1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Luận Thích Ma Ha Diễn

Thích Ma Ha Diễn Luận

Long Thụ Bồ Tát tạo, Dao Tần Phạt Đề Ma Đa dịch

Bản Việt dịch của Thích Như Điển

***

Quyển 1

Nghe rằng: Trăng như kính, trời sáng như ngọc. Ở chỗ ấm áp nơi núi là chỗ tối tôn trong nhà Thiền. Che mát cả hai đường, đến tận các nước, rồi thấy được mọi việc, đạt được nhiều điều lợi ích và giương cao sự hoan hỷ của ánh sáng kia. Rồi vắng lặng nơi linh thiêng, nghe đạo ấy tự ngàn xưa, mà giống như điều hiểu biết ấy. Có cả trăm chỗ hiểu biết khác nhau, huống gì lúc bắt đầu cho việc giải thích nầy.

Trước đã nghe chỗ giải thích về thời kỳ giáo hóa. Thấy hình voi như không có, như gió tan đi. Sau đó gặp Ma Ni Bảo Tạng cho đến phía Đông và tốt đẹp quý giá nhiều như mắc võng Nhơn Đà La, nhiều như cát vậy. Bên trong làm cho vui thích, tâm ấy chẳng rộng sao? Như hoa sen mãn khai trong vườn Kỳ Viên, há là nơi đến của chỗ tốt mà mắt thấy vui ở bên ngoài? Từ chỗ ở nhìn ra thấy nổi lên. Chớ có bỏ qua mà hãy khâm thừa bên bờ sao ấy. Trẫm nay giải rõ nhơn ấy hóa ra bảy giác chi trong rừng quý báu. Trồng hoa sen tám công đức trong hồ quý, đến đó vui hưởng. Liền mau đến đó rồi, phía Đông tự đến thêm xe vàng. Ở ngay trước cửa. Phàm làm vua là cái đạo, phải viết tựa trước sách, như kiếng quý chiếu xuống nơi núi không, rồi liền hòa vào trong thế giới. Dùng văn Ma Già để ghi lại, để cho tương lai, tám vạn luân lưu về phía Đông. Đồng thời quá khứ 500 giác chi quý hóa ấy đến phía Nam để mà giáo hóa vậy. Ở nơi Quan Âm mà tạm xin tay mắt. Đây thuộc về giáo môn nhiều vô số. Đây chính là nghĩa ấy. Ở nơi Thi Ca mà chứa ngọc quý thì lo sợ, mà cái nghĩa là nhiều vô kể. Dùng cái đức, ánh sáng của Mã Minh thánh nhơn, lúc ấy đã làm hiển lộ đầy đủ về Ngài Long Thọ Đại Sĩ. Như đóa mây lành, trùm lên khắp cõi. Cao cao đẹp đẹp. Tự mình chẳng liên kết với Tăng ở trong núi, mà trồng hai loại ấy là cái nhơn làm cho hương thơm trong ao; diễn thuyết như nước chảy quý báu; che khuất trước Di Lặc. Đây không phải là chỗ bí mật phục tùng sau Thích Ca sao? Người giải thích Ma Ha Diễn luận ấy, do chỗ chứa nghĩa sâu xa nguồn cội, tánh ấy không cùng như biển cả. Nghe cái gốc gác ấy mà thấy đáng tán dương, giống như sao mai chiếu sáng sánh với mặt trăng. Người đời chưa rõ để quay về chỗ nầy. Khi về rồi như gấm hoa và đến chỗ tỏ rõ. Chẳng phải chỗ đo lường trong cuộc sống vậy. Có thể nên biết trong một cõi có cả mặt trời và mặt trăng. Dưới trời ấy lại có hai Hoàng Đế. Trẫm nghe rằng bản tiếng Phạn nầy trước ở Thiên Trúc, rồi được cung nghinh đến phía Đông nầy; đó là vào năm Hoằng Thỉ thứ 3 nhằm thượng tuần tháng 9 tại Chùa Đại Trang Nghiêm, rồi đón nhận nét bút, kính dịch luận nầy. Người trực tiếp phiên dịch là Ngài Tam Tạng Phiệt Đề Ma Đa, cùng với người đời tên Lưu Liên Đà đã chấp bút, cảm tạ thánh hiền quý báu. Trước sau cả hai năm mới dịch xong. Cả hai phương diện đều thành công tốt đẹp. Giống như dưới các vì sao, tất cả đều đầy đủ. Nước sông đã lắng sạch; nên biển lớn cũng trong lây. Ta tuy chưa rõ hết nhưng đã xuất kho báu càn khôn trên hết, để cho vào núi Diệu Cao nầy một ít nhỏ nhoi cho vui cửa mà rộng vì pháp giới. Lành lớn đến, vào chỗ đoan nghiêm, quyết ở chỗ lý nầy. Được gọi là tuyệt diệu vui mừng như được che chở của cánh chim. Lìa việc ấy thì sao gọi là ấm được. Nói như thế ắt đẹp, gọi là Trẫm vậy. Gọi là tốt lành, ấy lời của Trẫm. Đời sau làm chỗ nương vào. Ở vào chỗ lý tuyệt đối mà phúng tụng. Dừng lại ở câu mà suy nghĩ. Phá bỏ chỗ thấy ấy, tức chưa làm rộng được, mà còn hư lớn. Mất kiếng quý ấy, chớ tìm giải thích dấu vết của voi. Trẫm sẽ chẳng lấy đó ràn rụa mặt trăng để viết lời văn qua sự thỉnh cầu, như rùa và thỏ che chở với nhau, mượn đó để chế ra việc nầy, gọi là đề tựa cho việc nầy vậy.

Đảnh lễ viên mãn giác

Chỗ giác chứng pháp tạng

Bậc Đại Sĩ tạo luận

Cùng với bậc Thánh Hiền

Muốn mở cửa ngăn cách

Quyền hiển đến nơi chốn

Lợi ích các chúng sanh

Nhằm báo ân Thầy vậy

Luận rằng: Nay tạo luận nầy nhằm giải thích luận Ma Ha Diễn (luận Khởi Tín). Vì muốn hiển thị cái thể nầy của chính sư về sự thâm sâu kỳ cùng vi diệu đó. Nếu chưa chứng được chánh giác thì chưa ra khỏi việc làm tà. Mờ mờ tối tối, tuyệt nhiên không thấy được, qua khỏi chỗ suy nghĩ vậy. Hoặc vì muốn làm lợi ích cho chúng sanh nên khai mở cửa gần để vào, hiển bày chỗ đến, rồi vào chỗ sâu xa lý giải; hoặc do Thầy đến chỗ cực sâu xa, mà chia ra phần nhỏ để báo ơn lớn của Thầy; hoặc yên lặng quan sát về chúng sanh trong tương lai, khởi lên trăm ngàn sự luận tranh về tông chỉ; hoặc chính mình gần gũi nghe nhận A Thế Gia vậy (chủng tử). Có nhiều nhơn duyên như vậy; cho nên tạo ra luận nầy.

Đã nói về chỗ căn bản rồi, lần lượt sẽ nói về sự sai biệt của luận. Luận có nhiều loại và luận nầy nhiếp lấy Ma Ha Diễn và chỗ nhiếp ấy là gì? Tụng rằng:

Mười vạn chín ngàn bộ

Cả mười luận đều nhiếp Ma Ha La Phạt Đề (vô tri)

Ổ Xá Ma Xà Tha (Ông Thầy, thân giáo sư)

Phạt Na Đề Xá Luận

A Bộ Đế Phạt Ma

Hồ A Ma Tăng Na

Kiền Bà Ma Ca Nhiếp

Luận rằng: Phàm tập họp lại các loại luận thì tổng cộng có mười vạn chín ngàn bộ. Như vậy các luận tổng cộng 10 chỗ nhiếp. Thế nào là mười?

Một là Ma Ca La luận

Hai là Bạt Đề luận

Ba là Ổ Xa Ma luận

Bốn là Xà Tha luận

Năm là Phạt Na Đề Xá luận

Sáu là A Bộ Đế luận

Bảy là Phạt Ma luận

Tám là Hồ A luận

Chín là Ma Tăng Na luận

Mười là Kiền Bà luận.

Đây gọi là mười. Ma Ha Diễn luận, như ý ấy mà luận nhiếp. Mã Minh Bồ Tát tạo ra luận. Trong đây có nhiều chữ nhiều nghĩa. Do Ma Ha Diễn luận sẽ nhiếp những gì? Tụng rằng:

Tất cả một trăm bộ

Chín mươi chín loại văn

Mười loại nghĩa chỗ nhiếp

Tách luận nhiếp chỗ hay

Luận rằng: Mã Minh Bồ Tát tạo ra luận tổng cộng có 100 bộ. Trong 100 bộ ấy có 99 loại văn luận nhiếp; trừ 10 loại luận nhiếp nghĩa luận nhiếp. Tách luận sách hay ấy thì 10 loại nhiếp nghĩa luận nầy gọi tên chữ là gì? Chỗ nầy sẽ giải bày cùng với Già Di Già. Tụng rằng:

Biến mãn và quy chơn

Trong tạng thật vi diệu

Hợp nhất với ba vị

Thanh tịnh là gốc luận

Lý sâu, luận khởi tin

Kiến lập cùng một tướng.

Luận rằng: Những gì là 10?

Một là nhứt tâm biến mãn luận

Hai là dung tục quy chơn luận

Ba là pháp giới trung tàng luận

Bốn là bí mật vi diệu luận

Năm là chúng mệnh hợp nhứt luận

Sáu là chơn như tam muội luận

Bảy là tâm tánh thanh tịnh luận

Tám là bất động bất nguyên luận

Chín là thậm thâm huyền lý luận

Mười là Đại Thừa Khởi Tín luận.

Đây chính là 10. Như vậy 10 luận nầy, tuy số lượng có sai khác, mà chỗ kiến lập lại giống nhau cùng một loại vậy.

Nói về luận sai biệt rồi; kế nói về tạng sai biệt. Tạng ấy có bao nhiêu và tạng ấy nhiếp chỗ nào? Còn Ma Ha Diễn luận thì nhiếp cái gì?

Tụng rằng:

Hoặc năm mươi mốt tạng

Hoặc chỉ mười như kinh

Gồm ba tạng chỗ nhiếp

Luận hoặc thông hoặc biệt.

Luận rằng: Năm mươi mốt ấy là biệt nhơn quả vậy. Là biểu công đức, dẫn dắt cho hành giả. Trong Kim Cang khế kinh có nói như thế nầy: Phật bảo Xá Lợi Tử: Nay ta sẽ vì ông mà nói lời vô ngại, tuyên thuyết khai thị 50 nhơn tạng và một quả tạng. Hoặc có 10 tạng. Thế nào là 10?

Một là chỉ lập một tạng mà tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là pháp giới, pháp luân tạng. Trong Viên Mãn khế kinh nói như thế nầy: Tất cả chúng sanh đều có ngôn ngữ âm thanh. Chẳng phải là Đức Như Lai không dùng pháp luân để nhiếp tánh nghe ấy.

Hai là lập nên hai tạng và tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là Thanh Văn tạng và Bồ Tát tạng. Trong Tổng Trì khế kinh có nói như thế nầy: Pháp môn tuy là vô biên; nhưng không ra ngoài hai tạng nầy vậy.

Ba là thành lập ba tạng để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm Như Lai tạng. Trong Quang Minh khế kinh nói như thế nầy: Về hằng sa kiếp về trước, tất cả chư Phật chỉ tuyên thuyết Thanh Văn pháp tạng, Bồ Đề pháp tạng và Như Lai pháp tạng. Ngoài ra không còn đường nào khác.

Bốn là lập nên bốn tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm tạng Bổ Đặc Già La (chúng sanh). Trong Đạo Phẩm khế kinh nói rằng: Phật tử hãy nghe đây, ta sẽ vì ông mà giải thích. Nhơn tạng, nghĩa tạng, thể tạng, trí tạng cùng với tín tạng và Thanh Văn, Bồ Tát tạng, Đại Giác pháp tạng. Vì sao vậy? Vì tất cả hành giả dần dần chuyển đổi qua pháp tốt hơn.

Năm là thành lập nên năm tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm vào đó Thiên tạng. Trong Thiên Tử khế kinh nói rằng: Phật bảo Già luận chẳng thể nói thanh tịnh báo không. Ta vì đại chúng mà tuyên thuyết tịnh tạng, nhơn tạng và nhị thừa tạng cùng với tất cả chư Phật đại giác pháp tạng.

Sáu là lập nên sáu tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm vào Nại Lạc Ca tạng (Địa ngục). Trong Bố Úy khế kinh nói rằng: Ta chẳng ngồi yên để phân biệt tuyên nói 8 vạn 4 ngàn Nại Lạc Ca tạng. Như phía trước đã nói 5 loại tạng rồi.

Bảy là lập nên bảy tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm Ma La Cưu Đa Gia tạng. Trong Bang Mẫu khế kinh có nói rằng: Ta nay lấy lời thật vì Bàng Mẫu và một ức bảy vạn ba ngàn đại chúng phân biệt để nói năm vạn một ngàn ba trăm mười một loại quỷ thần đạo tạng như trước đã nói về 6 tạng rồi.

Tám là lập nên tám tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm Kiền Bà Đà Na Phạt tạng. Trong Long Vương khế kinh có nói như thế nầy: Nan Đà Long Vương phát ra 8.000 câu hỏi để hỏi Như Lai. Phật khai mở 10 ức Bàng Sanh đạo tạng như trước đã nói 7 tạng rồi.

Chín là lập nên chín tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm vào đó Khí Thế Giới tạng. Trong Thế Giới khế kinh nói rằng: Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo với Thọ Thần rằng: Lành thay! Lành thay! Như ngươi rõ biết; nếu ngươi muốn nghe, ta sẽ vì ngươi mà phân biệt giải nói chỗ y chỉ tạng, như trước đã nói về 8 loại tạng rồi.

Mười là lập nên 10 tạng, để tổng nhiếp các pháp. Nghĩa là thêm Tạp Loạn tạng. Trong âm thanh khế kinh nói rằng: Ta nay khai thị cho 8 loại tạp tạng như trước đã nói về 9 tạng rồi.

Đây có tên là 10. Như thế tất cả các tạng đều tổng nhiếp 10 ức 8 ngàn pháp tạng. Căn bản là ba tạng hoặc gồm cả 10 tạng. Thế nào là ba?

Một là Tố Đán Lâm tạng (Tu Đa La = Kinh); hai là Tỳ Nại Gia tạng (luật) và ba là A Tỳ Đạt Ma tạng (luận). Đây gọi là ba vậy. Ma Ha Diễn luận hoặc các tạng nhiếp; hoặc chỉ có A Tỳ Đạt Ma tạng nhiếp. Cho nên tụng rằng:

Hoặc thông hoặc biệt. Thông nghĩa là tổng thông. Biệt nghĩa là giản biệt. Giữ pháp nầy để làm, tùy theo đó chẳng cho mất. Cho nên gọi là tạng vậy.

Đã nói về sự sai biệt của tạng rồi; lần lượt sẽ nói bề sai biệt của kinh. Kinh có bao nhiêu loại? Và kinh ấy nhiếp cái gì? Nay Ma Ha Diễn luận lấy những kinh gì để y cứ? Tụng rằng:

Trong một trăm số ấy

Có mười hai bộ kinh

Tu Đa La, Kỳ Dạ

Và Tỳ Ca La Na

Già Dù, Ưu Đà Na

Cùng với Ni Đà Na

A Ba Đà Na kinh

Y Đế Viết Đa Già

Xà Đà Già Phật lược

A Phù Đà Đạt Ma

Ưu Ba Đề Xá kinh

Nương vào Thông hoặc Biệt

Luận rằng:

Phàm nói chung lại thì có nhiều loại kinh; có cả hằng trăm ức bộ và từ đó gồm lại thành 12 bộ tất cả. Thế nào là 12?

Một là Tu Đa La

Hai là Kỳ Dạ

Ba là Tỳ Ca La Na

Bốn là Già Đà

Năm là Ưu Đà Na

Sáu là Ni Đà Na

Bảy là A Bà Đà Na

Tám là Y Đế Viết Đa Già

Chín là Xà Đà Già

Mười là Tỳ Phật Lược.

Mười một là A Phù Đà Đạt Ma

Mười hai là Ưu Ba Đề Xá

Đây gồm tổng cộng là 12 bộ và Ma Ha Diễn luận căn cứ vào những kinh chính nầy; hoặc Thông hoặc Biệt. Thông nghĩa là tổng thông. Biệt nghĩa là Giản Biệt. Ma Ha Diễn Luận văn hẹp, câu ngắn ít; thật là chỗ vi diệu. Vì sao trong vô lượng vô biên khế kinh nhiều như biển mà chỉ nương vào đây? Như Bà Tát Y Già Ngữ vậy. Như Phiêu Đa La Cựu Đề vậy. Cho nên chẳng mất mát. Biệt ấy nương vào kinh có bao nhiêu loại? Tên gọi quen biết có bao nhiêu thứ?

Tụng rằng:

Tất cả một trăm kinh

Quang minh cùng Đại Giác

Đầu năm mươi mỗi trăm

Sau năm mươi mỗi ngàn

Luận rằng:

Ma Ha Diễn luận riêng nương vào kinh. Tổng cộng có 100. Thế nào và những gì là 100?

Một là Quang Minh Đại Giác kinh

Hai là thậm thâm thuận lý kinh

Ba là Kim Cang Tam Muội kinh

Bốn là Chư Pháp vô hành kinh

Năm là Thụ lâm thuyết pháp kinh

Sáu là Vô tận nhứt địa kinh

Bảy là Thanh tịnh như như kinh

Tám là tự tánh tự thể kinh

Chín là Đại Thừa đồng tánh kinh

Mười là A Lợi Gia Thức kinh

Mười một là Quả Viên mãn kinh

Mười hai là Hư Không đẳng kinh

Mười ba là Tam Tam Muội kinh

Mười bốn là Nhứt tâm pháp kinh

Mười lăm là Bản tánh trí kinh

Mười sáu là Chơn pháp giới kinh

Mười bảy là Nhiếp vô lượng kinh

Mười tám là Tối thượng Cực kinh

Mười chín là Duy Ma Cật kinh

Hai mươi là Lăng Già Vương kinh

Hai mươi mốt là Trung Thật kinh

Hai mươi hai là Vô Thỉ kinh

Hai mươi ba là Thập Ân kinh

Hai mươi bốn là Chuyển Luân kinh

Hai mươi lăm là Từ Vân kinh

Hai mươi sáu là Khí Tâm kinh

Hai mươi bảy là Vô Vị kinh

Hai mươi tám là Hiền Thánh kinh

Hai mươi chín là Ổn Một kinh

Ba mươi là Hoa Nghiêm kinh

Ba mươi mốt là Đại Phẩm kinh

Ba mươi hai là Tịch Diệt kinh

Ba mươi ba là Thánh Quỹ kinh

Ba mươi bốn là Biến Duyên kinh

Ba mươi lăm là Huân Tập kinh

Ba mươi sáu là Phật Tánh kinh

Ba mươi bảy là Huyền Lý kinh

Ba mươi tám là Lăng Già kinh

Ba mươi chín là Bổn Nghiệp kinh

Bốn mươi là Uẩn Cao Sơn kinh

Bốn mươi mốt là Quy Bổn kinh

Bốn mươi hai là Chơn Tu kinh

Bốn mươi ba là Bát Đức kinh

Bốn mươi bốn là Phật Huệ kinh

Bốn mươi lăm lá Duyên Khởi kinh

Bốn mươi sáu là Nhứt Thể kinh

Bốn mươi bảy là Bạch Phật kinh

Bốn mươi tám là Đại Hải kinh

Bốn mươi chín là Vô Tướng kinh

Năm mươi là Biến Chơn Như kinh

Năm mươi mốt là Thập Chủng Như Lai Tạng kinh

Năm mươi hai là Tam Thân Bổn Hữu kinh

Năm mươi ba là Bát Thức Thông Đạt Duyên kinh

Năm mươi bốn là Chúng sanh Thân đẳng pháp kinh

Năm mươi lăm là Chư Phật vô tận tạng kinh

Năm mươi sáu là Tán Thán bất thiện phẩm kinh

Năm mươi bảy là Chư Pháp đồng nhứt tướng kinh

Năm mươi tám là Nhứt Thể Đại Bi Quán kinh

Năm mươi chín là Như Lai bổn trí huệ kinh

Sáu mươi là Trần Trần pháp giới sát độ kinh

Sáu mươi mốt là Chuyển Luân bổn tế kinh

Sáu mươi hai là Pháp giới pháp luân kinh

Sáu mươi ba là Đại Trí Bổn Hữu kinh

Sáu mươi bốn là Bình Đẳng pháp giới kinh

Sáu mươi lăm là Tứ Tướng Thường Trụ kinh

Sáu mươi sáu là Chơn Như Nhứt Tướng kinh

Sáu mươi bảy là Lưu Chuyển Bất Động kinh

Sáu mươi tám là Tịch Tịnh Niết Bàn kinh

Sáu mươi chín là Thông Đạt âm thinh kinh

Bảy mươi là Như Lai Tự Tướng kinh

Bảy mươi mốt là Phu Nhơn kinh

Bảy mươi hai là Pháp Môn kinh

Bảy mươi ba là Bát Dụ kinh

Bảy mươi bốn là Trung Tại kinh

Bảy mươi lăm là Tổng Trì kinh

Bảy mươi sáu là Bất Động kinh

Bảy mươi bảy là Vũ Trí kinh

Bảy mươi tám là Đạo Trí kinh

Bảy mươi chín là Bổn Giác kinh

Tám mươi là Đại Vô Lượng kinh

Tám mươi mốt là Tự Nhiên Bổn Quả kinh

Tám mươi hai là Thậm Thâm Pháp Tạng kinh

Tám mươi ba là Nhứt Đạo Thanh Tịnh kinh

Tám mươi bốn là Thập Chủng Vọng Tưởng kinh

Tám mươi lăm là Pháp Môn hiển liễu kinh

Tám mươi sáu là Cảnh Giới Viên Mãn kinh

Tám mươi bảy là Quang Minh Thật Trí kinh

Tám mươi tám là Nhơn Quả Đồng Thể kinh

Tám mươi chín là Tâm Thần Bất Không kinh

Chín mươi là Chơn Trí Vô Sanh Hành kinh

Chín mươi mốt là Vô Ngại Giải Thoát kinh

Chín mươi hai là Tùy Duyên Tăng Trưởng kinh

Chín mươi ba là Pháp Tánh Thật Tế kinh

Chín mươi bốn là Quảng Đại Hư Không kinh

Chín mươi lăm là Bổn Nhơn Duyên Khởi kinh

Chín mươi sáu là Chư Pháp Vô Vi kinh

Chín mươi bảy là Bổn Lai Thanh Tịnh kinh

Chín mươi tám là Tu Hành Đạo Địa kinh

Chín mươi chín là Bất Tu Cụ Đức kinh

Một trăm là Ma Ha Tát Vân Nhược kinh.

Đây là 100 kinh; như thế 100 kinh ấy là quyến thuộc với nhau. Như từ đầu đến giữa, mỗi thứ có 100 và nửa phía sau, mỗi kinh có 1.000. Ví dụ như mỗi mục kinh, thuộc về cương lĩnh của luận nào. Như dưới đây tùy theo câu văn mà mở bày hiển thị.

Đã nói những kinh sai biệt rồi, lần lượt sẽ nói về người tạo ra. Khế kinh nói khác với đây có bao nhiêu và bây giờ Ngài Mã Minh nhiếp lấy những gì?

Tụng rằng:

Mã Minh gồm lại sáu

Nói khác về khế kinh

Nên tùy cơ để nói

Chẳng có chỗ sai khác

Luận rằng: Phàm ở trong chỗ tập hợp ấy của các khế kinh, có nhiều loại văn khác nhau. Tổng cộng có sáu loại. Những gì là sáu?

Thứ nhứt là các pháp Đại Thừa, khế kinh theo đó mà nói. Do đấng Vô Thượng Đại Giác nói và khi Phật vào Niết Bàn thì Bồ Tát Mã Minh từ chỗ ngồi đứng dậy mà đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính hướng về Đức Thế Tôn mà nói kệ rằng:

Đại Từ Mãn Túc Vô Thượng Tôn

Vô biên kiếp hải cùng vạn hạnh

Chỉ vì lòng từ thương chúng sanh

Mà Phật tự nói vào Niết Bàn

Con và tất cả đại chúng đây

Mờ mờ mất hết cả tâm thần

Đại từ mãn túc Đấng Thế Tôn

Bỏ lại con đây về cõi khác

Lòng từ con chưa gội nhuần đủ

Theo Phật về kia, ai chê bai

Lúc bấy giờ khi Mã Minh đã nói bài kệ nầy xong rồi, thấy mắt của Phật thanh tịnh, từ từ dứt mạng sống.

Điều thứ hai là do sự biến hóa của công đức như trong khế kinh đã nói. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn đã nói với Mã Minh rằng:

Sau khi ta diệt độ chừng 300 năm, nhà ngươi sẽ nhờ lực của ta sẽ dùng các pháp phương tiện làm lợi ích an lạc ở đời vị lai cho chúng sanh. Nếu không có lực gia hộ của ta thì ngươi sẽ chẳng thể tự mình làm được.

Điểm thứ ba như trong khế kinh của Ma Ha Diễn Da đã nói như thế nầy. Sau khi Đức Như Lai diệt độ 600 năm rồi, sẽ có 96 loại ngoại đạo khác nhau dùng tà kiến để cạnh tranh nhau, nhằm hủy diệt Phật Pháp. Trong đó có một vị Tỳ Kheo tên Mã Minh lành nói các pháp yếu để hàng phục tất cả ngoại đạo.

Thứ tư là trong khế kinh của Thường Đức Tam Muội nói rằng: Sau khi Phật diệt độ chừng 800 năm, có một bậc trí giả tên là Mã Minh hay phá các ngoại đạo ở nơi ngoại đạo hoặc ở trong Phật Pháp để xây dựng Phật Pháp.

Điều thứ năm trong khế kinh của Ma Ni Thanh Tịnh có nói như thế nầy: Sau khi Phật nhập Niết Bàn độ 100 năm có vị Mã Minh Đại Sĩ xuất hiện nơi đời, gìn giữ chánh pháp, tạo dựng Phật môn.

Thứ sáu là Thắng Đảnh Vương khế kinh chép rằng: Sau khi Như Lai thành đạo 17 ngày có một ngoại đạo tên là Ca La Nặc Cưu Thi Ma biến hóa thân ấy làm con rắn thần thật lớn, hóa ra 86.000 cái đầu và 86.000 cái lưỡi. Chỉ trong chốc lác biến ra 86.000 loại tướng khác nhau khó nói hết, rồi hỏi Như Lai và Như Lai liền dùng 3 loại đối đáp để làm cho kia hết nghi. Sau đó Long Vương nầy lại có 10 câu hỏi khác dùng để hỏi Như Lai. Như Lai liền dùng 100 loại đáp khác nhau để cho kia khỏi ngờ. Sau khi đối đáp xong, Đức Phật bảo Long Vương rằng:

Lành thay! Lành thay! Sa Môn Mã Minh. Vì hộ pháp mà làm vậy; lấy tướng phá hoại ấy đề tạo dựng Phật Pháp mà chịu đựng vậy. Hãy như thế mà tu, hãy như thế mà hành. Chớ có làm chuyện nhỏ, mà hãy biến hóa khắp nơi. Lúc ấy Long Vương liền xả bỏ thân hình của súc sanh, rồi đảnh lễ trước Đức Vô Thượng Tôn. Với dáng dấp hoan hỷ hướng về phía Phật mà tụng bài kệ rằng:

Lành thay! Lành thay vậy

Nghe qua nơi tai rồi

Giả hay thật mắt ấy

Tâm ta có nghi lớn

Thân ta chẳng súc sanh

Ta chẳng phải ngoại đạo

Vì biến hóa mà sanh

Ra hình như thế ấy

Thế Tôn như chiếc gương

Ta qua khỏi cảnh nầy

Sẽ về những đời sau

Như dạy, làm việc lớn

Sau khi Mã Minh đã nói bài kệ nầy xong rồi, lại nhập vào Thiền Định, vào sâu nơi tịch tĩnh; nên có tên là sáu. Như vậy các kinh mỗi mỗi được nói riêng biệt. Tùy theo căn cơ mà ứng hiện lúc này lúc khác. Mã Minh Bồ Tát sẽ là người như thế nào? Sanh ra ở nơi đâu và do nhơn duyên gì? Có kệ tụng rằng:

Nhờ hào quang của Phật

Ở giữa Nhơn Bất Động

Xuất hiện Tây Ấn Độ

Trong quá khứ có tên

Luận viết: Mã Minh Bồ Tát khắc phục do ánh quang minh của Phật. Nếu nói thì đây là vị đang ở Nhơn của Địa thứ tám làm Bồ Tát và sẽ sanh vào phía Tây của Ấn Độ. Lư Già ấy là cha và Cù Na chính là mẹ. Lúc sanh ra đã làm lợi ích. Ở trong đời quá khứ có vị Vua tên là Luân Đà, có 1.000 con ngựa, tất cả đều có thể nghe giỏi. Nếu nghe được âm thanh thì nhà vua tăng đức. Nếu chẳng nghe được âm thanh thì Đại Vương tổn đức. Như thế các con chim khi thấy, ngựa trắng liền hí lên thành tiếng. Nếu không thấy thì nó không hí. Lúc bấy giờ Đại Vương liền tìm bạch mã nhưng suốt ngày chẳng được. Liền nói lời rằng: Nếu chúng ngoại đạo nghe được tiếng hót của Mã Minh nầy thì có thể phá hoại được Phật Pháp và cứ độc tôn, độc tín. Nếu là đệ tử Phật mà hót được như tiếng chim nầy thì cả phá ngoại đạo, lẫn độc tôn độc tín. Lúc ấy Bồ Tát dùng lực thần thông hiện ra 1.000 con ngựa trắng và 1.000 con chim trắng mời đến giúp cho chánh pháp, làm cho chẳng đoạn tuyệt. Cho nên Thế Tôn gọi tên là Mã Minh. Đã nói về tiếng riêng của người rồi; thứ đến xướng lên và giải thích việc làm chính. Viết rằng:

Quy mạng khắp mười phương

Tối thắng nghiệp biến trí

Sắc vô ngại tự tại

Cứu thế bậc từ bi

Luận rằng: Ở trong bài tụng nầy có hai cửa. Thế nào là hai? Một là tổng nhiếp tất cả cửa sanh mạng của chúng sanh. Thứ hai là quy hướng viên mãn về cửa Đại Giác.

Tổng nhiếp môn là thông nhiếp tất cả mười phương thế giới, tất cả chúng sanh, tất cả mệnh căn, như bổn mạng ấy đến 10 phương khắp cõi.

Quy hướng môn có nghĩa là dùng các mạng của chúng sanh quy về nơi người có tâm lành đầy đủ. Điều chính yếu là quy mạng về chỗ tối thắng nghiệp biến chiếu trí sắc vô ngại, tự tại cứu thế, bậc đại từ bi. Luận sư dùng cái đức để tán thán bậc đại giác Thế Tôn và mỗi tướng ấy như thế nào? Kệ tụng rằng:

Tổng tám vạn bốn ngàn

Bốn mươi tám loại đức

Chung lại mỗi loại mười

Trí vô ngại mỗi bốn

Cùng tám vạn bốn ngàn

Sắc tướng có sai biệt

Công đức tuy vô lượng

Cuối chẳng khỏi số nầy

Luận viết: Bồ Tát Mã Minh đưa ra con số tổng cộng 84.048 loại công đức để quy ngưỡng tán thán đấng Đại Giác Vô Thượng. Nơi quả vị Phật đầy đủ những công đức thanh tịnh. Tuy nói là vô lượng vô biên; nhưng chung quy chẳng qua khỏi số nầy. Cho nên Bồ Tát Mã Minh đã tán thán các tướng tổng quát.

Thế nào là 84.000 công đức?

Vì sắc tướng sai biệt nên thành 84.000

Vì sao gọi là 40?

Vì Tối Thắng nghiệp biến mỗi 10 loại mà thành 40.

Vì sao gọi là tám?

Trí và Vô ngại mỗi thứ có 4 loại; cho nên thành 8 loại.

Thế nào là 10 loại tối cao?

Một là siêu quá tối; xa rời hai thừa địa.

Hai là ra khỏi tối, vĩnh viễn xa lìa 3 cõi.

Ba là đối trị tối, mau rời Tứ Trụ địa.

Bốn là yểm xung tối, qua khỏi ngũ uẩn nhóm họp.

Năm là lìa ái tối, không còn ở trong 6 đường nữa.

Sáu là uy đức tối, lìa hẳn bảy quân ác.

Bảy là binh chúng tối, tất cả ra khỏi tám rừng tà.

Tám là trí huệ kiếm tối, quyết đoạn chín kiết sử.

Chín là giải thoát tối, đoạn trừ 10 loại trói buộc.

Mười là dũng mãnh tối, bẻ gãy 96 loại ngoại đạo.

Những gì là thập thắng?

Một là lực thắng, đầy đủ 10 lực.

Hai là vô úy thắng, đầy đủ tứ vô úy.

Ba là bất cộng thắng, đầy đủ 18 pháp bất cộng.

Bốn là đạo phẩm thắng, đầy đủ 37 phẩm trợ đạo.

Năm là biến hóa thắng, đầy đủ trăm ngàn loại biến hóa.

Sáu là ngôn âm thắng, đầy đủ 88 tiếng Phạm âm.

Bảy là đoan nghiêm thắng, đầy đủ 32 tướng trượng phu.

Tám là kiết tường thắng, tùy theo chỗ tạo tác của cảnh giới mà sanh ra và

trưởng thành những công đức thiện căn.

Chín là nan đắc thắng, ở trong 3 cõi chỉ độc tôn một mình.

Mười là trụ xứ thắng, ở nơi cung điện có 98.000 vi diệu viên mãn làm chỗ trang

nghiêm cho nên gọi là 10 thắng. Ở nơi khế kinh có 10 loại thù thắng.

Thế nào là 10 nghiệp?

Một là nghiệp tự nhiên, chỗ tạo ra tự tại.

Hai là nghiệp bình đẳng, giáo hóa lợi ích chẳng sai biệt.

Ba là nghiệp tương ưng, tùy thời xuất hiện.

Bốn là nghiệp cụ túc, đầy đủ phước trí cả hai.

Năm là nghiệp vô tận, không có biên giới vậy.

Sáu là nghiệp đồng sanh, tùy theo nơi mà thọ sanh.

Bảy là nghiệp vô trước, xa lìa trần lụy như hoa sen vậy.

Tám là nghiệp y chỉ, tạo ra chỗ nương vào như chỗ đất lớn.

Chín là nghiệp vô yểm, nhiếp lấy sự sống vô cùng như biển cả.

Mười là nghiệp thông đạt, chẳng có chướng ngại như hư không.

Đây có tên là 10 nghiệp. Ở trong khế kinh có 10 loại tác dụng. Thế nào là thập biến?

Một là căn biến –Các căn của Phật mỗi mỗi thứ căn đều biến khắp pháp giới.

Hai là thức biến – Tâm thức của Phật chẳng có nơi nào là không hiện hữu.

Ba là cảnh giới biến – Nương vào trí tuệ tròn đầy, chẳng có chỗ phân biệt.

Bốn là thọ mệnh biến, chẳng thể nói hết được.

Năm là quyến thuộc, chẳng thể đo lường vậy.

Sáu là công đức biến, mỗi mỗi công đức đều sánh với hư không.

Bảy là từ bi biến, chẳng lựa chọn.

Tám là ngôn thuyết biến; âm thanh của Phật chẳng có nơi nào là không lan đến

Chín là chứng biến, chẳng có chỗ cuối cùng.

Mười là vô đẳng biến, chẳng có chỗ so cùng.

Như trên gọi là thập biến. Ở trong Khế Kinh cũng có nói về 10 loại chu biến và thế nào là bốn trí?

Một là quang minh vô tận tạng trí, hay xuất sanh 10 ức một ngàn môn trí huệ.

Hai là trí của một vị, một tướng, thông đạt nhiều vô số các pháp, chẳng sai biệt

Ba là đại bi vô biên trí, tùy theo chỗ khởi lên mà một lần biến hóa, đầy khắp tất

cả mười phương thế giới.

Bốn là vô vi tịch diệt trí; xa rời tất cả những khởi động tác nghiệp.

Đây gọi tên là 4 trí. Lại ở trong Khế Kinh cũng có nói đến loại trí viên mãn. Thế nào là tứ vô ngại?

Một là pháp vô ngại, rõ biết thật tánh và thật tướng của các pháp.

Hai là nghĩa vô ngại, rõ biết các pháp cùng với tướng sai biệt và tướng sanh diệt.

Ba là từ vô ngại, chẳng hoại giả danh mà nói thật tướng.

Bốn là lạc thuyết vô ngại, nói ra nhiều lời, nói khế kinh rộng như biển, lần lượt chẳng dứt mất.

Cho nên đây gọi là Tứ Vô Ngại. Ở trong Khế Kinh cũng có 4 loại trí giải thoát. Lời nói tự tại, đều thông đạt bên trên; cho nên chẳng riêng giải thích, sắc, tướng, danh nghĩa như đại tổng trì. Trong ấy rộng nói hiển bày, rồi nói giác thật, kế nói pháp tăng. Lại nói rằng:

Cùng với tướng thân kia

Pháp tánh biển chơn như

Vô lượng công đức tạng

Như thật mà tu hành

Luận rằng: Trong tụng nầy lại có hai môn. Thế nào là hai?

Một là thể nhiếp tất cả chúng thân môn.

Hai là tổng đạt pháp tạng Tăng Già môn.

Thể nhiếp môn nghĩa là nhiếp tất cả vô lượng chúng sanh, sanh diệt lưu chuyển với thân vô thường nầy; như lấy gốc của thân kia làm thể tướng.

Tổng đạt môn nghĩa là lấy những thân nầy tổng đạt các pháp tạng sâu xa và tất cả tu hành như thật. Tất cả nói chung với ý là Tổng Thông Hòa Nam. Có phải luận sư nương tựa vào pháp tăng để Hòa Nam chăng? Tướng nầy như thế nào? Kệ rằng:

Tổng quy nương mười bốn

Tăng mười pháp cùng bốn

Hoặc kiêm cả trên dưới

Có nhiều loại tăng chúng

Luận rằng: Mã Minh Bồ Tát quy y hết thảy ở 14 Đức Xứ; 10 Tăng, 4 Pháp ấy mỗi mỗi sai biệt. Thế nào là 10 Tăng? Có khác biệt với 10 Địa chăng? Sao gọi là 4 pháp? Giáo lý hành quả mỗi mỗi sai biệt. Pháp đây có nghĩa là giáo pháp. Cho nên phải tùy thuận với căn cơ của tất cả khế kinh rộng sâu như biển cả. Tánh chơn như ấy là lý của pháp. Ở nơi tất cả pháp, thể tánh đều bình đẳng. Lìa khỏi những hư vọng giả huyễn cũng như sự thật của việc chấp trước tuyệt đối. Biển đây có ý nói là cái quả của pháp. Ở nơi quả Diệu Giác, tất cả các đức đều viên mãn; chẳng có cùng tận, giống như biển rộng bao la vậy. Vô lượng công đức tạng nghĩa là pháp hành, là quyến thuộc của lục độ vạn hạnh tịnh phẩm. Thật là bất khả tư nghì, vượt qua số lượng vậy. Còn Như ở đây nghĩa là 10 loại Chơn Như. Thật tu hành có nghĩa là 10 loại chánh trí; chúng lý chơn như ở nơi trí chơn thật và kiến lập nên Tăng danh. Lý và trí cùng thông nhau trở thành một vị bình đẳng. Bình đẳng có nghĩa là chẳng tranh nhau.

Vì sao mà giữ lấy mạng sống trong 10 phương?

Vì dục hiển thị chỗ nhiếp lấy mạng căn, rộng rãi to lớn không ngằn mé.

Tại sao lại giữ thân nầy và tướng nầy?

Vì dục hiển thị 4 tướng và tất cả chỗ loạn động của chúng sanh đều được nhiếp thủ. Dục ấy hay làm cho rộng được kim cang thường trụ bất động thân.

Vì sao Bát Chánh Đạo lại chẳng tự nương vào tự thân nầy?

Hay thông đạt với tất cả vô lượng chúng sanh, phàm chỗ có thân mệnh, đều quy y nơi Tam Bảo. Do rõ biết tất cả chúng sanh bình đẳng. Và bình đẳng ấy chỉ có một chơn như, chẳng có sai biệt. Thân mệnh của chúng sanh và thân mệnh của ta cùng một vị, một tướng, chẳng lìa tướng ấy. Cho nên nói là tụng ngôn. Những lời nói ấy thật là thâm diệu.

Vì sao lại nhiếp thủ tất cả chúng sanh và vô lượng thân mệnh?

Quy y nơi Tam Bảo, thành tướng Hòa Nam. Từ đó trong 10 phương ba đời tất cả chư Phật đều hoan hỷ. Mười phương ba đời tất cả các vị Bồ Tát cũng đều tán thán. Mười phương ba đời tất cả các pháp tạng thường hay lưu bố chẳng đoạn tuyệt. Mã Minh Bồ Tát chứng Bất Động Địa. Những địa công đức ở dưới đều đã đầy đủ rồi.

Vì sao ở hạ vị, chư Tăng phải Hòa Nam?

Do chỗ người quy hướng không đồng đều, ở nơi tự thể mà được vị ấy. Nếu tự trở về, chỉ nên Hòa Nam và Bất Động Địa đầy đủ lần lên Nhị Địa.

Nếu là vậy thì tại sao Bất Thủ Địa lại trước?

Chẳng có người nương vào nên chẳng lấy thí dụ riêng biệt. Từ trên xuống dưới như hình ảnh hiển bày vậy. Ở Pháp Vân Địa, Bồ Tát thường hay làm cho người quy kính và lúc ấy sẽ nương vào Tăng nào?

Ở nơi Diệu Giác Địa có Chơn Thật Tăng; cho nên không sai phép.

Nếu là vậy thì tại sao chẳng nói ra riêng biệt?

Vì từ dưới lên trên như ảnh hiển thị vậy. Do đó mà tụng nói: Hoặc trên lẫn dưới đều có các loại tăng chúng. Thuyết pháp cho Tăng rồi, sau đó mới lần lượt nói chỗ chánh. Kệ rằng:

Vì dục làm chúng sanh

Trừ nghi xả tà chấp

Khởi Đại Thừa chánh tín

Giống Phật chẳng đoạn hết

Luận rằng: Trong bài tụng ấy tức có nhị môn. Thế nào gọi là hai?

Một là đoạn tuyệt chướng triền môn và hai là liên tục giải thoát môn.

Trong đoạn tuyệt môn có 4 loại sai biệt. Thế nào là bốn?

Một là Quyết Định Tính Tâm Môn, hay làm cho tất cả chúng sanh đoạn trừ tâm nghi hoặc, phát khởi lòng tin kiên cố. Quyết định ở chỗ thậm thâm với con đường của Đại Thừa.

Hai là Viễn Ly Xả Tâm Môn. Nghĩa là làm cho tất cả chúng sanh xa rời tâm che đậy, tăng trưởng ý dục lục và siêng năng ở nơi con đường Đại Thừa sâu xa diệu vợi.

Ba là Đối Trị Tà Luận Môn. Nghĩa là đối trị với 96 loại ngoại đạo và ngoại đạo ấy có đến 93.000 quyến thuộc. Bốn loại đại ma, ba vạn hai ngàn quyến thuộc ma chúng. Đoạn trừ một ức bốn vạn sáu ngàn các loại thế luận và thâm nhập vào con đường Đại Thừa sâu xa.

Bốn là Trừ Khiển Chấp Trước Môn, làm cho tất cả vô lượng chúng sanh khác và tất cả nhị thừa Bồ Tát đoạn trừ 5 loại nhơn kiến, chứng được 5 loại đối trị; đoạn trừ 2 loại pháp chấp, chứng được hai loại đối trị. Quy hướng về con đường Đại Thừa thậm thâm vi diệu. Như điều chính yếu là làm cho tất cả chúng sanh trừ nghi, xả bỏ tà chấp, khởi lòng tin chân chánh vào Đại Thừa.

Trong Liên Tục Môn có 3 sự sai biệt. Thế nào là ba?

Một là: Bất Đoạn Đại Giác Môn, làm cho huân tập lại làm nhơn của muôn hạnh, để trang nghiêm quả của Đại Giác. Quả ấy là Vô Thượng Pháp Vương chẳng bị đoạn tuyệt.

Hai là: Bất Đoạn Pháp Tạng Môn, làm cho xuất hiện thắng diệu Phạm âm. Tuyên nói tất cả khế kinh rộng như biển cả. 84.000 pháp tạng chẳng đoạn diệt.

Ba là: Bất Đoạn Tăng Già Môm. Nghĩa là làm cho sự tu hành ở Địa Tiền và Địa Thượng được to lớn cũng như kiến lập cung điện của chơn như pháp giới, Sau trụ ở Nhị Tăng mà chẳng đoạn tuyệt. Như hạt giống Phật quyết cho chẳng đoạn vậy.

Nói về chúng sanh, thì phân chia nhỏ ra như thế nào? Lấy dục để đối trị, để đoạn trừ là những gì? Có phải kiến lập Tam Bảo mà chẳng đoạn chăng?

Kệ rằng:

Người thông nhiếp tam tụ

Chưa chứng đắc viên mãn

Đối bốn loại đoạn trừ

Kiến lập Tam Bất Đoạn

Luận rằng: Mã Minh Bồ Tát nương vào tam tụ mà tạo ra cảnh giới. Vì sao thế? – Do chưa chứng được quả viên mãn vậy. Tuy nhiên tam tụ môn có 3 loại nầy. Thế nào là ba?

Một là Thập Tín, trước có tên là Tà Định Tụ. Nghĩa là chẳng thể tin được nghiệp và quả báo. Tam Hiền và Thập Thánh gọi là Chánh Định Tụ, là địa vị quyết định an lập chẳng lùi bước.

Thập chủng tín tâm gọi là Bất Định Tụ. Nghĩa là hoặc tiến hoặc thoái, chưa có tính cách quyết định.

Hai là Thập Tín Tiền cùng với Thập Tín Tâm gọi là Tà Định Tụ. Nghĩa là chẳng có căn lành. Vô Thượng Đại Giác quả, gọi là Chánh Định Tụ. Sau khi đã đầy đủ rồi thì Tam Hiền và Thập Thánh gọi là Bất Định Tụ. Tất cả đều chưa cứu cánh rốt ráo.

Ba là Thập Tín Tiền, có tên là Tà Định Tụ. Cầu tâm không an lạc. Còn Thập Thánh có tên là Chánh Định Tụ, có thể chứng được chánh chơn. Thập Tín Tam Hiền tên là Bất Định Tụ vì chưa được chứng quả. Nên gọi là ba. Mã Minh Bồ Tát lấy đó làm cửa đầu, lấy dục đối trị với 4 loại đoạn. Nghĩa ấy là chẳng đoạn trừ việc kiến lập Tam Bảo. Vì sao lại có bốn?

Một là Đoạn Nghi Hoặc, do tâm do dự nên chẳng thể quyết định, đoạn trừ hạt giống Tam Bảo.

Hai là Đoạn Yểm Xả, do tâm có ái, nên chẳng vui với pháp, đoạn hạt giống Tam Bảo.

Ba là Đoạn Tà Kiến, do tâm vọng tưởng mà chẳng thể thấy đúng, đoạn trừ hạt giống Tam Bảo.

Bốn là Đoạn Định Chấp, do chấp vào tâm có thật, chẳng thể lìa nhiễm, đoạn mất hạt giống Tam Bảo.

Đây gọi tên là Tứ Đoạn. Đã nói về chỗ chánh rồi. Bây giờ lần lượt mở bày tổng thể.

Nói rằng: Có pháp hay khởi lên làm gốc rễ cho lòng tin Ma Ha Diễn. Cho nên lại nói rằng: Trong câu văn nầy lại có Nhị Môn. Thế nào gọi là hai?

Một là có thể nhập môn; hai là sở nhập môn.

Năng nhập môn nghĩa là ở nơi chơn lý giải thích rõ ràng ở chỗ vào. Còn sở nhập môn có nghĩa là lành làm pháp kia, làm chỗ nương tựa vậy. Còn hữu pháp nghĩa là tổng cộng 16 pháp Năng Nhập Môn. Có thể làm cho người ta khởi lòng tin. Đó là tướng của tổng tiêu môn pháp tác nghiệp. Ma Ha Diễn nghĩa là Tổng Tiêu 16 sở nhập pháp thể, lại chẳng phải hai Ma Ha Diễn thể. Lòng tin quyết định tâm tinh tấn ấy. Căn sanh trưởng các pháp hành. Nếu đã nhập vào lý thì chẳng khởi làm hai. Do vậy nên nói tín căn. Lại nữa ở đây nói tín có nghĩa là thập tín. Căn có nghĩa là từ sơ phát tâm, trụ cho đến Pháp Vân Địa. Vì sao vậy? Lòng tin ban đầu chẳng có gốc mà tùy duyên tới lui; giống như hoa Bang Đa Già Y Ma. Sau đó lòng tin chuyển thành thắng kiên cố chẳng động; giống như cây Kiền Cưu A Di Thể. Tín căn có bao nhiêu nghĩa? Mỗi nghĩa nầy như thế nào?

Tụng rằng:

Mỗi có mười loại nghĩa

Lắng trong và chuyển thấp

Luận viết: Tín có 10 loại nghĩa. Thế nào là mười?

Một là nghĩa lắng trong, hay làm cho tâm tánh thanh tịnh sáng sủa.

Hai là nghĩa quyết định, có thể làm cho tâm tánh sáng suốt kiên cố.

Ba là nghĩa hoan hỷ, có thể đoạn trừ tất cả các ưu não.

Bốn là nghĩa vô yểm, có thể làm cho đoạn trừ tâm giải đãi.

Năm là nghĩa tùy hỷ. Ở nơi tha thắng hạnh có thể phát khởi tâm đồng đều.

Sáu là nghĩa tôn trọng; ở nơi các đức, chẳng thể khinh khi.

Bảy là nghĩa tùy thuận; tùy theo chỗ thấy nghe, mà chẳng có chỗ ngược lại.

Tám là nghĩa tán thán; tùy theo thắng hạnh kia, mà tâm ấy xưng tán.

Chín là nghĩa bất hoại; tâm chuyên nhứt một chỗ, chẳng hay quên mất.

Mười là nghĩa ái lạc; có thể làm thành tựu tâm từ bi.

Đây gọi tất cả là mười.

Căn lại có nghĩa là thập chủng. Thế nào là mười?

Một là nghĩa hạ chuyển; hay trừ được kiêu mạn.

Hai là nghĩa ổn mật; hay làm cho cái lý được rõ ràng.

Ba là nghĩa xuất sanh; sanh trưởng nhiều loại công đức.

Bốn là nghĩa kiên cố; tất cả đều có thể nhiếp trì, chẳng làm cho khiếm khuyết.

Năm là nghĩa tương tục; chuyển chuyển tăng trưởng, chẳng thể đoạn tuyệt.

Sáu là nghĩa xuất ly; địa địa chuyển dần đến viễn ly.

Bảy là nghĩa tập thành; tu tập các loại pháp đạo phẩm.

Tám là nghĩa tốt tươi; lấy những đức hạnh mà trang nghiêm, làm cho có thể ưa thích.

Chín là nghĩa cụ túc; ở trong Đẳng Giác Vị, viên mãn như hạnh.

Mười là nghĩa Cao Thắng; ở nơi quả Diệu Giác, tối thắng quảng đại, chẳng thể cao hơn.

Đây có tên là mười.

Năng nhập và sở nhập có nhiều loại sai biệt. Trong phần lập nghĩa, tự sẽ làm hiển bày thuyết nầy.

Đã nói tổng thể rồi, bây giờ lần lượt nói rõ việc kiến lập.

Nói rằng: Thuyết có 5 phần. Sao gọi là năm?

Một là nhơn duyên phần; hai là lập nghĩa phần; ba là giải thích phần; bốn là tu hành tín tâm phần; năm là khuyến tu lợi ích phần.

Luận rằng: Vì sao lại phải theo thứ tự như thế – Vì giáo pháp xuất hiện pháp như thế. Nghĩa nầy như thế nào? Vì muốn hiển thị thượng vị diệu dược. Lại do chỗ đối tật chướng mà xuất hiện; có thể hóa ra giáo pháp. Nhất định do chỗ trị căn cơ mà phát khởi. Bịnh ấy trước chẳng có thuốc và căn cơ ấy trước đây chẳng có sự dạy dỗ.

Đầu tiên lập nên nhân duyên phần. Vì muốn hiển thị như ý bảo châu, tuy nhiên duy chỉ có một mà vì tất cả các bảo căn bản. Pháp Ma Ha Diễn tuy chỉ có một mà vì hằng hà sa pháp môn thể tánh, giống như oai đức của rồng lớn cho đến chỗ thọ dụng, kẻ lợi căn trí tuệ cũng đều lãnh thọ giải bày hết.

Thứ hai là lập nên nghĩa phần. Vì muốn hiển thị ma ni bảo tạng để giúp thêm cho vô lượng vạn bảo khác, mà mở ra ngàn cửa rõ biết. Pháp căn bản của Đại Thừa tuy là đầy đủ vô biên trăm ngàn nghĩa, mà cũng riêng giải thích rộng ra để nói căn tánh thuần khiết có chỗ rõ ràng.

Thứ ba là lập nên giải thích phần. Vì muốn hiển thị, tuy trong mắt tai thấy nghe mưa hoa quý nhưng là diệu thuật. Trong tâm tư rõ biết và biết hết tất cả những công đức viên mãn; mà xuất hiện nơi lưỡi, chẳng cạnh tranh chỗ vào, khai thông hướng đến, chẳng gần với đàn, được như ý bảo tạng, chẳng phải do ở nơi cung điện. Tuy trong miệng có trì tụng những giáo nghĩa tôn từ. Trong tâm quan sát, rộng lược các giáo lý thâm sâu mà thêm gia hạnh để thẳng tiến đến. Đấy chính là Kim Cang, chẳng khởi lên tín tâm kiên cố, cũng được pháp giới bảo tạng, lại cũng do khế cơ mầu nhiệm.

Thứ tư là lập nên tu hành tín tâm phần. Chỉ khai ra pháp giảng lược, chỉ bày tiến vào cửa, mà sợ hãi chúng sanh; nghe pháp môn nói rộng, chẳng vào sâu tu hành. Chỉ có chúng sanh thuần căn mới nghe được pháp môn tóm lược. Chẳng thể giải bày cho nên sinh ra tâm xa lìa. Như thế các chủng loại, nếu ngay thẳng khuyến thỉnh duyên theo thì dần dần tiến tu. Giúp cho 100 nhơn duyên của việc làm, cho đến cả vạn cái quả của công đức. Nếu chẳng được ngay thẳng khuyên bảo sách tấn duyên vào, cứ thế mà từ từ xa dần, cùng vớî hằng hà phiền não để dẫn đến vô tánh.

Mã Minh Bồ Tát thấy điều lợi nầy; nên hiển thị lợi ích, khuyến thỉnh tu hành. Cho nên sau nầy lập thêm khuyến tu lợi ích phần. Có nhân duyên gì mà chẳng tăng chẳng giảm, mà chỉ lập 5 phần?

Kệ tụng rằng:

Nhiếp kia Đại Tổng Địa

Năm mươi pháp môn vậy

Cho nên chẳng tăng giảm

Chỉ kiến lập ngũ phần

Luận rằng: Mã Minh Bồ Tát ở trong 10 vạn Ốt Đà Nam đại tổng địa luận, tổng lập 50 pháp môn riêng biệt để giải thích giáo nghĩa. Bây giờ ở trong luận nầy chỉ có 5 phần pháp môn. Mỗi phần nhiếp lấy 10 pháp môn kia. Cho nên chẳng tăng chẳng giảm mà chỉ lập nên 5 phần. Do vậy luận kia kiến lập chỗ biến hóa viên mãn của mười môn. Do nhơn duyên phần sở nhiếp; nên 160 Ma Ha Diễn cùng với 10 môn, lập nghĩa phần để nhiếp. An lập tùy thuận chọn lựa với 10 môn. Giải thích phần sở nhiếp là quyết định tu tập chỗ vào 10 cửa. Tu hành phần sở nhiếp là khuyến thỉnh hỏi rõ dẫn đạo vào 10 cửa khuyến tu phần sở nhiếp.

Đã nói xong phần kiến lập môn, bây giờ lần lượt xướng lên chương Phán thuyết môn.

Viết rằng:

Đầu tiên nói về nhân duyên phần.

Hỏi rằng: Có bao nhiên nhân duyên mà tạo ra luận nầy?

Đáp rằng: Nhơn duyên nầy có 8 loại. Thế nào gọi là tám?

Một là nhân duyên tổng tướng có thể làm cho tất cả chúng sanh lìa tất cả khổ, được niềm vui cứu cánh chẳng phải cầu thế gian danh lợi để được cung kính.

Hai là vì muốn giải thích ý nghĩa căn bản của Như Lai, làm cho chúng sanh giải nghĩa đúng, chẳng phải ngoa ngôn.

Ba là vì làm cho thiện căn của chúng sanh thành tựu. Ở pháp Ma Ha Diễn luôn có lòng tin sâu xa chẳng rời.

Bốn là làm cho căn lành vi diệu của chúng sanh có tín tâm tu tập.

Năm là vì muốn chỉ bày phương tiện, làm cho tiêu trừ những nghiệp chướng ác, lành mở tâm nầy xa lìa si mạn, ra khỏi lưới tà.

Sáu là vì muốn chỉ bày tu tập chỉ quán đối trị tâm phàm phu sai trái của nhị thừa.

Bảy là vì muốn hiển thị chuyên tâm phương tiện sanh ra trước Phật, nhất định sẽ chẳng thối tín tâm.

Tám là vì muốn chỉ bày sự lợi ích; nên khuyên tu hành. Có những nhân duyên như thế. Cho nên tạo ra luận nầy.

Luận rằng: Ở trong 8 nhân duyên ấy. Đầu tiên là lập nghĩa phân làm nhân duyên chánh. Hai điều giải thích phân làm nhân duyên chánh. Bốn điều tiếp theo là tu hành tín tâm, phân làm nhân duyên chánh. Điều tiếp theo là khuyên tu lợi ích, phân làm nhân duyên chánh. Trong nhân duyên đầu tiên, tức có 4 môn. Trong 7 phần nhân duyên sau, mỗi cái đều có đủ ba môn.

Thế nào là bốn?

Một là hay làm cho giáo pháp trở nên hưng thịnh. Hai là chỗ giáo hóa chúng sanh phân biệt rõ ràng. Ba là tạo ra công việc lành tốt. Bốn là trừ đi những sự tranh luận phỉ báng.

Thế nào là ba?

Nghĩa là 3 môn trước. Bây giờ sẽ đơn cử tướng tùy theo, sau đó sẽ giải thích riêng biệt, nhân duyên tổng tướng vậy. Tổng quát đưa ra việc hay làm cho giáo pháp trở nên hưng thịnh. Nghĩa là vì tám loại căn bản, mà cái gốc là tạo tác ra nhân duyên chánh. Cho nên nói rằng: Tổng nhơn duyên. Rồi chia ra 24 loại phân ly biệt tướng, tạo thành chánh nhơn duyên. Cho nên cũng gọi là tướng nhơn duyên. 32 loại tổng biệt pháp tướng. Trong sự phân chia lập nghĩa, tự sẽ nói rõ. Vì làm cho chúng sanh vậy. Chỗ giáo hóa chúng sanh phân biệt rõ ràng nghĩa là nhiếp phục tà, định lại 10 ức 8 vạn 6 ngàn loại chúng sanh. Bất Định Tụ 30 loại chúng sanh. Chánh Định Tụ 120 loại chúng sanh. Lìa tất cả khổ, được cứu cánh an lạc. Nói tổng quát đơn cử tạo ra công việc tốt lành nghĩa là duyên vào 3 tụ mà làm cảnh giới. Tuyên thuyết khai thị, chỉ bày những pháp yếu vậy. Muốn làm cho tất cả vô lượng chúng sanh xa rời sự sanh diệt, vô thường, khổ; liền được căn bản tổng tướng của sự vui. Chẳng phải cầu thế gian danh lợi cung kính vậy. Tổng đưa ra việc trừ đi sự tranh luận hủy báng có nghĩa là những chúng sanh ngu muội tạo ra những sự nghi ngờ như thế. Ngài Mã Minh Bồ Tát đang ở Bất Động Địa chưa đến được Pháp Vân Địa; nên nương vào những Địa trên của các vị Bồ Tát, rồi làm hóa hiện cảnh giới ra, duy chỉ tự hiển thị thù thắng. Vì cầu danh lợi; nên có lời không thật; chẳng phải là nghĩa thật, há Địa Hạ Bồ Tát lại muốn được giáo hóa Thượng Địa Bồ Tát. Cho nên Ngài Mã Minh khiến cho điều nầy không còn nghi nữa. Tự nói lời rằng: Ta từ trong lâu xa đã thành chánh giác rồi, chỉ giúp đỡ giáo hóa lợi ích cho quần sanh, vì làm cho đầy đủ bổn nguyện; nên hay quyền hiện chỗ địa vị tu chứng, chẳng có nghĩa là muốn cầu danh lợi, cho nên mới nói như thế. Rồi nói về nhân duyên đầu.

Đến nhân duyên thứ hai giải thích về cái nghĩa căn bản Như Lai. Cũng chỉ để làm cho giáo pháp ấy mãi hưng thịnh. Nghĩa là nhơn duyên nầy hay làm rõ bày nghĩa chánh, đối trị lại với tà pháp, tạo nên nhơn duyên chánh vậy.

Nói là Như Lai căn bản nghĩa. Vì sao vậy?

Mười phương ba đời tất cả các Đức Như Lai chẳng có một vị Phật nào mà chẳng có nhứt tâm, nhị môn và 7 loại đối trị để thành chánh giác, làm cho các chúng sanh vậy. Tổng quát đưa ra sự giáo hóa chúng sanh phân biệt rõ ràng. Nghĩa là nhiếp phục 10 ức 8 vạn 6 ngàn loại tà định tụ của chúng sanh, giải rõ nghĩa chánh vậy. Tổng đưa ra công việc làm thiện xảo nghĩa là những chúng sanh duyên vào Tà Định Tụ cuồng loạn mà làm cảnh giới; nên mới tuyên thuyết khai diễn hiển thị chánh nghĩa để đối trị với tà chấp pháp sâu xa. Giải thích sai rất nhiều, thấy nghe nghịch loạn nhiều như cát bụi, nhằm đoạn trừ xiển đề chẳng tin, chướng hại nầy và làm cho vào được nơi thập tín đại đạo vậy. Ở đây đã nói về nhơn duyên thứ hai rồi.

Nhơn duyên thứ ba là làm cho phân biệt phát khởi tướng đạo, tạo tác ra chánh nhơn duyên. Nên gọi là hay hóa hiện và làm cho giáo pháp hưng thịnh. Nghĩa là gồm 3 loại phát tâm để căn lành thành tựu nơi chúng sanh. Tổng đưa ra sự giáo hóa chúng sanh phân biệt rõ ràng. Nghĩa là nhiếp lấy Thượng Phẩm Thập Tín, Tam Phẩm Thập Giải, Tam Phẩm Thập Hạnh, Tam Phẩm Thập Hồi Hướng, Tam Phẩm Thập Địa của các chúng sanh. Ở nơi pháp Ma Ha Diễn mà chẳng hề thối lui tín tâm. Tổng đưa ra việc làm thiện xảo nghĩa là duyên vào 2 tụ của chúng sanh để làm cảnh giới. Tuyên thuyết khai thị ba loại phát tâm. Vì làm cho qua khỏi cá nhân, được vào chỗ thắng tiến. Đây là nói về nhơn duyên thứ ba rồi.

Đến nhơn duyên thứ tư là làm cho tu hành tín tâm, phân ra 4 loại tín tâm và 4 loại tu hành, tạo ra chánh nhơn duyên. Nên đây gọi là hay hóa hiện giáo pháp cho hưng thịnh, đối với những chúng sanh ít căn lành. Tổng cử sở hóa chúng sanh Phân tế môn có nghĩa là nhiếp được Thập Tín Vị, trước ngũ tân trung phẩm của chúng sanh, rồi được tiền ngũ vậy. Cả 2 đều chẳng có căn lành; nên gọi là nhỏ nhoi, chưa được 5 phần sau cho nên gọi là chưa đầy đủ, chẳng gọi là thành tựu, tu tập tín tâm vậy. Tổng nói về công việc làm thiện xảo nghĩa là hay làm thành tựu 5 tín tâm. Đây đã nói về nhơn duyên thứ tư rồi.

Nhơn duyên thứ năm là làm cho sự tu hành tín tâm cuối cùng đến phân tiến môn. Lại nữa nếu có người chỉ tu hành tín tâm cho đến đước miễn các chướng và căn lành tăng trưởng; nên gọi là tạo ra nhơn duyên. Nên có tên là hay biến hóa giáo pháp để cho vào cửa hưng thịnh. Ở trong nầy chúng sanh nhiếp được thập tín vị sơ tâm hạ phẩm chúng sanh. Đây cũng còn gọi là sở hóa chúng sanh phân tế môn, trừ được các nghiệp chướng ác. Tổng cử xuất hưng tác nghiệp thiện xảo môn nghĩa là lấy lễ bái sám hối làm phương tiện, mà làm tiêu trừ các loại nghiệp chướng nhiều như biển. Đây nói về nhơn duyên thứ 5 rồi.

Nhơn duyên thứ sáu nói về sự tu tập chỉ quán. Tổng cử năng hóa giáo pháp xuất hưng môn. Nghĩa là vì sự tu hành tín tâm phần, tu hành chỉ quán môn, tạo ra nhơn duyên vậy. Phàm phu nhị thừa. Tổng cử sở hóa chúng sanh phân tế môn nghĩa là nhiếp được 10 tín vị, 2 tâm của hạ phẩm chúng sanh. Tà Định Tụ nhiếp tất cả nhị thừa vậy. Đối trị với tâm sai quấy. Tổng cử xuất hưng tác nghiệp thiện xảo môn nghĩa là Vũ luân thông làm đối trị với phàm phu nhị thừa, kiến chấp sai trái vậy. Đây đã nói về nhơn duyên thứ 6 rồi.

Nhơn duyên thứ bảy là tu hành tín tâm phân chi chung. Lại nữa chúng sanh đầu tiên học pháp nầy, cho đến cứu cánh được sanh trụ ở Chánh Định Tụ. Cho nên gọi là tạo ra chánh nhơn duyên. Còn gọi là hay hóa giáo pháp xuất hưng môn. Ở trong nầy chúng sanh nhiếp được Thập tín vị, trước 4 tâm, lại chẳng thể thắng tiến hạ phẩm chúng sanh. Nghĩa là trụ ở thế giới nầy, tín tâm thành tựu hay sợ hãi. Đây gọi là vị sở hóa chúng sanh phân tế môn. Nhứt định chẳng thoái tín tâm vậy. Tổng cử xuất hưng tác nghiệp thiện xảo môn nghĩa là thắng duyên lực mà làm cho an lập Chánh Định Tụ vậy. Đây đã nói về nhơn duyên thứ 7 rồi.

Nhơn duyên thứ tám là khuyến tu lợi ích, phân tác chánh nhơn duyên, lại gọi là hay biến hóa giáo pháp để được hưng thịnh. Trong đây chúng sanh nhiếp 10 ức 8 vạn 6 ngàn các loại tà định tụ của chúng sanh; nên gọi tên là hóa chúng sanh phân tế môn, hiển thị sự lợi ích, siêng năng tu hành vậy. Tổng cử xuất hưng tác nghiệp thiện xảo môn nghĩa là làm cho tuyên nói công đức hay tăng trưởng dục lạc, hiển thị sự xung khắc với sự xa lìa giác ngộ. Đây đã nói về nhơn duyên thứ 8 rồi.

Tất cả các giáo pháp cuối cùng đều lập nên phần nghĩa. Tất cả những chỗ giáo hóa căn cơ cuối cùng đều lập nên phần nhân duyên. Vì sao lại khai thị 3 phần mà phân biệt giải thích, lập thành 7 nhơn duyên và nói rộng ra vậy?

– Vì muốn cho hiển thị lợi lạc nói rộng, nói lược, nói tổng, nói biệt chẳng giống nhau vậy. Vì sao người nhị thừa lại nặng nơi giữ gìn tứ xứ?

– Vì muốn hiển thị nhị thừa chúng sanh hạ liệt yếu kém, phát tâm Bồ Đề, hướng vô thượng đạo, cắt đứt đi những chỗ sai trái đối với các loại chúng sanh. Do vậy mà để trừ tà định chúng sanh, chỉ giữ lại 3 xứ.

– Vì muốn làm hiển thị chỗ nhị thừa hình của chúng sanh, khinh xuất sai trái vậy. Vì sao bất định nhơn riêng giữ 3 phẩm vậy?

– Vì muốn hiển thị bất định chúng sanh không còn những chỗ mờ ám nhỏ nhặt nữa, phát tâm quyết định, hướng vô thượng đạo, mà khó vượt qua chỗ khó khăn để đến Chánh Định Tụ chúng sanh. Vì sao người Chánh Định chẳng riêng 3 phẩm mà qua được tổng nhiếp?

– Vì muốn hiển thị Chánh Định chúng sanh hình ở Bất Định khinh mạng sai trái vậy. Có nhơn duyên nào chẳng tăng chẳng giảm mà chỉ lập nên tám loại. Vì sao phải lần lượt như vậy?

Tụng rằng:

Tổng nhiếp đại tổng địa

Tám mươi nhân duyên vậy

Tu hành chẳng thắng pháp

Lần lượt như thế ấy

Luận rằng: Mã Minh Bồ Tát 10 vạn Ôn Đà Nam (Tứ Pháp Ấn) Đại Tổng Địa Luận trung, tổng lập có 80 nhân duyên, vì làm luận duyên vậy. Bây giờ trong luận nầy có 8 loại nhơn duyên; mỗi loại đều nhiếp luận kia 10 loại nhơn duyên; cho nên chẳng tăng giảm, chỉ lập 8 loại. Do đây mà nghĩa nói rằng như thế. Các chữ tổng nhiếp kia là 80 vậy. Nhân duyên lần lượt hành pháp và pháp như vậy đó. Nghĩa là trừ Xiển Đề bất tín, chướng ngại, được thập tín tâm. Trừ chấp trước vào ngã chướng được 10 trụ tâm; trừ sợ khổ chướng được 10 hành tâm. Trừ xả ly chướng được 10 hướng tâm. Đoạn lìa tánh dị sanh 10 loại chướng sẽ chứng được Hoan Hỷ Thập Địa vậy. Đã nói về nhơn duyên thứ 8 rồi.

Bây giờ lần lượt nói về 4 loại căn.

Viết rằng:

Hỏi: Trong Tu Đa La (Kinh) có đủ pháp nầy, sao lại nói thêm nữa?

Đáp rằng: Trong Tu Đa La chỉ có pháp nầy, lấy chúng sanh căn hành chẳng giống; nên tạo giải duyên riêng biệt. Cho nên lúc Như Lai còn tại thế thì chúng sanh có lợi căn, hay nói sắc tâm nghiệp thắng của con người, tiếng nói tròn đầy, một nói nhiều thứ để giải thích, tức chẳng cần luận giải gì thêm. Nhưng sau khi Như Lai tịch diệt hoặc có chúng sanh hay lấy tự lực rộng nghe mà thủ giải; hoặc có chúng sanh lại lấy tự lực ít nghe mà giải nhiều; hoặc có chúng sanh chẳng có tâm lực, nhơn đó luận giải rộng ra. Tự có chúng sanh lại lấy luận rộng, văn nhiều thêm phiền. Tâm vui tổng trì, ít văn mà nhiếp nhiều nghĩa, hay thủ giải. Như thế luận nầy vì muốn tổng nhiếp Như Lai quảng đại pháp sâu, nghĩa vô biên. Nên nói luận nầy.

Luận rằng: Trong văn nầy có nhị môn. Vì sao lại hai? Một là chỗ nói không khác, nan vấn môn. Hai là cử thời phần vị, quyết nghi môn.

Hỏi rằng: Trong Tu Đa La đầy đủ pháp nầy, sao lại còn phải nói thêm nữa?

Tức là nan vấn môn. Nghĩa là quang minh đại giác cùng với 100 khế kinh mở bày tất cả vô lượng pháp tạng. Tùy theo căn cơ mà lường để nhiếp thủ lợi ích chẳng có chỗ nào để mất. Ở đây sao lại phiền thêm để tạo luận nầy? Chỉ có pháp kia không, lại chẳng thêm hiển lực sao? Mà bây giờ tạo luận nầy để nói thêm về pháp kia? Vả lại chẳng cầu xưng tán chẳng hay cứu cánh tôn tín chẳng tận là lý nầy; nên đây là chỗ nói vô dị nan vấn môn?

Đáp rằng: Trong Tu Đa La duy chỉ có pháp nầy lấy chúng sanh căn, việc làm chẳng giống, thọ giải duyên riêng biệt thành Tổng Cử quyết nghi môn. Cho nên Ngài Mã Minh tự thông qua mà nói: Tam thế chư Phật tất cả giáo lý tự nhiên thường trụ ở một vị bình đẳng, chẳng có di chuyển, chẳng có khởi diệt cho nên chỉ đề bảng sai biệt rồi đọc lên chẳng giống, mà thật ra giáo pháp nầy chỉ có một vị, chỉ có bình đẳng; hoặc chẳng phân; hoặc chẳng biệt, mà vì chúng sanh căn tánh sai biệt, lợi độn chẳng giống; tâm hành sai biệt, rộng hẹp chẳng đồng. Cho nên để dạy cho căn cơ sai biệt nầy, hay hóa ra người, chứ chẳng phải tự giống, làm cho sự lãnh thọ giáo pháp danh tự mỗi mỗi khác biệt; rồi làm cho sự giải thích ý nghĩa câu văn tạo thành nhơn duyên khác biệt. Nghĩa là hoặc có chúng sanh nương vào Đức Phật, tu Lê Tỳ La mà được giải thoát; hoặc có chúng sanh nương vào Bồ Tát Già Đà Thi, tu Lê Tỳ La mà được giải thoát. Cho nên người nầy vì đó mà tu tạo luận. Lại nữa lúc Đức Như Lai còn tại thế, làm cho thanh tịnh, hay làm cho đầy đủ 84.000 loại sắc và 4 loại tâm, biến trí thành 10 loại, làm cho 10 loại nghiệp thù thắng. 68 Phạm Viên, 86 Diệu Âm, chẳng có trước sau lúc nào chẳng diễn xuất. Vô lượng vô biên chủng chủng dị loại. Hoặc có chúng sanh thấy Phật sắc đẹp mà được giải thoát. Hoặc có chúng sanh nhớ nghĩ đến tâm Phật mà được giải thoát. Hoặc có chúng sanh quán sát Như Lai 10 nghiệp thù thắng mà được giải thoát. Hoặc có chúng sanh nghe được tiếng Phật tròn đủ mà được giải thoát. Như thế bình đẳng rõ biết thông đạt, tức chẳng làm luận. Sau khi Phật diệt độ, chẳng để cho tạp loạn, chẳng để thành yếu kém. Nên kinh luận theo căn cơ khác nhau mà tạo ra sự sai biệt rộng hẹp. Căn ấy có 4 loại. Cơ ấy nghĩa là 3 Thừa cơ. Sao gọi là bốn? Một là căn của chính mình rộng lớn. Hai là căn của chính mình nhỏ hẹp. Ba là lực chẳng lớn nên nương vào căn kia. Bốn là hẹp chẳng lực nên nương vào căn kia. Đây là 4 loại căn tánh. Hai cái đầu là Kinh Điển. Hai cái sau là Ưu Bà Đề Ya (Luận). Vì sao trong nhơn duyên môn phải tạo cho viên mãn. Trong căn tánh môn phải hóa cho nhỏ lại? – Là vì muốn hiển thị thanh tịnh tăng Na A Thế Ya (Đại Thệ) chẳng có biên tế vậy. Vì muốn hiển thị thọ giáo, thực hành cho các loại chúng sanh mà có sự phân biệt rõ ràng nầy. Do vậy mà tùy theo nhơn duyên bày ra 2 loại giáo pháp rộng hẹp. Tướng nầy như thế nào?

Tụng rằng:

Bổn nguyện để lại vậy

Xuất cùng pháp môn nầy

Lăng Già Vương khế kinh

Phân minh hiển thuyết vậy.

Luận rằng: Lành chúc nhơn duyên lực; nên cho ra hai loại pháp môn sâu xa. Vì sao vậy? Ở trong Khế Kinh đã nói rõ ràng vậy. Trong Lăng Già Vương khế kinh nói như thế nầy. “Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: Ta nhớ về quá khứ vô lượng kiếp hải, trong 500 đời làm nhẫn nhục Tiên nhơn. Ở trong rừng núi chuyên tâm tu hành, thiểu dục tri túc, tứ thánh chúng loại với pháp thanh tịnh. Lúc ấy có một con rắn lớn từ đỉnh núi bò xuống đến nơi ta để nghe ta tụng, rồi cúi đầu thi lễ, lễ bái sám hối. Thi lễ xong rồi lấy đầu dập xuống đất, run run nói bài kệ rằng:

Con trong đời trước

Nhẫn nhục tiên nhơn

Trụ ở núi nầy

Sáu thời hành đạo

Nhưng một thời sân

Nhơn duyên lực ấy

Nay làm thân rắn

Thường thọ khổ lớn

Sau khi mạng chung

Được cùng làm người

Con là đệ tử

Theo Ngài tu hành

Ngài hay đọc tụng

Thường cho con tụng

Cho nên con nay

Phát đại tàm quý (xấu hổ)

Nói kệ ấy xong rồi tức liền mệnh chung, sau khi được làm thân người và làm đệ tử ta. Lúc ấy gặp ngay phát nguyện để lại. Nên đã làm như lời nguyện nầy. Nếu ta chứng được vô thượng đạo, tuyên nói 90 Lạc Xoa (Laksa = 10 vạn), diễn nói kinh điển, làm lợi ích ý vui cho nhiều chúng sanh. Tuyên thuyết 10 Lạc Xoa, lược nói kinh điển, làm lợi ích ý lạc tổng trì chúng sanh. Tức đệ tử của ta tạo ra nguyện nầy. Khi ta tịch diệt, sau đó tạo ra 90 bộ để rộng nói Ưu Bà Tát Đề Na làm lợi ích vui vẻ cho quảng đại chúng sanh. Tạo ra 10 bộ lược nói Ưu Bà Tát Đề Na làm lợi ích ý lạc tổng trì của chúng sanh. Do nhân duyên nầy mà ta nay tuyên thuyết các khế kinh rộng lớn. Đây chính là nhơn duyên ấy vậy. Sau khi ta diệt độ, đệ tử của ta tạo tác luận để dạy dỗ.

Nói về phần nhơn duyên rồi, sau đó nói về phần lập nghĩa. Trong phần lập nghĩa có tên các pháp môn. Số đó là bao nhiêu và tướng ấy thế nào?

Tụng rằng:

Có ba mươi ba loại

Mười sáu chỗ nhập pháp

Mười sáu hay nhập môn

Cùng bất nhị chẳng khác.

Luận rằng: Trong phần lập nghĩa, pháp môn có tên gọi. Tổng cộng có 33 loại khác nhau. Thế nào là 33 loại sai biệt? Đó là 16 chỗ nhập bổn pháp và 16 có thể nhập môn cùng với chẳng phải hai Ma Ha Diễn (Đại Thừa Khởi Tín) mỗi cái có sai biệt. Vì sao mà Ma Ha Diễn (Đại Thừa Khởi Tín) thành 16 loại. Trong căn bản của Ma Ha Diễn có khai mở 8 loại. Nhứt tâm pháp giới gồm 3 nghĩa lớn, mỗi mỗi mở ra hai loại. Vì sao hay nhập môn thành 16 loại? Nhứt tâm pháp giới và 3 đại nghĩa, mỗi mỗi 2 loại. Hoặc mỗi mỗi khai hai loại môn. Đây gọi tên là số lượng.

Đã nói về số lượng rồi, liền nói về biệt thích.

Viết rằng:

Tổng quát Ma Ha Diễn nói có hai loại. Một là pháp; hai là nghĩa. Phải nói rằng pháp. Nghĩa là tâm chúng sanh. Với tâm nầy liền nhiếp tất cả thế gian pháp và xuất thế gian pháp. Nương ở nơi tâm nầy để làm rõ nghĩa Ma Ha Diễn. Vì sao vậy? Tâm nầy tướng chơn như, tức là thể của Ma Ha Diễn vậy. Tâm nầy sanh diệt tướng nhơn duyên, hay chỉ bày tự thể, tướng, dụng của Ma Ha Diễn vậy. Nói về nghĩa tức có 3 loại. Thế nào là ba? Một là thể lớn. Nghĩa là tất cả pháp đều chơn như bình đẳng, chẳng tăng chẳng giảm vậy. Hai là tướng đại. Nghĩa là Như Lai Tạng đầy đủ vô lượng tánh công đức. Ba là dụng lớn. Nghĩa là hay sanh tất cả thế gian, xuất thế gian những nhân quả lành tốt. Tất cả chư Phật đều ở chỗ nầy. Tất cả Bồ Đề đều lên pháp nầy để đến Như Lai địa.

Luận rằng: Trong văn nầy có 3 môn. Thế nào là ba? Một là sở nhập căn bản tổng thể môn. Hai là năng y thú nhập biệt tướng môn. Ba là thông đạt quy tắc bất động môn. Hai loại môn đầu lại có thêm 2 loại. Trụ ở tư ứng quán, Ma Ha Diễn là tất cả. Tức là sở nhập căn bản tổng thể môn, tức là căn bản trong Ma Ha Diễn có 8 sai biệt. Thế nào là 8?

Một là thể nhứt tâm Ma Ha Diễn. Hai là ba tự nhứt tâm Ma Ha Diễn. Ba là vô lượng vô biên chư pháp sai biệt, chẳng tăng chẳng giảm, thể đại Ma Ha Diễn. Bốn là tịch tĩnh vô tạp nhứt vị bình đẳng, bất tăng bất giảm, thể Đại Ma Ha Diễn. Năm là Như Lai Tạng công đức tướng, Đại Ma Ha Diễn. Sáu là cụ túc tánh công đức tướng, Đại Ma Ha Diễn. Bảy là hay sanh tất cả thế gian nhơn quả, Dụng Đại Ma Ha Diễn. Tám là hay sanh tất cả thế gian nhơn quả, Dụng Đại Ma Ha Diễn. Đây gọi là 8.

Như thế 8 loại Ma Ha Diễn Pháp. Tất cả đều có thể vào tạo nên tên nầy. Nghĩa là nhứt thể nhứt tâm, mà dùng môn nầy để vào vậy. Tên gọi là nhứt thể nhứt tâm Ma Ha Diễn. Cho đến hay sanh tất cả xuất thế gian nhơn quả lành, dụng lớn mà làm môn nầy, chỗ vào được. Tên là hay sanh tất cả xuất thế gian nhơn quả lành, dụng đại Ma Ha Diễn. Giống như chuyển luân Thánh vương. Nghĩa là như Luân Vương tùy theo tướng luân nầy mà lập nên tên gọi. Ma Ha Diễn Pháp lại cũng như vậy. Tùy ở môn nầy mà tướng được lập tên vậy.

Trong đại giác khế kinh nói như thế nầy. Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Hãy nghe! Hãy nghe và suy nghĩ kỹ. Ta nay vì ngươi mà phân biệt khai nói 8 loại thân pháp. Thế nào là 8?

Một là nhứt thể thú nhập thân pháp. Hai là 3 tự thú nhập thân pháp. Ba là các pháp sai biệt, chẳng tăng chẳng giảm, thể đại thú nhập thân pháp. Bốn là thuần tịnh một tướng chẳng tạp, chẳng tăng chẳng giảm, thể đại thân thú nhập thân pháp. Năm là Như Lai Tạng công đức hiển liễu đại thú nhập thân pháp. Sáu là viên mãn tánh công đức, hiển liễu đại thú nhập thân pháp. Bảy là xuất sanh xuất thế gian nhơn quả tự tại vô ngại đại thú nhập pháp thân. Tám là ra khỏi xuất thế gian diệu nhơn quả, tự tại vô ngại thú nhập thân pháp. Đây gọi là 8. Cho đến nói rộng ra.

Mã Minh Bồ Tát chánh nhiếp lấy văn kia, cho nên nói rằng Ma Ha Diễn Tổng. Trong Tổng nầy nói: Ở trong 2 nơi, thì là tổng thể vậy. Cho nên thấu lên trên và ngấm đến dưới vậy. Trong Đại Tổng Địa Luận có khai 80 môn, giải thích căn bản Ma Ha Diễn Pháp, làm cho mỗi mỗi nhiếp 10 thành một loại. Chỉ lập ra 8 pháp. Do nghĩa nầy mà có 8 phải nên biết thế. Hay nhập biệt tướng có 8 loại. Chỗ nhập tổng thể có 8 nên biết. Năng nhập sở nhập 8 loại pháp tướng. Hơn thua rộng hẹp với tướng nầy là gì?

Tụng rằng:

Bình đẳng bình đẳng một

Đều chẳng có dị biệt

Mỗi nhiếp các pháp vậy

Chung cuộc chẳng tạp loạn

Luận rằng: Như thế hay có 16 pháp tướng, biến khắp, biến khắp, bình đẳng, bình đẳng. Một vị một tướng, đều chẳng sai biệt. Vì sao vậy? Mỗi nhiếp các pháp cứu cánh rốt ráo vậy. Cho đến cuối cùng, cùng với tổng biệt. Tất cả đều cùng, có tạp loạn chăng? Cuối cùng trước sau không có tướng tạp loạn. Tổng biệt môn nầy, đầu đuôi chẳng không, mà mỗi mỗi riêng biệt đều có thể sánh được. Lại nói: Bình đẳng chẳng phải là một pháp; nên gọi là bình đẳng. Đã nói phần đầu rồi. Bây giờ nói đến 2 lần 4 loại pháp. Mỗi cái đầy đủ 3 môn. Thế nào là 3?

Một là pháp nương vào quyết định môn. Hai là căn bản nhiếp, mạt phân tế môn. Ba là lập nên hai loại Ma Ha Diễn môn.

Cho nên nói pháp là tâm chúng sanh. Tức là pháp nầy nương vào quyết định môn. Bây giờ Ôn Đà Nam (Tứ Pháp Ấn) tụng tất cả và nói rõ. Tướng nầy là gì?

Tụng rằng:

Tất cả gồm bốn chúng

Sanh vị bốn loại sanh

Là một pháp giới tạng

Biến nơi tám xứ kia.

Luận rằng: Chúng có 4 loại. Thế nào là 4? Một là Nhứt Thiết Như Lai chúng. Hai là Nhứt Thiết Bồ Tát chúng. Ba là Nhứt Thiết Thanh Văn chúng. Bốn là Nhứt Thiết Duyên Giác chúng. Đây có tên là 4 chúng.

Sanh lại có 4 loại. Thế nào là 4? Một là noãn sanh. Hai là thai sanh. Ba là thấp sanh. Bốn là hóa sanh. Đây gọi là tứ sanh.

Qua khỏi số ấy là chúng. Thọ sanh nên sanh, là một pháp giới tâm. Trong 8 xứ kia chu biến viên mãn. Bất khả phân chiết, chẳng thể ly tán. Chỉ có một thể, chỉ có một tướng. Lấy 4 loại chúng nhiếp hóa các bậc Thánh. Lấy 4 loại sanh, nhiếp tất cả loại phàm. Mã Minh luận sư vì muốn hiển một tâm rộng lớn viên mãn, gọi là chúng sanh, thuận lý trong khế kinh và nói như thế nầy:

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn, hiển bày thần lực rồi, cho các đệ tử biết rằng: Hãy nghe hãy lắng nghe và hãy suy nghĩ kỹ! Ta nay vì ngươi phân biệt giải thích một pháp giới tạng. Nầy Thiện Nam Tử! Một pháp giới tạng ấy có thể biến đến các Đức Như Lai và các Bồ Tát, các vị Thanh Văn, các vị Duyên Giác và các loài sanh khác. Chẳng có nơi nào mà không đến được. Chẳng có nơi nào không thấu. Chẳng có nơi nào không gặp. Cho nên gọi đây là một pháp giới tạng. Làm cho nhiếp câu văn nầy, nên gọi là chúng sanh. Mã Minh Bồ Tát luận trong 6 vạn Ôn Đà Nam (Tứ Pháp Ấn) bổn tạng, khai mở 10 loại cửa, biệt giải rộng nói. Làm cho lược nhiếp mà gọi chúng sanh. Đây nói bổn pháp sở y quyết định môn rồi và tâm nầy liền nhiếp tất cả thế gian pháp, xuất thế gian pháp. Tức là căn bản nhiếp, mạt phần tế môn. Tướng nầy là gì?

Tụng rằng:

Là một pháp giới tâm

Tổng nhiếp hai loại môn

Gọi nhiếp thế, xuất thế

Tạo pháp giới tên gọi

Luận rằng: Một pháp giới tâm tổng nhiếp tất cả pháp môn sanh diệt. Cho nên gọi tên là nhiếp thế gian pháp. Tổng nhiếp tất cả các pháp môn chơn như, gọi tên là nhiếp xuất thế gian pháp. Tất cả đều tạo ra pháp giới cho nên có tên là pháp. Tự thể ở trong khế kinh nói như thế nầy. Quảng Đại Thần Vương tức nhiếp tất cả các loại vô minh. Tất cả các loại nhiễm ô. Tất cả các loại pháp trong trắng. Lại nhiếp tất cả pháp thanh tịnh. Tất cả pháp vô ngại. Tất cả pháp giải thoát. Tất cả pháp tuyệt ly. Tất cả pháp mãn túc. Tất cả pháp tịch tịnh, mà Quảng Đại Thần Vương thì chẳng phải pháp thế gian; mà cũng chẳng phải pháp xuất thế gian. Làm cho nhiếp câu văn nầy; nên có tên là nhiếp. Mã Minh Bồ Tát 8 vạn Ôn Đà Nam đều luận quy về gốc. Khai mở 20 cửa, giải bày rõ ràng. Trong nầy đã lược nói như vậy rồi. Ở đây cũng đã nói xong phần căn bản nhiếp mạt phân tế môn. Nương vào nơi tâm nầy để diễn thị Ma Ha Diễn Nghĩa vậy. Tức là kiến lập hai loại Ma Ha Diễn môn. Tướng nầy như thế nào?

Tụng rằng:

Tổng cả hai loại môn

Nói nương nơi tâm nầy

Tổng cả hai bổn pháp

Hiển thị Ma Ha Diễn

Luận rằng: Tổng tiêu hay vào hai loại môn; nói là nương theo tâm nầy. Tổng tiêu nhập vào hai loại pháp; nói là hiển thị Ma Ha Diễn nghĩa. Sao lại có hai môn? Một là tâm chơn như môn. Hai là tâm sanh diệt môn.

Sao gọi là hai môn lớn? Một là nhứt thế Ma Ha Diễn. Hai là tự thể, tự tướng, tự dụng Ma Ha Diễn. Như thế chỗ nhập vào hai loại bổn pháp. Hoặc từ đó có thể theo vào để tạo ra tên nầy. Cho nên lấy thể chơn như mà làm môn nầy, để vào nơi ấy vậy. Gọi đây là thể, lấy tự tướng của tâm giác ngộ lớn, mà làm môn nầy, để vào được nơi ấy. Gọi đây là tự. Do có thể vào cửa ấy bằng hai loại riêng biệt. Chỗ nhập vào bổn pháp có hai, nên biết. Vì sao vậy? Liền hỏi ngay. Nghĩa là do từ ý nghĩa gì vậy? Nương vào tâm nầy như trong câu văn đầy đủ hai loại môn, hiển thị Ma Ha Diễn Nghĩa, trong câu ấy đầy đủ hai loại bổn pháp chăng? – Đáp rằng: Tạo ra một pháp giới tâm chơn như môn tức là hiển thị một thể Ma Ha Diễn pháp. Tạo một pháp giới tâm sanh diệt môn, có thể hiển thị tự thể, tự tướng, tự dụng Ma Ha Diễn Pháp. Do nghĩa đây nên rõ mỗi mỗi đều đủ hai môn, hai pháp. Trong Đại Giác Khế Kinh tạo ra như điều đã nói. Lại nữa Văn Thù Sư Lợi có 2 loại pháp, thậm thâm vi diệu, chẳng thể nghĩ bàn. Thế nào là hai? Một là thể tướng bình đẳng Ma Ha Diễn. Hai là tự tướng tự nhiên Ma Ha Diễn. Nếu muốn chứng được hai loại pháp nầy nên hành nhị môn. Thế nào là hai? Một là chẳng đoạn chẳng trói môn. Hai là có đoạn có trói môn. Cho đến nói rộng làm cho nhiếp được câu văn nầy, rồi nói như vậy.

Trong Đại Tổng Địa mở ra tám loại môn, giải thích rõ ràng. Đã nói qua kiến lập hai loại Ma Ha Diễn môn. Trong 3 nghĩa lớn mỗi mỗi lược qua 2 môn đầu, lập sau đó một môn. Mã Minh Bồ Tát chỗ nầy ý vui, rồi sau đó nhiếp ở đầu và giữa; nên như thế đã qua. Lại nữa điều nầy lần lượt đến rõ ràng minh bạch rồi. Bên trên là 3 kệ tụng về bổn pháp, cho đến phần nầy. Một là thể lớn. Tổng tiêu sở nhập hai loại bổn pháp. Thế nào là hai? Một là vô lượng vô biên các pháp sai biệt, bất tăng bất giảm Ma Ha Diễn. Hai là tịch tịnh vô tạp, một vị bình đẳng, bất tăng bất giảm Ma Ha Diễn. Nghĩa là tất cả pháp chơn như bình đẳng bất tăng bất giảm vậy. Tổng tiêu hay nhập hai loại môn riêng biệt. Thế nào là hai? Đó là như bổn pháp, gọi là môn cũng lại như vậy. Hai là tướng lớn. Tổng tiêu sở nhập hai loại bổn pháp. Thế nào là hai? Một là Như Lai Tạng công đức Ma Ha Diễn. Hai là cụ túc tánh công đức Ma Ha Diễn. Nghĩa là Như Lai Tạng cụ túc vô lượng tánh công đức vậy. Tổng tiêu hay nhập hai loại biệt môn. Thế nào là hai? Đó là như bổn pháp gọi môn cũng lại như vậy. Ba là dụng lớn. Tổng tiêu sở nhập hai loại bổn pháp. Thế nào là hai? Một là hay sanh tất cả thế gian nhơn quả Ma Ha Diễn. Hai là hay sanh tất cả xuất thế gian nhơn quả lành Ma Ha Diễn. Nghĩa là sanh hay tất cả thế gian xuất thế gian thiện nhơn quả vậy. Tổng tiêu hay nhập hai loại môn riêng biệt. Những gì là hai? Nghĩa là như bổn pháp, gọi là môn cũng lại như thế. Ba loại nghĩa lớn biệt biệt phân loại giải thích, như trong phẩm Tổng Địa Luận Bổn Địa đã giải thích rõ ràng. Vì sao lại chẳng phải hai pháp Ma Ha Diễn không có nhân duyên?

– Pháp nầy cực diệu, thậm thâm độc tôn, lìa căn cơ vậy.

Vì sao lìa căn cơ?

– Vì không căn cơ vậy.

Kiến lập để làm gì?

– Chẳng kiến lập gì cả.

Có phải đây là Ma Ha Diễn Pháp mà chư Phật được chăng?

– Có thể ở nơi chư Phật mà được, mà chư Phật chẳng được. Bồ Tát nhị thừa tất cả những chúng sanh khác lại cũng như vậy. Tánh đức viên mãn như biển cả vậy. Vì sao thế?

– Vì lìa căn cơ vậy; lìa giáo thuyết vậy.

Vì sao 8 loại bổn pháp từ nhơn duyên khởi? lại ở nơi cơ? thuận theo thuyết vậy? Vì sao lại là cơ?

Có căn cơ sao? Như thế 8 loại, bổn pháp chư Phật có chỗ được sao?

Ở chỗ chư Phật mà được, còn chư Phật thì chẳng được. Bồ Tát nhị thừa tất cả các loại chúng sanh khác cũng lại như vậy. Tu hành là trồng cái nhân rộng rãi nầy. Vì sao thế? Vì có căn cơ vậy. Vì có giáo thuyết vậy? Vì sao lại nương vào chơn như môn để nhập vào chỗ Ma Ha Diễn Pháp, chỉ lập thể danh. Nương nơi sanh diệt môn để vào chỗ Ma Ha Diễn Pháp, chỉ lập thể danh? Trong chơn như môn chẳng có tướng kia vậy. Cái kia nghĩa là tất cả các pháp bất thiện. Tự ấy chính là tất cả pháp thanh tịnh. Chỗ đối trị kia chẳng có và chỗ đối trị tự cũng phải có. Chỉ nói thể, chẳng hề nói tự. Nếu chỗ đối trị kia có, hay chỗ đối trị tự có, thì sẽ nói tự chẳng dung ở thể. Lại nữa và muốn hiển thị một pháp giới thể bình đẳng, bình đẳng chẳng có cái gì riêng tư, vô lượng tánh đức tự nhiên, có, không, được nơi tha lực kia. Lại nữa tùy theo đó mà an lập, chẳng có nhất định vậy. Sao lại phải nói riêng về môn? một tâm riêng biệt. Một, ba đại tổng làm một, mà giống nhau với mỗi hai Ma Ha Diễn. Ba nghĩa lớn hợp nhau, rồi gặp được hai Ma Ha Diễn. Nghĩa lớn ấy tên thông với ba loại. Rồi tổng lại một nghĩa; chẳng có ý nghĩa riêng, làm cho mở bày 16 pháp môn. Tốt, xấu, rộng, hẹp với tướng ấy là gì?

Tụng rằng:

Bình đẳng bình đẳng một

Chẳng có không hay khác

Mỗi nhiếp hết các pháp

Cuối cùng chẳng tạp loạn.

Luận rằng: Năng nhập sở nhập 16 pháp môn, viên mãn, viên mãn, bình đẳng, bình đẳng, chu biến pháp giới, chẳng có sai biệt. Vì sao vậy?

Vì mỗi mỗi nhiếp tất cả các pháp, cứu cánh rốt ráo. Cuối cùng chẳng hỗn tạp; cái gốc là chỗ ấy.

Đã nói về tổng biệt hai môn rồi. Tất cả chư Phật đã rõ biết rồi. Tất cả Bồ Tát đều lên pháp nầy đến được Như Lai địa. Nghĩa là thông đạt quy tắc bất động môn. Nghĩa là vi trần số quá khứ chư Phật, vi trần số hiện tại chư Phật. Vi trần số vị lai chư Phật, tất cả đều lên được 32 loại nầy, yên ổn ngồi trên chỗ sâu xa mà thẳng đến chỗ thanh tịnh vô thượng. Mười phương ba đời tất cả chư Bồ Tát lại cũng như thế. Ở trong đây Bồ Tát nói rằng thông thủ tam tụ tất cả chúng sanh. Vì sao thế? Vì chẳng có chúng sanh nào mà chẳng đến được Như Lai địa vậy.