1
2
3
4

Kinh Nhất thiết Như Lai Tâm Bí mật Toàn thân Xá-lợi Bảo khiếp Ấn Đà-ra-ni

Việt dịch: Thích Viên Đức

***

Như thật tôi nghe, một thời đức Phật ở tại nước Ma-già-đà trong vườn Vô Cấu, ao Bảo Quang Minh, cùng chư đại Bồ Tát và đại Thanh văn, Thiên Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, người cùng phi nhơn …v.v, vô lượng trăm ngàn trước sau đoanh vây vi nhiễu.

Lúc bấy giờ trong chúng có một đại Bà-la-môn tên là Vô Cấu Diệu Quang, đa văn thông huệ, mọi người ưa mến, thường tu hành thập thiện, quý kính tam bảo, tâm lành ân trọng, trí huệ vi tế, thường muốn cho hết thảy chúng sanh được viên mãn lợi lành, giàu lớn phong nhiêu.

Bấy giờ Bà-la-môn Vô Cấu Diệu Quang từ tòa đứng dậy, qua đến chỗ Phật, nhiễu Phật bảy vòng, đem các hương hoa phụng dâng Thế tôn, diệu y vô giá, chuỗi ngọc anh lạc, tràng châu quý giá dâng lên đức Phật, đảnh lễ hai chân rồi lui ngồi một bên mà thưa thỉnh rằng: “Cúi mong đức Thế tôn và cùng các đại chúng, ngày mai buổi sáng, đến vào nhà con, thọ sự cúng dường của con.”

Lúc bấy giờ đức Thế tôn lặng thinh hứa khả, và Vô Cấu Diệu Quang Bà-la-môn biết Phật thọ thỉnh liền trở về nhà, ngay trong đêm ấy rộng bày thi thiết trăm vị ăn uống cao lương mỹ vị, lau quét điện đường, treo các tràng phan, bảo cái, đến sáng xong rồi cùng các quyến thuộc cầm các hương hoa và các âm nhạc đến chỗ đức Như Lai mà bạch rằng: “Đã đến giờ, cúi mong Ngài giáng lâm.”

Lúc bấy giờ đức Thế tôn nhỏ nhẹ dặn dò, an ủi Bà-la-môn Vô Cấu Diệu Quang kia và bảo khắp đại chúng mà tuyên bố rằng: “Các ông đều nên qua đến nhà Bà-la-môn kia để nhiếp thọ sự cúng dường, vì muốn cho Bà-la-môn này được đại lợi ích.”

Lúc ấy, đức Thế tôn liền từ tòa đứng dậy. Vừa đứng khỏi tòa, từ thân Phật tuôn ra các thứ hào quang sáng, các sắc mầu nhiệm xen nhau chiếu soi làm kinh động mười phương và kỉnh giác hết thảy, nhiên hậu mới đi. Lúc ấy Bà-la-môn đem lòng thành kính, cầm các hương hoa mầu nhiệm, cùng các quyến thuộc và Thiên long bát bộ, Thích Phạm, Tứ Vương đi trước sửa sang đường xá phụng dẫn Như Lai.

Bấy giờ đức Thế tôn, trước đường không xa, đến trong một khu vườn gọi là Phong Tài. Trong vườn kia, có một cổ tháp xưa hư nát, rơi rớt, gai góc mọc đầy, cỏ cây che lấp, cửa nẻo gạch ngói vùi lấp dường như gò đất. Bấy giờ đức Thế tôn dời gót, bước qua chỗ tháp. Trên tháp phóng đại hào quang chiếu sáng rực rỡ, nơi trong đống đất phát ra tiếng khen ngợi rằng: “Lành thay, lành thay! Thích-ca Mâu-ni ngày nay đã làm cực thiện cảnh giới! Lại nữa Bà la-môn, hôm nay ông thu hoạch được lợi lành lớn.”

Bấy giờ đức Thế tôn lễ tháp mục kia, nhiễu quanh ba vòng, cởi y trên thân phủ lên tháp ấy, đôi mắt rơi lệ, máu lệ xen nhau tuôn chảy, khóc rồi ngài mỉm cười. Đương khi ấy mười phương chư Phật xem thấy cũng đều rơi lệ và phóng hào quang đến chiếu nơi tháp ấy. Thấy thế đại chúng kinh ngạc đổi sắc, cùng nhau cầu Phật giải điều nghi ấy.

Bấy giờ Kim Cang Thủ Bồ Tát …vv, cũng đều rơi lệ oai quang hừng hẫy như ánh lửa đỏ, cầm chày múa quanh, qua đến chỗ Phật, bạch đức Thế tôn rằng: “Nhơn duyên này thế nào mà hiện ánh tướng hào quang ấy? Cớ chi đức Như Lai rơi lệ như thế? Mười phương chư Phật cũng lại có điềm hào quang tướng sáng hiện tiền? Cúi mong đức Như Lai đối với đại chúng này mà giải nghi cho.”

Bấy giờ đức Phật dạy: “Này Kim Cang Thủ, đại toàn thân xá-lợi của Như Lai tích chứa trong bảo tháp này. Tất cả vô lượng cu-chi Tâm đà-ra-ni mật ấn pháp yếu của Như Lai nay ở tại trong ấy. Này Kim Cang Thủ, vì có pháp yếu này ở trong đó cho nên tháp mới biến làm trùng điệp không một chỗ hở dẫu bằng hạt mè, có cu-chi trăm ngàn thân Như Lai, phải biết cũng như là hạt mè. Trăm ngàn cu-chi toàn thân xá-lợi của Như Lai nhóm tụ trong đó, cho đến tám vạn bốn ngàn pháp uẩn cũng tại trong đó, 99 trăm ngàn vạn cu-chi Như Lai đảnh tướng cũng ở trong đó. Do việc mầu nhiệm ấy cho nên chỗ tháp này có đại thần nghiệm thù thắng oai đức, hay mãn tất cả vui mừng lành tốt trong thế gian.”

Bấy giờ đại chúng nghe Phật ngài nói đều xa lìa được trần cấu, dứt các phiền não, đắc pháp nhãn tịnh. Bao nhiêu chúng bấy giờ được lợi ích khác nhau. Có người chứng được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, Bích-chi Phật đạo và Bồ Tát đạo, A-bệ-bạt-trí (bất thối chuyển), Tát-bà-nhã trí (Nhứt thiết trí), việc như thế, mỗi vị đều đắc một. Hoặc có vị chứng đắc Sơ địa, Nhị địa cho đến Thập địa, hoặc có vị đầy đủ sáu món Ba-la-mật.

Bà-la-môn kia cũng xa lìa trần cấu và chứng ngũ thần thông.

Bấy giờ Kim Cang Thủ thấy việc đặc biệt ít có này, bạch đức Thế tôn rằng: “Thật mầu nhiệm thay, thật là lạ thay! Chỉ nghe việc này mà còn chứng hoạch công đức thù thắng như thế, huống nữa nghe được thâm lý, chí tâm khởi lòng tin thì đắc biết bao là công đức!”

Phật dạy: “Này Kim Cang Thủ, ông hãy lắng nghe! Đời sau nếu có kẻ trai lành, người gái tín và bốn bộ đệ tử của ta phát tâm chép viết một quyển kinh này, tức là đồng bằng chép viết 99 trăm ngàn vạn cu-chi hết thảy kinh điển của Như Lai đã nói, tức là đã lâu trồng căn lành nơi trước 99 trăm ngàn vạn cu-chi Như Lai, và được tất cả các đức Như Lai ấy gia trì hộ niệm thương yêu như đôi tròng mắt, cũng như mẹ hiền thương con trẻ. Nếu người đọc tụng một quyển kinh này liền bằng đọc tụng kinh điển quá khứ, hiện tại, vị lai của chư Phật. Do như thế đó, nên 99 trăm ngàn vạn cu-chi hết thảy Như Lai Ứng Chánh đẳng giác kín khắp không chỗ hở cũng như hạt mè, trùng điệp đến đây, ngày đêm hiện thân gia trì cho người tu hành. Vô số Hằng hà sa hết thảy các đức Như Lai như thế, trước tụ tập chưa đi, số sau trùng điệp mà đến, phút chốc đi rồi trở lại, thí như cát nhỏ ở tại dòng nước xoáy không lúc nào dừng nghỉ. Nếu có người lấy hương hoa, hương thoa, tràng hoa hay y phục mầu nhiệm trang nghiêm đầy đủ để cúng dường kinh này, thì cũng như trước mười phương 99 trăm ngàn vạn cu-chi Như Lai kia mà cúng dường hương hoa của chư Thiên, y phục trang nghiêm đầy đủ, bảy báu chứa đầy như núi Tu-di mà đem cúng dường, trồng căn lành cũng đồng như thế.”

Lúc bấy giờ, Thiên long bát bộ, người cùng phi nhơn nghe lời nói ấy rồi, mỗi mỗi đều ôm lòng hy hữu, cùng nhau nói lên rằng: “Lạ thay oai đức đống đất cũ này, thần lực của Như Lai đã gia trì cho nên có thần biến.”

Kim Cang Thủ lại bạch đức Phật rằng: “Kính thưa Thế tôn, vì nhân duyên gì mà thất bảo tháp lại hiện làm đống đất?”

Phật dạy: “Này Kim Cang Thủ! Đây không phải là đống đất mà là thù diệu đại bảo tháp vậy. Do nghiệp quả của các chúng sanh kém thiếu cho nên ẩn che mà không hiện. Do tháp ẩn chứ toàn thân Như Lai không thể hủy hoại. Chẳng lẽ kim cang tạng thân của Như Lai mà có thể hoại diệt sao? Sau khi ta diệt độ, đời mạt pháp gặp thời bức bách, vì có chúng sanh tập hành phi pháp, đáng đọa địa ngục, không tin Tam Bảo, không trồng căn lành, do nhơn duyên đó nên Phật pháp phải ẩn mất. Tuy thế mà tháp cũng vẫn bền chắc không hoại diệt. Tất cả thần lực của Như Lai đã gia trì, chúng sanh vô trí bị hoặc chướng che lấp, luống uổng trân bảo mà không biết sử dụng. Vì việc ấy cho nên nay ta rơi lệ, các đức Như Lai kia cũng đều rơi lệ.”

Lại nữa Phật dạy: “Này Kim Cang Thủ! Nếu có chúng sanh chép viết kinh này để trong tháp, tháp đó tức là Kim cang tạng suất-đổ-ba (tháp nhiều tầng) của hết thảy Như Lai, cũng là Tâm đà-ra-ni bí mật gia trì suất-đổ-ba của hết thảy Như Lai, tức là 99 trăm ngàn vạn cu-chi Như Lai suất-đổ-ba, cũng là Phật đảnh, Phật nhãn suất-đổ-ba của hết thảy Như Lai, tức là hết thảy Như Lai đại thần lực gia hộ. Nếu an trí kinh này trong tượng Phật, trong suất-đổ-ba, thì tượng kia như đã thành bảy báu, linh nghiệm ứng tâm không nguyện gì mà không viên mãn. Với suất-đổ-ba ấy, dùng tán cái lọng tàn, hoặc màn trướng, hoặc luân đường, hoặc mâm đồng cúng dường, hoặc chuông, hoặc linh trang sức, tùy sức bày biện bốn bên, hoặc thổ hoặc mộc, hoặc đá hoặc gạch, do oai lực của kinh tự thành thất bảo. Hết thảy Như Lai đối với kinh điển này sẽ gia oai thần lực cho tháp ấy, lấy lời thành thật gia trì không ngừng nghỉ.

Nếu có hữu tình đối với tháp này dùng một cây hương, một cành hoa lễ bái, cúng dường thì tám chục ức kiếp sanh tử trọng tội thảy đều tiêu diệt, sống khỏi tai ương, chết sanh cõi Phật. Nếu có hữu tình đáng đọa địa ngục A-tỳ, nếu đối với tháp này một phen lễ bái, một lần hữu nhiễu, thì cửa địa ngục sẽ đóng bít, đường Bồ-đề mở thông. Thần lực của tất cả Như Lai gia hộ chỗ có tháp và có hình tượng. Chỗ ấy không bị gió bão, chớp nháng sấm sét làm hại, không bị độc xà, rắn rít bọ cạp, độc trùng, độc thú làm tổn thương, không bị sư tử, voi điên, cọp beo, dã cang, ong nhện làm thương hại, cũng không bị Dược-xoa, La-sát, Bộ-đa, Tỳ-xá-giá, ly mị, vọng lượng, điên cuồng lo sợ, cũng không bị tất cả bịnh lạnh nóng, bịnh ghẻ lũ, ung thư, ghẻ phỏng, ghẻ hờm, lác hủi làm nhiễm bịnh.

Nếu có người tạm thấy tháp này thì có thể trừ các tai nạn. Chỗ ấy cũng không có người ngựa, lục súc, đồng tử, đồng nữ, các hoạn dịch bịnh, không bị hoạnh tử yểu vong, không bị dao gậy nước lửa làm tổn thương, không bị trộm cướp oán thù xâm hại, cũng không bị lo buồn đói khát thiếu thốn. Ếm mị trù rủa không thể rình tìm hãm hại. Tứ đại Thiên vương cùng các quyến thuộc ngày đêm hộ vệ. Hai mươi tám bộ đại Dược-xoa tướng, Nhựt nguyệt ngũ tinh, tràng vân (sao phướng) tuệ tinh (sao chổi) ngày đêm hộ trì. Tất cả Long vương cho thêm tinh khí, thuận thời mưa xuống, tất cả chư Thiên cùng Đao-lợi Thiên ba thời giáng đến để mà cúng dường. Tất cả chư tiên ba thời vân tập, ca ngâm triền nhiễu lễ tạ chiêm ngưỡng. Thích-đề-hoàn-nhơn cùng các Thiên nữ ngày đêm ba thời giáng xuống cúng dường. Chỗ ấy tức là chỗ mà hết thảy Như Lai hộ niệm gia trì. Vì trong tháp để kinh này nên được như thế.

Nếu có người làm tháp lấy đất đá, gỗ, vàng bạc, đồng chì, chép thần chú nầy để trong ấy, vừa an trí xong tháp kia tức thành bảy báu, trên dưới thềm bực lộ bày dù lọng, chuông linh, luân đường thuần là bảy báu. Tháp kia là hình tướng bốn phương Như Lai, do pháp yếu đó nên hết thảy Như Lai kiên trụ hộ trì ngày đêm không rời. Tháp bảy báu kia là Diệu bảo tàng toàn thân xá-lợi. Vì oai lực của thần chú vọt cao, cao đến cung A-ca-ni-tra thiên, nơi mà tháp đứng trơ trọi, tất cả chư Thiên ngày đêm chiêm ngưỡng thủ hộ cúng dường.”

Kim Cang Thủ thưa rằng: “Vì nhơn duyên gì mà tháp này thù thắng công đức như thế?”

Phật dạy: “Phải biết là nhờ thần lực của Bảo khiếp (cái tráp quý) ấn đà-ra-ni này.”

Kim Cang Thủ thưa rằng: “Cúi mong đức Như Lai thương xót chúng con mà nói đà-ra-ni ấy.”

Phật dạy: “Hãy lắng nghe, suy nghĩ, chớ nên quên lãng! Hiện tại vị lai hết thảy Như Lai quang nghi phân thân, quá khứ chư Phật toàn thân xá-lợi đều ở tại Bảo khiếp ấn đà-ra-ni, là chỗ Ba thân của các đức Như Lai cũng ở tại trong ấy.”

Lúc bấy giờ đức Thế tôn liền nói đà-ra-ni rằng:

Na ma Tất đát lị dã Địa vĩ ca nẫm Tát bà đát tha nghiệt đa nẫm Úm Bộ vĩ bà phạ na phạ lị Phạ dã lê Phạ dã trai Tổ rô tổ rô Đà ra đà ra Tát phạ đát tha nghiệt đa Đà đổ đà lê bát na mẩm bà phạ đế Nhạ dã phạ lê Mẩu đát lê tát ma ra Đát tha nghiệt đa Đạt ma Chước ca ra Bát la mật lật đa Na phạ nhật la Mạo địa mãn noa Lăng ca ra Lăng Hật rị đế Tát phạ đát tha nghiệt đa Địa sắc sĩ đế Mạo đà giả, Mạo đà giả, Mạo địa Mạo địa, Một đình giả Một đình giả Sam mạo đà nể Sam mạo đà giả Giả lả giả lả Giả lại đô Tát phạ Phạ ra nỏa nể Tát phạ Bá ba Vĩ nghiệt đế Hộ rô hộ rô Tát phạ Thú ca nhị nghiệt đế Tát phạ đát tha nghiệt đa Hật rị na dã Phạ nhựt ra nĩ Tam bà ra tam bà ra Tát phạ đát tha nghiệt đa Ngu hế giả Đà ra nĩ Mẩu niết lê Ra một đệ Tô một đệ Tát phạ đát tha nghiệt đa Địa sắc sĩ đa Đà đổ nghiệt bệ Ta phạ hạ Tam ma da Địa sắc sĩ đế Ta phạ hạ Tát phạ đát tha nghiệt đa Hật rị na dã Đà đổ Mẫu nại lê Ta phạ hạ Tô bát la Để sắc sĩ đa Tát đổ bế Đát tha nghiệt đa Địa sắc sĩ đế Hộ rô hộ rô Hồng hồng Ta phạ hạ Úm Tát phạ đát tha nghiệt đa Ổ sắc nỉ sa Đà đổ Mẩu nại ra ni Tát phạ đát tha nghiệt đơn Ta đà đổ vĩ bộ sử đa Địa sắc sĩ đế Hồng Hồng Ta phạ hạ.

Lúc bấy giờ, Phật nói thần chú ấy rồi, chư Phật Như Lai từ trong đống đất phát ra tiếng khen rằng: “Lành thay, lành thay! Thích-ca Thế tôn, vì lợi ích chúng sanh không nơi nương tựa mà xuất thế trong đời ác trược để diễn nói pháp sâu mầu, pháp yếu như thế cữu trụ ở thế gian, nhiều lợi ích rộng lớn, an ổn khoái lạc.”

Bấy giờ Phật dạy Kim Cang Thủ rằng: “Hãy lắng nghe pháp yếu như thế, thần lực vô cùng, lợi ích vô biên, thí như trên cây cờ treo ngọc Như ý bảo châu thường mưa tất cả trân bảo, mãn tất cả mong cầu. Ta nay chỉ lược một phần trong vạn phần, ông nên nhớ trì vì lợi ích hết thảy. Nếu có người ác chết đọa địa ngục, thọ khổ vô gián, không có ngày ra khỏi, nếu có con cháu của người ấy xưng tên của vong nhơn, tụng thần chú ở trên vừa mãn bảy biến, thì ở địa ngục nước đồng sôi, hòn sắt nóng bỗng nhiên biến thành ao nước mát có tám thứ công đức, liền sanh hoa sen đỡ chân người ấy, tàng báu che đầu, cửa địa ngục phá nát, đạo Bồ-đề khai mở, hoa sen kia bay thẳng về thế giới Cực Lạc, Nhứt thiết chủng trí tự nhiên hiện phát, vui sướng vô cùng, được ngôi vị bổ xứ.

Lại có chúng sanh, tội báo sâu nặng, trăm bệnh chiêu nhóm đến thân, tâm thần đau khổ bức bách. Tụng thần chú này 21 biến, trăm bệnh vạn não một thời tiêu diệt, thọ mạng diên trường phước đức vô tận.

Nếu có người vì nghiệp đời trước xan tham cho nên sanh trong nhà bần cùng áo không đủ che thân, cơm không đủ no miệng, ốm gầy xấu xí, mọi người ghét mắng. Người ấy xấu hổ vào núi ngắt Thể vô chủ cách hoa, hoặc mài cây mục để lấy hương thơm (lõi trầm hương bên trong thân cây), qua đến tháp để kinh này lễ bái cúng dường, nhiễu quanh bảy vòng, rơi lệ hối lỗi. Do sức thần chú và oai đức của tháp mà diệt được quả báo nghèo cùng, thoạt đến giàu sang, bảy báu tuông như mưa, không còn thiếu thốn. Lúc này chỉ nên cúng dường Phật pháp và bố thí cho kẻ nghèo cùng, nếu còn xan lẫn tích chứa thì tài bảo tự nhiên mất đi.

Nếu lại có người vì muốn trồng căn lành tùy phần tạo tháp, hoặc bùn hoặc sành, tùy sức bày biện, lớn như trái yêm-ma-la, cao bốn lóng tay, chép viết thần chú rồi an để trong tháp. Khi an để xong đem dâng hương hoa, lễ bái cúng dường, nhờ chú lực kia và lòng tín thành, từ trong tháp nhỏ xuất ra đại hương vân, mùi thơm ấy trùm che như mây trời, hào quang chu biến khắp pháp giới. Mùi thơm xông ngát, ánh sáng chiếu diệu, rộng làm Phật sự, hành giả sẽ được công đức như trên đã nói.

Tóm lại mà nói, không có nguyện gì mà không viên mãn. Nếu có bốn chúng đệ tử, trai lành gái tín trong đời mạt pháp, vì đạo Vô thượng tận lực tạo tháp, an trí thần chú, thu hoạch công đức nói không thể hết.

Nếu có người cầu phước đến chỗ tháp kia đem một cành hoa thơm, một nén hương quí, lễ bái cúng dường, nhiễu quanh hành đạo, do công đức ấy quan chức quyền cao không cầu mà tự đến, sống lâu giàu có không mong mà tự tăng, oan gia trộm cướp không đánh mà tự chạy, oán niệm trù rủa không ếm mà trở về gốc. Dịch bệnh tà khí không lánh mà tự tránh, chồng hiền vợ thảo không cầu mà tự được, trai hiền, gái đẹp không cầu mà tự sanh. Tất cả sở nguyện tùy ý đầy đủ.

Nếu những loài chim quạ, sẻ, tu hú, cú, bồ câu, lâm li, chó sói, dã can, muỗi mòng, kiến, ruồi chạm đến hình tháp, đạp cỏ trên nền tháp, liền phá được các hoặc chướng, giác ngộ vô minh, liền nhập vào cõi Phật lãnh thọ pháp tài, huống là những người hoặc thấy hình tháp, hoặc nghe tiếng chuông khua, hoặc nghe danh tháp, hoặc bóng tháp chạm thân, thì bao tội chướng thảy đều tiêu diệt, sở cầu như ý, hiện đời an ổn, hậu sanh Cực Lạc. Hoặc có người tùy sức, lấy một hòn đất đắp chỗ hư hoại của tháp, hoặc với tay lượm một hòn đá kê chỗ tháp bị nghiêng, do công đức này, tăng phước diên trường thọ mạng, sau khi mạng chết thành Chuyển luân vương.

Nếu sau khi ta diệt độ, bốn chúng đệ tử đối nơi trước tháp, muốn cứu giúp cõi khổ thì nên cúng dường hương hoa, chí tâm phát nguyện tụng niệm thần chú, văn văn, cú cú (từng chữ từng câu) phóng đại hào quang chiếu xuất đến tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) khổ sở đều tiêu, chúng sanh thoát khổ, mầm Phật liền sanh, tùy ý vãng sanh mười phương tịnh độ.

Nếu có người đi thẳng lên chót núi cao chí tâm tụng chú, tầm mắt phóng đến chỗ nào, dù gần dù xa, như núi hang, rừng đồng, suối hồ, sông biển, trong ấy có những loài lông mao, lông vũ, vảy vi sừng gạc đều tan chướng hoặc, giác ngộ vô minh, hiển hiện bổn hữu ba món Phật tánh, rốt ráo an ở trong cõi đại Niết-bàn.

Nếu cùng người trì chú qua đến đạo lộ hoặc gió thổi chạm y, hoặc chân đạp trên dấu chân hành giả, hoặc chỉ thấy mặt, hoặc tạm lời nói nhau, hết thảy người được gặp như thế, trọng tội đều tiêu diệt, tất địa được viên mãn.

Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Kim Cang Thủ rằng: “Nay kinh điển bí mật thần chú này giao phó cho các ông, hãy tôn trọng hộ trì lưu bố trong thế gian, không để cho sự truyền thọ đối với chúng sanh bị đoạn tuyệt.”

Kim Cang Thủ thưa rằng: “Con nay may mắn được đức Thế tôn giao phó, cúi mong đức Thế tôn, chúng con vì muốn báo thâm trọng ân đức của đức Thế tôn, ngày đêm hộ trì lưu bố, tuyên dương hết thảy cho thế gian. Nếu có chúng sanh viết chép thọ trì, nhớ niệm không quên mất, chúng con sẽ sai khiến Thích, Phạm Tứ vương, Long thần bát bộ ngày đêm thủ hộ không tạm bỏ rơi (người trì chú này).”

Phật dạy: “Lành thay Kim Cang Thủ! Ông vì tất cả chúng sanh ở đời vị lai, rộng làm đại lợi ích cho nên hộ trì pháp này khiến không đoạn dứt.”

Bấy giờ đức Thế tôn nói Bảo khiếp ấn đà-ra-ni, rộng làm Phật sự. Nhiên hậu qua nhà Bà-la-môn kia thọ các món cúng dường, khiến thời bấy giờ nhơn Thiên thâu hoạch được đại phước lợi rồi trở về chỗ cũ.

Bấy giờ đại chúng Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, người cùng phi nhơn …v.v, đều đại hoan hỉ, tín thọ phụng hành.

*

Kinh Nhứt thiết Như Lai Tâm Bí mật Toàn thân Xá-lợi Bảo khiếp Ấn Đà-ra-ni (hết)

Sa-môn Thích Viên Đức dịch ra Việt văn (tháng 9 năm 1977)

Vi tính: Nguyễn Minh Hoàng

    Xem thêm:

  • Kinh Đà La Ni Lạc Xoa - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Thắng Phan Anh Lạc - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Tất Cả Danh Hiệu Như Lai - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Phật Đỉnh Đại Bạch Tản Cái - Kinh Tạng
  • Kinh Tiêu Trừ Nhất Thiết Tai Chướng Bảo Kế Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Chú Mâu Lê Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Nhơn Vương Bát Nhã Đà La Ni Thích - Kinh Tạng
  • Kinh Bồ Tát Quán Tự Tại Tùy Tâm Chú - Kinh Tạng
  • Nghi Quỹ Cúng Dường Dược Sư Thất Phật Kinh Như Ý Vương - Kinh Tạng
  • Nghi Quỹ Niệm Tụng Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức - Kinh Tạng
  • Phật Nói Văn Thù Sư Lợi 108 Danh Phạn Tán - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Tiêu Trừ Hết Thảy Chướng Nạn Thiểm Điện Tùy Cầu Như Ý - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Tý Ấn Tràng Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Chư Phật Tâm Ấn Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Văn Thù Sư Lợi Pháp Bảo Tàng Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Cát Tường Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Đà La Ni Phật Đỉnh Tôn Thắng - Kinh Tạng
  • Pháp Niệm Tụng Du Già Liên Hoa Bộ - Kinh Tạng
  • Pháp Yếu Niệm Tụng Đà La Ni Bạch Tản Cái Đại Phật Đỉnh Vương Tối Thắng Vô Tì Đại Oai Đức Kim Cang Vô Ngại Đại Đạo Tràng - Kinh Tạng