1
2
3
4
5
6
7
8

QUYỂN 5

Giới thứ 16 VÌ LỢI NÓI PHÁP LỘN XỘN

Là Phật tử, phải tận tâm học kinh luật Oai Nghi Đại thừa, thông hiểu nghĩa lý. Khi thấy có hàng tân học Bồ Tát từ xa trăm dặm, ngàn dặm đến cầu học kinh luật Đại thừa, nên đúng như pháp mà nói, trước giảng giải tất cả khổ hạnh như đốt thân,đốt cánh tay, đốt ngón tay, nếu không đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật, thì không phải hàng Bồ Tát xuất gia. Nhẫn đến xả thịt nơi tay chân, thân mình mà bố thí cho cọp đói, sư tử đói, v.v…và tất cả các loài quỷ đói, rồi sau mới tuần tự theo căn cơ của mỗi người mà giảng chánh pháp cho hàng tân học ấy được mở thông tâm ý. Nếu Phật tử vì quyền lợi, giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn xộn, không có thứ lớp trước sau, thuyết pháp có tính cách hủy báng Tam bảo, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích;

Nếu không có tâm vì lợi dưỡng mà thuyết kinh văn một cách lộn xộn điên đảo, không riêng tư, nhưng làm khuất lấp nghĩa lý nhiệm mầu của giáo lý Đại thừa, thì chẳng phải là phương pháp huấn thọ, mất phương pháp sư phạm, còn vì lợi mà tiếc pháp, thật là trái với hạnh nguyện hoằng pháp của Bồ Tát.

Hảo tâm là chẳng phải tâm xấu vì lợi dưỡng. Bồ Tát vốn phát đại tâm thể hiện tinh thần tự lợi và lợi tha, nhưng muốn lợi tha trước hết phải tự lợi nên cần phải học Oai Nghi Kinh Luật, trong thì được chánh tâm, ngoài bày đủ oai nghi. Nên kinh chép: “Trì Tịnh giới thì phạm hạnh đầy đủ, đường đường Tăng tướng. Một vị thầy đầy đủ oai đức và uy nghi thì tất nhiên khiến cho người nể sợ, siêng năng tinh nhiếp thân tâm hợp thời, dung mạo khả quan thật là nghiêm chỉnh, đáng cho người kính trọng. Đây là đạo phẩm xuất gia, là bậc mô phạm của trời người. Bên trong ẩn chứa đức Sư tử, bên ngoài biểu hiện nghi dung của Tượng vương, thì nhận được sự tán thán của người, trời và long thần khâm phục.”

Khai giảng ý nghĩa vi diệu, khai là bày rõ, khiến cho người khác thông hiểu, không bị trở ngại, giải là khế ngộ không còn tâm nghi ngờ. Do thông đạt ý vị thâm sâu, khế ngộ ý vị nghĩa lý tông thú của kinh luật, nên mới thể hiện hạnh lợi tha, mới có thể cảm được sự lợi ích, nếu không thì chính mình cũng đã lầm lẫn và khiến cho người lầm lẫn theo.

Đúng như pháp mà nói, nghĩa là tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, do ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo nghiệp ác, ngũ nghịch tội, nay muốn thâm nhập giáo pháp Đại thừa, trước hết phải dạy cho họ, để họ sám hối tội. Song các tội trước do ba nghiệp sanh ra, cần phải từ ba nghiệp mà sám trừ, nên khiến họ thiêu đốt ngón tay để diệt tội kia. Khi tội diệt hết thì chướng ngại tiêu trừ, nghe pháp liền được tâm khai, ý hiểu, chứ không phải Phật thọ nhận sự cung kính này, khiến cho chúng sanh sanh đại thống khổ. Huống gì tâm sám hối, đâu mạnh mẽ bằng tâm tạo tội, nếu có thể đốt chân, đốt tay, thì tâm tội tiêu dứt không còn.

Lại nữa, do chúng sanh đời đời tham lam bỏn xẻn, nên không có thể giải thoát khỏi con đường sanh tử, nay khiến họ xả thân mạng làm món ăn cho các quỷ thú, tuy tổn mình làm lợi cho chúng sanh, nhưng đó là bổn hoài của bậc Đại sĩ. Như Vương tử Ma Ha Tát Đỏa, xưa đem thân hiến cho cọp đói, chí thành cầu đạo chánh giác. Nên kinh chép: “Tất cả Đại địa, bất cứ chổ nào dù nhỏ bằng mũi kim châm, không nơi nào mà không có đức Như Lai xả thân mạng.” Huống gì thân tâm ngũ uẩn này vốn tự thể không tịch, không có Ngã và Ngã sở. Chúng sanh do không liễu ngộ, vọng chấp Ngã, nay muốn khiến cho họ thấu đạt ngũ uẩn thân vốn không, xả bỏ nó như bỏ giày rách, thế nên, trước vì họ nói các hạnh khổ để mở rộng tâm trí giác ngộ và tâm Bồ đề vững chắc, nguyện cầu giải thoát kiên cố, tỏ ngộ ngũ uẩn không thật, xa lìa Ngã chấp, bước đầu tấn tu trong sáu độ là Đàn Ba-la-mật (bố thí), trên cúng dường chư Phật, dưới bố thí chúng sanh, thành tựu Kính điền và Bi điền, đó là con đường vào Đại đạo, sau mỗi mỗi theo thứ lớp nói chánh pháp ba mươi tâm (thập trụ, thập hạnh và thập hồi hướng), khiến cho tâm khai mở thông sáng, ý được giác ngộ, thì chứng đắc quả vị không khó. Đây là thuận chánh lý mà nói, không nói lộn xộn, mất thứ lớp.

Nay không nói Bồ Tát tại gia, vì vua tôi có Quốc chánh, sĩ thứ ắt có cung cách tại gia, nước nhà thoát được, bốn đại đâu thể quên. Phàm phu sơ học dù chưa được tánh địa, chưa sanh huệ giải, chưa xả được thân , nhưng việc khổ hạnh không thể không biết.

Hỏi: Đã xả thân mình rồi, lấy ai thuyết pháp giáo hóa cho chúng sanh?

Đáp: Đây muốn nói thân còn không tiếc, huống gì cầu mong lợi dưỡng mà nói pháp một cách điên đảo, cũng muốn nói rằng trước thí món ăn, khiến cho họ sanh tâm ham vui, sau được nghe pháp thì pháp hỷ sung mãn. Như ngài Xá Lợi Phất đem cơm dư bố thí cho con chó đói, khiến cho nó dứt khổ đói khát, tâm được an vui, rồi sau vì nó nói pháp yếu, sau khi chó ấy mạng chung, sanh vào nhà Bà-la-môn, tu hành đến thành quả A La Hán.

Nếu trước có hứa thí cho và sau được nghe pháp rồi mới xả thân mạng, đây chính là Tài và Pháp, cả hai đều thí, mới xứng là bổn tâm của bậc Đại sĩ, đâu có thể vì tài lợi mà tiếc lẫn pháp, thật là trái với hạnh nguyện của Bồ Tát.

Đoạn văn này chia làm ba phần:

1. Vì lợi dưỡng, nói một cách không thuận chánh lý, còn có tâm lẫn tiếc.

2. Vì lợi dưỡng, nói một cách điên đảo lộn xộn, không có thứ lớp trước sau, cãi sửa văn nghĩa kinh luật, trước sau không thứ lớp, không rõ ràng.

3. Vì lợi dưỡng hủy báng giáo pháp Đại thừa, trái bổn nguyên tâm địa của Phật, trái nghĩa lý kinh điển, tông thú Đại thừa, đây là hủy báng Tam bảo.

Như mười giới trọng trước, do hủy báng Tam bảo nên kết tội trọng, nay chỉ giấu giếm, đáp bậy giảng bừa, nên phạm tội khinh, cảm lấy báo quả như Pháp sư ngồi tòa cao trong Kinh Tăng Hộ, cần nên xét kỹ.

Giới thứ 17 CẬY THẾ LỰC KHUYÊN GÓP

Nếu Phật tử tự mình vì việc ăn uống, tiền của, lợi dưỡng, danh dự mà thân cận Quốc vương, Vương tử cùng các quan, nương quyền, cậy thế bức người để lấy tiền của hoặc dạy người khác cầu lợi như vậy. Tất cả sự cầu lợi ấy gọi là ác cầu, đa cầu, đều không có lòng từ bi, lòng hiếu thuận, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tự tâm là chẳng phải vì mọi người mà làm, mục đích vì ăn uống cá nhân, v.v…, việc làm đó là trái đạo, dù việc làm quên mình vì chúng cũng không ỷ thế cậy thần. Tuy quên lợi cá nhân nhưng cũng không nên cầu tiếng khen. Từ tâm của bậc Đại sĩ là thương xót những người bần cùng cô quả, thường suy nghĩ ban ân cho người khác, coi tất cả chúng sanh như Cha mẹ mình, thường nên khiêm cung từ tốn, dùng đạo từ hiếu để tu, đâu phải nương cậy thế lực Vua quan hào quý, phi lý để tìm cầu lợi dưỡng. Thậm chí còn biểu hiện thế lực để áp bức đánh đập, áp bức để lấy tài vật. Lại lôi kéo thêm nhiều thống khổ, khiến cho người khác hành động không thuận với chánh đạo. Tất cả sự cầu lợi như thế là bất thiện nên gọi là ác cầu, tìm cầu không biết đủ. Người tu hành phải thiểu dục tri túc, nếu không như thế là đa cầu. Hoặc dạy người khác ỷ thế, cậy quyền xin cho mình, rồi tự mình đòi lấy, hoặc giả mượn sắc lịnh, hoặc truyền thế lực hào tộc, tất cả đều phạm.

Giới thứ 18 KHÔNG HIỂU MÀ LÀM THẦY TRUYỀN GIỚI

Phật tử phải học mười hai phần kinh, thường tụng giới mỗi ngày sáu thời, nghiêm trì Bồ Tát giới, hiểu rõ lý tính, Phật tính của giới. Nếu Phật tử không hiểu một kệ, một câu cùng nhân duyên của giới luật mà dối rằng thông hiểu, đó chính là dối gạt mình và cũng dối gạt người khác. Không hiểu một pháp, không biết một luật mà lại đi làm thầy truyền giới cho người, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Làm bậc thầy mô phạm trước hết phải học Tam Tạng giáo điển, thông suốt mười hai phần kinh, làu thông giới luật Bồ Tát, y vào giới luật hành trì, thâm hiểu nghĩa lý của luật, khế hợp bổn nguyên trung đạo và tánh tông Phật tánh, khiến cho người khác tránh khỏi lầm lẫn, rớt vào Thiên không Niết bàn của hàng Thanh văn và tánh vọng chấp Đoạn, Thường của ngoại đạo. Kinh Niết Bàn chép: “Phật tánh chính là Đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không còn gọi là Trung đạo, là Phật tánh, là Đại Niết bàn.”

Mỗi ngày sáu thời (ngày ba thời, đêm ba thời) là ngày đêm chuyên cần tinh tấn đủ sáu thời, tinh chuyên tụng tập cho thuần thục thông làu, hiểu rõ cùng tận nghĩa thú, tham cứu tìm tòi nghĩa vị mười hai phần kinh. Dù đã thông làu, nhưng việc tụng, đọc hàng ngày cũng không bỏ qua, hàng Thiên Long bát bộ được nghe càng thêm lợi ích. Như Ngài Khuy Cơ mỗi ngày tụng một biến Giới Kinh và Thượng Sanh Kinh.

Mười hai phần kinh ấy là:

1. Trường hàng: (Trung Hoa dịch là Khế kinh) phàm tất cả kinh Như Lai nói ra là văn trường hàng, văn xuôi ấy vậy.

2. Kỳ dạ: (Trung Hoa dịch là Trùng tụng) là tóm yếu văn trường hàng thành kệ tụng.

3. Thọ ký: Phật vì hàng đệ tử Tam thừa mà thọ ký cho họ.

4. Già đà: (Trung Hoa dịch là Cô Khởi) là chẳng phải đọc lại văn trường hàng mà độc lập nói ra gọi là kệ tụng.

5. Ưu đà già: (Trung Hoa dịch là Vô Vấn tự thuyết) nghĩa là không đợi người thỉnh hỏi, mà Phật tự nói (như Kinh Di Đà chẳng hạn)

6. Ni đà gia: (Trung Hoa dịch là Nhơn duyên)

7. Bổn sanh: Nói về nhơn hạnh của Bồ Tát, các việc xưa đã làm.

8. Bổn sự: Nói những việc các hàng Thanh văn trước đã làm/

9. Phương đẳng: Cũng gọi là Phương quảng, các căn cơ được nghe đều được ích lợi gọi là Phương; tứ giáo đều nói gọi là Đẳng. Lại nửa, chánh lý là Phương, bao la gọi là Quảng, là nghĩa lý của kinh Đại thừa Phương Đẳng rộng lớn như hư không.

10. Vị tằng hữu: Nói công đức của Tam bảo thật là ít có.

11. Thí dụ: Vì hàng Độn căn, phải mượn thí dụ để mô tả cho họ hiểu

12. Luận nghị: Giải rộng nghĩa lý trong kinh.

Mười hai phần kinh này, hàng Tam thừa đồng học, Đại Tiểu thừa đồng hành trì, nên luật chế Tỳ kheo phải thông hiểu ba Tạng và mười hai phần Kinh, đủ 10 hạ mới cho làm thầy. Giả sử, không thể thông kinh luận, thì Luật Tạng cần phải thông rành. Khai, Giá, Trì, Phạm, Khinh, Trọng các lỗi, huống chi Bồ Tát Tạng, văn thì uẩn súc, nghĩa lý sâu xa, Quyền và Thật hai Tông, nếu biết qua loa thì làm sao rõ được chỗ uyên thâm cùng tận của Luật? Nếu không thông đạt tông thú, tánh tướng Quyền giáo và Thật giáo mà làm thầy trao giới cho người thì thật nguy hiểm thay!

Giải, nghĩa là hiểu ngộ, chẳng phải đọc tụng câu văn, nên không nói là tụng mà nói là hiểu là biết vậy.

Một câu, một kệ, đối với số nhiều trong mười hai phần kinh không có thể giải ngộ, cho đến tối thiểu một câu một kệ cũng không thể lãnh hội và thông hiểu, thì đem pháp nào làm thầy người? Song Như Lai đã nói một lời một chữ mà nhiếp hết vô lượng nghĩa, một câu một kệ mà tóm thâu tất cả Pháp, như một chữ A, biển mực chép còn không hết. Nên Kinh Hoa Nghiêm chép: “Biển Pháp môn vô lượng vô biên, chỉ một lời mà diễn nói không còn sót.”

Sớ ghi: “Nghĩa ở trong vô tự, dù giáo dù nghĩa, hoặc tánh hoặc tâm, đều nhiếp hết.” Nên nói bởi do ý nghĩa vi diệu trong một câu văn nhiếp hết các nghĩa không còn sót, vì một là một của tất cả, một là xứng tánh mà nói. Lại nữa, trong bài kệ “Chư hành vô thường”, nếu hiểu một câu thì thông đạt tất cả pháp, nhưng 2 chữ “Tịch diệt” kia, dù vận dụng hết sức lực cũng không thể nào nói được, huống gì biết được thọ dụng của chữ “Lạc” ư?

Như xưa, Hòa thượng Giải Thoát được Chư Phật cảm ứng hiện trong hư không, nói kệ rằng: “Pháp của Chư Phật thậm thâm tịch diệt, nhiều kiếp tu hành nay mới được, nếu có thể mở tâm trí hiểu pháp nhãn này, tất cả Chư Phật đều hoan hỷ”. Hòa thượng liền hỏi: “Pháp Tịch diệt, có thể diễn nói, dạy người được ư?”, Chư Phật liền ẩn, dùng âm thanh bảo rằng:

“Phương tiện trí làm đèn,

Soi thấy tâm cảnh giới,

Muốn xét pháp chơn thật

Tất cả đều chẳng thấy.”

Nếu có thể liễu ngộ kệ này, liền thời rõ suốt Tam tạng giáo điển và mười hai bộ kinh. Bởi vậy, ngài Xá Lợi Phất nghe bài kệ Pháp thân, liền chứng được sơ quả. Ngài Ngu Lộ, ba tháng thọ trì nửa bài tụng, chứng đắc A La Hán, vì các Ni chúng lược nói pháp yếu, đều chứng Thánh quả.

Tổ Huệ Năng nghe câu kệ “Ưng vô sở trụ”, được đốn ngộ tâm tông, hiểu hết các kinh Pháp Hoa, Niết Bàn, thông suốt Bát thức, các luận. Bởi vậy, một câu một kệ, nghĩa kia khó lường, người sơ cơ học không hiểu, sanh tâm khinh thị coi thường, nên kinh Tăng Nhứt A Hàm chép: “Trong một kệ lưu xuất ra 37 phẩm trợ đạo và các pháp môn”. Ngài Ca Diếp hỏi: “Sao gọi là một kệ?” A Nan đáp: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.”

Kinh Anh Lạc chép: “Đem nghĩa một câu diễn nói ra vô lượng Chư Phật Pháp Tạng, hết kiếp này sang kiếp khác, nhẫn đến trăm kiếp, không thể tham cứu cùng tận nghĩa một câu. Nên biết pháp bí yếu của Như Lai không thể nghĩ bàn, hàng tiểu căn tiểu trí không thể lường biết được.

Luật Sao ghi: “Phật dạy, khéo hiểu một chữ gọi là Luật sư, một chữ đó là chữ Luật vậy.” Phải biết một chữ “Luật” chính là tông chỉ của Tỳ Ni, nếu ngộ được tông chỉ thì không pháp nào mà không thông đạt, nên nói Luật là khởi nguyên của vạn pháp.

Nhơn Duyên giới Luật, gồm những việc như: Đức Xá Na truyền giới cho ngàn Phật, ngàn Phật lại truyền cho ngàn trăm ức Thích Ca, trước hết ở Bồ đề Đạo tràng dưới cội Bồ đề và Diệu quang đường nói pháp gì, lần lần đến cung trời Thiên vương nói pháp gì, cho đến từ miệng Phật phóng hào quang, vì các Quốc vương, Vương tử tuyền trao giới pháp, v.v… .

Mê mất bốn tâm gọi là tự mình dối gạt mình, làm mê lầm người gọi là dối gạt người khác. Đã là người truyền trao giới pháp cho người khác, mà giới luật chẳng hiểu, tất cả kinh điển giáo pháp cũng không biết, thật là tự mê hoặc mình và người, nên mắc tội. Tội tuy thuộc về khinh cấu nhưng tự dối gạt người khác, lỗi kia thật nặng.

Giới này đối với ba chúng nhỏ và hai chúng Bồ Tát nam nữ tại gia, Phật không chế, do họ không phải là người mẫu mực, chưa thuộc hàng Tăng bảo. Còn Ni giới thì chế sơ lược, do trong giới Thanh văn chỉ cho Tỳ kheo ni làm Tam sư Thất chứng, nhưng vì họ trí cạn, nghe ít, nên không cho phép Ni giới làm thầy truyền giới Bồ Tát.

Kinh Bảo Vân chép: “Đầy đủ 10 pháp thì gọi là Luật sư”. Mười pháp ấy là:

1. Khéo hiểu nhân duyên sanh khởi của Tỳ Ni.

2. Khéo hiểu chỗ thậm thâm của Tỳ Ni.

3. Khéo hiểu việc vi tế của Tỳ Ni.

4. Khéo hiểu việc nào của Tỳ Ni được, việc nào không được.

5. Khéo hiểu tánh trọng giới của Tỳ Ni.

6. Khéo hiểu Tỳ Ni chế giới trọng

7. Khéo hiểu Tỳ Ni chế khởi nhơn duyên.

8. Khéo hiểu Tỳ Ni của Tiểu thừa Thanh văn.

9. Khéo hiểu Tỳ Ni của Bích Chi Phật

10. Khéo hiểu Tỳ Ni của Bồ Tát.

Khi hiểu biết như vậy, làm thầy truyền giới cho người mới không hổ thẹn.

Giới thứ 19 NÓI LƯỠI HAI CHIỀU

Nếu Phật tử vì ác tâm, thấy thầy Tỳ kheo trì giới, tay bưng lư hương, tu hạnh Bồ Tát, tự đi đâm thọc hai đầu cho sinh sự bất hòa, khinh khi người hiền, tạo nhiều tội ác, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ghen ghét người hiền lương, chia cắt hai bên, đem lời người này nói với người kia, đem lời người kia nói với người này để phá hoại sự hòa hợp của họ, khiến cho họ tranh cãi với nhau, nên nói là lưỡng thiệt (hai lưỡi) thật chẳng phải thiện tâm, từ tâm của bậc Đại sĩ.

Phỉ báng, khinh khi người hiền, ghen ghét người lương thiện, khiến họ tranh cãi nhau, khiến họ không được an tâm tu tập. Hành động như vậy là ác tâm, chẳng phải hạnh Bồ Tát.

Tay cầm lư hương, chính là nêu sơ lược một pháp muôn hạnh của bậc Đại sĩ, cũng là tiêu biểu Lục độ vạn hạnh của Bồ Tát, không quên kỉnh Phật và hướng đến Ngũ phần pháp thân.

Đấu cấu hai bên, đấu là cãi vã nhau, cấu là gặp nhau. Nghĩa là người có tâm xấu, đến người này nói lỗi người kia, gặp người kia nói xấu người này, khiến cho họ cãi vã nhau, trái với pháp Lục hòa kỉnh, hoặc dựng lên chuyện hư dối, thị phi, phải quấy, khiến họ gây hận với nhau.

Hai đầu là hai bên kia đây, dù là lời nói thực, không truyền lời nói kia đây, ở hai bên nói một lời khiến cho họ ly tán, đều phạm tội.

Báng là hủy báng, có khi là dối gạt vậy, nghĩa là các thứ hủy báng dối gạt, lăng mạ, dèm pha, tật đố ghen tỵ người hiền lương, nên nói không có tội ác nào mà không tạo, nếu hướng đến người khác nói lỗi quấy của họ, chính là thuộc về giới nói lỗi Tứ chúng; nếu tự khen mình, chê bai hủy báng người, thuộc về giới Hủy tha, cả hai giới này đều phạm tội trọng.

Giới này chỉ trực tiếp khiến cho hai bên cãi vã, ly gián, nên phạm tội khinh cấu.

Tỳ kheo trì giới chính là xuất gia Bồ Tát giới, đứng đầu trong bảy chúng. Nên biết, nói Tỳ kheo là bao gồm cả bảy chúng, nhẫn đến ly gián, dèm pha người như vua tôi, quân thần, ly gián tình cha con, anh em, bạn bè, v.v… tất cả đều phạm.

Nếu thấy người nhóm họp, sắp làm việc tội lỗi hoặc ác tri thức, ác bè đảng, làm những điều phi pháp, việc làm không nghĩa lợi, mà phá họ ly tán, sinh ra nhiều phước lợi cho người, thì không phạm.

Giới thứ 20 KHÔNG PHÓNG SANH CỨU VẬT

Là Phật tử, nên vì tâm từ bi mà làm việc phóng sanh. Tất cả nam tử là Cha ta, tất cả nữ nhơn là Mẹ ta, từ nhiều đời ta thường thác sanh nơi đó, vì lẽ ấy nên chúng sanh trong lục đạo đều là Cha mẹ ta, nếu giết chúng để ăn thịt, thì chính là giết Cha mẹ ta và cũng là giết thân chủ của ta. Tất cả chất tứ đại đều là bản thân, bản thể của ta, cho nên thường phải làm việc phóng sanh và khuyên bảo người làm. Nếu lúc thấy người đời sát sanh, nên cứu hộ cho chúng được thoát khỏi nạn khổ, thường đem giới Bồ Tát để giảng dạy, để cứu độ chúng sanh.

Nếu ngày Cha mẹ hay anh em chết, nên thỉnh Pháp sư giảng kinh luật Bồ Tát giới, người chết nhờ phước đức ấy hoặc được vãng sanh Tịnh độ ra mắt Chư Phật, hoặc thác sanh trong cõi trời cõi người. Nếu không làm các điều trên đây, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Bồ Tát nếu thấy chúng sanh bị nguy nạn mà không phương tiện cứu giúp, thấy tử vong mà không xiển dương đại pháp thì thật là trái với tâm hiếu thuận và đạo từ bi của Phât, Tổ.

Bồ Tát luôn luôn thể hiện tâm từ vô duyên, độ chúng hữu tình, nên làm việc phóng sanh. Người đời chỉ biết cha mẹ hiện tại, vì mê muội nhiều kiếp nên xa lìa thân thuộc, vọng nhận hiện tiền tứ đại sắc thân là thân mình, mê mất trời đất đồng căn nguyên, chỗ chí lý muôn vật đồng thể, nên khởi tâm nhơn ngã, chấp chúng sanh, đua nhau dối gạt, lấn hiếp nhau rồi ăn nuốt lẫn nhau, chỉ biết tự an thân, không biết cái khổ của người khác. Vì thế họ không có tâm cứu nguy bạt khổ cho chúng sanh để thoát hoạn nạn kia.

Bậc Đại sĩ ngộ được từ vô thủy đến nay, gá thác thọ thân, vào ra khắp các cõi trong Ngũ thú (trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), nên tất cả nam tử, nữ nhơn trong lục đạo đều là Cha mẹ ta, lẽ nào nỡ sát hại để ăn nuốt ư?

Bởi do mê mất pháp thân tự tánh thanh tịnh của mình, chạy theo bóng dáng của lục trần làm tướng của tự tâm. Ngoài thân này ra đâu có vật gì khác để làm cho thân tâm, vì thế ta cùng chúng sanh đồng nhận tứ đại làm thân hình, nên nói bổn thân cũ của ta là đã biết bổn thể thân trước, đâu nỡ tự hãm hại, không thương tâm ư? Phải biết chúng sanh an lạc chính là mình an lạc, nên phải thường làm việc phóng sanh. Tất cả chúng sanh thân tâm chưa không (chưa dứt được bệnh chấp ngã), đâu có thể thoát được khổ sanh tử, nên mãi ở trong tam giới lục đạo hết đời này sang đời khác, thọ sanh không dứt.

Đây là pháp thường trụ, thường hằng không thay đổi, tự mình tỏ ngộ liễu đạt rồi, cũng nên dạy cho người biết cội gốc luân hồi sanh tử không dứt, do mê mất bản tâm, để họ chuyển hóa nội tâm, lần lần tu tập trở về tâm địa bản nguyên sẵn có. Tâm địa ấy là thể tánh bất sanh bất diệt, nên phương tiện giáo hóa, cho họ biết con đường trở về theo hướng tiệm tu. Trước khuyến cho họ phóng sanh tu phước, nếu không có tài vật, nên khuyến hóa người khác mua để cứu thoát sanh vật ấy.

Các khổ nạn đều là thống khổ trói buộc, đánh đập, hành hạ, sát hại, v.v… đến lâm nguy ác nạn. Khuyến hóa người giảng nói Bồ Tát giới để giúp cứu khổ nạn kia thì thân được lợi lạc. Nay giảng thuyết về giới là đem pháp giúp cho tâm an ổn, tức là giải thoát các phiền não, tham, sân, si, v.v… để trở về bổn nguyên tâm địa, thật là hạnh lợi tha Đại sĩ cứu độ chúng sanh, không trái bỏ thân thuộc mà thuận theo đạo lý từ bi đồng thể, không trái hạnh nguyện lợi tha, rồi ban pháp vô úy cho chúng hữu tình.

Nếu không tin chúng sanh trong sáu cõi đều là cha mẹ, như Kinh Pháp Cú chép: “Trong thành Xá Vệ có vị trưởng giả, tiền của vô số kể nhưng tâm bỏn xẻn tham lam, không biết bố thí. Hai vợ chồng ngồi với đứa nhỏ ở giữa, cùng ăn thịt gà và thường thường lấy thịt đút vào miệng đứa con. Phật biết vị trưởng giả này có thể hóa độ được, nên hóa thành một vị Sa môn, đứng trước cửa bảo rằng: “Bố thí ít nhiều gì đều được đại phước”, vị trưởng giả nghe nói thế liền mắng rằng: “Ông là Đạo nhơn mà không biết hổ thẹn, đến nhà người ta đang ngồi ăn, sao đường đột vậy?” Vị Sa môn nói: “Ông tự ngu si không biết hổ thẹn” Trưởng giả nói: “Tôi và vợ tôi cùng vui, sao gọi là hổ thẹn?” Sa môn đáp: “Ngươi giết cha, giết mẹ, giết vợ, cung dưỡng oan gia mà không biết hổ thẹn. Thịt gà trên bàn là cha ngươi đời trước, do vì tham lam bỏn xẻn, thường sanh trong loài súc sanh bị ngươi ăn thịt. Đứa trẻ này, về sau làm La-sát, ngươi là khách mua bán, chèo thuyền vào biển, đọa vào cõi nước quỷ La-sát, bị La-sát ăn nuốt. Như thế trải qua 500 đời, thọ mạng hết lại sanh thân khác làm con của ngươi, do các tội kia chưa hết nên lại tiếp tục hại nhau. Người vợ này của ngươi là mẹ ngươi đời trước, do tình ân ái thâm trọng, nay trở lại làm vợ ngươi. Sanh tử luân hồi, xoay quanh Ngũ thú (trời, người, điạ ngục, ngã quỷ, súc sanh), ai có thể biết.” Nói rồi Phật liền hiện thần thông khiến cho trưởng giả biết túc mạng, trưởng giả thấy liền sám hối tạ tội và xin Phật thọ năm giới, nhờ Phật nói pháp, ông đã chứng quả Tu-đà-hoàn.

Trước tự giảng nói, là giáo hóa cứu độ chúng sanh, cho đến Cha mẹ nhiều đời. Nay thỉnh người khác giảng nói, là cứu độ thân nhân của mình, hiện đời quyến thuộc và cha mẹ.

Xem giới Luật Đại thừa là giới của Đức Xá Na đã truyền. Bồn nguyên của Chư Phật là cửa ngõ vào cảnh giới Niết bàn, là con đường tắt đến cõi trời người, người hiện tại nghe qua một lần nơi nhĩ căn, vình viễn làm Phật chủng, vong nhơn ở chốn tối tăm được phước, vãng sanh về cõi Tịnh độ của Chư Phật, hoặc sanh ở cõi người cõi trời, hưởng phước an vui vô tận. Phải biết công đức diễn giảng giới pháp. …không có phước nào sánh bằng.

Xưa đời nhà Đường nước Tân La, ngài Tăng Thống Luật sư, giảng giới Bồ Tát bảy ngày đêm ở chùa Hoàng Long, trời mưa nước Cam Lồ, mây lành bao phủ che kín giảng đường, tứ chúng hết sức kinh ngạc, tán thán vì thấy việc chưa từng có. Từ đó mà xét, kẻ còn, người mất đều lợi ích, đâu thể nghĩ bàn.

Đây là tổng kết văn trên, nghĩa là đối với người sống, không cứu giúp nạn nguy khốn, đối với người chết không tiếp độ thần thức họ ra khỏi chốn u đồ, đều phạm cấu tội. Giới thứ 39 cũng khuyên giảng nói kinh giáo để cứu độ kẻ còn cũng như người mất, đồng như giới này.

Mười giới như thế phải nên học, hết lòng kính trọng phụng trì, như trong phẩm Diệt Tội, mỗi mỗi đều nói rõ.

Giới thứ 21 ĐEM SÂN HẬN BÁO THÙ SÂN HẬN, ĐEM ĐÁNH TRẢ ĐÁNH

Là Phật tử, không được đem giận trả giận, đem đánh trả đánh, dù cha mẹ, anh em trong lục thân hoặc Quốc chủ bị người khác giết cũng chẳng được báo thù, vì giết sanh mạng để báo thù sanh mạng đó là việc không thuận với hiếu đạo. Không được chứa nuôi tôi tớ rồi đánh đập mắng nhiếc chúng, mỗi ngày ba nghiệp (thân, khẩu, ý) tạo vô lượng tội lỗi, nhất là khẩu nghiệp, huống gì lại cố làm việc thất nghịch. Nếu xuất gia Bồ Tát mà không có lòng từ bi, cố báo thù, nhẫn đến cố báo thù cho hàng lục thân, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Bị người sân hận đánh đập nhưng không báo thù, thì tránh được cái khổ oán tắng; giận mà không báo thù, tránh được cái khổ oan khiên nhiều kiếp, huống gì Đại sĩ dùng từ tâm nhẫn nhục, chịu đựng, quán tâm bình đẳng, thấy tất cả chúng sanh là người thân của mình không khác. Nếu lấy oán báo oán, thì chẳng phải từ tâm bình đẳng của Đại sĩ; đem sân trả sân bằng cách đánh mắng , thì trái với hạnh vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát.

Giết mạng sống của chúng sanh để báo thù tâm sân hận của mình, đời đời như thế, nào có lợi ích gì. Sân hận và oán hận báo oán với nhau, oán ấy đâu có dứt. Phải biết rằng: “Chẳng những chúng sanh trong lục đạo là Cha mẹ ta, mà còn là Phật tương lai.” Nếu giết hại hoặc báo oán thì rất trái với đạo hiếu thuận, thật chẳng phải là Phật tử. Nếu Bồ Tát tại gia thì có khuôn phép Vua, Cha, tự có thế lễ quyền pháp, không can dự gì đến bổn nguyên Tâm địa giới luật. Nhung khuôn phép lễ giáo ở thế gian cũng không cho phép được báo thù, giết sanh mạng báo thù sanh mạng là vô lý.

Như Vương tử Trường Sanh nhớ lời cha dặn dò, không báo thù giết Phạm Thí Vương, trái lại, Phạm Thí Vương đã cùng với vợ và con gái trở về nước gặp Vương tử Trường Sanh, từ đó họ hiểu ra đồng một cội nguồn, đồng thể thật tướng vô tướng, rồi cả hai cùng sống trong cuộc sống an lạc và hạnh phúc.

Như vậy đủ biết lễ nghi quyền pháp ở thế gian cũng không chỗ nào cho phép báo thù. Người xuất gia đã ngộ được chỗ chơn thật, năng và sở tánh không, tâm địa không hai, đồng một nguồn gốc, thời đâu còn tâm chấp Quyền, Giáo. Nếu trái ngược với nguồn gốc tâm nguyên thì trái với tâm địa, tức là thuận dòng sanh tử trong nhiều kiếp.

Bồ Tát xuất gia còn không nuôi chứa đồ chúng vì ngăn ngại đạo nghiệp tu hành, nên kinh Viên Giác chép: “Phật dạy các Bồ Tát phải ba tháng siêng năng sách tấn tu hành, không phiền đồ chúng.” Còn hàng A La Hán dạy đồ chúng, tất nhiên phải gánh chút phiền não chi phối. Nam Nhạc, Thiên thai có than trách trong Thiết Luân Ngũ Phẩm, huống gì nuôi chứa nô tỳ (hầu gái), khiến cho tăng trưởng ác nghiệp, tổn thương cội gốc từ tâm, trái với đạo giải thoát, gây nên sự chê trách của người khác, làm cho bại hoại chánh pháp, đồng như thế gian thì đâu còn là Thích chủng nữa.

Đánh đập thuộc về thân nghiệp, mắng chửi hủy nhục thuộc về khẩu nghiệp. Khi hai nghiệp thân và khẩu chưa phát, nếu sân tâm khởi trước thì ý nghiệp tạo thành, nên gọi là tội.

Hỏi: Đã nói ba nghiệp, vì sao chỉ nêu khẩu nghiệp?

Đáp: Do tâm khởi sân nên hành động đánh đập, đã đánh đập thì ắt có chữi rủa, hủy nhục. Khi mắng nhiếc và hủy nhục thì lời nói ác từ miệng thốt ra, mắc tội không thể kể xiết, nên nói vô lượng tội là vậy. Trong Giới Kinh, đối với hàng Thanh văn, trước hết Đức Như Lai cũng răn nhắc khẩu nghiệp, vì trong ba nghiệp thân, khẩu, ý thì khẩu nghiệp quan trọng nhất.

Các lỗi như đây đều do nuôi chứa tôi tớ và nô tỳ, đánh mắng hủy nhục họ, Phật còn không cho, huống chi tạo tội thất nghịch ư? Phải biết đây là lời dụ, nêu giới trọng để răn nhắc tội khinh.

Phật dạy: “Bồ Tát tại gia được phép nuôi chứa tôi tớ, nô tỳ, nhưng không được vô cớ đánh đập mắng nhiếc, hủy nhục họ, làm tăng trưởng ác nghiệp cho mình, kết thêm oán thù cho người khác, đối với tâm địa giới thật có phần thiếu sót sai trái vậy. Nếu đem tâm từ bi để chiết phục, đúng lý mà dạy bảo, thì đây là phương pháp quyền xảo để thích nghi hóa giáo của bậc Đại sĩ, là phương tiện nhiếp thọ.

Tóm kết văn trên, rõ ràng chẳng phải Đại sĩ tại gia mà là Bồ Tát xuất gia, không phân biệt lớn nhỏ, thân sơ, tất cả dều không được báo thù.

Bồ Tát ban ân huệ cho người, nếu thấy người vì oán báo thù, phải dùng từ tâm khuyến hóa họ, để cho họ phát khởi tâm lành với kẻ thù. Nếu bị hủy nhục, phải tự nghĩ rằng, ta đã gieo túc nghiệp đời trước, nên nay phải cam nhận quả báo này, tâm vui vẻ gánh chịu, đó là phương thuốc diệt oan nghiệt đời trước, huống gì ta là người hành đạo Bồ Tát, phải chịu thay tất cả khổ nhục cho chúng sanh. Nếu khởi niệm báo oán, chẳng những mất hạnh nguyện giác ngộ giải thoát mà còn phải sa vào tam đồ ác đạo, chịu bao thống khổ không có ngày ra khỏi.

Lại nữa, phải hiểu thân tâm ngủ uẩn của ta đây, không có ngã và ngã sở, vậy thì ai là người chịu hủy nhục?. Khi Bồ Tát khởi tâm quán tưởng như thế, tự nhiên đạo lực Bồ Tát càng thêm vững chắc như núi Tu Di, tám thứ gió không làm lay động, cũng như hư không, không bị ngũ sắc làm ô nhiễm.

Đại Luận ghi: “Bồ Tát giáo hóa chúng sanh , dù cho chúng sanh sanh tâm không chịu nhận sự giáo hóa này, ngược lại còn sân hận với Bồ Tát thì Bồ Tát phải nghĩ mình như bậc Đại Y trị bệnh quỷ cho chúng sanh. Chúng sanh được trị bệnh không biết ơn, ngược lại còn mắng nhiếc thầy thuốc, nhưng thầy thuốc không trách người bệnh. Nếu mình cũng sân hận như họ, thì phải biết người này đã bị quỷ sai sử. Bồ Tát cũng vậy, thường biết các chúng sanh bị quỷ sai khiến.

Kinh Hải Ý chép: “Phật dạy Hải Ý rằng: Giả sử có người dùng ác tâm sân hận đến mắng nhiếc hủy nhục Bồ Tát, Bồ Tát phải nghĩ rằng: Người này lười biếng xa lìa tịnh pháp. Ta nay phát khởi lòng tinh tấn cho họ, khiến họ siêng năng tu tập, trồng các gốc lành, đừng sanh tâm nhàm chán, nguyện cho họ ngồi Đạo tràng trước, rồi sau mình mới thành bậc Chánh giác. Cho đến ta nương vào pháp này, thì cái gì là sân? Cái gì không phải là sân? Quán sát cả hai tất cả đều không nắm bắt được. Lại nữa, sân hay không sân, dù mình hay người, đều không có tự thể, đều bất khả đắc, nếu lìa được cái thấy này, mới gọi là nhẫn. Bồ Tát được như thế mới là quán được oán thân bình đẳng, oán thân đã bình đẳng thì đâu còn tâm thù hằn nữa.”

Giới thứ 22 TÂM KIÊU MẠN KHÔNG THỈNH PHÁP

Nếu Phật tử mới xuất gia, chưa thông hiểu kinh luật mà tự ỷ mình là trí thức, thông minh, hoặc ỷ mình là cao quý, lớn tuổi, hoặc ỷ mình là dòng sang, hoặc ỷ mình học rộng, phước nhiều, giàu có, v.v… rồi sanh lòng kiêu mạn không chịu học kinh luật với các vị Pháp sư học đạo trước mình. Vị Pháp sư ấy hoặc là dòng hèn, con nhà hạ tiện, tuổi trẻ, nghèo nàn, hèn hạ hay có tật nguyền, nhưng lại thật có đức hạnh, do thông hiểu nhiều kinh luật, hàng tân học Bồ Tát không được nhìn vào dòng giống vị Pháp sư mà không chịu đến học hỏi kinh luật Đại thừa với vị ấy, Phật tử nếu như vậy, thời phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ôm lòng kiêu mạn, buông lung phóng túng, nên không kính người; ỷ mình thông minh có trí tuệ, nên không thỉnh pháp là tự đánh mất lợi mình, lại thiếu mất sự lợi ích của việc giáo hóa người khác.

Người mới xuất gia không biết pháp kính người; chưa thật khế ngộ. Do ỷ lại bảy việc sau nên sanh tâm kiêu mạn:

1. Ỷ thế trí thông minh

2. Ỷ địa vị cao quý

3. Ỷ tuổi tác cao

4. Ỷ thấy biết rộng

5. Ỷ dòng họ sang

6. Ỷ phước đức lớn

7. Ỷ giàu sang phú quý.

Nên tâm ngã mạn dựng cao như núi, trở ngại việc tấn tu, vì thế có những kẻ học rộng hiểu nhiều nhưng chẳng có chút thay đổi, đến nỗi đánh mất sự lợi ích của việc tu học.

Kinh Hoa Nghiêm chép: “Thiện nam tử ! Bồ Tát nhờ Thiện tri thức chỉ dạy, không bị đọa vào ác thú, nhờ Thiện tri thức dẫn dắt mà ra khỏi thế gian, nhờ nương vào đạo Giác ngộ của Thiện tri thức mà diệt sạch nghiệp chướng, ra khỏi thành trì sanh tử, đến chỗ thanh tịnh an vui. Nhẫn đến tự thân khởi tưởng bệnh khổ, đối với Thiện tri thức, khởi tưởng là vua thuốc của mình, tùy theo sự dạy bảo, khởi tưởng đó là vị thuốc hay, nên tu chánh hạnh, diệt trừ những bệnh tưởng ấy.

Kinh Đại Thừa Tứ Pháp chép: “Các vị Tỳ kheo hết tuổi thọ, nhẫn đến gặp nhơn duyên tán thân mất mạng, quyết định không được xa lìa Thiện tri thức.” Thiện tri thức, là người rành thông Ba Tạng, liễu đạt tâm tông, biết rõ chơn vọng, biết bệnh biết thuốc, điều trị vô số bệnh cả thân và tâm của chúng sanh.

Tất cả kinh luật của Đại thừa Bồ Tát đều là lý trung đạo tối thượng thậm thâm, dứt bặt có và không, chẳng phải một, chẳng phải khác, chân thật không dối, không pháp nào vượt hơn pháp này, lời hay ý đẹp, đó là Đệ nhất Nghĩa đế. Hàng Tân học không biết, liền tự cao ngạo mạn, dựa vào bảy hoàn cảnh trên, sanh tâm kiêu ngạo. Đem dòng họ hèn so sánh với cao quý, đem tuổi nhỏ so sánh với trưởng lão kỳ túc, đem gia thế nghèo nàn so sánh với cao sang, đem hạ tiện so sánh với quý tộc, đem các căn khiếm khuyết so sánh với bậc Đại thông minh trí tuệ, đem cái hiểu biết toàn vẹn so sánh với cái chưa hiểu, trong bảy hoàn cảnh ấy, so sánh bất kỳ một việc trong đó rồi sanh tâm kiêu mạn, không đến tham vấn học hỏi với người trước, đánh mất lợi ích lớn, nên phạm.

Kinh Đại Bát Niết Bàn chép: “Có các Bồ Tát khinh các Bồ Tát khác, dù chỉ một niệm nhưng phải trải qua một kiếp, xa nơi Phật đạo, lại trải qua một kiếp nửa mới tu lại Phật đạo”. Bởi vậy, không nên tự cao, mà cũng không nên hạ nhục người khác.

Kinh Trì Địa chép: “Bồ Tát theo Thiện tri thức nghe thọ kinh pháp, đối với người thuyết pháp, có năm chỗ không nên để tâm nhớ nghĩ mà phải tịnh tâm lắng nghe:

1. Không nghĩ nhớ người phá giới, nghĩa là không nghĩ rằng: “Đây là người phạm Luật nghi, không nên theo họ thọ kinh pháp.”

2. Không nghĩ họ là dòng họ hèn, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người dòng họ hèn lãnh thọ kinh giáo.”

3. Không nghĩ nhớ người kia xấu xa thô bỉ, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người xấu xa bỉ ổi để nghe thọ kinh pháp.”

4. Không nghĩ nhớ người kia không nói đúng kinh điển, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người không chánh ngữ (nghĩa là lời nói không chánh, không thông suốt nghĩa lý) để lãnh thọ kinh pháp, chỉ nên y theo nơi nghĩa, không y vào pháp vị.”

5. Không nghĩ nhớ lời hay, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người nói năng không hay để nghe kinh pháp.”

Năm trường hợp như thế, không nhớ nghĩ, Bồ Tát này siêng năng nhiếp trì chánh pháp. Đối với người thuyết pháp, không khởi ra tưởng hiềm khích. Nếu là Bồ Tát hạ căn, khởi tâm thấy lỗi người rồi sanh tâm thối lui, không thích nghe pháp, thì Bồ Tát này không có khả năng tự độ, trí tuệ bị mai một.”

Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương chép: “Ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, con nay phải dựa vào đâu để được sáu chữ Đại Minh Đà La Ni? Phật dạy: Ở Đại thành Ba La Nại có một Pháp sư, thường khởi ý thọ trì khóa tụng sáu chữ Đại Minh Đà La Ni. Pháp sư đó khó có thể gặp được, ông gặp Pháp sư ấy phải như gặp Như Lai không khác, cho đến không được khinh mạn, sanh tâm nghi ngờ, thối thất tâm địa Bồ Tát của ông, vì Pháp sư ấy đã khuyết phạm giới hạnh, có vợ có con, đại tiểu tiện lợi, làm nhơ nhớp Cà sa, không còn chút oai nghi. Khi ấy, ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát lãnh thọ lời Phật dạy, rồi liền cùng với vô số Bồ Tát đem lọng trời và các thứ phẩm vật đến để cúng dường vị Pháp sư, cầu xin sáu chữ Đại Minh Đà La Ni.” Bởi vậy hể cầu pháp, không nên tự thị, nếu thấy lỗi của Pháp sư mà sanh tâm khinh mạn, biếng nhác, thì tự mình chuốc lấy quả báo không như ý.

Kinh Viên Giác chép: “Phật bảo Bồ Tát Phổ Giác rằng: “Này thiện nam tử, chúng sanh ở đời sau, muốn phát đại tâm cầu Thiện tri thức, muốn tu hành thì phải tìm cầu các vị chánh tri kiến, tâm không trụ tướng, không đắm trước cảnh giới của Thanh văn Duyên giác, mặc dầu hiện thân trong cõi trần lao mà thường thanh tịnh, thị hiện có lỗi lầm nhưng tán thán phạm hạnh, không khiến cho chúng sanh rơi vào cảnh giới không luật nghi. Cầu được người như thế, liền thành tựu Vô thượng Bồ đề. Chúng sanh ở đời sau, thấy người như thế phải nên cúng dường, không tiếc thân mạng, nhẫn đến thị hiện các thứ lỗi lầm, đối với các vị thiện hữu kia, ta không khởi ác niệm, liền thành tựu chánh giác cứu cánh, hoa tâm phát sáng chiếu khắp mười phương cõi nước.”

Kinh Sớ ghi: “Bồ Tát hóa hiện, quyền cơ khó lường, hoặc làm lợi ích, hoặc có duyên sai biệt, việc làm tuy trái với oai nghi, thệ trái với chơn giáo, chỉ có chê mình, làm việc không chánh, chứ không được vẽ thêm cái không chơn chánh để nói lý, làm lầm lạc phàm phu. Đây không đồng với bọn người tà; tự tạo các lỗi, lại nói những việc chẳng phải phạm hạnh cho là chơn thật, khiến cho vô lượng người rớt vào đường hiểm. Vì đồng sự nhiếp, tuy hiện các lỗi mà thường tán thán phạm hạnh chơn thật. Nên trong Luận ghi: “Người phá kiến, dù không phá hạnh cũng không được làm người có đạo nhãn cho chúng sanh. Người phá hạnh nhưng không phá kiến là bậc phước điền thù thắng cho trời người.” Song làm thầy thì khó, làm đồ chúng cũng không dễ, chớ theo lời răn nhắc này mà lầm lẫn kính trọng người dối trá, mình mù mờ chánh đạo, lại bắt người khác tuân theo. Lại nữa, nếu đem thuốc này trị bệnh cho đồ chúng, thì ông thầy chớ cho uống càn, vì uống vào càng tăng thêm bệnh, thì không có thuốc nào trị lành bệnh ấy, dụ như lấy trói mở trói, thật là vô lý.

Nếu để tâm lầm kính kẻ dối trá, thì có khác gì kính con vượn như là Đế Thích ư? Nhận càn pháp kia không khác gì nhận ngói gạch làm vàng ròng, chưa đủ huệ nhãn, ai soi xét phải quấy? Phải chọn lời nói chơn chánh, chớ thọ nhận lời nói dối gạt kia, một niệm đã sai, ngàn đời đi lầm, như kinh đã nói, phải tự răn nhắc, chớ để ngày sau, hối cũng không kịp.

Giới thứ 6 không cung cấp thỉnh cầu pháp, giới thứ 7 biếng nhác không chịu nghe pháp, giới này Phật răn dạy không nên kiêu mạn mà không thỉnh pháp. Nếu tâm kiêu mạn, biếng nhác, không kính, không nghinh tiếp, biếng nhác thấy lỗi người ấy, không chịu đến thưa hỏi, cùng đồng như giới này.

Giới thứ 23 KHINH NGẠO KHÔNG TẬN TÂM DẠY

Là Phật tử, sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu có tâm tốt muốn thọ giới Bồ Tát, thì đối trước tượng Phật và tượng Bồ Tát mà tự nguyện thọ giới. Nên ở trước tượng Phật và tượng Bồ Tát sám hối trong bảy ngày, hễ thấy được tướng hảo tức là đắc giới, nếu chưa thấy tướng hảo thì phải sám hối 14 ngày hoặc 21 ngày, cho đến cả năm, cầu thấy tướng hảo, khi thấy tướng hảo rồi thì được đối trước tượng Phật và Bồ Tát mà thọ giới, nếu chưa thấy tướng hảo thời dầu có đối trước tượng Phật, tượng Bồ Tát thọ giới, vẫn không gọi là đắc giới. Còn nếu đối trước vị Pháp sư đã thọ giới Bồ Tát mà thọ giới thì không cần thấy tướng hảo, tại sao vậy? Vì vị Pháp sư ấy là chư Sư truyền giới cho nhau, nên không cần thấy tướng hảo, hễ đối trước vị Pháp sư ấy mà thọ giới thời liền đắc giới. Do vì hết lòng kính trọng nên đắc giới, nếu ở trong vòng ngàn dặn mà không có giới sư truyền giới, thì Phật tử được phép đối trước tượng Phật và Bồ Tát mà tự nguyện thọ giới Bồ Tát nhưng cần phải thấy tướng hảo.

Nếu các vị Pháp sư ỷ mình là thông rành kinh luật cùng giới pháp Đại thừa, kết giao với Vua, Quan, Thái tử, v.v…, khi có hàng tân học Bồ Tát đến cầu học nghĩa Kinh, Luật, người ấy sanh ác tâm khinh chê, cậy mình hiểu biết, ỷ thế khinh người, diễn nói pháp tướng một cách đảo điên, nhận chìm nghĩa lý Kinh, Luật, thì người này quả thật trái với phép tắc dạy bảo của bậc Đại sĩ, không chịu tận tâm chỉ bảo, vị này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ỷ thông kinh luật, cậy thế lực khinh người, rồi nói lời điên đảo, tránh nói pháp tướng làm khuất lấp nghĩa lý kinh luật, thật rất trái với phép tắc mô phạm huấn đạo của Đại sĩ.

Đức Như Lai đã dứt hết đại hoạn của sanh tử, vượt khỏi bốn dòng, hóa độ tất cả chúng sanh hữu duyên, trở về chơn tế, nên nói là “diệt độ.”

Hảo tâm, nghĩa là trên cầu diệu đạo Vô thượng của chư Phật, dưới giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ phát Bồ đề tâm.

Tự thệ thọ giáo, nghĩa là ở trong vòng ngàn dặm không có người có trí tuệ và đạo lực, có khả năng hiểu và truyền trao giới pháp, mới cho phép người này ở trước tượng Phật và Bồ Tát phát thệ nguyện sám hối tội lỗi ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai), chừng nào thấy được tướng hảo đúng như pháp mà tự thọ. Nếu chưa thấy tướng hảo thì càng phải hổ thẹn, không ngớt trách mình, buồn tủi rơi lệ, lại phải sám hối 21 ngày cho đến một năm, đến khi thấy được tướng hảo mới thôi. Khi thấy được tướng hảo rồi, đúng như pháp ở trước Phật và Bồ Tát mà thọ giới, nếu không biết pháp thọ giới thì không do đâu đắc giới.

Tướng hảo, nghĩa là trong lúc sám hối hoặc khi ngồi thiền hoặc trong chiêm bao, thấy hoa, thấy hào quang, hoặc thấy Phật và Bồ Tát xoa đầu. Như Luật sư Chân Biểu, chí tâm cầu giới pháp, thệ nguyện tha thiết mong được Đức Di Lặc đích thân trao giới, Ngài liền lên núi, ngày đêm thành tâm sám hối, trải qua 21 ngày thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân, tay cầm tích trượng, sách tấn cho Ngài trước khi thọ giới cần phải gia tâm tinh tấn hơn nữa. Đến ngày thứ 14, thấy có Đại ác quỷ từ trên núi cao nhảy xuống đứng ở chân núi, tướng quỷ hung dữ, ngầm ý bảo Ngài tinh tấn hơn nữa. Đến ngày thứ 21, Ngài thấy núi sông bằng phẳng, biến thành thế giới màu bạc, Bồ Tát Di Lặc dung nghi khả kính đi vòng quanh xoa đảnh nói rằng: “Lành thay Đại trượng phu, cầu thọ giới Pháp như thế, núi Tu Di có thể hoại, tâm ông trọn không thối thất. Phật Di Lặc đích thân trao cho Ngài 3 y và bình bát để làm biểu tượng truyền trao giới pháp, rồi ban cho Ngài hiệu là Chân Biểu.

Thiền sư Nam Nhạc Huệ Tư nằm mộng thấy 42 vị Phạm Tăng, hơn nữa lại tác pháp yết ma cho thọ cụ túc giới.

Xưa, Sa môn Đạo Tấn cầu Pháp sư Đàm Vô Sấm, thọ Bồ Tát giới, ngài Vô Sấm nói: “Ông hãy về sám hối tội lỗi đi.” Đạo Tấn về chí thành sám hố tội lỗi 7 ngày 7 đêm xong, trở lại cầu giới. Đàm Vô Sấm nổi giận. Đạo Tấn suy nghĩ: “Hình như nghiệp chướng của mình chưa hết.” Đạo Tấn lại trở về sám hối trong 3 năm, mộng thấy đức Thích Ca cùng các vị Bồ Tát truyền trao giới pháp cho. Hôm sau, Đạo Tấn đến chỗ Đàm Vô Sấm, muốn kể lại điềm mộng đã thấy. Còn mấy mươi bước nữa mới đến, thì Đàm Vô Sấm kinh ngạc đứng dậy nói: “Lành thay! lành thay! ông đã đắc giới rồi, Ta sẽ vì ông tác chứng”, nói rồi Đàm Vô Sấm đối trước tượng Phật thuyết giới tướng. Sau đó có hơn ngàn người theo Đạo Tấn thọ giới. Cách truyền trao giới pháp này được lưu truyền cho đến đời sau, đều theo quy tắc của Đàm Vô Sấm. Lúc bấy giờ, con của Hà Tây Vương là Thư Cừ Mông Tốn, tên Cảnh Hoàn, tôn Đạo Tấn làm thầy, sau thỉnh Đạo Tấn dến nước Cao Xương. Gặp năm mất mùa, dân chúng đói khổ, Đạo Tấn cắt thịt mình để cứu đói cho dân, sau đó Ngài tịch.

Người đời xưa cầu giới bị quở trách nhẫn đến gặp phải tướng ma đáng sợ, nhưng ý chí không thối thất mà càng thêm tinh tấn, chí thành trong 3 năm mà không sanh một niệm mỏi mệt, nên nhận được sự cảm ứng lạ kỳ, như vang theo tiếng. Người đời nay cầu giới, nếu giới sư vấn nạn, hoặc khuyến tấn một lời, thì liền sanh tâm sân hận, phủi áo đi thẳng. Làm như vậy, chẳng những đánh mất đi lợi ích của giới cho bản thân, mà còn chuốc lấy tội khinh khi. Thời nay, có những người theo thầy thọ giới xong, liền bỏ thầy đi biệt, thì làm sao còn thân cận thầy mà học hỏi. Có thọ nhưng không hành trì, thì khác gì bám cái phao rách bơi qua biển khổ.

Tướng hảo: Tướng có tà và chánh, ma sự thì rất nhiều, chưa dễ gì phân biệt được, cần phải khéo thẩm xét cho kỹ lưỡng, không nên khinh suất nhận càn, cho là tướng hảo. Hàng Bồ Tát từ sơ địa đến thập địa, mà ma quỷ còn trá hiện thân Phật thọ ký cho họ, thì phàm phu ở đời mạt pháp đâu thể không thận trọng!

Chư Sư truyền trao nghĩa là đức Xá Na trao cho Đức Thích Ca, Thích Ca trao cho Di Lặc, như thế hơn 20 vị Bồ Tát lần lượt truyền trao cho nhau nối tiếp đến nay, như đèn này nối tiếp đèn kia, cho nên không mượn tướng hảo mà mỗi người thấy khác nhau. Tuy giới do tâm phát nhưng cũng phải nhờ thầy truyền mới được, bởi vậy không có thầy truyền tự thọ rất khó, chẳng khác nào mài cây lấy lửa, sức lực hao mòn mà chẳng được lửa. Có thầy truyền trao thì dễ, như đèn nối đèn, ngọn lửa chẳng dứt, không cần nhiều sức, cho nên sự tương quan giữa thầy và trò quả thật không nhỏ. Nhưng trong thời mạt pháp, ông thầy biết pháp quả thật là khó gặp, giả như được gặp, ắt phải chí thành, sanh tâm kính trọng, tưởng như khó gặp, thờ kính như Phật, mới hay phát được tâm địa đại giới. Nếu gặp thầy truyền giới không chân thật, cũng như đèn bị tắt, người thọ giới, dầu có thọ cũng không đắc giới, trái lại còn mắc lỗi giả danh, kẻ trao, người thọ đều mắc tội, không thể không cẩn thận dè dặt.

Hỏi: Tuy không đắc giới nhưng người thọ giới chí thành, lẽ đâu không được chút lợi ích.

Đáp: Nếu hành giả chuyên tâm hành trì, không phạm, thì cũng cảm nhận được cái thiện của giới, hành thập thiện tuy không biết cách thọ mười pháp thiện nhưng cũng được phước, không được làm thầy truyền giới cho người khác. Như người nhận lầm sắt làm bạc, chì làm vàng, ưa thích giữ gìn, cũng không phải hoàn toàn vô ích, cũng có thể đổi chác được một cái áo hay một bửa ăn, chỉ không được khẳng định nói với người đây là vàng bạc thật mà thôi. Nếu trong ngàn dặm có minh sư thông rành giới luật, mà khinh mạn biếng nhác bỏ qua, không đến cầu thọ giới mà tự thệ thọ giới, thì không đắc giới. Giả sử thấy được tướng hảo, cũng chỉ là cảnh ma. Như Ngài Chân Biểu không có thầy mà tự thọ là biểu trưng cho tâm vững chắc. Như Ngài Đạo Tấn có thầy truyền trao là biểu trưng cho tâm chí thành, đó gọi là kim chỉ nam cho muôn đời, phép tắc hay của ngàn xưa. Huống gì Ngài Đàm Vô Sấm, từ xưa người ta đã nghi Ngài là Bồ Tát Y Ba Lạc, ứng tích, thác hóa truyền đến cõi này, đã là Bồ Tát ứng tích, vẫn còn khuyên Đạo Tấn chí thành tấn tu trong 3 năm, vậy có thầy truyền trao còn phải thấy tướng hảo, mới cảm nhận được lợi ích lớn, còn như không có thầy mà tự thệ thọ giới, lẽ đâu dễ ư? Nay người cầu thọ, không luận là phải hay quấy, được hay mất, không lựa bậc minh sư, thầy đã không biết pháp luật, thì làm sao khai phát đạo tâm, lấy gì để răn dạy hai đường tội hay phước. Phương pháp sám hối nghiệp chướng lỗi lầm oan khiên, khiến cho thân tâm thanh tịnh, mới kham lãnh thọ tịnh giới, nên Di Lặc Bồ Tát giao cho Ngài Chân Biểu 108 cái thẻ, dạy cho người đến cầu giới trước tiên phải sám hối, mãn đủ kỳ hạn bỏ một thẻ xuống, để nghiệm xem tướng phiền não tội đã diệt hay chưa. Phải biết Đàm Vô Sấm khuyên Đạo Tấn tu tập trong 3 năm, pháp tự nhiên đến, trước Thánh sau Hiền, đồng một khuôn phép.

Nên Kinh Anh Lạc chép: “Nếu người muốn đến thọ giới, vị Bồ Tát pháp sư trước phải giảng nói cho họ hiểu ý nghĩa đọc tụng, khiến cho người đó được tâm khai ý giải, sanh tâm ưa thích, rồi sau trao giới cho họ. Người thọ giới, vào cảnh giới của chư Phật, chư Bồ Tát, vượt khỏi khổ 3 kiếp sanh tử, vì thế nên thọ. Lại nữa, người thọ giới pháp này đã vượt khỏi tứ ma, vượt khổ trong 3 cõi, từ đời này đến đời khác, không mất giới này, thường tùy niệm tu hành, cho đến thành Phật. Kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: Có hai việc làm mất giới Bồ Tát:

1. Xả nguyện Bồ đề

2. Tăng trưởng tâm ác

Ngoài hai việc này, nếu xả bỏ thân, giới tâm trọn không mất, từ đây về sau, sanh bất cứ nơi đâu vẫn thường có giới này. Nếu tâm không nghĩ nhớ, lại được gặp thiện hữu thọ giới, không gọi là tân học, như kinh đã ghi: “Nên biết đại giới của Bồ Tát, có pháp thọ mà không có pháp xả, người trao và thọ cần phải thận trọng.”

Kinh Anh Lạc chép: “Pháp sư hay ở trong tất cả cõi nước, giáo hóa mọi người xuất gia thọ Bồ Tát giới, vị Pháp sư này tạo phước thù thắng hơn xây 84000 tháp, huống gì lại có hai người, ba người cho đến trăm ngàn người, phước quả ấy không thể tính kể.”

Trước khi cầu thầy thọ giới, phải sanh tâm chí thành cẩn trọng, kính Sư như kính Phật, như tìm cầu Đại Bảo Ma Ni, tâm không nhàm chán mệt mỏi. Khi được của báu rồi, phải trân trọng giữ gìn bảo hộ.

Người làm bậc thầy mô phạm cho người khác, phải dùng tâm từ bi xem người cầu pháp như đứa con đỏ, phàm có thưa hỏi điều gì, mỗi mỗi đều chỉ bày, khiến cho họ sanh tâm vui mừng, không nên trong lòng ỷ vào năng lực học hỏi, hiểu biết, khinh người mới học, không thật tâm trả lời; ngoài thì tự thị chỗ giao thiệp có thế lực, địa vị để khinh mạn người, không đáp lại sự học hỏi của người khác.

Tâm khinh khi tức là coi thường người khác. Tâm ác tức là không có lòng từ tiếp vật, tâm ngã mạn tức là ỷ mình lấn hiếp người khác, do 3 tâm này nên không ưa trả lời, hoặc đối với đồ chúng của mình thì hết lòng, còn đối với đồ chúng người khác thì trả lời không rõ ràng, thật chẳng phải là đạo làm thầy trái với đại tâm bình đẳng.

Nếu biết người đến thưa hỏi có ác kiến, đến để tìm lỗi quấy, không đáp thì không thể điều phục họ được, hoặc người không kính thuận đại thừa, hoặc căn tánh ám độn, nghe giáo pháp thâm sâu, ngược lại sanh tâm tà kiến, hoặc nghe rồi nói lại cho người ác để phá hoại chánh pháp, những người như thế đến thưa hỏi, không đáp cũng không phạm.

Giới thứ 24 KHÔNG TU HỌC ĐẠI THỪA

Nếu Phật tử, có kinh Luật Đại thừa, chánh kiến chánh tánh, chánh pháp thân, mà không chịu siêng năng tu tập, lại bỏ 7 của báu, học theo tà kiến, những sách thế tục như A Tỳ Đàm, Tạp Luận, tất cả sách vở của ngoại đạo Nhị Thừa, đó là đoạn dứt Phật tánh, là nhơn duyên chướng đạo, chẳng phải thật hành đạo Bồ Tát, nếu cố làm như vậy, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Kinh luật của Phật là nói chung cho giáo pháp Đại thừa Bồ Tát tạng, rõ ràng chẳng phải kinh luật Tiểu thừa, cho nên gọi là Pháp Đại thừa.

Chánh kiến là kinh luật Đại thừa, vốn đủ những kiến giải mầu nhiệm phát xuất từ bổn nguyên tâm địa.

Chánh tánh là do đủ chánh giải của tâm địa, nên khế hợp với nhơn mầu nhiệm của tâm địa, chính là Phật tánh của Xá Na.

Chánh pháp thân do ngộ được Phật tánh của Xá Na, đó là tự tánh của ta, rồi tu lục độ, vạn hạnh, hạnh giải tương ưng, sự lý viên dung, chứng thể vi diệu của quả đức chơn thường, đây gọi là chánh pháp thân. Chánh nhơn, chánh quả của kinh luật Đại thừa như thế mà không khuyến hóa họ tư tập, ấy là đại sĩ tự mê mất chánh hạnh, đi vào đường tà.

Vàng bạc bảy báu, thế gian cho là rất quan trọng, có thể giúp hết được sự nghèo khổ, khiến cho thân tâm an lạc. Nay giáo pháp Đại thừa tâm địa này, đối với các pháp là trân quý thứ nhứt, hay trừ khổ não cho chúng sanh, làm cho họ được pháp tài công đức, trang nghiêm thân Xá Na vạn đức, nên dụ như của báu.

Tà kiến, nghĩa là tất cả sách vở của Nhị thừa ngoại đạo, không có chút chánh giáo về tâm địa, nên nói là tà kiến. Nhị thừa có tà kiến thiên không, ngoại đạo có tà kiến vọng chấp mê lầm. Sách vở thế tục có tà kiến bác không nhơn quả ba đời.

A Tỳ Đàm, Trung Hoa dịch là Vô Tỷ Pháp, đây thuộc luận Tiểu thừa, gồm có vài trăm quyển.

Tạp luận, là tất cả các bộ luận Tiểu thừa và các bộ luận như Tăng Khư, v.v…. của ngoại đạo.

Bách luận chép: “ 96 đạo đều không thể hiểu được thật tướng các pháp, nên thuận với đạo của Thanh văn, đều thuộc là tà ( 95 thứ đạo cộng với Tiểu thừa giáo thành ra 96).”

Đoạn dứt Phật tánh, nghĩa là Nhị thừa chấp không, mà không có chánh nhân tâm địa, nên mất quả đức thành Phật. Ngoại đạo lầm chấp Đoạn, Thường rồi mê mất chánh giáo, trung đạo, là đoạn mất chủng tánh chánh giác. Nhơn duyên chướng đạo là do tâm chấp tà kiến làm nhơn, lầm tu tà hạnh làm duyên, vì thế ngăn lấp Đại thừa chánh đạo, vĩnh viễn mê mất bổn nguyên tâm địa. Chẳng phải hành Bồ Tát đạo, nghĩa là Nhị thừa chỉ lo tự lợi còn ngoại đạo thì vào đường tà.

Những sách vở thế tục, gồm tất cả sách vở thư tục, truyện ký của thế gian. Thiên Trúc có những luận ký như: Tất Đàm Chương, Tỳ Già La, Ngũ Minh, v.v… , Trung Hoa thì có Kinh Sử và Bách Gia Chư Tử. Đây là những sách trị đời, đều chẳng phải là phương thức thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh của bậc Đại sĩ, mà phải tu lục độ vạn hạnh.

Kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Bồ Tát có kinh tạng của Phật, không siêng năng học mà lại đi học sách vở của thế tục ngoại đạo, là phạm khinh cấu tội.” Kinh Bồ Tát Giới Bổn chép: “Đối với sách vở của ngoại đạo tà luận mà Bồ Tát mê đắm không bỏ, không khởi tâm tưởng là độc hại, như thế là phạm. Nếu học Tiểu thừa để trợ giúp cho Đại thừa, mục đích là muốn dẫn dắt hàng Nhị thừa, khiến cho họ hướng đến Đại thừa, thì không phạm.”

Bồ Tát Thiện Giới Kinh chép: “Vì bàn luận nghĩa lý, để phá tà kiến, biết sách vở ngoại đạo là hư dối không thật, Phật pháp thì chơn thật, vì muốn biết thế sự thì không phạm.

1. Trước trái với giới Đại thừa, hướng đến giới Tiểu thừa, chí hướng trái ngược, nên cấm.

2. Tịch giáo giới, do họ đem tâm sân ác dạy, khiến người khác có tâm thiên lệch, nên cấm.

3. Nay an nhiên học theo Tiểu thừa, không nghĩ đến Đại thừa, nên cấm.

4. Sau đó tạm nhớ nghĩ đến giới, từ đó mà biết và học theo Đại thừa thì không nên khởi một niệm tự độ, nên cấm.

Nghĩa sai khác của 4 giới này không thể không biết.

Giới thứ 25 TRI CHÚNG VỤNG VỀ

Nếu Phật tử, sau khi Phật nhập diệt, làm pháp sư, giảng sư, luật sư, thiền sư, thủ tọa, tri sự, tri khách, phải có lòng từ bi khéo hòa giải trong chúng, khéo giữ gìn tài vật của Tam bảo, chớ tiêu dùng vô độ như của riêng mình mà trở lại khuấy chúng gây gỗ, kình chống, tiêu xài lãng phí của Tam bảo. Nếu làm như thế, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Làm người chủ không biết an xử đồ chúng, cất giữ tài vật không biết dùng chừng độ, thì tự tổn mình và tổn người, chẳng phải tâm từ hòa của bậc Đại sĩ.

Khi Như Lai còn tại thế, người người đều y vào pháp hóa, không sanh pháp hữu lậu, sau khi Phật diệt độ, cách Phật càng xa, pháp hữu lậu ngày một tăng trưởng, cái tệ ấy phần nhiều là do người làm chủ, nay nêu sơ lược 6 người:

1. Thuyết pháp chủ: Là người thay Phật tuyên dương diễn nói 12 bộ kinh cho chúng.

2. Hành pháp chủ: Là người hạnh giải tương ưng, khiến cho chúng như thuyết tu hành.

3. Tăng phường chủ (tiếng Phạn là Ma Ma Đế, Trung Hoa dịch là Trụ trì hay Tự chủ): Nghĩa là Tỳ kheo dựng chùa hoặc là vị tri sự, biết xử lý những Tăng sự của chúng thường trụ, nay gọi là Giám viện hay Giám tự. Tăng Sử Lược ghi: “Chức trụ trì bắt đầu từ đời Đông Hán ở chùa Bạch Mã. Chùa đã dựng nên ắt phải có người làm chủ, lúc ấy tuy chưa có tên gọi là Trụ trì, nhưng có Tri sự. Từ đời Đông Tấn đến nay, chức vị này mới thịnh, cho nên Lương Võ Đế dựng chùa Quang Trạch, thỉnh ngài Pháp Vân làm trụ trì, lập ra pháp chế cho Tăng. Đó là quy củ của Đông Độ, không phải là phép tắc của những nước ở Quan Tây. Những nước ở Nguyên Tây, chức Thượng tọa là cao nhất. Vị đứng ra xây dựng ngôi chùa thì gọi là chủ, nếu có việc gì nên bàn bạc với chúng, nếu chúng đồng ý thì làm, chúng không đồng ý thì không làm, hoàn toàn không có ý riêng của người chủ, được như vậy mới phù hợp với việc hoằng hóa của bậc Đại thánh.

4. Giáo hóa chủ: Là người dạy bảo người khác làm phước, khuyên họ làm lành, khiến cho họ biết Tam bảo là ruộng phước tốt, phát lòng tin rồi hướng về quy y, cung kính cúng dường.

5. Toạ thiền chủ: Là người hướng dẫn chúng tu tập thiền định tam muội.

6. Hành lai chủ: Là người đảm trách việc đi lại, xuất nhập của Tăng chúng, chẳng hạn như Tôn Giả Đạp Bà Ma La Tử ngày xưa, ngày nay gọi là Tri chúng hoặc Tri khách.

Từ tâm làm chủ gồm:

1. Dùng từ tâm để khéo hòa giải trong chúng, dứt việc tranh cãi nếu có, khiến cho chúng được an vui tu tập. Tranh cãi có 4 thứ như luật ghi: Ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh, sự tránh. Hoặc 7 pháp dứt sự tranh cãi như: Đáng cho làm phép hiện tiền Tỳ Ni, v.v…

2. Dùng từ tâm khéo giữ gìn của Tam bảo, khiến cho chúng tăng được thọ dụng đúng pháp. Vật của Phật, của Tăng đều có chủ không nên lạm dụng, dùng lộn xộn, dùng phải có mức độ, không tự ý xài như của riêng mình. Vật của Phật, nếu không tác pháp thì không được dùng cho Pháp, cho Tăng; Nếu là vật của Pháp thì không được dùng cho Phật, cho Tăng; Nếu là vật của Tăng , thì không được dùng cho Phật cho Pháp. Vật của Phật ở chỗ này không được đem đến Phật ở chỗ khác. Vật trong điện, trong tháp, kinh pháp, vật của Tăng thường trụ, vật của hiện tiền Tăng, v.v…, cũng không được dùng một cách lộn xộn. Như một hạt muối, một hạt gạo, một cây kim, một cọng cỏ, một tờ giấy, một viên thuốc, cũng không được dùng riêng cho mình. Ngày nay thì dễ dàng bỏ qua, nhưng quả báo ở đời sau thì khó trả hết. Còn lại như kinh luật có nói rất rõ: “Nếu tài vật làm điện Phật có dư, thì được làm tượng Phật; làm tượng Phật có dư, thì phải làm đồ thờ cúng trước Phật, chứ không được làm điện Phật. Làm Phật điện có dư thì không được làm điện Bồ Tát. Tượng Phật, tượng Bồ Tát không được dùng một cách lẫn lộn. Nếu vật của Pháp có dư, thì nên in ấn kinh Phật và sửa sang Pháp tòa. Vật của Tăng có dư nên để vào kho đụn, cúng dường cho Tăng mười phương. Tiền cúng trai phạn có dư thì không được làm trai đường, đọa Hỏa Già địa ngục. Tiền để làm đá thì không được đem làm ngói, tiền làm ngói thì không được đem làm đá.”

Kinh Bảo Ấn ghi: “Vật của Phật, của Pháp không được dùng lộn xộn. Vật của Phật, của Pháp không có chủ lại không thể tác bạch, nên không đồng với vật của Tăng. Vật của thường trụ, chiêu đề phải có tác bạch thưa hỏi.” Tháp Phật có tài vật dù chỉ hơn một tiền, do thí chủ có tâm coi trọng nên xả. Đối với vật này, chư Thiên, người khởi tưởng như Phật, như tháp. Nhẫn đến gió thổi hư hoại, không được đem đồ báu của người chết để làm tháp của Như Lai vì không người đặt giá.

Kinh Bảo Tích chép: “Phật dạy: Tỳ kheo đối với vật sở hữu không nên khởi tưởng tự tại, giả sử có làm việc gì, đại chúng có đồng ý mới làm, chớ có tự tiện. Nhẫn đến vật của hiện tiền Tăng, tứ phương Tăng, không được dùng lộn xộn với vật của tháp Phật đắp đổi chứa nhóm, nên khéo đề phòng những việc lộn xộn như trên.”

Tăng Kỳ Luật chép::”Tỳ kheo làm trụ trì, nếu tháp Phật không có vật, mà khởi tâm suy nghĩ rằng: Thí chủ sở dĩ cúng dường Tăng, đều nhờ ân của Phật, cúng dường Phật là cúng dường Tăng nên đem vật Tăng để sửa sang tháp, thì trụ trì mắc khinh tội. Đem vật của tháp cúng cho Tăng cũng vậy. Nếu đúng như pháp mà sử dụng, trao đổi thì được, nhưng phải ghi lại rõ ràng, khi nào trao đổi, khi nào dùng, khi nào hoàn trả lại, nên đọc lại trước Tăng, giao lại minh bạch. Trong luật có dạy rõ việc này, không nên làm theo ý mình, lỗi ngàn đời khó tránh khỏi. Không đem tâm từ an ổn bảo hộ đại chúng, ngược lại làm loạn chúng, không dùng từ tâm khéo giữ gìn của Tam bảo, nếu chi dụng lãng phí, khiến chúng có việc tranh cãi, đó là phạm khinh cấu tội, nếu cố tâm dùng lẫn lộn thì phạm trọng tội.

Giới thứ 26 RIÊNG THỌ LỢI DƯỠNG

Nếu Phật tử, trước ở trong tăng phường, sau thấy có khách Tỳ kheo Bồ Tát đến hoặc trong thành ấp nhà cửa của tăng phường hay nhà cửa của Quốc vương cho đến nơi an cư kiết hạ, hay đại hội, … chư Tăng ở trước phải rước đến đưa đi, cúng dường đồ ăn thức uống, đồ nằm, thuốc men, nhà phòng, giường ghế, v.v… nếu tự mình không có thì phải bán thân, bán con cái, lóc thịt thân mình mà bán để sắm đồ cúng dường cho khách Tăng ấy. Nếu có thí chủ đến thỉnh chúng Tăng thọ trai, khách Tăng có dự phần, vị Tri sự phải theo thứ tự, phái khách Tăng đi thọ trai. Nếu chư Tăng ở trước riêng đi thọ trai, mà không phái khách Tăng đi, thì vị Tri sự mắc vô lượng tội, không đáng là hàng Sa môn, không phải dòng họ Thích, nào khác gì loài súc sanh, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Trái với tâm bình đẳng của thí chủ, mất hạnh lợi tha của bậc Đại sĩ, không cử Tăng thứ lớp đi thọ trai, chính là muốn đem lợi riêng về mình, vì thế gọi là chỉ một mình mình thọ.

Tăng phường là chỗ Tăng nương ở (tiếng Phạn là Tăng Già Lam, Trung Hoa dịch là Chúng Viên) nghĩa là nơi cho chúng sanh gieo trồng mầm đạo Thánh quả; hoặc gọi là Tỳ Ha La (Trung Hoa dịch là Du Hành Xứ), là Tự viện mà Tăng qua lại; còn gọi là Tăng Già La Ma (Trung Hoa dịch là Chúng Viện), là nơi chúng Tăng ở.

Xưa, ngài Ma Đằng mới đến Trung Hoa, Hán Minh Đế thỉnh Ngài ở chùa Hồng Lô. Sau tuy dựng trụ xứ khác nhưng không quên tên cũ, nên vẫn gọi là “Tự” (chùa). Nhà cửa của Quốc vương, là nhà cửa, phòng xá mà Quốc vương dựng lập cho Tăng ở. Nơi an cư là nơi do vua, tôi, đàn việt thỉnh Tăng đến an cư 3 tháng hạ. Đại hội là hội vô giá (hội thí) hoặc hội Phật Niết bàn, hội Phật giáng sanh, hội Phật thành đạo, hội Tăng tự tứ, v.v… , người ở trước là chủ nhân, người đến sau là khách, chủ phải nghinh tiếp khách, cho đến cung cấp mọi thứ cho khách Tăng dùng.

Lóc thịt thân mình, là ý nói coi trọng việc cung cấp cho khách Tăng, thịt trên thân còn cắt huống gì những vật ngoài thân như là tiền của, lẽ đâu một mình mình nhận lấy sự lợi dưỡng ư?

Nam nữ là gồm cả tại gia Bồ Tát, phải không tiếc thân mạng, quyến thuộc để cúng dường khách Tăng. Chánh văn tuy nói Tỳ kheo Bồ Tát, nhưng Thanh văn Tăng cũng có trong đó. Vị trụ trì hơn tại gia, Sa-di, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na, vì họ là những người không biết việc Tăng, chỉ có Tỳ kheo mới đảm trách được chức vụ này, mới sai đón tiếp, cung cấp. Sau đó, mới theo thứ lớp mà đi phó trai.

Đàn việt, Đàn là tiếng Phạn ( Trung Hoa dịch là Thí) , Việt là siêu việt, nghĩa là người hay thực hành bố thí, thì liền vượt khỏi biển khổ nghèo cùng.

Khách Tăng, gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa, Tăng từ mười phương đến, tức tất cả Tăng chúng, người có phần lợi dưỡng do đàn việt cúng dường hoặc thức ăn, hoặc y phục v.v… hoặc thỉnh hết, hoặc thỉnh có giới hạn, gồm chung phàm thánh mười phương, không luận là chủ hay khách, thảy đều bình đẳng, nên nói có phần.

Thứ lớp thọ thỉnh, nghĩa là đàn việt không có khả năng thỉnh hết đại chúng, chỉ giới hạn thỉnh 5 hoặc 10 vị, nhẫn đến 30 hay 50 vị mà thôi. Theo vị Thượng tòa nương thứ tự mà đi, nếu trước đó mà thí chủ có thỉnh riêng mình, mình đã được sai đi phó trai, nên theo thứ tự sai tiếp những người chưa được thỉnh đi, chứ không được vượt qua thứ lớp. Nếu biết Tăng chưa được mời, mà không sai đi, thì Trụ trì chỉ phạm tội khinh cấu. Đến lúc đi, tâm nghi ngờ ra khỏi Đại giới hoặc có Tăng mới vào là vị Thượng tọa, thì nên nhường cho Thượng tọa đi, bởi người mới đến chưa có phần, như vậy Trụ trì chỉ phạm tội không sai đi, đó là tội khinh cấu.

Nếu biết ngoài đại giới không có Tăng đến, đã sai xong, nơi đáng đến lại không sai đi, hoặc sai dư người, thì người sai đi, người được sai, đều phạm tội trộm.

Phương tiện hoặc đồ ăn, hoặc đồ mặc, tính giá trị 5 tiền, thì thành trọng tội, nên nói mắc vô lượng tội. Chỉ biết có ăn uống mà không biết thứ lớp, nên Phật nói không khác gì với súc sanh, trái với phép thường của Tăng, nên chẳng phải Sa môn, phạm tội trộm kết trọng tội, nên chẳng phải con cháu dòng họ Thích.

Trước không nghinh tiếp cung cấp, sau lại không cho Tăng phẩm vật, đều mắc tội, nếu thí chủ không thiết trai phạn, nhưng có duyên riêng, thỉnh những người ở trước thì đi không phạm. Nếu ý của thí chủ muốn thỉnh hết chúng Tăng, nhưng những người ở trước làm trở ngại, thì những người này mắc tội. Nếu biết thí chủ gặp người đó thì sanh tâm không vui, nên tìm cách ngăn cản đừng cho người ấy đi, làm như vậy thì không phạm.

Có một con quỷ hỏi ngài Mục Liên rằng: “Tôi cả đời đến nay thường bị đói khát, muốn đến nhà xí ăn phẩn dơ, nhà xí có đại lực quỷ, cầm gậy đánh tôi, không cho tôi đến gần, không biết tôi đã gây tội gì mà phải chịu như thế?” Ngài Mục Liên đáp rằng: “Lúc ông làm người, giữ chức Trụ trì, khi có khách Tăng đến, tâm ông bỏn xẻn, không cho người ta ăn, đợi khi khách Tăng đi khỏi rồi, mới cho Tăng thường trụ ăn. Ông bỏn xẻn vật của Tăng nên phải chịu ác báo, còn quả báo phải vào địa ngục.”

Lại có một con quỷ hỏi rằng: “Tôi cả đời nay, trên vai phải mang một cái bình đựng đầy nước đồng sôi, rưới trên đầu tôi, đau đớn vô cùng, không biết tôi đã gây tội gì mà phải chịu cái khổ này?”. Ngài Mục Liên đáp: “Khi ông làm người giữ chức Duy na, biết rõ việc Tăng, chúng Tăng có một bình sữa, ông đem cất giấu chỗ khác, không cho khách Tăng uống, đợi khách Tăng đi rồi, mới cho chúng thường trụ dùng. Sữa này là vật thuộc Chiêu Đề Tăng, tất cả đều có phần, do ông bỏn xẻn vật của Tăng, nên nay thọ ác báo, còn quả báo ở địa ngục.”

Phật bảo ngài Tăng Hộ: “Ông thấy hạng người thứ 4 này, không phải là Tăng ở trong chùa, cũng chẳng phải là Tỳ kheo mà là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp, người này xuất gia thường ở trong chùa, có đàn việt đem thức ăn đến, cúng dường cho hiện tiền Tăng, khi đó có khách Tăng đến, Tỳ kheo trụ trì này do tâm bỏn xẻn tham tiếc, đợi khách Tăng đi mới chia cho chúng thường trụ, chưa kịp chia thì bị trùng phá hư thức ăn, đành phải đem đổ, do nhơn duyên này, đọa vào địa ngục ăn phẩn dơ, uống nước tiểu. Từ khi Phật Ca Diếp nhập diệt đến nay, chịu khổ không lúc nào ngớt. Lại nữa, ông thấy hạng người thứ 6 này, không phải là Tăng ở trong chùa, cũng chẳng phải là Tỳ kheo, mà là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp người này xuất gia, không đánh kiền chùy báo cho Tăng biết, lẳng lặng cùng với chúng Tăng uống nước ngọt, vì sợ Tăng ở ngoài đến, do nhơn duyên bỏn xẻn tham tiếc kia, nên phải đọa trong địa ngục, uống nước đồng sôi, chịu khổ đến nay chưa hết. Ông có thấy cái đài thịt to lớn thứ 2 kia không, đó chẳng phải là đài mà là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp, ông này là người xuất gia, vì làm chủ chư Tăng trong chùa, ưa lựa phòng xá tốt, rồi tự mình hoặc cho những người thân hữu thọ dụng và không chịu theo luật thứ lớp phân chia phòng xá, vì tâm không bình đẳng, do nhơn duyên này nên phải đọa địa ngục, làm đài thịt lớn, thọ muôn ngàn thống khổ, đến nay chưa hết.” Ngoài ra như trong Kinh Tăng Hộ có nói rõ.

Giới thứ 27 THỌ BIỆT THỈNH

Là Phật tử, tất cả không được nhận thỉnh riêng, nhận hết lợi dưỡng về cho mình, của cúng dường này thuộc về thập phương Tăng, nếu nhận riêng thời là lấy của thập phương Tăng đem về phần mình. Vật trong tám phước điền, vật của chư Phật, Thánh nhân, của tất cả Sư Tăng, Cha mẹ và người bệnh, nếu tự mình lấy, dùng, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tất cả, đây là chỉ cho vua, quan, bề tôi, kẻ sĩ, muôn dân, năm chúng xuất gia và hai chúng tại gia. Muốn lựa chọn thỉnh riêng chừng vài người, người được thỉnh không được nhận thỉnh, bởi vì lợi dưỡng của thí chủ đều thuộc về Tăng của thập phương, ai nấy đều có phần. Nếu ta nhận lời mời tức là ta đã lấy vật của Tăng đem về cho mình, mà đó cũng là cướp đoạt vật trong tám phước điền đem về mình tự dùng.

Tăng được lợi dưỡng, được thí chủ cúng, thì trước là cúng cho Kỉnh điền, sau là cho Ân điền, sau nữa là cúng cho Bi điền. Nếu thỉnh thuyết pháp, thọ giới, hoặc thấy căn cơ thích nghi hoặc biết vì thí chủ tâm không còn chấp ngã, thời không tính toán về công đức hoặc số người được thỉnh, chỉ trong 4 người, có một người do Tăng sai đi, thì không phạm.

Tăng là chúng hòa hợp, một, hai hay ba người không gọi là Tăng, mà 4 người trở lên cho đến trăm, ngàn người mới gọi là Tăng”.