Phật Thuyết Kinh Chuyển Thân Nữ

Phật Thuyết Chuyển Nữ Thân Kinh

Lưu Tống Đàm Ma Mật Đa dịch

Bản Việt dịch của Thích Tâm Nhãn

***

Như vầy tôi nghe:

Một thời đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành Vương-xá cùng chúng đại Tỳ-kheo một ngàn người, tám ngàn Bồ-tát đều là những bậc tri thức. Trong chúng cũng có những vị từ cõi Phật khác đến hội và chư thiên, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, với trăm ngàn quyến thuộc đến hội rất đông đủ.

Bấy giờ, tứ chúng vây quanh nghe đức Thế Tôn thuyết kinh. Văn nghĩa cao siêu đầu, giữa, cuối đều thiện, nói rõ đầy đủ tướng phạm-hạnh. Trong hội có một người Bà-la-môn tên Tu-đạt-đa vợ ông ấy tên là Tịnh-nhật. Nàng đang mang thai một bé gái và nàng cũng có mặt trong chúng hội. Tuy người con gái còn ở trong thai nhưng căn đầy đủ không dơ bẩn ô uế, chắp Tay nhất tâm hướng về Phật nghe pháp và có điều muốn hỏi.

Bấy giờ, Tôn giả A-nê-lô-đậu đắc được thiên nhãn minh tịnh bất tăng giảm hơn mắt người đời. Ngài thấy nàng Tịnh-nhật mang thai một bé gái, các căn đầy đủ không dơ bẩn ô uế, đang chắp Tay nhất tâm hướng về Phật nghe pháp và có điều muốn hỏi. Tôn giả A-nê-lô-đậu thấy sự việc ấy rồi bạch Phật:

– Kính thưa Thế Tôn! Nàng Tịnh-nhật mang thai một bé gái, các căn đầy đủ không dơ bẩn tạp nhiễm, nhất tâm chắp Tay hướng về Phật nghe pháp và có điều muốn hỏi.

Phật bảo A-nê-lô-đậu:

– Ta đã thấy trước bé gái trong thai ấy nhưng không nói đó thôi. Vì sao? Vì sợ nếu có chúng sanh nào không tin lời nói chân thật của Như Lai thì người đó mãi mãi lãnh thọ nhiều khổ não.

Bấy giờ, Thế Tôn phóng ánh hào quang lớn chiếu khắp cả Tam thiên đại thiên thế giới, lại dùng thần lực làm cho mọi người trong hội đều thấy bé gái trong thai của mẹ, các căn đầy đủ không dơ bẩn ô uế đang chắp Tay nhất tâm hướng về Phật nghe pháp và có điều muốn hỏi. Đức Thế Tôn xuất ra các tiếng âm nhạc thanh tịnh của chúng sanh như: âm thanh dễ hiểu, âm thanh chơn chất, âm thanh diệu tịnh, âm thanh vừa Tai người nghe không có tiếng lỗi lầm, âm thanh làm cho thân tâm được an lạc, âm thanh xa lìa những nhiễu loạn phiền não như trăng sáng, âm thanh dịu dàng liên tiếp không dứt, âm thanh không ồn ào, âm thanh khi vào tâm người có thể từ bỏ tham dục, sân nhuế, ngu si, âm thanh giúp mọi người tin vui hoan hỷ, âm thanh vượt quá phạm âm, âm thanh như sấm chớp, âm thanh như nhạc trời, âm thanh như tiếng rống sư tử diễn pháp, âm thanh tích chứa quả thiện căn quá trăm ngàn vạn ức A-tăng-kỳ-na-do-tha kiếp. Đức Thế Tôn dùng những âm thanh hòa nhã như vậy nói với bé gái:

– Ngươi vì chuyện gì mà đến nghe pháp lại có điều muốn hỏi?

Bé gái trong thai nương oai thần của Phật bạch với đức Phật rằng:

Kính thưa Thế Tôn! Có nhiều chúng sanh tham lam, đắm trước ngã kiến, sanh ra hư vọng phân biệt điên đảo. Không có chúng sanh tướng mà khởi kiến chấp chúng sanh tướng. Không có ngã tướng mà khởi kiến chấp ngã tướng. Không có nhơn tướng, không có thọ mạng tướng, không có trưởng dưỡng tướng mà chấp có nhơn tướng, thọ mạng tướng, trưởng dưỡng tướng. Vì tất cả chúng sanh tham trước như vậy nên con có điều muốn hỏi. Lại có chúng sanh tham trước ngã kiến đối với đạo nhất thừa không thể hiểu rõ vì muốn khai ngộ nhất thừa đạo. Lại có chúng sanh bị vô minh hữu ái che lấp trói buộc không thể hiểu biết rõ ràng pháp giải thoát, con muốn họ hiểu biết rõ ràng pháp giải thoát đó. Lại có chúng sanh bị sự che lấp vi tế của tham dục, sân hận, ngu si, tối tăm ngu muội, không thể tiến cầu Tam giải thoát môn Không, Vô tướng, Vô tác, nên con muốn họ tu chứng Tam giải thoát môn. Lại có chúng sanh rơi vào bốn thứ điên đảo: Vô thường cho là thường, Khổ cho là vui, Vô ngã thấy có ngã, bất tịnh thấy tịnh con muốn giải thích cho họ pháp tứ đế. Đó là khổ, khổ tập, khổ diệt, đạo diệt khổ. Lại có chúng sanh bị ngũ cái che lấp không tu ngũ căn con muốn họ đầy đủ pháp ngũ căn. Lại có chúng sanh tham vào lục nhập không chứng lục thông nên con muốn giải thích pháp lục thông. Lại có chúng sanh vui trụ vào bảy thức không thể hiểu bảy Bồ-đề phần. Con muốn vì họ giải nói bảy giác pháp. Lại có chúng sanh hành tám tà đạo không hiểu Tám Thánh đạo phần nên con muốn giải thích cho họ Tám Thánh đạo. Lại có chúng sanh tâm ôm ấp chín ưu não không thể nhập vào Chín thứ đệ định nên con muốn giải thích cho họ các thiền và giải thoát Tam ma đề. Lại có chúng sanh làm Mười nghiệp ác, không siêng năng tu mười nghiệp thiện nên con muốn họ đầy đủ mười thiện nghiệp. Lại có chúng sanh rơi vào tà định tụ hoặc bất định tụ ở trong pháp vô lậu chẳng bỏ nên con muốn họ hiểu rõ pháp chánh định tụ, giúp chúng sanh thành tựu thiện căn tự điều phục, tùy theo sở nguyện mong cầu mà thuyết pháp. Kính thưa Thế Tôn! Con nay vì tất cả những nhân duyên như vậy nên con hướng về Phật nghe pháp và có điều muốn hỏi.

Bấy giờ, Đại chúng trong hội tán thán việc chưa từng có và thưa rằng:

Pháp của Như Lai quá hy hữu. Bồ-tát tuy ở trong thai vì muốn lợi ích cho chúng sanh nói pháp không bỏ. Nếu Thiện nam tử Thiện nữ nào có thấy nghe thì không ai mà không phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác.

Khi ấy, bé gái nương oai thần của Phật giống như hậu thân Bồ-tát bổng nhiên sanh ra từ hông bên phải của mẹ. Bé gái ấy nhờ nhân duyên phước tuệ, lúc sanh thân người mẹ như bình thường, không có não phiền đau đớn. Bé gái sinh chưa bao lâu đại địa chấn động, trên trời mưa các loài hoa, tất cả nhạc cụ không đánh tự kêu. Lục địa sinh hoa lớn như bánh xe mỗi loại trang nghiêm sắc hương tuyệt hảo nhìn thấy an vui, có trăm ngàn lá, cánh bằng vàng ròng, lá làm bằng bạc, cọng nhụy bằng mã não, đài làm bằng chân trâu đỏ. Bé gái đứng ở trên, thân hình như hài nhi hai, ba tuổi nhan sắc đoan chánh rất khả ái kính, nhờ đời trước quả báo thiện nên sanh ra được như vậy.

Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhơn cầm áo trời anh lạc đến nói với bé gái:

Này Thiện nữ! Hãy mặc áo anh lạc này, chớ đứng khỏa thân.

Bé gái đáp với Thích-đề-hoàn-nhơn:

Ta là Bồ-tát không trang nghiêm bằng y phục anh lạc. Vì sao? Vì Bồ-tát thường lấy tâm Bồ-đề làm áo anh lạc tự trang nghiêm thì mới thắng tất cả trang nghiêm của trời, người, thế gian. Lại nữa này Kiều-thi-ca! Bồ-tát có mười loại áo anh lạc tự trang nghiêm. Những gì là mười? Là không mất Bồ-đề tâm, không bỏ phế thâm tâm, luôn đem lòng đại từ cứu hộ tất cả chúng sanh nào mong cầu. Thường lấy đại bi làm gốc cần hành tinh tấn độ tất cả không bỏ một chúng sanh nào, thành tựu tất cả chúng sanh. Thường đem tàm quí trang nghiêm thân khẩu ý. Tất cả vật thí ban bố không mong cầu đền đáp. Suốt đời giữ giới, hành hạnh đầu đà công đức không trái phạm, chịu sức nhẫn nhục có thể nhẫn những gì khó nhẫn. Lấy Chánh phương tiện cầu thắng thiện căn. Tâm ấy tuy trụ trong thiền vô lượng Tam-muội nhưng không mong cầu tu chứng giải thoát.

– Này Kiều-thi-ca! Đó là mười loại y phục anh lạc trang nghiêm của Bồ-tát, bất cứ khi nào cũng không xa lì.

Lại nữa, này Kiều-thi-ca! Bồ-tát lấy tướng hảo trang nghiêm thân, thắng hơn các thứ anh lạc mà tướng hảo ấy từ phước huệ sinh ra. Phước huệ là những gì? Nghĩa là bố thí những gì mình yêu thích, có thể xả bỏ cùng nhiều thứ khác đối với tất cả chúng sanh tâm không sân hận, thường cầu hạnh thiện bố thí vô số, để người khác đầy đủ, quán tất cả chúng sanh đều là phước điền.

Này Kiều-thi-ca! Đó gọi là đệ nhất y phục anh lạc trang nghiêm của Bồ-tát. Nếu Bồ-tát muốn chứng Thanh-văn, Bích-chi Phật không gọi là trang nghiêm, nếu còn có chúng sanh tâm keo kiệt, tâm phá giới, tâm sân hận, tâm giải đãi, tâm loạn tưởng ác tuệ, tâm hèn hạ tạp nhiễm các phiền não thì tôi không chứng Chánh-đẳng-chánh-giác. Kinh sợ, hối hận thì chẳng phải Bồ-tát trang nghiêm là vì xa lìa pháp Bồ-tát trang nghiêm.

Khi ấy, trong chúng hội nghe nói các pháp trang nghiêm của Bồ-tát, có một vạn hai ngàn chư thiên và người trước có gieo trồng thiện căn đều phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác.

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo bé gái ấy:

Ngươi có thể nhận y phục anh lạc của Thích-đề-hoàn-nhơn.

Bé gái bạch Phật:

– Kính thưa Thế Tôn! Con không thể nhận bởi vì y phục anh lạc trang nghiêm phải thích ứng và đồng chí hướng với con mà Đế-thích này nguyện cầu tiểu trí, mong muốn thấp kém, nhàm chán sinh tử thường ôm lòng lo sợ muốn mau nhập Niết-bàn. Thường theo Thế Tôn thính thọ giáo pháp duy chỉ mong cầu trí tuệ sáng suốt cho bản thân không vì người khác. Như kết bè cỏ muốn mau qua sống không vì người làm tịnh phước điền, xa lìa trí nhẫn thanh tịnh của chư Phật không hiểu rõ căn tánh chúng sanh. Thưa Thế Tôn! Con nay mặc áo giáp kiên cố cầu Đại-thừa muốn lợi ích cho tất cả, làm chiếc thuyền pháp lớn độ những người chưa độ, cầu trí tuệ tự nhiên chuyển bánh xe chánh pháp, không vì người khác mong cầu, lấy trí Như Lai mà tự trang nghiêm làm cho tất cả được trí nhãn thanh tịnh của chư Phật.

Kính thưa Thế Tôn! Con từ nước kia đến và sanh ra ở đó, muốn diện kiến Thích Ca Như Lai để lễ bái cúng dường và nghe thuyết pháp. Đức Thế Tôn phải cho con y phục anh lạc để con mặc.

Bấy giờ, trong hội chư thiên, người đều suy nghĩ: “Thế giới của bé gái này tên là gì, cách đây bao xa, ở tại phương nào. Như Lai ở nước đó tên là gì, hiện nay nói pháp gì?”

Biết tâm niệm của đại chúng trong hội, Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:

Đến thế giới đó là hướng đông nam, qua ba mươi sáu na do tha cõi Phật, có thế giới tên là Tịnh-trú. Đức Phật hiệu là Vô-cấu-xưng-vương Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác hiện đang nói pháp.

Này Xá-lợi-phất!

Bé gái này mất ở thế giới Tịnh-trú, sanh ở cõi này vì muốn thành tựu chúng sanh và cũng muốn lễ bái cúng dường, nghe Ta thuyết pháp.

Phật thuyết kinh xong thời gian chưa bao lâu. Đức Phật Vô-cấu-xưng-vương Như Lai khởi lòng thương xót dùng thần lực sai các Bồ-tát đem y phục anh lạc trang nghiêm đến cho bé gái. Họ đến đứng giữa hư không trước bé gái và nói:

Này Thiện nữ! Đức Phật Vô-cấu-xưng-vương Như Lai ở thế giới Tịnh-trú sai đem chiếc áo anh lạc này cho ngươi, vậy ngươi hãy mặc vào. Nơi đó chư Bồ-tát khi mặc y phục anh lạc trang nghiêm đều đắc ngũ thần thông, ngươi cũng sẽ được như vậy.

Bấy giờ, bé gái đón nhận y phục anh lạc xuất ra hào quang diệu sắc. Ngoài ánh hào quang của Như Lai, còn ánh sáng mặt trời, mặt trăng, phạm-thiên Đế-thích, Hộ-thế Thiên-vương biến mất. Bé gái ấy liền đủ ngũ thần thông, bước xuống đài sen đi đến chỗ Phật. Từng bước, từng bước làm mặt đất chấn động sáu cách. Bé gái đến trước đức Phật đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh Phật bảy vòng và bạch với đức Phật:

Kính thưa Thế Tôn! Nguyện Thế Tôn vì các đại Bồ-tát nói pháp Bồ-đề tăng trưởng, để chư đại Bồ-tát vào Vô-thượng-đạo mà không thối chuyển, thắng các hạnh ma, mau chóng thành Chánh-đẳng-chánh-giác.

Đức Phật nói với bé gái:

– Nếu Bồ-tát thành tựu tứ pháp có khả năng giữ gìn Bồ-đề làm cho tăng trưởng: Một là tịnh tâm; hai là thâm tâm; ba là phương tiện tâm; bốn là bất xả Bồ-đề-tâm, đó gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một thường muốn lợi ích tất cả chúng sanh; hai thường khởi tâm từ thương xoát tất cả chúng sanh; ba dùng đại bi độ thoát tất cả chúng sanh; bốn đem tâm kiên cố tinh tấn đầy đủ tất cả pháp Phật. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một phân biệt các pháp sanh nhiều tín tâm; hai là xa lìa Thanh-văn, Bích-chi Phật; ba ưa quán thắng pháp muốn viên mãn tất cả pháp Phật; bốn siêng năng tinh tấn phải thành tựu quả ấy. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: một xa lìa kiêu mạng; hai trừ tâm tự tại; ba kính trọng tôn trưởng; bốn nghe lời chỉ dạy, gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một đến cầu người không sanh sân hận; hai bố thí mọi thứ không cầu đền đáp; ba đã bố thí không hối tiếc; bốn có thiện căn hết lòng hồi hướng Bồ-đề. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một không phá giới; hai không làm giới lủng chảy; ba không tạp nhiễm giới; bốn không dơ bẩn giới. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một tánh hòa giải có khả năng nhẫn; hai khéo hộ ý người; ba tự hộ thân mình không xúc phạm người khác; bốn hồi hướng Bồ-đề. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một là tinh tấn kiên cố; hai là minh tịnh kiên cố; ba là tinh tấn không khiếp đảm; bốn là hồi hướng Bồ-đề. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một thân cường tráng có thể chịu đựng; hai kiên cố có thể chịu đựng; ba khéo có thể tu tập các thiền chi; bốn luôn luôn không quên mất Bồ-đề tâm. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một là bố thí; hai là ái ngữ; ba là lợi ích; bốn là đồng sự. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một tâm-từ ban bố khắp nơi; hai đại-bi không mỏi mệt; ba tâm tràn đầy niềm vui ái kính pháp; bốn tâm-xả-ly thương ghét. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một nghe pháp không chán; hai chánh quán tư-duy; ba theo pháp có thể hành; bốn hồi hướng Bồ-đề. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một biết các hành vô thường; hai quyết định biết ấm là khổ; ba quyết định biết các pháp vô ngã; bốn quyết định biết Niết-bàn là pháp tịch-diệt. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một được lợi không vui; hai mất lợi không buồn; ba tuy có danh tiếng tâm vẫn bình thường; bốn tuy nghe tiếng hê tâm không phiền não. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một người khác xúc phạm không sân; hai khen ngợi không vui; ba gặp khổ có thể nhẫn chịu; bốn tuy được vui không chạy theo cũng không chối bỏ. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một quán nhân; hai biết quả; ba xa lìa nhị biên kiến; bốn biết pháp duyên-khởi. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một biết trong vô ngã; hai biết ngoài không có chúng-sanh; ba biết trong lẫn ngoài không có thọ-mạng; bốn mọi người thanh-tịnh rốt ráo. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một hành “không” không sợ; hai quán “vô-tướng” không mất; ba không phân biệt “vô-nguyện”; bốn vui quán các pháp “Vô-tác”. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một không chứng khổ-trí; hai không chứng tập trí; ba không chứng diệt-trí; bốn không chứng đạo-trí. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một thâm quán Bồ-đề; hai không phỉ báng chánh-pháp; ba trọn đời trong chúng Tăng không thối chuyển; bốn đối với giáo pháp không thể tranh cãi. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một có khả năng làm tham dục không khởi; hai không phan duyên; ba đoạn tham dục, sân nhuế ngu si; bốn đối với phiền não cũng lại như vậy. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một ở trong chúng sanh tâm thường bình đẳng; hai quán tất cả chúng sanh đều là phước điền; ba tôn kính Phật và chúng sanh đều bình đẳng; bốn quán pháp và chúng sanh cũng bình đẳng. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một không đề cao mình; hai không hạ thấp người khác; ba không khinh người chưa học; bốn ái kính người đã học như thầy. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một xa lìa lời nói vô ích; hai thường cầu nhàn tĩnh; ba ưa thích nơi thanh vắng không nhàm chán; bốn cầu công đức lợi ích nơi thanh vắng. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một thiểu dục; hai tri túc; ba biết ước chừng tịnh vật; bốn vui hạnh đầu-đà, không tham trước y phục tốt, ăn uống ngon. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một biết mình; hai biết người; ba biết thời; bốn biết nghĩa. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một vui với pháp; hai vui nghĩa lý; ba vui với thánh đế; bốn vui thành tựu chúng sanh. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một trong tịnh có thể hộ tự tâm; hai ngoài tịnh có thể hộ chúng sanh; ba pháp tịnh nơi hành thiện; bốn trí tịnh có thể bỏ kiêu mạng. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp; Một xa lìa ngã; hai bỏ ngã sở; ba trừ chư kiến; bốn đoạn ái sân. Gọi là bốn.

Lại có bốn pháp: Một quyền xảo nhiếp lấy trí tuệ; hai trí tuệ nhiếp lấy quyền xảo; ba đại-bi nhiếp lấy tất cả thí; bốn tinh tấn nhiếp giữ tất cả đạo phẩm của pháp. Gọi là bốn.

Này Thiện nữ! Bồ-tát thành tựu bốn pháp như vậy, có thể nhiếp giữ Bồ-đề làm tăng trưởng.

Khi đức Thế Tôn nói bốn pháp nhiếp thủ Bồ-đề khiến tăng trưởng, đồng thời trong hội có ba vạn hai ngàn chư thiên, người đều phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác. Lúc đó, Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi bé gái:

– Cha mẹ đặt tên cho ngươi là gì?

Bé gái đáp:

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Tất cả chư pháp vốn không tên tùy theo phân biệt mà lập tên, chẳng phải chân thật nên không định chủ, Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát tùy theo sở hành đó mà lập tên. Nếu được tịnh tâm gọi là người tịnh tâm, nếu được thâm tâm gọi là người thâm tâm, nếu hành phương tiện gọi là tịnh phương tiện, nếu hành bố thí thì gọi là người thiện năng thí, nếu tu Thi-la gọi là người tịnh-giới, nếu trụ nhẫn-nhục gọi là người có sức nhẫn, nếu tinh-tấn gọi là người mặc áo giáp tinh tấn, nếu trụ các thiền gọi là người trụ thiền-Tam-muội, đắc được trí tuệ gọi là người đại trí tuệ, nếu trụ từ bi hỷ xả gọi là người đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả; nếu trụ nơi thanh vắng gọi là người nhàn cư vô sự, nếu không xả hạnh đầu-đà gọi là người hành công đức thanh tịnh; nếu thích tập thiền pháp gọi là người hoan hỷ cầu pháp. Nói tóm lại tùy theo những thiện căn nào hướng đến Đại-thừa thì được đặt tên.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:

Nên biết bé gái này khi mặc y phục anh lạc phóng ánh hòa quang lớn chiếu khắp đại chúng nên gọi bé gái này là Vô-cấu-quang, nhớ kỹ như vậy.

Xá-lợi-phất hỏi Nữ Vô-cấu-quang:

Người ở thế giới Tịnh-trú chỗ Phật Vô-cấu-xưng-vương, thọ thân nữ cũng ở nơi đó phải không?

Nữ Vô-cấu-quang đáp: Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Thế giới của đức Phật đó không có người nữ.

Xá-lợi-phất hỏi:

Vậy lúc đó ngươi là gì? Mang thân nữ tại sao sanh ở đó?

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

Con nay không phải nam hay nữ cũng không phải sắc, thọ, tưởng, hành, thức sanh ở đó. Vì sao! Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất ý ngài thế nào? Như Lai hóa làm người từ nước Phật này đến nước Phật khác vì có thân nam thân nữ nhập các tướng sai biệt chăng?

Xá-lợi-phất nói:

Không phải, vì sao? Vì sự biến hóa của Như Lai không có sai biệt.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Như Như Lai chỗ biến hóa không có sai biệt, tất cả các pháp đều như hóa. Nếu biết tất cả các pháp đều đồng tướng hóa, từ nước Phật này đến nước Phật khác thì không thấy sai biệt.

Xá-lợi-phất:

Ngươi ở trong các pháp thấy không sai biệt, làm thế nào thành tựu chúng sanh?

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu trong các pháp thấy sai biệt thì không thể thành tựu chúng sanh. Trong các pháp không thấy sai biệt thì có thể thành tựu chúng sanh.

Xá-lợi-phất hỏi Nữ Vô-cấu-quang:

– Vậy ngươi thành tựu bao nhiêu chúng sanh rồi.

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

– Như Tôn giả Xá-lợi-phất đã đoạn phiền não vậy.

Xá-lợi-phất nói:

– Phiền não mà Ta đoạn tánh nó không có sở hữu.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

– Tánh của chúng sanh cũng không có sở hữu.

Xá-lợi-phất nói:

– Chúng sanh không tánh lấy chỗ nào thành tựu?

Nữ Vô-cấu-quang hỏi lại:

– Phiền não không tánh vậy đoạn cái gì?

Xá-lợi-phất đáp:

Không phân biệt nên gọi là đoạn.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Như lời Tôn giả Xá-lợi-phất nói nếu không phân biệt ngã kia thì gọi là thành tựu chúng sanh.

Xá-lợi-phất hỏi lại Nữ Vô-cấu-quang:

Thế nào gọi là thành tựu chúng sanh?

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

Trong các hữu không khởi nhiễm ái thì gọi là thành tựu chúng sanh.

Xá-lợi-phất lại hỏi Nữ Vô-cấu-quang:

Ngươi đối với ba Thừa, lấy thừa nào thành tựu chúng sanh?

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Ví như trong không trung mọi nơi, mưa xuống đúng thời trên giữa và dưới, vào những hạt giống lúa non, thảo dược, cây cối đều được sanh trưởng. Như trận mưa đó có tướng phân biệt không?

Xá-lợi-phất nói:

Nước tuy có thể làm sanh trưởng lúa mạ nhưng không phân biệt.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Như vậy, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Chư Phật và Bồ-tát nói pháp cũng không phân biệt, tùy theo thiện căn thành thục tất cả chúng sanh ở trong ba Thừa mà điều phục họ.

Xá-lợi-phất hỏi Nữ Vô-cấu-quang:

Thế nào gọi là điều phục, nghĩa ấy ra sao?

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

Điều phục là có khả năng quán tà đạo tức chánh đạo gọi là điều phục. Vì sao?

Vì phàm phu điên đảo không thể chánh-quán nên không điều phục. Nếu quán tướng tà-đạo bình đẳng không chạy theo, không dựa vào các tà đạo thì gọi là điều phục rốt ráo. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nói điều phục nữa là đối với Ngã mà không Vô-ngã thì gọi là điều phục. Vì sao? Vì không ngã kiến đối với các phiền não, không ái, không khởi, gọi là giải thoát.

Nữ Vô-cấu-quang hỏi Xá-lợi-phất:

Tôn giả được giải thoát chưa?

Xá-lợi-phất đáp:

Ta đã được giải thoát.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Ai trói buộc Ngài mà Ngài nói giải thoát.

Xá-lợi-phất nói:

Không phải trói buộc được giải thoát mà bổn tánh vốn là tướng giải thoát nên Ta nói là được giải thoát vậy.

Nữ Vô-cấu-quang hỏi:

Nếu bổn tánh không trói không giải là tướng giải thoát. Cớ sao Ngài nói: “Ta đã giải thoát”.

Xá-lợi-phất đáp:

Tất cả các pháp đều là tướng giải thoát nên Ta nói “Ta đã giải thoát”.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Như Tôn giả nói: “nếu biết các pháp đều là tướng giải thoát” thì gọi là cứu cánh giải thoát.

Xá-lợi-phất nói:

Như các bậc A-la-hán lậu tận đã nói, nay ngươi nói không khác.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nay con cũng là A-la-hán lậu tận.

Xá-lợi-phất nói:

Lấy gì làm chứng lời nói đó.

Nữ Vô-cấu-quang nói:

Con xa lìa tất cả trần cấu, đạo phẩm của Thanh-văn, Duyên-giác, con thấy biết như Thanh-văn, Duyên-giác, nhưng không dừng lại Thanh-văn, Duyên-giác. Con chỉ cầu Phật Trí, đó là làm chứng lời nói của con, là A-la-hán đã lậu tận.

Xá-lợi-phất hỏi:

Như có nhân duyên mà các Bồ-tát làm A-la-hán sao?

Nữ Vô-cấu-quang đáp: – “Có”.

Xá-lợi-phất hỏi:

Lấy nhân duyên gì có.

Nữ Vô-cấu-quang đáp:

Nếu có chúng sanh đời trước gieo trồng thiện căn, người ấy nên dùng thân Thanh-văn độ tức là hiện thân Thanh-văn mà nói: “Ta là La-hán vì chúng sanh thuyết pháp chứng A-la-hán cũng gọi là Bồ-tát làm La-hán”.

Khi nói pháp đó hai trăm Tỳ-kheo không thọ lậu pháp, tâm được giải thoát. Các Tỳ-kheo bạch Phật:

– Thưa Thế Tôn! Nữ biện tài này nhờ oai thần Phật hay tự lực?

Đức Phật đáp:

Nhờ oai thần của Phật, và người nữ này cũng có sức biện tài.

Bấy giờ, Nữ Vô-cấu-quang bạch Phật:

– Kính thưa Thế Tôn! Trong hội này chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vui lòng nguyện muốn nghe cách tu thiện hạnh ra sao để bỏ thân nữ mau chóng thành thân nam và có thể phát tâm Vô-lượng Bồ-đề. Nguyện xin Thế Tôn vì chúng con giảng nói.

Vì muốn tứ chúng lợi ích thành tựu tứ pháp đức Phật bảo Nữ Vô-cấu-quang:

– Nếu người nữ thành tựu một pháp được xa lìa thân nữ mau chóng thành thân nam. Pháp ấy là gì! Là thâm tâm cầu Bồ-đề. Vì sao! Nếu có người nữ phát tâm Bồ-đề là tâm người đại thiện, tâm đại trượng phu, tâm đại tiên nhơn, tâm chẳng dưới người, tâm mãi mãi xa lìa nhị thừa hèn kém, tâm có thể phá luận ngoại đạo khác, tâm trong ba đời là tối thắng, tâm có khả năng trừ phiền não không tạp nhiễm kết tập thanh tịnh, nếu những người nữ phát Bồ-đề tâm thì không tạp nhiễm. Người nữ này tâm không còn trói buộc của người nữ, vì không còn tạp nhiễm mãi mãi xa lìa thân nữ thành thân nam. Sở hữu thiện căn phải hồi hướng Vô-thượng Bồ-đề thì gọi là một pháp.

Lại có người nữ thành tựu hai pháp, có thể xa lìa thân nữ mau thành thân nam. Hai pháp ấy là gì! Nghĩa là trừ tâm kiêu-mạn, lìa bỏ khinh khi dối trá không làm huyễn hoặc. Nguyện xa lìa thân nữ mau chóng thành thân nam, sở hữu thiện căn đều hồi hướng Vô-thượng Bồ-đề. Đó là hai pháp.

Lại có người nữ thành tựu dược ba pháp, có thể lìa bỏ thân nữ mau chóng thành thân nam. Ba pháp là gì? Một là thân nghiệp thanh tịnh thân giữ ba giới, hai là khẩu nghiệp thanh tịnh, miệng xa lìa bốn lỗi, ba là ý nghiệp thanh tịnh, xa lánh sân nhuế. Tà kiến, ngu si, lấy thập thiện phát sanh thiện căn, nguyện lìa thân nữ, mau đắc thành thân nam, hồi hướng Bồ-đề. Gọi là ba pháp.

Lại có người nữ thành tựu bốn pháp, xa lìa thân nữ, mau chóng thành thân nam. Bốn pháp là gì? Một là không nóng nảy, hai là không sân hận, ba là không sanh phiền não, bốn là trụ ở sức nhẫn nhục. Gọi là bốn pháp.

Lại nữa người nữ thành tựu được năm pháp, xa lìa thân nữ mau thành thân nam. Năm pháp là gì? Một là vui cầu thiện pháp, hai là tôn trọng chánh pháp, ba là lấy chánh pháp mà tự an vui, bốn là đối với người nói pháp kính như thầy, năm là như giáo lý tu hành lấy thiện căn đó nguyện xa lìa thân nữ, mau thành thân nam, hồi hướng Bồ-đề. Gọi là năm pháp.

Người nữ lại thành tựu sáu pháp được xa lìa thân nữ, mau thành thân nam. Sáu pháp là gì? Một là thường niệm Phật, nguyện thành thân Phật, hai là thường niệm pháp muốn Chuyển pháp luân, ba là thường niệm Tăng muốn bảo hộ Tăng, bốn là thường niệm giới muốn đầy đủ các nguyện, năm là thường niệm thí muốn xả bỏ tất cả phiền não dơ bẩn, sáu là thường niệm Thiên muốn chư Thiên trong khắp cỏi trời được nhất thiết chủng trí. Gọi là sáu pháp.

Lại nữa người nữ thành tựu bảy pháp, được xa lìa thân nữ, mau chóng thành thân nam. Bảy pháp là gì? Một là đối với Phật được niềm tin không hoại, hai là đối với pháp được niềm tin không hoại, ba là đối với Tăng được niềm tin không hoại, bốn là không thờ kính các vị trời khác chỉ thờ kính đức Phật, năm là không tích chứa xan tham làm đúng lời nói có thể hành, sáu là luôn nói lời không lỗi, thường chơn chất, bảy là oai nghi đầy đủ. Gọi là bảy pháp.

Lại nữa người nữ thành tựu tám pháp được xa lìa thân nữ, mau chóng thành thân nam. Tám pháp là gì? Một là không nặng tình ái với người nam, hai là không nặng tình ái với người nữ, ba là không nặng tình ái với chồng, bốn là không ưa thích y phục anh-lạc, năm là không tham trước hoa sức đồ hương, sáu là không ham muốn bữa ăn ngon, coi như thức ăn của La-sát, bảy là không gian lận vật bố thí, thường nhớ nghĩ mà sinh hoan hỷ, tám là thường hành thanh tịnh luôn biết tàm quí. Gọi là tám pháp.

Lại nữa, người nữ thành tựu chín pháp được lìa thân nữ, mau thành thân nam. Chín pháp là gì? Nghĩa là chấm dứt chín pháp khổ não, bỏ cái gì mình yêu thích, đã bỏ nay bỏ và sẽ bỏ. Yêu mến cái gì mình ghét, đã yêu mến nay yêu mến và sẽ tiếp tục yêu mến. Đối với cái gì mình đã bỏ nay bỏ và sẽ bỏ. Gọi là chín pháp.

Lại nữa người nữ thành tựu mười pháp, được xa lìa thân nữ, mau thành thân nam. Mười pháp là gì? Một là không tự đại, hai là trừ kiêu mạn, ba là kính trọng bậc tôn trưởng, bốn là lời nói thành thật, năm là không cơ hiềm sân hận, sáu là không nói thô bỉ, bảy là không khó dạy bảo, tám là không tham tiếc, chín là không bạo ác, mười là không giỡn cợt. Gọi là mười pháp.

Này Thiện nữ! Nếu người nữ có khả năng quán thân nữ lỗi lầm một cách như thật, tâm sanh nhàm chán xa lìa, liền xa lìa thân nữ, mau chóng thành thân nam. Thân nữ tội lỗi nghĩa là tham sân si, tâm nhiều phiền não nên phải tôn trọng thân nam. Lại trong thân đó có một trăm vi trùng, thường vì nhân duyên khổ, hoạn, sầu não nên thân người nữ nặng về phiền não phải khéo suy nghĩ quán sát thân ấy là đồ chứa bất tịnh, đầy ô uế. Như giếng khô nước thì thôn xóm khó có thể an vui, vậy phải sinh nhàm chán xa lìa thân này.

Lại quán thân này như người hầu gái, không tự tại thường phục dịch cho trai gái về y phục, ăn uống, hầu hạ gia nghiệp rất khổ não, nên phải dứt trừ như bỏ cấu uế, đờm giải bất tịnh. Chín tháng cưu mang thân nhiều nhọc nhằn chẳng phải một, khi sinh chịu đau đớn khó bảo tồn tánh mạng. Vì vậy, người nữ phải nhàm chán xa lìa thân nữ.

Lại nữa dù người nữ sanh ở vương cung thì trọn đời cũng lệ thuộc người khác. Như nô tỳ theo sự sai khiến của đại gia. Như đệ tử phụng sự thầy bị hình phạt nhiều thứ: Đao, trượng, ngói, đá, đấm, đánh, nói lời thô ác mạ nhục như vậy chịu nhiều đau khổ không tự tại. Vì thế người nữ tâm sanh nhàm chán xa lìa thân này.

Lại nữa thân nữ thường bị ràng buộc, giam hãm như rắn, chuột trong hang không dám ra ngoài. Người nữ lại bị ràng buộc pháp qui chế không tự do, thường ở bên cạnh người khác hầu hạ, thưa bẩm, cung cấp phục vụ ăn uống, quần áo, hương hoa, những thứ anh lạc trang nghiêm đầy đủ cho voi, ngựa, xe cộ. Nên phải nhàm chán xa lìa thân nữ. Thân nữ lại bị người khác sai khiến không được tự tại. Người nữ đảm đương phục dịch nhiều công việc như giã thuốc, xay gạo, nấu, nghiền đậu nành, lúa mì lớn nhỏ, dệt vải đan tơ, như thế nhiều thứ khổ nhọc, phục dịch nhiều vô số kể. Nên người nữ phải biết thân này là hoạn nạn, mong cầu mãi mãi lìa những cái khổ như thế. Phải lấy pháp này dạy lại người khác, thường nhớ lời chân thành của Như Lai. Tán thán xuất gia báo đền ân Phật phải phát tâm đó, nguyện lìa thân nữ, mau được thân nam. Ở trong pháp Phật xuất gia tu đạo, không được tham cầu hoa hương trang sức anh lạc, rong chơi vườn rừng. Đối với y phục, ăn uống, trang nghiêm cho thân vừa đủ. Phải quán tự thân hầu hạ quyến thuộc như máy móc, tượng gỗ khiên kéo đưa lên hạ xuống. Thân này hư giả tích chứa thịt máu chẳng bao lâu sẽ hoại diệt. Thân này như nhà xí có chín lỗ lưu thông những thứ bất tịnh. Thân này là kẻ ngu si lại đắm trước vào nó, chẳng qua là do tứ đại hợp thành. Thân này là các ấm như oan gia. Thân này tạm bợ trống rỗng không thật, không kiên cố, như làng xóm bỏ trống. Thân này vô chủ, từ cha mẹ sanh, mà lại hành nghiệp để trang sức nó. Thân này không sạch rõ ràng dơ bẩn. Thân này là đồ chứa nước tiểu, cức phân, đừng chần chờ hãy vứt bỏ không nên đắm mê nó. Thân này cận kề cái chết, thở ra không thở vào tức đoạn diệt. Thân này vô ngã như cây cỏ, ngói đá. Thân này Vô-tác từ nhân duyên sanh. Thân này khi vứt bỏ ngoài nghĩa trang làm thức ăn cho chim, chó sói, dã can. Thân này nhiều khổ là cái khốn của bốn trăm lẻ bốn bệnh. Thân này mang nhiều thứ bệnh: phong, hàn, lạnh, nóng và thường dùng thuốc giữ nó tồn tại nhưng rồi cuối cùng cũng đưa đến sự hoại diệt. Thân này không biết báo ơn, lấy ăn uống nuôi dưỡng không biết đủ. Thân này vô tri bên trong không tác giả. Thân này đằng sau là cái chết, nên người nữ phải quán sát thân này như thế, sanh tâm nhàm chán tu hành thiện pháp. Khi tu thiện pháp nếu có vật thực hoa quả thơm ngon, trước dâng chư Phật, Bồ-tát Vô-thượng phước điền và cha mẹ sư trưởng, sau đó mới ăn. Phải suy nghĩ: “Nay Ta dâng cúng hoa quả thơm ngon với lòng tôn trọng phước điền thanh tịnh, nguyện xin được xa lìa thân nữ dơ bẩn để được thân nam đẹp đẽ”.

Khi Phật thuyết pháp này, trong hội năm trăm Tỳ-kheo-ni đều phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác và nói: “Chúng con có thiện căn nguyện bỏ thân nữ mau được thân nam”.

Bấy giờ, trong hội có bảy mươi lăm cư sĩ nữ nghe Phật thuyết pháp này, tâm họ vui mừng khôn xiết. Họ lấy châu ngọc đồ trang sức trên thân tung rãi lên đức Phật. Nhờ thần lực của Phật cho nên số anh lạc bay lên trên đỉnh đầu Phật giữa không trung hóa thành bảy mươi lăm đài báu bốn trụ đoan nghiêm tuyệt đẹp rất khả ái. Trong đài có nhiều tòa châu báu, mỗi cái có Như Lai ngồi trên đó với đại chúng Tỳ-kheo, Bồ-tát trước sau quay quanh tự nhiên như vậy hiển hiện. Thấy Phật biến hóa thần thông những cư sĩ nữ bội phần vui mừng hớn hở vô lượng, họ đến trước đức Phật đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng và thưa rằng:

Kính thưa Thế Tôn! Chúng con có thiện căn nên nay mới cùng nhau hội hợp, đồng phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác, được xa lìa thân nữ hồi hướng Vô-thượng Bồ-đề. Đức Thế Tôn đại bi rộng nói lỗi lầm của thân người nữ, thật đúng như lời đức Thế Tôn dạy. Chúng con nay siêng năng tu phương tiện, luôn luôn xa lìa những lỗi lầm xấu ác. Từ nay trọn đời từ bỏ, phụng trì ngũ giới tịnh tu phạm-hạnh, đem thiện căn này cùng tất cả chúng sanh thành Đẳng-chánh-giác.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các cư sĩ nữ:

Chị em có thể làm tiếng rống Sư tử như thế thật là hy hữu. Chồng các chị có cho phép các chị tu phạm-hạnh không? Phải hỏi họ!

Các cư sĩ nữ bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:

Nếu chúng con từng người phải hỏi chồng: “Tôi từ đâu đến, sanh ở đây? Khi chết nơi này sẽ sanh ở đâu?” Tuy làm chồng nhưng không thể đáp. Như vậy hỏi làm gì.

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu đem vấn đề đó thưa hỏi Như Lai: “Chúng con chết ở đâu lại sanh nơi này. Chết nơi này sanh ở đâu?” Như Lai biết rõ, nhất định vì chúng con phân biệt nói vấn đề đó.

Vì vậy Như Lai là cha mẹ chúng con, là Thế Tôn của chúng con, là đại sư của chúng con, là phước-điền của chúng con, là hòn đảo quí báu để chúng con nương tựa. Nay chúng con tu phạm-hạnh cần gì phải hỏi chồng. Từ nay trở đi chúng con siêng năng tu phương tiện, không lệ thuộc chồng như người nữ khác. Vì sao! Nếu người có khả năng trừ tham dục, sân nhuế, ngu si những trói buộc thì người ấy trọn đời không bị ràng buộc. Nay thân tâm của chúng con là chồng con, tâm chúng con tu hành phạm-hạnh không vui sao?

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu chẳng phải chồng chúng con, ý muốn làm chồng để giết mạng chúng con thì chúng con vẫn quyết tâm tịnh tu phạm-hạnh không hối hận.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các cư sĩ nữ:

– Các người thường siêng năng tu phương tiện được xa lìa thân nữ. Vì sao? Vì thân nữ không thể chứng Chánh-đẳng-chánh-giác.

Các cư sĩ nữ bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Chúng con từ nay không khỏi phiền não của người nữ nữa.” Rồi đảnh lễ sát chân phật thưa rằng:

Kính thưa Thế Tôn! Nay chúng con đảnh lễ sát chân Thế Tôn. Chúng con thề không chuyển được thân nữ thành thân nam, thì nhất định không đứng dậy.

Phật bảo:

Này các chị em! Ta thường nói, người nữ có thể làm những việc dũng mãnh như người nam. Này các chị em! Có mười sáu pháp nếu có khả năng tu hành tùy theo sở nguyện cầu thì đều được như ý. Một giới thanh tịnh, hai tâm thanh tịnh, ba “không” thanh tịnh, bốn “Vô-nguyện” thanh tịnh, năm “Vô-tướng” thanh tịnh, sáu “Vô tác” thanh tịnh, bảy biết thân nghiệp như ảo ảnh, tám biết khẩu nghiệp như âm vang, chín biết ý nghiệp như huyễn, mười biết pháp duyên khởi, mười một xa lìa nhị biên, mười hai biết các pháp nhân duyên, mười ba quán các pháp như huyễn, mười bốn biết các pháp như mộng, mười lăm tưởng các pháp như lửa bốc cháy, mời sáu thâm tâm tịch tĩnh.

Khi Phật thuyết mười sáu pháp thanh tịnh này, đại địa chấn động vì thần lực của Phật. Khi ấy, chồng của bảy mươi lăm cư sĩ nữ đến chỗ đức Phật, thấy mỗi người vợ của mình đảnh lễ sát chân Phật, họ hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

Vì nguyên do gì vợ chúng tôi đảnh lễ sát chân Phật.

Xá-lợi-phất đáp:

Những chị này nghe Phật thuyết giảng pháp xa lìa thân nữ, tâm quá vui mừng hớn hở vô lượng, họ phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác, nguyện trọn đời phụng trì giữ giới tịnh tu phạm-hạnh. Nay ở trước Phật đảnh lễ sát chân và họ thệ nguyện: “Nếu chúng con không chuyển thân nữ này thành thân nam thì không bao giờ đứng dậy.” Này các cư sĩ! Các ông phải để chị em này tự do vào trong pháp Phật, xuất gia tu đạo.

Các vị cư sĩ thưa:

Thưa Tôn giả! Nhờ lời Tôn giả nói chúng con đồng ý cho họ xuất gia. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nay chúng con cũng muốn vào trong pháp Phật xuất gia trước độ chúng con sau độ người nữ.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch lên đức Phật:

Thưa Thế Tôn! Những người cư sĩ này muốn xuất gia trong chánh pháp của Phật, nguyện xin Phật hứa khả.

Phật bảo các cư sĩ:

Ở trong pháp của Ta tùy ý xuất gia.

Những người cư sĩ bạch với đức Phật:

Chúng con nguyện xin xuất gia.

Phật bảo: “Thiện Lai Tỳ-kheo!” Tất cả đều thành Sa-môn, thân mặc ca sa oai nghi thành tựu.

Bấy giờ, những cư sĩ nữ nhờ thần lực của Phật, thiện căn tự lực chánh-quán tư-duy, được lìa thân nữ biến thành thân nam. Họ nương thần lực của Phật bay lên hư không cao bằng bảy cây Đa-la, đồng lược cùng nhau nói kệ:

Các pháp đều như huyễn

Chỉ do phân biệt sanh.

Đối với đệ-nhất-nghĩa

Không có tướng nữ nam.

Ảo thuật làm trò huyễn.

Ở giữa ngã tư đường,

Hóa ra thân nam tử.

Binh lính chiến đấu nhau.

Và cùng giết lẫn nhau.

Việc ấy chẳng phải thật.

Chúng con xem sanh tử

Như huyễn hóa không khác.

Như người đang nằm mộng,

Làm ra các sự việc

Vì việc ấy không thật,

Nên thức dậy chẳng thấy,

Quán kỹ cái Ta thấy

Chỉ là ấm nhập giới.

Bản thể không chơn thật,

Phát sanh từ điên đảo.

Ví như trăng dưới nước

Thấy được không thể vớt.

Tánh pháp đồng ánh trăng.

Kỳ thật không tới lui

Cũng như khi lửa cháy

Thấy có tướng dao động

Hoặc giống như ao hồ

Nhưng nó không chơn thật

Các pháp như hơi nóng

Tánh nóng không có thật

Phát sanh từ điên đảo

Rốt ráo không có ngã

Chúng con vốn thân nữ,

Do điên đảo mà sanh

Nay, quán thân nam tử

Đều không, không chỗ có

Nếu khéo biết là không,

Chớ nên phân biệt không

Thì ngay pháp hiện tại

Thân chứng vô-quái-ngại

Là sức cảnh giới Phật

Từ lúc phước sanh ra.

Tu từ pháp hiện tiền

Liền xa lìa thân nữ

Nếu có ai là nữ,

Muốn trở thành thân nam

Nên phát tâm Bồ-đề

Ý nguyện sẽ thành tựu

Bấy giờ, những người chuyển thân nữ xuất gia làm Bồ-tát, từ hư không hạ xuống, đảnh lễ sát chân Phật và nói với các cư sĩ chồng mình:

Này Thiện tri thức! Các vị phải phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác. Phật ra đời là khó, không sanh các nạn lại còn khó hơn. Phật dùng đại bi vì tất cả chúng sanh phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác cũng lại khó. Mọi người có thể phát tâm Bồ-đề cúng dường Phật quá khứ, hiện tại, vị lai.

Khi ấy, các Tỳ-kheo nói với các Bồ-tát chuyển thân nữ:

– Các vị đều là thiện tri thức của chúng tôi có khả năng giáo hóa chúng tôi, vì chúng sanh phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác. Nay trước đức Phật chúng tôi phát tâm Bồ-đề, nguyện đời vị lai được thành Phật như Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, như A-la-hán Chánh-đẳng-chánh-giác.

Bấy giờ, các vị Bồ-tát chuyển thân nữ bạch Phật:

Kính thưa Thế Tôn! Nguyện cho chúng con xuất gia đúng như pháp xuất gia của Thiện Lai Tỳ-kheo. Chúng con không muốn xuất gia cùng hàng Thanh-văn.

Thế Tôn bảo Di Lặc Bồ-tát:

Ông hãy vì các Thiện nam tử này như pháp xuất gia.

Lúc ấy, Nữ Vô-cấu-quang đến chỗ mẹ thưa:

Mẹ phải phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác nếu mẹ phát tâm thì con đã đền đáp được công ơn của mẹ.

Người mẹ nói:

Ta đã phát tâm rồi. Vì sao? Vì Ta mang thai con mười tháng từ lúc ấy đến nay tâm không sanh xan tham, phá giới, tâm không sân-nhuế, không giải-đãi, loạn-niệm, ác-tuệ, tà-kiến, tham-dục, nóng giận, thường rất an vui thân tâm an lạc. Trong mộng thường thấy các vị Như Lai, Tỳ-kheo Tăng trước sau vây quanh thuyết pháp. Khi ấy, tâm Ta suy nghĩ: “Ta đã mang thai đứa con trong bụng chắc là Bồ-tát nên trong mộng mới thấy thân Như Lai.” Tâm rất vui mừng, liền phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác. Nay con khuyên, mẹ phát tâm ngay.

Bấy giờ, trong Tay trái Nữ Vô-cấu-quang tự nhiên biến ra lọng báu tuyệt đẹp và đem đến chỗ mẹ, thưa:

Thưa mẹ! Mẹ cầm lọng báu này dâng lên Như Lai, phải phát đại nguyện vì chư Thiên, thế-nhơn, làm lọng pháp bảo.

Tịnh-nhật phu nhân cầm lọng báu dâng lên Như Lai phát nguyện, nói:

Từ thiện căn này, tương lai con sẽ vì chư Thiên, thế-nhơn làm lọng pháp bảo.

Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất rằng:

Nữ Vô-cấu-quang này, du hý thần thông từ nước Vô-cấu-xưng-vương Phật, từ khi thọ thân nữ ở đây. Này Xá-lợi-phất! Người nữ này vốn là Bồ-tát tên Vô-cấu-quang đã chứng Chánh-đẳng-chánh-giác không thối chuyển. Vì thành tựu chúng sanh nên hiện thân nữ chẳng phải do nghiệp. Xá-lợi-phất! Ông có thấy bảy mươi lăm phụ nữ thành thân nam không?

Xá-lợi-phất thưa: “Dạ thấy”.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

Đời trước họ đều là cha mẹ của người nữ đó. Này Xá-lợi-phất! Nữ Vô-cấu-quang nhiều kiếp phát nguyện: “Nếu có chúng sanh nào là cha mẹ của Ta, Ta phải giúp họ chứng Chánh-đẳng-chánh-giác bất thối chuyển”.

Xá-lợi-phất! Ba ngàn đại thiên thế giới này có vô số tinh tú mà dễ biết. Còn cha mẹ đời trước của Nữ Vô-cấu-quang này, được người nữ khuyên tu hành thiện pháp chứng Chánh-đẳng-chánh-giác bất thối chuyển không thể biết được.

Bấy giờ, Nữ Vô-cấu-quang trước Phật đảnh lễ sát chân, nói:

“Các pháp không nam nữ, lời nói này nếu thật thì thân nữ con hóa thành thân nam.” Vừa nói xong, Tam thiên đại thiên thế giới chuyển động sáu cách. Nữ Vô-cấu-quang biến mất, hóa thành thân nam thành tựu tướng hảo trang nghiêm.

Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Bồ-tát Vô-cấu-quang: – Này nhân giả! Chưa chứng Chánh-đẳng-chánh-giác mà có thể làm Phật sự, việc này thật hiếm có.

Vô-cấu-quang Bồ-tát nói với Ngài Xá-lợi-phất:

Thật như lời ngài nói, chư đại Bồ-tát đại thệ nguyện muốn lợi ích thành tựu tất cả chúng sanh, thật hiếm có. Ví như cây A-già-lâu có hoa lá và tỏa hương A-già-lâu. Như vậy, chư đại Bồ-tát cho đến phát một thiện tâm, cũng vì Chánh-đẳng-chánh-giác đều xuất hương công đức Phật pháp. Khi nói pháp như thế, trong hội một vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm Chánh-đẳng-chánh-giác. Đại địa chấn động, chư thiên trên hư không mưa các loại hoa. Nhạc cụ chư thiên, không đánh tự kêu và nói lên:

Bồ-tát Vô-cấu-quang nói pháp chân tịnh, nếu có chúng sanh nghe pháp này thân tâm tin vui được đại oai-thế, xa lìa nhiều hoạn nạn, tu hành các thiện hạnh. Nếu có người nữ nghe kinh này thì nên biết thân này là cuối cùng. Vì sao? Vì kinh này rộng nói lỗi lầm của thân người nữ, cũng giảng nói rộng các hạnh nguyện, được xa lìa thân nữ đắc pháp thanh tịnh.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo A-nan:

Ông hãy thọ trì kinh này đọc tụng phổ biến lợi ích, vì người khác rộng nói giản khắp nơi. Vì sao? Này A-nan! Sẽ có người nữ lấy nhiều thứ châu báu đầy Diêm-phù-đề cúng dường Phật Thế Tôn, nhờ thiện căn đó nhờ xa lìa thân nữ.

Lại có người nữ nghe kinh này tin hiểu hoan hỷ, nhờ thiện căn này cầu xa lìa thân nữ. A-nan nên biết! Nghe kinh này phải có tên gọi.

A-nan bạch Phật:

Kinh này gọi tên gì? Và thọ trì ra sao?

Phật bảo A-nan:

Kinh này gọi là “Chuyển thân nữ” hay “Bồ-tát Vô-cấu-quang sở-vấn”, hoặc gọi là Vô-quá-xưng Bồ-tát đạo giáo, phải nhớ thọ trì.

Phật thuyết kinh xong. Bồ-tát Vô-cấu-quang và các Bồ-tát các cõi khác đến cùng cha mẹ của Vô-cấu-quang, trưởng lão A-nan, chư thiên, Càn-thát-bà, A-tu-la, người, phi nhơn, nghe Phật thuyết kinh đều vui mừng khôn xiết, đảnh lễ phụng hành.