Bắc là Nam, bốn góc trên dưới cũng lại như vậy. Tất cả thế gian là người mê pháp, không biết chánh đạo cũng giống như vậy.

Thiện nam tử! Ở đời có ba loại người:

1- Cuồng.

2- Si.

3- Bệnh phong.

Ba loại người như đây bị độc hại hoành hành, tay cầm kiếm bén muốn chặt phương Đông, trở lại chặt phương Tây, muốn chặt phương Tây trở lại chặt phương Đông, muốn chặt phương Nam trở lại chặt phương Bắc, muốn chặt phương Bắc trở lại chặt phương Nam, bốn góc trên dưới cũng lại như vậy. Người báng bổ chánh pháp cũng giống như đây, vì tâm họ điên đảo nên đối với chánh pháp mà tưởng là tà pháp, đối với tà pháp mà tưởng là chánh pháp. Đối với pháp thường mà tưởng là vô thường, đối với pháp vô thường mà tưởng là thường. Đối với pháp vui mà tưởng là pháp khổ, đối với pháp khổ mà tưởng là pháp vui. Đối với bất tịnh mà tưởng là tịnh. Đối với pháp vô ngã mà lầm tưởng là ngã. Nơi đất bằng phẳng mà tưởng là hiểm trở, nơi hiểm trở mà tưởng là đất bằng phẳng. Đời sung túc an vui mà tưởng là đói khát, thiếu thốn. Đời đói khát, thiếu thốn mà tưởng là sung túc an vui. Đời nhân dân đông đúc mà tưởng là hoang vu, đời hoang vu mà tưởng là đông đúc… Những tư tưởng ngu si này làm cho chúng sanh lầm đường, mê hoặc và mất tánh chúng sanh. Ta dùng vô số sức phương tiện thần chú, phóng ánh sáng lớn soi chiếu chỗ tối tăm. Người muốn ra đường, ta mở các cửa cho họ. Vì người ngu si, ta phóng ánh sáng lớn, mở mắt trí tuệ. Vì chúng sanh lạc đường, ta chỉ bày cho họ con đường đúng và dắt dẫn họ.

Nếu có chúng sanh muốn vượt qua dòng nước lớn, ta vì họ làm cây cầu, làm thuyền, làm bãi, bờ, làm đảo cho họ sang bờ bên kia. Người không biết khu vực địa phương, ta chỉ cho họ vùng đất bình yên. Nơi có gò nỗng, hầm hố, ta hóa làm đất bằng phẳng, có cỏ mềm mại, hoặc hiện làm thành ấp, xóm làng và những hình sắc đẹp ban bố cho chúng sanh, làm cho họ được vui vẻ. Ta hiện làm những dòng sông lớn nhỏ, dòng suối, vườn rừng, ao hồ có nhân dân đông đúc, an khang thịnh vượng, khiến các chúng sanh cùng hướng đến nhau bằng tâm từ ái cũng như cha con, anh chị em, và phát nguyện rằng: Ta đã bố thí cho chúng sanh tất cả ánh sáng trí tuệ an vui, làm cho họ vĩnh viễn rời xa bóng tối dày đặc vây phủ bởi vô minh, mê muội trong đêm dài si ái. Chúng sanh không có mắt, được mắt trí tuệ, làm cho khắp tất cả được thanh tịnh sáng suốt.

Nếu có chúng sanh chấp trước nơi tướng chúng sanh – nhân – ngã, ta làm cho họ xa lìa tư tưởng chấp chúng sanh – nhân – ngã.

Nếu có chúng sanh đối với vô thường nghĩ là thường, vô ngã nghĩ là ngã, khổ nghĩ là vui, bất tịnh nghĩ là tịnh, chẳng phải ấm nghĩ là ấm, chẳng phải mạng nghĩ là mạng, chẳng phải trung ấm nghĩ là trung ấm, chẳng phải ấm – giới – nhập mà nghĩ là ấm – giới -nhập, cỏ cây không có mạng mà nghĩ là có mạng sống, chúng sanh chẳng phải là cỏ cây mà nghĩ là cỏ cây. Đối với chẳng phải nhân quả mà nghĩ là nhân quả, chẳng phải đạo hạnh tốt mà nghĩ là đạo hạnh tốt, giết hại để tế trời mà nghĩ rằng mong cầu an vui mãi mãi… Cho đến mười nghiệp ác tà kiến, ta nguyện tất cả chúng sanh lìa bỏ những tư tưởng này.

Những chúng sanh bất hiếu với cha mẹ, không kính Sa môn và Bà la môn, không có đền ân, không biết ân dưỡng dục, xa lìa chánh đạo, làm nghiệp bất thiện, đầy đủ mười sáu các ác luật nghi, phỉ báng chánh đạo, phá hủy luận bàn chân chánh, đắm say kiến thức sai lầm, phỉ báng Phật, Pháp, Tăng, cắt đứt chánh pháp luân, hoại diệt chúng Bồ tát, oán ghét đại thừa, sát hại Bồ tát, không ca ngợi Bồ tát tăng… Tất cả những loại nghiệp bất thiện như vậy, làm cho đủ loại chúng sanh bị muôn vàn nỗi khổ bức bách thân, lòng ôm sầu não, đánh mất tâm trí vốn có, không biết pháp lợi ích, ngu si cuồng loạn, không biết con đường chân chánh, nơi vô lượng kiếp thường bị chê bai, tà kiến mê hoặc không biết các phương. Ta vì những kẻ phi pháp, phi luật như vậy sanh lòng từ bi sâu xa, khiến họ được che chở giúp đỡ.

Khi ấy, Dạ thiên Bà Sa Bà Đà vì các chúng sanh cuồng loạn chê bai giáo pháp, thuyết thần chú Tịnh điều phục trừ vô lượng a tăng kỳ kiếp tội nghiệp chướng:

– Đê giám bạt la, bạc đà na dạ, tam ma mạt kỳ tha ba da ngộ, tỳ ma lê thâu đàn nại, tỳ ma la thâu đàn di dực, thâu đàn ni di hoa ha, ma ha thâu đàn na ma đê di soa ha.

Nếu có chúng sanh chê bai chánh pháp, hủy báng Bồ tát tăng, phá hòa hợp tăng, đoạn tuyệt lời dạy của bậc thánh trí tuệ về đại thừa, oán ghét người tu hành hạnh Bồ tát, không có tâm nhớ ơn. Những người như vậy không được gọi là trượng phu đầy đủ thân nam tử.

Người bất hiếu với cha mẹ, sát nghịch cha mẹ, ở chỗ thiện tri thức tranh tụng dối trá, giết hại tám hạng người cho đến A-la-hán, bất nhân bất nghĩa, trộm cắp vật của Phật, vật của tháp, vật của Pháp, vật chiêu đề tăng, vật hiện tiền tăng, phạm bốn giới trọng, mười ba pháp tăng tàn, mười bất thiện đạo, năm tội vô gián. Người này tức tốc hướng thẳng đến nẻo ác đạo, bị vô minh che phủ và chìm đắm nơi biển khổ. Ta dùng nguyện lực đại trí tuệ sáng suốt để trừ bóng tối ngu si mê hoặc, tội nặng ám chướng nơi địa ngục vô gián, làm cho họ chóng phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức dùng đại thừa để tự trang nghiêm, đầy đủ hạnh Phổ Hiền. Vì chúng sanh thuyết cảnh giới Như Lai pháp vương, Như Lai thập lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, những việc thần thông, thành tựu tất cả đại trí tuệ địa. Nay ta thị hiện mười lực Như Lai, bốn vô sở úy, thần lực đà la ni, an trụ tất cả chánh đạo chư Phật. Do thần lực đà la ni này, có thể làm cho tất cả chư Phật mười phương đồng một pháp thân.

Thiện nam tử! Ta vì đối với chúng sanh trong đêm dài bệnh khổ, khổ não, nhiều bệnh gầy còm, tật dịch già suy, xan tham bần cùng, nguy ách khốn khổ, nước mất nhà tan, mất quê trôi giạt, nghèo đói cô độc, thất thế yếu hèn không ai cứu giúp. Tất cả đều do đời trước không có tâm từ bi, quả báo của nghiệp ác bị lệ thuộc nơi kẻ khác, tám khổ suy não dùng làm y phục. Ta vì những người không chỗ quay về nương tựa này, dùng đại bi phương tiện mà cứu giúp họ. Những người nghèo khổ, ta dùng năng lực đà la ni làm cho kho tàng của họ tự nhiên đầy tràn. Hoặc có kẻ tham lam keo kiệt, đến chết vẫn không xả nên làm quỷ giữ của. Ta vì những người tham đắm này, dùng các phương tiện để giáo hóa, dắt dẫn họ, làm cho tất cả đều được giải thoát.

Và lại phát nguyện: Ta sẽ vì các chúng sanh kia làm người cứu giúp vĩ đại, dùng thuốc pháp bố thí. Người được uống thuốc này có thể tiêu trừ tất cả các bệnh phiền não, xa lìa nỗi sợ hãi về tám nạn khổ nơi sanh – già – bệnh – chết, mười hai luân chuyển: vô minh, lão, tử và tất cả các khổ đều vĩnh viễn được đoạn trừ, xa lìa tri thức ác, gần gũi bạn lành, dùng giáo pháp thù thắng để giáo hóa tất cả chúng sanh, làm cho họ được an trụ nơi ba nghiệp thanh tịnh, kính tin pháp thân chân thật vi diệu Như Lai, được vĩnh viễn chấm dứt sanh – già – bệnh – chết, thường trú nơi cảnh giới hoàn toàn thanh tịnh.

Này thiện nam tử! Ta thấy những chúng sanh tà kiến và bà con của họ làm luật nghi ác, thấy các chúng sanh xa rời chánh đạo, hướng nẻo đường tà, chấp trước những kiến thức điên đảo, mê hoặc dối trá, những thân – miệng – ý của họ làm vô số sự giải đãi bất thiện và sống theo pháp tà. Đối với phi chánh giác mà tưởng là chánh giác. Đối với chánh giác lại tưởng là phi chánh giác. Gần gũi bạn ác học theo pháp khổ hạnh như: nhảy xuống vực sâu, đi đến hầm lửa, tự nhảy xuống từ đỉnh núi cao, thường đi khập khiễng một chân, đốt thân bằng năm cách, bôi đất tro nhơ nhớp trên thân, nằm trên gai góc, tự nhịn đói đến chết, mùa Đông nằm xuống vực sâu lạnh lẽo và chôn vùi dưới băng giá. Giữ giới của những loại gà, chó, trâu, nai… Vô số những loại tà kiến như vậy mà muốn mong cầu giải thoát, ta dùng đủ thứ phương tiện để đoạn trừ tà kiến cho họ, làm cho họ được an trụ trong chánh kiến và làm cho khắp trời người được an vui tối thượng.

Ta lại phát nguyện: Nguyện các chúng sanh ra khỏi thế gian, không đắm trước kiến thức sai lầm, ở yên nơi đạo Vô thượng chánh chơn, được bất thoái chuyển, thành Nhất thiết trí, cứu cánh viên mãn hạnh nguyện vĩ đại của Bồ tát Phổ Hiền, hướng đến Nhất thiết trí nhưng không lìa tất cả các địa vị Bồ tát, không loại bỏ tánh chất khổ của tất cả chúng sanh để được giải thoát.

Bấy giờ, Dạ thiên Bà Sa Bà Đà muốn trùng tuyên pháp môn Bồ tát quang minh phổ chiếu chư pháp hoại tán chúng sanh ngu si, nương oai thần Phật quán sát khắp mười phương, tức vì Thiện Tài đồng tử nói kệ:

– Diệu pháp ta thành tựu

Tri thời các địa môn

Chiếu trừ ngu si tối

Quán khắp tất cả pháp.

Pháp môn ta vắng lặng

Tu tâm từ đạt được

Vô lượng vô số kiếp

Đại bi giúp quần sanh.

Thành tựu biển thương lớn

Xuất sanh Phật ba đời

Diệt trừ bao khổ não

Thiện Tài chóng rốt ráo

Con Phật tâm hoan hỷ

Chấm dứt ác thế gian

Vượt hẳn khổ ba cõi

Được vui chư hiền thánh

Xa lìa ác hữu vi

Trí Thanh văn giải thoát

Trọn vẹn trí chư Phật

Phật tử được cứu cánh

Ta dùng mắt thanh tịnh

Quán khắp cõi mười phương

Ở trong thế giới kia

Chư Phật ngồi đạo tràng

Thân trang nghiêm tướng tốt

Vô lượng chúng vây quanh

Phóng biển ánh sáng lớn

Giáo hóa khắp quần sanh

Thấy hết thảy muôn loài

Chết đây rồi sanh kia

Trôi lăn trong sáu nẻo

Nhận chịu bao khổ đau

Ta dùng biển thiên nhĩ

Nghe khắp tiếng mười phương

Tất cả biển ngôn ngữ

Đều có thể thọ trì

Ta dùng tỷ căn tịnh

Vô ngại trong biển pháp

Vào khắp các pháp môn

Thiện Tài nên cứu cánh

Ta thành tướng đại nhân

Lưỡi thanh tịnh rộng dài

Tùy thuận diễn nói pháp

Phật tử nên cứu cánh

Thanh tịnh diệu pháp thân

Ba đời đều bình đẳng

Tùy theo chỗ ứng hóa

Hiện thân khắp mọi miền

Tâm ta vô sở trước

Trong suốt như hư không

Thu khắp cảnh giới Phật

Nhưng tướng cũng không hai

Đều biết vô lượng lợi

Các biển tâm chúng sanh

Phân biệt các căn ý

Xa lìa pháp hư vọng

Ta dùng sức thần thông

Dạo khắp vô lượng cõi

Che chở hết mọi loài

Điều phục các chúng sanh

Trí tuệ tịnh như không

Vô cùng không thể sánh

Cúng dường tất cả Phật

Lợi ích khắp quần sanh

Trí tuệ sạch rộng lớn

Biết rõ muôn biển pháp

Diệt trừ các si hoặc

Phật tử đạt cứu cánh

Ta vào biển pháp Phật

Thông đạt pháp ba đời

Biết rõ Nhất thiết trí

Không thể đo lường được

Trong mỗi một hạt bụi

Đều thấy biển cõi Phật

Hoặc thấy Phật ba đời

Chân thật sức trí tuệ

Thấy Phật Lô Xá Na

Đạo tràng thành chánh giác

Mười phương cõi vi trần

Đều chuyển chánh pháp luân.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử bạch với thiên thần:

– Ngài phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác thời gian bao lâu mới được pháp môn này? Và thời gian bao lâu mới có thể làm lợi ích cho chúng sanh như vậy?

Thiên thần đáp:

– Này Phật tử! Vào thuở xa xưa, số kiếp nhiều hơn số bụi như núi Tu Di và nhiều hơn số vô lượng vô biên ở đây, có một thế giới tên Thất Bảo Công Đức Tập, kiếp tên Quang Minh Tịch Tĩnh, nước tên Bảo Nguyệt Quang Minh, thành tên Liên Hoa Quang, ở trong Diêm Phù Đề. Trong kiếp này có năm trăm ức đức Phật ra đời. Lúc đó trong thành kia có Chuyển luân Thánh vương tên Thiện Pháp Độ, dùng chánh pháp của Thánh pháp vương để cai trị thế gian, bảy báu tự đến, làm vua bốn thiên hạ, tuổi thọ một kiếp, có oai lực tự tại, không cầm binh bị vẫn tự nhiên thái bình. Vị vua này có vị đệ nhất phu nhân rất nể vì, tên Nhật Nguyệt Ý. Phu nhân vui chơi âm nhạc cho đến nửa đêm thì ngủ say, mộng thấy trong thành này có một Dạ thiên tên Tối Chánh Giác Tịch Tĩnh Quang Minh đến đứng chắp tay trước mặt bà và nói:

– Này thiện nữ nhân! Người có biết không, ở phía Đông đại thành Liên Hoa Quang có khu rừng tên Tịch Tĩnh Quang Vi Diệu Đức. Trong rừng này có cây Bồ đề tên Nhất thiết Phật Tự Tại Quang và có đức Phật Thế tôn hiệu Nhất Thiết Pháp Lôi Âm Vương, ngồi dưới cội Bồ đề thành Đẳng chánh giác, đầy đủ mười hiệu, phóng ánh sáng lớn tên Ma Ni Vương Phổ Chiếu Nhất Thiết. Đức Phật Lôi Âm Vương xuất hiện ở đời, đến ngồi dưới cội Bồ đề và mới thành chánh giác trải qua bảy ngày.

Lúc đó Dạ thiên ca tụng ngợi khen, phô diễn vô lượng công đức và thần thông tự tại của đức Như Lai, làm cho phu nhân phát đạo tâm vô thượng, tán thán những hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền. Ngay lúc trong mộng, Vương phu nhân cung kính đảnh lễ đức Phật và phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác cúng dường Phật.

Khi ấy, đức Thế tôn phóng ánh sáng sắc vàng xúc cảm tâm phu nhân và chiếu khắp cung thành toàn cả sắc vàng, tức thì phu nhân tỉnh giấc. Đức Phật cùng thị giả Thanh văn, Bồ tát và toàn thể đại chúng hiển hiện trước phu nhân. Phu nhân cúi đầu đảnh lễ đức Phật và đại chúng, cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen, đồng thời phát nguyện:

– Nguyện cho công đức này đến đời tương lai làm bậc tối tôn, tối thắng trong cõi nhân thiên.

Thiện nam tử! Ngươi nên biết, Vương phu nhân Nguyệt Ý khi ấy đâu phải người nào lạ, nay chính là ta vậy. Ta ở chỗ đức Phật kia mới phát đạo tâm, trang nghiêm công đức, trồng căn lành lớn vượt hơn cả những kiếp số vi trần núi Tu Di. Không đọa vào địa ngục, quỷ đói, súc sanh, Diêm la vương và nơi gia đình hạ tiện. Các căn đầy đủ, diệt trừ các khổ, thường ở trong hàng trời người được quả báo tối thắng. Luôn luôn được gần gũi bạn lành, thường sanh nơi nhà chư Phật, Bồ tát, không sanh kiếp ngũ trược.

Thiện nam tử! Ta được thiện lợi, ở chỗ đức Phật kia sâu trồng căn lành, nuôi lớn căn lành nên trong tám mươi ức kiếp vi trần núi Tu Di thường thọ khoái lạc vẫn chưa viên mãn căn lành. Bồ tát cũng chưa đạt được thần thông tam muội. Được hơn tám mươi ức kiếp vi trần núi Tu Di, hơn kiếp này rồi, lại hơn một vạn kiếp nữa, có kiếp tên Thanh Tịnh Vô Ưu, thế giới tên Thanh Tịnh Oai Đức. Trong thế giới đó có năm trăm ức Phật xuất hiện ở đời, thành Đẳng chánh giác, đầy đủ mười hiệu. Cõi nước đức Phật hoặc sạch hoặc dơ, lúc đó ta vẫn theo trình tự cúng dường đức Phật. Thế giới đức Phật kia có một tứ thiên hạ tên Ly Cấu Tràng, thành tên Trang Nghiêm. Bấy giờ ta là một nữ trưởng giả cực kỳ thông minh, tên Thắng Tuệ Quang, đoan trang xinh đẹp tuyệt vời. Trong đời đó, nữ trưởng giả gặp đức Phật đầu tiên hiệu Tu Di Sơn Thiện Tịch Tràng. Có một vị trời tên Tịnh Giác Nguyệt, do sức bản nguyện sanh trong thành kia. Và có Dạ Thiên tên Thanh Tịnh Nhãn, trong lúc ta ngủ ông vào vương cung, đến ngay chỗ ta hiện thân tốt đẹp ca ngợi đức Như Lai, khuyên ta phát tâm làm cho đến chỗ đức Phật mà nói rằng:

– Đức Phật Tu Di Sơn Thiện Tịch Tràng vừa mới thành chánh giác, phóng ánh sáng lớn đã trải qua bảy ngày.

Bấy giờ Dạ thiên dắt dẫn ta, ngay lúc đó ta giật mình tỉnh giấc và thấy ánh sáng lớn tràn ngập khắp cung thất. Cha mẹ ta kinh ngạc, vui mừng bảo:

– Đây là ánh sáng gì mà sắc vàng rực rỡ chiếu sáng nhà ta?

Ta liền thưa với cha mẹ:

– Trong giấc mộng, con có thấy một Dạ thiên ca ngợi công đức thù thắng vi diệu của đức Như Lai rằng: “ Có đức Phật Thế tôn tên Tu Di Sơn Thiện Tịch Tràng ra đời đã trải qua bảy ngày”. Xin cha mẹ cùng các bà con hãy đến chỗ Phật cung kính cúng dường và nghe Phật thuyết pháp.

Cha mẹ hoan hỷ bằng lòng. Khi ấy, Dạ thiên đi trước dẫn đường, ta cùng cha mẹ và bà con quyến thuộc đều đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài rồi lui về một bên. Trông thấy sắc thân vi diệu chói sáng của đức Phật, ta liền đạt Bồ tát thanh tịnh tam thế phổ trí tuệ quang minh tam muội. Được tam muội này rồi, ta nhớ về quá khứ kiếp lâu xa như vi trần của núi Tu Di đã được gặp chư Phật, chỗ thuyết kinh pháp thọ trì không quên và được pháp môn Quang minh phổ chiếu chư pháp hoại tán chúng sanh ngu si phá ma. Được pháp môn này rồi, ta lại nhớ những việc quá khứ nhiều như kiếp số vi trần thế giới của mười thế giới. Lại thấy tất cả chúng sanh ở thế giới đó và nghiệp báo xấu tốt của họ cũng như các căn lợi độn, tánh dục bất đồng, âm thanh ngôn ngữ, từ lâu đã tu nghiệp thiện, gần gũi thiện tri thức, tùy duyên hóa độ, thị hiện sắc thân để làm lợi ích. Ta thấy những sự kiện này như đang trong hiện tại. Ta dùng thần lực tam muội này ở trong mỗi niệm, tăng trưởng pháp môn, tâm tâm tương tục. Có thể dùng một thân hiện đầy khắp thế giới nhiều như cát bụi trong mười phương, cho đến đầy khắp biển cát bụi của tất cả thế giới. Và nhiều hơn số cát bụi của tất cả thế giới kia cùng bất khả thuyết, bất khả thuyết thế giới. Trong những thế giới như vậy, ta đều thấy tất cả chư Phật, nghe Phật thuyết pháp ta đều có thể nhớ nghĩ, phân tích, thọ trì. Biết rõ biển nguyện bản tịnh của đức Phật kia và biết phát nguyện thanh tịnh của chư Phật trang nghiêm cõi Phật. Nay ta cũng muốn nghiêm tịnh tất cả biển thế giới chúng sanh, trở thành tịnh độ. Như trong hiện tại, tùy duyên chúng sanh đáng gặp thân ta, ta liền thị hiện điều phục tâm kia và hóa độ họ. Từ thuở xa xưa cho đến ngày nay, trong từng sát-na liên tục, ta luôn trưởng dưỡng tăng tấn tu tập pháp môn này. Pháp môn này cứu cánh rộng lớn như các pháp giới.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát quang minh phổ chiếu nhất thiết chư pháp hoại tán chúng sanh phá ma. Chư đại Bồ tát cứu cánh vô lượng vô biên biển hạnh nguyện Bồ tát Phổ Hiền, thâm nhập tất cả các biển pháp giới, kiến lập tất cả chư Bồ tát trí tuệ tràng tam muội. An trụ trong thần thông, thành tựu viên mãn đại nguyện, bảo vệ thọ trì biển công đức lớn của chư Phật Như Lai. Trong mỗi niệm đều trang nghiêm giáo hóa tất cả chúng sanh, thành tựu trọn vẹn đầy đủ biển tánh trí tuệ, diệt trừ vô minh mê hoặc điên đảo, ban rải trí tuệ thanh tịnh trong sáng như trăng thu.

Bồ tát ở đời chiếu sáng khắp ba cõi, không đắm trước các tướng, dập tắt sự nóng đốt bức bách, thị hiện ba đời thần thông tự tại, chuyên chở chúng sanh, mở bày con đường chân chánh, ra khỏi ba đời, thanh tịnh viên mãn tất cả âm thanh, sung mãn tất cả pháp giới mười phương. Từ khi mới phát tâm cho đến Thập địa, trong suốt thời gian ấy, Bồ tát đều được đầy đủ vô lượng công đức không thể nghĩ bàn các thần thông lực và ánh sáng trí tuệ. Ta làm sao có thể biết, có thể nói được hạnh Bồ tát kia?

Thiện nam tử! Nước Ma Già Đà ở Diêm Phù Đề này có một Dạ thiên tên Vi Diệu Công Đức Ly Cấu Quang Minh. Vị Dạ thiên đó là đại sư của ta, trước đây đã khuyên ta phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, chỉ dạy cho ta được lợi ích an vui. Ngươi hãy đến đó hỏi: thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát? Tu đạo Bồ tát?

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử dùng kệ ngợi khen Bà Sa Bà Đà:

– Con thấy thân tôn quý

Tướng tốt tự trang nghiêm

Siêu việt nơi thế gian

Cũng như núi Tu Di

Pháp thân tịnh trong sáng

Ba đời đều bình đẳng

Giúp đỡ khắp quần sanh

Người ấy vô sở trước

Mở ánh sáng trong lành

Chiếu soi khắp mọi nẻo

Nơi một lỗ chân lông

Đều thấy muôn tinh tú

Tâm tịnh không vướng mắc

Mặt trời trong hư không

Vua pháp nhiếp thủ pháp

Sáng sạch trí tuệ sâu

Mỗi chân lông ánh sáng

Chiếu khắp cõi mười phương

Nơi tất cả chỗ Phật

Mây pháp mưa pháp lành

Tất cả lỗ chân lông

Thị hiện thân biến hóa

Đầy khắp mười phương cõi

Phương tiện độ chúng sanh

Khi mới hành Bồ tát

Nghiệp tịnh không thể bàn

Trong mỗi lỗ chân lông

Hiển hiện mười phương cõi

Người được biết thấy nghe

Đều được lợi công đức

Chuyên cầu đạo giác ngộ

Quyết thành Phật không nghi

Số kiếp bất tư nghì

Thường cầu thiện tri thức

Thà đọa ba đường ác

Không bỏ tâm Bồ đề

Trăm ngàn kiếp vi trần

Ngợi khen tất cả đức

Kiếp số có thể tận

Công đức không thể cùng.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử cúi đầu đảnh lễ dưới chân vị Dạ thiên, nhiễu quanh vô số vòng, quyến luyến chiêm ngưỡng, quán sát tâm không nhàm chán, từ biệt lui về phương Nam, hướng đến nước Ma Già Đà.

***

QUYỂN HẠ

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nhất tâm tư duy lời dạy của vị Dạ thiên, đạo tâm ban đầu thanh tịnh viên mãn. Tư duy xong, liền được thâm nhập các Bồ tát tạng và phát sanh biển pháp đại nguyện của Bồ tát. Tịnh hóa đạo Ba la mật chư Bồ tát, tận cùng hạnh nguyện viên mãn thanh tịnh thù thắng của Bồ tát, phát khởi thành tựu thâm nhập biển trí. Dùng Nhất thiết trí cứu giúp tất cả chúng sanh khắp mười phương, trưởng dưỡng thêm rộng lớn mây đại từ bi. Ở cõi chư Phật phát sanh các hạnh nguyện lớn Phổ Hiền.

Thiện Tài đồng tử đi dần dần đến chỗ Dạ thiên Phổ Hiền Thậm Thâm Vi Diệu Công Đức Ly Cấu Quang Minh, cúi đầu đảnh lễ, nhiễu quanh vô số vòng rồi đứng về một phía, chắp tay cung kính, bạch thiên thần:

– Trước đây con đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng chưa biết thế nào là tu hạnh Bồ tát và đầy đủ các địa.

– Hay thay! Hay thay! Đồng tử chính vì có khả năng phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác mới hỏi về hạnh Bồ tát và đầy đủ các địa.

Thiện nam tử! Bồ tát thành tựu mười pháp thì có thể đầy đủ hạnh Bồ tát. Đó là:

1- Được tất cả tam muội của chư Phật hiện tại và thấy tất cả tất cả sắc thân Phật phân minh rõ ràng.

2- Được tịnh nhãn tam muội, thấy ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của chư Phật để trang nghiêm thân.

3- Được vô lượng vô biên công đức tịnh nhãn, thấy biển lớn công đức trí tuệ sâu xa vi diệu của chư Phật.

4- Thấy vô lượng vô biên biển ánh sáng chư Phật chiếu khắp tất cả pháp giới.

5- Vô lượng bất khả tư nghì ánh sáng pháp Phật nơi một lỗ chân lông phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả vô số chúng sanh, làm cho các chúng sanh đều phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, thành biển ánh sáng chư Phật Như Lai tâm từ bao phủ. Nơi mỗi niệm mỗi niệm khắp mười phương thế giới thi hành Phật sự. Đối với các chúng sanh, tùy duyên ứng hiện để độ thoát họ, làm cho vô lượng chúng sanh đều được giải thoát.

6- Ở trong mỗi một lỗ chân lông đều thấy tất cả biển ngọc báu ma ni ánh sáng rực rỡ.

7- Trong từng niệm hiện ra tất cả biển lớn chư Phật biến hóa khắp đầy đủ pháp giới, cứu cánh tất cả cảnh giới chư Phật, giáo hóa chúng sanh mà không chướng ngại.

8- Hiện ra biển lớn âm thanh vi diệu của tất cả Phật vô trụ, chuyển pháp luân thanh tịnh chư Phật ba đời, diễn nói tất cả biển kinh và biển mây pháp, nghĩa lý sâu xa không cùng tận.

9- Rốt ráo biển âm thanh chư Phật, thâm nhập tất cả biển Như Lai và rốt ráo tất cả biển Như Lai.

10- Thâm nhập thị hiện thần lực tự tại không thể nghĩ bàn của chư Phật để hóa độ chúng sanh trụ nơi vô lượng vô biên biển danh xưng chư Phật.

Thiện nam tử! Đây gọi là mười pháp Bồ tát. Nếu có Bồ tát đầy đủ mười pháp này thì có thể viên mãn các hạnh Bồ tát, cũng có khả năng hoàn bị hạnh nguyện Phổ Hiền.

Thiện nam tử! Ta đã thành tựu pháp môn Bồ tát tịch diệt định nhạo tinh tấn. Nhờ định lực này, ta đều thấy cõi Phật nghiêm tịnh và tất cả chư Phật ba đời cùng biển quyến thuộc. Ta thấy vô lượng vô biên biển thần thông lực của chư Phật Như Lai, phân biệt rõ ràng danh hiệu chư Phật và biển chuyển pháp luân của chư Phật Như Lai. Biết thọ mạng ngắn ngủi cho đến vô lượng của chư Phật kia. Biết vô lượng biển âm thanh vi diệu thanh tịnh của chư Phật. Chư Như Lai kia pháp thân thanh tịnh vô lượng vô biên đầy khắp pháp giới, cũng không chấp trước tất cả các tướng Như Lai nhưng nghĩ đến vô tướng hảo. Vì sao? – Vì chư Phật Như Lai tướng không đến không đi. Vì đã không còn tất cả tướng đến – đi cho nên không trụ ba đời, vì nó tiếp giáp như nhau. Cũng chẳng phải quá khứ, không trụ nơi hiện tại, không thấy tương lai. Vì diệt trừ tất cả tướng thế gian cho nên không thủ tất cả tướng đến và đi. Thế nên gọi Như Lai là bất lai, bất khứ. Chư Phật Như Lai không sanh, không khởi, không lùi, không hết, không diệt mất, không hiện hữu, cho nên gọi là pháp thân. Chư Phật Như Lai không sanh khởi tánh nói năng, không diệt mất tánh nói năng, vượt qua tất cả ngôn ngữ, vì ngôn ngữ đoạn diệt. Thân chẳng phải thật diệt độ nhưng thị hiện diệt độ, cũng như tánh pháp huyễn hóa cho nên không hoại diệt. Chư Phật Như Lai không thật không hư, chỉ vì muốn làm lợi ích cho chúng sanh nên tất cả Như Lai dùng đạo Như Lai không đến không đi mà xuất hiện ở đời. Chư Phật Như Lai không sanh không mất, không diệt không trụ, không đến đây không đến kia. Vì pháp tánh thanh tịnh nên không thể hoại diệt. Chư Phật Như Lai không tánh không tướng, vì xa lìa nơi tất cả đạo ngôn ngữ nên chư Phật Như Lai dùng một tướng nhất như, đồng nhập pháp tánh nên không bến bờ, nên rốt ráo tất cả tánh pháp giới.

Thiện nam tử! Ta biết rõ ràng những điều về Như Lai như vậy và chỉ đạt pháp môn Tịch diệt định nhạo tinh tấn này để sáng soi tăng trưởng căn lành thêm rộng lớn. Thâm nhập tùy thuận chân như vắng lặng sâu xa hiện khắp cảnh giới, phân biệt rõ ràng tướng bình đẳng hay hư vọng, diễn nói pháp lớn bình đẳng sâu xa, đem tâm đại bi giúp đỡ tất cả mọi loài chưa từng xả bỏ. Nhất tâm hoàn toàn vắng lặng, không có tư tưởng sanh hay diệt, tăng trưởng chánh thọ, nhập định vắng lặng, bắt đầu nơi sơ thiền. Diệt trừ nghiệp ý, được trí lực vắng lặng, nhiếp thủ chúng sanh, hoan hỷ an lạc, nhập đệ nhị thiền. Xả ly sanh tử, Niết-bàn tịch diệt, quán tánh chúng sanh, tu đệ tam thiền. Vì đoạn diệt các khổ phiền não của chúng sanh mà không thấy có tướng chúng sanh, tu đệ tứ thiền. Tăng trưởng nhất thiết trí tâm nguyện giác ngộ, phát sanh tất cả phương tiện quyền xảo vi diệu biển định Bồ tát. Thâm nhập tất cả các biển pháp môn, thành tựu du hý thần thông Bồ tát, xuất sanh thần lực tự tại trí tuệ thanh tịnh sáng suốt, thâm nhập khắp cửa pháp giới.

Này thiện nam tử! Ta chỉ biết tu tập pháp môn Bồ tát tịch diệt định nhạo tinh tấn này, dùng các thứ phương tiện độ thoát chúng sanh. Lúc nửa đêm thanh vắng, vì các người tại gia tham đắm ngũ dục, ta nói tướng bất tịnh. Vì người cho rằng cuộc đời là khoái lạc, ta nói về tưởng khổ, tưởng trói buộc, bức bách, tưởng ăn bất tịnh, tưởng tâm cuồng si, tưởng quỷ La-sát. Vì người cho rằng vạn pháp thường còn, ta nói về tưởng vô thường, tưởng tám khổ tập hợp nơi thân, tưởng vô ngã và ngã sở, tưởng không tự tại, tưởng về không, những vấn đề thường và vô thường, tưởng khổ và không khổ. Quán những tưởng này rồi, ta giáo hóa cho những chúng sanh đó biết nhàm chán ngũ dục, có tưởng chê trách thân tâm, tưởng ở trong nhà mà có lòng tin rồi tiến đến không nhà và xuất gia học đạo, ở chỗ vắng vẻ, tư duy tọa thiền, đoạn trừ tất cả chướng ngại và những tiếng xấu ác làm rối đạo. Lúc đêm thanh vắng, để làm cho chúng sanh tâm được an ổn, nên ta thị hiện như vậy. Dùng sức quỷ thần diệt trừ sự khủng bố của họ, làm cho họ phát sanh tâm đạo. Nếu có người muốn cầu xuất gia, ta sẽ vì họ mở cửa tâm chánh pháp, soi sáng con đường họ đi, xua tan bóng tối vô minh, làm cho họ không còn sợ hãi. Ta vì người đó ca ngợi Phật, Pháp, Tăng, khiến họ phát đạo tâm. Và ca ngợi sự gần gũi thiện tri thức, tu hạnh công đức.

Thiện nam tử! Nay ta đem thần lực pháp môn này làm cho những chúng sanh chưa sanh pháp ác, phương tiện khiến cho không sanh; đã sanh pháp ác rồi, phương tiện khiến cho trừ diệt. Chưa sanh pháp lành, phương tiện làm cho sanh; đã sanh pháp lành, phương tiện làm cho tăng trưởng. Thực hành rộng rãi hạnh Bồ tát, tu các pháp Ba la mật, nguyện lớn đầy đủ, phát sanh tất cả trí tuệ và từ bi, mong sao cho chúng sanh được an vui chốn nhân thiên, trừ bỏ vọng tưởng, tăng trưởng pháp lành, tùy thuận giúp đỡ cho họ thành tựu hạnh pháp vô tận, vô biên, vô thọ.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát tịch diệt định nhạo tinh tấn. Chư đại Bồ tát đầy đủ nguyện Phổ Hiền, đầy đủ hạnh những điều thực hành của Phổ Hiền, cứu cánh được đoạn trừ cảnh giới tối tăm và được thành tựu các căn lành, ánh sáng trí tuệ công đức của Như Lai, năng lực cảnh giới Phật, tất cả tâm Phật không có chỗ chướng ngại. Thoát khỏi bóng tối tử sanh, không còn bị ô nhiễm. Tất cả đều đầy đủ nguyện Nhất thiết trí, thâm nhập tất cả biển cõi chư Phật, hộ trì tất cả biển pháp chư Phật, thành tựu tất cả biển mây pháp vi diệu. Trí tuệ Như Lai có thể làm lợi ích khắp tất cả chúng sanh bị đắm chìm trong vô minh sanh tử. Nhờ ánh sáng trí tuệ chiếu soi màn đêm sanh tử tối tăm. Ta làm sao có thể biết và có thể nói hết hạnh công đức kia được?

Thiện nam tử! Cách đây không xa, về phía bên phải đức Như Lai có một Dạ thiên tên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh. Ngươi hãy đến đó hỏi thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát, tu đạo Bồ tát?

Bấy giờ Dạ thiên Phổ Hiền Thậm Thâm Vi Diệu Công Đức Ly Cấu Quang Minh muốn lập lại ý nghĩa pháp môn này nên nói kệ:

– Thâm nhập định hiện tiền

Thấy khắp tam thế Phật

Mắt tịnh không bụi dơ

Phân biệt biển chư Phật

Quán thân tịnh vi diệu

Thâm nhập tướng tốt Phật

Nhất niệm sức vô lượng

Biết khắp tánh pháp giới

Thân tịnh ngồi đạo tràng

Lô-xá-na chánh giác

Trong pháp giới mười phương

Chuyển pháp luân tịnh diệu

Trí giác Phật tối thắng

Chấm dứt tướng không hai

Những trang nghiêm tốt đẹp

Hiển bày khắp chúng sanh

Thân Phật khó nghĩ bàn

Đồng nhất thân hư không

Hiện khắp mười phương cõi

Một lúc đều giáo hóa

Phóng hào quang viên tịnh

Hàm dung các cõi Phật

Sắc sạch không nghĩ bàn

Chiếu khắp các pháp giới

Nơi mỗi lỗ chân lông

Hiện vô lượng cõi Phật

Vô lượng sắc vi diệu

Chiếu khắp các thế giới

Hào quang bất tư nghì

Từ nơi chân lông hiện

Soi chiếu khắp quần sanh

Diệt trừ bao phiền não

Hóa Phật phát diệu âm

Vang đầy mười phương cõi

Thấy khắp cõi chư Phật

Đều như sấm chớp vang

Tiếng Như Lai vi diệu

Vang khắp cõi mười phương

Mưa thấm pháp cam lồ

Khiến phát Bồ đề tâm

Vô số kiếp tu hành

Giáo hóa các chúng sanh

Thấy khắp Lô-xá-na

Tất cả các cõi Phật

Bao nhiêu âm hưởng đời

Như Lai đều xa cách

Hiện khắp loài quần manh

Khiến chúng ở cảnh giới

Tất cả các Bồ tát

Sở hành không nghĩ bàn

Nơi một chân lông Phật

Nhất niệm đều biết hết

Gần đây có Dạ thiên

Tên Hỷ Mục Quán Sát

Ngươi đến đó để hỏi

Hạnh Bồ tát thế nào?

Thiện Tài đồng tử cúi đầu kính lễ dưới chân Dạ thiên, nhiễu quanh vô số vòng, hướng về chỗ Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh. Khi ấy, Thiện Tài đồng tử chuyên cầu thiện tri thức, chánh niệm lời dạy của thiện tri thức, nhân nơi thiện tri thức sanh ra các công đức, phát tâm Bồ đề. Thiện tri thức khó thấy, khó gặp. Thấy được thiện tri thức sanh tâm hoan hỷ, diệt trừ những ý tưởng loạn động. Thiện tri thức là đoạn tận nghi hoặc, có thể phá tan chướng ngại. Gặp thiện tri thức nên biết là đã gần gũi bậc Nhất thiết trí. Gặp thiện tri thức tức được thâm nhập biển pháp chư Phật. Gặp thiện tri thức phát sanh tất cả tưởng chư Như Lai trong mười phương. Được nghe thiện tri thức có những điều giảng nói, nên biết là được tưởng chánh niệm pháp vân đà la ni, thọ trì tất cả pháp Phật thanh tịnh, thấy tất cả tưởng chư Phật chuyển bánh xe pháp. Gặp thiện tri thức là đầy đủ tất cả biển đại từ cứu giúp chúng sanh. Gặp thiện tri thức nên sanh hoan hỷ, trí tuệ sáng suốt đều có thể chiếu khắp biển pháp giới chư Phật.

Bấy giờ Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh dùng sức oai thần gia bị Thiện Tài đồng tử và ngợi khen Thiện Tài:

– Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử mới có thể cầu thiện tri thức như vậy và đến chỗ thiện tri thức thân cận cúng dường. Thiện tri thức tức là giác ngộ, cầu thiện tri thức là đại tinh tấn.

Thiện nam tử! Thiện tri thức khó thấy khó gặp. Năng lực thiện tri thức không thể phá hoại. Thiện tri thức du hóa khắp mười phương, diệt trừ sanh tử, chấm dứt tất cả phiền não, thành tựu biện tài. Thiện tri thức là thâm nhập tất cả vô lượng đại sự, trang nghiêm đạo chánh thuận. Thiện tri thức thể hiện hết các pháp môn, có thể làm cho tất cả được không chướng ngại mà không xa lìa chỗ cũ, mà đến tất cả cõi Phật mười phương. Mong cầu thiện tri thức nên sanh khởi tưởng này. Không đến không đi, không lay không động và không có tướng đến đi. Vì Nhất thiết trí cứu giúp chúng sanh nên cầu bạn lành.

Khi ấy, Thiện Tài đồng tử gặp thiện tri thức liền được biết rõ vô lượng vô biên các biển đại nguyện, được Nhất thiết trí, lợi ích chúng sanh, gần gũi bạn lành. Vì các chúng sanh vô lượng vô số hằng sa biển bụi trần thế giới, tận cùng biển thế giới này. Và hơn số vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết ở địa ngục lớn này. Vì chúng sanh đó phát khởi từ bi, hướng thẳng giác ngộ, diệt trừ vô lượng kiếp khổ của chúng sanh. Dùng một âm thanh vang khắp tất cả thế giới mười phương, tuyên giảng pháp vi diệu. Nếu có người nghe sẽ diệt vô lượng kiếp sanh tử tội chướng. Dùng hạnh nguyện đại bi để tự trang nghiêm, tu hạnh Bồ tát, ở trong mỗi niệm được tướng Nhất thiết trí, đầy đủ thần thông lực. Ở khắp mọi nơi thường gặp tất cả chư Phật Như Lai, gần gũi cúng dường, làm thiện tri thức, dùng trang nghiêm Phật để trang nghiêm chính mình. Nghiêm tịnh khắp pháp giới chư Phật ba đời, không vào dòng sanh, không ở dòng tử, đầy đủ thần thông Phật. Không trụ pháp giới, không lìa pháp giới mà có thể qua lại khắp thế giới mười phương, chỗ thiện tri thức đầy đủ khắp pháp giới. Không chấp trước ngôn ngữ, từng khoảng sát-na luôn tu hạnh Bồ tát, đầy đủ cảnh giới tánh, thành tựu Nhất thiết trí. Đầy đủ tất cả du hý thần thông Phật, trang nghiêm Phật đạo. Do pháp bình đẳng, thân tâm không lay động, giúp đỡ khắp quần sanh, năng lực thiện tri thức hiển hiện ba đời.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử đến chỗ Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh. Lúc đó Dạ thiên ở trong đại chúng, ngồi trên tòa sư tử Bảo liên hoa, tư duy pháp môn Bồ tát Phổ hiện quang tràng hỷ tịnh. Tất cả lỗ chân lông phát ra mây màu vi diệu. Người nào trông thấy mây này vui vẻ không chán. Mỗi một lỗ chân lông hiện các mây báu, gọi đó là kết quả của sự thực hành hạnh trí tuệ, ích lợi cho chúng sanh, tránh xa nơi tránh tụng. Dùng tâm bình đẳng không đắm trước các pháp, đem trí tốt đẹp tối thượng cứu giúp các chúng sanh, hiển hiện ba đời tu hạnh Bồ tát. Tâm không bỏn sẻn, có thể bỏ được những gì khó bỏ nhất, bố thí hết tất cả, thân tâm bình đẳng không thể nghĩ bàn, đem phước bố thí bảo bọc chúng sanh. Đối với chúng sanh không khởi tâm đắm trước, không thấy tướng chúng sanh, không từ bỏ chúng sanh, trọn vẹn hạnh khổ Bồ tát ba đời. Tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới bị trói buộc bởi vô minh, sống trong si mê phiền não tích tụ. Bồ tát dùng thần thông đại bi mở trói cho họ và ở nơi tất cả lỗ chân lông xuất ra tất cả vô số chúng sanh. Bồ tát tự tại tùy duyên biến hóa mây thân, đem mây thân này nhiều khắp pháp giới hư không, ở trước chúng sanh thị hiện sắc thân, thiền định bất động. Ở trước chúng sanh thị hiện thần thông tam muội để giác ngộ họ, không ưa thích thế gian, xa lìa ba cõi, diệt trừ sanh tử như tránh hầm lửa, nhưng ở nơi tất cả chúng sanh lại thị hiện sanh tử. Hiện các thứ khoái lạc và tướng thành bại trong cõi nhân thiên. Vì các chúng sanh nói về pháp quán bất tịnh, làm cho họ đều biết tu hành, đoạn trừ vọng tưởng điên đảo. Vì các chúng sanh nói về pháp biến dịch khổ não, tất cả pháp thọ thân hữu vi đều là vô thường.

Nguyện cho các chúng sanh thâm nhập cảnh giới Phật, vĩnh viễn xa lìa vô thường, trụ nơi giới Bồ tát ba la mật không thể nghĩ bàn, thường thọ giới cấm thanh tịnh của chư Phật, không bao giờ hủy phạm. Tâm không nghi hoặc, chỉ cho các chúng sanh giới cấm đầy đủ, dùng hương thơm của giới xông ướp tất cả chúng sanh. Và nơi mỗi chân lông sanh ra tất cả mây sắc thân vi diệu, dẫu cho bị cắt chặt tay chân và những chi phần thân thể, bị đánh đập dữ dội hay mắng chửi ác độc, chê bai dối trá… tất cả đều nhẫn thọ. Đối với chúng sanh đó không sanh tâm sân, không khởi ý hại, ngợi khen người xấu ác, không bao giờ hủy phạm, thân tâm cung kính rất là yêu mến, giống như cha mẹ thương yêu nhớ nghĩ đứa con một.

Tuy làm những hạnh này, Bồ tát không sanh tâm cống cao kiêu mạn, hiển hiện các pháp chân như, pháp nhẫn, khéo biết hòa hợp các chúng sanh ác trong tất cả thế giới, biết sâu xa trí tuệ hư không tánh cùng tận hay vô tận. Thực hành nhẫn của Bồ tát, đem tâm trí Phật đoạn trừ tất cả phiền não, chấm dứt tất cả kết sử tích tụ. Có khả năng gánh vác tất cả chúng sanh xấu ác của thế gian như bảo vệ đôi mắt. Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu các đức nhẫn kim cang của chư Phật, hoàn toàn trong sạch không vết nhơ. Ở nơi mỗi một lỗ chân lông hiển hiện sắc thân Như Lai thanh tịnh tùy duyên ứng hóa độ chúng sanh, làm cho họ được trông thấy. Và ở nơi mỗi một lỗ chân lông sanh ra các loại sắc thân nơi tất cả các nẻo, thị hiện dõng mãnh tinh tấn làm cho chúng sanh tu hành, như cứu lửa cháy đầu, chinh phục các ma oán, được bất thoái chuyển thù thắng, cứu giúp tất cả muôn loài, cứu vớt ra khỏi biển sanh tử, vĩnh viễn xa lìa những nỗi buồn lo và các nẻo vô minh sợ hãi, vượt qua núi sanh tử, vĩnh viễn xa lìa các biển ái dục, cung kính cúng dường tất cả chư Phật tâm không mỏi mệt, thọ trì gìn giữ pháp luân chư Phật, nỗ lực tinh tấn diệt trừ chướng ngại bao trùm tất cả chúng sanh, làm cho họ đều được điều phục, nhập vào luật hạnh tâm không giải đãi, hiển bày tất cả cõi nước thanh tịnh chư Phật để giáo hóa chúng sanh, trang nghiêm tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Những công đức này đều bắt nguồn từ quả báo tinh tấn ba la mật sanh ra.

Mỗi một lỗ chân lông xuất hiện tất cả các loại hình sắc, dùng các phương tiện để diệt trừ những khổ sầu não của chúng sanh, làm cho họ được hoan hỷ, nhàm chán chê trách những mối họa ngũ dục, rất là xấu hổ, điều phục các căn, tu hành phạm hạnh vô thượng tối thắng, Thanh tịnh nghiệp thân – miệng – ý. Thể hiện cụ thể tất cả những dục vọng nơi thế gian đều chẳng phải an vui. Thị hiện các loại hình sắc như vậy, làm cho chúng sanh khoái lạc, thường thích thọ trì, sanh ra chánh pháp, tâm không tán loạn, an trụ thẳm sâu nơi chín lớp định, diệt trừ tất cả phiền não của chúng sanh, mang đến cho họ sự an lạc. Hiển hiện các biển tam muội cảnh giới thần lực thông minh tự tại của Bồ tát, làm cho các chúng sanh thân tâm hoan hỷ, dập tắt ngọn lửa phiền não, được vui thanh lương, tăng thêm pháp lành. Nghiệp thân – miệng – ý thường được vắng lặng, các căn tươi vui, được pháp hỷ lạc.

Nơi mỗi một lỗ chân lông thị hiện tất cả chỗ sanh trong năm đường. Làm cho năm đường trong mười phương đều thấy thân kia đến chỗ chư Phật, tận cùng tất cả cõi Phật, chư Phật, sư trưởng và thiện tri thức, cung kính cúng dường tâm không lười mỏi. Tất cả sự chuyển pháp luân Như Lai đều có thể thọ trì, không bao giờ nhàm chán, không sanh thoái chuyển, tận cùng tất cả cõi biển chư Phật. Hóa độ chúng sanh, thị hiện tất cả biển pháp, hộ trì chánh pháp mà không thấy pháp tướng. Thị hiện tất cả các môn tam muội, thân tâm thanh tịnh, đoạn trừ tất cả sự nghi hoặc của chúng sanh. Dùng năng lực trí tuệ phân biệt tất cả biển tâm của chúng sanh. Dùng tuệ Kim cang phá hoại các núi tà kiến của chúng sanh, tâm sanh mặt trời trí tuệ sáng suốt viên mãn thanh tịnh. Ở trong một niệm có thể phá tan bóng tối si mê che phủ chúng sanh. Làm cho họ xa lìa Thanh văn, Bích Chi Phật địa và pháp nhị biên về có – không điên đảo nghi hoặc. Tất cả đều hoan hỷ, được vui trí tuệ, giáo hóa tất cả hướng về Phật đạo.

Và nơi tất cả lỗ chân lông sanh ra tất cả thân chúng sanh nhiều như bụi trần, thị hiện các loại sắc thân và không thể nghĩ bàn, tùy chỗ đáng độ đều hiện ra trước nơi ấy. Ở trong một âm nói vô lượng âm, trong vô lượng âm diễn nói một âm. Tùy theo ngôn ngữ của những loại chúng sanh mà nói tất cả kho tàng công đức của chư Phật. Chỉ bày hạnh thế gian hữu tác hay vô tác, hữu ký hay vô ký. Hiểu rõ tất cả quả báo hạnh nghiệp ba đời, không ưa thích ba cõi, ca ngợi pháp xuất thế, xa lìa cõi. Những hạng điên đảo, tà kiến, đói khát đều khiến cho họ xuất ly, hướng đạo cam lồ, thẳng đến Nhất thiết trí, vượt hẳn các địa nhị thừa sợ hãi. Đối với pháp hữu vi hay vô vi, tâm không vướng mắc, ngược chiều sanh tử, hướng thẳng Niết-bàn nhưng không bỏ các hạnh, không lìa các thú, qua lại năm đường không nhàm chán, mỏi mệt. Phát tâm tinh tấn thù thắng, thành tựu bình đẳng, đem pháp chánh giác giáo hóa chúng sanh, đạt Nhất thiết trí.

Mỗi một chân lông phát ra thị hiện biết bao cõi Phật số nhiều như bụi trần. Thân biến hóa như mây, biến hiện trước tất cả các chúng sanh tu hạnh Phổ Hiền, trọn vẹn tất cả nguyện không thể cùng tận, khuyên răn, sách tấn chúng sanh hướng đến Nhất thiết trí. Trong khoảng một niệm, thị hiện tu tập tất cả tịnh hạnh, cung kính cúng dường vô số đức Như Lai mà tâm không cảm thấy đủ. Xây dựng pháp tràng, dẹp trừ ngoại đạo, giữ gìn tất cả các hạnh Bồ tát, tâm tâm nối tiếp, đầy đủ tất cả các Ba la mật. Mỗi một biển bụi trần sanh ra tất cả các biển pháp tánh, diễn nói tất cả biển âm thanh pháp, biến đầy khắp cõi biển bụi trần trong mười phương. Đem âm thanh này trở lại tận cùng kiếp hải vi trần thế giới, nuôi lớn căn lành tất cả chúng sanh. Trụ lâu dài nơi tất cả vô lượng vô biên a tăng kỳ số bụi trần biển cõi Phật, vô số bụi trần kiếp không thể nói hết được. Vì các chúng sanh làm cho họ được tăng tấn. Và vượt hơn số này trụ thọ bất diệt. Đến khi kiếp hoại, nương vào thần lực Phật nên được không hoại diệt ba đời tất cả bụi trần cõi Phật chư Phật xuất thế, đều khiến cho đến nơi cung kính cúng dường, gìn giữ thọ trì chánh pháp luân Phật, an trú trong thần thông, thanh tịnh cõi nước Phật. Giáo háo chúng sanh qua bờ giác ngộ, làm cho họ được khoái lạc, hoan hỷ, an vui.

Nơi mỗi một lỗ chân lông xuất ra tất cả hóa thân, ứng hiện tất cả chúng sanh; và nghiệp báo của chúng sanh hiện nơi tất cả lỗ chân lông. Và nơi mỗi một lỗ chân lông mưa đầy đủ những vật dụng cúng dường để cúng dường chư Phật và ban bố cho chúng sanh. Nhờ tâm lực pháp vương nên cảnh giới không hoại diệt, không thể cùng tận, kiên trụ như tướng, không lui sụt, không chìm đắm, tâm hạnh bình đẳng, không trụ không vướng mắc, phát sanh hạnh thanh tịnh hoan hỷ tuyệt đối. Dùng năng lực từ tâm diệt trừ tội ác chúng sanh. Năng lực thiện nguyện bản thệ của Bồ tát hoại diệt bốn ma, diệt trừ tất cả núi nghiệp phiền não, chấm dứt các pháp thế gian, tu đại từ bi. Nơi hạnh Bồ tát được bất thối chuyển, giúp đỡ tất cả chúng sanh có duyên lành trong mười phương thế giới, làm cho họ được tu hành các Ba la mật, thị hiện công đức vô tận của Bồ tát. Đạt đến Bồ tát chuyển pháp luân tràng thắng diệu bồ đề chư đà la ni. Dùng thắng tuệ này hàng phục ngoại đạo, đầy đủ hạnh lực ba la mật của Bồ tát. Vì các chúng sanh hướng về Nhất thiết trí.

Mỗi một lỗ chân lông thị hiện tất cả thân tướng bình đẳng của chúng sanh, làm cho ai cũng ưa nhìn. Và ở nơi mỗi một lỗ chân lông hiển hiện tất cả biển loại chúng sanh. Lại hiển hiện vô lượng vô số biết bao bụi trần không thể nói hết, biển thế giới mười phương số nhiều như bụi trần những sắc thân vi diệu đều hiển hiện tùy duyên của chúng sanh nhờ hạnh lực trí tuệ của Bồ tát. Hiển hiện bất khả thuyết bất khả thuyết biển lớn trí tuệ, khéo biết tất cả biển tâm chúng sanh, khéo biết tất cả biển căn của chúng sanh, biết các tâm và số biển tâm chúng sanh, thâm nhập rốt ráo pháp giới trí tuệ. Ở trong khoảng thời gian một niệm có thể sung mãn tất cả pháp giới, giải thoát khỏi thế gian, ca ngợi pháp xuất thế gian, trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh, ca ngợi đất nước chúng sanh thanh tịnh, học tập cách an trú thần thông của chư Phật, tán thán nguyện lực thần thông của chư Phật. Đến chỗ chư Phật cung kính cúng dường, thọ trì gìn giữ mây chánh pháp luân, hiển hiện trí tuệ mười ba la mật, làm cho các chúng sanh đều được nhiều hoan hỷ, diệt trừ nhiệt não bức bách, xa lìa sầu lo và tám pháp thế gian. Xả bỏ các điều ác, điều phục các căn. Nơi nhất thiết trí được bất thối chuyển.

Các ba la mật này đưa đến khoái lạc an vui để hóa độ chúng sanh. Chư đại Bồ tát dùng pháp thù thắng này, nổi sấm pháp lớn để thức tỉnh những chúng sanh mê ngủ. Do pháp thắng tuệ trí lực chói sáng, có thể đoan chánh hạnh ác cuồng loạn, cũng thấy bản tánh tịnh hạnh của chư Phật. Ở mỗi một lỗ chân lông đều hiển hiện như vậy mà không chướng ngại.

Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh đã tu công đức, cầu thiện tri thức, đến chỗ chư Phật thân cận cúng dường, tu tập những điều thiện, thực hành bố thí ba la mật. Có thể bố thí những gì khó bỏ như: vương vị, thành ấp, đất nước, cung điện, quan lại, vợ con, nhân dân, quyến thuộc… để xuất gia học đạo. Đây gọi là thực hành thí ba la mật.

Hành giới ba la mật là tu giữ giới thanh tịnh như giữ con mắt của chính mình. Dầu cho nhận chịu tất cả đau khổ của thế gian nhưng đối với sự giữ giới vẫn không hủy phạm. Những điều mà tất cả chúng sanh không thể thực hành thì Bồ tát thực hành. Đây gọi là hành giới ba la mật.

Hành nhẫn nhục ba la mật là bị tất cả chúng sanh sân hận mắng chửi, chê bai, đáp đập, ép bức thân thể… Bồ tát đều kham nhẫn không tỏ vẻ sân hận. Bị tất cả chúng sanh đoạt mất những lợi lạc, ghét ghen và thân ái…những sự khổ như vậy, Bồ tát đều có thể nhẫn nhục. Giả sử dùng ba ngọn lửa đốt cháy thân, chịu bao nhiêu đau đớn, tâm Bồ tát vẫn rất hoan hỷ, ví như Tỳ kheo được vào thiền thứ ba. Thân tâm vui vẻ, tin sâu các pháp, kham thọ các pháp không sanh không diệt. Đây gọi là hành nhẫn nhục ba la mật.

Hành tinh tấn ba la mật là vì Nhất thiết trí nên chịu các khổ. Từng thân phần bị lửa đốt vẫn không bao giờ sợ hãi. Vì Nhất thiết trí nên hết sức nỗ lực như cứu lửa cháy đầu, chuyên cầu giác ngộ, thân tâm vững bền không thể hủy hoại, không có ý niệm mỏi mệt, không bao giờ lui sụt. Đây gọi là hành tinh tấn ba mật.

Hành thiền ba la mật là thân tâm không tán loạn nhưng biến khắp mười phương, trọn vẹn thanh tịnh thiền ba la mật. Nỗ lực tinh tấn không bỏ tam muội, gọi là thiền ba la mật. Được thanh tịnh rốt ráo tất cả các hạnh thanh tịnh, vào tam muội thù thắng, an trụ trong thần thông, vượt qua biển đại trí, niệm niệm tương tục, đều theo trình tự nhập định thanh tịnh, gọi là thiền ba la mật. Đầy đủ các phương tiện, thân tâm thường tịnh, gọi là thiền ba la mật. Tất cả biển thiền định, cứu cánh các biển tam muội, trình tự tương tục, chưa từng đoạn tuyệt, gọi là thiền ba la mật.

Hành trí tuệ ba la mật là không vướng mắc bên này, không vướng mắc bên kia, ở trong pháp KHÔNG đạt giải thoát lớn. Đại Bồ tát này thanh tịnh viên mãn trí tuệ ba la mật. Trí tuệ tự nhiên phát sanh ra mặt trời trí tuệ thanh tịnh. Thân tâm không chấp trước, nhập kho tàng trí tuệ cứu cánh quán sát biển trí tuệ lớn là trí tuệ ba la mật. Không chấp trước tướng pháp, hành trí thanh tịnh thù thắng cảnh giới cát tường trí tuệ ba la mật. Phát sanh biển trí tuệ nghĩa vi diệu là trí tuệ ba la mật. Phát sanh tất cả các phương tiện, thân biết khắp nhất thiết trí pháp giới thanh tịnh sáng láng, năng lực tinh tấn thù thắng, gọi là phương tiện ba la mật. Phương tiện trí tuệ thanh tịnh, sanh tánh pháp sanh thân, khoảnh khắc hơi thở ra vào, được phương tiện thanh tịnh bản hạnh không hai, gọi là phương tiện ba la mật. Các vị Bồ tát bản nguyện sâu rộng, xuất thân thanh tịnh, thể hiện đời sống trọn vẹn, giáo hóa chúng sanh. Đối với các chúng sanh và các hạnh lành, tâm thanh tịnh không đắm trước, gọi là hành phương tiện ba la mật.

Hạnh nguyện ba la mật sanh ra tất cả thân biển nguyện, thâm nhập tất cả trí tuệ các biển tam muội, vượt qua tất cả Thanh văn, Bích Chi Phật địa, thị hiện sanh ra bản nguyện thanh tịnh. Thực hành ba la mật không xả không đắc, tùy theo chỗ nguyện cầu, trí tuệ bản hạnh tịnh các nguyện thân, gọi là hành tịnh nguyện ba la mật.

Hành lực ba la mật đầy đủ các công đức như ý tự tại, giúp sức cho sự tu tập đạo pháp, gọi là lực ba la mật. Nhờ hỗ trợ đạo pháp, lợi ích chúng sanh, tu các công đức mà không vướng mắc nơi công đức, không thấy tướng công đức, gọi là lực ba la mật. Nhân lực và quả lực đều đầy đủ cũng như biển lớn, gọi là lực ba la mật. Trình bày lời tựa các pháp và nói về các trí lực, gọi là lực ba la mật. Nhân quả lực xen nhau diễn nói trí lực. Biết nghiệp lực xen nhau, gọi là hành lực ba la mật.

Hành trí ba la mật thân. Trí ba la mật là danh tự thanh tịnh. Trí ba la mật là cảnh giới trí tuệ. Trí ba la mật chính là hạnh nhanh chóng. Trí ba la mật ánh sáng hiện khắp nơi giống như hương thơm vi diệu, vật khác cũng được mùi thơm thấm vào. Như gọi có tiếng vang, tất cả đều vọng lại, gọi là trí ba la mật. Ánh sáng trí rực rỡ, âm thanh thù thắng vi diệu, diễn nói nghĩa vị không cùng tận, hàm dung tất cả, gọi là trí ba la mật. Trí ba la mật phát sanh đầy đủ bản hạnh, quả báo và tánh tướng thanh tịnh, gọi là trí ba la mật. Trí ba la mật không trước, không hộ, là Nhất thiết trí, tập hợp tất cả không chấp trước, trợ bồ đề phần, trí tuệ sáng suốt, đầy đủ thắng tấn địa, thâm nhập sâu xa cảnh giới trí hạnh, gọi là trí ba la mật. Trí ba la mật thâm nhập vi diệu, biết pháp tánh và pháp trí, nhiếp thọ các pháp, trí tuệ tùy thuận, biết rõ tướng như thật của ruộng phước hay chẳng phải ruộng phước, gọi là trí ba la mật. Trí của chư Như Lai vượt khỏi ba cõi, thông đạt ba đời, biết rõ tất cả hạnh nghiệp Bồ tát, bao gồm khắp tất cả trí mà không có chỗ ngăn ngại, cũng biết trụ xứ chánh trí Bồ tát nên tu chánh hạnh. Và lại biết rõ từ lúc mới phát tâm và hướng đến địa vị trên. Với tâm phương tiện, biết rõ hồi hướng, biết rõ các pháp như, nghiệp như, báo như, biết rõ pháp luân như, biết tướng pháp luân như, gọi là trí ba la mật. Thù thắng vi diệu vô trước, nhiếp thọ chánh pháp. Người nhiếp thọ chánh pháp biết hết tất cả pháp. Người biết hết tất cả pháp thì biết pháp Như Lai, biết pháp như khứ, biết rõ nghiệp và cảnh giới nghiệp, biết rõ cõi và cảnh giới cõi, biết rõ các kiếp, biết rõ trí ba đời xuất sanh các trí Phật, biết trí Phật là trí chân chánh bình đẳng. Biết trí Bồ tát, biết trí của trí Bồ tát, biết trí Bồ tát trụ, biết trí trí tuệ công đức Bồ tát, biết trí hồi hướng tâm tịnh Bồ tát. Biết trí các đại nguyện, trí chuyển pháp luân, biết trí phân biệt pháp, nhập trí biển pháp, biết biển trí phương tiện. Biết trí dòng pháp xoay vòng đà la ni. Biết trí các pháp hướng đến. Biết tất cả trí ba la mật như vậy, sâu xa không cùng tận, rộng lớn vô biên, cứu cánh không bờ bến.

Mười ba la mật thắng trí này, ở nơi một lỗ chân lông đều hiển hiện. Tất cả lỗ chân lông đều hiện rõ các thân biến hóa để hóa độ chúng sanh. Và nơi tất cả lỗ chân lông xuất sanh vô lượng mây thân. Đó là:

Mây thân trời A-ca-nị-thác, mây thân trời Tịnh Cư, mây thân trời Thiện Hiện, mây thân trời Bất Nhiệt, mây thân trời Quả Thật, mây thân trời Biến Tịnh, mây thân trời Vô Lượng Tịnh, mây thân trời Thiểu Tịnh, mây thân trời Tịnh Quả, mây thân trời Quảng Quả, mây thân trời Vô Lượng Tịnh Quả, mây thân trời Thiểu Tịnh Quả, mây thân trời Quang Am, mây thân trời Vô Lượng Quang Âm, mây thân trời Thiểu Quang Âm, mây thân trời Đại Phạm, mây thân trời Phạm Phủ, mây thân trời Phạm Phú Lâu Na, mây thân trời Phạm Phú Lâu Cát Na, mây thân trời Phạm Ấn, mây thân trời Phạm Tự Tại, Tha Hóa Tự tại Thiên vương cùng mây thân thiên tử và thiên nữ của họ. Hóa Lạc Thiên vương cùng mây thân thiên tử, thiên nữ trời Hóa Lạc. Đâu Suất Đà Thiên vương cùng mây thân thiên tử, thiên nữ trời Đâu Suất Đà. Diệm Ma thiên vương cùng mây thân thiên tử, thiên nữ của họ. Thích Đề Hoàn Nhân thiên vương cùng mây thân thiên tử, thiên nữ của ba la mật mươi hai phụ thần. Đê Đầu Lại Tra thiên vương cùng mây thân thiên tử, thiên nữ quyến thuộc. Tất cả mây thân nam nữ Càn thát bà, Tỳ Lâu Lặc Xoa thiên vương cùng quyến thuộc thiên tử, thiên nữ của họ, mây thân nam nữ tất cả Cưu bàn trà, Tỳ lâu Bác Xoa thiên vương cùng thiên tử và thiên nữ quyến thuộc của họ. Tất cả mây thân nam nữ của rồng, Tỳ Sa Môn thiên vương cùng thiên tử và thiên nữ quyến thuộc của họ. Mây thân tất cả nam nữ Dạ xoa, Khẩn na la vương cùng mây than tất cả nam nữ Khẩn na la; Ma hầu la già vương cùng tất cả mây thân nam nữ Ma hầu la già; Ca lầu la vương cùng tất cả mây thân nam nữ Ca lầu la; A tu la vương cùng tất cả mây thân nam nữ A tu la; Diêm La vương cùng tất cả mây thân nam nữ Diêm La vương, cùng mây thân địa ngục ác thú, mây thân nhân vương, mây thân nam nữ, mây thân đồng nam đồng nữ.

Từ nơi tất cả lỗ chân lông phát ra tất cả mây thân từ các cõi như vậy. Mây thân Thanh văn, Bích Chi Phật, Tiên nhân, thần đất, thần nước, thần lửa, thần gió, thần biển, thần sông, thần núi rừng, thần ngũ cốc, thần mùi vị, thần cỏ thuốc, thần công viên, thần ao suối, thần thành quách, thần đạo tràng, thần đêm, thần ngày, thần hư không, thần địa phương, thần đường, thần hình ảnh, thần Nhật tinh, thần các quỷ mị, thần Kim cang lực sĩ, thần bộ hành. Tất cả các thân thần như vậy vân tập biến khắp tất cả thế giới mười phương. Vì tất cả chúng sanh trong pháp giới mà hiện thân Hỷ Kiến như vậy.

Bấy giờ Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh từ lúc mới phát tâm đã thực hành công đức, tích tập vô lượng các ba la mật, lần lượt thọ sanh, chết nơi này sanh nơi kia, luân chuyển trong năm đường, theo tên họ mỗi loài, gần gũi thiện tri thức, được gặp chư Phật, gần gũi cúng dường, nghe thọ chánh pháp, hành hạnh Bồ tát tâm không ngăn ngại, được các tam muội, trình tự trông thấy chiêm ngưỡng tất cả chư Phật vê sắc thân tướng tốt, thấy cõi chư Phật và thấy các kiếp lần lượt thành hoại. Được trí tuệ thanh tịnh, thâm nhập pháp giới, quán sát chúng sanh, biết biển chúng sanh chết nơi này sanh nơi kia. Được thiên nhĩ thanh tịnh, trình tự đều nghe tất cả âm thanh. Vì nghe âm thanh nên được biết tâm trí chúng sanh khác và biết tâm chúng sanh cùng những điều họ suy nghĩ. Thần túc vô ngại, an nhiên tự tại không vướng mắc thế gian, không thọ nghiệp đời sau, tận cùng cõi hư không, thân pháp tánh thanh tịnh. Tu đạt thần thông, quả báo an tịnh tốt đẹp, sung mãn mười phương, tuần tự được các pháp môn của Bồ tát, cứu cánh các biển pháp môn Bồ tát. Bồ tát tự tại, dõng mãnh tinh tấn. Bồ tát bước đi một mình không sợ hãi, đến nơi Niết-bàn, xa lìa tướng sanh tử, thanh tịnh thù thắng vi diệu, tập hợp các pháp môn công đức như ý, bình đẳng tất cả pháp giới, thị hiện tất cả mây thân công đức, thị hiện tất cả mây thân trí tuệ, diễn nói pháp âm khai thị giáo hóa, làm cho chúng sanh quay về nương tựa.

Ở khắp mọi nơi chỉ bày đạo lớn. Ở trong phong luân lay động phát âm thanh thị hiện thuyết pháp, làm cho chúng sanh thọ trì, chỉ dạy giáo hóa lợi ích an vui, tư duy không chấp trước. Đất rung, nước chảy, sóng biển, núi lửa cùng phát ra âm thanh. Tiếng chấn động cung thành chư thiên, âm thanh vang rền của cung điện ngọc báu, hình sắc thiên vương với tiếng ca múa, tiếng Long vương nổi mây sấm chớp. Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già… tất cả thần vương, các loại âm thanh ở mười núi báu. Chuyển luân thánh vương và các tiểu vương, âm thanh của tất cả mọi người nam nữ, âm thạnh của Phạm vương, âm thanh của tất cả chư thiên ca tụng, âm thanh nhạc trời, âm thanh của Ma ni bảo vương thần châu, âm thanh của Dạ thiên, âm thanh của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, âm thanh của Như Lai, âm thanh của hóa thân Như Lai đã phát ra. Vô số các loại âm thanh như vậy, vì các chúng sanh phân tích giảng nói.

Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh từ lúc mới phát tâm, nơi cảnh giới công đức, những gì khó đạt có thể đạt được. Bao nhiêu hạnh khổ khó thực hành mà có thể thực hành. Những hạnh như vậy, Dạ thiên đều nương vào thần lực Phật mà được thông đạt tất cả công đức biến hóa mây thân. Nơi mỗi mỗi mây thân thuyết mây pháp vô trước thanh tịnh này, không đoạn tuyệt hay gián đoạn. Trong mỗi niệm dạo khắp mười phương thế giới, tu nơi tịnh độ và làm cho vượt qua vô lượng vô biên thế giới này đang chịu khổ trong đường ác. Vô lượng vô biên các chúng sanh thành tựu an lạc chốn nhân thiên. Vô lượng vô biên chúng sanh vượt qua biển sanh tử, Vô lượng vô biên chúng sanh an trụ Thanh văn, Bích Chi Phật đạo. Vô lượng vô biên chúng sanh xa lìa nơi Thanh văn, Bích Chi Phật địa, được Bất thối chuyển của chư Bồ tát, hành bất khả tư nghì pháp môn Quảng Bác Hỷ Tràng Tự Tại. Trong mỗi một niệm làm cho vô lượng vô biên chúng sanh trụ Như Lai địa.

Lúc đó Thiện Tài đồng tử đã được thấy nghe, chứng kiến và hiểu rõ những việc kỳ đặc như vậy nên chánh niệm tư duy, phân biệt quán sát, thâm nhập thiền định trí tuệ, an trụ bình đẳng. Vì sao? – Vì Thiện Tài cùng vị Dạ thiên kia, thân trước đồng tu hành nên được chư Phật hộ niệm. Vì thành tựu các căn lành như huyễn không thể nghĩ bàn nên đầy đủ căn Bồ tát không thể nghĩ bàn. Vì thành tựu các căn lành Bồ tát nên được sanh nơi nhà dòng dõi Như Lai, được ân lực thiện tri thức, được thần lực tất cả Như Lai vô trước giữ gìn, được bản nguyện lực của đức Phật Tỳ Lô Giá Na nên được thành tựu căn lành, kham thọ các hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền.

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử đắc Bồ tát hoan hỷ tịnh quang minh đại hải pháp tràng, đắc thần lực của tất cả chư Như Lai trong mười phương, đắc pháp môn Bồ tát tràng của Dạ thiên Tỳ La Ma Già. Được pháp môn đó rồi, thâm nhập quán sát Phổ Chiếu thập phương quang minh pháp hải tam muội.

Thiện Tài đồng tử liền đứng dậy chắp tay cung kính nói kệ ca ngợi vị Dạ thiên:

– Vô lượng vô số kiếp

Thâm nhập pháp cao siêu

Hiển bày thân vi diệu

Tùy duyên mà ứng hiện

Biết rõ tâm muôn loài

Vô minh điên đảo hoặc

Dùng vô số phương tiện

Độ thoát các chúng sanh

Pháp thân thường tịnh diệu

Dập tắt bao nhiệt não

Không hai, thị hiện hai

Vì độ thoát chúng sanh

Ấm nhập và thế giới

Tất cả không dính mắc

Các hành và sắc thân

Giải thoát tất cả nghiệp

Không chấp pháp trong ngoài

Vượt xa biển sanh tử

Trí tuệ sáng thanh tịnh

Xua tan tối tử sinh

Hỷ Mục căn vô trước

Diệt trừ các nghi hoặc

Chúng sanh ưa vui đời

Vì hiện mười phương Phật

Sức tam muội vô ngại

Nơi mỗi một chân lông

Hiện các mây hóa thân

Tâm niệm sanh tam muội

Tâm niệm lực tam muội

Cúng dường Phật mười phương

Cứu độ các chúng sanh

Tất cả pháp cứu cánh

Quán sát các biển nghiệp

Hạnh nghiệp tự trang nghiêm

Diễn thuyết đạo vô ngại

Vì khiến chúng thanh tịnh

Đủ tướng tốt trang nghiêm

Cũng giống như Phổ Hiền

Tùy chúng sanh đáng độ

Hiển bày vô ngại thân.

Thiện Tài đồng tử nói kệ ngợi khen xong, bạch thiên thần:

– Ngài phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác đã bao lâu mới được pháp môn này? Thời gian ấy như thế nào?

Dạ thiên đáp kệ:

– Ta nhớ đời quá khứ

Vô lượng kiếp cõi trần

Bấy giờ có một kiếp

Tên là Tịch Tĩnh Âm

Thành có Chuyển luân vương

Sắc thân đẹp thanh tịnh

Đủ ba mươi hai tướng

Tám mươi đẹp trang nghiêm

Thân vi diệu viên mãn

Sắc vàng Diêm-phù-đàn

Hào quang chiếu tất cả

Tự tại dạo hư không

Chuyển luân có ngàn con

Thân đoan chánh dõng mãnh

Có một ức đại thần

Trí tuệ đều hiền minh

Có mười ức thể nữ

Xinh đẹp như thiên hậu

Dịu dàng đầy nhân ái

Phụng sự hầu đại vương

Khi đó vua Chuyển luân

Dùng chánh pháp trị vì

Thống lãnh khắp gian san

Tất cả bốn thiên hạ

Vua bỏ nước, vinh hoa

Xuất gia cầu Phật đạo

Ta hoàng hậu Thánh vương

Đầy đủ tiếng Phạm âm

Thân tỏa chiếu sắc vàng

Sáng soi bốn vạn dặm

Khi mặt trời lặn tắt

Nửa đêm vắng lặng yên

Bấy giờ ta mộng thấy

Thần hiện giáng điềm lành

Nghe Phật xuất thế gian

Hiệu là Công Đức Hải

Hiển bày sức tự tại

Đầy khắp cõi mười phương

Phóng biển lưới ánh sáng

Chiếu khắp vùng đất đai

Vô lượng thân tự tại

Sung mãn cõi mười phương

Đủ loại thân biến hóa

Sức quả báo hào quang

Đầy khắp hằng hà sa

Chiếu cùng muôn vạn nẻo

Đất chấn động sáu cách

Tự nhiên phát diệu âm

Như Lai hiện nơi đời

Chúng sanh đều hoan hỷ

Tất cả lỗ chân lông

Muôn vàn hóa thân Phật

Nhiều khắp cõi mười phương

Tùy duyên giảng nói pháp

Ta mộng thấy như vậy

Như Lai sức tự tại

Giảng nói pháp sâu mầu

Thân tâm nhiều an lạc

Mười ngàn thân Dạ thiên

Đầy khắp trong bầu trời

Ca ngợi đức Như Lai

Khai phát ta giác ngộ

Trời kia bảo ta rằng:

“Hiền Tuệ, ngươi nên biết

Phật đã hiện nước ngươi

Ngàn muôn kiếp khó gặp”.

Nghe vậy xong vui mừng

Liền thấy ánh sáng sạch

Quán sát từ đâu đến

Chỗ thọ vương đạo tràng

Ta thấy thân Như Lai

Như núi chúa Tu Di

Tất cả trong chân lông

Phóng nhiều ánh sáng lớn

Thấy Phật sức tự tại

Tâm sanh nhiều hoan hỷ

Liền phát nguyện rộng lớn:

Nguyện ta như Thế tôn

Phu nhân vua giác ngộ

Bà con và thể nữ

Ta mộng ánh sáng Phật

Hỷ lạc cả toàn thân

Tức thời cùng đại vương

Vô lượng na do tha

Bốn binh chúng quyến thuộc

Đi đến chỗ Như Lai

Ta nơi hai vạn dặm

Thường cúng dường Như Lai

Bảy báu đầy thiên hạ

Tất cả đều cúng dường

Đức Phật vì ta dạy

Công Đức Phổ Vân kinh

Biển đại nguyện trang nghiêm

Lãnh hội độ chúng sanh

Ta phát thệ nguyện lớn

Tương lai làm Dạ thiên

Những người tâm phóng dật

Đều khiến xa các ác

Khi ta mới phát tâm

Vô thượng đạo Bồ đề

Trong hữu vi sanh tử

Chưa từng có mất quên

Từ đây lại cúng dường

Ngàn muôn vạn ức Phật

An vui trong sanh tử

Lợi ích khắp quần sanh

Một, Phật Công Đức Hải

Thứ hai, Công Đức Năng

Thứ ba, Đảo Diệm Phật

Thứ tư, Phong Tuệ Trí

Thứ năm, Thiên Hoa Tạng

Sáu, Vô Ngại Nguyệt Âm

Thứ bảy, Pháp Nguyệt Vương

Tám, Viên Mãn Trí Vương

Thứ chín, Bảo Diệm Phật

Vô thượng thiên nhân tôn

Thứ mười, Nhật Âm Thanh

Ta đều đã cúng dường

Các đức Phật như vậy

Mười ức na do tha

Vẫn chưa được tuệ nhãn

Cứu cánh biển tử sanh

Tuần tự lại có kiếp

Tên là Thiên Diệu Thắng

Thế giới tên Bảo Quang

Năm trăm Phật ra đời

Trước, Phật Viên Mãn Nguyệt

Thứ hai, Minh Tịnh Nhật

Thứ ba, Quang Tràng Phật

Thứ tư, Tu Di Sơn Vương

Thứ năm, Hoa Diệm Hải

Sáu, Trí Tuệ Hải Tràng

Thứ bảy, Nhiên Đăng Phật

Thứ tám, Thiên Đức Tạng

Thứ chín, Quang Minh Tràng

Thứ mười, Phổ Trí Vương

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Chưa lìa khổ ngũ ấm

Không vui tưởng rằng vui

Đối pháp không sanh nghi

Cũng không nghi chánh pháp

Tuần tự lại đến kiếp

Tên Trang Nghiêm Phạm Âm

Bấy giờ có thế giới

Tên Liên Hoa Đăng Vân

Có vô lượng đức Phật

Và chư Phật quyến thuộc

Ta đều đã cúng dường

Nghe, thọ trì chánh pháp

Phật đầu, hiệu Bảo Sơn

Thứ hai, Công Đức Hải

Pháp Giới Tu Di Tràng

Thứ tư, Pháp Tu Di

Thứ năm, Pháp Tràng Phật

Thứ sáu, Địa Oai Thần

Thứ bảy, Pháp Lực Phật

Thứ tám, Hư Không Tuệ

Thứ chín, Pháp Diêm Sơn

Thứ mười, Chiếu Minh Sơn

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Vẫn chưa rõ chân lý

Tận cùng hết biển pháp

Tuần tự lại đến kiếp

Tên là Hoan Hỷ Đức

Bấy giờ có thế giới

Tên là Quang Công Đức

Kiếp đó có tám mươi

Na do tha chư Phật

Ta đều đã cúng dường

Kính lễ đấng tối thắng

Pháp Càn Thát bà Vương

Hai, Thọ Mạng Thọ Vương

Ba, Tu Di Công Đức

Thứ tư, Bảo Nhãn Phật

Năm, Tỳ Lô Giá Na

Sáu, Bảo Thánh Trang Nghiêm

Thứ bảy, Pháp Thắng Vương

Thứ tám, Minh Tịnh Đức

Thứ chín, Thế Gian Vương

Mười, Nhất Thiết Pháp Vương.

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Vẫn chưa được diệu trí

Thâm nhập các pháp môn

Kế tiếp lại có kiếp

Tên là Tịnh Bất Hoại

Bấy giờ có thế giới

Tên Phổ Quang Trang Nghiêm

Có mười Phật ra đời

Trừ vô lượng phiền não

Dùng công đức trang nghiêm

Nghiêm tịnh các chúng sanh

Có ngàn Phật xuất thế

Vô lượng đức trang nghiêm

Diệt trừ phiền não cấu

Khiến tất cả thanh tịnh

Ban đầu: Phật Vô Tránh

Thứ hai, Vô Ngại Lực

Thứ ba, Pháp Giới Quang

Thứ tư, Phạm Kế Vương

Năm, Ba Lâu Na Thiên

Thứ sáu, Sanh Chúng Quy

Bảy, Viên Mãn Nhẫn Đăng

Tám, Cụ Túc Pháp Đăng

Chín, Quang Minh Nghiêm Hải

Thứ mười, Oai Thần Vương

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Vẫn chưa hiểu chân pháp

Trải qua tất cả cõi

Kế đến lại có kiếp

Tên là Hương Đăng Sát

Bấy giờ có thế giới

Tên là Thanh Tịnh Khởi

Một ức Phật ra đời

Nghiêm tịnh tất cả kiếp

Chư Phật đó thuyết pháp

Ta nghe đều thọ trì

Phật đầu: Pháp Xưng Vương

Thứ hai, Pháp Thân Hải

Thứ ba, Dõng Mãnh Đảnh

Bốn, Công Đức Pháp Vương

Thứ năm, Thắng Pháp Vân

Thứ sáu, Thiên Thủ Quan

Thứ bảy, Trí Diệm Phật

Thứ tám, Hư Không Lực

Thứ chín, Phổ Thắng Khởi

Thứ mười, Diệu Đức Thủ

Cúng dường chư Phật xong

Thành tựu Bát chánh đạo.

Tiếp theo lại có kiếp

Tên Minh Tịnh Kim Cang

Bấy giờ có thế giới

Gọi là Bảo Tràng Vương

Năm trăm Phật ra đời

Các đức Như Lai đó

Ta đều đã cúng dường

Cầu pháp môn Vô ngại

Phật đầu: Viên Mãn Đức

Thứ hai, Tịch Nhiên Âm

Thứ ba, Công Đức Hải

Thứ tư, Oai Thần Vương

Thứ năm, Pháp Tối Vương

Thứ sáu, Tu Di Tướng

Thứ bảy tên Pháp Vương

Thứ tám, Công đức Vương

Thứ chín, Công Đức Sơn

Thứ mười, Quang Minh Vương.

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Và ta đều nghiêm tịnh

Tất cả đạo tối thắng

Vẫn chưa được đầy đủ

Cứu cánh pháp nhẫn sâu.

Kế tiếp lại có kiếp

Tên là Thắng Xứng Âm

Bấy giờ có thế giới

Gọi là Tịch Tĩnh Âm

Tám mươi na do tha

Các đức Phật ra đời

Ta đều đã cúng dường

Nơi đó tu chánh đạo

Phật đầu: hiệu Hoa Tụ

Thứ hai, Phật Hải Tạng

Thứ ba, Công Đức Khởi

Thứ tư, Thiên Châu La

Thứ năm, Ma Ni Tạng

Thứ sáu, Kim Sơn Vương

Thứ bảy, Bảo Tụ Phật

Thứ tám, Tịch Tĩnh Tràng

Thứ chín, Phật Pháp Tràng

Thứ mười, hiệu Tài Thủ.

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Kế tiếp lại có kiếp

Tên Thiện Thủ Công Đức

Bấy giờ có thế giới

Gọi là Thiện Hoa Đăng

Sáu ức na do tha

Các đức Phật ra đời

Ta đã từng cúng dường

Tất cả chư Phật kia

Phật đầu: Tịch Tĩnh Tràng

Thứ hai, Trí Ấn Vương

Thứ ba, hiệu Bách Đăng

Bốn, Công Đức Vân Vương

Tịch Tĩnh Quang Minh Vương

Thứ sáu, Minh Tịnh Nhật

Thứ bảy, Pháp Đăng Vương

Tám, Công Đức Thủ Vương

Chín, Thiện Công Đức Tạng Mười,

Trí Tuệ Vân Lôi.

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Chưa đạt Vô sanh nhẫn

Rốt ráo các pháp môn.

Kế tiếp lại có kiếp

Tên Vô Trước Diệm Quang

Bấy giờ có thế giới

Tên Vô Lượng Thắng Quang

Có ba mươi sáu ức

Na do tha Phật hiện

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã cúng dường

Trước, hiệu Phổ Sơn Vương

Thứ hai, Hư Không Tâm

Thứ ba, hiệu Tập Trí

Thứ tư, Trang Nghiêm Tạng

Thứ năm, Pháp Hải Âm

Thứ sáu, Trì Âm Thanh

Thứ bảy, Hóa Âm Thanh

Thứ tám, Hóa Vân Hải

Chín, Công Đức Âm Hải

Thứ mười, Diệu Âm Tràng

Mười một, Phổ Oai Đức

Mười hai, hiệu Pháp Hải

Mười ba, Tập Âm Thanh

Mười bốn, Công Đức Hải

Mười lăm, Đăng Minh Thủ

Mười sáu, Bảo Diêm Thủ

Mười bảy, Đăng Minh Phật

Mười tám, Công Đức Diệm

Mười chín, Phật Nguyệt Thiên

Hai mươi, Công Đức Thắng.

Các đức Phật như vậy

Ta đều đã được gặp

Đấng Thế tôn phước trí

Khi xuất hiện nơi đời

Ta làm công đức thiên

Cúng dường đấng tối thắng

Khi Phật vì ta dạy

Trang nghiêm nguyện đại hải

Niệm lực đà la ni

Đều có thể thọ trì

Ta được mắt sáng sạch

Tam muội đà la ni

Ở trong mỗi một niệm

Đều thấy vô số cõi

Sanh ra kho đại bi

Thâm nhập mây phương tiện

Tâm tịnh như hư không

Đều sanh từ trong mộng

Mới phát tâm Bồ đề

Rộng lớn như hư không

Cứu cánh không bờ bến

Vì hóa độ chúng sanh

Tận cùng kiếp vị lai

Nguyện cầu chư Phật lực

Quán sát các chúng sanh

Ngược thường – lạc – ngã – tịnh

Bị ngu si che phủ

Phiền não sanh hư vọng

Các tà kiến tham dục

Vô lượng các nghiệp ác

Tất cả trong các nẻo

Thọ đủ báo bất thiện

Tất cả trong các nẻo

Thân thọ các thứ nghiệp

Họa sanh, già, bệnh, chết

Vô lượng khổ bức bách

Ta phát tâm vô thượng

An lạc các chúng sanh

Khiến đến chỗ chư Phật

Đầy đủ Như Lai lực

Trọn vẹn mây nguyện lớn

Thường thấy tất cả Phật

Tu tập nơi chánh đạo

Các công đức hoàn hảo

Nhất tâm cầu rộng khắp

Vô lượng công đức lành

La Ma Già tam muội

Đầy khắp các pháp giới

Quảng đại ba la mật

Mười phương cõi Thanh văn

Tất cả các chỗ Phật

Nghe La Ma Già này

Hạnh Phổ Hiền viên mãn

Thâm nhập tịnh pháp giới

Giữ gìn tất cả pháp

Đầy đủ tất cả địa

Ba đời biển phương tiện

Tu tập hạnh vô ngại

Nhất tâm đủ trí Phật

Trí tuệ đều thông suốt.

Khi Dạ thiên nói kệ này xong, cúi đầu đảnh lễ tất cả chư Phật. Chưa ngẩng đầu lên, Dạ thiên thấy tướng bánh xe ngàn căm dưới chân đức Như Lai. Quán trở lên tất cả tướng tốt đức Như Lai, thân tâm thấy rõ tướng tốt của đức Phật, nhưng không chấp trước nơi tướng tốt đó. Với tâm rộng lớn, Dạ thiên liền nghe mùi hương ngũ phần pháp thân của Phật, thành tựu tất cả các ba la mật, trụ địa vị Bồ tát, tận cùng biển pháp Phật. Xa lìa tất cả pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc trong ba đời, trụ nơi địa vị rốt ráo hạnh rộng lớn của Bồ tát Phổ Hiền, thanh tịnh viên mãn đại cảnh giới địa. Nơi khoảng một niệm hiện khắp vô lượng cõi Phật mười phương, đầy đủ mười pháp môn. Mỗi một pháp môn đầy đủ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ các biển pháp giới, chấm dứt những khổ đau, tất cả đều tin sâu xa.

Này Phật tử! Những công đức này ta đã tu tập từ thuở lâu xa, tin hiểu thọ trì và đầy đủ hạnh Phổ Hiền.

Thiện nam tử! Bấy giờ trí tuệ Chuyển luân Thánh vương kiếp kiếp tương tục, luôn tiếp nối vương vị, được nhận dòng dõi Phật, sanh trong nhà dòng họ Thích, không đoạn mất hạt giống vắng lặng tốt đẹp của Như Lai. Người đó đâu phải ai lạ, nay chính là đồng tử Văn Thù Sư Lợi vậy. Hiền Tuệ Ngọc Nữ – phu nhân của Chuyển luân Thánh vương – nay là ta. Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh khi ấy giác ngộ cho trong giấc mộng, nay chính là hóa thân của Bồ tát Phổ Hiền.

Thiện nam tử! Lúc ta tỉnh mộng rồi, thấy ánh sáng Phật mới phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Sau khi phát tâm, ta ở nơi vô lượng số kiếp như bụi trần cõi Phật không đọa vào đường ác, thường sanh lên trời, xuống dưới cõi người hưởng thọ an vui, được gặp chư Phật. Trong thời gian ấy, trải qua vô lượng kiếp cho đến báo ứng chỗ Thủ Công Đức Tràng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri đạt pháp môn Phổ Quang Hỷ Tràng. Đạt pháp môn này rồi, thị hiện vô số thân để điều phục chúng sanh, tùy thuận khai phát làm cho họ được thân cận thiện tri thức. Hoặc là trời, là người, cho đến tất cả các loài khác ở nơi đời vị lai nghe hướng về tên Phật và nghe pháp môn Phổ Quang Hỷ Tràng cùng danh hiệu tam muội Tỳ La Ma Già, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép cũng được vượt qua vô lượng số kiếp bụi trần cõi Phật tội lỗi trong biển sanh tử, không đọa đường ác, thường sanh lên trời hay trong loài người hưởng thọ khoái lạc, thường gặp chư Phật nghe pháp, lãnh hội ghi nhớ không bao giờ quên mất.

Thiện nam tử! Ta ở chỗ đức Phật Bảo Quang Công Đức Diệm được pháp môn Phổ Quang Hỷ Tràng Tấn Tốc. Đạt pháp môn này rồi, ta nhất tâm chuyên cầu các thiện tri thức. Các căn và thân tâm hoan hỷ vui vẻ, ta du hóa khắp nơi để điều phục chúng sanh, làm cho họ vào hành luật.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Phổ Quang Hỷ Tràng và Tỳ La Ma Già tam muội này, thanh tịnh viên mãn cảnh giới ánh sáng thù thắng.

Chư đại Bồ tát trong mỗi một niệm đều không lìa thiện tri thức, thâm nhập biển lớn trí tuệ phương tiện. Nhờ thiện tri thức mới phát sanh và trưởng dưỡng pháp môn nhanh chóng, phát tất cả biển nguyện bao la. Nơi tất cả kiếp không lìa bỏ căn lành, niệm niệm tương tục thân cận thiện tri thức, cầu công đức vi diệu, cứu hộ chúng sanh, đều đầy đủ tất cả đạo đã thực hành của Bồ tát Phổ Hiền.

Bấy giờ Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh vì Thiện Tài đồng tử hiển hiện Bồ tát giáo hóa tất cả cảnh giới pháp môn thế gian tướng tốt đẹp trang nghiêm thân tướng. Trong tướng lông trắng giữa chân mày phóng hào quang lớn gọi là Phổ Tuệ Diệm Đăng Thanh Tịnh Tràng. Vô lượng ánh sáng chiếu khắp cõi thế gian rồi nhập vào trên đảnh Thiện Tài và bao trùm toàn thân đồng tử. Khi ấy, Thiện Tài đồng tử liền được Tỳ La Ma Già Viên Mãn tam muội. Được tam muội này rồi, nơi mỗi mỗi thân sung mãn khắp pháp giới. Nơi tất cả đất, nước, gió, lửa nhiều như vi trần, các trân bảo nhiều như vi trần, hương vi trần, Kim cang vi trần, ngọc ma ni vi trần, vi trần nhỏ nhất, tất cả vi trần trang nghiêm. Trong mỗi một biển vi trần như vậy đều thấy sự thành hoại các thế giới vi trần cõi Phật, tướng thành hoại của tứ đại: phong luân, thủy luân, kim cang luân, địa luân. Các thứ trang nghiêm, những núi vây quanh vô lượng biển lớn cung điện chư thiên. Những cây báu xen nhau, các thứ trang nghiêm những cung điện rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la. Cung điện thành quách của nhân và phi nhân. Những chỗ của địa ngục, ngạ quỷ, Diêm la vương. Chết đây sanh kia, đều biết rõ các pháp nhân quả. Trong mỗi một thân hiện khắp nhiều thân trong tất cả pháp giới. Thấy tất cả cõi nước chư Phật, tùy chỗ ứng hóa độ thoát nghiệp báo tốt xấu của chúng sanh. Dùng âm thanh vi diệu thuyết pháp khắp mọi nơi, làm cho pháp âm này nhập vào từ chân lông, khiến các chúng sanh đều được pháp hạnh. Thấy mỗi mỗi cõi và thấy tất cả thế giới số nhiều như cõi vi trần, thấy vô lượng vô biên tất cả biển chư Phật Như Lai, thâm nhập căn lành, ở chỗ chư Phật, trụ nơi tất cả pháp giới. Ở chỗ vô lượng đức Phật đắc vô lượng pháp môn, vượt khỏi sanh tử, an trụ trong thần thông. Ở mỗi một chỗ Phật, tự nhớ từ lúc mới phát tâm, tu bản hạnh Bồ tát, chứa nhóm các căn lành, quả báo tất cả cảnh giới. Ở mỗi một chỗ Phật, được nghe những điều chư Phật chuyển pháp luân, ghi nhớ không quên và bảo vệ chánh pháp. Dùng sức bản nguyện căn lành đều thấy tất cả chư Phật ba đời, vượt qua dòng sanh tử.

Thiện nam tử! Chư đại Bồ tát thành tựu vô lượng vô biên công đức lớn như vậy, ta làm sao có thể biết và có thể nói về hạnh công đức kia được!

Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh bảo Thiện Tài đồng tử:

– Ta dùng năng lực pháp môn Phổ Quang Hỷ Tràng này nên thường được thấy chư Phật liên tục không gián đoạn. Do nghĩa này nên biến khắp mọi nơi để giữ gìn pháp Phật khắp cõi hư không, tâm không mỏi mệt. Làm thế nào có thể hộ trì tất cả chánh pháp chư Phật? – Nhờ sức bản nguyện của đức Phật Tỳ Lô Giá Na và sức oai thần của đại Bồ tát Quán Thế Âm, đem thần chú đà la ni Bách Bảo Liên Hoa ủng hộ người thọ trì, đọc tụng, thực hành chánh pháp.

Lúc bấy giờ Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh nương thần lực Phật, liền thuyết chú đà la ni Bách Bảo Liên Hoa:

– Đa điệt tha, mạt lợi sí, ba xà la mạt lợi xí xa ma tha di tỳ xa ma tha di. Ba lạp ba đàn ni sí kế tha bà ni sí soa ha. Thiền đầu sí, mạn đầu sí soa ha. Xa bì đa bát đầu ma, vô chí sí soa ha. Nhân đà la ba ni sí soa ha. Mạn đàn di soa ha. Du xà di soa ha.

Nếu có người thọ trì chú này, không đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đối với thân hiện tại không bao giờ bị chết oan, không gặp sự ngược đãi của vua quan hay bị trói buộc trong ngục tù. Thường hưởng thọ tất cả thanh tịnh an vui. Nếu có người được đà la ni này, nên biết người đó thường được gặp chư Phật và không rời, nghe Phật thuyết pháp, chuyển chánh pháp luân, cũng thường được Vô tận thanh tịnh pháp âm thanh hải biện tài ấn đà la ni. Nếu có người được nghe đà la ni này, đầy đủ tất cả tịnh hạnh Bồ tát, chắc chắn vượt qua biển sanh tử, sẽ đến bờ giác ngộ.

Thiện Tài đồng tử nghe đà la ni này xong, cung kính đảnh lễ dưới chân Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh, nhiễu quanh vô số vòng, nhất tâm tư duy chánh niệm pháp môn Bồ tát Viên mãn Tịnh Tràng Bồ tát. Suy nghĩ, phân tích, định tâm quán sát nhớ nghĩ lời dạy của thiện tri thức, thâm nhập vâng theo lời dạy của thiện tri thức.

Khi ấy Dạ thiên bảo Thiện Tài đồng tử:

– Thiện nam tử! Trong đại chúng đức Phật đây có một Dạ thiên tên Phổ Phú Chúng Sanh Oai Đức. Đồng tử hãy đến đó hỏi thế nào là Bồ tát học hạnh Bồ tát, tu đạo Bồ tát?

Thiện Tài đồng tử cúi đầu kính lễ dưới chân Dạ thiên Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh rồi từ biệt. Đồng tử đi đến chỗ Dạ thiên Phổ Phú Chúng Sanh Oai Đức, cầu thiện tri thức tâm không nhàm đủ, liền được phát sanh căn lành đời trước nơi tất cả cảnh giới. Nhờ năng lực cảnh giới này mà thấy khắp cả chư Phật, Bồ tát, các bậc thiện tri thức trong mười phương, oai nghi tề chỉnh, không còn kiêu mạn, sanh lòng cung kính sâu xa đối với Bồ tát và thiện tri thức, niệm niệm tương tục không hề thay đổi, hoàn toàn quy y các bậc thiện tri thức.

Các vị Bồ tát kia từ khi mới phát tâm, đã có thể kham nhận làm pháp khí, cho đến thập địa. Họ cầu thiện tri thức như ta không khác, thường làm chỗ che chở, ủng hộ của thiện tri thức, nghe thiện tri thức nói những điều mật ngữ ghi nhớ trong tâm, không bao giờ quên mất. Vì sự thành tựu giác ngộ cho nên tu tất cả căn lành công đức trang nghiêm. Đầy đủ các phương tiện, đều do đời trước thân cận thiện tri thức.

Bấy giờ Dạ thiên Phổ Phú Chúng Sanh Oai Đức phóng ánh sáng tỏa chiếu. Ánh sáng này gọi là pháp môn Điều phục nhất thiết chúng sanh luật nghi thị hiện trang nghiêm. Được pháp môn này, nên đầy đủ tướng tốt để trang nghiêm thân. Đem thân tướng tốt đẹp này thị hiện tất cả chúng sanh, làm cho họ được hoan hỷ. Mỗi mỗi tướng tốt thị hiện tất cả các tướng ánh sáng. Hiện ánh sáng rồi, nơi tướng lông trắng phóng ra tất cả ánh sáng. Dùng ánh sáng này chiếu khắp tất cả, dùng tất cả ánh sáng lấy làm quyến thuộc. Ánh sáng này tên là Phổ Trí Diệm Tỳ La Ma Già Viên Mãn Minh Tịnh Tam Muội Cảnh Giới. Và ánh sáng này chiếu khắp vô lượng vô biên không có bờ bến, chiếu khắp tất cả mười phương thế gian rồi nhập vào đảnh Thiện Tài đồng tử, sáng khắp toàn thân. Ở trong thân ấy đều thấy chúng sanh chết nơi này lại sanh nơi kia. Nghiệp báo thiện ác đều hiển lộ trong thân Thiện Tài. Lúc đó Thiện Tài đồng tử liền được Cực Diệu Thanh Tịnh Tỳ La Ma Già tam muội. Khi được tam muội này, có vô lượng vô biên các chúng sanh phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tất cả đại chúng đều rất hoan hỷ, đảnh lễ đức Phật mà lui ra.

Kinh La Ma Già
Đánh giá