Kinh Lầu Các Chánh Pháp Cam Lồ Cổ

Phật Thuyết Lâu Các Chánh Pháp Cam Lộ Cổ Kinh

Tống Thiên Tức Tai dịch

Bản Việt dịch của Thích Tâm Nhãn

***

Tôi nghe như vầy:

Một thời Thế-Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc trong nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả A-nan-đà phát khởi chân tâm đến chỗ Thế-Tôn. Đến nơi, Tôn giả đầu đảnh lễ sát chân Phật, kính lễ xong đứng sang một bên, rồi Tôn giả A-nan-đà bạch với Phật:

-Kinh thưa Thế-Tôn! Thế nào là gieo trồng thiện căn thanh tịnh? Thế nào là Mạn-nã-la? Thế nào là qui y thọ trì học giới? Thế nào là chắp tay cúng kính Như Lai và sẽ thành thiện nghiệp gì?

-Thưa Thế-Tôn!

Thế nào là luân hồi thiện căn bất diệt? Khi nghiệp tận đắc được Niết-bàn là sao? Và làm tượng Như Lai được công đức thế nào?

Phật bảo:

-Này A-nan-đà! Hiện tại đối với năm đức phải tu hành gìn giữ cho thanh tịnh. Lại nói lấy những gì mà gọi là phát tự tâm, phát tha tâm để bậc Thánh-hiền được tâm hoan hỷ, thiện nghiệp cao vời, sở-cầu đều được. Sau khi thân hoại mạng chung sinh về Thiện-thệ-thiên?

-Này A-nan-đà! Nếu có người phát tâm đối với Phật nên chí thành cúng dường, làm Man-nã-la bốn phương, thì ta nói người đó đời đương lai ở Bắc-cô-lô-châu làm chủ phú quí, sau khi thân hoại mạng chung sinh về cung trời Đao-lợi.

-Này A-nan-đà! Nếu có người phát tâm với Phật nên chí thành cúng dường, làm Man-nã-la như hình bán nguyệt, thì ta nói người đó đời đương lai ở Đông-thắng-thân-châu làm chủ phú quí. Sau khi chết sinh về Dạ-ma-thiên.

-Này A-nan-đà! Nếu có người phát tâm đối với Phật nên chí thành cúng dường, làm Mạn-nã-la hình tròn, thì ta nói người đó đời đương lai ở Tây-ngưu-hoá-châu làm chủ giàu sang. Sau khi thân hoại mạng chung sinh về cung trời Đâu-suất. Này A-nan-đà! Nếu có người phát tâm vì Phật mà chí thành cúng dường, làm Mạn-nã-la hình tròn, thì Ta nói người đó đời đương lai ở nam-diêm-phù-châu làm chủ phú quí. Sau khi thân hoại mạng chung sinh về trời Hoá-lạc.

-Này A-nan-đà! Nếu qui y Phật, Pháp, Tăng và hộ trì tịnh giới, thì Ta nói thiện căn, phước đức người đó vô lượng vô biên. Tất cả Thanh-văn, Duyên-giác tân Niết-bàn-tế cũng không thể so sánh được.

Bấy giờ, Thế-Tôn bảo Tôn giả A-nan-đà:

Tuỳ ý ông nên biết hoa sen hồng kia mềm mại không dơ. Cây Vô-ưu lá sắc đỏ vi diệu. Lưỡi Ta cũng như thế, dài rộng cả diện-môn cho đến mái tóc như ông đã thấy.

Này A-nan-đà! Người nào nói vọng ngữ, nói thêu dệt, ác khẩu, hai lưỡi làm gì có được điều đó? Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác duy chỉ nói chân thật mới có tướng lưỡi như vậy. Này A-nan-đà! Nếu có người đem thân mạng qui y, chắp tay, đảnh lễ Thế-Tôn Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác, thì hữu tình làm lễ qui y đó được Ta cứu độ. Vì sao? Vì pháp giới Như Lai quyết định vậy. Nếu có người thành tâm quyết định chắp tay lễ bái và bố thí; lại có người như rửa tay, rửa sạch những đồ đựng trong khoảnh khắc thời gian này, mà phát tâm lợi sinh và nguyện hết thảy tất cả chúng sanh được an lạc, thì Ta nói người đó đã mở cửa phước, đóng đường ác tránh khỏi 3 kiếp. Thế nào là 3 kiếp? Là kiếp đao binh, kiếp bịnh tật, kiếp đói khổ. Này A-nan-đà! Lại có người trong một ngày gìn giữ, xa lìa giới sát sinh, thì người ấy không sinh vào kiếp đao binh. Nếu lấy ván sữa sống, hay chín, mật, dầu, đường phèn cúng dường cho chúng Tăng, thì người ấy không sinh vào kiếp bịnh tật. Nếu lấy một bát thức ăn, nước uống cúng dường chúng Tăng, thì người ấy sẽ không sinh vào kiếp đói khổ. Này A-nan-đà! Có 3 thiện căn vô tận vô biên trong chốn luôn hồi cũng không diệt, mà còn đến được Niết-bàn. Những gì là 3? Nghĩa là đối với Như Lai mà gieo trồng thiện căn, thì vô tận vô biên trong chốn luôn hồi cũng không diệt tận, tương lai chắc chắn đắc quả vị Niết-bàn. Đối với Pháp, Tăng mà trồng thiện căn cũng vô tận vô biên trong cõi luôn hồi không diệt tận tương lai chắc chắn đắc quả vị Niết-bàn.

Bấy giờ, Thế-Tôn dùng công đức của mình bảo A-nan-đà:

Ông có thấy Châu-nam-diêm-phù kia không?

Dạ, bạch Thế-Tôn con đã thấy.

-Này A-nan-đà! Nếu có thiện nam, tín nữ nào lấy bảy báu làm Nam-diêm-phù-châu vòng tròn dài rộng đúng 7 ngàn do tuần, đem bố thí, cúng dường tứ phương Tăng và Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cho đến Duyên-giác… Nếu có Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác Niết-bàn, và sau khi Niết-bàn lấy khối đất bàn làm tháp lớn như quả A-ma-lặc (quả xoài). Trên (mũi tháp) làm (hình căm) bánh xe pháp luân cỡ như kim, tạo cái lộng để che hình giống là táo; rồi bên trong tôn tượng Phật như lúa mạch, an táng Xá-lợi như hạt cải trắng ở phía dưới, thì Ta nói phước đức người này rộng lớn hơn những người đã nói ở trước. A-nan-đà! Đó là Nam-diêm-phù-châu mà ông vừa biết.

-Này A-nan-đà! Nếu có thiện nam, tín nữ nào lấy bảy báu làm Đông-thắng-thân-châu, xung quanh bốn mặt làm như hình bán-nguyệt, chiều dài rộng đúng tám ngàn do tuần, bố thí cúng dường tứ phương chúng Tăng và Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cho đến Duyên-giác; còn như nếu có Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác Niết-bàn hay sau Niết-bàn, lấy khối đất bùn làm tháp như quả Am-ma-lặc, trên (mũi tháp) tạo hình (căm bánh xe) pháp luân, nhọn cỡ như kim, làm cái lộng che hình lá táo, bên trong an trí tượng Phật bằng lúa mạch, an táng Xá-lợi như hạt cải trắng phía dưới, thì Ta nói phước đức người này rộng lớn hơn những người đã nói ở trước. A-nan-đà, đó là Nam-diêm-phu-châu và Đông-thắng-thân-châu mà ông vừa biết.

-Này A-nan-đà! Nếu có thiện nam, tín nữ nào có lòng tin lấy bảy báu làm Tây-ngưu-hoá-châu tròn như mặt trăng, dài rộng đúng 9 ngàn do tuần, đem cái đó cúng dường tứ phương chúng Tăng và Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cho đến Duyên-giác. Nếu có Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác Niết-bàn, hay sau khi Niết-bàn lấy khối đất bùn làm tháp như quả Am-ma-lặc, (mũi tháp) nhọn như kim hình (căm xe) pháp luân, trên có lộng che như lá táo, bên trong an trí tượng Phật bằng lúa mạch, phía trước an táng Xá-lợi như hạt cải trắng, thì Ta nói phước đức người này quảng đại hơn những người trước. A-nan-đà, đó là Nam-diêm-phù-châu, Đông-thắng-thân-châu, Tây-ngưu-hoá-châu mà ông đã biết.

-Này A-nan-đà! Nếu có thiện nam, tín nữ nào lấy bảy báu làm Bắc-câu-lô-châu tất cả 4 mặt đều bằng 10 ngàn do-tuần, đem cúng dường tứ phương chúng Tăng và Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cho đến Duyên giác. Nếu có Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác Niết-bàn, hay sau khi Niết-bàn dùng khối đất bùn làm tháp như quả Am-ma-lặc, (mũi tháp) nhọn như kim hình (căm xe) pháp luân, trên có lộng che như lá táo, bên trong an trí tưởng tượng Phật bằng hạt lúa mạch, phía dưới an táng Xá-lợi như hạt cải trắng, thì Ta nói phước đức người này rộng lớn hơn những người trước.

Đó là 4 châu lớn mà ông vừa biết. Này A-nan-đà! Nếu có thiện nam, tín nữ nào lấy 7 báu làm nhà Đế-thích-thiên-chủ-thiện-pháp đem bố thí cúng dường tứ phương chúng Tăng và Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cho đến Duyên-giác. Nếu có Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác Niết-bàn, hay sau khi Niết-bàn lấy khối đất bùn làm tháp như quả A-ma-lặc trang nghiêm đủ loại, làm (mũi tháp kiểu căm xe) pháp luân, lộng che ở trên, làm hình tượng Phật và an táng Xá-lợi giống như trước không khác, thì Ta nói phước đức người này rộng lớn hơn những người trước.

A-nan-đà! Đó là 4 châu và nhà Thiện-pháp mà ông vừa biết.

-Này A-nan-đà! Nếu có thiện nam, tín nữ nào có lòng tin cho đến lấy 7 báu làm ba ngàn đại-thiên thế giới, đem bố thí cúng dường tứ phương chúng Tăng và tứ quả cả Duyên-giác. Nếu có Ứng-chánh-đẳng-giác Niết-bàn, hay sau khi Niết-bàn, lấy khối đất bùn làm tháp như quả Am-ma-lặc, trang nghiêm đủ loại, tướng pháp luân, lộng che cung trí hình tượng Phật và an táng Xá-lợi giống như trước không khác, thì Ta nói phước đức người này rộng lớn hơn những người trước. Vì sao? Này A-nan-đà, vì Như Lai hành bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn, thiền-định và nhất thiết vô lượng vô biên, cho đến thập-lực, tứ-trí, tam-bất-cộng-pháp và tứ-niệm-xứ; thậm chí cả lòng đại bi cũng vô lượng vô biên; do Như Lai có công đức như vậy. này A-nan-đà! Khi Như Lai Ứng-chánh-đẳng-giác thuyết pháp khắp cả ba ngàn đại-thiên thế-giới chấn động.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan-đà bạch Phật:

-Kính thưa Thế-Tôn! Chánh pháp hiện tại bây giờ tên gì? Và thọ trì ra sao?

Phật bảo A-nan-đà:

-Kinh này đặt tên là Chánh-pháp-cam-lồ-cổ, cũng gọi là Vị-tằng-hữu-chánh-pháp, nên thọ trì như vậy.

Tôn giả A-nan-đà với tâm hy hữu vâng theo sự giáo hoá của Phật tín thọ phụng hành, đảnh lễ thối lui.