1
2

Sớ Luận Toát Yếu Kinh Kim Cang Bát Nhã

 Đường Tông Mật thuật Tống Tử Tuyền Trị Định

Bản Việt dịch của Thích Bảo Lạc

***

QUYỂN 1

Lời Tựa

Gương lòng vốn tịnh, hình sắc vốn không, mộng thức không đầu, mãi thành có cảnh vật do đó nghiệp phiền não nhiễm báo ứng xoay vần. Trải vô số kiếp dào dạt sóng cồn, cho nên bậc tỉnh giác hiện thân trong cõi người trước nói nguyên nhân sanh diệt để cho ngộ pháp khổ, tập, diệt, đạo. Trừ dứt chấp ngã, chưa đạt pháp không, muốn dứt hết căn bịnh phải luận đàm Bát Nhã. Tâm cảnh đều dứt hết tức thành chân tâm. Dơ sạch đều quên thảy thành thanh tịnh. Ba ngàn kệ báu trong mười sáu hội, chỗ lưu truyền văn ngày nay là hội thứ chín. Câu kinh lời kệ giản lược mà ý thú sâu xa; tuệ thông ba pháp KHÔNG, đàn bao hàm muôn hạnh, nơi 18 trụ xứ, mật bày thứ lớp sai biệt; dứt 27 nghi mà ngầm thông huyết mạch. Không phải trước sai khiến điều khiển sao chẳng hợp NHƯ NHƯ. Nên tuy sách tấn tu tập trước sau vô tướng mà do giáo lý này ẩn mật nên hạnh quả đều huyền áo. Chí như khiến miệng tụng lông trâu, tâm thông sừng lân, hoặc hợp nơi danh tướng, chấp sự trái tông, hoặc cho rằng chỉ có nhất chân hướng cội theo dòng nên ký ức không đủ luận bàn. Vô số trân báu ở ba thời dù cho đem thân mạng thí dụ cũng không hết há chẳng nhọc công sao! Vã, hai ngài Thế Thân, Vô Trước là bậc bổ xứ đáng tôn, kẻ hậu học nghi gì lại thêm hay bớt. Nên nay chỉ thuật không dám tin càng, chú giải là luận bàn văn nghĩa sửa chẳng phải trong nội dung, toát yếu là lấy ý theo đề mục của kinh. Sau đây là phần giải thích không giản dị như lời này.

Kính lễ đấng đại giác Thế Tôn Mở pháp Bát Nhã KHÔNG môn Phát khởi lưu thông giới thượng sĩ Nhờ nương chỗ thuật hợp quần mông.

Sắp giải kinh này trước hết chưa đi vào ngay văn, mà giải

thích lời tựa, lược có 4 điểm:

1) Bàn nhân duyên phát khởi

2) Nêu rõ tông thể của kinh

3) Phân biệt nơi chốn, hội

4) Giải thích ý nghĩa chung .

A. Nhân duyên phát khởi còn phân làm 2:

a) Bàn tổng quát lời dạy, có nghĩa là giải đáp nhân trả lời làm rõ chỗ độ sanh. Nếu y cứ bổn ý Phật chỉ do một đại sự nhân duyên nên xuất hiện nơi đời, là Phật muốn làm cho chúng sanh khai tri kiến Phật.

b) Sau chỉ riêng Kinh này có 3 phần:

1. Để đối trị với hai chấp ngã, pháp; do hai chấp này nên khởi chướng phiền não và sở tri là hai chướng. Do phiền não chướng che tâm nên tâm không giải thoát, tạo nghiệp thọ báo luân chuyển trong 5 đường. Do sở tri chướng che mờ huệ nên huệ không giải thoát, không hiểu được tự tâm; không thông tánh tướng các pháp khắp trong ba cõi cũng làm trở ngại Nhị thừa, không thể thành Phật nên gọi chướng. Nếu trừ dứt được hai chấp nầy thì 2 chướng cũng đoạn lìa; vì trừ 2 chấp nên thuyết Kinh nầy.

2. Vì chận dứt hạt giống nên khởi hai mối nghi: ngăn chướng chưa khởi, nghi của chủng tử; đoạn dứt hiện khởi, nghi của hiện hành, nên Kinh trả lời hai nghi vấn này, bèn theo đuổi từng chi tiết việc đoạn nghi, cho đến hết Kinh là 27 đoạn.

3. Vì muốn trừ dứt 2 nghiệp trọng khinh, như chuyển nghiệp nặng thành thọ nhẹ; biến nghiệp nhẹ làm cho hết nghiệp, để diễn bày hai nhân phước và huệ. Khi Phật thành đạo trước chưa nói về Bát Nhã, vì chúng sanh không có diệu huệ, thí v.v…, chấp tướng đều thành phiền não hay trở ngại nhị thừa. Do đó Phật thuyết Bát Nhã hiển bày diệu huệ là nhân của pháp thân, năm độ còn lại là nhân của hóa thân (ứng thân). Nếu không trí huệ thì bố thí, trì giới v.v… 5 độ chẳng phải là ba la mật (rốt ráo hoàn toàn). Khi chưa nghe Bát Nhã chỉ nghĩ sắc tướng là Phật, đâu biết rằng ứng hóa chỉ là bóng dáng của chân mà không thấy rõ chân thân ứng thân. Cho nên đây nêu rõ hai quả để biết rằng do 2 nhân trước mà chứng đắc.

B. Nêu rõ tông thể của Kinh: có 2 phần:

1. Tông: luận chung các yếu tố Phật dạy là Tông; riêng Kinh này thời thật tướng Bát Nhã hay Quán chiếu Bát Nhã chẳng một chẳng hai, và lấy đó làm tông, tức là dùng trí của lý quán chiếu các tướng. Như kim cương có khả năng chặt đứt tất cả, tức lý của trí là thật tướng. Như kim cương rắn chắc khó phá vỡ, trong vạn hạnh mỗi mỗi không làm lu mờ được nó. Vì thế hiệp chung lại làm tông của Kinh.

2. Thể: văn tự Bát Nhã là thể Kinh. Văn tự gồm có danh tự, câu, văn mạch. Văn tự tánh vốn không tức là Bát Nhã mà không có thể của văn tự riêng biệt, đều bao hàm lý KHÔNG chẳng hết, thống nhất là giáo thể.

C. Phân biệt nơi chốn, hội: có 2 điểm: Trước hết nêu chung Phật thuyết bộ đại Bát Nhã gồm có 600 quyển tại bốn nơi, chia thành 16 hội như sau:

Tại thành Vương Xá nơi núi Linh Thứu 7 hội: trong động đá 4 hội và trên đỉnh núi 3 hội.

Nơi vườn của trưởng giả Cấp Cô Độc 7 hội.

Ở Bảo điện Ma Ni tại cung trời Tha Hóa 1 hội

Tại thành Vương Xá nơi tịnh Xá Trúc Lâm bên hồ Bạch Lộ 1 hội.

Kinh này Phật thuyết tại địa điểm thứ 2 hội thứ 9, quyển 577 về sau được truyền dịch riêng biệt. Đây là Kinh chủ yếu nên trước sau có 6 nhà phiên dịch như:

1) Ngài La Thập đời Hậu Tần

2) Ngài Bồ Đề Lưu Chi đời Hậu Ngụy

3) Ngài Chân Đế đời Trần

4) Ngài Cấp Đa đời Tùy

5) Ngài Huyền Trang đời Đường

6) Ngài Nghĩa Tịnh đời Chu.

Sáu vị trên đều là bậc tam tạng (1) thông bác Kinh, Luật, Luận. Kinh lưu truyền hiện nay do ngài La Thập dịch vào đời Hoằng Thỉ năm thứ 4 ở chùa Thảo Đường tại Trường An. Tương truyền, Bồ Tát Vô Trước người Ấn Độ nhập định Nhựt Quang lên cung trời Đâu Suất gặp Phật Di Lặc học thuộc được 80 dòng kệ; rồi Ngài lại đem những Kệ này chuyển giao cho ngài Thế Thân. Ngài Thế Thân (2) làm ra văn xuôi và (3) giải thích gồm 3 quyển luận dựa dứt trừ nghi để giải thích. Ngài Vô Trước còn tạo 2 quyển luận khác phỏng theo phẩm để giải thích. Nay Kinh này phân tiết mục chỉ dựa theo Ngài Thế Thân để giải thích, tức cũng kiêm cả bản Ngài Vô Trước, cũng như phỏng theo các luận khác, góp nhặt nhiều bản chú giải nên gọi là toát yếu đều có đủ trong Kinh này.

D. Giải thích ý nghĩa chung: Trước hết giải đề mục: Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Kinh: tiếng Phạn là Tu Đa La, dịch là Khế Kinh. Khế: biểu hiện đầy đủ nghĩa lý ứng hợp nhân tâm là Khế lý và Khế cơ (4). Kinh theo như Phật Địa dẫn rằng, hay xâu kết hay bao hàm gọi là Kinh. Đem những Thánh giáo Phật dạy kết xâu ý nghĩa đã thuyết, duy trì để giáo hóa chúng sanh.

Về sau việc giải Kinh văn thường dựa theo 3 phần: phần tựa, phần chánh và phần lưu thông.

Kim Cang: Tiếng Phạn là Bạt Chiết la, là cây gậy báu của lực sĩ cầm nơi tay. Trong vàng là chất rất cứng chắc nên gọi là Kim Cương mà trời Đế Thích có nên người phước mỏng khó thấy được. Rất cứng, rất sắc bén dụ cho Bát Nhã; không vật gì có thể phá hoại được, nhưng nó có thể phá được mọi thứ. Kinh Niết Bàn ghi rằng, như Kim Cương không thể phá hoại, nhưng nó có thể phá tan được tất cả mọi thứ, Ngài Vô Trước nói: Kim Cương khó hoại; và cũng nói: Kim Cương năng đoạn (có khả năng chặt đứt) hay nói: Kim Cương chắc nhuyễn. Nhuyễn là nhân của trí, cứng chắc không thể hoại nên dùng cứng chắc dụ cho thể Bát Nhã; sắc bén dụ cho Dụng của Bát Nhã. Ngoài ra, Ngài Chân Đế ghi nhận nêu lên 6 màu Kim Cương như:

1. Màu Xanh hay dứt tai ách, dụ Bát Nhã hay trừ nghiệp chướng

2. Màu Vàng tùy người cần dùng, dụ cho công đức vô lậu (5)

3. Màu Đỏ đối ánh mặt trời phát hỏa, tuệ đối bản giác phát vô sanh trí

4. Màu Trắng có thể làm trong nước đục, Bát Nhã có thể làm sạch nghi vấn

5. Màu hư không khiến có người đi đứng giữa hư không, tuệ phá pháp chấp như đứng giữa không trung

6. Màu Biếc (Bích Ngọc) hay trừ các chất độc, tuệ trừ 3 độc (6) sát cạnh gần nhau; không phải dụ bản chất của rắn sắc.

Bát Nhã dịch nghĩa chính là tuệ, là chiếu soi 5 uẩn không, tương ứng với tuệ của bổn giác. Nếu phỏng theo kiến thức từ cạn đến sâu để nói thì bao hàm Văn-Tư-Tu ba huệ, nói chung là Bát Nhã.

Ngài Vô Trước nói: “năng đoạn”, tức nơi Bát Nhã ba la mật Văn Tư Tu là sở đoạn, như Kim Cương chặt đứt những gì có thể chặt được. Lại nói: nhuyễn là nhân của trí mà trí nhân tức là huệ vậy. Theo Trí Độ luận: nhân gọi là Bát Nhã; quả gọi là trí, thì văn-tư-tu đều gọi là tế (nhuyễn). Huệ của vi diệu là nhân Phật trí. Bát Nhã hay cắt đứt nên ở trong nhân; Phật quả không đoạn mà chuyển thành trí. Nếu dựa Đại Phẩm Kinh như hai từ trí tuệ có 2 nghĩa, nên trí và tuệ có chút ít sai biệt, nhưng thể tánh không khác.

Ba La Mật: Trung Hoa dịch là bờ kia đến, phải gọi là đến bờ kia, có nghĩa là nên lìa bờ sanh tử bên này, qua dòng phiền não, đến bờ Niết Bàn bên kia. Niết Bàn Trung Hoa dịch là viên tịch hay cũng gọi là diệt độ (7). Hết thảy chúng sanh tướng vắng lặng, nhưng lại không diệt, chỉ do mê, điên đảo, vọng thấy sanh tử nên nói ở bờ bên này. Như ngộ sanh tử là không, bản chất viên minh là đến bờ kia nên phải nói là tuệ đạt đến bờ kia.

***

I. Thứ nhứt: Phần tựa

Kinh phần tựa có phân thành hai: tựa chứng tín và tựa phát khởi.

 Đây nói về tựa chứng tín:

“Ta nghe như vầy, một thời Phật tại nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ của Cấp Cô Độc, cùng chúng đại Tỳ Kheo (8) là 1,250 vị dự hội.”

 Đoạn này có 3 ý:

1) Trước hết nêu rõ nhân kiến lập thời Phật lúc sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan thưa hỏi 4 việc. Đức Phật theo mỗi việc mà trả lời, như sau khi Phật diệt độ lấy pháp gì nương tựa, ai làm Thầy?

-Nương pháp Bốn Niệm Xứ (9) an trụ

-Lấy giới luật làm Thầy, và phải làm sao với những Tỳ Kheo phạm giới? Nơi đầu các Kinh đề gì?

-Phải tẩn xuất (mời ra) các ác Tỳ Kheo

-Nơi đầu các Kinh đều để câu “Ta nghe như vầy, một thời Phật tại (nơi nào) cùng với số chúng (bao nhiêu người) như thế v.v…

2) Nêu rõ việc kiến lập. Có 3 ý:

a) Dứt trừ nghi, khi kết tập Kinh điển Ngài A Nan thăng lên tòa ngồi muốn tuyên dương Phật pháp chiêu cảm được thân tướng tốt như Phật, chúng hội có 3 điểm nghi:

-Nghi Phật sống lại thuyết pháp

-Nghi Đức Phật cõi khác tới

-Nghi A Nan thành Phật

nên phải nói để chấm dứt 3 điểm nghi nầy.

b) Chấm dứt tranh luận: nếu không phải nghe từ Phật, bảo tự tạo ra thời có tranh luận.

c) Khác với tà: không như các Kinh ngoại đạo nơi đầu quyển để A, ưu v.v. …

3) Giải thích văn Kinh. Có 6 pháp thành tựu như: tín thành tựu, thời thành tựu, xứ (nơi chốn) thành tựu, văn thành tựu (pháp), chúng thành tựu (chúng hội), chủ thành tựu. Không đủ 6 pháp chứng tín pháp giáo hỏa không thành, ắt phải cho đầy đủ cả 6 mới thành tựu được.

1. Tín thành tựu nếu kiêm luôn “tôi nghe” nhập chung giải thích là từ để chỉ pháp, Pháp như vậy tôi nghe từ Phật. Giải riêng Như Thị: như Trí Độ luận nói rằng là tín thành tựu. Phật pháp mênh mông như đại hải, tin mới có thể vào, hiểu mới có thể độ. Người tin nói là việc như thế; người không tin cho rằng việc không phải như vậy. Lại nữa, Thánh nhân thuyết pháp chỉ hiển bày NHƯ, chỉ NHƯ là thế nên xưng NHƯ THỊ. Lại Hữu – Vô bất nhị (không hai) là NHƯ NHƯ, không Hữu – Vô là THỊ.

1. Thời thành tựu: Tư cách vị thầy nói thích hợp, nghe rốt ráo nên nói nhứt thời. Thời giờ ở mỗi nơi không giống nhau nên chỉ nói một thuở. Lại lúc thuyết và lãnh hội pháp, tâm cảnh thuận lý, dung hợp trí, phàm thánh hiệp nhau, cả hai gặp nhau trong một thời.

2. Xứ thành tựu: Xá Vệ, Trung Hoa dịch là Văn Vật, có nghĩa là có đủ báu vật, nhân tài mà các nước khác ở xa đều nghe danh. Ngài Nghĩa Tịnh dịch là Đại Thành. Kỳ Thọ tức là vườn của thái tử Kỳ Đà cúng dường; trưởng giả Cấp Cô Độc mua khu vườn của thái tử. Kỳ Đà Trung Hoa dịch là Chiến Thắng, là thái tử con vua Ba Tư Nặc. Khi sanh thái tử nhà vua chiến thắng được giặc ngoại xâm, nhân đó đặt tên con như thế. Tiếng Phạn là Tu Đạt Trung Hoa gọi là Thiện Thí, Cấp Cô Độc tức là Thiện Thí vậy. Ngoài ra, ông cũng thường làm việc bố thí nên gọi như thế. Ấn Độ gọi chùa là Tăng Già Lam, Trung Hoa gọi là chúng viên, nơi tăng chúng ở tu học.

3. Văn thành tựu: “Tôi” tức là A Nan mượn 5 uẩn xưng. Văn có nghĩa nhỉ căn phát ra cái biết, bỏ riêng theo chung nên nói “tôi nghe”. A Nan không nghe Kinh Phật thuyết trước đó 20 năm, nên cầu Phật nói lại, khi nghe liền nhập sâu trong tam muội thu nhận hết. Nếu suy gốc mà nói thì A Nan là quyền đại Bồ Tát , pháp gì chẳng thông hiểu.

4. Chúng thành tựu: chúng hội nghe pháp gồm có nhiều vị cao đức gọi là đại. Tỳ Kheo là tiếng Phạn, Trung Hoa hàm có 3 nghĩa nên để nguyên không dịch: a) Bố ma, b) Khất sĩ, c) Tịnh giới. Chúng gồm có lý hòa và sự hòa; 1,250 người trong số lúc Phật mới thành đạo độ cho 5 anh em ông Kiều Trần Như, tiếp theo Phật độ cho 3 anh em Ngài Ca Diếp gồm cả thầy trò là 1,000 người. Sau Phật độ ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên mỗi vị có 100 đồ đệ. Kế Phật độ cha con ông trưởng giả Da Xá gồm 50 người. Kinh nêu số nhiều nên bỏ mất 5 người. Đây là số chẵn thường theo Phật được nêu lên chứ không phải ngoài ra không còn nữa .

6. Chủ Thành Tựu: nói đủ là Phật Đà, Trung Hoa dịch là giác giả (bậc giác ngộ). Luận Khởi Tín ghi rằng, nói giác nghĩa là tâm lìa niệm, tướng lià niệm ấy sánh như hư không, tức là pháp thân Như Lai bình đẳng, thời lấy vô niệm gọi đó là Phật. Song giác có 3 nghĩa:

a) Tự giác: biết tâm vốn không sanh biệt

b) Giác tha: biết hết thảy mọi pháp không KHÔNG là NHƯ.

c) Giác hạnh viên mãn: hai phần trên lý viên dung nên gọi viên mãn.

Cho nên Hữu niệm thì không gọi là giác được. Luận Khởi Tín ghi rằng, không gọi tất cả chúng sanh là giác được, vì từ vô thỉ trở lại niệm niệm tiếp nối nhau chưa hề lìa niệm. Lại cũng nói rằng, nếu có chúng sanh hay quán vô niệm là nhắm hướng Phật trí vậy.

-Tựa phát khởi: như oai nghi của việc khất thực xa hẳn tà mạng (10) đó là giữ giới. Giới hay sanh định, định hay phát huệ. Nên lấy giới, định phát trí tuệ là phần chánh, trong đó có 2: giới và định. Trước hết nói về giới “Lúc bấy giờ tới giờ ăn Đức Thế Tôn đắp y, mang bát vào đại thành Xá Vệ khất thực. Trong thành Phật đi khất thực theo thứ tự (11), khất thực xong về lại chỗ cũ”. Đoạn này chia thành 7 tiết đề giải thích như sau:

1) Hóa chủ – chỉ Đức Phật: Thành Thật luận rằng, có đủ 9 danh hiệu trên được người vật nể kính nên gọi Thế Tôn, tức là Phật được cả chư Thiên và nhân gian cùng tôn kính.

2) Hóa thời – thời điểm du hóa: Buổi sáng là lúc đi khất thực thuận tiện nhất, vì là phần đầu ngày đi xin dễ hơn, không phiền cho mình và người khác. Khất thực xong trở về tịnh xá là đúng ngọ theo phép thọ trai hằng ngày.

3) Hóa nghi: Phật đắp y Tăng già lê (12) và mang bình bát của Tứ Thiên vương hiến cúng (nghi cách hay dung nghi).

4) Hóa xứ: vườn Cấp Cô Độc ở hướng Đông Nam của thành Xá Vệ nên vào trong thành, cách thành 56 dặm (khoảng cách từ tịnh xá tới thành Xá Vệ): từ trong đi ra ngoài là vào; nơi chốn rộng, người đông gọi là đại.

5) Hóa sự: Phật vì muốn chỉ bày công đức hạnh đầu đà

(13) làm cho những kẻ sống buông lung hổ trẽn. Vì đồng sự nhiếp hóa nên Phật tự đi khất thực.

Kinh Anh Lạc Nữ ghi: hóa Phật thân như toàn bằng kim cương, vô sanh thuần thục nhị tạng, nay Phật hiện thân khất thực là muốn lợi lạc hữu tình. Kinh Tịnh Danh ghi: vì không ăn nên phải thọ thức ăn.

6) Hóa đẳng (bình đẳng):

i)do trong chứng lý bình đẳng, ngoài không thấy tướng nghèo giàu

ii) Tâm lìa tham, mạn do lòng từ không lợi riêng tư

iii) Bày tỏ oai đức: không sợ voi dữ, tửu quán, dâm phòng v.v…

iv) Muốn dứt tâm ganh tỵ của phàm phu

v) Phá chấp phân biệt của nhị thừa

7) Hóa chung: song tự nghĩa thuộc câu văn dưới liên quan tới câu trên. Nghĩa chữ ăn cơm thuộc câu văn trên mà văn mạch có liên hệ câu dưới. Như văn giải rộng phải là trong câu cho hoàn bị, nên nói rằng, theo thứ lớp khất thực xong về lại chỗ cũ dùng cơm. Dùng xong dọn dẹp y bát. Nếu Phật không ăn phước người khác không hoàn mãn. Kinh Bảo Vân ghi rằng, theo chỗ xin được phân ra thành 4 phần:

i) chia cho người đồng tu

ii) đem cho người nghèo kẻ bịnh

iii) cho loài chim cá ăn

iv) tự dùng.

Kinh 12 hạnh đầu đà chỉ nêu 3 phần không có người đồng tu. Thiền định: “Thọ trai xong thu dọn y bát, rửa chân rồi Phật trải tọa cụ ngồi Thiền”. Đoạn này chia thành 3 phần:

1) Duyên phát khởi: sắp muốn nhập định phải dứt các duyên. Phải dọn dẹp y bát cho tâm khỏi bận lo nghĩ, cho nên Phật thể hiện làm sau qui tắc (dùng hay thọ trai), cất y Tăng già lê ( đại y) mặc y thường (y 7 điều)

2) Thân thanh tịnh: Kinh A Hàm ghi rằng, Phật đi cách đất 4 lóng tay, chân b ước trên hoa sen. Nay biểu hiện rửa chân, thuận theo thường tục là khuôn phép.

3) Nhập thiền định: trải tọa cụ ngồi thiền, do thân ngay thẳng nên tâm không dao động.

Bản dịch đời Ngụy gọi rằng, như thường trải tọa cụ ngồi Kiết già, ngồi ngay ngắn trụ chánh niệm không dao động.

Bản đời Đường ghi rằng, thân ngay nguyện chánh an trụ đối diện niệm. Ngài Vô Trước nói: hiển bày chỉ sự an tịnh, nơi đó hay giác hay thuyết. Song bậc đại giác lưu dấu hẳn có sự biểu tỏ, biểu hiện Phật bản giác đều ở nơi thân 5 uẩn. Biết quân ma vốn không tức là chiến thắng; soi tâm biết có đầy đủ đức là cấp dưỡng kẻ thế cô; cầu pháp nuôi thần vì chúng khất thực. Biết tâm đã phát thà bỏ cảnh trần, sắp muốn Tưởng quán bèn nhập tâm tạng thức, tâm duyên pháp đếm hơi thở, tuần tự suy tư dứt vọng còn chơn đều được pháp lạc. Pháp an lạc vô không tướng dung hợp tánh giác, nghĩ tới giả duyên hẳn quên duyên hợp theo chân tánh. Quán xét soi tỏ là chứng tỏ quét sạch dấu vết phản bổn hoàn nguyên (quay về lại nguồn cội).

Quay về lại nguồn cội là pháp KHÔNG tâm lắng; tâm lắng tức là bát nhã sáng làu. Muốn luận Bát Nhã nên chánh tâm như thế biểu lộ phát khởi.

Sách Tư Thánh ghi, luận về thân có 2 phần: a) Giả b) Chân.

a) Năm uẩn (14) không thật thân giả: áo quần, ăn uống để nuôi sống. Pháp thân vô tướng do trí tuệ chiếu soi. Chúng sanh bảo thủ không thật cho là chân; chư Phật dưỡng chân bỏ ngụy.

b) Chúng sanh vì mê chân nên chấp giả. Như Lai bèn mượn giả mà dẫn tới chân, cho nên mượn duyên khất thực để bày Pháp thí giáo hóa.

Kinh Niết Bàn ghi: Tỳ Kheo các con, tuy đi khất thực nhưng trước chưa từng xin pháp thực Đại Thừa.

***

II. Phần chánh tông

Phần này phân thành 2:

a) Dựa theo ngài Vô Trước nêu 7 loại nghĩa câu để phê phán và

b) Dựa theo ngài Thế Thân hỏi đáp dứt nghi, chọn đề mục giải thích.

A. Bảy loại nghĩa câu ấy là: 1) Chủng tánh không mất như hộ niệm phó chúc 2) Phát khởi hành tướng: do thỉnh mà được hứa khả tán thán 3) Trú xứ để tu tập: 18 trú xứ. Từ Phật thuyết… thẳng tới chỗ chấm dứt Kinh là trụ xứ vô tướng để tu tập 4) Đối trị: nơi mỗi xứ đều có đủ tà hạnh, cũng như chánh hạnh là hai loại cần phải đối trị

5) Chẳng mất: vì đối trị nên tránh được hai bên tăng hay giảm nên không mất trung đạo

6) Phẩm vị: do không mất trung đạo đạt được vị thánh hiền như Tín hành địa, Tịnh Tâm địa, Như Lai địa

7) Thành lập danh: do 6 trí tuệ trước sắc bén phước địa rộng hẹp khác nhau, nên gọi là Kim Cương.

Bốn câu sau chỉ dựa theo câu 3 về 18 trụ xứ để nói mà không có Kinh riêng khác. Mười tám trụ xứ đó là:

1. Phát tâm trụ Dẫn Kinh: nên hàng phục tâm như thế, như có hết thảy…

2. Trụ hạnh Ba la mật tương ưng: như không trụ sắc, thanh bố thí

一 Muốn đạt sắc thân trụ

一 Muốn đạt pháp thân trụ: pháp thân có hai: a) pháp thân qua ngôn thuyết: vã có chúng

sanh….nhân lời nói mà rõ lý b) chứng đắc pháp thân, trong đây lại phân thành 2:

-trí tướng: Phật đắc vô thượng Bồ Đề, và

-phước tướng: nếu có người đem bảy báu đầy cõi ba ngàn v.v…

5. Tu tập đạt đạo thắng vô mạn trụ: quả tu Đà Hoàn vv… từ đây tới trụ xứ 16, theo như thứ tự đối trị 12 loại chướng ngăn. Ý nói rõ muốn cầu sắc thân, pháp thân, phải lìa những món chướng này. Chướng trừ dứt mới vào địa thứ 17: chứng đạo trụ. Nay đang đối trị mạn chướng thứ nhất.

1. Không lìa thời Phật trụ thế: Ngày trước chỗ Phật Nhiên Đăng: lìa chướng thứ 2: ít nghe. Không xa rời khi Phật ở đời thì được nghe nhiều.

2. Mong tịnh Phật quốc độ trụ: Bồ Tát có trang nghiêm Phật độ không? Lìa dứt phan duyên ít lại nghĩ chướng việc tu tập. Duyên có hình tướng thì nhỏ, vô duyên thì lớn, hợp cõi pháp giới.

8) Thành thục chúng sanh trụ: thân người to lớn như núi Tu Di… Lìa bỏ chúng sanh chướng. Nếu thấy có lớn nhỏ là không thể cứu tế mọi loài được.

9) Xa hẳn tin theo ngoại luận tán loạn trụ: như trong sông Hằng có nhiều cát. Xa lìa ưa theo ngoại luận là ngăn chướng tán loạn. Bố thí của báu như cát sông Hằng cũng không bằng thọ trì Kinh. Làm thế nào ngoại đạo có thể tu chánh pháp.

1. Sắc và thân chúng sanh nắm lấy được Trung Quán phá tương ưng hành trụ: ba ngàn thế giới có những vi trần, v.v… lìa phá ảnh hình tướng trạng không khéo liền ngăn chướng; đã lìa tán loạn tương ứng định. Vì vi tế không nghĩ tới hai loại phương tiện, phá từ thô tới tế, đưa từ tế tới không thì trừ dứt được tướng tưởng của ảnh tượng.

2. Cúng dường hầu hạ Như Lai trụ: có thể dùng 32 tướng thấy Như Lai không? Đây là xa lìa phước đức tư lương chướng không đầy đủ; không thể lấy tướng thấy luôn thấy pháp thân chính là cung cấp hầu hạ được phước vô biên.

3. Xa hẳn lợi dưỡng và khổ não chán lười, nên không phát tinh tấn và thoái thất trụ: đem thân mạng như cát sông Hằng bố thí, xa lìa vị ham đắm và chướng lợi dưỡng (15). Đem thân mạng như cát sông Hằng bố thí vẫn còn kém hơn việc thọ trì Kinh. Há vì một thân này mà đắm trước lợi dưỡng; thân bị tâm chướng mà biếng trễ sao?

1. Trụ trong nhẫn khổ: nhẫn ba la mật, dứt tiệt thân, lìa chướng không khả năng nhẫn khổ. Tướng vô ngã, vv… chồng chất khổ vẫn hay nhẫn.

2. Xa lìa tịch tịnh vị trụ: nếu có người đối với Kinh này ở đời sau mà thọ trì, đọc tụng vv… lìa trí tư lương chướng không đầy đủ. Một ngày ba thời xả thân trải qua vô số kiếp cũng không bằng tin Kinh. Làm sao chỉ chuyên thiền định đắm vị vắng lặng, thiếu trí tuệ mà không thọ trì thuyết Kinh?

3. Lúc chứng đạo xa lìa hỷ động trụ: làm thế nào an trụ hàng phục tâm? Xa lìa ngăn chướng thứ 11, không tự nhiếp phục. Ta hay trụ tâm, hàng phục tâm bèn sanh vui rộn, rộn thời không thể tự nhiếp phục.

4. Cầu Phật giáo thọ trụ: ở chỗ Phật Nhiên Đăng có Pháp gì đạt Bồ Đề không? Xa lìa ngăn chướng thứ 12 không thầy dạy. Muốn vào sơ địa cần Phật dạy dỗ nương theo gặp Phật đạt vô sở đắc mà chứng đạo.

5. Chứng đạo trụ: thân người to lớn bao hàm chủng tánh trí chứng chân như biến hành đạt đến hai thân: pháp-báo, nên là to lớn.

6. Trên cầu Phật địa trụ: trong đó lại có 6 thứ cụ túc như:

1. Quốc độ tịnh cụ túc: Ta đương trang nghiêm cõi Phật. Đây dạy hàng nhị địa trở lên chư đại Bồ Tát

1. Tri kiến thấy vô thượng thanh tịnh cụ túc: Như Lai có nhục nhãn không? Phần sau đây duy chỉ Phật quả nên nói vô thượng. Nói vô thượng quán thông 4 phần ở dưới

2. Phước đầy đủ tự tại: như có người đem thất bảo bố thí đầy cõi 3 ngàn thế giới

3. Thân cụ túc: Phật có thể dùng sắc thân cụ túc thấy chăng?

4. Lời nói cụ túc: Ngươi (Thầy) đừng nên cho rằng Như Lai nói pháp

6) Tâm cụ túc: Phật đạt vô thượng Bồ Đề là vô sở đắc chăng… cho đến: nên quán sát như thế. Ngoài ra 18 trụ lược còn lại 8 loại cũng đầy đủ như:

a) Nhiếp trụ xứ

b) Ba La mật định trụ, gồm 1 & 2

c) Dục trụ xứ, bao hàm 3 & 4

d) Lìa chướng ngại trụ xứ, tức là 12 chướng nói trên, từ 5 đến 16

e) Tịnh tâm trụ xứ

f) Cứu cánh (rốt ráo) trụ xứ. Số5 & 6 trên hợp với 17 & 18

g) Quảng đại trụ xứ

h) Thậm thâm trụ xứ. Số 7 & 8 bao hàm trụ xứ 18. Mỗi một trụ xứ đều sâu và rộng. 18 trụ xứ phối hợp các địa: trụ thứ nhất, thứ 10, hạnh thứ 20 nơi địa tiền số 6, hạnh thứ 7 địa thứ 4 sau 3 hạnh. Từ hạnh 5 đến 14 như thứ tự hợp với 10 hồi hướng, 15 là noãn đảnh, 16 là nhẫn, thế đệ nhứt, 17 sơ địa, 18 từ nhị địa đến Phật địa.

B. Dựa theo ngài Thế Thân hỏi đáp dứt nghi chọn đề mục giải thích: Tổng quát chia ra 4 đoạn:

1) Ngài Thiện Hiện thưa thỉnh

2) Tề chỉnh tán dương đức Phật

“Lúc đó trưởng lão Tu Bồ Đề ở giữa đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy để áo hở vai bên mặt, quì gối sát đất chấp tay cung kính bạch Phật rằng, hy hữu (hiếm hoi) thay Đức Thế Tôn, Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo phó chúc chư Bồ Tát”

Trưởng lão là người trọng đức, tuổi cao. Bản dịch đời Đường gọi là cụ thọ, thọ tức là mạng, thọ mạng dài lâu.

 Đời Ngụy dịch là huệ mạng, lấy huệ làm mạng. Tu Bồ Đề có 3 nghĩa: Thiện Kiết, Thiện Hiện, Không Sanh. Lúc sanh căn nhà trống không, hiện điềm lành của giải không. Tướng sư đoán rằng chỉ lành chỉ tốt, nên đặt tên như thế.

Từ chỗ ngồi đứng dậy…oai nghi chỉnh tề hiện tướng cung kính.

Hy hữu có nghĩa trong đời hiếm có.

Như Lai có nghĩa từ Như mà lại. Như lai ấy không từ đâu đến (vô sở tùng lai), cũng không đi đâu (diệc vô sở khứ) nên gọi là Như Lai.

Luận rằng: khéo hộ niệm, dựa theo Bồ Tát căn thuần thục mà nói, như cùng trí huệ lực làm cho thành tựu Phật pháp, cùng giáo hóa lực khiến nhiếp thọ chúng sanh. Khéo phó chúc, dựa theo Bồ Tát căn chưa thuần thục nói, sợ họ thoái tâm, giao phó cho người trí. Phó có nghĩa là giao nhỏ cho lớn; chúc tức là dặn bảo, lớn hóa nhỏ. Bồ Đề tát đỏa, Trung Hoa dịch là giác hữu tình, có 3 nghĩa:

1) Phỏng theo cảnh mong cầu mong độ

2) Dựa tâm có trí giác ngộ, biết suy tư những tình cảm

3) Dựa theo năng sở, năng cầu, sở cầu cả 3 đều NHƯ, kế hợp với giác và hữu tình, tức là Bồ Tát.

Nêu nghi vấn: làm thế nào trụ tâm ?

“Bạch Đức Thế Tôn, người thiện nam, tín nữ phát tâm vô thượng Bồ Đề, nên trụ tâm như thế nào?” và hàng phục tâm như thế nào?

Vấn đề có 2:

a) Giải thích đang cơ, Kinh Hoa Nghiêm ghi, bỏ mất Bồ Đề tâm tu các thiện nghiệp, bị ma nắm giữ. A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề, Trung Hoa dịch là vô Thượng Chánh biến tri giác, có nghĩa chánh trí biết khắp hiểu hết; chân tục không thiên, không tà.

b) Hỏi đúng. Bản dịch đời Ngụy rằng, phải nên trụ tâm thế nào? Phải hàng phục tâm ra sao? Ý nói rằng người đã phát tâm Bồ Đề trụ cảnh giới nào? Tu hạnh nghiệp gì? Nếu vọng tâm khởi làm sao hàng phục? Phật dạy nên an trụ 4 tâm, tu hạnh sáu độ, trong đó hàng phục tâm không chấp tướng. Bản dịch đời Tần giản lược ý tu hành như: trụ đạo tu hành tức là hàng phục tâm. Bốn tâm, sáu độ đều gọi là an trụ, tu hành, hàng phục. Ngài Vô Trước nói rằng, trụ có nghĩa muốn mong, tu hành tương ứng với thọ trì ( đẳng trì), hàng phục có nghĩa nếu tâm tán loạn chế hạn làm cho dừng lại. Ngoài ra trong 18 trụ xứ, mỗi trụ xứ đều lấy an trụ, tu hành, hàng phục giải thích, nên biết nghĩa tuy có 3 nhưng hạnh là 102 nên Phật tán thán.

“Phật dạy: Lành thay! Lành thay! Này tu Bồ Đề, như Thầy nói, là Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo phó chúc chư Bồ Tát. Nay thầy nên lắng nghe Như Lai vì Thầy mà thuyết. Này các thiện nam, tín nữ, phát tâm vô thượng Bồ Đề nên trụ tâm như vầy, nên hàng phục tâm như vầy.”

 Đoạn này chia ra 3 phần:

1) Phật tán dương chỗ đáng tán dương. Lặp lại: lành thay, lành thay, lời ca ngợi rất đẹp. Khéo hộ niệm, phó chúc nên làm cho hạt giống Phật không mất, việc đã hẳn nhiên, nên tán dương rằng, như Thầy đã nói.

2) Bảo nghe lời thuyết: không đem tâm hành sanh diệt để nghe pháp thật tướng. Luận Trí Độ có bài kệ:

Nghe pháp ngồi chăm như người khát

Nhất tâm để thấu đạt nghĩa lời

Phấn chấn nghe tâm vui hoan hỷ

Người như thế nói pháp hợp thời.

Ba lời khuyên tiêu biểu trình bày: Như Lai đang vì thầy như thế, như thế nhỏ nhẹ mà thuyết.

3) Ngài Thiện Hiện đứng nghe

“Thưa vâng, Đức Thế Tôn, con mong muốn nghe.”

Duy là lời thuận theo, đối với lễ gọi như thế, đối hoang dã (trống trải) gọi là gò, đống. Kinh Thập Địa ghi rằng: như người khát nghĩ tới nước uống, đói nghĩ tới ăn ngon, bịnh nghĩ tới thuốc hay; như đàn ong chuốt mật. Chúng ta cũng thế, mong nghe pháp cam lồ.

4) Như Lai giảng dạy có 2 phần:

a) đáp ngay câu hỏi

b) nêu chung chỉ riêng hỏi lặp lại

“Phật dạy này Tu Bồ Đề, chư Đại Bồ Tát phải hàng phục tâm như thế nào?. Đây nói hàng phục là điểm chung, an trụ, tu hành là nói riêng; như an trụ tu hành đã có sự hàng phục rồi. Ý kinh ở điểm này nên chỉ nêu có mục hàng phục. Đây chứng tỏ rằng nêu việc sau đã bao hàm việc trước khiến cho lời Kinh rất là ẩn tàng, lý làm điên đầu từ xưa lời dạy vừa lấy trước bao hàm sau mà chưa nghe lấy sau bao nhiếp trước, huống gì Kinh rõ ràng không trả lời riêng chỗ hàng phục, nên biết hàng phục có nơi an trụ tu hành, đều làm xa lìa tướng. Trả lời câu hỏi hàng phục, không trả lời riêng. Tôn chỉ Kinh này lìa tướng mà lìa tướng tức là hàng phục tâm. Ý chính muốn nêu rõ hàng phục tâm nên phải dựa theo an trụ tu hành mà hiển bày. An trụ, tu hành, hàng phục tâm vốn không lìa nhau, nên ngài Vô Trước cho rằng 18 trụ xứ đều có trụ tu hàng phục tâm vậy. Dựa riêng chỉ chung để trả lời câu hỏi có 2 ý: trả lời hỏi làm sao an trụ và hàng phục tâm.

-Tâm quảng đại (rộng lớn).

“Nơi có hết thảy các loài chúng sanh hoặc đẻ trứng, hoặc sanh bào thai, hoặc sanh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa sanh; hoặc có sắc, không sắc, có tưởng, không có tưởng, hoặc không có tưởng, không vô tưởng.” Đoạn trên chia thành 2:

a) Câu đầu tiêu biểu độ khắp ba cõi, hoặc loài đẻ trứng trở xuống… Nêu ra 3:

1) Thọ sanh khác nhau như sanh thiên, địa ngục, hóa sanh, ngạ quỷ, chung cả loài thai sanh, hóa nhơn, súc sanh mỗi loài có 4 mà những loài khác quá vi tế như ở dưới nước, trên cạn, đất liền, trên không, không thể nêu hết từng loại được. Loài đẻ trứng kém hơn nêu lên trước có 2 điểm:

a) Dựa theo cảnh đủ duyên nhiều làm đầu

b) Dựa tâm từ gốc tới ngọn là thứ

2) Y cứ sai biệt: hữu sắc có tứ thiền, vô sắc có 4 không

3) Cảnh giới sai biệt: Kinh Công Đức Thí ghi rằng, có tưởng thì không thức hai xứ; không tưởng thì không sở hữu xứ. Phi tưởng có đảnh, nhẫn, đệ nhất tâm. Tâm đệ nhất:

“Ta đều làm cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ đó, tức là Vô Trụ xứ Niết Bàn”.

Không chung nhị thừa nên gọi là đệ nhất. Ngài Vô Trước nói rằng, loài noãn sanh, thấp sanh vô tưởng có đảnh thì không thể được, tại sao nhập cùng có 3 nhân duyên:

1. Sanh chỗ nạn xứ đợi thời

2. Chẳng sanh chỗ nạn xứ do chưa thành thục làm cho thành thục

3. Đã thành thục làm cho được giải thoát

-Thường tâm:

“Như thế, diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh được diệt độ”.

Diệt độ có 5 nghĩa: 1) Tánh không

2) Đồng thể: luận nêu rằng tự thân diệt độ không khác với chúng sanh

3) Gốc vắng lặng

4) Vô niệm

5) Đồng như pháp giới.

– Tâm không điên đảo:

“Tại sao thế? Này Tu Bồ Đề, như Bồ Tát có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng, tức chẳng phải là Bồ Tát”.

Luận rằng, xa lìa chỗ nương thấy thân, có tướng chúng sanh v.v…

Ngài Vô Trước nói: đã đoạn ngã kiến thời tự hành tướng bình đẳng, tin hiểu rõ ta – người bình đẳng; biểu lộ nơi tâm đã hàng phục thu nhiếp tán loạn chúng sanh tưởng cũng không chuyển, như sức nóng bốc cháy.

Trả lời câu hỏi hàng phục tâm trước hết nói tổng quát:

“Lại nữa Tu Bồ Đề, Bồ Tát đối với pháp nên không chỗ trụ (bám, chấp) mà hành bố thí”.

 Đối với pháp là nói chung các pháp nên không có cao hạ mà tu hành. Hỏi Bồ Tát hành bố thí có chỗ trụ cầu tướng Phật, làm sao vô trụ? Ngoài ra, không trụ tướng là nhân đâu có thể cảm được sắc tướng là quả chứ?

Nhân quả không cùng loại, đoạn này chia làm 4 phần:

1) Trước tiên nêu câu hỏi về nhân:

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ thế nào, có thể nào dùng thân tướng thấy Như Lai không?”

 Đây nhân do lấy tướng cho là Phật nên đối với ở trước nói không trụ tướng nêu nghi vấn. Phật nêu nhân nghi vấn qua hỏi đáp là muốn trừ dứt nghi.

2) Đề phòng tướng đạt được để trả lời:

“Không thể, bạch Đức Thế Tôn, không thể dùng thân tướng thấy được Như Lai”. Ngăn ngừa người nghi muốn đem tướng cầu thấy được Phật nên trả lời rằng, không thể lấy tướng thấy được Như Lai.

Luận rằng, vì phòng ngăn tướng đạt thành thân Như Lai.

3) Thể khác với hữu vi:

“Tại sao? Vì Như Lai nói thân tướng tức chẳng phải là thân tướng”.

Tướng là pháp hữu vi trong sanh, trụ, dị, diệt. Thân tướng Phật khác hữu vi nên chẳng phải là thân tướng. Có câu kệ như sau: “Ba tướng khác thể nên thân Phật khác với ba tướng hữu vi”.

Hai tướng trụ, dị cùng ở hiện tại nên hiệp chung làm một. Nếu đem phân tích kỹ có 4 như Duy Thức luận rằng, “lúc sanh biểu lộ pháp này trước chẳng có, lúc diệt chứng tỏ pháp này sau là KHÔNG”.

Nói, “khác” chứng tỏ pháp này chẳng ngưng đọng (tụ), trụ biểu hiện pháp tạm có Dụng.

4) Phật thân vô tướng ấn:

“Phật dạy này Tu Bồ Đề, phàm hễ có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai”.

Không phải thân Phật vô tướng mà chỉ vì tất cả phàm thánh nương đó. Tướng hữu vi hoàn toàn là hư vọng, do nơi vọng niệm khởi hiện nên vọng niệm vốn không, làm gì có thật.

Luận Khởi Tín luận rằng, hết thảy các cảnh giới chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu là vọng niệm tức là không có tướng của các cảnh giới. Nếu thấy có các tướng… Khuyên nên lìa sắc quán KHÔNG, vì sợ nghe nói tướng đều là hư vọng. Ngoài ra, riêng cầu Phật vô tướng nên gọi tướng tức phi tướng ấy là Như Lai mà không phải chỉ có Phật hóa thân mới gọi Như Lai. Thấy hết thảy tướng tướng đều vô tướng tức là Như Lai.

Luận Khởi Tín luận rằng nói nghĩa giác như tâm lìa niệm, lìa nghĩ tướng vv… như hư không tức là pháp thân Như Lai bình đẳng.

Triệu pháp sư rằng: hạnh hợp thông rõ là thấy Phật. Có câu kệ rằng, lìa kia là Như Lai tức lìa 3 tướng là Pháp thân Như Phật. Không chấp đối với sắc thân chỉ lìa biến kế (chấp), không chấp sắc tướng mới thật sắc thân. Luận ấy cũng luận rằng, đây là hiển bày sắc thân Như Lai. Ngoài ra, đây mới là sắc thân muốn đạt ở trụ xứ thứ ba.

 Đoạn nhân quả thăm thẳm không tin nên khởi nghi. Luận rằng, không trụ hành bố thí là nhân sâu; vô tướng thấy Phật là quả sâu. Đời ác về sau hẳn không sanh niệm tin không thuyết làm sao lợi ích. Đoạn văn sau đây có 4: trước hết dựa theo không tin để nêu điểm nghi.

“Tu Bồ Đề bạch Phật rằng, bạch Đức Thế Tôn, vả có chúng sanh nghe được lời câu, chương kinh như thế mà sanh thật tin không? Bản dịch đời Ngụy rằng vả có chúng sanh trong đời vị lai, v.v.., ở đây lược câu này ảnh hưởng tới đời vị lai 500 năm sau. Câu đủ làm sai biệt chương Kinh và người hiểu câu văn là thật tin vậy. Đại Phẩm ghi rằng đối với tất cả pháp KHÔNG, tin là tin Bát Nhã, hai lời nghi trách để hiển tỏ niệm tin.

“Phật bảo này Tu Bồ Đề, chớ nói như thế, sau khi Như Lai tịch diệt 500 năm sau, có người giữ giới tu phước đối với câu chương Kinh này mà sanh tín tâm cho đây là thật. 500 năm sau theo Đại Tập cho rằng, 500 năm đầu là giải thoát kiên cố, 500 năm thứ hai là thiền định kiên cố, 500 năm thứ ba là đa văn kiên cố, 500 thứ tư là tháp tự kiên cố, 500 năm thứ năm là đấu tranh kiên cố, như hai câu đầu đã nêu nghi vấn căn bản. Đời không tin nên nói là ác thế để dứt mối nghi. Trì giới tu phước có nghĩa giữ giới tu định; cho đây là thật tức là hiểu đúng không sai lầm.

Ngài Vô Trước nói rằng, tăng thượng giới 3 bậc học biểu hiện hạnh tu ít ham muốn có công đức. Giữ giới thoát 3 đường khổ, tu định khỏi bị sáu món dục sai sử, dụng huệ lìa khỏi ba cõi. Ba minh phát niệm tin có 2 ý:

a) Thân cận thiện hữu tích tập nhân tin

“Nên biết người này không phải nơi một Đức Phật, hai Đức Phật, 3 Đức Phật, 4 Đức Phật, 5 Đức Phật mà đã gieo trồng thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn Đức Phật. Gieo trồng căn lành nghe Kinh cho chí một niệm sanh niệm tin thanh tịnh.

Ngài Vô Trước nói rằng, hiển bày nhân đã gieo nơi nhiều các Đức Phật lâu dài, thân cận thiện hữu là duyên thù thắng. Gieo trồng thiện căn tức đã hàng phục 3 độc là nhân thù thắng.

b) Thiện hữu kể cả đã có đủ đức tin, gồm có phước biểu lộ phước đức.

“Này Tu Bồ Đề, Như Lai ắt biết, ắt thấy những chúng sanh đạt được vô lượng phước đức”.

Ngài Vô Trước nói: đối với tất cả việc đi đứng chỗ tạo tác mà biết rõ tâm mình. Bốn uẩn thấy đều nương sắc thân nên ở đây hiển bày thiện hữu bao hàm cả.

Luận rằng, nếu không nói thấy hay nói Như Lai lấy trí so sánh đây để biết. Nếu không nói biết hoặc cho rằng Như Lai dùng nhục nhãn thấy nên phải có 2 từ phước đức.

Bản dịch đời Ngụy rằng, sanh phước đức như thế, thủ phước đức như thế.

Luận rằng, sanh ấy là hay sanh cái nhân, thủ ấy huân tu là quả.

Ngài Vô Trước nói: sanh tức phước sanh lúc hiện hữu: chấp có nghĩa hành giả khi chết mang theo chủng tử, nhưng ở đây gọi là được. Sanh chấp 2 nghĩa không rời với đắc ( được); đắc một chữ sanh chấp đều bao hàm. Nên rõ nhiếp thọ do hiển bày trí huệ. Do không có hai chấp nên được nhiếp thọ. Đoạn sau có 2 ý:

Trước hết nêu rõ đã đoạn chấp thô:

“Tại sao thế? Là vì chúng sanh không có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng; không pháp tướng, cũng không phi pháp tướng”. Trước hết trưng dẫn tin, do nghĩa gì được Như Lai ắt biết ắt thấy…?

Sau giải thích trong 2 ý:

a) Không chấp ngã tức chấp tự thể làm ngã. Kể cái NGÃ lần lượt chuyển sanh nơi cõi khác được làm người. Nào ngã thạnh suy, vui khổ qua nhiều dạng thay đổi liên tục là chúng sanh cho rằng ngã là một báo thân, căn không mất còn tồn tại là thọ mạng.

b) Không chấp pháp, luận rằng, không pháp tướng, năng chấp sở chấp hết thảy pháp KHÔNG; cũng không phi pháp tướng. Vô ngã là chân không thật hữu, song lìa hai chấp là đạt được tri kiến Phật, thành tựu phước đức thiện căn gốc của tịnh tín, từ bỏ luôn cả tướng vậy. Luận rằng, có trí tuệ liền đủ sao còn nói công đức giữ giới. Dựa tín tâm cung kính hay sanh thật tướng nên không chỉ nói 2 nhân bát nhã mà còn hiển lộ chấp vi tế chưa trừ dứt.

“Tại sao thế? Vì những chúng sanh nếu tâm chấp tướng thời chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng. Nếu chấp pháp tướng tức là chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng. Tại sao? Nếu chấp phi pháp tướng tức chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng. Nếu tâm chấp trở xuống…”

Nêu chung 2 tướng nên hiểu là hai tướng chấp pháp, phi pháp đều gọi là tướng. Cũng như việc thiết lập chấp tướng thì các tướng ngã, v.v… liền thành tông nghĩa. Nếu chấp pháp trở đi…nêu riêng 2 tướng.

Luận rằng, chỉ vô minh sai sử không hiện phiền não thô biểu hiện không ngã kiến.

Ngài Vô Trước nói rằng, chỉ chấp pháp và tướng thay đổi phi pháp, không phải ngã, vv…tưởng nên nương tựa không đổi. Trong đó có trưng dẫn: chấp pháp chỉ là pháp tướng, tại sao lại chấp ngã, v.v…?

Giải rằng: chấp không pháp cũng là chấp ngã, v.v… huống gì còn chấp pháp đem sau giải thích trước.

4) Nêu rõ thâm nghĩa trung đạo:

“Vì thế, không nên chấp pháp, cũng không nên chấp phi pháp. Vì nghĩa ấy cho nên Như Lai thường nói: Tỳ Kheo các con, phải biết Ta nói pháp dụ như chiếc bè. Pháp còn phải xả huống gì là phi pháp”.

Trước qui nạp sau dẫn thí dụ. Lấy thí dụ chiếc bè để chứng minh, mượn lời hiển tỏ ý nghĩa, không nên vin lời chấp nghĩa. Không chấp tức là chẳng thủ chứ không phải hoàn toàn bỏ hết. Có câu kệ rằng: kia không trụ tùy thuận nơi pháp chứng trí.

Luận giải thích rằng, không trụ là đạt được trí, bỏ pháp NHƯ đến được bờ kia; tùy thuận pháp đã chứng trí nên như chưa tới bờ.

Ngài Vô Trước nói: pháp còn phải bỏ tức là thật tướng; huống gì phi pháp là hợp lý KHÔNG, nên 3 đoạn trừ dứt vô tướng sao còn nêu vấn nghi nữa? Luận rằng: nhắm không thể dùng tướng thấy Phật, vì Phật chẳng phải tướng hữu vi, tại sao Đức Phật Thích Ca đắc vô thượng Bồ Đề? Tại sao có thuyết pháp?

 Đoạn sau có 2 ý: hỏi đáp, đoạn nghi. Nêu nhân đề hỏi:

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? Như Lai có đạt được Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác không? Như Lai có thuyết pháp không?”

Phật hỏi có đắc không? Ý chỉ rõ không đạt được. Ngài Vô Trước nói rằng, chỉ rõ phiên dịch đối với chấp chánh giác nên có 2 theo lý để đáp.

“Tu Bồ Đề thưa, theo chỗ con hiểu nghĩa Phật nói, không có định pháp gọi Vô Thượng Chánh đẳng chánh giác. Cũng không có định pháp Như Lai thuyết”.

Có câu kệ rằng, “ứng hóa thân chẳng phải là chân Phật, cũng chẳng có thuyết pháp”, giải thích lời pháp vô định.

“Tại sao thế? Vì Như Lai nói pháp đều không thể chấp, không thể thuyết; chẳng pháp không phải chẳng pháp”.

Ngài Vô Trước nói rằng, không thể chấp như ngay lúc nghe; chẳng pháp là tánh phân biệt nên không phải chẳng pháp. Pháp như lý vô ngã nên luận rằng, pháp ấy chẳng pháp, không phải chẳng pháp. Dựa theo Chân Như mà nói thì chẳng pháp, vì tất cả các pháp không thể, tướng nên không phải chẳng pháp. Chân Như ấy vô ngã, thật tướng hữu, tại sao chỉ nói thuyết không nói chứng? Có người nói thuyết ấy tức thành nghĩa chứng. Nếu không chứng thời không thể thuyết.

Giải lý do của không chấp thuyết:

“Tại vì sao thế? Vì hết thảy hiền thánh đều vì pháp vô vi mà có sai biệt”.

Bản dịch đời Ngụy rằng, tất cả thánh nhân đều do pháp vô vi mà đạt được danh. Ý luận nói rằng thánh nhân chỉ nương chân như thanh tịnh mà có tên, không đắc pháp riêng nên không chấp thuyết mà có sai biệt như luận rằng, chân như hoàn toàn thanh tịnh đích thực thanh tịnh.

Ngài Vô Trước cho rằng, vô vi là nghĩa không phân biệt, vì thế Bồ Tát hữu học đạt danh. Trước hết trừ diệt tán loạn là vô vi hiển bày, cho nên sau vô vi chỉ đệ nhứt nghĩa

(16) là vô thượng giác. Các bậc hiền thánh tam thừa đều tu chứng pháp vô vi nên nói chung là có sai biệt.

So sánh bày chỗ hơn có 4 ý: 1) trước hết nêu phước ít để hỏi.

“Này Tu Bồ Đề, ý thầy nghĩ thế nào? Nếu có người đem bảy báu đầy cõi ba ngàn đại thiên dùng bố thí, người ấy được công đức có nhiều không?”

Luận Câu Xá có bài kệ rằng:

Trời trăng bốn châu lớn ở thế gian

Lục dục, Phạm Thế mỗi cõi một ngàn

 Đó là một tiểu thiên giới

lấy 1000 tiểu thiên giới này

nhân lên thành một trung thiên giới.

 Đem 1000 trung thiên giới

Nhân lên thành một đại thiên

Thế giới đều thành một kiếp hoại.

Bảy thứ báu đó là vàng, bạc, lưu ly, san hô, mã não, xích châu, pha lê.

2) Nêu phước nhiều để trả lời:

“Tu Bồ Đề thưa, rất nhiều bạch Đức Thế Tôn. Tại sao? Vì phước đức tức phi tánh phước đức, vì thế Như Lai nói phước đức nhiều”.

Ngài Vô Trước nói rằng, phước đức được lặp lại; tức chẳng phải dựa theo thắng nghĩa không. Vì thế, dựa theo thế tục là Hữu.

3) Kinh ghi nhận phước vượt hơn hẳn: “Nếu lại có người đối với Kinh này mà thọ trì nhẫn đến 4 câu kệ, v.v… vì người mà diễn giảng phước người này hơn người bố thí kia”.

Có bài kệ rằng:

Thọ trì và giảng pháp

Chẳng không với phước đức

Phước chẳng đến Bồ Đề

Cả hai hướng về giác.

Bài kệ chỉ với 4 câu ý nghĩa chính xác trọn vẹn là thành bài kệ. Phàm hễ có tướng, đều là hư vọng, như thấy các tướng phi tướng tức thấy Như Lai, nghĩa này thật hết sức huyền diệu. Nhưng chỉ có nghĩa thấy 4 câu kệ, còn thọ trì, thuyết giảng tức đạt tới Bồ Đề. Một bài kệ không nhất thiết là 4 câu, văn có thể tăng hơn hay giảm ít mà nghĩa trọn vẹn thì vẫn gọi là kệ.

4) Giải thích nguyên do vượt thắng

“Tại sao? Này Tu Bồ Đề tất cả chư Phật và pháp chư Phật đạt tới Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều từ Kinh này mà ra”.

Chư Phật và giáo pháp, luận rằng, gọi là pháp thân, đối với pháp thân đó đây phân thành hai liễu nhân. Hết thảy chư Phật tức là báo thân Phật, luận rằng đây là sanh nhân.

“Này Tu Bồ Đề, chỗ gọi Phật pháp ấy tức chẳng phải Phật pháp. Trong đệ nhất nghĩa không có Phật pháp xuất phát từ Kinh”.

 Đoạn trừ chấp đạt 4 quả Thanh Văn lấy đó nghi vấn. Luận rằng, hướng về thánh nhân và pháp vô vi không thể chấp

217

thuyết, tại sao Thanh Văn có chấp các quả? Chứng Như nên thuyết trong đoạn văn có 4 ý, trước nêu:

1) Quả nhập lưu

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ thế nào? Tu Đà Hoàn hay niệm nghĩ: ta có đạt quả Tu Đà Hoàn không? Tu Bồ Đề thưa, Không, bạch Đức Thế Tôn. Tại sao? Tu Đà Hoàn gọi là nhập lưu mà không chỗ nhập. Không nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ấy gọi là Tu Đà Hoàn.

Tu Đà Hoàn Trung Hoa dịch là nhập lưu tức nhập vào dòng thánh nên cũng gọi là dự lưu, dự vào dòng Thánh nhân. Nhưng do không nhập 6 trần gọi là vào dòng Thánh mà không nhập nơi nào khác.

Luận rằng thánh nhân đắc quả KHÔNG không chấp một pháp, không chấp cảnh 6 trần gọi là ngược dòng, cho chí A La Hán không chấp một pháp. Do vì nghĩa đó nên gọi là A La Hán, song không phải chẳng chấp quả vô vi. Trong khi chứng đắc lìa chấp ngã, v.v… phiền não nên không có tâm như thế này: ta hay đắc quả. Nếu khởi tâm cho rằng ta hay đắc quả tức là chấp ngã, v.v… Nên biết rằng quả là nghĩa không chấp, sao còn nghi rằng có chấp.

2) Quả Nhứt lai

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? Tư Đà Hàm hay suy nghĩ rằng ta có đạt quả Tư Đà Hàm không? Tu Bồ Đề thưa, không bạch Đức Thế Tôn. Tại sao? Tư Đà Hàm còn một lần qua lại (nhân gian) mà sự thật không có vảng lai, gọi là Tư Đà Hàm.

Tư Đà Hàm dịch là nhất lai, đã đoạn phiền não 6 phẩm hoặc cõi dục, từ đây mạng chung một lần sanh lên trời,một lần trở lại nhân gian mới chứng A La Hán, nên gọi là nhứt lai mà thật không trở lại, đã ngộ vô ngã rồi còn ai trở lại chứ?

3) Quả bất lai

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? A Na Hàm hay niệm nghĩ: ta có đắc quả A Na Hàm không? Tu Bồ Đề thưa, không bạch Đức Thế Tôn. Vì sao? Vì A Nam Hàm gọi là không trở lại, nhưng thực sự không chẳng trở lại, vì thế gọi là A Na Hàm. A Na Hàm dịch là bất lai – không còn trở lại nữa, cũng gọi là bất hoàn, đã đoạn dứt 9 phẩm hoặc cõi dục, lúc mạng chung một lần sanh thiên không trở lại hạ giới nữa nên gọi là bất lai mà thật ra không chẳng lại, cũng như giải thích 3 ở trước.

4) Quả bất sanh (vô sanh)

A La Hán giải thích có 3 nghĩa:

a) Sát tặc: diệt sạch phiền não trong 3 cõi (dục, sắc, vô sắc)

b) Vô sanh (bất sanh): tức là không thọ thân sau nữa

c) Ứng cúng: xứng đáng thọ của nhơn, thiên cúng dường.

 Đoạn sau phân thành 3:

1. Nêu hỏi chỗ sở đắc

“Này Tu Bồ Đề ý thầy nghĩ sao? A La Hán hay niệm nghĩ: ta có đắc quả A La Hán không?”

2. Lấy không chấp trả lời:

“Tu Bồ Đề bạch Phật: không, bạch Đức Thế Tôn. Tại sao? Thật không có pháp gọi là A La Hán. Bạch Đức Thế Tôn, nếu A La Hán tự nghĩ: ta đắc quả A La Hán, tức là chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng.

3. Dẫn chứng làm cho tin:

“Bạch Thế Tôn, Phật nói con được vô tránh tam muội, ở trong mọi người là hàng bậc nhất, là đệ nhứt ly dục A La Hán. Vô tránh có nghĩa không xúc não chúng sanh, hay làm cho chúng sanh không khởi phiền não, nên Phật tán thán. Trong số 10 đại đệ tử ngài Thiện Hiện là đệ nhứt ly dục A La Hán. Phiền não trong 3 cõi chỉ do tâm tham khắp gọi là dục, không phải chỉ có 2 chướng dục giới (cõi dục) là không chấp.

“Con không nghĩ rằng, Con là ly dục A La Hán.”

4) Không nhận ý Phật giải thích:

“Bạch Đức Thế Tôn, nếu như con nghĩ: con đạt đạo A La Hán, thì Đức Thế Tôn không nói Tu Bồ Đề ưa hạnh vắng lặng. Vì Tu Bồ Đề thật không chỗ hành mới gọi Tu Bồ Đề là ưa thích hạnh viễn ly (A Lan Na hạnh).”

Luận rằng hạnh vắng lặng lìa 2 thứ chướng:

1. Phiền não chướng, đạt đạo A La Hán

2. Tam muội chướng, đạt vô tranh nên không chỗ hành.

A Lan Na, Trung Hoa dịch là vắng lặng.

5) Nghi đoán Phật Thích Ca nơi Phật Nhiên Đăng có thuyết:

Luận rằng: Phật Thích Ca xưa chỗ Phật Nhiên Đăng có thọ pháp. Đức Phật Nhiên Đăng có nói pháp cho Phật Thích Ca, tại sao nói không thể chấp, không thuyết?

“Phật dạy, này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? Như Lai xưa kia ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp có chỗ đắc không?”

“Không, bạch Đức Thế Tôn, Như Lai nơi Phật Nhiên Đăng đối với pháp thật không có chỗ đắc.”

 Đối với pháp thật không sở đắc ấy do Phật Nhiên Đăng thuyết, thuyết là lời nói. Phật Thích Ca nghe cũng chỉ nghe lời nói. Lời nói không phải thật do trí chứng pháp, nên luận rằng, Phật Thích Ca ở chỗ Phật Nhiên Đăng, lời nói nói ra không thể cho đó là chứng pháp. Do nghĩa đó nên chỉ rõ Phật Thích Ca chứng đắc là không thể nói, không thể chấp.

6) Nghi chấp sai trang nghiêm quốc độ

Luận rằng, như pháp không thể chấp, tại sao chư Bồ Tát chấp trang nghiêm Tịnh độ? Tại sao thọ thân pháp vương? Đoạn này có 3 ý:

1. Nêu hỏi chấp tướng trang nghiêm

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao, Bồ Tát có trang nghiêm Phật độ không?”

Phật muốn nói rõ pháp tánh chân độ nên hỏi có chấp tướng cõi trang nghiêm không?

2. Lìa tướng trang nghiêm

“Không, bạch Đức Thế Tôn. Tại sao? Trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, ấy chính là trang nghiêm.”

Có bài kệ rằng:

Trí hàm duy thức thông

Cõi Tịnh độ viên dung

Chẳng phải đệ nhứt nghĩa

Chẳng trang nghiêm ý đồng.

Luận giải rằng, chư Phật không có việc trang nghiêm quốc độ mà chỉ do trí tuệ chân thật hiểu rõ thông đạt. Không chấp trang nghiêm quốc độ có hai:

1. Hình tướng

2. Tướng đệ nhứt nghĩa

Không trang nghiêm tức không hình tướng, còn ý trang nghiêm tức là đệ nhứt nghĩa. Đem hết công đức thành tựu trang nghiêm.

3. Dựa tâm tịnh trang nghiêm

“Vì thế, này Tu Bồ Đề, chư đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như thế. Không nên trụ sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không chỗ trụ mà sanh tâm”.

Luận rằng, nếu có người phân biệt Phật độ là tướng hữu vi mà cho rằng, ta thành tựu là người ấy trụ nơi sắc, cảnh v.v… bị ngăn chướng, cho nên nói phải sanh tâm thanh tịnh như thế, không nên trụ sắc v.v… mà sanh tâm. Sanh tâm như thế là chánh trí và là chân tâm. Nếu hết thảy đều vô tâm bèn đồng không kiến (thấy trống không).

7) Dứt nghi chấp có thọ báo thân

Ý hồ nghi như trên. Đoạn văn có 2 :

1. Giải đáp để trừ dứt nghi

“Này Tu Bồ Đề, có người thân to lớn như núi Tu Di, ý Thầy nghĩ thế nào, thân như thế có lớn không? Tu Bồ Đề thưa, thật to lớn bạch Đức Thế Tôn. Tại sao? Phật nói chẳng phải thân gọi là thân to lớn”.

Luận rằng, như núi chúa Tu Di cao lớn bề thế nên gọi là đại nhưng không cho ta là núi chúa. Vì không phân biệt nên báo thân Phật cũng như thế, do đạt được thân pháp vương vô thượng nên gọi là lớn, mà không chấp ta là pháp vương, vì không phân biệt. Như bài kệ rằng:

Không chấp như sơn vương Thọ báo cũng tự nhiên Chẳng thân chấp có thân Thân hữu lậu chẳng thường. mới là thân vô vi vô lậu, nên Kệ dẫn rằng:

(17)

Xa lìa nơi các lậu Và mọi pháp hữu vi.

2. Luận rằng, như thế tức không có vật; nếu chấp như thế là có vật. Duy chỉ có thân thanh tịnh mới xa lìa pháp hữu vi.”

Do vì nghĩa đó nên thật có ngã thể, vì không nương trụ tha duyên. So sánh chỉ rõ phần hơn có 2 ý. So sánh dựa ngoại tài cho thấy trì Kinh hơn. So sánh hơn kém có 3 ý:

1. Dùng cát nhiều sông bàn số nhiều

“Này Tu Bồ Đề như sông Hằng có nhiều cát, và cát của nhiều sông Hằng như thế, ý Thầy nghĩ thế nào? Cát của nhiều sông Hằng có thật nhiều không?”

Tu Bồ Đề thưa, “Thật nhiều, bạch Đức Thế Tôn. Chỉ cát của sông Hằng còn nhiều vô số, huống gì là cát của nhiều sông Hằng.” Từ hướng đông của ao A Nậu lưu chuyển chu vi 40 dặm, cát mịn như bột gạo có óng ánh sắc vàng (cát sông Hằng). Phật phần nhiều ở gần sông Hằng thuyết pháp nên lấy đó nêu thí dụ.

2. Phỏng theo nhiều cát vì che ngăn phước “Này Tu Bồ Đề, nay Như Lai nói thật cùng Thầy, nếu có người thiện nam, tín nữ nào đem bảy món báu đầy khắp cõi 3 ngàn đại thiên dùng để bố thí được phước có nhiều không? Tu Bồ Đề thưa, “Thật nhiều, bạch Đức Thế Tôn”.

Luận rằng, trên đã nêu thí dụ rồi sao còn nêu nữa? Có bài kệ rằng:

Nói nhiều nghĩa khác nhau

Cũng hơn đem so sánh

So sánh phước thắng thạnh

Nên lặp nói thí dụ. Tại sao không nêu thí dụ này trước? Vì từ từ giáo hóa chúng sanh khiến tin giáo nghĩa vi diệu. Vã lại, trên chưa hiển tỏ lấy gì làm công đức để đạt được Bồ Đề?

3. Dựa phước nhiều nêu rõ phần hơn

“Phật dạy Tu Bồ Đề, nếu có thiện nam, tín nữ nào đối với Kinh này nhẫn đến thọ trì 4 câu kệ v.v… vì người khác giảng giải, nhưng phước đức này hơn phước đức trước”.

Kinh Bố thí cảm ứng lìa sanh tử, chứng Bồ Đề đại ý giống như trên. Giải điểm hơn có 5 ý: 1) Trọng chỗ tán thán người hơn, trước hết nêu rõ chỗ đáng kính:

“Lại nữa, này Tu Bồ Đề, tùy theo nói Kinh này cho chí 4 câu kệ v.v… nên biết chỗ này được hết thảy thế gian trời người, a tu la đều nên cúng dường như chùa tháp Phật”.

Kinh Đại Bát Nhã ghi rằng, thiên đế không hiện ở đó, nếu chư thiên tới chỉ thấy tòa trống, tất cả đều làm lễ cúng dường rồi lui đi. Tháp Trung Hoa dịch là cao hiển (Tốt đỗ ba), nói tháp (18) là nói lệch, miếu là miếu mạo, nơi thờ tự. Trong tháp thiết trí hình tượng Phật để mọi người chiêm ngưỡng, lễ bái.

2) Người đạt được lợi ích:

“Huống gì có người hết lòng thọ trì, đọc tụng, này Tu Bồ Đề, nên biết người này thành tựu pháp hy hữu đệ nhứt tối thượng”.

Bốn câu trước còn hơn, huống gì ở đây hết lòng thọ trì nên là đệ nhứt tối thượng vậy.

3) Chỉ bày nơi có Phật:

“Nếu Kinh này có tại đâu thì nơi đó có Phật, hoặc đệ tử đáng kính (của Phật).”

Kinh biểu lộ pháp thân Phật y pháp thời có báo thân, hóa thân. Ngoài ra, hết thảy hiền Thánh đều lấy pháp vô vi làm danh. Kinh nêu rõ, vô vi ắt có bậc hiền thánh và đệ tử đáng tôn quí. Đoạn sau luận có 2 điểm hơn.

“Lúc bấy giờ ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: bạch Đức Thế Tôn, Kinh này tên là gì? Chúng con phải phụng trì bằng cách nào? Phật dạy Tu Bồ Đề, Kinh này gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, với danh tự như thế các Thầy nên phụng trì. Tại sao như vậy? Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói Bát Nhã ba la mật là chẳng phải Bát Nhã ba la mật”.

Phật lập danh Kinh dựa theo năng đoạn mê hoặc (phiền não), do đoạn mê hoặc nên thắng đâu chẳng phải bát nhã?

Ngài Vô Trước nói rằng để đối trị như lời chấp nên ba đời chư Phật nói thắng (hơn) không khác.

“Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? Như Lai có thuyết pháp không?”

“Tu Bồ Đề thưa, bạch Thế Tôn, Như Lai không có thuyết pháp”.

Không thuyết pháp ấy tức không riêng khác nói tăng giảm, chỉ chứng NHƯ mà nói. Đã nói NHƯ thì không chỗ thuyết. Ba đời chư Phật đều nói như vậy, không nói khác.

Luận rằng, không có một pháp chỉ riêng Như Lai nói, còn chư Phật khác không nói.

Ngài Vô Trước nói rằng, đệ nhứt nghĩa không thể thuyết.

4) Bố thí phước kém, còn số hạt bụi nhiều hơn:

“Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? Ba nghìn đại thiên thế giới chỗ có vi trần ấy là nhiều không?”

“Tu Bồ Đề thưa, rất nhiều, bạch Đức Thế Tôn.”

“Này Tu Bồ Đề, các vi trần Như Lai nói chẳng phải vi trần ấy gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải thế giới gọi là thế giới”.

Luận rằng, phước đức bố thí là nhân phiền não, do đó có thể thành việc phiền não. Bụi đất là vô ký chẳng phải nhân phiền não nên bụi hơn bố thí kém. Ngài Đại Vân rằng những đất bụi thì chẳng tham, phiền não v.v… nên gọi là vô ký. Phật nói bụi trần nơi ba (3) nghìn cõi không phải là nhân nhiễm phiền não. Cõi là bụi trần, cõi vô ký thì cõi là bụi trần. Nhân bụi không sanh phiền não; thí là nhân phước, phước sanh phiền não.

5) Cảm quả lìa tướng thắng: “Này Tu Bồ Đề, ý Thầy nghĩ sao? Có thể dùng 32 tướng thấy Như Lai không?”

“Không thể, bạch Đức Thế Tôn. Không thể dùng 32 tướng thấy được Như Lai. Tại sao? Như Lai nói 32 tướng tức là phi tướng, ấy gọi là 32 tướng”.

E người bố thí của báu cho rằng, tôi bố thí cầu Phật, ai nói phiền não? Cho nên Kinh ghi rằng có thể lấy tướng thấy đó là Phật không?

Luận rằng, thọ trì giảng thuyết Kinh này hay thành tựu được Bồ Đề, hơn người bố thí kia.

Tại sao? Vì tướng ấy (bố thí) đối với Phật Bồ Đề không phải là pháp thân. Cho nên phước thọ trì Kinh có thể hơn phước đức 32 tướng bố thí. Ý này rõ ràng phước trì Kinh hơn bố thí mới được thân Phật có sắc tướng. Nếu chỉ dùng bảo vật bố thí là nhân phiền não. Dựa nội tài so sánh gấp nhân lên để chứng tỏ Kinh hơn. So sánh 2 phần hơn kém.

“Này Tu Bồ Đề, nếu có kẻ thiện nam, tín nữ nào đem thân mạng như cát sông Hằng bố thí. Nếu lại có người đối với Kinh này nhẫn đến thọ trì 4 câu kệ vì người khác mà giảng thuyết, người này được phước rất nhiều”. Xả thân hơn bố thí của báu; trì tụng thuyết giảng Kinh lại hơn xả thân.

Giải thích điểm hơn có 5:

1. Than khóc chưa hề được nghe pháp sâu mầu như thế.

“Lúc bấy giờ ngài Tu Bồ Đề nghe hiểu thâm nghĩa Kinh Phật thuyết xong sụt sùi khóc lóc mà bạch Phật rằng, hy hữu thay bạch Đức Thế Tôn, Phật nói Kinh điển thậm thâm như thế, con từ xưa trở lại đây đã đạt được huệ nhãn chưa từng được nghe Kinh như thế”.

Vất vả xả bỏ thân đã cảm động tới lòng người rồi, huống gì lại nghe Kinh không bằng thọ trì giảng thuyết, vì thế Tu Bồ Đề buồn khóc.

Luận rằng, nghĩ tới thân khổ bèn tôn trọng pháp nên buồn khóc. Huệ nhãn là nhân KHÔNG, chưa nghe được pháp KHÔNG.

2. Tịnh tâm khế hợp với đức:

“Bạch Thế Tôn, thật tướng ấy thời là chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thật tướng”.

Ngài Vô Trước nói rằng, vì tưởng phân biệt lìa thật tướng.

3. Tin hiểu ba (3) pháp KHÔNG giống Phật thắng

“Bạch Thế Tôn, nay con được nghe Kinh điển như thế tin hiểu thọ trì chưa đủ lấy đó làm khó. Nếu như đời sau, năm trăm năm sau có chúng sanh nghe được Kinh này mà tin hiểu thọ trì thì người đó thật là hy hữu đệ nhứt”.

Ngài Vô Trước nói rằng, đời vị lai lúc pháp diệt mà còn có Bồ Tát thọ trì Kinh nên biết người ấy không chấp ngã, nhơn v.v… Tại sao các vịở thời kỳ Chánh pháp lại bỏ bê tu hành mà không sanh lòng hổ thẹn hay sao? Sau đây biểu tỏ 3 KHÔNG:

“Tại sao? Người này không có tướng ngã, nhơn, chúng sanh, tướng thọ mạng. Tại sao thế? Ngã tướng tức là phi tướng; nhơn tướng, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng tức là phi tướng. Tại sao? Lìa hết thảy tướng gọi là chư Phật.”

Ngài Vô Trước nói rằng, vô ngã v.v… là không người chấp ngã; tức phi tướng là không chấp pháp, lìa hết thảy ấy là hiển lộ chư Bồ Tát còn tùy thuận học tướng; chư Phật, Thế Tôn lìa hết mọi tướng, vì thế ta nên học như thế.

“Phật dạy ngài Tu Bồ Đề, đúng vậy, đúng vậy”.

4. Lúc nghe bất động là hy hữu:

“Nếu lại có người nghe được Kinh mà không khiếp, không hãi, không sợ, nên biết người ấy thật là hy hữu (hiếm có)”.

Luận rằng, khiếp có nghĩa không đáng sợ mà sanh sợ hãi, kinh tức là không thể dứt được tâm nghi, sợ là một mực kinh khiếp. Người ấy tâm hoàn toàn rơi trong hốt hoảng khiếp hãi.

5. Nhân thanh tịnh đệ nhứt thắng:

“Tại sao? Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói đệ nhứt ba la mật, chẳng phải đệ nhứt ba la mật, ấy là đệ nhứt ba la mật.”

Tại sao như thế? Đoạn này có 2 ý:

a) Đuổi theo mà không sợ sệt v.v…

b) Trưng điểm hơn việc đuổi theo.

Luận rằng, Kinh này gọi là nhân lớn, hơn các Kinh khác nên nói là thanh tịnh. Vô lượng chư Phật đồng thuyết nên Kinh quí như gỗ chiên đàn, so sánh không có Kinh nào hơn được công đức như thế. Vì thế trong các loại phước đức, phước trì Kinh này là hơn hết.

***

Chú Thích:

1. Tam tạng pháp sư: Vị thầy thông hiểu ba tạng kinh, luật, luận truyền bá sâu rộng, nhất là khả năng dịch thuật ngoại ngữ để lại cho đời sau được lợi lạc. Chẳng hạn, tam tạng pháp sư Trí Tịnh, Minh Châu… hiện tại, hay ngài Thiện Siêu, Đức Nhuận… ( đã viên tịch). Các ngài có nhiều khả năng diễn giảng, viết văn, làm thơ, dịch thuật, dạy học, điều hành các Phật sự quan trọng để xiển dương Phật pháp đều được xưng là bậc thầy thông hiểu tam tạng giáo pháp.

2. Thế Thân: cũng gọi là Thiên Thân. Đại luận sư người Ấn Độ, sống vào thế kỷ thứ 4, 5 người ở thành Phú Lâu Sa Phú La, nước Kiện Đà La, Bắc Ấn Độ, là con thứ hai của quốc sư Bà La Môn Kiều Thi Ca. Mới đầu sư cùng với anh là Vô Trước (Asanga) xuất gia theo Tát Bà đa bộ (Hữu bộ). Sau, ngài Vô Trước chuyển hướng sang Đại Thừa, mới đầu ngài không thuận, nhưng được ngài Vô Trước chỉ bày ngài mới ngộ lý Đại Thừa và chuyển sang Đại Thừa nỗ lực hoằng dương giáo pháp Đại Thừa và đặt nền móng cho phái Du già (theo Phật Quang Đại Từ Điển,

H.T. Quảng Độ dịch cuốn 5 trang 5664 , do Linh Sơn. Đài Loan xb năm 2000).

1. Trường hàng là thể văn xuôi mà Đức Phật hay dùng để thuyết khế Kinh, khác thể văn vần tức thể kệ. Đây là một trong 12 bộ chân Kinh Đại Thừa trong hệ thống tam tạng giáo pháp Phật Đà hiện còn đang lưu truyền.

2. Khế lý và khế cơ: Phật thuyết pháp hợp với chân lý và cũng thích hợp với trình độ hay căn cơ người nghe. Nghĩa là tất cả mọi thành phần đều nghe và có thể lãnh hội được pháp Phật dạy ứng dụng vào đời sống một cách hữu hiệu và lợi ích thiết thực.

1. Vô lậu: Không thấm lọt, không rỉ chảy, không rơi rớt. Chỉ phiền não không còn nữa. Đối lại với hữu lậu là còn phiền não, còn sanh tử luân hồi. Vô lậu có nghĩa là dứt sạch phiền não không còn chi phối dẫn dắt đi trong mê lầm nữa.

2. Tam độc: ba (3) thứ độc do tâm tạo gồm: tham, sân, si. Gọi độc vì mầm tác hại của chúng vô cùng to lớn, lôi chúng sanh đọa lạc, lầm mê không có kỳ hẹn thoát khỏi. Hình tướng của mỗi thứ độc như ta biết như thế nào rồi.

3. Diệt độ hay nhập diệt hoặc tịch diệt: thị tịch chỉ trạng thái vắng lặng thanh thoát của Phật lúc xả báo thân. Các bậc Thánh nhân, chư Tổ, các bậc danh tăng cao đức quá vãng gọi là viên tịch hay nhập Niết Bàn – gọi theo lối kính ngữ. Vì các Ngài như biết trước và dự liệu sẵn sàng mọi việc cho việc ra đi êm ái thanh thản.

4. Đại Tỳ Kheo chúng: Chúng đại Tỳ Kheo gồm đủ nhiều thành phần như từ Dự Lưu đến A La Hán hay Bồ Tát v.v… Mặc dù giới phẩm Tỳ Kheo (250 giới) chỉ một mà công hạnh độ sanh không giống nhau, tuy vẫn sinh hoạt chung cùng một đạo tràng hồi thời Đức Phật còn tại thế.

5. Bốn niệm xứ: bốn pháp tu quán niệm của hành giả để đạt chân lý. Đó là:

a. Quán thân bất tịnh: quán sát từ đầu tới chân thấy thân thể toàn là những thứ bất tịnh, tanh hôi, dơ uế. Nhất là 3 nghiệp thân – khẩu – ý gây ra không biết bao điều khổ hận, đau buồn cho ta ở hiện tại và tương lai.

b. Quán thọ là khổ: quán tài, sắc, danh, thực, thùy (5 dục), quán 6 căn tiếp xúc 6 trần gây nên bao điều thống khổ. Cũng quán khổ, lạc và xả thọ đều là khổ, cho chí mừng, giận, buồn, vui, yêu thương, ghét, ham muốn v.v… tất cả đều chứa mầm đau khổ.

c. Quán tâm vô thường: tâm luôn biến đổi không ngừng như con ngựa hoang khó kềm chế nó một chỗ.

d. Quán pháp vô ngã: quán xét các pháp đều không có thật ngã và cái thuộc của ta. Nói cách khác là nhơn vô ngã và pháp vô ngã.

(10) Tà mạng: sinh sống bằng nghề không chính đáng như xem tướng, bói quẻ, luyện bùa chú, đoán xem tinh tú, địa lý, phong thủy, bào chế linh đơn, hô phong hoán vũ… Phật dạy người Phật tử chân chánh và hàng xuất gia không sống bằng tà mạng. Một trong 8 chánh đạo, thứ 6: chánh mạng là sống bằng nghề lương thiện, kể cả không sát sanh hại vật, không làm nghề quốc cấm v.v…

(11) Thứ đệ khất thực: khất thực theo thứ tự hết nhà này tới nhà khác, không chọn nhà giàu bỏ nhà nghèo hay ngược lại. Nếu nhà tu đi khất thực chọn lựa đối tượng, chắc hẳn không tránh khỏi sự phê bình chỉ trích của người đời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thể hiện gương sáng này cho chúng đệ tử xuất gia hành theo.

(12) Tăng già lê: y của chúng Tỳ Kheo ( đệ tử xuất gia của Phật) có 3 phẩm:

1. Phẩm hạ: An Đà hội là y 5 điều hay cũng gọi là y tác vụ tức y mặc làm việc thường ngày ở chùa.

2. Uất Đa La tăng – y phẩm trung, là y 7 điều mặc khi diễn giảng, thuyết pháp, khi đi đường.

3. Tăng già lê – phẩm thượng – cũng gọi đại y, là y 9 điều tức y mặc lúc hành lễ, hay những dịp quan trọng khác.

Chia theo phẩm vị còn phân loại như:

 Đức Phật thường mặc y Tăng già lê mỗi khi khất thực để nói lên tính chất quan trọng của việc hành trì.

(13) Hạnh đầu đà: hạnh tu ép xác, hành hạ thân thể ở trong cảnh sống thiếu thốn cực khổ như ngày ăn một bửa, đi chân trần, mặc đồ hoại sắc v.v… Xưa kia Đức Thích Ca cũng có một thời tu theo hạnh này. Người đệ tử trung kiên của Phật tu theo hạnh đầu đà là ngài Ma Ha Ca Diếp, và là một trong 10 Đại Đệ Tử xuất sắc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

(14) Năm uẩn hay năm ấm: là 5 yếu tố cấu tạo nên tâm thức và sắc thân của con người gồm: sắc (thân thể), thọ, tưởng, hành, thức (tâm) đều là giả dối do nhiều nhân tố hợp thành. Ta không nên lầm hay chấp nó để khỏi bị mắc lừa và đau khổ.

(15) Lợi dưỡng: tài lợi để nuôi dưỡng thân xác. Do tâm tham con người có khi vì thân thể mà tạo nên nhiều điều tội lỗi xấu ác, làm phương hại tới tiến trình tu tập bị trở ngại, gián đoạn. Chẳng hạn, tự cho mình như thế này thế khác, tu chứng tới bực này bực nọ, ngồi thiền thấy Phật tỏa hào quang, Bồ Tát tới thọ ký v.v… nhằm mục đích khiến người tin để ta lợi dụng. Đó là cách thể hiện của một ít thành phần đệ tử Phật thiếu tu tập Chánh pháp.

(16) Đệ nhứt nghĩa: lý thâm diệu số một, không gì cao sâu hơn, điều đầu tiên của sự lý gọi là đệ nhứt nghĩa. Kinh Thắng Man bảo quật q. Thượng ghi: “lý đạt tới tuyệt đỉnh không gì cao hơn được nữa thì gọi là đệ nhứt; sâu sắc có căn nguyên, thấy rõ được thì gọi là nghĩa”.

(17) Các lậu: chỉ các phiền não chi phối tâm con người. Lậu có nghĩa rỉ, lọt, rơi chút chút, rịn chảy, dấy lan… phiền não thấm nhập nơi tâm mỗi khi một ít dần đưa tới tác dụng nên gọi là các lậu.

(18) Tháp (Stupa): tháp đỗ ba: nơi thờ tro cốt của Phật hay các hàng cao đệ của Phật. Thân xác Phật sau khi trà tỳ (thiêu), còn lưu lại phần tinh anh là xá lợi được thờ trong những ngôi tháp. Tháp có nhiều hình thức khác nhau như: tháp hình kiểu bát úp ở Sanchi (Sơn Kỳ), tháp hình chiếc linh úp xuống trên đỉnh 7 vòng tròn (Ấn Độ), tháp hình tròn – Swuyamohunatha ở Nepal thành phố Katmandu, trên có tướng luân 15 tầng, trên đỉnh có thiên cái, tháp hình lục giác tại chùa Quốc Thanh, núi Thiên Thai gồm 9 tầng, cao độ 74m, tháp gỗ chùa Pháp Long (N.B.) do Thánh Đức Thái tử cho xây năm 606 gồm 5 tầng nay vẫn còn. Tháp ngũ luân, tháp có góc, tháp lầu gác như tháp chùa Xá Lợi – Saigon – Việt Nam; tháp mái dày như Đại Nhạn tháp hình tứ giác cao 7 tầng ở chùa Từ Ân tỉnh Tây An – Trung Quốc.

Kinh thí dụ nêu 10 quả báo của việc tạo tháp như sau:

1. Không sanh nơi biên địa

1. Không bị bần cùng, khốn khổ

2. Không thọ thân ngu si, tà kiến

3. Có thể được làm vua những nước lớn

4. Thọ mạng lâu dài

5. Được sức mạnh như Kim Cương Na La diên

6. Được phước đức rộng lớn không ai sánh bằng

7. Được Chư Phật, Bồ Tát từ bi thương xót

9. Đầy đủ ba (3) minh, sáu (6) thông, tám (8) giải thoát

10. Được vãng sanh về các tịnh độ trong 10 phương.

Tháp thấp nhất là 3 tầng, 5 tầng, trung bình là 7 tầng, 9 tầng, cao nhất là 12 tầng, 15 tầng, có khi chỏm tháp cao lên tới trên 300 mét. Vì thế, hể thấy tháp miếu là lễ bái như chùa thờ Phật vậy.