Luận Tụng Chỉ Quán Môn

Chỉ Quán Môn Luận Tụng

Thế Thân Bồ Tát tạo, Đường Nghĩa Tịnh dịch

Bản Việt dịch của Thích Như Điển

***

Nếu thấy thân người nữ

Cùng với vẻ diễm kiều

Người ngu không biết rõ

Vọng sinh ý dâm nhiễm.

Phật nói các: Sình trướng

Tiếp xúc, trừ ý dâm,

Theo được lời Thế Tôn

Được thắng quả không sót.

Giới tịnh, có nghe, nghĩ

Sách tiến thường tu tập,

Buộc niệm quán các cảnh

Đây là nhân giải thoát.

Nếu người có nhiễm sân

Và hôn trầm thụy miên,

Trạo cử, ác tác, nghi,

Năm thứ ngăn tu định.

Ít nghe, ở đông người,

Ham vui thích sự hèn,

Ái thân và thọ dụng

Cũng ngăn được tu định.

Loạn tâm có năm duyên

Tình tán theo các cảnh

Đắm vị và trầm, cử,

Ngã mạn, nặng danh tiếng.

Bí-xu nương Thánh giáo

Có lỗi phải nói trừ,

Khéo lấy duyên trụ tâm

Đó là hành tối thắng.

Tiếp, ở nơi yên lặng

Không hề có trở ngại,

Sau đó ngưng nghĩ tà

Là nghiệp đầu Bí-xu.

Nên ở rừng thây chết,

Đắp y phục phấn tảo,

Thường cầu sự tĩnh chỉ

Đoạn trừ tâm dâm nhiễm.

Khất thực thấy người nữ

Phải quán là bất tịnh,

Thu mắt trừ ý tà,

Chính tâm nhận đồ ăn.

Lắm lời, nhiều việc tạp

Đều phải nên xa lìa,

Duyên phiền não lại bức

Lực tuệ nên tu nhẫn.

Dưới cây trong bụi cỏ

Hoặc ở trong hang động,

Khi quán nên ở đây

Yên tịnh dễ tu tâm.

Khi duyên cảnh tập định

Không quá cao quá thấp,

Không nên quá gần, xa

Khiến tương ưng với cảnh.

Khéo giữ cảnh được duyên

Khéo quán sát rành rõ,

Khi nhắm mắt trụ tâm

Cũng như mở mắt thấy.

Căn môn đều nhiếp soát,

Trụ niệm ngưng nội tâm,

Duyên cảnh quán hiện tiền

Niệm niệm khiến liên tục.

Với tướng được giữ trước

Dụng tâm quán hình mạo

Sình trướng bên nữ căn

Đáng sợ đáng khinh hiềm.

Giống như nước ao đục

Gió thổi khiến động dao,

Khi nhìn ảnh các cây

Không trụ được sáng tỏ.

Nước tâm nhơ phiền não

Bị gió tình loạn thổi,

Khi lắng tâm quán sát

Tối tăm không thể trụ.

Tâm chìm nên sách tiến

Nên quán sự thắng diệu,

Như khốn đỉa hút máu

Rưới nước khiến hồi tỉnh.

Lại phải chóng thu liễm

An tâm nơi cảnh cũ,

Khiến ý có kham năng

Khéo điều đều tùy niệm.

Nếu tâm mà trạo cử

Nên nghĩ chán sự ác

Khiến tâm trụ tịch tĩnh

Như câu móc đầu voi.

Lìa xa trầm, trạo cử

Nên bình đẳng vận tâm

Tùy tình trụ nơi xả

Khi ấy không lỗi lầm.

Từ đây dần trụ được

Giữ tướng ảnh tâm an

Sáng tỏ hành trung đạo

Cầm đèn chính niệm chiếu.

Khi ấy dùng Tầm, Tứ

Nên lần lượt quán sát

Định ảnh tức liền sinh

Rõ ràng trụ ở trước.

Tịnh sáng không dao động

Như hình Đại Trượng Phu

Ảnh này vọng quán trước

Chính là tướng sai khác.

Tướng này đã sinh rồi

Các dục ác liền trừ

Tức người buộc tâm này

Tướng phương tiện Sơ định.

Thứ biết thể của sân

Vốn do tham dục phát,

Ái dục đã trừ rồi

Lìa được khỏi sân khuể.

Tiếp dùng niệm sách tiến

Trừ bỏ tâm hôn trầm,

Đã quán tướng sai khác

Nghi tình liền ngưng dứt.

Thứ phải trừ ác tác

Khéo đi đường an ổn,

Tịch tĩnh không chướng ngại

Phòng ngừa được trạo cử.

Nên biết dùng tâm thô

Quán tướng được giữ kia,

Liền ở trong tâm ảnh

Dùng ti vi tế cầu.

Thấy tâm hỷ sai khác

Do đây được khinh an,

Thứ chứng được định lạc

Định chi thứ như vậy.

Tức là định căn bản

Khéo an nơi tâm niệm,

Giống như muốn đến thôn

Và đến ở trong thôn.

Đã được định căn bản

Lại tu thêm hành khác

Được Tha tâm, Túc trụ,

Thần thông Thiên nhãn, nhĩ.

Ở đây khi có Tư

Tâm chưa được tĩnh trụ

Giống như sông có sóng

Nên biết địa chư cao.

Đã được Sơ định rồi

Nhưng trụ nơi sở duyên,

Tiếp y Định thứ hai

Tầm, Tư đều ngưng dứt.

Tuy trụ được vị này

Còn có nước hỷ động,

Khi vào định thứ ba

Tâm liền được tĩnh trụ.

Do tâm ấy có lạc

Chưa thể khiến trụ niệm,

Đã chứng định thứ tư

Các lỗi đều dứt trừ.

Phần thối, phần thắng tiến,

Phần trụ, phần quyết trạch,

Tĩnh lự có bốn loại

Người tu định phải biết.

Nếu định thuận phiền não

Đây gọi là phần thối,

Sau thắng là phần thắng,

Trụ tụ trụ nên biết.

Do trước khéo phân biệt

Là nhân quyết trạch đạo,

Định này với được kia

Gọi là phần quyết trạch.

Nơi các tướng vô thường

Làm các hành giải Khổ…

Nếu người được định này

Là các phần đạo: Noãn…

Với các tướng xanh, trướng

Sự quán có nhiều đường,

Như Thánh giáo tu hành

Khác nhau phải nên biết.

Tử thi gió vào bụng

Nơi huyệt có mủ chảy

Cả háng cũng đều khô

Gọi đó là sưng trướng.

Không ái phần thân thô

Chỉ tham thân tế hoạt,

Với ngưới tâm nhiễm này

Khiến tu quán như vậy.

Hoặc ở nơi tử thi

Có ít mủ trắng chảy,

Thịt còn lại đều xanh

Gọi đó là bầm xanh.

Thấy sắc mà sinh ái

Đó gọi người ái sắc,

Đối trị dùng xanh bầm,

Mặt trời lúc nắng cháy.

Tử thi khắp chảy mủ

Đó là tướng mủ chảy,

Với người ái hương kia

Khiến quán ngừng tâm nhiễm.

Lưng tử thi đứt nát

Gọi là tướng đoạn hoại,

Với người ái toàn thân

Đại Tiên Tôn vì nói.

Đối trị ái da thịt

Vì nói tướng thực tàn,

Tay, chân các phần xương

Tùy chỗ đều phân tán.

Với người tham các phần

Nói tướng răng xương loạn,

Ngay nơi tướng xương loạn

Dao, gậy phá chia lìa.

Cũng vì ái toàn thân

Khiến quán tướng đả loạn

Thi hài bị dao chém

Hoặc bị gậy, tên phá.

Máu chảy khắp thân tàn

Gọi là tướng huyết đồ.

Sạch sẽ hương xoa thân

Tư trang mặc áo đẹp,

Nơi đó người khởi tham

Dùng thuốc hay phân tích.

Với cảnh chỉ mình ái

Không chấp nhận người xem,

Nhiều trùng rúc tử thi

Khiến quán trừ niệm ác.

Thịt tử thi tiêu tán

Chỉ còn lại răng, xương,

Nơi răng sinh tham trước

Khiến quán tướng răng xương.

Nếu thấy người mới chết

Thức đi còn thân tàn

Chúng sinh tham trước lạc

Khiến trừ tham kiều diễm.

Phân tiểu và dớt dãi

Tụ hợp chung thành thân,

Ba mươi hai loại vật

Da bọc gọi là người.

Lông tóc và móng, răng

Gan, ruột các tướng nhân

Trong trống ba trăm xương,

Ràng quấn chín trăm xương;

Chín lỗ chảy bất tịnh

Bẩn tưởi khó trình bày,

Quán kỹ thật đáng ghét,

Người trí chẳng nên gần.

Đã quán thân người nữ

Cũng lại xét thân mình

Nơi đó nhân tham nhiễm

Theo lý thường buộc niệm.

Không thoát ngục ba cõi

Hoặc do tâm dục nhiễm

Cho nên người trí sáng

Cực khéo nghĩ sự này.

Trải nhiều khổ địa ngục

May mắn được thân người

Há phóng túng cuồng tâm

Không tu hạnh thù thắng.

Tham dâm có nhiều loại

Tùy sinh ác chẳng đồng,

Một quán đều trừ được

Chính là quán xương trắng.

Chạm sắc hình kiều diễm

Áo quần sinh nhiễm trước,

Thuốc nào trừ được đây?

Không qua quán xương trắng.

Trước nơi ngón chân cái

Định tâm duyên tạo sưng

Vỡ ra đã chảy mủ

Thịt đều tùy rơi rụng.

Liền quán hình xương ngón

sắc như chi, câu trắng,

Vết sưng đã lớn dần

Da thịt đều trừ sạch.

Lần lượt quán như thế

Thịt thân đều trừ hết,

Chính niệm thắng giải thành

Chỉ quán khớp xương ấy.

Nếu còn lại ít thịt

Bèn gọi là loạn ý,

Huống lại phóng tâm khỉ

Rong ruổi cầu các cảnh.

Thời gian lâu buộc tưởng

Tự biết khéo trụ được,

Tiếp dần đến người khác

Quán chung là đốt xương.

Dần rộng đến bờ biển

Trong đó đầy xương trắng,

Định này đã thành rồi

Bỏ rộng lại khiến hẹp.

Khi lược bỏ từ ngoài

Đến chỉ xương thân mình,

Lại quán xương ngón chân

Là thứ tự tâm định.

Hoặc lại bỏ từng miếng

Cực đến nơi xương đảnh,

Nên biết tâm cuối cùng

Nhiếp giữa mi khiến trụ.

Nếu tu tập như vậy

Thường sinh thắng Phạm cung,

Chẳng đọa lạc ba đường

Được sinh trời Ngũ Tịnh.

Tâm nhân gian thiện tán

Trở lại dòng sinh tử,

Người trí tu tâm định

Như lửa cháy áo thân.

Liền bỏ được các duyên

Nên ở nơi rừng vắng,

Chớ khiến vô thường bức

Chết uổng trong tán tâm.

Dùng Bát-nhã tịnh tâm

Rốt được quả khả ái,

Nếu không mong hậu hữu

Với thắng đạo nên tu.

Cạo tóc đắp Ca-sa

Phải nên tu Thánh đạo,

Tự nói các tạp sự

Sẽ là nhân sinh tử.

Đánh giá