Thiền Ba La Mật

Tùy Trí ỷ Thuyết

Bản Việt dịch của Thích Đạt Ma Ngộ Nhất

***

TỰA THIỀN BA-LA-MẬT

Thiền ba-la-mật, trong mục lục Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết 46, tr. 141, sh. 1912 của ngài (Trạm Nhiên), gọi là Thứ Đệ Thiền Môn, (Tiệm Thứ Chỉ Quán) ghi rằng: Do Đại sư Trí Khải giảng tại chùa Ngõa Quan Tự và Đại Trang Nghiêm Tự, đệ tử Pháp Thận ghi lại, sau được Thiền sư Quán Đảnh ở Chương An chỉnh lý thành 10 quyển, chia làm 10 chương:

1. ĐẠI Ý

2. THÍCH DANH

3. MINH MÔN

4. THUYÊN THỨ

5. PHÁP, TÂM

6. PHƯƠNG TIỆN

7. TU CHỨNG

8. QUẢ BÁO

9. KHỞI GIÁO

10. QUY THÚ (3 chương cuối đã được lược bớt)

Trong phần giải thích tu chứng chia ra bốn loại thiền, nhưng chỉ giảng đến chương 7, nói về tu chứng. Ba chương cuối được lược bớt ở trong phần tu chứng lại chia 4 loại thiền: 1. Thế gian; 2. Cũng thế gian cũng xuất thế gian; 3. Xuất thế gian; 4. Chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian.

Trong đó có hai phần: Đối trị vô lậu và Duyên lý vô lậu. Đối trị vô lậu lại có 9 loại thiền: Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Phấn tấn, Siêu việt. Những cảnh giới tu chứng không thể diễn tả đầy đủ. Truyện kể rằng: Đại sư từng nói: “Nếu giảng thứ lớp về thiền định, cả năm chỉ nói hết một thiên, nếu chú giải phải tới 50 quyển”. Nay khắc lại để truyền bá rộng rãi, mong học giả hiểu rõ gốc ngọn mà không bị sai lạc vậy.

***

NGUYÊN VĂN

Sách này giải thích thứ lớp pháp môn Thiền ba-la-mật chia thành mười chương:

Chương 1: Tu Thiền ba-la-mật đại ý

Chương 2: Thích Thiền ba-la-mật danh

Chương 3: Minh Thiền ba-la-mật môn

Chương 4: Biện Thiền ba-la-mật thuyên thứ

Chương 5: Giảng Thiền ba-la-mật pháp, và tâm

Chương 6: Phân biệt Thiền ba-la-mật tiền phương tiện

Chương 7: Thích Thiền ba-la-mật tu chứng

Chương 8: Hiển thị Thiền ba-la-mật quả báo

Chương 9: Tùng Thiền ba-la-mật khởi giáo

Chương 10: Kết hội Thiền ba-la-mật quy thú

Dùng 10 chương này điều chỉnh giảng giải Thiền ba-la-mật trên văn tự, đây là phương pháp giáo hóa từ xưa nay của chư Phật. Về nghĩa lý thì thấu suốt, hiển bày kho tàng bí mật Như Lai và pháp giới vi diệu viên mãn, hoặc giáo lý, hạnh chứng, hoặc sự tướng hay lý thể, từ phàm phu tu thẳng đến địa vị Phật, gồm có đủ Nhân tu, Quả chứng đều bao hàm trong đó.

Nếu người tu hành có thể thấu đạt, thâm nhập ý thú của thiền, thì tự nhiên hiểu rõ tất cả Phật Pháp, chẳng cần chạy đông chạy tây nương nhờ vào chỗ khác để tìm cầu. Cho nên Kinh Ma Ha Diễn ghi: “Ví như kéo chéo áo, động cả toàn thân”.

Chương 1: Nội dung giảng giải ĐẠI Ý VỀ PHƯƠNG PHÁP HÀNH THIỀN BA-LA-MẬT, là nói về Bồ-tát phát tâm tu thiền định để cầu đạo Bồ-đề, mà thiền định chính là phương pháp vi diệu, thanh tịnh để chứng đạt, do đó cần phải biết thật giả và bí quyết của thiền định. Nếu muốn đầy đủ tất cả pháp tạng của chư Phật, chỉ có phương pháp thiền định là tốt nhất. Giống như đến được chỗ châu báu vàng ngọc, thì các của báu đều có thể lấy được. Cho nên cần phát tâm tu tập thiền định.

Chương 2: Tuy nhiên khi đã phát tâm tu tập thiền định cần phải biết về danh tự các loại thiền định, sau đó mới lý giải ý nghĩa của mỗi môn thiền định. Nên chương này GIẢI THÍCH VỀ DANH TỰ THIỀN.

Chương 3: Từ nơi danh tự thiền định mà tìm cầu thâm nhập lý thiền thì chẳng cửa nào mà không thông suốt. Nên chương này GIẢI THÍCH VỀ THIỀN MÔN.

Chương 4: Thiền định rất vi tế sâu xa, không có biện pháp tức thời mà thành tựu, cần phải từ cạn đến sâu, nương theo thứ lớp mà tu. Nên chương này GIẢI THÍCH VỀ THỨ LỚP CỦA THIỀN ĐỊNH.

Chương 5: Nếu muốn nhập thiền định từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu phải hiểu biết cảnh giới và trí tuệ trong thiền định. Do đó chương này GIẢI THÍCH VỀ PHÁP VÀ TÂM.

Chương 6: Sau khi phân biệt hiểu rõ Pháp và Tâm, trong lúc tu tập thiền định, cần phải có những phương tiện thiện xảo. Nên chương này NÓI RO CÁC PHÁP PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO.

Chương 7: Y theo pháp thiện xảo để tu tập thiền định thì chắc chắn sẽ có chỗ chứng đắc. Nên chương này GIẢI THÍCH VỀ SỰ TU CHỨNG CỦA CÁC THIỀN ĐỊNH.

Chương 8: Nếu tu tập thiền định được thích ứng trong nội tâm thì có Nhân, tức Quả tự đến. Cho nên chương này GIẢI THÍCH VỀ QUẢ BÁO CỦA THIỀN ĐỊNH.

Chương 9: Từ tu Nhân đến chứng Quả, tức là tự mình đã tu hành viên mãn rồi, cho nên công đức lợi ích chúng sinh cũng được đầy đủ viên mãn. Nên chương này GIẢI THÍCH VỀ GIÁO MÔN.

Chương 10: Lý pháp và giáo tướng đã viên mãn đầy đủ, vì thế mà giáo tướng đồng quy về chỉ một đạo thể chân thật, bình đẳng. Nên chương này GIẢI THÍCH CHỖ QUY THÚ.

Nghĩa lý của mười chương này lớp lớp liên quan lẫn nhau. Nếu đem toàn bộ những chương giải thích về Thiền ba-la-mật, có thể tổng nhiếp các pháp môn tu hành, nếu hành giả nghiên cứu đoạn văn dưới đây tự nhiên có thể lý giải được.

Kinh Đại Phẩm Bát Nhã nói: “Bồ-tát từ khi mới phát tâm tu đến nay, an trụ trong thiền định ba-la-mật, tu hành đầy đủ tất cả các Phật pháp, đến lúc ngồi đạo tràng chứng ngộ thành tựu Nhất thiết trí, là trí tuệ của Phật. Sau đó khởi thiền định vận hành bánh xe pháp hóa độ chúng sinh”. Đây gọi là Bồ-tát tu hành thứ lớp, học tập thứ lớp và thành đạo thứ lớp vậy.

***

CHƯƠNG 1: ĐẠI Ý VỀ PHƯƠNG PHÁP HÀNH THIỀN BA-LA-MẬT

(Nói về đại ý toàn sách, luận sơ lược về tâm đại bi, đồng thời trình bày rõ về Tứ hoằng thệ nguyện của Bồ-tát)

Nay giải thích rõ Bồ-tát tu tập Thiền ba-la- mật. Được chia làm hai phần:

A. Dùng nguyên nhân không chính đáng tu tập thiền định

B. Người hành hạnh Bồ-tát tu tập thiền định

A. DÙNG NGUYÊN NHÂN KHÔNG CHÍNH ĐÁNG TU TẬP THIỀN ĐỊNH

Có mười hạng người phát tâm tu thiền định không giống nhau, kết quả bị rơi vào những hành vi tư tưởng thiên lệch, sai lầm, nên không thể nhập pháp môn Thiền ba-la-mật.

Mười hạng người đó là:

1. Vì lợi ích bồi dưỡng thân mạng của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Địa ngục.

2. Khởi tâm hư dối tà kiến, vì tham danh tiếng, khen ngợi mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Quỷ thần.

3. Vì muốn ủng hộ bà con quyến thuộc của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Súc sanh.

4. Vì ganh tỵ muốn hơn người khác mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm A-tu-la(1).

5. Vì sợ đầu thai vào đường ác chịu quả báo đau khổ và muốn dứt hết những nghiệp lực bất thiện mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm tái sanh làm người.

6. Vì muốn bồi dưỡng tâm thiện của mình và mong cầu được an lạc mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm sinh về sáu tầng trời cõi Dục(2).

7. Vì muốn có được thế lực và thần thông tự tại mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm La-sát(3).

8. Vì muốn được thông minh lanh lợi, phản ứng nhạy bén mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của Ngoại đạo(4).

9. Vì muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về cõi trời Sắc và Vô sắc(5).

10. Vì muốn thoát khỏi thống khổ sinh, lão, bệnh, tử, mong chóng chứng Niết-bàn mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của hàng Nhị thừa.

Mười hạng người tu tập thiền định này, tuy họ phát tâm thiện hoặc ác có khác nhau, cảnh giới giải thoát hay trói buộc cũng khác. Chỉ vì họ không có tâm đại bi và mục đích phát tâm không chính đáng, kết quả đọa lạc vào nhị biên, (Đoạn kiến và Thường kiến(6) chẳng vào Trung đạo(7)). Nếu dùng tâm này tu thiền định, cuối cùng cũng không thể thấu hiểu và thích ứng với Thiền ba-la-mật.

B. NGƯỜI HÀNH HẠNH BỒ TÁT TU TẬP THIỀN ĐỊNH

Có hai ý:

I- Vì sao gọi là Bồ-tát phát tâm

II- Vì sao Bồ-tát cần phải tu thiền?

I- VÌ SAO GỌI LÀ BỒ TÁT PHÁT TÂM ?

Bồ-tát phát tâm nghĩa là tâm Bồ-đề. Tức là khi Bồ-tát quán trung đạo và quán thật tướng của các pháp, do thương xót tất cả chúng sinh mà phát tâm đại bi, từ đó phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tức là bốn điều nguyện rộng lớn:

1. Người chưa được độ thoát, ta phải độ thoát, cũng gọi là Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.

2. Người chưa hiểu rõ Phật pháp, ta phải giảng rõ Phật pháp, cũng gọi là Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

3. Nếu chưa được an lạc, ta phải được an lạc, cũng gọi là Phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn.

4. Nếu chưa chứng đạt Niết-bàn(8), ta phải chứng Niết-bàn, cũng gọi là Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Tứ hoằng thệ nguyện này chính là pháp môn Tứ đế. Cho nên Kinh Anh Lạc ghi: “Người chưa được thoát khỏi Khổ đế, khiến họ thoát được Khổ đế. Người chưa hiểu rõ Tập đế cần hiểu rõ Tập đế. Người chưa an trụ ở Đạo đế cần an trụ nơi Đạo đế. Chưa chứng Diệt đế khiến chứng Diệt đế”.

Bốn pháp này nếu theo tâm của hàng Nhị thừa gọi là pháp Tứ thánh đế. Pháp Tứ đế là pháp Nhân duyên sinh, đạo lý này chân thật không hư dối cho nên gọi là Đế pháp. Nhưng bốn pháp này nếu theo tâm của Bồ-tát thì gọi là Tứ hoằng thệ nguyện. Vì sao vậy? Vì hàng Bồ-tát tuy biết rõ bốn pháp này rốt ráo rỗng lặng, nhưng vì lợi ích chúng sinh mà dùng bốn pháp này để làm phương tiện.

Thế nào là Hoằng thệ nguyện?

– Vì tâm lượng quảng đại của Bồ-tát cho nên gọi là hoằng.

– Vì tâm từ bi, thương xót chúng sinh, nên hạ quyết tâm phải độ chúng sinh, phát tâm kiên cố bền chắc như kim cương, giữ gìn tâm nguyện này không thối chuyển, nhất định thành công viên mãn, nên gọi là thệ nguyện.

Nếu người tu hành có thể phát bốn thệ nguyện này, biết rất rõ bốn tâm nguyện, bao gồm tất cả tâm, tất cả tâm thật ra chính là một tâm, cũng chẳng phải một tâm, mà tâm vốn đã đầy đủ tất cả, nên gọi là Tâm Bồ-đề thanh tịnh. Do phát khởi tâm Bồ-đề thanh tịnh, nên gọi là Bồ-tát. Vì thế trong Luận Ma Ha Diễn ghi:

Ngay khi mới phát tâm

Thệ nguyện sẽ thành Phật

Đã vượt qua thế gian

Nên nhận sự cúng dường.

II- VÌ SAO HÀNH BỒ TÁT CẦN PHẢI TU THIỀN ĐỊNH

Khi Bồ-tát phát khởi tâm Bồ-đề, nghĩ rằng muốn thành đạt đầy đủ Tứ hoằng thệ nguyện, nhất định phải hành Bồ-tát đạo.

– Vì sao phải hành Bồ-tát đạo ?

Vì có nguyện vọng mà không thực hành cũng giống như muốn đưa người qua sông mà chẳng chịu làm thuyền bè, nên vĩnh viễn vẫn ở bờ bên này, không cách gì đưa người sang sông được. Ví như người bệnh cần thuốc chữa trị, nhưng có thuốc rồi mà không chịu uống, thì bệnh làm sao lành? Như người nghèo khổ muốn có châu báu, nhưng khi thấy châu báu rồi mà chẳng chịu lấy nên mãi mãi phải chịu nghèo khổ. Như người muốn đi xa lại không chịu bước, nhất định người ấy không thể đi đến mục đích. Bồ-tát phát Tứ hoằng thệ nguyện mà chẳng chịu tu bốn hạnh này thì cũng như vậy.

Bồ-tát nghĩ rằng: “Ta phải tu pháp môn nào để hành Bồ-tát đạo, mới có thể thực hành Tứ hoằng thệ nguyện được tốt đẹp viên mãn?”. Vậy thì phải hiểu và trụ thâm sâu thiền định mới viên mãn được bốn thệ nguyện. Vì cớ sao? Nếu không chứng được Lục thông và Tứ biện tài, làm sao độ chúng sinh? Nếu không có công phu thiền định thì lục thông chẳng phát. Cho nên trong kinh có ghi: “Thiền định thật thâm sâu mới có thể đạt được Ngũ thần thông”. Muốn đoạn trừ phiền não, mà không thiền định thì trí tuệ không hiện tiền. Trí tuệ phát xuất từ nơi thiền định mới có thể đoạn trừ các kiết sử, bởi vì trí tuệ mà không có thiền định cũng giống như đèn ra trước gió. Chúng ta nên hiểu rõ tất cả công đức trí tuệ đều ở tại pháp môn thiền định. Trong Luận Ma Ha Diễn ghi: “Chư Phật thành đạo, chuyển bánh xe pháp độ chúng sinh, hết duyên, nhập Niết-bàn, những công đức ấy hoàn toàn ở trong thiền định”.

Lại nữa, khi Bồ-tát nhập Vô lượng nghĩa xứ tam-muội(9), trong một tâm đầy đủ muôn hạnh mới có thể thông suốt tất cả vô lượng pháp môn. Nếu muốn đầy đủ Phật đạo vô thượng mà không tu thiền định, thì các cõi trời Sắc và Vô sắc cho đến cảnh giới Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, đều chẳng đạt được, huống chi quả Vô thượng Bồ-đề. Nên biết muốn chứng Diệu giác vô thượng, trước tiên cần nhập Kim cương tam-muội, lúc này Phật pháp mới hiện tiền. Thế nên sau khi Bồ-tát đã nghiền ngẫm, tư duy, xác định rõ chỉ có thiền định mới có thể làm viên mãn Tứ hoằng thệ nguyện. Như trong bài Kệ Ma Ha Diễn ghi:

Thiền là kho trí tuệ,

Ruộng phước của công đức,

Thiền như nước trong sạch,

Công năng rửa sạch bụi

Thiền là giáp kim cương

Ngăn chặn tên phiền não,

Tuy chưa chứng vô vi(10)

Quả Niết-bàn có phần,

Được Kim cương tam-muội(11)

Đập tan núi kiết sử,

Chứng được lục thần thông

Độ chúng sinh vô lượng,

Bụi trần che vầng dương,

Mưa lớn đều trôi sạch,

Gió giác quán động tâm,

Thiền định ngăn lặng gió.

Bài kệ này chứng tỏ là phải tu tập thiền định, mới có thể thành tựu đầy đủ viên mãn Tứ hoằng thệ nguyện.

HỎI: Bồ-tát muốn đầy đủ viên mãn Tứ hoằng thệ nguyện, cần phải thực hành mười pháp Ba-la-mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát- nhã, Phương tiện, Trí, Nguyện, Lực) vì sao chỉ tán thán thiền định?

ĐÁP: Nếu so sánh bốn pháp trước có thấp kém, còn năm pháp sau thì hoàn toàn đều do nơi thiền định mà có, nên ở đây chỉ nói riêng về thiền định. Vì sao? Vì Bồ-tát do tu thiền định mà được đầy đủ bốn pháp trước, còn năm pháp sau lại càng thêm thù thắng. Như người phát tâm Bồ-tát vì muốn tu tập thiền định, cho nên xả bỏ tất cả gia nghiệp, trong thì bỏ vợ con, quyến thuộc, ngoài thì xả bỏ tài vật, không tiếc thân mạng, chỉ ở nơi chỗ vắng vẻ tịch tịnh, bố thí tất cả không luyến tiếc, đây gọi là Đại bố thí.

Lại nữa, vì Bồ-tát tu tập thiền định, nên thân và tâm không dấy động, ngăn dứt sáu tình(12) v.v…Những tâm niệm xấu không thể thâm nhập được, đây gọi là Đại trì giới.

Do Bồ-tát tu tập thiền định có thể kham nhẫn những việc khó nhẫn, đối với những vinh dự, chê bai, đều an tâm kham nhẫn. Giả sử có các việc xấu đến, vì sợ chướng ngại chánh định nên một chút phiền não sân hận cũng không sinh khởi, đây gọi là Đại nhẫn nhục.

– Bồ-tát do tu tập thiền định, nhất tâm nhất ý tinh tấn, dù thân thể bệnh tật khổ não, cũng không thoái tâm, không ngừng nghỉ. Như dùi cây lấy lửa, dù một chút cũng không ngừng nghỉ, nếu chưa có lửa quyết không dừng nghỉ. Bồ-tát thường ngồi thiền, ít nằm, luôn luôn nhiếp phục tâm niệm không sinh khởi vọng tưởng, chưa từng phóng dật giải đãi, cho dù trải qua nhiều năm nhiều tháng mà chưa được chứng ngộ cũng không thoái tâm nhụt chí. Bồ-tát hành những việc khó khăn như thế, đây gọi là Đại tinh tấn.

Do nhân duyên tu thiền định, dù Bồ-tát không cố ý tu bốn pháp này, mà bốn pháp này tự nhiên thành tựu.

– Vì sao Bồ-tát tu thiền định, được đầy đủ Trí tuệ Bát-nhã ba-la-mật ?

Vì khi Bồ-tát tu tập thiền định, nhất tâm trụ trong chánh định. Do tâm được an trụ trong định, nên có thể biết rõ tất cả tướng sinh diệt của pháp thế gian, nhờ đó mà phát xuất trí tuệ, giống như mạch nước trong đá phóng vọt ra. Kinh Ma Ha Diễn ghi:

Trí tuệ Bát-nhã ba-la-mật,

Là pháp chân thật không điên đảo,

Vọng niệm ô nhiễm đã diệt trừ,

Ngôn ngữ văn tự đều vắng bặt,

Tội chướng vô lượng kiếp đã dứt,

Trong tâm thanh tịnh thường một tướng,

Tự nhiên thấy được pháp chân thật.

– Vì sao Bồ-tát tu tập thiền định được đầy đủ Phương tiện ba-la-mật ?

Vì những phương tiện thiện xảo ấy, cần phải thấy rõ căn cơ của chúng sinh mới sử dụng được. Nếu không thể tiến sâu vào thiền định, thì làm sao biết rõ căn cơ của chúng sinh, nên từ đó mới dùng phương tiện thiện xảo nào thích hợp để dìu dắt chúng sinh.

– Vì sao Bồ-tát tu tập thiền định được đầy đủ Lực ba-la-mật ?

Vì tất cả sự biến hóa tự tại đều dựa vào sức thần thông, mà sức thần thông cần nương nhờ thiền định mới phát.

– Vì sao Bồ-tát tu tập thiền định được đầy đủ Nguyện ba-la-mật ?

Trong Ma Ha Diễn ghi: “Thiền định của hàng Bồ-tát như đàn cầm của A-tu-la(13), (Khi muốn nghe đàn, không cần gảy đàn mà đàn vẫn tự phát âm thanh, đó là do phước đức của A-tu-la), đây là ví dụ cho tâm Bồ-tát không còn phân biệt, tự nhiên thích ứng với căn cơ của chúng sinh, dùng pháp phương tiện để giáo hóa chúng sinh”. Đây chính là tướng thành tựu thệ nguyện lớn của Bồ-tát.

– Vì sao Bồ-tát do tu tập thiền định mà đầy đủ Trí ba-la-mật ?

Nếu không được thiền định hiện tiền thì chẳng do đâu mà phát sinh Đạo chủng trí(14), Nhất thiết trí và Nhất thiết chủng trí(15). Nghĩa này có thể thấy rõ.

Bởi vì người tu hành chỉ cần khéo tu tập thiền định thì tự nhiên thành tựu mười pháp Ba-la-mật và đầy đủ muôn hạnh cùng tất cả pháp môn. Cho nên Bồ-tát muốn thệ nguyện đầy đủ, thực hành các Ba-la-mật, nhất định phải tu thiền định. Việc nầy trong Luận Ma Ha Diễn có nói rộng.

HỎI: Công hạnh Bồ-tát là độ chúng sinh, nhưng vì sao lại sống riêng một mình, xa lìa chúng sinh, để được rảnh rang, nhàn nhã thôi sao?

ĐÁP: Tuy Bồ-tát đã xả bỏ thân thể, nhưng thâm tâm không bao giờ bỏ chúng sinh. Ví như người bệnh cần uống thuốc để điều trị, bồi dưỡng thân thể, nên tạm thời đình chỉ các công tác, để sau khi bệnh lành rồi mới trở lại làm việc. Bồ-tát cũng vậy, thân tuy xa lánh chúng sinh, mà tâm thường nhớ nghĩ thương xót chúng sinh không thôi. Bồ-tát ở nơi an nhàn vắng vẻ, uống thuốc thiền định, được trí tuệ chân thật, trừ sạch vô minh, phiền não, đợi sau khi tu hành thành tựu lục thần thông, sẽ tái sinh trong sáu đường mà rộng độ chúng sinh.

Do những nguyên nhân đó mà Bồ-tát phát tâm tu tập Thiền định ba-la-mật, quyết tâm của các ngài bền chắc như kim cương, thiên ma ngoại đạo và hàng Nhị thừa không có cách gì phá hoại được.

*

Chú thích Chương 1:

(1) A-tu-la: một loài quỷ thần hiếu chiến của Ấn Độ bị xem là ác thần và thường tranh đấu với trời Đế Thích; 1 trong 6 đường, 1 trong tám bộ, 1 trong 10 giới.

Theo Phẩm Tu-la-luân trong Kinh Tăng Nhất A Hàm 3, thân hình của A-tu-la cao 84.000 do tuần, miệng rộng mỗi bề 1000 do tuần. Còn Phẩm A-tu- la trong Kinh Trường A Hàm 20, Phẩm A-tu-la trong Kinh Đại Lâu Thán 2, Kinh Khởi Thế Nhân Bản 5, đều ghi rõ nơi ở và sự tích của A-tu-la. Các kinh thường nêu, do ba nguyên nhân: sân, mạn, nghi nên khiến chúng sinh sinh vào loài A-tu-la. Nhưng Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt liệt kê ra 10 nguyên nhân sinh vào loài A-tu-la:

1/ Thân làm việc ác nhỏ,

2/ Miệng nói lời ác nhẹ,

3/ Ý nghĩ điều ác nhỏ,

4/ Khởi tâm kiêu mạn,

5/ Khởi tâm ngã mạn,

6/ Tăng thượng mạn,

7/ Đại mạn,

8/ Tâm tà mạn,

9/ Tâm mạn mạn,

10/ Lui sụt căn lành.

Hình tượng A-tu-la có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng A-tu-la có 9 đầu, 1.000 mắt, 990 tay hoặc 10.000 đầu, 20.000 tay hoặc 3 đầu, 6 tay. Có chỗ lại cho rằng A-tu-la có ba mặt, màu xanh đen, hiện tướng 6 tay, lõa hình giận dữ.

(2) Trời Lục dục (Sáu tầng trời cõi Dục):

1/ Tứ Thiên Vương (Đại Thiên vương, Tứ Vương thiên): gồm có bốn thiên tử Trì Quốc, Tăng Trưởng, Quảng Mục, Đa Văn và các thiên chúng phụ thuộc.

2/ Tam Thập Tam thiên (Đao Lợi thiên): gồm có 33 cõi, trời Đế Thích ở giữa, bốn phương mỗi phương đều có 8 cõi trời. 3/ Diệm Ma thiên (Dạ Ma thiên, Viêm Ma thiên, Thời Phần thiên): đứng đầu cõi trời này là Tu Dạ Ma thiên. 4/ Đâu Xuất thiên (Đổ Sử Đa thiên, Đâu Xuất Đà thiên, Hy Tức thiên): đứng đầu cõi trời này là San Đâu Xuất Đà thiên. 5/ Hóa Tự Tại thiên (Lạc Biến Hóa thiên, Vô Kiêu Lạc thiên, Vô Cống Cao thiên, Ni Ma La thiên): đứng đầu cõi trời này là Vua Thiện Hóa thiên. 6/ Tha Hóa Tự Tại thiên (Tha Hóa Chuyển thiên, Tha Hóa Lạc thiên, Hóa Ứng Thinh thiên, Ba-la-ni-mật thiên): đứng đầu cõi trời này là Tự Tại thiên. Trong đó, trời Tứ Thiên Vương ở lưng chừng núi Tu Di, trời Đao Lợi ở trên đảnh núi Tu Di, nên gọi hai tầng trời này là Địa Cư thiên. Bốn tầng trời từ cõi Dạ Ma thiên trở lên và các tầng trời cõi Sắc đều trụ giữa hư không, nên gọi là Không Cư thiên. Sáu tầng trời cõi Dục này tuy đối với thế gian có ba thứ thọ dụng khác nhau nhưng cũng thuộc về loại thọ hưởng dục, nên gọi là Dục sinh. (tđphhq)

(3) La-sát (Khả Úy, Tốc Tật Quỷ, Hộ Giả): loài ác quỷ trong thần thoại Ấn Độ, được thấy ghi đầu tiên trong bộ Lê Câu Phệ Đà, tương truyền La-sát nguyên là tên gọi dân tộc thổ trứ ở Ấn Độ, sau khi người A-ri-a chinh phục Ấn Độ, La-sát trở thành một đại danh từ chỉ cho kẻ ác, dần dần dùng làm tên gọi chung loài ác quỷ.

Nam La-sát có thân đen, tóc đỏ, mắt xanh; nữ La-sát gọi là: La-xoa-tư giống như người phụ nữ xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, chuyên ăn thịt, uống máu loài người. Tương truyền trong đảo Lăng Già (Tích Lan) có cõi nước của nữ La-sát. Loài La-sát này được ghi trong Kinh Phật Bản Hạnh, tập 49, Hữu Bộ Tỳ Nại Da 47, Huệ Lâm Âm Nghĩa 7 v.v… Quỷ La-sát có sức thần thông, có thể bay nhanh trong hư không hoặc đi nhanh trên mặt đất, bạo ác đáng sợ.

La-sát cũng còn chỉ cho một loại quỷ trong địa ngục, coi về việc trừng phạt tội nhân. Hình dáng của loài này có đầu trâu tay người hoặc có móng tay móng chân hoặc là đầu nai, đầu dê, đầu thỏ v.v… Ngoài các loài La-sát kể trên, trong kinh còn có ghi một loại La-sát là thần thủ hộ của Phật giáo, gọi là La-sát thiên.

(4) Sắc giới (Sắc thiên, Sắc Hành thiên): gọi chung là thế giới và chúng sinh có hình thể tốt đẹp, là chỗ ở của chư thiên một trong ba cõi. Chúng sinh cõi này tuy không dâm dục, không dính mắc sắc pháp, nhưng còn ràng buộc bởi các sắc pháp thanh tịnh vi tế, nên nằm giữa cõi Dục và cõi Trời vô sắc. Chư thiên cõi này không phân biệt nam nữ, áo quần tự nhiên hiện ra, lấy ánh sáng làm thức ăn và ngôn ngữ.

Ở cõi này y cứ vào sự nhập định sâu cạn mà chia ra làm bốn địa: Sơ thiền gọi là Ly sinh hỷ lạc, Nhị thiền gọi là Định sanh hỷ lạc, Tam thiền gọi là Ly hỷ diệu lạc, Tứ thiền gọi là Xả niệm thanh tịnh. Theo Luận Câu Xá 8: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền mỗi địa đều có riêng ba tầng trời, Tứ thiền có tám tầng trời, cộng chung là mười bảy tầng trời. Tầng trời của Sơ thiền: Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên, Đại Phạm thiên; Ba tầng trời của Nhị thiền: Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên, Cực Quang Tịnh thiên; Ba tầng trời của Tam thiền: Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên, Biến Tịnh thiên; Tám tầng trời của Tứ thiền: Vô Vân thiên, Phước Sinh thiên, Quảng Quả thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Hiện thiên, Thiện Kiến thiên, Sắc Cứu Kính thiên. Mười bảy tầng trời này gồm khí thế gian và những hữu tình, gọi chung là cõi Sắc, nhưng sự phân lập các tầng trời ở cõi Sắc có nhiều thuyết khác nhau.

Vô sắc giới (Vô sắc thiên, Vô sắc hành thiên): thế giới siêu vượt vật chất. Những người nhàm chán sắc chất tu Tứ vô sắc định, sau khi chết sinh về cõi này. Sự sinh tồn của thế giới này hoàn toàn không có sắc pháp, nơi chốn, nên không có không gian cao thấp khác nhau, nhưng do quả báo tốt xấu sai biệt nên chia thành bốn chỗ.

Về thọ mạng của bốn tầng trời này có nhiều thuyết khác nhau, theo Luận Đại Tỳ Bà Sa 84 ghi: “Chư thiên ở Không vô biên xứ, sống 2 vạn kiếp, ở cõi Thức vô biên xứ, sống 4 vạn kiếp, ở Vô sở hữu xứ, sống 6 vạn kiếp và ở Phi phi tưởng xứ, sống 8 vạn kiếp”. Theo Kinh Trường A Hàm 20 thì theo thứ lớp là 10.000 kiếp, 21.000 kiếp, 42.000 kiếp, 84.000 kiếp. Theo Luận Lập Thế A Tỳ Đàm 7, thì bốn tầng trời mỗi tầng chia làm ba phẩm: thượng, trung, hạ, từ 17.500 đại kiếp của hạ phẩm Không vô biên xứ, cho đến 80.000 đại kiếp của thượng phẩm Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tất cả có thọ lượng sai biệt của 12 phẩm. Ngoài ra, vì ở tầng cao nhất của thế giới hữu tình là Phi phi tưởng xứ còn được gọi là trời Hữu Đảnh. Hữu tình ở cõi Trời vô sắc đều là người nam nhưng không có nam căn.

(5) Ngoại đạo Irthaka (Ngoại giáo, Ngoại pháp, Ngoại học): tất cả các tôn giáo không phải Phật giáo, tương đương với danh từ “dị đoan” của Nho giáo. Nghĩa gốc của danh từ irthaka là chỉ thần thánh hoặc người ở ẩn đáng được tôn kính. Lúc đầu là từ ngữ mà Phật giáo dùng để gọi các giáo phái khác như: Chính thuyết giả, Khổ hạnh giả. Phật giáo tự xưng là nội đạo và kinh điển Phật giáo gọi là nội điển, kinh điển ngoài Phật giáo là ngoại điển. Đến đời sau, dần dần phát minh thêm nghĩa “Dị kiến, Tà thuyết”, cho nên từ “ngoại đạo” trở thành danh từ có tính cách khinh thường, chê bai với ý nghĩa là pháp không đúng chân lý.

Tam Luận Huyền Nghĩa, thượng, ghi: “Chí diệu rỗng rang, gọi đó là đạo, tâm ở ngoài đạo, gọi là ngoại đạo”. Trong các kinh luận có nêu lên nhiều phái ngoại đạo, thông thường chỉ nhóm Lục sư ngoại đạo: Phú-lan-na Ca-diếp, Mạt-ca-lợi-cùi-lê-tử, San- xà-đa-tỳ-la-chi-tử, A-kỳ-đa-chi-xá-khâm-bà-la, Ca- la-câu-đà-ca-chiên-diên, Ni-càn-đà nhã-đề-tử và 6 phái triết học: Luận sư, Du già, Thắng luận, Chính lý, Thanh luận, Phệ-đàn-đa. Ngoài ra còn có sự phân biệt ngoại đạo Tứ chấp, Tứ kiến, Tứ kế, Tứ tông: là loại chuyên chấp trước các pháp là một, là khác; chấp các pháp chẳng phải đồng, chẳng phải sai khác; chấp thế gian là thường, vô thường; chấp có nhân quả không nhân quả. Lục phái ngoại đạo: Tự ngã, Đầu uyên, Phó hỏa, Tự tọa, Tịch nhiên và Ngưu cẩu (ngoại đạo học tập theo trâu, chó để cầu sinh lên cõi trên). Ngoại đạo thập lục tông (Thập lục dị luận, Thập lục ngoại đạo, Thập lục kế): chín mươi sáu phái ngoại đạo. Theo Luận Đại Tỳ Bà Sa 4 thì Lục sư ngoại đạo, mỗi vị đều có 15 đệ tử, đưa ra 15 dị kiến, tổng cộng là 90 dị kiến; pháp của thầy và đệ tử khác nhau, cho nên 90 đệ tử cộng thêm 6 thầy thì thành 96 phái khác nhau, dùng con số này để dụ cho ngoại đạo rất nhiều.

Kinh Niết Bàn 10 thì nêu lên 95 phái ngoại đạo. Ngoài ra còn có các ngoại đạo khác như: Thuận thế, Xuất gia, (đối lại tại gia) Đồ khôi, Ngoại đạo gá Phật pháp, ngoại đạo Ca-bà-ly (kế tóc) v.v… trong các kinh điển có chia các ngoại đạo ra làm hai loại chính: một là Ngoài ngoại đạo, hai là Nội ngoại đạo, Ngoài ngoại đạo chỉ chung cho các giáo pháp, học phái ngoài Phật giáo, đồng nghĩa với ngoại đạo theo nghĩa rộng, còn Nội ngoại đạo thì chỉ cho những người nương gá vào Phật pháp hoặc người vọng chấp một kiến giải trong Phật pháp hoặc tu hành không đúng chánh pháp. Ngoại đạo trong Mật giáo đồng nghĩa với ngoại đạo theo nghĩa rộng; còn Nội ngoại đạo thì có hai loại: một là hàng Nhị thừa, Thanh văn và Duyên giác, hai là chỉ tông phái thuộc Hiển giáo.

(6) Đoạn kiến: loại kiến chấp các pháp thế gian và ngã đều phải đoạn diệt. Theo Luận Đại Trí Độ 26, đoạn kiến có hai loại: không có quả báo tội phước, khổ vui, đời sau và chấp tất cả pháp đều Không.

Thường kiến: kiến chấp chủ trương thế giới là thường trụ bất biến, tự ngã con người cũng bất diệt, tự ngã này sau khi chết cũng không tiêu diệt, lại có khả năng tái sinh và tái diễn lại hiện trạng tương tục, tức nói ngã là thường trụ. Đức Thích Tôn chẳng những không thiên về Thường kiến cũng không thiên về Đoạn kiến. Còn thuyết linh hồn bất diệt thì thuộc một trong những trường hợp chấp thường kiến, chủ nghĩa hư vô thì thuộc một trong những trường hợp chấp đoạn kiến. Đức Thích Tôn chủ trương xa lìa hai bên và thực hành trung đạo.

(7) Trung đạo: là tướng trạng chân thật của vũ trụ, nếu ngộ được lý này thì sẽ có khả năng tự do tự tại, nhập vào mười pháp giới từ cõi Phật đến địa ngục, vì cội nguồn của sự biến hóa có bao hàm cả lý trung đạo.

(8) Niết-bàn: Niết-bàn có 3 loại: Tính tịnh Niết-bàn, Viên tịnh Niết-bàn và Phương tiện tịnh Niết-bàn. Đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên thị hiện thân già huyễn, khi hết duyên thì nhập Niết-bàn. Hàng Thanh văn, Duyên giác nhập Vô dư y Niết-bàn, sau đó lại hồi tâm chuyển hướng Đại thừa giáo, gọi là Vô dư hoàn sinh. Đồng thời Niết-bàn là xa lìa tất cả những tướng trạng sai biệt của các pháp, nên gọi là ly tướng.

Theo Tông Tịnh Độ, Tịnh độ của Phật A Di Đà là Niết-bàn vô vi. Theo Tông Duy Thức, Niết bàn có bốn loại: Bản lai tự tính thanh tịnh Niết-bàn, Hữu dư y Niết-bàn, Vô dư y Niết-bàn và Vô trụ xứ Niết-bàn.

Trong bốn loại Niết-bàn này, Bản lai tự tính thanh tịnh Niết-bàn, Tính tịnh Niết-bàn chỉ cho chân như, nghĩa là tướng bản lai của tất cả vạn vật là lý thể chân như tịch diệt. Vô trụ xứ Niết-bàn là nương nơi trí tuệ xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng, không trệ vào cõi mê sinh tử. Vì tâm đại bi cứu độ chúng sinh nên qua lại trong ba cõi mê mà không dừng trệ nơi Niết-bàn. Đây là nét đặc sắc của Phật giáo Đại thừa. Ma-ha-diễn: giáo pháp Đại thừa.

(9) Vô lượng nghĩa xứ Tam-muội: Tam-muội là chánh định mà Đức Phật nhập, khi muốn nói Kinh Pháp Hoa. Vô lượng là vô lượng pháp môn như Tam thừa, Ngũ thừa. Nghĩa xứ là y chỗ vô lượng nghĩa, tức là thật tướng. Tam-muội thật tướng vô tướng này phát sinh vô lượng pháp nghĩa.

(10) Vô vi: pháp không có tạo tác, lìa sinh diệt biến hóa và tuyệt đối thường trụ, vốn là tên khác của Niết- bàn, người đời sau ngoài Niết bàn lại lập ra các thứ vô vi, do đó sinh ra nhiều thuyết vô vi như : Tam vô vi, Lục vô vi, Cửu vô vi. Phái Nhất Thiết Hữu Bộ lập tam vô vi : Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi và Hư không vô vi.

(11) Kim cương tam-muội: chánh định thông đạt các pháp, vì định này kiên cố có khả năng diệt trừ tất cả những phiền não. Như kim cương, không vật nào không bị nó phá vỡ.

(12) Sáu tình (Sáu căn): vì các kinh điển (cựu dịch) phần nhiều dịch là lục tình, vì sáu căn đều có tình thức nên gọi là lục tình.

(13) Đàn cầm của A-tu-la: loài A-tu-la do phước đức mà có cây đàn này. Khi A-tu-la muốn nghe một khúc nhạc, dù không có người đàn, cây đàn cũng tự phát ra âm thanh theo sở thích của họ. Luận Đại Trí Độ dùng sự tích cây đàn này là dụ cho Bồ-tát đã chứng Pháp thân, tâm không phân biệt, tự nhiên ứng theo căn cơ chúng sinh mà thuyết pháp giáo hóa.

(14) Đạo chủng trí: trí tuệ biết khắp tất cả các pháp môn sai biệt của thế gian và xuất thế gian, là Bất động trí của Bồ-tát. Tông Thiên Thai phối hợp trí này với Giả Quán trong ba quán: Không, Giả, Trung và cho đó là trí hóa đạo được thành tựu do phá trừ trần sa hoặc.

(15) Nhất thiết trí: trí biết rõ các pháp tướng trong ngoài, một trong ba trí. Ngoài ra, Nhất thiết trí đối với Nhất thiết chủng trí có hai nghĩa: chung và riêng.

Nghĩa chung: Nhất thiết trí là Phật trí. Đồng nghĩa với Nhất thiết chủng trí. Theo Hoa Nghiêm Kinh Sớ 16, Như Lai dùng trí tuệ vô lậu, biết các pháp vô lậu thì trí huệ đó gọi là Nhất thiết trí.

Nghĩa riêng: Nhất thiết trí là trí tuệ về tính không, xem thế giới bình đẳng, đây là trí tuệ của bậc Thanh văn, Duyên giác. Nhất thiết chủng trí là trí tuệ về sự tướng, thuộc thế giới sai biệt, là Phật trí thấu rõ “Tướng bình đẳng tức là tướng sai biệt”.

***

CHƯƠNG 2: GIẢI THÍCH DANH TỪ THIỀN BA-LA-MẬT

Nay giải thích danh từ thiền có ba phần:

A. Phân biệt chỗ đồng và bất đồng

B. Dịch và giải thích

C. Tổng kết

A. PHÂN BIỆT CHỖ ĐỒNG VÀ BẤT ĐỒNG

Chia làm hai phần để giải thích:

a) Đồng danh từ

Cũng một danh từ “thiền”, nhưng sở chứng đắc thiền định của phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát, chư Phật có khác nhau, nhưng gọi chung là “thiền”.

b) Chỗ bất đồng

Ba chữ “Ba-la-mật” còn gọi là đến bờ kia, nhưng chỉ có Phật và Bồ-tát mới chứng đạt được đến bờ kia.

Trong Luận Ma Ha Diễn ghi: “Thiền định của hàng Bồ-tát gọi là Ba-la-mật”. Đây chính là chỗ bất đồng. Vì hàng phàm phu đắm chấp, hàng ngoại đạo chấp trước tri kiến, hàng Nhị thừa không có tâm đại từ, đại bi, không có phương tiện độ sinh, cho nên không thể tu trọn vẹn tất cả các thiền định. Vì không đạt đến bờ kia, nên nói Ba-la-mật là chỗ bất đồng vậy.

Lại nữa, Tứ thiền (bốn tầng thiền căn bản) hàng phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát và chư Phật đều chứng được định này, cho nên nói là đồng.

“Ba-la-mật”, gọi là Độ vô cực, (tức là không có pháp nào độ thoát có thể sánh hơn năng lực này). Chỉ có hàng Bồ-tát và chư Phật mới được đầy đủ. Vì có khả năng thông đạt trung đạo, chứng ngộ Phật tính, phát sinh chín loại thiền lớn (Cửu chủng đại thiền(1)), chứng đắc Đại Niết-bàn(2), do đó chẳng đồng hàng phàm phu, nhị thừa, cho nên nói là bất đồng.

Nếu luận chung, thì không nhọc phải phân tích. Vì sao? Vì thiền có chia ra đồng và chẳng đồng, danh từ “Ba-la-mật” cũng như thế, cho nên Luận Ma Ha Diễn ghi: “Ngữ pháp ở Ấn Độ, hễ có việc gì hoàn thành, đều gọi là Ba-la-mật”.

B. DỊCH VÀ GIẢI THÍCH DANH TỪ THIỀN

Gồm có danh từ đồng và bất đồng:

I- DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐỒNG DANH TỪ

Chia làm hai phần:

1. Dịch danh từ thiền

2. Giải thích danh từ thiền

1. Dịch danh từ thiền

Danh từ “thiền” là gọi tắt chữ thiền-na (dhyna), thuộc ngôn ngữ nước Ấn Độ, ở Trung Quốc dịch danh từ thiền không cố định. Nay lược ra 3 nghĩa.

– Trong Luận Ma Ha Diễn dịch chữ “thiền” là Tư duy tu.

– Ví dụ như chữ Đàn ba-la-mật nghĩa là Bố thí độ, cho nên Thiền ba-la-mật gọi là Định độ, vì lấy ý nghĩa thiền định để phiên dịch danh từ Thiền.

– Trong Luận A Tỳ Đàm dịch chữ “thiền” là Công đức tùng lâm.

2. Giải thích danh từ thiền

Ba ý nghĩa trên được chia làm hai phần để giải thích:

a) Giải thích riêng

Ý nghĩa danh từ Tư duy tu là chỉ cho nhân. Vì sao? Vì tư duy nghĩa là tâm niệm suy nghĩ, tu là chuyên tâm nghiên cứu tu tập, nên tu thuộc về nhân.

Chữ Thiền dịch là định đây là đối với quả. Vì cớ sao? Định tức là nội tâm vắng lặng, tịch tịnh, người tu hành dứt tâm tán loạn, để tìm cầu sự tịch tĩnh (vắng lặng, yên tĩnh). Sau khi đạt được mục đích tu tập, đây thuộc về quả.

Dịch chữ Thiền là Công đức tùng lâm, đây là giải thích bao gồm cả nhân và quả.

– Công phu tu tập là nhân.

– Tích chứa công phu thành tính là quả.

– Công phu tu tập muôn hạnh là nhân.

– Tích chứa thành muôn đức là quả.

Nhân và quả gộp chung lại gọi là công đức. Công đức tùng lâm. Tùng lâm: nghĩa là công đức chẳng phải một thứ, giống như nhiều loại cây

cỏ nhỏ mọc um tùm gọi là tùng, nhiều cây lớn tụ họp gọi là lâm. Cây nhỏ mọc um tùm, ví dụ như công đức nhỏ trong nhân, rừng cây lớn có thể ví dụ như đức lớn trong quả, từ đó mà suy ra thì danh từ Công đức tùng lâm đều đầy đủ cả nhân và quả.

b) Giải thích chung

Danh từ Thiền dịch ra ba ý nghĩa, đều đối với nhân và quả để giải thích. Như danh từ Tư duy tu, tuy chỉ cho nhân cũng có thể đối với quả. Vì sao? Vì “tĩnh lự” trong thiền định, tức là tư duy, tu từ thấp lên cao gọi là tu. Đây là thuyết của phái Số nhân cửu tu(3), (Nhất Thiết Hữu Bộ), căn cứ theo ý nghĩa chữ Tu, cho nên đối với trong quả, cũng gọi là Tư duy.

Danh từ “định” cũng có thể chỉ cho nhân. Như Thập đại địa tâm số(4), tuy tâm tán loạn mà còn gọi là định, huống gì người tu hành, chuyên tâm nhiếp niệm không tán loạn, vì sao không thể gọi là định? Cho nên trong nhân cũng gọi là định.

Ý nghĩa danh từ Công đức tùng lâm cũng có trong nhân, ý này đã nói ở phần trước; do nỗ lực dụng công, nên nhân tu mà thành tựu công đức. Ý nghĩa chữ đức trong quả cũng đã nói qua, cho nên nói chữ công là chỉ cho công dụng ở trên quả, xa lìa lỗi lầm, nội tâm tịch tĩnh, dùng thần thông biến hóa lợi ích chúng sinh gọi là công. Nói tóm lại, nhân và quả đều thành tựu các công đức lành, gọi chung là Công đức tùng lâm.

Do các kinh luận phiên dịch danh từ và lập nghĩa chẳng đồng, hoặc gọi thiền là (khí ác) bỏ ác, hoặc là (tật đại tật) nhanh chóng, hay là (trụ đại trụ) trụ thâm sâu. Những danh từ và ý nghĩa khác nhau như thế, không nên chấp chặt.

II- DỊCH VÀ GIẢI THÍCH DANH TỪ BẤT ĐỒNG

Chia làm hai phần:

1. Phiên dịch danh từ

2. Giải thích danh từ

1. Phiên dịch danh từ Ba-la-mật

Danh từ Ba-la-mật (Pramit) có ba nơi dịch khác nhau:

– Trong các kinh luận, đa số dịch Ba-la-mật là

Đáo bỉ ngạn.

– Trong Luận Ma Ha Diễn dịch là Cứu cánh.

– Kinh Thụy Ứng dịch là Độ vô cực.

2. Giải thích danh từ Ba-la-mật

Ý nghĩa của ba danh từ này, chia làm hai phần: Giải thích riêng và Giải thích chung, trong đó chủ yếu nói về sự và lý.

a) Giải thích riêng

Đáo bỉ ngạn tức là đến bờ kia, ngạn là bờ sinh tử, bỉ ngạn là bờ kia Niết-bàn. Nghĩa là ví dụ phiền não như dòng nước chảy, Bồ-tát dùng trí tuệ vi diệu không hình tướng, cưỡi thuyền thiền định, từ bờ sinh tử vượt đến bờ kia Niết-bàn, đây là từ nơi lý thể để giải thích Ba-la-mật.

Giải thích chữ Cứu cánh nghĩa là tâm đại bi của Bồ-tát vì chúng sinh, tu đầy đủ viên mãn tất cả trên sự tướng. Nên trong Kinh Ma Ha Diễn ghi: “Bồ-tát nhân tu thiền định mà các sự việc đều được hoàn tất. Thiền định ở trong tâm của Bồ-tát gọi là Ba-la-mật”. Đây là căn cứ việc tu hành trên sự tướng để giải thích Ba-la-mật.

Độ vô cực nghĩa là nói chung cả sự và lý. Do sự và lý đều có ý nghĩa vi tế sâu xa, cho nên gọi chung là Độ vô cực. Đây là hạnh của Bồ-tát có thể tu hành viên mãn sự và lý nên nói Ba-la-mật.

b) Giải thích chung

Phiên dịch ý nghĩa cả ba danh từ trên có đầy đủ sự và lý, do tùy duyên giáo hóa chúng sinh, nên lập danh từ chẳng đồng.

Vì sao? Nếu nói trí tuệ vô tướng mới có thể vượt thoát sinh tử, là thuộc về lý hạnh, đã thuộc về lý thì dù có Phật hay không Phật, tính tướng vẫn thường hằng, đâu cần phải có trí tuệ vô tướng mới có thể vượt thoát sinh tử sao? Thực tế đây là tùy theo tu hành trên sự tướng mà giải thích vậy.

Sự cứu cánh cũng từ nơi lý mà đặt tên, hoặc từ trên lý thể mà khởi sự tu, nên nói sự cứu cánh cũng là thuộc về lý thì gọi là Ba-la-mật.

Độ vô cực cũng không nhất định phải đầy đủ cả sự và lý mới gọi là Ba-la-mật. Vì sao? Vì chư Phật tùy theo cơ duyên để làm lợi ích chúng sinh, ra vào không cố định. Do đó danh từ Độ vô cực có lúc đối với sự, hoặc đối với lý, lẽ nào có chuẩn tắc nhất định?

Nên biết danh từ thuộc về lý thể và sự tướng đắp đổi lẫn nhau, không nhất định phải nghiêng về một cái, suy ra có thể biết.

Ý nghĩa của Ba-la-mật, đến phần kết hội quy thú của Chương 10 sẽ giải thích rõ ràng.

C. TỔNG KẾT

Như Luận Ma Ha Diễn ghi:

HỎI: Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ v.v… sao không gọi là Ba-la-mật mà chỉ gọi riêng Thiền là Ba-la-mật?

ĐÁP: Thiền thật vô cùng to lớn như vị quốc vương, chỉ nói danh từ Thiền ba-la-mật là bao gồm tất cả. Trong Tứ thiền có 108 tam-muội như : Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Tứ vô lượng tâm, Ngũ thần thông, Luyện thiền tự tại định, Thập tứ biến hóa tâm, Vô tránh tam-muội(5), Nguyện, Trí, Đảnh, Thiền, Thủ-lăng-nghiêm(6) v.v…

120 tam-muội của chư Phật bất động, đều hoàn toàn ở trong Thiền.

Chư Phật thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn, các công đức thù thắng vi diệu đều ở trong thiền định. Do đó chỉ cần nói chữ “Thiền” là bao hàm thâu nhiếp tất cả, nếu nói những pháp Định nào khác thì không thể thâu nhiếp hết, cho nên Thiền gọi là Ba-la-mật.

Lại nữa, trong Tứ thiền, trí tuệ và định lực bình đẳng, nên gọi là Ba-la-mật. Định Vị đáo địa và Trung gian thiền thì trí tuệ nhiều mà định lực ít, Tứ vô sắc định thì trí tuệ ít mà định lực nhiều. Ví dụ như xe có hai bánh, một bánh cứng một bánh quá mềm, thì không vận chuyển được. Tứ thiền có tuệ và định bình đẳng nên gọi là Ba-la-mật.

Dùng danh từ Thiền để thuyết minh Ba-la- mật thì bao hàm thâu tóm tất cả các pháp Định.

Vì sao? Chữ Thiền ở Trung Hoa vào đời Tần dịch là Tư duy tu, các pháp định này đều do công đức tư duy mà thành tựu, nên các định cũng đều được có danh từ Ba-la-mật. Kinh Bát-nhã có nói về 100 loại ba-la-mật, trong đó có nói Bát bối xả, Bát thắng xứ v.v… cũng đều gọi là Ba-la-mật. Nhưng chỉ bốn loại thiền căn bản (Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền) là có danh từ “Thiền” trước tiên, còn các pháp định khác thì không gọi là Thiền.

HỎI: Phần giải thích về Thiền, Định, Tam-muội và Ba-la-mật v.v… giống nhau hay khác nhau ?

ĐÁP: Nếu luận chung thì danh và nghĩa qua lại lẫn nhau; nếu luận riêng từng phần, danh và nghĩa của bốn pháp mỗi mỗi đều có đặc sắc riêng.

Vì sao? Vì chỉ gọi bốn loại thiền căn bản (tứ thiền) là Thiền, chẳng phải Định, Tam-muội, nên không thể gọi là Ba-la-mật.

Các định Vô sắc giới chỉ gọi là Định, không phải Thiền tam-muội, nên không thể gọi là Ba-la-mật.

Định Vị đáo địa và Trung gian thiền, tuy chẳng phải là thiền định chân chánh, chỉ là phương tiện, nên gọi là Thiền, hoặc là Định, do không phải Tam-muội, nên không thể gọi là Ba-la-mật.

Không tam-muội, Vô tướng tam-muội v.v… chỉ gọi là Tam-muội, không phải Thiền, Định, nên không thể gọi là Ba-la-mật.

Pháp quán Bát bối xả, Bát thắng xứ, Lục thông, Tứ biện tài v.v… đều có đủ ba thứ Thiền, Định và Tam-muội, nhưng không gọi là Thiền, Định, Tam- muội, nên không thể gọi là Ba-la-mật.

Cửu thứ đệ định tuy có đầy đủ cả ba pháp, nhưng chỉ gọi là Định, không thể gọi Thiền tam- muội, nên chẳng phải Thiền ba-la-mật.

Các Tam muội có Giác, có Quán và Sư tử tam-muội, Siêu việt tam-muội, Vô tránh tam-muội v.v… tuy có đầy đủ ba pháp, nhưng chỉ gọi là Tam-muội, không gọi Thiền, Định, cũng chẳng phải Ba-la-mật.

Nguyện, Trí, Đảnh v.v… cũng đủ cả ba pháp, nhưng chỉ gọi là Thiền, không gọi Định, Tam-muội, nên không phải Ba-la-mật.

Cửu chủng đại thiền và định Thủ Lăng Nghiêm v.v… đều có đầy đủ bốn pháp, cũng gọi là Thiền, Định, Tam-muội, đây mới chính là Ba-la-mật. Nếu dùng định Thủ-lăng-nghiêm nhập vào trong ba pháp trên, thì đều gọi là Ba-la-mật, nên tất cả pháp môn trong 100 Ba-la-mật đều gọi là Ba-la-mật.

Nay phân tích bốn pháp: Thiền, Định, Tam-muội, Ba-la-mật như trên, đối với bậc Thánh nhân, các ngài khéo léo tùy duyên làm lợi ích cho chúng sinh, thì không cần giải thích cố định. Nên trong các kinh luận dựng lập các danh từ (Thiền, Định, Tam-muội và Ba-la-mật) hàm ý thật khó thấy, do đó không thể lầm chấp.

Trong kinh luận phần nhiều lấy Thiền để thuyết minh Ba-la-mật, vì bốn loại thiền căn bản (tứ thiền) là nền tảng sự tu hành. Trong tất cả các công đức đều do bốn loại thiền đó mà được phát sinh, nương nơi đó mà an trụ, cho nên chỉ riêng Thiền mới được nhận danh từ Ba-la-mật.

HỎI: Thiền ba-la-mật chỉ có một danh từ hay có danh từ nào khác ?

ĐÁP: Trong Kinh Niết Bàn có ghi: “Phật tính gồm có năm danh từ: Thủ Lăng Nghiêm, Bát-nhã, Trung đạo, Kim cương tam-muội, Đại Niết-bàn”. Cũng gọi Thiền ba-la-mật tức là Phật tính.

Nên biết rằng những pháp môn kỳ diệu, thù thắng có ghi chép trong các kinh điển, có vô lượng danh từ, đều là tên gọi khác của Ba-la-mật. Nên Kinh Ma Ha Diễn có nói :

Bát-nhã là một pháp,

Phật thuyết có nhiều tên,

Tùy mỗi loài chúng sinh,

Mà lập riêng tên gọi.

Người chứng đắc Bát-nhã,

Tâm hý luận đều diệt,

Ví như mặt trời mọc,

Sương móc liền tan sạch.

Do đó danh từ Thiền làm sao không trùm khắp tất cả? Nếu thiền định không thâu nhiếp đầy đủ các pháp, thì ý nghĩa chẳng phải là cứu cánh, làm sao được danh từ Ba-la-mật?

HỎI: Thật tướng của các pháp: Thủ Lăng Nghiêm, Đáo bỉ ngạn v.v… chỉ có Phật mới gọi là cứu cánh, vì sao thiền định mà hàng Bồ-tát tu cũng gọi là Ba-la-mật?

ĐÁP: Đây là từ nhân mà nói quả, tùy theo phần chứng của Bồ-tát. Theo Đốn giáo có nói: “Sơ phát tâm và cứu cánh, cả hai không có sai khác”. Do nhiều nghĩa như thế, nên thiền định mà Bồ-tát tu hành, cũng được gọi là Ba-la-mật.

*

Chú thích chương 2:

(1) Cửu chủng đại thiền: 9 loại thiền của đại thừa.

Theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa 4, khi so sánh với các loại thiền khác thì Cửu chủng đại thiền giống như vị đề-hồ, là xuất thế gian thượng thượng thiền.

(2) Đại Niết-bàn (Ma-ha bát-niết-bàn-na) (Đại diệt độ, Đại viên tịch): cảnh giới giải thoát hoàn toàn của chư Phật.

Theo Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú, thượng. Đại là Pháp thân, diệt là giải thoát, độ là Bát-nhã, là ba đức của chư Phật. Theo Kinh Niết-Bàn (bản bắc, đại 12, 521, trung) ghi: “Bồ-tát ma-ha-tát tu Đại Niết-bàn đối với tất cả pháp đều không có sở kiến, nếu có sở kiến thì không thấy được Phật tính, không thể tu tập Bát-nhã ba-la-mật, không vào được cảnh giới Đại Niết-bàn”.

(3) Số nhân cửu tu (số kinh, số sư, số gia, số nhân): tên gọi khác của luận tạng thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, (Tát-ba-đa-bộ) của Tiểu thừa, cũng là danh từ gọi thay cho Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ.

Số của Số luận có hai nghĩa, một là Huệ số, hai là Pháp số. Nói theo nghĩa Huệ số thì trong tam học của tam tạng, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chú trọng về A-tỳ-đàm, nên gọi là Tông A Tỳ Đàm. Giáo phái của tông này được hiển bày là dùng huệ học để đoạn hoặc chứng lý; nhưng giáo nghĩa tông này lại đặt nặng vấn đề tâm sở hữu pháp, nên thời xưa gọi là Tâm số. Do đây có thể biết tông này dùng huệ học làm nền tảng, cho nên gọi luận tạng của họ cũng được gọi là Số luận. Nếu nói theo pháp số, thuyết này lập 75 pháp số. Vả lại ý nghĩa của tông này cũng là căn bản pháp số của Phật giáo, nên giáo nghĩa của họ nói ra hoặc luận tạng mà họ tôn trọng gọi là Số luận. Thời gian từ thời đại Nam Bắc triều đến thời Sơ Đường, giới Phật giáo quen gọi các vị trong Tông Địa Luận là Địa sư, Tông Thành Thật Luận là Luận gia, Nhiếp Luận là Nhiếp sư, theo đây thì gọi các vị trong Tông A Tỳ Đàm là Số gia, Số sư, Số nhân.

Ngoài ra, trong sáu phái triết học ở Ấn Độ cũng có một phái gọi là Số luận. Giáo nghĩa của phái này là dùng trí tuệ phân biệt để suy lường các pháp, tên phái này tuy giống với tên Số luận (A-tỳ- đàm) của Tiểu thừa, nhưng tông chỉ và giáo nghĩa thì khác xa nên gọi phái này là Số Luận Ngoại Đạo để phân biệt với Số luận A Tỳ Đàm của Phật giáo.

(4) Thập đại địa tâm số: là (10 tâm sở) tác dụng tâm lý tương ưng và đồng thời sinh khởi với tất cả tâm: thụ, tưởng, tư, xúc, dục, huệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam-ma-địa, (tam-ma-địa là chánh định, đẳng trì tức là chuyên tâm một cảnh).

(5) Vô tránh tam-muội: chánh định trụ trong lý Không và không tranh luận với người, ngài Tu Bồ Đề là người thông hiểu lý Không bậc nhất, cho nên trong các đệ tử Phật, Sư là người bậc nhất chứng được Vô tránh tam-muội.

Kinh Kim Cương, đại 8, 749, hạ ghi: “Phật nói con được Vô tránh tam-muội, là bậc nhất trong loài người, là A-la-hán ly dục đệ nhất”. Kim Cương Lược Sớ Thích của ngài Nguyên Hiền cho rằng bậc chứng nhập Vô tránh tam-muội, do hiểu được lý Không cho nên mình và người đều quên, không làm não hại chúng sinh, cũng làm cho chúng sinh không khởi phiền não. Hành giả hàng Sơ môn của Viên giáo chủ trương khi tu tất cả vô lậu để đối trị thiền định Quán, Luyện, Huân, Tu, thì liền chứng Thánh quả, là Đại A-la-hán, đầy đủ lục thông, tam minh đồng thời chứng được Vô tránh tam-muội.

(6) Thủ Lăng Nghiêm (Thủ Lăng Nghiêm tam-ma-địa, Thủ Lăng Già Tam-ma-đề, Thủ Lăng Nghiêm định): ý nghĩa (Đại căn bản định, Kiện tướng tam muội, Kiện hành định, Dũng kiện định, Dũng định) định này nhiếp giữ các pháp một cách vững chắc, là 1 trong 108 tam-muội, là loại thiền định mà chư Phật và hàng Bồ-tát thập địa chứng đắc. Luận Đại Trí Độ 47, đại 25, 398, hạ, ghi: “Thủ Lăng Nghiêm tam- muội, đời Tần dịch là Kiện tướng. Phân biệt được hành tướng các tam-muội sâu cạn, nhiều ít, như vị đại tướng biết rõ năng lực của binh sĩ mạnh hay yếu. Hơn nữa, Bồ-tát chứng được tam-muội này thì các ma phiền não không thể phá hoại, như vị Chuyển Luân Thánh Vương đứng đầu đội binh tướng giỏi, bất cứ đi đến đâu đều hàng phục tất cả”.

Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, thượng, hàng Bồ-tát Sơ địa đến Cửu địa chưa thể chứng được tam-muội này, chỉ có hàng Bồ-tát Thập địa mới chứng được tam muội này. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội gồm 100 hạng mục: chuyển tâm giống như hư không, quán sát các tâm chúng sinh hiện tại, phân biệt các căn lợi độn của chúng sinh. Tam- muội này không thể dùng một việc, một duyên, một nghĩa mà biết được, tất cả thiền định giải thoát tam- muội, thần thông như ý, trí tuệ vô ngại đều nằm trong Thủ Lăng Nghiêm, ví như các khe suối, sông ngòi đều chảy vào biển cả. Cho nên tất cả thiền định của Bồ-tát và tất các các pháp môn như: tam- muội, thiền định, biện tài, giải thoát, đà-la-ni thần thông, giải thoát đều nằm trong Thủ Lăng Nghiêm tam-muội.

Kinh Niết Bàn, 25 (bản Nam) cho rằng Phật tính tức là Thủ Lăng Nghiêm tam-muội, tam-muội này có 5 danh từ: Thủ Lăng Nghiêm tam-muội, Bát-nhã ba-la-mật, Kim cương tam-muội, Sư tử hống tam-muội và Phật tính, “Thủ lăng” chỉ cho rốt ráo, “Nghiêm” nghĩa là vững chắc, nên gọi định này là Phật tính.

***

CHƯƠNG 3: GIẢI THÍCH THIỀN BA-LA-MẬT

(Thiền có hai môn: Sắc, Tâm và ba loại thiền: Thế gian, Xuất thế gian và Xuất thế gian thượng thượng)

Sau khi hành giả đã hiểu ý nghĩa danh từ Thiền ba-la-mật và hiểu được thể tính Thiền ba- la-mật, nếu muốn tiến tu, cần phải có phương tiện vào cửa. Nay giới thiệu phương tiện vào cửa, có ba phần:

A. Tiêu đề thiền môn

B. Giải thích

C. Tổng kết

A. TIÊU ĐỀ THIỀN MÔN

Nếu tìm trong các kinh luận thì nhiều vô lượng, nhưng căn bản chỉ có hai mà thôi, đó là Sắc và Tâm. Như bài kệ trong Luận Ma Ha Diễn ghi:

Trong tất cả các pháp,

Chỉ có danh và sắc,

Nếu muốn quán như thật,

Cũng nên quán danh, sắc.

Tuy tâm si nhiều tưởng,

Với các pháp phân biệt,

Lại không có một pháp,

Ra ngoài danh và sắc.

Nói về Sắc, có hai pháp môn, như trong kinh ghi: “Hai cửa cam lồ đó là pháp Quán bất tịnh và Quán sổ tức”.

Nói về Tâm chỉ có một pháp môn, như trong kinh ghi: “Quán chiếu tâm tính, gọi là thiền định bậc thượng”.

Nay chia riêng pháp môn thiền của Sắc và Tâm gồm có ba thứ:

– Thế gian thiền

– Xuất thế gian thiền

– Xuất thế gian thượng thượng thiền

Cho nên trong Kinh Đại Tập có nói ba phương pháp thâu nhiếp tâm:

– Dùng pháp Sinh để nhiếp tâm

– Dùng pháp Diệt để nhiếp tâm

– Dùng pháp Không sinh không diệt để nhiếp tâm

B. GIẢI THÍCH THIỀN MÔN

Trong ba môn thiền này, mỗi pháp môn chia làm hai phần để giải thích.

I- Giải thích riêng

II- Giải thích chung

I- GIẢI THÍCH RIÊNG

Chữ “Môn” nghĩa là thông suốt như cánh cửa của người thế gian, có thể đi thông suốt qua lại, hoặc đến chỗ cần đến.

– Dùng pháp Quán Sổ tức làm cửa thiền

Dùng phương pháp Sổ tức để thâu nhiếp tâm, có thể khiến tâm hành giả thông đạt đến Tứ thiền, Tứ không định, Tứ vô lượng tâm, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền v.v… tức là pháp môn thiền của thế gian, cũng gọi là dùng pháp Sinh để nhiếp tâm. Nói chung đây là căn cứ pháp môn thiền của phàm phu.

– Dùng pháp Quán Sắc làm cửa thiền

Dùng phương pháp Quán bất tịnh để nhiếp tâm, có thể khiến tâm thông đạt đến Cửu tưởng định, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam-muội, Siêu việt tam-muội v.v… Đây chính là pháp môn thiền xuất thế gian, cũng gọi là dùng pháp Diệt để nhiếp tâm. Nói chung đây là căn cứ pháp môn thiền của Nhị thừa.

– Dùng pháp Quán Tâm làm cửa thiền

Dùng trí tuệ, xoay lại quán chiếu tâm tính, thì tâm hành giả thông đạt đến các thiền tam-muội lớn: Pháp Hoa tam-muội(1), Niệm Phật tam-muội(2), Bát chu tam-muội(3), Giác ý(4), Thủ Lăng Nghiêm cho đến Tự tính thiền, Thanh tịnh tịnh thiền v.v… là các thiền xuất thế gian thượng thượng, cũng gọi là dùng pháp Không sinh không diệt để nhiếp tâm. Nói chung đây là pháp môn thiền của Bồ-tát. Do những ý nghĩa này, nên lấy ba pháp môn để làm cửa vào thiền.

HỎI: Có vô lượng pháp môn, vì sao chỉ dùng ba pháp môn này làm cửa thiền?

ĐÁP: Nay giải thích sơ lược, có ba nguyên nhân lập ba pháp môn này làm cửa thiền:

a) Như pháp tướng

b) Tùy tiện dị

c) Nhiếp pháp tận

a) Như pháp tướng

Trong Kinh Đại Tập ghi: “Lúc mới thọ thai bảy ngày, thai nhi có ba đặc tính là mạng, noãn, thức. Hơi thở ra vào gọi là Thọ mạng. Có tác dụng làm cho sắc thân thai nhi không bị hôi, bị hư nát gọi là Noãn”. Đây chính là nghiệp lực gìn giữ để tứ đại sắc thân không bị hư nát, hôi thối. Ý trong tâm gọi là Thức. Thức chính là tâm giác biết trong sát-na vậy. Ba pháp: noãn, hơi thở, thức hòa hợp, khiến con người có thể từ khi mới sinh đến trưởng thành không tăng, không giảm. Nhưng kẻ phàm phu ngu mê không biết, vọng chấp phân biệt nhân, ngã, chúng sinh v.v… từ đó tạo ra nghiệp ác, nghiệp thiện, sinh tâm chấp trước các nghiệp nhiễm ô. Vì không biết đạo lý nhân duyên quả báo mà chịu điên đảo sinh tử qua lại trong Tam giới. Nếu truy tìm tận nguồn gốc sinh mạng, không ngoài ba pháp này, cho nên lấy ba pháp làm cửa, cũng không nhiều không ít vậy.

b) Tùy tiện dị

Tùy phương tiện dễ, nên lập ba pháp làm cửa thiền.

1. Nhân quán hơi thở để tu, thì có hai phương tiện dễ dàng hội nhập thiền định :

– Nhanh chóng đắc thiền định.

– Dễ giác ngộ vô thường.

2. Dùng Sắc làm pháp Quán bất tịnh, cũng có hai phương tiện:

– Đoạn trừ tâm niệm tham dục.

– Dễ liễu đạt các pháp hư giả.

3. Dùng phương pháp quán Tâm, cũng có hai phương tiện:

– Hàng phục tất cả phiền não.

– Dễ ngộ lý tính Không.

c) Nhiếp pháp tận

Dùng pháp Quán hơi thở, Quán tâm, Quán sắc bất tịnh, ba pháp này là căn bản của thiền môn. Vì thế chỉ nêu ra ba pháp là điểm trọng yếu, nếu nói rộng thì có vô lượng pháp môn.

– Như trong pháp Quán hơi thở, có lúc dùng phương pháp đếm hơi thở, hoặc theo hơi thở, hoặc quán chiếu hơi thở. Do đó, mỗi mỗi pháp môn không đồng, mà cảnh giới tu chứng cũng khác nhau.

– Như trong pháp Quán sắc, có lúc quán Ngoại sắc, hoặc Nội sắc, hoặc Quán từ bi, Quán tướng hảo của Phật, cho đến Quán thật tướng của các pháp. Do pháp quán chẳng đồng, nên cảnh giới đạt đến cũng khác nhau.

– Như trong pháp Quán tâm, hoặc tu Chỉ, hoặc Quán, hoặc Giác, hoặc Liễu đạt, hoặc Giác liễu các tâm nhập chẳng phải tâm, giác ngộ không tâm phát sinh Tứ vô lượng tâm. Hoặc có người giác ngộ Tâm Không chẳng phải là Không tâm, nên biết tất cả Tâm chẳng phải Tâm. Do tu pháp môn Quán tâm mỗi mỗi chẳng đồng, chỗ đạt đến cũng khác nhau.

Cho nên nói ba môn này bao hàm các pháp môn, ý này đến Chương 7 và Chương 8 phần giải thích tu chứng, mới thấy sự thâm diệu trong ấy.

II- GIẢI THÍCH CHUNG

Thật ra cả ba pháp môn này đều bao gồm các môn thiền: Thế gian, Xuất thế gian và Xuất thế gian thượng thượng thiền. Vì sao?

– Như pháp Quán hơi thở không nhất định phải thuộc về môn thiền thế gian. Vì trong Tỳ- ni luật tạng, Phật vì hàng đệ tử Thanh văn mà thuyết 16 phương pháp Quán hơi thở, đệ tử y theo đó tu hành, đều chứng đắc Thánh quả. Cho nên pháp Sổ tức cũng là môn thiền Xuất thế gian, tức là pháp môn Đại thừa. Như trong Kinh Đại Phẩm ghi: “Pháp A-na-ba-na là pháp Bồ-tát Ma-ha-diễn (Đại thừa)”. Trong Kinh Thỉnh Quán Âm ghi: “Dùng pháp Quán hơi thở để luận về ‘Lục tự chương cú'(5) và thuyết minh quả chứng của hàng Tam thừa”. Cho nên pháp Quán hơi thở, đâu phải chỉ là pháp thiền của Thế gian?

– Dùng pháp Quán Sắc làm cửa thiền

Không phải chỉ riêng pháp tu của hàng Nhị thừa, cũng không đồng với pháp Đại thừa và phàm phu ngoại đạo. Vì sao? Vì trong Kinh Niết Bàn ghi: “Ngoại đạo chỉ có thể quán đối trị Sắc pháp, không thể quán đối trị Tâm, mà đệ tử của ta rất khéo đối trị nội tâm”. Cho nên phàm phu cũng quán được Sắc pháp. Pháp quán Sắc của Đại thừa, như trong Kinh Đại Phẩm ghi: “Quán sắc thân sình trướng, hư thối là pháp tu của Bồ-tát Ma-ha-diễn”. Cho nên pháp quán Sắc đâu chỉ riêng của môn thiền Xuất thế gian?

– Dùng pháp Quán Tâm làm cửa thiền

Cũng không phải chỉ là pháp quán của Bồ-tát. Vì sao? Vì hàng ngoại đạo cũng có thể quán tâm, do đó khởi (Tứ thập bát kiến) 48 thứ kiến chấp. Phàm phu dùng pháp quán tâm, nhập định Tứ không, thông đạt pháp Thanh văn. Như trong Kinh Niết Bàn ghi: “Hàng đệ tử của ta khéo đối trị nội tâm, nên có thể xa lìa ràng buộc trong tam giới”. Do đó phương pháp quán Tâm và Pháp đâu chỉ riêng của môn thiền Xuất thế gian thượng thượng mà thôi.

Cho nên ba môn thiền này, hỗ thông qua lại lẫn nhau, căn cơ người dụng tâm tu hành, cũng có ba hạng khác nhau, nên khai phát thiền và chứng đạo cũng bất đồng. Ý nghĩa này đến chương 9, phần Giải thích Thiền ba-la-mật, sẽ nói rộng thêm.

C. TỔNG KẾT THIỀN MÔN

HỎI: Đã giải thích chung và riêng, vì sao phần trước lại thêm phân biệt?

ĐÁP: Tất cả các nghĩa lý đều có chung và riêng, về giáo môn đối với nhân duyên lợi ích chúng sinh chẳng đồng, nên nói pháp chẳng đồng cũng không có lỗi. Hơn nữa, phần trước nói ý nghĩa chưa được cứu cánh vậy, chẳng nên chấp cố định.

HỎI: Cả ba môn xen lẫn có thể thông đạt, nếu chỉ tu tập pháp Quán hơi thở có thể chứng được các thiền định như: Cửu tưởng, Bát bối xả, Tự tính thiền chăng?

ĐÁP: Không nhất định, có người chứng được hoặc không chứng được. Người mới học thiền thì không chứng được, hàng Nhị thừa tu định tự tại thì chứng được, hàng Bồ-tát đầy đủ phương tiện Ba-la- mật thì tùy ý vô ngại.

HỎI: Vì sao người mới học không chứng được? Có người tu pháp Quán hơi thở, mà vẫn chứng được các thiền: Cửu tưởng, Bát bối xả, Niệm Phật tam-muội, Tâm từ v.v… thì thế nào?

ĐÁP: Đây là do nhân duyên đời trước được khai phát, chẳng phải do tu pháp Quán hơi thở mà chứng được, duyên hết thì cảnh giới diệt mất, nếu không tiến bộ thì không thể thành tựu pháp môn thứ lớp. Ý nghĩa này đến phần Nội phương tiện giải thích về thiện căn phát tướng, sẽ nói rộng và tỉ mỉ hơn. Hai môn còn lại cũng như thế.

*

Chú thích chương 3:

(1) Pháp Hoa tam-muội (Pháp Hoa sám): Pháp Hoa tam-muội này y cứ theo Kinh Pháp Hoa và Kinh Quán Phổ Hiền lấy 37 ngày làm một thời hạn, vị hành giả tụng kinh hoặc kinh hành, hoặc khi đứng, ngồi đều tư duy quán sát lý thật tướng trung đạo. Phương pháp tu này chủ yếu là sám hối tiêu trừ nghi chướng, nên cần phải tu tập ngũ hối: sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng và phát nguyện. Đêm ngày có sáu thời, có ba phương pháp:

a) Thân khai già: Khai là nên đi và ngồi, Già là không nên đứng nằm một chỗ.

b) Khẩu thuyết mặc: miệng tụng kinh điển Đại thừa, không xen tạp các việc của thế gian.

c) Ý chỉ quán – có hai loại:

– Hữu tướng hành là y theo phẩm Khuyến Phát, không nhập thiền định, bất luận lúc đi, đứng, ngồi đều nhất tâm tụng niệm Kinh Pháp Hoa, ngày đêm sáu thời sám hối tội chướng của sáu căn.

– Vô tướng hành là y theo phẩm An Lạc Hạnh, nhập thiền định thâm sâu vi diệu, quán chiếu sáu căn để thấu suốt trung đạo của tam đế.

(2) Niệm Phật tam-muội: quán niệm công đức của chư Phật có hai loại:

a) Nhân hành niệm Phật tam-muội: có ba thứ là quán tướng hảo của Phật, quán thật tướng Pháp thân Phật và xưng danh hiệu Phật.

b) Quả thành niệm Phật tam-muội: tức là tu thành tựu ba loại nhân hành. Về tướng trạng và công năng của tam-muội này có nhiều thuyết khác nhau đều gọi chung là Niệm Phật tam-muội. Nhưng chư Phật có ba đời mười phương khác nhau thì Pháp thân, Báo thân và Ứng thân riêng biệt nên quán niệm Phật và xưng danh hiệu Phật khác nhau.

(3) Bát chu tam-muội: một loại chánh định nhờ thực hiện pháp môn tu tập vừa đi vừa niệm quán tưởng Phật.

(4) Giác ý tam-muội: Tam-muội phi hành, phi tọa, trọng yếu nhất trong 4 loại tam-muội do Tông Thiên Thai lập, tức là trong tất cả thời, làm tất cả việc niệm khởi liền biết, ý khởi liền tu tam-muội. Kinh Đại phẩm Bát-nhã gọi là Giác ý tam-muội, ngài Huệ Tư gọi là Tùy tự ý tam-muội

(5) Lục tự chương cú: là một trong bốn loại Đà-la-ni sáu chữ: Lục tự chương cú Đà-la-ni của Bồ-tát Quán Thế Âm, Lục tự chân ngôn của Bồ-tát Quán Thế Âm, Lục tự chân ngôn của Bồ-tát Văn Thù, Lục tự đại minh của Phật.

***

CHƯƠNG 4: GIẢI THÍCH VỀ THỨ LỚP CỦA THIỀN BA-LA-MẬT

(Giải thích thứ tự các giai đoạn tu thiền, từ sơ phát tâm đến Phật quả)

Hành giả đã biết tướng trạng của Thiền môn, hàng Bồ-tát từ sơ phát tâm cho đến quả vị Phật, trong thời gian tu tập thiền định lần lượt từ cạn đến sâu, nhất định phải hiểu rõ thứ bậc. Nay chúng ta đem giáo lý kinh và luận có liên quan về vấn đề thiền định, để tu tập theo thứ lớp rõ ràng. Trong Kinh Đại Phẩm có ghi: “Bồ-tát Ma-ha-tát tu hành có thứ lớp, học có thứ lớp, chứng đạo có thứ lớp”.

Luận về thứ lớp của thiền định có hai phần:

A. Giải thích ý nghĩa các thiền theo thứ lớp

B. Giải thích ý nghĩa các thiền không theo thứ lớp

A. GIẢI THÍCH Ý NGHĨA CÁC THIỀN THEO THỨ LỚP

Hành giả tu thiền định, trước tiên phải trì giới thanh tịnh, đồng thời nhàm chán tai họa nơi Dục giới, tu tập duyên niệm nơi hơi thở, nhập Định dục giới, từ Định dục giới chứng được định Vị đáo địa, từ định Vị đáo địa lần lượt chứng Sơ thiền cho đến Tứ thiền. Đây gọi là Nội sắc giới định (định trong cõi Sắc).

Kế đến làm các công đức lớn, quán tưởng tất cả chúng sinh đều được sung sướng, vui vẻ, lần lượt chứng đắc Tứ vô lượng tâm. Đây gọi là Ngoại sắc giới định (định ngoài cõi Sắc).

Tám thứ thiền định này tuy duyên nơi hai cảnh giới Nội và Ngoại, mà chỗ nhập định chẳng đồng, nhưng đều thuộc về Sắc giới. Khi hành giả trụ trong định Đệ tứ thiền, nhàm chán tai họa vật chất của Sắc giới giống như ngục tù, diệt bỏ hai thứ Nội sắc và Ngoại sắc, nhất tâm duyên nơi Không, vượt qua nạn Sắc giới, chứng được định Tứ không, đây gọi là định Vô sắc giới. Mười hai môn thiền này đều thuộc pháp hữu lậu.

Thiền cũng có hữu lậu và vô lậu. Sau khi hành giả chứng được thiền căn bản rồi, vì muốn bỏ tâm kiến chấp trong thiền này, lại muốn ở Dục giới tu Lục diệu pháp môn. Vì sao? Vì trong Lục diệu môn thì ba pháp: Sổ tức, Tùy tức và Chỉ là phương tiện để nhập định, còn ba pháp: Quán, Hoàn và Tịnh là phương tiện để quán tuệ.

Đặc sắc của Lục diệu pháp môn là Định ái, Tuệ sách.

Định ái: Do tham ái thiền định nên gọi là Hữu lậu.

Tuệ sách: Do trí tuệ thúc đẩy nên nói là Vô lậu. Pháp quán của “Lục diệu pháp” phần nhiều có đầy đủ ở trong Định dục giới, Vị đáo địa, Tứ thiền và cũng có khi tu đến định Vô sắc giới.

Kế tiếp là giải thích Thập lục đặc thắng, nếu theo phương diện về chiều ngang là đối xứng với Tứ niệm xứ. Theo chiều dọc từ Định dục giới đến Phi tưởng định. Do lúc tu thiền định trong mỗi địa đều lập Tứ niệm xứ để quán chiếu phân tích phá trừ chấp trước, nhân đó mới phát sinh Thiền vô lậu.

Kế là giải thích pháp tu Thông minh quán, vì phương pháp quán của Thập lục đặc thắng ở phần trước, là do dùng tổng thể để quán nên còn thô, nay tu Thông minh quán là dùng pháp quán phân tích nên rất vi tế, pháp tu Thông minh quán này cũng từ Định dục giới đến Phi tưởng, thậm chí nhập Diệt tận định, ba loại thiền này cũng gọi là Tịnh thiền, cộng cả định Sắc giới và Vô sắc giới là năm loại, các loại Thiền này còn thuộc trong phạm vi Căn bản thiền.

Nay nói về tướng thứ lớp của Thiền vô lậu, có hai ý nghĩa chẳng đồng: Hạnh hành thứ lớp và Tuệ hành thứ lớp.

I- HẠNH HÀNH THỨ LỚP

Có bốn môn thiền: Quán, Luyện, Huân, Tu.

1. Quán thiền: gồm có 6 loại :

a) Đầu tiên tu quán Cửu tưởng: vì trước khi chưa được thiền vô lậu, nên dùng pháp quán Cửu tưởng để đối trị phá trừ phiền não của Dục giới.

b) Kế tiếp là tu Bát niệm: để trừ tâm sợ hãi phát sinh, trong khi tu pháp quán Cửu tưởng.

c) Quán Thập tưởng: Người tu pháp hoại ở trong Dục giới, tu pháp quán Thập tưởng này có thể đoạn trừ phiền não trong Tam giới.

d) Tu pháp Bát bối xả: Người tu pháp bất hoại, dùng pháp quán này, để đối trị tri kiến chấp trước Căn bản thiền ở Tam giới.

e) Tu Bát thắng xứ: là vì ở trong thiền định, quán chiếu các cảnh duyên được tự tại.

f) Tu Thập nhất thiết xứ: là vì ở trong định muốn quán chiếu, khiến Tâm và Sắc có thể trùm khắp. Cho đến tu chứng được sáu thứ thần thông cũng thuộc về Quán thiền.

2. Luyện thiền

Tức là Cửu thứ đệ định, bao quát hai thứ thiền là Quán và Định ở phần trước, để điều hòa tâm được thuần thục, trong lúc nhập thiền định, tâm tâm thứ lớp không gián đoạn. Cho nên Tam tam- muội có giác có quán v.v… cũng đều thuộc phạm vi của Luyện thiền.

3. Huân thiền

Tức là Sư Tử phấn tấn tam-muội. Xuất nhập thứ lớp thuận nghịch huân tu các thiền định, khiến định và quán thuần thục rõ ràng, công đức thiền định thêm tăng trưởng và lợi ích.

4. Tu thiền

Tức là Siêu việt tam-muội. Đối với trong các thiền siêu nhập siêu xuất, vì đã được tự tại giải thoát không chướng ngại.

Trong Kinh Đại Phẩm ghi: “Bồ-tát Ma-ha-tát trụ nơi Bát-nhã Ba-la-mật, dùng Thiền ba-la-mật, ngoại trừ Tam-muội của chư Phật, còn những thứ tam-muội khác như: tam-muội của Thanh văn, tam-muội của Bích chi Phật, tam-muội Bồ-tát v.v… đều hành, đều nhập”.

“Các tam-muội khác” tức là Căn bản định. Tam-muội Thanh văn tức là ba loại Tam-muội: Không, Vô tướng, Vô nguyện và Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ đế, Thập lục hành. Tam-muội Bích chi Phật tức là Thập nhị nhân duyên tam-muội. Tam-muội Bồ-tát tức là Tự tính thiền v.v… đều gọi là Tam-muội.

Bồ-tát trụ trong các Tam-muội, có thể thuận nghịch xuất nhập định Bát bối xả, nương theo pháp quán Bát bối xả thuận nghịch xuất nhập Cửu thứ đệ định, nương Cửu thứ đệ định có thể thuận nghịch thứ lớp xuất nhập Sư tử phấn tấn tam-muội, nương nơi Sư tử phấn tấn tam-muội có thể thứ tự thuận nghịch xuất nhập Siêu việt tam-muội. Bồ- tát nương nơi các tam-muội, chứng được các pháp tướng v.v… mới ngang bằng với hạnh hành viên mãn thiền vô lậu của hàng Nhị thừa. Vì cớ sao? Vì Đại A-la-hán cũng chứng được Siêu việt tam-muội.

II- TUỆ HÀNH THỨ LỚP

– Do nghe pháp Tứ đế, tu Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sau đó nhập vào Tam giải thoát môn. (Không, Vô Tướng, Vô Nguyện) kế là dùng (Thập lục hành quán)(1) 16 pháp quán phân tích Tứ đế, chứng được Thập trí(2), Tam vô lậu(3) căn, thành tựu Cửu tu(4), chứng được Cửu đoạn(5). Trên đây đã giới thiệu pháp hành trí tuệ vô lậu của Thanh văn.

– Pháp quán Thập nhị nhân duyên chính là pháp tu Tuệ hành vô lậu của Bích chi Phật.

– Tuệ hành vô lậu của Bồ-tát là thứ lớp thành tựu hữu học và vô học của Nhị thừa, chứng đắc Trí đoạn(6), đây gọi là từ Giả nhập Không, đầy đủ các pháp quán.

Cho nên Kinh Đại Phẩm ghi: “Bồ-tát Ma-ha- tát hành Bát-nhã ba-la-mật, dùng sức phương tiện, từ Càn tuệ địa(7) nhập Tính địa(8), Bát nhân địa(9), Kiến địa(10), Ly dục địa(11), A-la-hán(12) và Bích-chi Phật địa(13), đều có khả năng nhập và hành các địa nhưng không thủ chứng”.

Giải thích riêng về thiền thứ lớp của Bồ-tát:

Cửu chủng đại thiền(14):

1. Tự tính thiền

2. Nhất thiết nghĩa thiền

3. Nan thiền

4. Nhất thiết môn thiền

5. Thiện nhân thiền

6. Nhất thiết hành thiền

7. Trừ não thiền

8. Thử thế tha thế lạc thiền

9. Thanh tịnh tịnh thiền

Bồ-tát tu 9 loại thiền này, chứng quả Đại Bồ- đề, được đầy đủ tất cả Phật pháp: Thập lực(15), Tứ vô sở úy(16), Thập bát bất cộng(17) v.v…

Trên đây đã giải thích sơ lược về hàng Bồ-tát từ khi mới phát tâm tu thiền, nương theo thứ lớp tu hành, thứ lớp học tập, thứ lớp đắc đạo, cho đến thứ lớp thành Phật quả, gọi là “Trụ trong thiền định thâm sâu, được Đại Niết-bàn”. Ý nghĩa này đến phần tu chứng của Chương 7 và trong phần hiển thị quả báo của Chương 8, sẽ luận đầy đủ.

HỎI: Bồ-tát Đại Sĩ vì muốn thông đạt tướng trạng sâu cạn của các thiền định, chứng được đầy đủ tất cả Phật pháp, do đó cần thứ lớp tu hành, thứ lớp học tập như đã nói phần trước. Nhưng hiện nay, khi người mới phát tâm tu thiền, cần phải theo thứ lớp tu hành như trên, hay không cần theo thứ lớp?

ĐÁP: Nay vì muốn nói rõ tướng trạng sâu cạn của các thiền, cho nên mới phân chia thứ lớp này.

Nếu luận về người mới phát tâm tu thiền, tùy chỗ ưa thích của họ mà khéo biết phương pháp đối trị, họ mới dễ dàng chứng nhập Niết-bàn.

Chỉ cần bắt đầu tu từ cửa phương tiện của các thiền, không nhất định phải thứ lớp như phần trước. Ý nghĩa này đến phần Nội phương tiện, trong An tâm thiền môn sẽ phân tích rộng.

B. GIẢI THÍCH Ý NGHĨA CÁC THIỀN KHÔNG THEO THỨ LỚP

HỎI: Bồ-tát tu thiền, nhất định tu theo thứ lớp, hay không theo thứ lớp?

ĐÁP: Có bốn trường hợp

1. Theo thứ lớp

2. Không theo thứ lớp

3. Theo thứ lớp, không theo thứ lớp

4. Không thứ lớp theo thứ lớp

1. Theo thứ lớp

Kinh Đại Phẩm ghi: “Bồ-tát theo thứ lớp tu, thứ lớp học, thứ lớp chứng đạo”.

2. Không theo thứ lớp

Bồ-tát tu Pháp Hoa tam-muội, Nhất Hạnh tam-muội(18) v.v… quán pháp giới bình đẳng, không sâu, không cạn, nên gọi là tu không thứ lớp. Kinh Vô Lượng Nghĩa có ghi: “Đi đường thẳng lớn, không gặp khổ nạn chướng ngại”.

3. Theo thứ lớp không theo thứ lớp

Kinh Đại Phẩm có ghi: “Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: ‘Tâm nên thứ lớp thực hành Bát-nhã, nên sinh Bát-nhã, nên tu Bát-nhã chăng?’ Phật dạy ông Tu Bồ Đề: ‘Thường không lìa Tát-bà-nhã (Phật tính) là hành Bát-nhã, là sinh Bát-nhã, là tu Bát-nhã’”.

4. Không thứ lớp theo thứ lớp

Như ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: “Hết thảy các pháp đều không có tự tính, vì sao Bồ-tát chứng được từ một địa lên một địa?”. Phật nói: “Do các pháp Không, nên Bồ-tát mới chứng từ một địa lên một địa”.

HỎI: Bốn câu này chỉ đề cập đến Bồ-tát, còn hàng Nhị thừa tu thiền cũng có chăng?

ĐÁP: Hàng Nhị thừa cũng có trường hợp này. Vì sao? Thanh văn cũng có sơ phát tâm, thực hành “Hạnh hành”, bắt đầu tu từ nơi Sơ thiền căn bản, cho đến Siêu việt Tam-muội mới chứng được quả A-la-hán, đây gọi là thứ lớp.

Hoặc có người thuộc căn tánh Thanh văn nghe Phật nói “Thiện lai!” liền chứng đầy đủ Tam minh(19), Bát giải thoát(20) v.v… ấy gọi là không theo thứ lớp.

Hoặc có người thuộc căn tánh Thanh văn khi tu Hạnh hành thứ lớp, có thể dùng Tuệ hành, khéo quán tính Không. Từ sơ tâm thứ lớp chứng đến quả A-la-hán, đây gọi là thứ lớp không thứ lớp.

Hoặc có người thuộc căn tánh Thanh văn từ khi mới phát tâm liền tu Tuệ hành, do “Điện quang tam-muội” được khai phát, chứng Tứ quả, nhưng vẫn chưa đầy đủ các thiền định. Vì muốn viên mãn công đức hữu vi, nên mới thứ lớp tu đầy đủ năm thứ thiền định, đây gọi là không thứ lớp theo thứ lớp vậy.

Ý nghĩa này đến Chương 10 trong quyển 7 và quyển 8 giải thích phần tu chứng và hiển thị quả báo sẽ tự rõ.

*

Chú thích chương 4:

(1) Thập lục hành quán: (Thập lục hành, Thập lục hành tướng, Thập lục hành tướng quán, Thập lục thánh hạnh, Thập lục đế, Tứ đế thập lục hành tướng)

16 pháp quán của Tứ đế để diệt trừ các kiến chấp:

1/ Bốn pháp quán của Khổ đế: Vô thường: quán 5 thọ ấm do nhân duyên sanh, luôn luôn sanh diệt; Khổ: quán 5 ấm là khổ vì vô thường bức bách; Không: quán 5 thọ ấm không một tướng hay dị tướng nên không, tức là không; Vô ngã: quán trong 5 ấm ngã và ngã sở bất khả đắc, là vô tướng, là hành vô ngã.

2/ Bốn pháp quán của Tập đế: Tập: quán phiền não do nghiệp hữu lậu hòa hợp chiêu quả khổ; Nhân: quán 6 nhân sanh quả khổ; Duyên: quán 4 duyên (đất sét, bánh xe, dây và nước) sanh quả khổ; Sinh: sau khi thọ sanh lại có 5 ấm.

3/ Bốn pháp quán của Diệt đế: Tận: quán khi Niết-bàn, các khổ đều hết; Diệt: quán các lửa phiền não đều tắt; Diệu: Niết-bàn là đệ nhất vì không còn hoạn nạn; Ly: quán Niết-bàn xa lìa sanh tử thế gian vì không còn các tai ương.

4/ Bốn pháp quán của Đạo đế: Đạo: quán 37 phẩm trợ đạo có công năng thông đến Niết-bàn; Chánh: quán 37 phẩm trợ đạo là khế hợp với chân lý; Tích: quán 37 phẩm đạo là con đường Thánh nhân đi; Thừa: quán 37 phẩm trợ đạo có công năng đi đến tam giải thoát, các phiền não ái kiến không thể chướng ngại.

Mục đích của 16 hành tướng là để đối trị các kiến chấp. Quán vô thường, khổ, không, vô ngã là đối trị các kiến chấp: thường, lạc, ngã sở, ngã kiến; Quán Tập, Nhân, Duyên, Sinh là để đối trị các kiến chấp: vô nhân, nhất nhân, biến nhân, tri tiên nhân; Quán Tận, Diệt, Diệu, Ly để đối trị kiến chấp: khổ, không, tĩnh lự, vĩnh hằng; Quán Đạo, Chánh, Tích, Thừa để đối trị kiến chấp: vô đạo, tà đạo, dư đạo, thoái đạo.

(2) Thập trí: 10 trí được phân biệt theo tính chất hữu lậu và vô lậu.

1/ Thế tục trí: trí thường chấp vào cảnh thế tục.

2/ Pháp trí: trí tuệ vô lậu duyên nơi lý Tứ đế để đoạn trừ phiền não cõi dục.

3/ Loại trí: trí tuệ vô lậu tùy theo pháp trí mà sinh, duyên theo Tứ đế cõi sắc và vô sắc để đoạn trừ phiền não.

4/ Khổ.

5/ Tập.

6/ Diệt.

7/ Đạo: (Bốn trí 4;5;6;7 này theo thứ tự để đoạn trừ các phiền não của Tứ đế.)

8/ Tha tâm trí: trí rõ biết tâm tâm sở của cõi dục, cõi sắc, và tâm tâm sở vô lậu.

9/ Tận trí: trí tuệ của bậc Thánh ở giai vị Vô học, biết rõ rằng ta đã biết khổ, ta đã đoạn tập, ta đã chứng diệt, ta đã tu đạo, là trí vô lậu phát sinh đồng thời với “đắc” của lậu tận.

10/ Vô sinh trí: trí tuệ của bậc Thánh ở giai vị Vô học, biết rõ ta đã biết khổ, không còn gì để biết; ta đã đoạn tập không còn gì để đoạn; ta đã chứng diệt không còn gì để chứng, ta đã tu đạo không còn để tu. Là trí vô lậu phát sinh đồng với “đắc” của Phi trạch diệt vô vi.

(3) Tam vô lậu căn: ba căn cơ: Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo. Ba căn vô lậu này được lập ra do lấy

9 căn: ý, hỷ, lạc, xả, tín, cần, niệm, định và tuệ làm thể, vì 3 thứ vô lậu này có lực dụng tăng thượng, có công năng sinh ra Thánh pháp vô lậu thanh tịnh nên gọi là Căn.

1/ Vị tri đương tri căn: căn cơ thuộc giai vị Kiến đạo, người ở địa vị này từ vô thỉ đến nay chưa hề nghe chân lý Tứ đế, muốn biết chân lý kia, liền học và tu tập các phương tiện nên cũng gọi là Vị tri dục tri căn.

2/ Dĩ tri căn: căn cơ thuộc giai vị Tu đạo, tức là đã biết rõ chân lý Tứ đế, đồng thời đã đoạn trừ các phiền não mê lý, chỉ vì đoạn trừ mê sự nên tiến tới quán lý Tứ đế, biết rõ cảnh Tứ đế.

3/ Cụ tri căn: địa vị Vô học, tức là biết rõ lý Tứ đế, vì đã đoạn các phiền não, tất cả việc làm đã xong, nên 9 căn gọi là Cụ tri căn. Địa vị này đã chứng quả vô học nên mới có trí này.

(4) Cửu tu (Chín phẩm phiền não, Chín phẩm tư hoặc): chín phẩm hoặc chướng, căn cứ vào thô tế mà chia 4 hoặc: tham, sân, mạn, vô minh, làm 3 bậc thượng, trung, hạ. Trong 9 cõi, cõi dục có đủ 4 món tu hoặc, còn Tứ thiền và Tứ vô sắc thì chỉ có 3, trừ sân. Tổng số các hoặc của mỗi địa chia ra 9 bậc từ thượng thượng cho đến hạ hạ. Như vậy cửu địa gồm có 81 phẩm tu hoặc, thông cả hữu lậu và vô lậu. Phàm phu cũng có thể đoạn được 72 phẩm của 8 địa dưới. Bậc thánh ở giai vị Tu đạo đoạn được 6 phẩm trước của cõi dục chứng quả thứ hai. Đoạn 9 phẩm hoặc của cõi dục chứng được quả thứ ba. Đoạn tất cả 72 phẩm tu hoặc của hai cõi Sắc và Vô sắc chứng quả thứ tư.

(5) Cửu đoạn (Cửu vô ngại đạo)

(6) Trí đoạn (Trí đoạn và Trí đức): soi rõ chân lý gọi là Trí đức, tức chỉ Bồ-đề; đoạn hết phiền não gọi là Đoạn đức, tức là chỉ cho Niết-bàn.

(7) Càn tuệ địa: giai vị này chỉ có Tuệ mà chưa có Định, tương đương với vị Tam hiền của Thanh văn và Giác vị của Bồ-tát từ sơ phát tâm cho đến trước khi được Thuận nhẫn.

(8) Tính địa: giai vị này tương đương với Tứ thiện căn vị của Thanh văn và Thuận nhẫn của Bồ-tát, tuy đắm chấp thật tướng các pháp nhưng không khởi tà kiến, đầy đủ trí tuệ và thiền định.

(9) Bát nhân địa (Bát địa): giai vị này tương đương với quả Tu-đà-hoàn hướng trong 15 tâm Kiến đạo của Thanh văn và Vô sinh pháp nhẫn của Bồ-tát.

(10) Kiến địa: hành giả ở giai vị này tương đương với quả Tu-đà-hoàn của Thanh văn và vị A-bệ-bạt-trí (bất thoái chuyển) của Bồ-tát. Hành giả tu tập Bồ-tát thừa ở giai vị này đoạn hết 88 kiến hoặc của 3 cõi, phát sinh chân trí vô lậu, thấy rõ chân lý Tứ đế, tức là Đạo loại trí, tâm cuối cùng trong 16 tâm của Tứ đế.

Theo phẩm Phát Thú, Kinh Đại Phẩm Bát-Nhã 6: “Bồ-tát trụ giai vị này phải thực hành 10 pháp Bất xả (không bỏ): không bỏ trụ xứ A-lan-nhã; ít muốn biết đủ; không bỏ công đức Đầu đà; không bỏ giới cấm; chán ghét các dục vọng; tâm chán thế gian; thích Niết-bàn; bỏ mọi sở hữu; tâm không chìm đắm; không tiếc mọi vật”.

Bạc địa (Vị dục địa): giai vị đoạn 1 phẩm trong 9 phẩm tu Hoặc của cõi Dục, tức là quả Tu-đà-hoàn hoặc quả Tư-đà-hàm. Cũng chỉ cho hàng Bồ-tát đã đoạn các phiền não, nhưng vẫn còn các tập khí mỏng, tức là từ giai vị bất thoái chuyển trở lên cho đến trước quả Phật.

(11) Ly dục địa: giai vị đoạn hết phiền não cõi Dục, tương đương với quả A-na-hàm và giai vị Bồ-tát ly dục địa chứng được ngũ thần thông.

(12) A-la-hán địa (Dĩ tác địa): là giai vị được tận trí, vô sinh trí, chứng quả A-la-hán của hàng Thanh văn hoặc giai vị thành tựu Phật địa của Bồ-tát.

(13) Bích chi Phật địa: tức là hàng Duyên giác quán sát pháp Mười hai nhân duyên mà thành đạo.

(14) Cửu chủng đại thiền:

1/ Tự tính thiền: do quán tự tính của tâm mà rõ biết tất cả các pháp từ tâm lưu xuất, tâm thâu nhiếp muôn vật như hạt châu Như ý; hoặc trụ nơi pháp Chỉ thì nhiếp tâm không tán loạn; hoặc trụ nơi pháp Quán thì phân biệt rõ ràng; hoặc Chỉ và Quán song tu thì định tuệ bình đẳng.

2/ Nhất thiết nghĩa thiền: pháp thiền đạt được tất cả công đức tự tu và giáo hóa người khác, thiền này có hai thứ: Thế gian và Xuất thế gian, trong mỗi thiền lại có ba thứ: a) Thiền trụ hiện pháp lạc: lìa tất cả vọng tưởng, thân tâm dứt bặt, là đệ nhất thiền. b) Thiền xuất sinh công đức tam-muội: sinh ra các thứ tam-muội thuộc vô lượng vô biên bất khả tư nghì thập lực chủng tính, nhập vào tất cả công đức thắng diệu vô ngại huệ, vô tránh nguyện trí. c) Thiền lợi ích chúng sinh: bố thí cho chúng sinh để trừ các khổ, biết rõ pháp nào nên thuyết, biết ân để báo ân và giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi sợ hãi lo âu.

3/ Nan thiền: loại thiền rất khó tu gồm có ba thứ: a) Tu tập lâu ngày thiền định được thắng diệu, tâm tự tại trong tam-muội, vì thương xót chúng sinh muốn cho họ được thành thục, nên xa bỏ cái vui đệ nhất thiền mà sinh vào cõi Dục. b) Nương thiền định phát sinh các tam-muội thâm sâu, vô lượng, vô biên bất khả tư nghị. c) Nương thiền định mà được chứng vô thượng Bồ-đề.

4/ Nhất thiết môn thiền: tất cả thiền định đều do pháp môn này phát sinh. Có bốn thứ: a) Sơ thiền cõi Sắc (thiền có giác có quán). b) Nhị thiền cõi Sắc. c) Tam thiền cõi Sắc. d) Đệ tứ thiền cõi Sắc.

5/ Thiện nhân thiền: nhiếp tất cả pháp thiện là loại thiền của chúng sinh đại thiện tu tập. Có 5 thứ: không chấp, từ, bi, hỷ, xả.

6/ Nhất thiết hành thiền: hàm nhiếp tất cả pháp hành của Đại thừa. Có 13 thứ thiền: thiện, vô ký, hóa hóa, chỉ, quán, tự tha lợi, chánh niệm, xuất sinh công đức thần thông, danh duyên, nghĩa duyên, chỉ tướng duyên, cử tướng duyên, xả tướng duyên.

7/ Trừ não thiền: nếu tu pháp thiền này thì có thể diệt trừ các thứ khổ não của chúng sinh. Có 8 thứ: a) Chú thuật sở y thiền: Bồ-tát nhập định trừ các khổ nạn độc hại sương lạnh bức bách. b) Trừ bệnh thiền: trừ các bệnh do tứ đại phát sinh. c) Vân vũ thiền: thường rưới mưa cam lồ tiêu diệt nạn hạn hán để cứu nạn đói khát. d) Đẳng độ thiền: cứu các nạn sợ hãi của người và phi nhân ở trên đất và dưới nước. e) Nhiêu ích thiền: bố thí thức ăn uống cho chúng sinh đói khát. f) Điều phục thiền: dùng tài vật điều phục chúng sinh. g) Khai giác thiền: khai ngộ chúng sinh mê lầm. h) Đẳng tác thiền: khiến cho việc làm của chúng sinh đều được thành tựu.

8/ Thử thế tha thế lạc thiền: tu thiền này khiến chúng sinh được an vui trong hiện tại, vị lai. Có 9 loại: a) Thiền dùng thần túc biến hiện để điều phục chúng sinh. b) Thiền tùy theo lời nói thị hiện để điều phục chúng sinh. c) Thiền giáo giới biến hiện để điều phục chúng sinh. d) Thiền thị hiện cõi ác để giác ngộ chúng sinh có ác kiến. e) Thiền dùng biện tài làm lợi ích cho chúng sinh mất biện tài. f) Thiền dùng chánh niệm làm cho chúng sinh bị thất niệm. g) Thiền tạo luận không điên đảo, ca tụng Ma-đắc-lặc-già (luận) để làm cho chánh pháp trụ ở đời lâu dài. h) Thiền đem kỹ thuật thế gian làm lợi ích để nhiếp hóa chúng sinh. j) Thiền phóng ánh sáng để tạm dứt cõi ác.

9/ Thanh tịnh tịnh thiền: Nương nơi thiền định này, tất cả phiền não hoặc nghiệp đều đoạn dứt, được quả đại Bồ-đề thanh tịnh. (chữ “tịnh” được lập lại là tiêu biểu cho tướng thanh tịnh cũng bất khả đắc). Có 10 loại: a) Thiền thế gian thanh tịnh không ô nhiễm. b) Thiền xuất thế gian thanh tịnh tịnh. c) Thiền phương tiện thanh tịnh tịnh. d) Thiền được căn bản thanh tịnh tịnh. e) Thiền căn bản thù thắng tiến thanh tịnh tịnh. f) Thiền có lực thanh tịnh tịnh nhập trụ khởi. g) Thiền có lực thanh tịnh tịnh xả rồi lại nhập. h) Thiền thanh tịnh tịnh có lực thần thông. j) Thiền thanh tịnh tịnh lìa tất cả kiến chấp. k) Thiền thanh tịnh tịnh phiền não trí chướng.

(15) Thập lực: 10 thứ trí lực của Như lai đó là:

1/ Xứ phi xứ trí lực: Xứ nghĩa là đạo lý, Như lai biết một cách chắc thật đối với tất cả nhân duyên quả báo, nếu tạo nghiệp thiện nhất định thọ quả báo vui, gọi là Tri thị xứ.

2/ Nghiệp dị thục trí lực: (Nghiệp lực) Như lai biết rõ nghiệp duyên quả báo, sinh xứ trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai của chúng sinh.

3/ Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực: (Định lực) Như lai tự tại vô ngại đối với các thiền định, biết khắp và đúng như thật thứ tự sâu cạn.

4/ Căn thượng hạ trí lực: (Căn lực) Như lai biết như thật căn tính thắng liệt, đắc quả của chúng sinh.

5/ Chủng chủng thắng giải trí lực: (Dục lực) Như lai biết như thật tất cả các thứ dục lạc, thiện ác khác nhau của chúng sinh.

6/ Chủng chủng giới trí lực: (Tính lực) Như lai biết khắp và đúng như thật về giới phần khác nhau của chúng sinh ở thế gian.

7/ Biến thú hành trí lực: (Túc mạng lực) Như lai biết khắp và đúng như thật về nơi đến của hạnh hữu lậu là “Lục đạo”, nơi đến của hạnh vô lậu là “Niết-bàn”.

8/ Túc trụ tùy niệm trí lực: Như lai biết khắp và đúng như thật đối với các túc mạng từ một đời cho đến trăm ngàn muôn đời, một kiếp cho đến trăm ngàn muôn kiếp, chết đây sinh kia, chết kia sinh đây, tên tuổi đời sống khổ vui và thọ mạng.

9/ Sinh tử lực: (Thiên nhãn lực) Như lai dùng thiên nhãn biết đúng như thật về thời gian sinh tử của chúng sinh và cõi thiện cõi ác ở đời vị lai, cho đến các nghiệp duyên thiện ác như đẹp xấu, giàu nghèo.

10/ Lậu tận trí lực: Như lai đã đoạn hẳn các tập khí tàn dư chẳng còn sinh khởi; biết khắp và đúng như thật.

(16) Tứ vô sở úy: bốn sự: tự tin, không sợ hãi, dũng mãnh và an ổn của Phật, Bồ-tát khi thuyết pháp. Theo Kinh Tăng Nhất A Hàm 42 thì Tứ vô sở úy của Phật là: Chư pháp hiện đẳng giác vô úy: đối với các pháp đều giác biết, trụ trong chánh kiến không khuất phục điều gì, có sự tự tin không sợ hãi; Nhất thiết lậu tận trí vô úy: đoạn sạch hết phiền não nên không có sự sợ hãi từ các chướng nạn bên ngoài; Chướng pháp bất hư quyết định thọ ký vô úy: giảng nói rộng về phương pháp tu hành chướng ngại, đồng thời không sợ hãi đối với sự bắt bẻ nào; Vị chứng nhất thiết cụ túc xuất đạo như tính vô úy: thuyết giảng đạo xuất thế không hề sợ hãi điều gì.

(17) Thập bát bất cộng: 18 pháp chỉ riêng Phật mới có, không chung cho Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. 18 pháp bất cộng này được ghi trong Phẩm Quảng Thừa, Đại Phẩm Bát-nhã 5. Đó là:

1/ Thân vô thất: Đức Phật từ vô lượng kiếp đến nay giữ giới thanh tịnh, công đức đầy đủ, tất cả phiền não đều dứt cho nên thân không lỗi.

2/ Khẩu vô thất: Phật có vô lượng trí tuệ biện tài, pháp do Ngài nói ra tùy theo các cơ nghi khiến cho họ đều được chứng ngộ.

3/ Niệm vô thất: Phật tu các thiền định thâm sâu, tâm không tán loạn, không đắm nhiễm các pháp, được sự an ổn đệ nhất nghĩa.

4/ Vô dị tưởng: Phật bình đẳng hóa độ tất cả chúng sinh tâm không chọn lựa.

5/ Vô bất định tâm: mọi hành động đi đứng nằm ngồi của Phật thường không lìa thắng định sâu xa, nhiếp tâm trụ trong thiện pháp, không thoái thất thật tướng các pháp.

6/ Vô bất tri dĩ xả tâm: đối với các cảm thọ như: khổ… Phật giác biết tướng sinh trụ diệt trong từng sát na và trụ trong sự vắng lặng bình đẳng.

7/ Dục vô giảm: Phật có đầy đủ thiện hạnh, luôn muốn hóa độ chúng sinh không bao giờ chán bỏ.

8/ Tinh tấn vô giảm: thân tâm của Phật đều tinh tấn, vì độ chúng sinh nên thường hành các phương tiện không dừng nghỉ.

9/ Niệm vô giảm: Pháp và tất cả trí tuệ của Phật ba đời đều tương ưng, không thoái chuyển.

10/ Huệ vô giảm: Phật có tất cả trí tuệ, trí tuệ này vô ngại đối với ba đời cho nên không khuyết giảm.

11/ Giải thoát vô giảm: Phật xa lìa tất cả chấp trước, có đủ hữu vi giải thoát và vô vi giải thoát, tất cả tập khí phiền não thảy đều dứt sạch, cho nên đối với giải thoát không khuyết giảm.

12/ Giải thoát tri kiến vô giảm: Phật thấy biết rõ ràng các tướng giải thoát, không bị che chướng.

13/ Tất cả thân nghiệp tùy trí tuệ mà thực hành.

14/ Tất cả khẩu nghiệp tùy trí tuệ mà thực hành.

15/ Tất cả ý nghiệp tùy trí tuệ mà thực hành. Ba pháp này là khi Phật khởi ba nghiệp thân khẩu ý, trước quán sát đúng hay sai rồi mới hành động theo trí tuệ, cho nên không lỗi, tất cả đều làm lợi ích cho chúng sinh.

16/ Trí tuệ thấy biết quá khứ không chướng ngại.

17/ Trí tuệ thấy biết vị lai không chướng ngại.

18/ Trí tuệ thấy biết hiện tại không chướng ngại. (18) Nhất hạnh tam-muội (Chân như tam-muội, Nhất tướng tam-muội, Nhất tướng trang nghiêm tam-muội): chánh định do tâm chuyên nhất vào một hạnh để tu tập. Có 2 loại:

1/ Lý: Nhất hạnh tam-muội là một loại định tâm quán pháp giới bình đẳng nhất tướng. Nhập chánh định này, hành giả nhận thức rõ pháp thân chư Phật và thân chúng sinh vốn bình đẳng không hai, không có tướng khác biệt. Do đó trong mọi hành động đi, đứng, nằm, ngồi đều thuần nhất một trực tâm, bất động đạo tràng liền thành Tịnh độ. Luận Đại Trí Độ 47, đại 25, 401, trung, ghi: “Hành giả thâm nhập Nhất Trang Nghiêm Tam-muội thì quán tất cả các pháp đều là một hoặc tất cả các tướng đều là một hoặc tất cả pháp vô tướng đều là một, cứ như thế vô lượng đều là một… Tam-muội này thường chỉ có một hạnh, trong tam-muội tương ưng với Tất Cánh Không này, không có một thứ hạnh nào khác”.

2/ Sự: Nhất hạnh tam-muội là niệm Phật tam- muội do nhất tâm niệm Phật. Kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma-ha-bát-nhã ba-la-mật, hạ, đại 8, 731 trung, ghi: “Này thiện nam tử, thiện nữ nhân, muốn thể nhập Nhất hạnh tam-muội nên ở chỗ vắng vẻ buông bỏ vọng tưởng, không chấp tướng mạo, buộc tâm vào một Đức Phật, chuyên niệm danh hiệu Phật ở phương nào thì ngồi ngay thẳng hướng về phương đó, giữ chánh niệm liên tục về một Đức Phật thì ngay niệm đó hành giả liền thấy chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai”.

(19) Tam minh (Tam đạt, Tam chứng pháp): nghĩa là trí tuệ sáng tỏ thông đạt vô ngại ba việc:

1/ Túc mạng minh: trí tuệ biết rõ tướng trạng của mình và chúng sinh một đời cho đến trăm ngàn vạn ức đời.

2/ Sinh tử minh: trí tuệ biết rõ các tướng trạng sinh tử của chúng sinh, khi chết khi sinh, sắc lành, sắc dữ hoặc do nhân duyên tà pháp mà thành hạnh xấu ác, sau khi mạng chung sinh vào đường ác hoặc nhờ nhân duyên chánh pháp mà thành tựu pháp lành, sau khi mạng chung sinh vào đường lành.

3/ Lậu tận minh: trí tuệ biết rõ như thật và chứng đắc lý tứ đế, giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất cả phiền não… Theo Luận Đại Tỳ Bà Sa 102 ghi: “Túc mạng minh: thấy được việc quá khứ nên sinh tâm chán lìa. Thiên nhãn minh: thấy được việc vị lai nên sinh tâm chán lìa. Lậu tận minh: do chán lìa nên ưa thích Niết-bàn; ngoài ra, Túc mạng minh đoạn trừ được Thường kiến. Thiên nhãn minh đoạn trừ được Đoạn kiến. Lậu tận minh xa lìa được hai loại này và an trụ trong trung đạo. Nếu phối hợp với sáu thần thông thì tam minh này theo thứ tự lấy thần thông thứ 5, 2, 6 trong sáu thần thông làm tự tính.

(20) Bát giải thoát: tức là (Bát bối xả)

***

CHƯƠNG 5: GIẢI THÍCH VỀ PHÁP VÀ TÂM

(Chương này trình bày về Tâm và Pháp, chia làm bốn loại: Hữu lậu, Vô lậu, Cũng hữu lậu cũng vô lậu, Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu. Và nói Phật nhân duyên Tứ-tất-đàn để trình bày pháp này).

Chương trước đã giải thích thứ tự các thiền xong, nhưng tướng trạng của Pháp và Tâm trong các thiền cũng cần nên biết rõ. Trong pháp và tâm chia làm ba ý:

A. Luận về pháp

B. Luận về tâm

C. Tổng kết tâm và pháp

A. LUẬN VỀ PHÁP

Pháp có bốn thứ:

1. Pháp Hữu lậu

2. Pháp Vô lậu

3. Cũng hữu lậu cũng vô lậu

4. Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu

1. Pháp Hữu lậu

Là các pháp như Thập thiện, Tứ thiền căn bản, Chúng sinh duyên Tứ vô lượng tâm và Tứ không định. Vì sao? Vì thể tính của mười hai pháp thiền này chẳng phải là pháp quán của trí tuệ, nên không thể quán chiếu và đoạn trừ các phiền não.

2. Pháp Vô lậu

Là các thiền vô lậu như: Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam- muội, Siêu việt tam-muội, Tứ đế, Thập lục hành, Thập nhị nhân duyên, Tứ vô lượng tâm, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tam tam-muội, Nguyện trí(1) Đảnh thiền(2), Thập nhất thiết trí, Tam vô lậu căn v.v… Vì cớ sao? Vì trong các thiền này đều có đầy đủ phương pháp đối trị và trí tuệ quán chiếu, nên có công năng đoạn trừ “Tam lậu”(3).

3. Cũng hữu lậu cũng vô lậu

Là Lục diệu pháp môn, Thập lục đặc thắng và Thông minh quán. Vì cớ sao? Vì trong ba loại thiền này, tuy có trí tuệ quán chiếu, nhưng sức đối trị còn yếu, nên gọi là Cũng hữu lậu cũng vô lậu.

4. Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu

Là 108 tam-muội: Pháp Hoa tam-muội, Bát Chu tam-muội, Niệm Phật tam-muội, Thủ Lăng Nghiêm tam-muội, Cửu chủng thiền, Tự tính thiền, cho đến Vô duyên từ, Đại bi, Thập Ba-la-mật(4), Tứ vô ngại trí(6), Thập bát không(5), Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng, Nhất thiết chủng trí v.v… Vì cớ sao? Vì nếu tu những tam-muội này sẽ không rơi vào “nhị biên” (hai bên), nên gọi là Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu.

HỎI: Vì sao nói các pháp như Pháp Hoa tam-muội, Bát Chu tam-muội v.v… đều gọi là pháp Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu? Kinh Pháp Hoa ghi: “Bồ-tát Đức Tạng, tâm đã thông đạt thật tướng vô lậu, kế đến sẽ thành Phật hiệu là Tịnh Thân”. Lại như phần thứ hai trong Tứ vô sở úy gọi là Vô lậu úy, các pháp như thế v.v… trong kinh luận phần nhiều nói là Vô lậu. Vì sao ở đây lại nói Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu?

ĐÁP: Đây là muốn giải thích các pháp trung đạo của Bồ-tát và chư Phật có chỗ bất đồng, cho nên mới chia chẻ như thế. Bởi vì phàm phu thì chuyên tu pháp hữu lậu, hàng Nhị thừa chuyên tu pháp vô lậu, còn ở đây nói chỗ chứng đắc của hàng Bồ-tát và chư Phật chẳng đồng, là do không còn chấp hai bên thì không rơi vào hai bên, cho nên nói là vô lậu.

Làm sao khỏi rơi vào hai bên? Chính là pháp Trung đạo không thuộc về hai bên vậy. Nên gọi là Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu.

Hai thuyết này lời tuy khác mà ý lại đồng, nên không sai trái. Nếu dựa vào lý tính mà luận thì tất cả đều gọi là pháp Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu. Nên Kinh Đại Phẩm ghi: “Sắc không trói buộc cũng không giải thoát, cho đến Nhất thiết chủng trí không buộc, không giải thoát”. Lý đã không trói buộc cũng không giải thoát, là do hạnh đã hợp với lý, há chẳng đồng gọi là không trói buộc không giải thoát sao? “Không trói buộc, không giải thoát” chính là danh từ khác của Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu.

HỎI: Dùng bốn câu để phân biệt định và tuệ thì khả dĩ, còn giới luật như thế nào?

ĐÁP: Từ pháp tu Thập thiện(7), Tam quy, Ngũ giới(8), Bát quan trai(9), Mười giới Sa di(10), 250 giới Tỳ-kheo, 10 giới trọng của Bồ-tát(11), 48 giới khinh, những giới luật này cũng có thể dùng ý nghĩa trong bốn câu để phân biệt, chẳng qua vì giới luật không thuộc trong phạm vi thảo luận.

HỎI: Chương 4 đã giải thích thứ lớp thiền định và Chương 7 luận về tu chứng, trước tiên đều nói “Hữu lậu”, kế đến là “Cũng hữu lậu cũng vô lậu”, sau đó là nói “Vô lậu”, kế tiếp mới nói “Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu”. Hiện nay vì sao phương pháp phân chia bốn câu này, trước sau chẳng đồng, lại lấy câu thứ ba đổi thành câu thứ hai vậy?

ĐÁP: Trước hay sau cũng đều giải thích theo thứ lớp từ khi tu hành đến chứng đắc. Nay muốn phân tích tướng trạng của Pháp và Tâm, nên thuận theo phương tiện của ngôn ngữ, mà trong các kinh luận đều nói bốn câu như thế. Nên nói: “Khi hành chẳng phải lúc nói, lúc nói chẳng phải khi hành” nghĩa này dễ thấy.

B. LUẬN VỀ TÂM

Có bốn thứ:

1. Tâm Hữu lậu

2. Tâm Vô lậu

3. Tâm Cũng hữu lậu cũng vô lậu

4. Tâm Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu

1. Tâm Hữu lậu

Tâm phàm phu và ngoại đạo đều có đầy đủ ba thứ lậu, nên gọi là Tâm hữu lậu. Vì sao? Phàm phu và ngoại đạo khi tu thiền định có chia ra bốn giai đoạn, nên không thể thoát ly khỏi ràng buộc phiền não.

Thế nào là bốn giai đoạn?

– Phát tâm: Khi mới phát tâm muốn tu thiền định, do họ không có tâm nhàm chán thế gian, chỉ mong được quả báo và khoái lạc trong thiền định.

– Tu hành: Khi đang thiền định, họ không có khả năng phản chiếu và quán sát nội tâm, do đó sinh tâm kiến chấp.

– Chứng đắc: Khi chứng được các thiền định, họ lại chấp cho là chân thật, chẳng biết hư dối nên trong mỗi một tầng thiền, sinh tâm bám chấp chỗ tri kiến.

– Xuất thiền: Khi xuất thiền định, đối với các cảnh giới, họ lại khởi tạo nghiệp trói buộc.

Do bốn nguyên nhân này, nên phàm phu và ngoại đạo tu thiền định đều gọi là Tâm hữu lậu.

2. Tâm Vô lậu

Cũng có bốn giai đoạn:

– Phát tâm: Khi hàng Nhị thừa mới phát tâm muốn tu thiền định, do tâm nhàm chán tai họa ở thế gian, không tham cầu cảnh giới khoái lạc và quả báo thiền định, mà chỉ điều phục tâm nên phiền não tự nhiên khô cạn không khởi, nhân đây có thể khai phát vô lậu.

– Tu hành: Khi tu thiền định, tùy theo chỗ tu chứng họ biết rõ các cảnh giới là hư dối chẳng thật, nên có thể hàng phục kiến chấp, không sinh khởi nhân tạo nghiệp ràng buộc.

– Chứng đắc: khi nhập các thiền định, nếu trong thiền định khai phát Chân không tuệ(12), là trí tuệ có công năng đoạn trừ các phiền não, thì ba thứ lậu vĩnh viễn không còn.

– Xuất thiền: hàng Nhị thừa sau khi xuất thiền định, đối với các cảnh giới và các tri kiến đều không bám chấp, nên không tạo các nghiệp ràng buộc.

Do những nhân duyên này, nên gọi là Tâm vô lậu. Hai tâm ở trước tuy thuộc về hữu lậu, nhưng lại là nhân của vô lậu, từ trong nhân mà nói quả, cũng gọi là vô lậu.

3. Tâm Cũng hữu lậu cũng vô lậu

Cũng có bốn giai đoạn:

– Phát tâm: khi hành giả mới phát tâm muốn tu thiền định, nhưng nội tâm còn nghi ngờ chưa quyết định, hoặc có khi cũng nhàm chán muốn xa lìa sinh tử, không thích khoái lạc của thiền định; hoặc sinh tâm đắm chấp, mong muốn cảnh giới an lạc của thiền định, tham ái quả báo khoái lạc. Do khởi tâm nhàm chán, nên nghiệp ràng buộc vi tế chìm mất, do tâm mong muốn khoái lạc của thiền định, nên phiền não càng tăng trưởng.

– Tu hành: Khi hành giả muốn phát tâm tu thiền định, mà không đoạn trừ thiện căn, người này tuy thành tựu được năm pháp: Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ, nhưng không thể gọi là Ngũ căn. Vì hành giả không thể quyết định hàng phục các phiền não, nên gọi là Cũng hữu lậu. Do hành giả phát sinh năm pháp thiện: Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ, nên gọi là Cũng vô lậu.

– Chứng đắc (Thất chủng học nhân): bảy hạng người hữu học, khi họ muốn nhập thiền định, tuy trí tuệ chân thật khai phát, nhưng phiền não chưa đoạn sạch, nên gọi là Cũng hữu lậu cũng vô lậu. Cho đến bậc Thoái pháp A-la-hán(13) cũng có ý nghĩa này. Vì sao? Vì quả A-la-hán này, chưa được Vô sinh trí, nên gọi Cũng hữu lậu, do chứng được Lậu tận trí, nên gọi là Cũng vô lậu.

– Xuất thiền: sau khi họ xuất thiền định, tùy theo các cảnh giới, tùy chỗ đoạn phiền não chưa sạch hết, hoặc còn sinh tâm bám chấp, nên gọi là Cũng hữu lậu. Nếu phiền não đã đoạn tận, tuy đối với các cảnh giới, tâm không còn khởi tạo nghiệp ràng buộc, nên gọi là Cũng vô lậu.

4. Tâm Chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu

Cũng chia làm bốn giai đoạn:

– Phát tâm: khi Bồ-tát mới phát tâm muốn tu thiền định, không vì sợ sinh tử cũng không vì mong cầu Niết-bàn, thì tâm không rơi vào hai bên.

– Tu hành: khi Bồ-tát tu Thiền ba-la-mật, vì muốn viên mãn phước đức nên không trụ vô vi; vì có trí tuệ nên không trụ hữu vi.

– Chứng đắc: khi Bồ-tát nhập vào các thiền định, nếu ở trong thiền định, phát trí tuệ Vô sinh nhẫn(14), lúc này tâm cùng pháp tánh tương ưng, nên không bám chấp nơi sinh tử; cũng không đắm nhiễm nơi Niết-bàn.

– Xuất thiền: khi Bồ-tát xuất thiền định, dù đối với những cảnh giới nào, tâm Bồ-tát luôn luôn không nương gá vào hai bên Có và Không.

Do những nhân duyên này, nên tâm của Bồ-tát gọi là tâm Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu.

C. TỔNG KẾT TÂM VÀ PHÁP

HỎI: Chư Phật nói tất cả pháp đều Không, dứt tuyệt ngôn ngữ câu cú. Như bài kệ trong Luận Ma Ha Diễn nói:

Bát nhã ba-la-mật,

Ví như hầm lửa lớn,

Bốn phía không thể lấy,

Thiêu đốt các tà kiến.

Nay đem bốn câu để phân biệt, đâu chẳng rơi vào hý luận sao?

ĐÁP: Trong Phật pháp, lý tính Không bất khả đắc (không thể được), đối với các pháp không có chướng ngại. Chính vì tính Không bất khả đắc, cho nên nói 12 bộ kinh và tất cả Phật pháp. Nay nói bốn câu cũng không có lỗi, thí dụ như hư không, tuy là trống rỗng chẳng có gì, mà muôn vật nương nơi đó để trưởng thành. Như Luận Ma Ha Diễn nói:

Nếu tin các pháp Không,

Là thuận theo lý thể,

Nếu chẳng tin pháp Không,

Tất cả đều sai lầm.

Chấp Không là rỗng không,

Không có chỗ tạo nghiệp,

Chưa làm đã có nghiệp,

Chẳng có người tạo tác.

Những pháp tướng như thế,

Ai có thể suy lường,

Chỉ chứng được chân tâm,

Lời nói không nương gá.

Lìa chấp thấy Có, Không,

Nội tâm tự vắng lặng.

Nay dùng phương tiện khai mở tri kiến cho hành giả tu thiền, phân biệt các loại pháp môn. Trên thực tế thì trong câu không có nghĩa lý, mà luận thành câu có nghĩa lý, nên đối với lý này không lỗi. Kinh Đại Phẩm nói: “Câu không nghĩa lý chính là câu có nghĩa lý của hàng Bồ-tát”.

Nếu ông muốn bỏ bốn câu v.v… mà mong cầu được giải thoát, trở lại bị pháp Không trói buộc.

Như nói: Có bốn câu; Không có bốn câu; Cũng có bốn câu cũng không có bốn câu; Chẳng phải có bốn câu, chẳng phải không có bốn câu. Như vậy ông đã bị bốn câu này trói buộc, lẽ nào ông thoát khỏi bốn câu: Có, Không, Cũng có cũng không, Chẳng phải có chẳng phải không? Nên biết nếu hiểu thấu suốt bốn câu không phải là bốn câu, mà nghĩa lý bốn câu không ngăn ngại thì được giải thoát. Không phải muốn bỏ bốn câu, mà ở nơi không có câu liền được giải thoát. Như Thiên nữ nói với ngài Xá Lợi Phất: “Không thể lìa văn tự mà nói tướng giải thoát, lìa tự tính văn tự chính là tướng giải thoát”.

Lại nữa, nay phân chia Pháp và Tâm, gồm có tám câu, nếu phân chia xoay vần thì có 36 câu, nếu chia chẻ giải thích tỉ mỉ thì có vô lượng câu cú. Nếu chỉ trên một câu thông đạt tất cả các câu, thì có thể phân chia biện luận bốn câu này, giống như hư không, không có bờ mé.

HỎI: Như vậy tại sao không đem Pháp và Tâm mỗi thứ phân làm năm câu?

ĐÁP: Chư Phật ra đời, tùy căn cơ chúng sinh để giáo hóa họ, bên giáo môn phần nhiều dùng bốn câu để giảng nói. Như trong Luận Ma Ha Diễn nói có bốn thứ Tất-đàn:

1. Thế giới Tất-đàn.

2. Vị nhân Tất-đàn

3. Đối trị Tất-đàn.

4. Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.

Tâm và pháp Hữu lậu, thuộc về Thế giới Tất-đàn. Tâm và pháp Vô lậu, thuộc về Đối trị Tất-đàn Tâm và pháp Cũng hữu lậu, cũng vô lậu, thuộc về Vị nhân Tất-đàn.

Tâm và pháp Chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu, thuộc về Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.

Những ý nghĩa trong đó có sự liên quan lẫn nhau, nếu nghiên cứu kỹ sẽ thấy.

Lại nữa, trong Luận Ma Ha Diễn, dùng Đệ nhất nghĩa Tất-đàn chia làm bốn môn. Như bài kệ trong luận chép:

Tất cả các pháp thật, không thật,

Tất cả cũng thật, cũng chẳng thật,

Tất cả chẳng thật, chẳng không thật,

Như thế đều gọi là các pháp thật.

Các loại như thế, cũng đều chỉ có bốn câu để phân biệt mà chẳng có nói năm câu. Nay chỉ dùng bốn câu để giải thích Pháp và Tâm. Trong các kinh luận khác, giả thiết dù có dùng năm câu để lý giải, thì đều có nhân duyên riêng biệt. Cho nên nay chỉ dùng phương tiện ý nghĩa của bốn câu để giải thích, chứ chẳng dùng năm câu.

HỎI: Trong bốn thứ Pháp và bốn thứ Tâm, có gì khác nhau? Như Pháp hữu lậu và Tâm hữu lậu, cả hai thứ “Pháp và Tâm” này mỗi cái đều là Hữu lậu hay đều là Vô lậu cho nên nói là Lậu?

Nếu cả hai đều là Hữu lậu thì khi Pháp và Tâm hòa hợp, nhất định phải có hai thứ Hữu lậu sinh khởi.

Nhưng nếu mỗi thứ đều là Vô lậu thì khi hòa hợp cũng phải có hai thứ Vô lậu sinh khởi?

ĐÁP: Không thể nói pháp và tâm đều là hữu lậu, cũng không thể nói pháp và tâm đều là vô lậu. Vì sao? Nếu tâm là hữu lậu, như bậc A-la-hán khi chứng lậu tận thì tâm phải diệt tận, pháp cũng diệt tận.

Vì sao? Nếu như pháp nhất định là Lậu (phiền não), thì khi Thánh nhân nhập định Tứ thiền căn bản, cũng phải phát sinh Lậu. Pháp định Tứ thiền này khi chưa cùng với tâm hòa hợp thì tự nó cũng phải là Lậu. Nhưng các vị Thánh nhân khi nhập định Tứ thiền, lại không phát sinh Lậu. Khi pháp định của Tứ thiền chưa cùng với tâm tương ưng, thì tự nó cũng không có phát sinh pháp hữu lậu, vì sao lại nói pháp tức là hữu lậu?

Nay nói Lậu này, chẳng riêng nơi pháp cũng không riêng nơi tâm, vì khi pháp và tâm hòa hợp liền phát sinh hữu lậu, cho nên mới có danh từ Pháp hữu lậu và Tâm hữu lậu.

Ví như thuốc tiên, sau khi người uống thuốc vào liền thành tiên, mà thuốc và người mỗi cái tự chẳng phải tiên, khi thuốc và người hòa hợp mới thành tiên, cho nên đặt tên thuốc là Thuốc tiên, người uống thuốc thành tiên gọi là Tiên nhân. Nếu thuốc không do người uống, thì không gọi là thuốc tiên; nếu người không uống thuốc tiên thì không gọi là tiên nhân. Danh từ Pháp hữu lậu và Tâm hữu lậu, cũng như thế. Ý nghĩa của ba thứ: Vô lậu, Cũng hữu lậu cũng vô lậu, Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu v.v… của pháp và tâm, ý nghĩa đại khái cũng như thế.

Như bài kệ duyên sinh của ngài Mã Thắng(15) (Asvajit) khai thị cho Xá Lợi Phất:

Các pháp từ duyên sinh,

Các pháp do duyên diệt,

Đây là lý nhân duyên,

Thầy ta dạy như thế.

Nếu cho rằng:

Pháp hữu lậu phát sinh pháp hữu lậu,

Hoặc pháp hữu lậu là do tâm hữu lậu mà phát sinh pháp hữu lậu,

Hoặc pháp hữu lậu là do pháp và tâm mà phát sinh pháp hữu lậu,

Hoặc pháp hữu lậu chẳng phải do pháp chẳng phải do tâm mà phát sinh pháp hữu lậu, nếu chấp như thế đều là rơi vào tà kiến.

Vì cớ sao?

Nếu cho rằng do pháp hữu lậu phát sinh pháp hữu lậu, tức là pháp hữu lậu có tự tính. Nếu tự tính pháp hữu lậu đã thành lập thì phải có pháp hữu lậu không cùng tận, vì trong tự tính lại có tự tính, mà nay thật chẳng phải như thế.

Nếu nói pháp hữu lậu không có tự tính (vốn sẵn có) mà do tâm hữu lậu (mới có pháp hữu lậu), tức là Tha tính (nhờ bên ngoài mà có). Vì sao? Bởi vì pháp hữu lậu phải đợi tâm hữu lậu làm tự tính, nay tâm hữu lậu phải đợi có pháp hữu lậu, đâu chẳng phải là Tha tính sao? Nếu nói do tha tính mà có (phát sinh) pháp hữu lậu. Nếu tha tính là pháp hữu lậu thì pháp hữu lậu lại có hai pháp hữu lậu sao? Nếu tha tính chẳng phải là pháp hữu lậu, (như vậy) không có pháp hữu lậu thì làm sao có thể phát sinh pháp hữu lậu? Nên biết pháp hữu lậu chẳng phải do (nơi) tâm hữu lậu mà có.

Nếu cho rằng pháp hữu lậu do pháp hữu lậu và tâm hữu lậu hợp lại mà có, tức gọi là Cộng hữu (đồng thời có). Nếu cộng hữu (đồng có) thì từ trong Tự tính và Tha tính đều có pháp hữu lậu. Nếu như thế trong một lúc đồng thời phải có hai pháp hữu lậu, mà thực tế không phải như thế. Nên biết chẳng phải Tự tính và Tha tính đồng phát sinh mà có pháp hữu lậu.

Nếu cho rằng lìa pháp hữu lậu, lìa tâm hữu lậu, mà có pháp hữu lậu, tức là không do nhân duyên mà có pháp hữu lậu. Từ nơi nhân duyên mà có pháp hữu lậu còn không thể được, huống là không có nhân duyên mà sinh pháp hữu lậu sao? Thuyết phá Nhân duyên thành giả có này, có nói trong Ma-ha chỉ quán, trường hợp tâm hữu lậu cũng như thế. Ba thứ lậu còn lại của tâm và pháp cũng giải thích như thế.

Lại nữa, nếu nói pháp hữu lậu nhất định là pháp hữu lậu, thì pháp hữu lậu thuộc về pháp sinh diệt tương tục.

Vì sinh nên sinh? Hay là vì diệt nên sinh? Hay là vì sinh diệt nên có sinh? Hay là vì lìa sinh lìa diệt nên có sinh?

Nếu vì sinh nên sinh tức là Tự sinh. Nếu vì diệt nên có sinh tức là Tha sinh. Nếu vì sinh diệt nên sinh, tức là Đồng sinh. Nếu vì lìa sinh, lìa diệt nên có sinh, tức là Không nhân duyên sinh.

Đã từ nhân duyên sinh còn không thể được, huống là không nhân duyên mà có thể sinh pháp hữu lậu sao? Nên biết phát sinh pháp hữu lậu rốt ráo là không thể được. Nếu đã không sinh thì không diệt, nếu không sinh diệt tức là không có tương tục; nếu không có sinh diệt tương tục thì không có pháp hữu lậu. Phương pháp phá Tương tục giả này có giải thích rất rộng trong Ma-ha chỉ quán, trường hợp của tâm hữu lậu cũng như thế. Ba thứ lậu còn lại của tâm và pháp cũng như thế.

Lại nữa, nếu pháp hữu lậu là sinh, là do sinh sinh nên phát sinh pháp hữu lậu? Hay là do chẳng sinh sinh nên phát sinh pháp hữu lậu? Hay là do sinh chẳng sinh nên phát sinh pháp hữu lậu, hay là do chẳng phải sinh nên phát sinh pháp hữu lậu.

Nếu do sinh sinh tức là Tự tính sinh. Nếu chẳng phải do sinh sinh tức là Tha tính sinh. Nếu do không sinh sinh tức là Cộng sinh. Nếu do chẳng phải sinh sinh tức là Không nhân duyên sinh.

Từ nhân duyên sinh còn không thể được, huống là không nhân duyên mà phát sinh được sao? Vì thế đối với trong tướng đối đãi giả có, mà mong phát sinh pháp hữu lậu trọn không thể được. Nếu chẳng sinh thì không có lậu, do không có lậu nên phá tướng đối đãi giả có. Phương pháp phá tướng đối đãi giả có này, có nói rộng trong Ma-ha chỉ quán, trường hợp của tâm hữu lậu cũng giống như thế. Ba thứ lậu còn lại của tâm và pháp cũng giải thích như thế.

Nên biết pháp hữu lậu trong Nhân duyên, Tương tục và Tướng đối đãi, mỗi thứ đều tìm trong bốn câu trọn không thể được. Nếu không thể được, thì làm sao phân biệt mà có pháp hữu lậu? Nếu không có pháp hữu lậu, mà nói pháp hữu lậu, nên biết chỉ có danh từ ở trên văn tự mà thôi. Trong đó không nhất định phải có chỗ y cứ khiến phát sinh những thứ hý luận làm phá hoại mắt trí tuệ.

Trường hợp tâm hữu lậu cũng như thế, ba câu còn lại của tâm và pháp cũng giải thích như thế.

Nếu pháp và tâm hữu lậu đã như thế thì ba câu còn lại của pháp và tâm cũng như thế. Đây chỉ dùng danh tự ở thế gian để giải thích, tướng trạng của danh tự không ở trong, ngoài hay chặng giữa và cũng không tự có thường hằng. Vì danh tự của không danh tự nên gọi là giả danh.

HỎI: Như vậy làm thế nào phân biệt sự khác nhau giữa pháp và tâm.

ĐÁP: Chỉ lấy danh tự thế gian mà phân biệt chia riêng pháp và tâm, thực tế trong đó không có gì cố định.

HỎI: Vì sao trong văn tự, lại chia riêng pháp và tâm?

ĐÁP: Nếu biết rõ pháp và tâm đều là không mà chỉ có một danh tự rỗng, thì dùng phương pháp trên để phân riêng tướng pháp và tâm cũng không có lỗi. Cho nên trong Kinh Đại Phẩm ghi: “Này Tu Bồ Đề, chẳng hoại giả danh mà nói thật tướng các pháp”.

Lại nữa, như Tâm số(16) là thuộc về pháp, Tâm vương là tâm. Thọ, Tưởng, Hành và Sắc ấm là pháp; Thức ấm là tâm. Tâm tương ưng(17), Tâm bất tương ưng(18) và Sắc pháp(19), Vô vi pháp(20) là thuộc về pháp; Tâm pháp(21) là thuộc về tâm. Sở duyên(22) là pháp; Năng duyên là tâm. Năng sinh là pháp; Sở sinh là tâm. Cảnh của sở quán là pháp; Trí của năng quán là tâm. Pháp hình thành là do tâm, tâm nương nơi pháp mà sinh.

Trong các danh tự như thế, phân chia riêng mỗi thứ pháp và tâm, tuy phân chia như thế, cũng đều như huyễn hóa, không chỗ bám chấp, đồng trở về một tướng. Ý nghĩa này đến quyển 10, trong phần Tổng kết quy thú có giải thích rất rộng.

*

Chú thích chương 5:

(1) Nguyện trí: diệu trí do duyên dẫn sinh, là một trong những đức chung của Phật, chỉ có hàng Bất động A-la-hán (bậc cao nhất trong 6 bậc A-la-hán) mới có được trí này.

Trước tiên phát nguyện thành khẩn cầu biết được cảnh giới Phật mà dùng Thế tục trí làm tự tính, lại nương theo Đệ tứ thiền làm chỗ tựa, từ gia hạnh này mà phát sinh diệu trí. Luận Câu Xá 27 (đại 29, 142 thượng) ghi: “Lấy nguyện làm đầu, diệu trí phát sinh, như nguyện đã thành nên gọi là diệu trí”. Theo Luận Thành Thật 16: “Nguyện trí là một trong năm trí, chỉ cho trí không còn bị chướng ngại đối với các pháp”.

(2) Đảnh Thiền (Siêu việt tam-muội): là pháp thiền tối cao cùng tột.

Theo Luận Đại Trí Độ 17 (đại 25, 187 trung) ghi: “Trong các loại thiền có Đảnh thiền”. Vì sao gọi là Đảnh? Có 2 loại: A-la-hán hoại pháp và bất hoại pháp. A-la-hán bất hoại pháp tự tại với tất cả thiền định thâm sâu, có thể khởi Đảnh thiền. Người đắc pháp thiền này có công năng chuyển thọ thành phước, chuyển phước thành thọ. Ngoài ra, có thuyết cho Đảnh thiền là “Biên tế định”, được đề cập đến trong Luận Đại Tỳ Bà Sa 178, Luận Câu Xá 27, Luận Hiển Dương Thành Giáo 2, tức là thiền định thượng thượng phẩm trong Đệ tứ thiền, hoặc cho rằng Đảnh thiền là “siêu định” được nói đến trong Luận Đại Tỳ Bà Sa 165, Luận Câu Xá 28, tức là định vượt khỏi các định hữu lậu, vô lậu.

(3) Tam lậu: ba thứ phiền não làm cho hữu tình bị chìm đắm trong ba cõi.

1/ Dục lậu: trong 36 “tùy miên” phiền não căn bản ràng buộc chúng sinh trong cõi Dục thì trừ 5 bộ vô minh, 31 món còn lại cộng thêm 10 triền thành 41 món Dục lậu.

2/ Hữu lậu: trong 31 “tùy miên” phiền não căn bản ràng buộc trong cõi sắc, cõi sắc thì trừ 5 bộ vô minh của mỗi cõi, còn lại 26 món, 2 cõi hợp thành

52 món. Luận Nhập A Tỳ Đạt Ma, thượng, thì thêm hôn trầm và trạo cử, thành 54 món.

3/ Vô minh lậu: phiền não mê lầm đối với Trung đạo đệ nhất nghĩa, là cội gốc sinh tử trong ba cõi, có công năng làm cho chúng sinh luân hồi sinh tử, được gọi là Si. Kinh A Hàm cho rằng vô minh là nhận thức sai lầm đối với chân lý Phật giáo (Tứ đế) tức là Vô trí.

(4) Thập Ba-la-mật: mười hạnh thù thắng mà Bồ-tát phải tu tập để đạt đến Niết-bàn. Sáu ba-la-mật thêm bốn ba-la-mật (phương tiện, nguyện, trí, lực).

(5) Thập bát không: 18 Không, được lập ra để phá các tà kiến.

1/ Nội không: chỉ cho sáu căn trong thân không có ngã, ngã sở.

2/ Ngoại không: chỉ cho sáu trần bên ngoài, không có ngã, ngã sở.

3/ Nội ngoại không: tức là sáu căn, sáu trần không có ngã và ngã sở.

4/ Không không: không đắm chấp ba thứ nói trên.

5/ Đại không: tức là trong mười phương thế giới không có các tướng phương vị cố định đây kia, xưa nay.

6/ Đệ nhất nghĩa không: lìa các pháp không có tự tính đệ nhất nghĩa thật tướng nào khác, đối với thật tướng không đắm trước.

7/ Hữu vi không: pháp do nhân duyên sinh và pháp tướng của nhân duyên đều không.

8/ Vô vi không: không chấp pháp Niết-bàn.

9/ Tất cánh không: tức là dùng 2 pháp: hữu vi không và vô vi không để phá trừ tất cả các pháp, rốt ráo không còn gì.

10/ Vô thỉ không: các pháp tuy sinh khởi từ vô thỉ, nhưng cũng xa lìa tướng chấp thủ đối với pháp này.

11/ Tán không: các pháp chỉ hòa hợp giả có nên rốt ráo là tướng xa lìa tan diệt, vô sở hữu.

12/ Tính không: là bản tính không, Phật tính không, tức tự tính các pháp là không.

13/ Tự tướng không: tức là tướng tổng biệt (chung và riêng) đồng dị (đồng và khác) của các pháp đều không.

14/ Chư pháp không: tức là tự tướng của các pháp như: uẩn, xứ, giới… đều bất định, lìa tướng chấp trước.

15/ Bất khả đắc: tức là trong các pháp nhân duyên, ngã và pháp đều chẳng thật có.

16/ Vô pháp không: các pháp đã hoại diệt thì không có tự tính, pháp vị lai cũng thế.

17/ Hữu pháp không: tức là các pháp chỉ cho nhân duyên mà có, cho nên hiện có chẳng phải thật có.

18/ Vô pháp hữu vi không: tức là tất cả các pháp sinh diệt và pháp vô vi trong ba đời đều không thật có.

(6) Tứ vô ngại trí (Tứ biện tài): bốn thứ năng lực lý giải và năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ một cách tự do tự tại không trệ ngại.

Bốn thứ này đều lấy trí tuệ làm bản chất nên gọi là Tứ vô ngại trí; nếu nói theo năng lực lý giải thì gọi là Tứ vô ngại giải; còn nói theo năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ thì gọi là Tứ vô ngại biện. Đây là pháp hóa độ chúng sinh nên cũng gọi là Tứ hóa pháp. Tứ vô ngại trí này có nhiều thuyết khác nhau.

Theo Luận Câu Xá 27 thì Tứ vô ngại là:

1/ Pháp vô ngại: tự tại diễn bày, lãnh ngộ danh cú, văn chương của pháp, đồng thời quyết đoán vô ngại.

2/ Nghĩa vô ngại: tinh thông nghĩa lý được trình bày bởi pháp, đồng thời quyết đoán được vô ngại.

3/ Từ vô ngại: tinh thông ngôn ngữ của các địa phương một cách vô ngại tự tại.

4/ Biện vô ngại: tùy thuận chánh lý tuyên dương vô ngại cũng gọi là Nhạo thuyết. Tức là khéo tùy thuận sự mong cầu của người khác mà ưa thích nói pháp.

Ngoài ra Luận Thành Duy Thức 9 cho rằng trong Tứ vô ngại, Bồ-tát từ Sơ địa trở lên chỉ được một phần trong đó. Địa thứ 9 thì được cả 4, khi đến Phật quả mới hoàn thành viên mãn.

(7) Thập thiện: mười hành vi thiện do thân, khẩu, ý tạo ra. (8) Ngũ giới: năm giới cấm của cư sĩ tại gia: không sát sinh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, uống rượu.

(9) Bát quan trai: “Bát” nghĩa là 8, “quan” nghĩa là đóng, “giới” có tác dụng ngăn việc quấy, ngừa điều ác. Đức Phật chế định cho các đệ tử tại gia. Người thọ phải tạm thời rời gia đình một ngày một đêm đến ở trong Tăng đoàn, để học tập cách sinh hoạt của người xuất gia. Giữ tám giới có thể ngăn hành động ác, dừng ba nghiệp thân khẩu ý; lại có thể đóng bít cửa ác đạo.

Bát quan trai giới gồm có: không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không vọng ngữ, không uống rượu, không dùng hương hoa trang sức thân, không xem nghe ca múa, không ngồi nằm giường rộng cao đẹp, không ăn phi thời. Phật giáo tuy có đệ tử xuất gia và tại gia, nhưng Phật pháp lấy giải thoát xuất thế làm mục đích, lại cho việc xuất gia là hơn hết. Thọ trì Bát quan trai khiến người tại gia học Phật, huân tập nuôi lớn thiện căn xuất thế.

(10) Mười giới sa di: không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không vọng ngữ, không uống rượu, không dùng hương thơm trang sức thân, không ca múa, xem nghe, không ngồi nằm giường cao rộng, không ăn phi thời, không chứa tài vật vàng bạc.

(11) Mười giới trọng của Bồ-tát: trong Kinh Phạm Võng, giới cấm: sát sinh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, bán rượu, nói lỗi tứ chúng, tự khen mình chê người, bỏn xẻn và hủy báng, tâm sân giận không nhận người sám hối và phỉ báng Tam bảo. Bất luận là tự mình làm hay bảo người khác làm đều bị cấm chỉ.

Bốn mươi tám giới khinh: (giới của Bồ-tát Đại thừa nói trong Kinh Phạm Võng) 48 giới khinh và 10 giới trọng của Bồ-tát là pháp môn Tâm địa do Đức Phật Lô-xá-na ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng nói ra. Bắt đầu từ quá khứ thất Phật cho đến chư Phật, Bồ-tát trong ba đời đều tụng niệm giới này, cho nên tất cả đại chúng như quốc vương, các quan thần, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, thiện nam, tín nữ đều thọ trì.

(12) Chân không tuệ: trí tuệ thấy được lý chân thật tuyệt đối, chân không là lý thể chân như vượt ra ngoài mọi đối đãi Không, Hữu, xa lìa tất cả các tướng do kiến chấp tạo ra.

(13) Thoái pháp A-la-hán: hàng A-la-hán độn căn nhất trong các vị đã chứng A-la-hán, hàng A-la-hán này do gặp các duyên xấu như: bệnh tật, nên bị lui sụt quả vị đã chứng, là một trong 9 vị vô học.

(14) Vô sinh nhẫn (Vô sinh pháp nhẫn): pháp nhẫn vô sinh, là một trong ba nhẫn, nhẫn thứ tư trong năm nhẫn nói trong Kinh Nhân Vương. Tức là quán lý không sinh không diệt của các pháp, nhận kỹ lý ấy, an trụ tâm bất động.

Theo Luận Đại Trí Độ 50 (đại 25, 417 hạ) ghi: “Vô sinh pháp nhẫn là tin nhận thông đạt, vô ngại bất thoái đối với thật tướng không sinh diệt của các pháp”. Đại Thừa Nghĩa Chương 12 (đại 44, 701 trung) ghi: “Theo cảnh đặt tên, lý vắng lặng không khởi, gọi là Vô sinh, tuệ an trụ nơi lý này gọi là Vô sinh nhẫn”. Theo Luận Đại Trí Độ 86 từ Bát nhân địa đến Dĩ biện địa của Thanh văn, Bích chi Phật địa quán tứ đế, Nhất thiết trí đoạn, chỉ được một phần Vô sinh pháp nhẫn của Bồ-tát, Tứ đế: khổ, tập, diệt, đạo thực ra là để phân biệt với một đế Thật tướng các pháp, vì Thanh văn là độn căn nên quán Tứ đế mà đắc đạo, còn Bồ-tát thì lợi căn nên quán thẳng thật tướng các pháp mà nhập đạo. Do đó mà biết, Vô sinh pháp nhẫn là khi Thanh văn vào vị Kiến đạo, thấy lý Tứ đế; còn Bồ-tát thì khi nhập Sơ địa nhận kỹ lý không sinh không diệt của các pháp, trụ ở địa vị bất thoái chuyển. Theo Luận Du Già Sư Địa 74 Bồ-tát ở địa vị bất thoái chuyển nương vào ba tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thật mà được ba loại Vô sinh nhẫn:

1/ Bản tính vô sinh nhẫn: nghĩa là quán thể tính của biến kế sở chấp đều không, biết rõ bản tính vô sinh.

2/ Tự nhiên vô sinh nhẫn: nghĩa là quán các pháp y tha do nhân duyên sinh, biết rõ chẳng phải tự nhiên mà sinh.

3/ Phiền não khổ cấu vô sinh nhẫn: nghĩa là pháp tính Chân như của thật tính các pháp an trụ vô vi và không tương ưng với tất cả tạp nhiễm, biết rõ xưa nay vắng lặng. Đó là lý biết rõ ba tính nên gọi là Vô sinh nhẫn.

Phẩm Thập Địa trong Kinh Hoa Nghiêm 25 (Loại 60 Q) ghi: “Bồ-tát Thất địa ba nghiệp thanh tịnh, tu hạnh vô tướng, đắc Vô sinh pháp nhẫn, rõ thấu các pháp”. Còn Phẩm Bồ-tát Hạnh trong Kinh Vương Bát-Nhã Ba-La-Mật thượng thì nêu 5 nhẫn: phục, tín, thuận, vô sinh, tịch diệt. Bốn nhẫn trước đều chia làm ba phẩm thượng, trung, hạ, còn riêng Tịch diệt nhẫn chỉ chia làm hai phẩm thượng và hạ; ba phẩm của Tín nhẫn phối với sơ địa, nhị địa, tam địa; ba phẩm của Thuận nhẫn phối với tứ địa, ngũ địa, lục địa; ba phẩm của Vô sinh nhẫn phối với thất địa, bát địa, cửu địa.

(15) Mã Thắng: đệ tử của Đức Phật, một trong năm vị Tỳ-kheo được Phật hóa độ đầu tiên. Sư có thân tướng uy nghi đoan chính, mọi người thích nhìn, là người đã thuyết bài kệ pháp nhân duyên nổi tiếng để khai ngộ cho Xá Lợi Phất.

(16) Tâm số: Tâm sở tùy thuộc vào Tâm vương, là tác dụng tương ưng với Tâm vương. Tâm vương chỉ chấp toàn thể của đối tượng, còn Tâm sở thì chấp cả toàn thể và bộ phận của đối tượng, về mối quan hệ, tính chất đặc biệt là một hay khác giữa tâm vương và tâm sở thì Đại thừa và Tiểu thừa đều có lập thuyết khác nhau. Theo Tông Đại thừa duy thức thì đưa ra thuyết Tứ nghĩa bình đẳng (sở y, sở duyên, thời, sự) lập ra 8 thức (6 thức cộng thêm thức Mạt-na và A-lại-da) làm Tâm vương và nêu ra 6 vị, 51 Tâm sở, cho rằng Tâm vương và Tâm sở có quan hệ phi tức phi ly.

(17) Tâm vương: có công năng chứa nhóm và sinh khởi các tác dụng tinh thần (nghiệp). Cũng như ông vua có oai quyền thế lực, thống trị thiên hạ.

(18) Tâm tương ưng: tức là các Tâm sở (51 món) “tương ưng” là ưng thuận với Tâm vương.

(19) Tâm bất tương ưng: (có 24 món) tức là 24 món này không tương ưng với Tâm vương, Tâm sở và Sắc pháp mà giả thành lập.

(20) Sắc pháp: là những pháp thuộc về sắc, có mười một món đó là năm căn và sáu trần. Sắc pháp là tướng phần ảnh tượng của Tâm vương và Tâm sở.

(21) Vô vi pháp: là pháp không sanh diệt, không biến đổi, không phải như các pháp hữu vi là Tâm vương Tâm sở, Sắc pháp và Bất tương ưng. Do các pháp hữu vi (94 món) diệt rồi thì pháp Vô vi mới hiện bày.

(22) Tâm pháp: là pháp thuộc về tâm, là các Thức chủ thể tạo thành tâm, vì đối với tâm sở mà gọi tự thể của sáu thức hoặc tám thức. Đây cũng là chủ thể của tác dụng tinh thần.

(23) Năng duyên: “Năng” là chủ thể có đủ tác dụng nhận thức, trái lại Sở duyên: “Sở” là khách thể (đối tượng) bị nhận thức. Duyên có nghĩa là nương nhờ, phan duyên, tức là biểu thị tâm thức chẳng thể tự sinh khởi mà phải cần nhờ ngoại cảnh mới có thể sinh ra tác dụng. Năng sinh, Sở sinh cũng tương tự như thế.

***

CHƯƠNG 6: PHÂN BIỆT TIỀN PHƯƠNG TIỆN THIỀN BA-LA-MẬT

(Giảng về Tiền phương tiện của việc tu thiền cho người muốn khai phát nội tâm để an tâm tu tập. Trước tiên nói về Ngoại phương tiện tức là 25 phương tiện, kế là nói về Nội phương tiện.)

Nếu hành giả có thể thông đạt chỗ luận về năm thứ Thiền ba-la-mật ở chương trước, hiểu rõ tướng trạng của các thiền, thì niềm tin từ nội tâm khai phát. Nếu muốn được an tâm học thiền, cần khéo biết phương tiện. Nay giải thích phương tiện tu thiền, chia làm hai phần.

– Ngoại phương tiện: là phương pháp dụng tâm khi chưa được định.

– Nội phương tiện: là phương pháp dụng tâm trong lúc thiền định.

Hai phương pháp này, gọi chung là phương tiện, cũng còn gọi là “Thiện xảo tu học”. Hành giả mới học thiền, khéo léo dùng phương pháp tu tập, nên gọi là phương tiện. Nếu nói rộng thì Ngoại phương tiện cũng có thể dùng trong thiền định. Nội phương tiện cũng có thể dùng ngoài thiền định. Hiện nay theo đa số để thảo luận, nên mới chia ra hai pháp Ngoại và Nội.

NGOẠI PHƯƠNG TIỆN

Có năm thứ:

A. Đủ năm duyên

B. Trách năm dục

C. Xả năm cái

D. Điều hòa năm việc

E. Hành năm pháp

Trong năm thứ phương tiện này, mỗi thứ gồm có năm pháp, tổng cộng là hai mươi lăm phương pháp đều để sử dụng trong lúc chưa đắc thiền định. Đây gọi là tướng phương tiện khi mới bắt đầu điều phục tâm.

A. ĐỦ NĂM DUYÊN

I- Trì giới thanh tịnh

II- Y thực đầy đủ

III- Ở chỗ nhàn tịnh

IV- Dứt các duyên

V- Gần thiện tri thức

I- TRÌ GIỚI THANH TỊNH

Chia ba ý:

1. Có giới và không giới

2. Trì giới, phạm giới

3. Phương pháp sám hối

1. Có giới và không giới

Sau khi xuất gia thọ được giới cấm, gọi là có giới, chia làm ba ý :

a) Cơ duyên đắc giới chẳng đồng

Gồm có mười thứ:

1. Tự nhiên đắc giới: Chỉ có Phật, tuy không có thầy mà giới thể tự phát.

2. Tự thệ đắc giới: Như ngài Đại Ca Diếp, vốn là căn tính Bích chi Phật, gặp lúc Đức Phật ra đời, kết quả thuộc vào hàng Thanh văn. Ngài thưa với Phật: “Phật là Thầy của con, con là đệ tử của Phật”, vừa nói dứt lời liền đắc giới thể.

3. Kiến đế đắc giới: (đoạn kiến hoặc đắc giới) như năm anh em Kiều Trần Như, khi Phật mới chuyển pháp luân thuyết pháp Tứ Đế, họ liền chứng ngộ Sơ quả, nhân đó mà đắc giới.

4. Quy y Tam bảo đắc giới: Khi chưa có pháp Yết-ma(1), chỉ cần nghe Phật nói ba lần liền đắc giới phẩm, người này là hạng căn tính thuần tịnh.

5. Thọ bát kỉnh pháp được đắc giới: Di mẫu của Phật, trước kia Phật không cho người nữ xuất gia, do sự cầu xin của di mẫu, Phật dạy A-nan bảo họ thọ Bát kỉnh pháp(2), liền phát Cụ túc giới.

6. Luận nghĩa đắc giới: như vị Sa di tên là Tu- đà-na cùng Phật luận nghĩa lý, Phật hỏi ông ta về lý vô thường v.v… mỗi vấn đề ông đều trả lời được, cuối cùng Phật hỏi: “Nhà ông ở chỗ nào”. Ông trả lời: “Tam giới đều không, tại sao Thế Tôn lại hỏi nhà con ở chỗ nào?”. Phật bảo A Nan đưa Tu-đà-na trở về tăng đoàn và cho thọ Cụ túc giới(3), lúc ấy ông mới bảy tuổi.

7. Thiện lai đắc giới: Có người khi căn cơ đã thuần thục, Phật gọi “Thiện lai Tỳ-kheo” liền đắc giới.

8. Nhờ người thọ giới thay mà đắc giới: Như nàng Bình Ca Thi có nhan sắc xinh đẹp, làm mọi người yêu mến, nàng muốn xuất gia thọ giới, nhưng người trong nước sợ nàng đi giữa đường gặp điều bất trắc, nên phái người đến chùa Tăng thọ giới thay, sau đó trở về chùa Ni để làm lễ thọ giới cho nàng.

9. Ở biên địa ít Tỳ-kheo nhưng thanh tịnh như pháp: Chỉ cần năm vị Tỳ-kheo Tăng chứng minh, giới tử cũng đắc giới.

10. Ở địa phương có Phật pháp thịnh hành: Phải có mười vị Tỳ-kheo Tăng chứng minh. Giới tử mới có thể đắc giới.

Trên đây là mười trường hợp đắc giới, thời đại này phải có mười vị Tỳ-kheo thanh tịnh làm yết-ma, giới tử mới đắc giới. Đây là luận về có giới tướng.

b) Giải thích giới thể

Có hai thứ giáo lý bất đồng:

– Giáo lý Tiểu thừa cho rằng giới là “Vô tác thiện pháp”, chỉ cần nhân duyên thọ giới đầy đủ, nếu phát được Vô tác giới, về sau kể cả khi ngủ nghỉ, nhập định, thiện pháp này tự nhiên sinh trưởng, không cần thân, khẩu, ý tạo tác, nên lấy “Vô tác” làm giới thể. Theo thuyết Tát-bà-đa bộ giải thích, Vô tác giới là Vô biểu sắc, tức là sắc vô hình không thể thấy.

– Nếu theo thuyết Đàm-vô-đức giải thích “Vô tác giới thể” là phi sắc phi tâm pháp (không hình nên chẳng phải sắc, không duyên lự nên chẳng

phải tâm). Thuyết của các bộ phái chẳng đồng, không thể cố chấp một bên. Nói chung giáo môn của Tiểu thừa đều lấy “vô tác” làm giới thể, nghĩa này không sai. Nếu theo giáo môn của hàng Đại thừa, nói giới từ nơi tâm khởi, tức là lấy tâm thiện làm giới thể. Nghĩa này trong Kinh Anh Lạc có nói. Có thầy lại nói: “Bộ Ma-ha-tăng-kỳ cho rằng: “Vô tác giới chính là Tâm pháp”.

c) Giải thích giới tướng

Có hai thứ bất đồng:

– Nếu theo bảy chúng(5) của Tiểu thừa phát tâm thọ giới, do khi thọ giới, tác pháp bất đồng, nên đắc giới cũng có chỗ hơn kém. Như hàng Ưu- bà-tắc, Ưu-bà-di tu tại gia có năm giới tướng. Nếu người nam hay nữ, khi chưa làm đệ tử Phật, không phạm tội ngũ nghịch: (giết cha, mẹ, A-a-hán, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật ra máu), nếu gặp thầy lành, dạy quy y Tam bảo, thọ ngũ giới, tác pháp thành tựu, tức là giới Vô tác khởi, từ đây gọi là Thanh tịnh tín sĩ.

Lại nữa, Sa-di có mười giới tướng, nếu Hòa thượng, A-xà-lê trao quy y Tam bảo thanh tịnh như pháp, theo Phật xuất gia. Nếu nhị sư tác pháp thành tựu, liền phát vô tác giới thể, gọi là giới Sa-di.

Đại Tăng có giới tướng, nếu khi làm Sa-di không phạm trọng tội, thì có mười vị (ba vị Hòa thượng và bảy vị A-xà-lê thanh tịnh) tác pháp yết- ma thành tựu như pháp, gọi là đại Tỳ-kheo cụ túc giới. Nếu Sa-di, Thức-xoa và Đại giới ni có giới tướng cũng như thế. Bảy chúng đệ tử Phật trước kia chưa phạm trọng giới, nếu gặp thầy lành, duyên tốt, tác pháp sám hối Đại thừa phương đẳng(4), được thấy tướng hảo thành tựu, sau đó thọ giới cũng đắc Vô tác giới thể. Nếu ngược lại với trên đây, gọi là Bất đắc giới thể, cũng gọi là Vô giới.

– Người hành hạnh Bồ-tát có thọ giới hay không thọ giới cũng không thể biết được, vì sao? Do Bồ-tát đã tu nhiều đời, hoặc khi mới phát tâm, gặp ngay duyên tốt thọ cũng đắc giới.

2. Trì giới phạm giới

Có ba ý :

a) Giải thích sơ lược về Trì, Phạm

b) Giải thích rộng về Trì, Phạm

c) Giải thích phát và không phát

a) Giải thích sơ lược về trì, phạm

Có hai phần:

a.1. Trì giới tướng

a.2. Phạm giới tướng

a.1. Trì giới tướng: nghĩa là giữ gìn hộ trì. Những đệ tử của Phật sau khi thọ giới cấm, vì có mười lợi ích nên giữ gìn không phạm giới, mười lợi ích như trong Tỳ-ni có nói:

1/ Nhiếp tăng

2/ Nhiếp thọ người tốt

3/ Muốn tăng chúng được an lạc

4/ Chiết phục người có tâm cống cao

5/ Người có tâm tàm quý được an lạc

6/ Người không tin có được lòng tin

7/ Người có lòng tin thì niềm tin thêm lớn

8/ Ngăn dứt hữu lậu đời này

9/ Đoạn việc ác đời sau

10/ Người có phạm hạnh được sống lâu

Hành giả đối với giới luật, nhất tâm cung kính cẩn thận, không dám hủy phạm, như ôm giữ phao nổi trên nước, không dám coi thường vứt bỏ, nên gọi là hộ trì, trì giới luật giống như hai tay bưng chén dầu đầy, không để rơi rớt một giọt, nên gọi là Trì giới tướng.

a.2. Phạm giới tướng: Phạm nghĩa là vi phạm. Tuy đã thọ giới Phật, muốn ra khỏi vòng sinh tử, mong cầu giải thoát, nay gặp nhân duyên xấu, không thể chế phục tâm mình, nửa đường bị vi phạm giới luật, hoặc giới khinh hoặc giới trọng, nên gọi là Phạm giới tướng.

Lại nữa, “phạm” còn gọi là Phạm xúc. Giống như người bệnh uống thuốc, thầy thuốc khuyên nên kiêng cử ăn uống các thức ăn độc hại. Nhưng do không nghe lời thầy thuốc, cứ tiếp tục dùng những thức ăn độc, cho nên càng ngày bệnh càng thêm trầm trọng mà thậm chí dẫn đến tử vong. Phạm giới tướng cũng như thế, nên gọi là Phạm.

b) Giải thích rộng về Trì giới và Phạm giới

Từ sơ tâm cho đến quả vị Phật, có mười thứ Phạm giới và Trì giới:

1. Trì giới không thiếu khuyết: Giữ gìn bốn giới trọng không hủy phạm.

2. Trì không phá giới: Không phạm mười ba giới Tăng-tàn.

3. Trì không xuyên giới: Không phạm ba thiên Ba-dật-đề.

4. Trì bất tạp giới: Không khởi tâm tà và các tạp niệm phiền não giác quán, cũng gọi là Định cộng giới.

5. Trì tùy đạo giới: Tâm hành (Thập lục hành quán) mười sáu pháp quán, phát trí tuệ, nhẫn, khổ(6) cũng gọi là Đạo cộng giới.

6. Trì vô trước giới: Người chứng quả A-na- hàm, nếu đoạn được chín phẩm tư hoặc của Dục giới, gọi là Đoạn luật nghi giới, cho đến dứt hết các phiền não kiết sử, tham ái sắc giới và vô sắc giới, đều gọi là Vô trước giới.

7. Trì trí sở tán giới: Bồ-tát phát Bồ-đề tâm, vì muốn tất cả chúng sinh chứng đắc Niết-bàn nên trì giới. Trì giới như thế được người trí khen ngợi, như trì giữ 10 giới trọng và 48 giới khinh của hàng Bồ-tát, vì trì giới này có công năng chứng đến quả Phật, nên được người trí khen ngợi.

8. Trì tự tại giới: Hàng Bồ-tát trì giới, ở trong các duyên phá giới mà vẫn được tự tại. Cũng có thể nói là do Bồ-tát biết rõ có tội hoặc không tội đều không thể được, chỉ tùy sự lợi ích của chúng sinh mà trì giới, tâm không chấp trước, nên gọi là Tự tại giới.

9. Trì cụ túc giới: Bồ-tát có thể trì giữ đầy đủ tất cả giới pháp của hết thảy chúng sinh và giới bậc thượng của Bồ-tát.

10. Trì tùy định giới: Không khởi Diệt thọ tưởng định, mà hiện các oai nghi giới pháp để hóa độ chúng sinh.

Bốn loại trì giới trước là Tịnh giới của thế gian, cũng được phát sinh giới xuất thế gian, ý nghĩa đã nói đầy đủ ở phần trước, phải khéo phân biệt. Hai loại trì giới ở đoạn giữa, là Tịnh giới xuất thế gian. Bốn loại trì giới sau cùng là Tịnh giới siêu xuất thế gian. Nếu hay thọ trì giữ gìn những giới tướng trên, gọi là Trì giới tướng. Nếu làm ngược lại những điều nói trên, gọi là Phạm giới tướng.

Đây gọi là từ sơ phát tâm đến quả vị Phật, phân tích thứ lớp Trì giới và Phạm giới tướng từ cạn đến sâu. Nên kinh có nói: “Chỉ có Phật mới đầy đủ tịnh giới, còn những người khác đều gọi là phá giới”.

Lại nữa, nay giải thích trì giới, chỉ tùy theo năng lực mà tu tập được tăng tiến, từ từ được thanh tịnh. Nếu không như thế thì chẳng thể phát sinh các thứ thiền định.

Hàng Bồ-tát tu pháp viên đốn, có thể dùng trí tuệ phương tiện, từ trong một niệm sơ phát tâm tu hành, liền thọ trì đầy đủ mười giới. Cho nên trong kinh có ghi: “Phát tâm và cứu cánh không hai không khác”.

c) Giải thích “Phú phát” phát giới và không phát giới.

Có hai ý:

c.1. Vì sao gọi là phát và không phát

c.2. Phân tích phát và không phát bất định

c.1. Vì sao gọi là phát và không phát: Nếu hành giả trì giới thì phát thiền định, phá giới thì không phát thiền định. Nếu hành giả trì giới luật của thế gian thì thiền định thế gian khai phát. Nếu trì giới không thanh tịnh thì ngăn che thiền định thế gian.

Nếu hành giả trì giới luật của xuất thế gian và giới luật thượng thượng siêu xuất thế gian thì thiền định sẽ khai phát. Nếu phá giới thì bị ngăn che thiền định.

c.2. Phân tích phát và không phát bất định: Vì chúng sinh tu thiền có nhiều căn cơ không cố định, cho nên chia ra bốn câu để phân tích:

– Có người tuy phạm giới vẫn phát thiền định. Có người tuy trì giới mà thiền định chẳng phát.

– Có người phá giới nên thiền định chẳng phát. Có người trì giới mà được thiền định.

– Có người trì giới hay phạm giới cũng đều phát thiền định.

– Có người trì giới hay phạm giới cũng không phát thiền định.

1/ Người phạm giới tu thiền định mà thiền định vẫn phát là do đời trước có nhân duyên thiện căn sâu dày đã từng tu tập thiền định, dù hiện tại có phạm tội, nhờ sức thiện căn của đời trước quá mạnh, và hiện đời cũng có nỗ lực tu thiền định, hay đối với tội đã phạm mà sinh tâm hổ thẹn, giống như mắc nợ phải hoàn trả, cho nên tuy phá giới mà vẫn phát thiền định.

2/ Người tuy có trì giới luật, tu thiền nhưng thiền định không phát là do quá khứ người này không gieo nhân thiền định, nên đời nay tuy có trì giới và tu thiền định nhưng thiền định lại không phát.

3/ Người có trì giới và phạm giới đều phát thiền định.

4/ Người có trì giới hay phạm giới cũng không phát thiền định. Có thể giải thích đại khái như phần trên, nên có bốn thứ bất đồng.

Suy tìm tận nguồn gốc của nó, thì phải cần nhân nơi trì giới mà phát thiền định. Phạm giới không nhất định làm chướng ngăn thiền định, vì sao? Nếu quá khứ đã từng được thiền định, tức là biết quá khứ từng trì giới mà được phát thiền định, nên chuyển thành Nhân tu tập của đời này. Do đời này có tâm hổ thẹn sám hối được thanh tịnh làm duyên, cho nên thiện căn đời trước dẫn phát, khiến hiện tiền được thiền định vậy.

3. Phương pháp sám hối

Có hai ý:

a) Sinh tâm sám hối

b) Phương pháp sám hối

a) Sinh tâm sám hối

Nếu người không từng làm điều ác, thì không có tội để sám hối. Nếu người tu hành không quyết tâm trì giới, hoặc gặp duyên ác liền phá hủy giới, hoặc nhẹ hoặc nặng, cũng đều là phá giới, do giới luật không thanh tịnh thì Tam-muội không phát sinh. Ví như y phục dơ bẩn, không thể nhuộm màu được, cho nên cần phải sám hối. Do sám hối giới phẩm mới được thanh tịnh, tam-muội mới có thể phát sinh, ví như y phục bị dơ bẩn nếu được giặt tẩy sạch, nhuộm vải mới thấm màu được.

Hành giả tư duy như thế, nếu giới không thanh tịnh, phải cần quyết tâm sám hối. Trong kinh có ghi: “Trong Phật pháp có hai hạng người dũng mãnh: Người bẩm tính không làm việc ác; người đã tạo ác rồi, biết ăn năn sám hối”. Người đã tạo tội lỗi mà biết sám hối, gọi là trượng phu vậy.

Sám hối nghĩa là: “Sám” gọi là sám tạ, tạ lỗi với Tam bảo và tất cả chúng sinh. “Hối” là hổ thẹn những lỗi lầm, cầu xin sửa đổi không vi phạm và phát nguyện: “Tội lỗi mà con vi phạm ở đời này, nếu được trừ diệt, tương lai dù có mất thân mạng cũng không dám tái phạm những lỗi lầm và tạo nghiệp khổ như thế”. Có vị Tỳ-kheo thưa với Phật: “Con thà nhảy vào lửa lớn bị thiêu đốt, trọn không dám hủy phạm tịnh giới Như Lai chế định”. Khởi tâm sám hối như thế, xin nguyện Tam bảo chứng minh nhiếp thọ, ấy gọi là Sám hối.

Lại nữa, “Sám” là ngoài không che đậy, “Hối” là trách và khắc chế nội tâm; “Sám” là biết tội lỗi đã phạm là xấu ác, “Hối” là lo sợ thọ báo ứng. Nghĩa sám hối rất nhiều, nay không nói rộng.

Nói tóm lại, nếu biết rõ các pháp đều hư giả, mới có thể dứt sạch nghiệp ác, tu những nghiệp thiện, ấy gọi là Sám hối.

b) Phương pháp sám hối

Chia làm ba phần:

b.1. Giải thích Pháp sám hối

b.2. Giải thích Diệt tội thứ lớp

b.3. Giải thích khôi phục và không khôi phục

b.1. Giải thích Pháp sám hối

Nguyên do diệt tội đều có phương pháp, ví như y phục bị dính dầu bẩn, nếu chỉ dùng nước, không thể tẩy sạch chất dầu, mà phải dùng tro, bồ kết hay thuốc tẩy, mới tẩy hết được, phương pháp diệt tội cũng như thế.

Nay giải thích phương pháp sám hối, theo giáo môn thì rất nhiều, nói chung cũng không ngoài ba thứ:

– Tác pháp sám hối: Dựa vào giới luật để giải thích sám hối.

– Quán tướng sám hối: Dựa vào pháp thiền định để giải thích sám hối.

– Quán vô sinh sám hối: Dựa vào trí tuệ để giải thích sám hối.

Ý nghĩa ba pháp sám hối này, bao hàm chung cả Tam tạng, Ma-ha diễn, nhưng theo đa số mà nói, như phương pháp thứ nhất phần nhiều thuộc pháp sám hối của Tiểu thừa, hai phương pháp sau phần nhiều là pháp sám hối của Đại thừa áp dụng.

b.1.a) Giải thích Tác pháp sám hối

Làm việc thiện xoay chuyển việc ác đã làm, nên gọi là sám hối. Như trong Tỳ-ni (tạng luật) thường dùng pháp này diệt tội. Vì sao? Như pháp sám hối ở Thiên thứ hai trong tạng luật quy định, hai mươi vị Tỳ-kheo làm phép Yết-ma tác pháp biệt trụ, xuất tội v.v… tác pháp thành tựu, gọi là Diệt tội.

Đây không nhất định phải thấy các tướng mạo, cũng bất luận trí tuệ quán Không, nên biết chỉ làm tác pháp sám hối mà thôi.

Yết-ma dịch là tác pháp. Như (5 thiên) năm phần trong tạng luật của tỳ-kheo, (3 thiên) ba phần sau đều nói về tác pháp sám hối. Việc này cũng dễ hiểu, nghĩa lý trên đây, trong tạng luật nói rất rộng, nhưng chưa nói rõ phương pháp sám hối bốn tội trọng như thế nào? Riêng trong kinh Tối Diệu Sơ Giáo nói: “Nên thỉnh hai mươi vị Tỳ-kheo Tăng thanh tịnh ở trong đại chúng, Tỳ-kheo phạm tội đối trước đại chúng, tự mình phát lồ tội đã phạm, chư Tăng vì vị ấy làm tác pháp Yết-ma thành tựu. Tỳ-kheo phạm tội ở trước Tam bảo, như pháp thực hành đồng thời tụng giới (ngàn thiên) một ngàn lần liền được thanh tịnh”.

Cũng có nói thấy tướng hảo làm chứng, tội diệt, giới luật mới thanh tịnh. Nên biết trong tạng luật không có pháp sám hối bốn tội trọng, nhưng trong kinh điển có ghi rõ pháp Yết-ma này, tướng tác pháp như trong kinh Tối Diệu Sơ Giáo có nói rộng.

b.1.b) Giải thích Quán tướng sám hối

Hành giả y theo phương pháp sám hối ở trong các kinh điển, chuyên tâm dụng ý, nội tâm tĩnh lặng thấy các tướng cảnh giới. Như trong giới Bồ- tát có ghi: “Nếu sám hối 10 tội trọng, cần phải thấy tướng hảo, tội liền diệt”. Tướng là: thấy Phật đến xoa đầu, thấy Phật phóng các thứ ánh sáng, hoa sen, tội liền tiêu diệt. Nếu không thấy tướng hảo, tuy có sám hối cũng vô ích.

Pháp tu Đà-la-ni trong các Kinh Đại Thừa Phương Đẳng có rất nhiều phương pháp sám hối loại này. Trong tam tạng, Kinh Tạp A Hàm cũng có nói phương pháp sám hối. Như quán thành tựu tướng địa ngục, rắn độc, tướng bạch hào v.v… tức là nói tội đã diệt. Ở đây đều làm trong lúc tâm an định, cho nên phương pháp quán tướng sám hối được thành tựu, phần nhiều nương nơi pháp tu thiền định mà nói.

HỎI: Thấy các tướng cảnh giới, làm sao biết tội được diệt?

ĐÁP: Kinh nói chẳng đồng, tội phá giới khinh, trọng có khác nhau, chẳng có tiêu chuẩn nhất định. Nay chỉ nêu chung để giải thích, cũng không ngoài bốn tướng:

– Tướng trong mộng thấy.

– Khi hành đạo nghe thấy tiếng trong hư không, hoặc thấy dị tướng và điềm lành linh dị.

– Trong khi tọa thiền thấy các tướng thiện ác, phá giới, trì giới v.v…

– Thấy tướng đạo tâm khai phát, nội tâm chứng mỗi thứ pháp môn. Đây là tùy theo tội nặng hay nhẹ để chế đoạn, không thể nói cố định. Đến phần chứng nghiệm thiện ác căn tính sẽ bình luận sau.

HỎI: Thiên ma cũng có thể hiện ra các tướng này thì làm sao phân biệt?

ĐÁP: Thật vậy, tà chánh thật khó phân biệt, không thể chấp cố định. Nếu khi hiện các tướng trạng, bậc thiện tri thức liền biết, cho nên việc này cần đối diện trực tiếp với sự việc mới quyết định, không thể dùng văn tự để trình bày. Cho nên khi hành giả bắt đầu sám hối, cần phải thân cận thiện tri thức, để nhận định tà hay chánh. Lại nữa, tướng (hiện tượng) nhìn thấy tức là bỗng nhiên thấy, chính đương sự phân biệt còn khó biết tà chánh, huống chi tìm cầu trong văn tự, nếu khởi tâm mong cầu được thấy, phần nhiều bị chấp vào ma sự.

HỎI: Như thế thì không nên gọi Quán tướng sám hối?

ĐÁP: Nói quán tướng sám hối là chỉ khi dụng tâm tu thiền định, khi công phu thành tựu thì các tướng xuất hiện, theo đó mà phán đoán, liền biết tội diệt hay chưa diệt. Chẳng phải nói trong lúc hành đạo, tâm còn trên sự tướng, sinh tâm chấp trước, nếu dụng tâm như thế nhất định rơi vào ma sự.

HỎI: Phương pháp quán tướng sám hối như thế nào?

ĐÁP: Phương pháp có trong các Kinh Phương Đẳng Đại Thừa, hành giả tự nghiên cứu nơi kinh điển, y theo văn tự mà thực hành.

b.1.c. Giải thích Quán vô sinh sám hối:

Như bài kệ Phổ Hiền Quán Kinh nói:

Tất cả biển nghiệp chướng,

Đều do vọng tưởng sinh,

Nếu người muốn sám hối,

Ngồi thẳng niệm thực tướng.

Tội lỗi như sương móc,

Trí tuệ chiếu tiêu tan,

Thế nên phải thành tâm,

Sám hối tội sáu căn.

Hành giả hễ muốn thực hành Đại sám hối, cần phải khởi tâm đại bi, thương xót tất cả chúng sinh, hiểu rõ thấu triệt nguồn gốc của tội lỗi. Vì tất cả pháp xưa nay vốn rỗng lặng, phước báo còn không có huống gì là tội báo sao? Chỉ do chúng sinh không khéo tư duy, vọng chấp là có sinh có diệt v.v… do đó khởi tam độc: vô minh, tham ái, sân giận, tạo vô lượng vô biên tội lỗi trầm trọng, cũng là do một niệm chưa liễu ngộ chân tâm mà phát sinh.

Nếu muốn trừ diệt, chỉ cần xoay lại quán chiếu, tâm vô minh này từ đâu sinh khởi? Nếu từ quá khứ thì quá khứ đã diệt, các pháp đã diệt thì không chỗ có, pháp đã không chỗ có, chẳng thể gọi là tâm. Nếu tâm là vị lai, vị lai thì chưa đến, pháp chưa đến tức là chẳng có, pháp đã chẳng có thì cũng không có tâm này. Nếu hiện tại sinh khởi, ngay hiện tại từng sát-na sinh diệt không dừng trụ, trong tướng không dừng trụ, tâm cũng chẳng thể được.

Lại nữa, nếu nói tâm là hiện tại, hiện tại là ở trong hay ở ngoài, ở chặng giữa hay ở hai bên? Nếu nói tâm ở trong thân thể, thì chẳng đợi duyên tạo bên ngoài, bên trong tự có sẵn. Nếu nói ở ngoài thân thì đối với ta có quan hệ gì. Sắc trần bên ngoài thì vô tri vô giác, chẳng lẽ có tâm sao? Trong ngoài đã không có lẽ nào ở giữa, nếu không có ở giữa, thì tâm không có chỗ dừng trụ. Hành giả quán chiếu như thế, không thấy hình tướng của tâm, không chỗ tâm dừng trụ. Phải biết tâm này vốn là không tịch (rỗng rang, vắng lặng). Đã không thấy tâm, chẳng thấy không có tâm. Tâm quán chiếu còn không có huống là có cảnh giới quán chiếu sao? Đã không có năng quán, sở quán, vọng tưởng điên đảo tự đoạn diệt. Điên đảo đoạn diệt rồi, thì chẳng có vô minh và tham ái sân hận. Tam độc này không có thì tội từ đâu phát sinh?

Lại nữa, muôn pháp đều do tâm sinh. Tâm tính còn không có, huống là muôn pháp? Nếu không có muôn pháp thì cái gì là nghiệp tội? Nếu tội không thể được tức là chẳng có tội. Nếu quán chiếu tội vốn chẳng sinh, có thể phá tất cả nghiệp tội vì nguồn gốc các tội không có tự tính, mà thường thanh tịnh. Nên ngài Duy Ma Cật bảo ngài Ưu Ba Ly rằng: “Hai vị tỳ-kheo này vốn tự không tội, ông chớ kết thêm tội cho họ, ông nên trực tiếp trừ diệt tội, chớ làm nhiễu loạn tâm họ”.

Lại như trong Kinh Phổ Hiền Quán ghi: “Quán tâm vốn không tâm thì pháp không chỗ trụ, tâm ta vốn tự không thì tội phước cũng không có chủ, cho nên tất cả các pháp cũng đều như thế. Nếu tác pháp sám hối như thế, gọi là Đại sám hối, là Trang nghiêm sám hối, là Sám hối phá hoại tâm thức, là Sám hối vô tội tướng. Người hành pháp sám hối này, tâm như dòng nước chảy, trong mỗi mỗi niệm đều thấy Bồ-tát Phổ Hiền và mười phương chư Phật”. Nên biết quán pháp vô sinh gọi là Đại sám hối, trong pháp sám hối này rất tôn quý, rất huyền diệu. Nên trong các kinh điển Đại thừa giải thích pháp sám hối, đều lấy pháp quán này làm chủ. Nếu bỏ pháp sám hối này thì không thể gọi là pháp sám hối của Đại thừa.

HỎI: Tu quán pháp sám hối vô sinh, làm sao biết được tướng của tội đã diệt?

ĐÁP: Dùng tâm quán chiếu như pháp sám ở trước, đối trong mỗi niệm các nghiệp tội, niệm niệm tự diệt. Nếu người muốn biết những tội lỗi chướng ngại sự tu hành đã chuyển hay chưa, cần nỗ lực tinh chuyên không dừng, các tướng tự nhiên xuất hiện, quán sát các tướng này sẽ biết rõ. Như trong pháp quán tướng nói ở trước, là có mộng tốt điềm lành xuất hiện và thiền định hiện tiền, trí tuệ khai phát v.v… sẽ ứng hiện đầy đủ trong đó.

Lại nữa, nếu hành giả quán tâm cùng lý tương ưng, tức là tướng tội đã diệt, không nhọc công tìm cầu chỗ khác. Nên trong Kinh Phổ Hiền Quán có ghi: “Khiến tuệ không và tâm này tương ưng, sẽ biết ở trong mỗi niệm, có thể diệt trừ các trọng tội sinh tử trăm vạn ức a-tăng-kỳ kiếp”. Theo kinh điển trên chứng minh, nếu chứng được trí tuệ vô sinh nhẫn, thì biết rõ nguồn gốc cứu cánh của nghiệp tội. Do giới luật thanh tịnh có thể tu thiền định.

b.2. Giải thích Diệt tội thứ lớp

Phương pháp sám hối có sự sai khác, thì pháp diệt tội cũng lại bất đồng. Vì sao? Tội có ba phẩm:

– Tội vi vô tác

– Thể tính

– Vô minh và Phiền não

Tội có nghĩa là phá hủy. Hiện tại thì phá hủy hao tổn công đức trí tuệ người tu hành, đời vị lai phải chịu quả báo trong ba đường ác, vì nó có thể phá dứt sắc thân và tâm trí hành giả, nên gọi là Tội.

– Tác pháp sám hối: Có công năng phá trừ tội “Vi vô tác” chướng đạo.

– Quán tướng sám hối: Có công năng phá trừ “Thể tính” nghiệp ác của tội.

Trong Ma Ha Diễn Luận có ghi: “Nếu Tỳ-kheo phạm giới sát sinh, tuy tu pháp sám hối, đắc giới thanh tịnh, tội chướng đạo đã diệt, mà quả báo sát sinh không mất”. Đây khả dĩ chứng minh pháp sám hối trước, đồng thời cũng giải thích công dụng quán tướng sám hối rất to lớn, có khả năng phá trừ thể tính của tội.

– Quán vô sinh sám hối tội diệt: Có công năng phá trừ vô minh, tập khí phiền não và nguyên nhân của tội. Đây là phương pháp cứu cánh, trừ diệt tận nguồn gốc của tội.

b.3. Giải thích Khôi phục và không khôi phục giới

HỎI: Sau khi tu pháp sám hối được thanh tịnh, giới luật có được khôi phục không?

ĐÁP: Kiến giải mỗi người bất đồng. Có người nói không khôi phục, như cái áo bị rách liền vá lại, tuy không còn rách thủng, nhưng vẫn chẳng bằng khi còn nguyên lành. Có người nói được khôi phục, như chiếc áo dơ bẩn, sau khi giặt tẩy sạch vẫn mới đẹp như trước. Có người nói có thể khôi phục, có thể không khôi phục. Như trong Luật Ngũ Phần có nói rõ, phạm hai thiên đầu tiên, không thể khôi phục, còn phạm ba thiên sau thì có thể khôi phục được.

Kinh Sơ Giáo có nói: “Tác yết-ma sám hối, bốn tội trọng đều khôi phục được”. Nay những lời nói trên không nhất định, cần lấy ba pháp sám hối trước, chia làm ba ý nghĩa để suy xét.

– Nghĩa khôi phục được.

– Nghĩa vượt hơn trước.

– Nghĩa tăng vượt hơn trước.

Nay cần mượn thí dụ để hiển bày ba ý nghĩa trên:

– Tác pháp sám hối: Sau khi làm pháp sám hối có người khôi phục được, có người thì không. Ví như người bị cảm lạnh, sau khi uống thuốc gừng, bệnh tuy lành nhưng sức khỏe có khi khôi phục như cũ hoặc yếu hơn trước.

– Quán tướng sám hối: Không những tội được trừ diệt mà có thể khai phát thiền định. Đây là nghĩa vượt hơn trước. Vì sao? Do trước kia chưa có công phu thiền định. Ví như người bị bệnh cảm lạnh mà uống thạch tán v.v… không những chỉ lành bệnh mà còn khỏe mạnh tráng kiện hơn trước.

– Quán vô sinh sám hối: Không những tội được diệt mà còn khai phát các thiền định, thậm chí thành tựu đạo quả. Đây là nghĩa tăng vượt hơn trước. Như bệnh nhân uống thuốc tiên, chẳng những bệnh được lành mà còn có phép thần tiên, biến hóa tự tại. Nhân đây mà suy thì đâu cố định một loại vậy.

HỎI: Người đắc giới thì như thế, còn người không đắc giới thì sao?

ĐÁP: Người không đắc giới, phải đi thọ giới lại, hoặc có người do sám hối mà phát giới, Kinh Phổ Hiền Quán ghi: “Như trường hợp Bồ-tát giới. Chúng sinh do nhiều đời về trước, hoặc gặp thiện tri thức, phát Bồ-đề tâm, thọ giới Bồ-tát, nhưng vì bị luân hồi trong sinh tử điên đảo tạo nghiệp tội, do quên mất nên vi phạm cấm giới. Đời nay lại được quy y Tam bảo, nhờ tu tập lại còn sám hối, giới luật thanh tịnh, dùng giới bổn này cũng có thể khai phát thiền định. Tuy không thọ giới nhưng vốn đã có sẵn giới của Bồ-tát”.

Lại nữa, như trong Luận Ma Ha Diễn ghi: “Thi-la đời Tần dịch là Hảo thiện, tức là thích thực hành điều thiện. Tự mình không phóng dật, gọi là Thi-la. Hoặc thọ giới hành thiện, hoặc không thọ giới hành thiện, đều gọi là Thi-la”.

Nếu người không thọ giới hành thiện gọi là Thi-la, đã có Thi-la chẳng lẽ không được khai phát thiền định tam-muội sao?

HỎI: Nếu như thế, đâu cần thọ giới?

ĐÁP: Không nên nói như thế, vì thọ giới có hai nghĩa: Trợ đạo và duy trì Phật pháp, do đó đâu thể không thọ giới sao?

HỎI: Phần trước nói người mới học tọa thiền cần phải sám hối, hay không nhất định như vậy?

ĐÁP: Đương nhiên không nhất định, như Kinh Diệu Thắng Định ghi: “Chỉ cần chân chánh dụng tâm tọa thiền, đó là sám hối tốt nhất”. Nếu trong lúc tọa thiền, có những khó khăn chướng ngại không dụng tâm được thì cần phải tu pháp sám hối.

II- Y THỰC ĐẦY ĐỦ

1. Pháp y phục

Có ba thứ:

1/ Như các bậc Đại sĩ học đạo ở núi tuyết, chỉ giữ một y là đủ, vì không du hành đến chốn nhân gian, sức kham nhẫn sự đói lạnh đã thành tựu, đây là bậc thượng nhân.

2/ Như ngài Ca Diếp v.v… thường hành hạnh Đầu đà, chỉ giữ ba y phấn tảo, không chứa dư thừa, đây là pháp y của bậc trung.

3/ Nếu ở xứ có khí hậu lạnh nhiều, người bậc hạ không kham nỗi, Như Lai khai mở, ngoài ba y còn được sắm thêm 101 vật cần dùng, nhưng cần phải làm pháp thuyết tịnh, biết lượng vừa đủ, nếu quá tham cầu thì ngăn chướng tâm đạo.

2. Ăn uống vừa đủ

Có bốn thứ:

1/ Như bậc Thượng nhân Đại sĩ ở nơi thâm sơn, xa hẳn người đời, chỉ tùy thời dùng rau quả nuôi thân.

2/ Như người thường hành hạnh Đầu-đà, theo pháp khất thực, phá trừ bốn thứ tà mạng, sống theo chánh mạng, vì hay sinh thánh đạo, nên gọi là Thánh Chủng. Bốn thứ tà mạng tự kiếm sống là: Hạ khẩu thực, Ngưỡng khẩu thực, Duy khẩu thực, Phương khẩu thực. Bốn tướng tà mạng này, như ngài Xá Lợi Phất vì Thanh mộc nữ mà nói.

3/ Ở chỗ vắng vẻ, nhờ đàn việt đưa thức ăn đến.

4/ Ở trong Tăng, thọ thực theo chúng Tăng đúng pháp.

Có những pháp ăn mặc như trên gọi là duyên đầy đủ, gọi là Y thực đầy đủ. Nếu không có những nhân duyên này để nuôi dưỡng thân, thì tâm chẳng an ổn, đối với đạo có sự trở ngại.

III- Ở CHỖ NHÀN TỊNH

Không làm các việc gọi là “Nhàn”. Không ồn náo gọi là “Tịnh”. Có ba nơi có thể tu thiền định:

a) Ở thâm sơn, tuyệt dứt bóng người qua lại.

b) Chỗ lan-nhã hành hạnh đầu-đà. “lan-nhã” là nơi vắng vẻ, xa hẳn xóm làng, ít nhất cũng ba, bốn dặm, trẻ chăn trâu, bò không đến đó, vắng bặt chẳng còn các tiếng ồn náo.

c) Chỗ Già-lam (chùa, đạo tràng) thanh tịnh, xa nơi ở của người thế tục, ở những nơi này đều gọi là “nhàn tịnh” vắng vẻ.

IV- DỨT CÁC DUYÊN VỤ

Duyên vụ (công việc) có nhiều loại, tóm lược có bốn thứ:

– Dứt các việc mưu sinh: là không làm các sự nghiệp (hữu vi) thế gian.

– Dứt các việc giao tiếp với người đời: là không kết bạn bè, thân thích, dứt tuyệt sự qua lại.

– Dứt các kỹ thuật khéo léo thế gian: là không làm các nghề thuốc, chú thuật, thầy bói, thầy tướng số v.v… các việc ở thế gian.

– Dứt các sự học vấn: là những việc đọc sách, luận nghị, học hỏi v.v… thảy đều buông bỏ.

Vì sao phải dứt hết duyên vụ? Vì nếu còn nhiều công việc ràng buộc thì bỏ phế việc tu thiền định, khó nhiếp phục tâm loạn động, thiền định chẳng hiện tiền.

V- THÂN CẬN THIỆN TRI THỨC

Có ba thứ:

– Ngoại hộ thiện tri thức: người kinh doanh, cúng dường ủng hộ người tu hành, mà không não loạn nhau.

– Đồng hạnh thiện tri thức: người cùng tu hành nhắc nhở lẫn nhau, không nhiễu loạn nhau.

– Giáo thọ thiện tri thức: bậc thầy chỉ dạy những pháp môn phương tiện, điều phục trong và ngoài, để người học được pháp hỷ lợi ích và an lạc.

Trên đây đã lược nói xong đầy đủ 5 duyên.

B. TRÁCH NĂM DỤC

Trong kinh nói: “Dục và pháp ác gồm có Giác và Quán”. Ly dục là tránh xa năm thứ dục, pháp ác là xả bỏ năm thứ ngăn che.

Năm thứ dục: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, ở thế gian, những thứ này thường mê hoặc phàm phu, phá hoại việc lành, nếu không biết rõ tội lỗi của nó để tránh xa, thì các thiền tam-muội không thể chứng được.

I- TRÁCH SẮC DỤC

Những hình dáng kiều diễm đoan nghiêm của nam nữ, như mắt trong, mày đẹp, môi hồng, răng trắng và các vật quý báu của thế gian, những màu sắc vi diệu như: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía, xanh nhạt, xanh đậm v.v… thường làm cho người ngu khi thấy liền sinh tâm tham muốn, tạo các ác nghiệp. Như vua Tần-bà-sa-la do ham sắc dục, đem thân vào nước giặc, ở trong phòng của dâm nữ A-phạm-ba-la. Như vua Ưu-trấn vì nhiễm sắc dục mà chặt đứt tay chân của 500 vị tiên. Những nguyên nhân như thế, nên biết sắc dục gây ra bao nhiêu tội lỗi. Như trong Luận Ma Ha Diễn có nói rất tường tận.

II- TRÁCH THANH DỤC

Tức là những âm thanh như: đàn cầm, sáo, tiêu, tiếng trúc, đàn đá tấu thành âm nhạc v.v… và những giọng ca, tiếng hát, thơ, tán, tụng của nam và nữ, có thể khiến kẻ phàm phu vừa nghe thì say mê, khởi tạo bao ác nghiệp. Như 500 vị tiên nhân ở núi tuyết nghe tiếng ca của nàng Chân-đà-la liền mất thiền định, tâm mê say cuồng loạn. Do những nhân duyên đó, nên biết “Âm thanh gây ra tội lỗi”.

III- TRÁCH HƯƠNG DỤC

Mùi hương trên thân thể của nam nữ, các thức ăn uống và những thứ hương xông ướp ở thế gian, kẻ ngu không biết quán xét tướng trạng của nó, vừa ngửi liền sinh tâm mê đắm, mở cửa phiền não kiết sử. Như vị Tỳ-kheo ở bên hồ sen, ngửi mùi hương của hoa sen, sinh tâm ưa thích, bị vị thần giữ hồ sen quở trách “Vì sao trộm mùi hương của ta”. Vì thích mùi hương, khiến các phiền não trỗi dậy. Do những nguyên nhân đó, nên biết say đắm mùi hương gây tai hại tội lỗi như thế, ở trong Luận Ma Ha Diễn có nói rất rộng.

IV- TRÁCH VỊ DỤC

Là những mùi vị: đắng, cay, chua, ngọt, mặn, lạt, những thứ cao lương mỹ vị ấy, hay làm cho tâm kẻ phàm phu sinh tâm đắm nhiễm, tạo các nghiệp ác. Như ông Sa-di vì ưa thích vị tô-lạc nên sau khi chết sinh làm con giòi ở trong tô-lạc. Nên biết mê đắm vị dục gây tai hại tội lỗi như thế, trong Luận Ma Ha Diễn có nói rất rộng.

V- TRÁCH XÚC DỤC

Da thịt mềm mại, mịn màng của nam nữ, khi lạnh chạm ấm, khi nóng chạm thấy mát, những cảm xúc ưa thích. Kẻ ngu không trí tuệ vì đó mà chìm đắm, khiến chướng ngăn đạo nghiệp. Như vị tiên một sừng vì xúc dục mà mất thần thông, bị dâm nữ cỡi cổ. Xúc dục có lắm việc tai hại như thế, ở trong Luận Ma Ha Diễn có nói rất rộng.

HỎI: Vì sao phải trách ngũ dục?

ĐÁP: Phương pháp trách ngũ dục, trong Luận Ma Ha Diễn ghi: “Than ôi! Chúng sinh bị ngũ dục não loạn, mà mãi tìm cầu không thôi. Ngũ dục này, nếu cầu được càng hăng, như lửa thêm củi, ngọn lửa càng mạnh. Ngũ dục không vui, như chó gặm xương khô. Ngũ dục gây tranh đấu, như bầy quạ giành thịt thúi. Ngũ dục thiêu người, như cầm đuốc đưa ngược gió. Ngũ dục hại người như đạp nhằm rắn độc. Ngũ dục không thật, như mộng gặp của báu. Ngũ dục tạm bợ, không lâu bền như chọi đá nháng lửa. Người đời ngu mê, tham đắm ngũ dục đến chết không bỏ, đời sau phải chịu vô lượng khổ não”. Tất cả chúng sinh đồng có ngũ dục này, thường bị ngũ dục sai sử, khác nào làm đầy tớ cho ngũ dục. Do quá tham đắm ngũ dục, nên chìm đắm trong ba đường ác. Ta nay tu thiền định, lại bị chúng ngăn che, chúng là bọn giặc hung dữ, phải chóng xa lìa.

Như bài kệ trong Thiền Kinh(7) ghi:

Sinh tử không dứt đoạn,

Vì ưa dục thích vị,

Nuôi kẻ thù trong nhà,

Luống chịu các đắng cay.

Thân thúi như xác chết,

Chín lỗ chảy bất tịnh,

Như trùng phân ưa phân,

Kẻ đắm thân không khác.

Người trí nên quán thân,

Không tham nhiễm thế gian.

Không dính, không tham muốn,

Ấy gọi chân Niết-bàn.

Như chư Phật đã nói,

Nhất tâm nhất ý hành,

Sổ tức tu thiền định,

Ấy gọi hành Đầu-đà.

C. XẢ NGŨ CÁI

Tức là xả bỏ năm thứ ngăn che: Tham muốn, giận hờn, mê ngủ, dao động, hối hận và nghi ngờ.

I- XẢ THAM DỤC

Trước đã nói, đối năm trần bên ngoài sinh tâm tham muốn, nay nói chính trong ý căn sinh tâm tham muốn. Nghĩa là khi hành giả ngồi ngay thẳng tu thiền định, tâm khởi tham muốn, niệm niệm tiếp nối, che đậy thiện tâm không được tăng trưởng, sau khi biết rồi liền bỏ. Vì cớ sao? Như nàng Thuật-bà-già trong tâm khởi tham dục, còn bị đốt cả thân thể thay, huống chi tâm sinh lửa tham dục mà chẳng thiêu các pháp lành sao?

Người tham dục cách đạo rất xa, vì tham dục là nguồn gốc của các phiền não, loạn tâm, nếu tâm ôm ấp tham dục, thì khó được gần đạo. Như bài kệ Trừ Cái nói rằng:

Người hổ thẹn vào đạo,

Ôm bát phước chúng sinh,

Tại sao theo trần tục,

Đắm chìm trong ngũ tình.

Đã xả bỏ ngũ dục,

Bỏ nó không luyến tiếc,

Vì sao lại muốn được,

Như người ăn đồ mửa.

Cầu các dục thì khổ,

Khi được nhiều lo sợ,

Khi mất lại lo rầu,

Tất cả thời không vui.

Họa các dục như thế,

Do đâu xả được nó?

Được vui sâu thiền định,

Liền không bị nó lừa.

II- XẢ GIẬN HỜN

Sân giận là cội gốc sinh các pháp bất thiện, là nguyên nhân đọa vào ba đường ác, là oan gia của pháp an lạc, là bọn giặc dữ của tâm thiện, là kho chứa bao nhiêu ngôn ngữ thô ác. Thế nên hành giả khi tọa thiền khởi nghĩ: “Người này phá hại ta, và người thân ta, khen ngợi người thù của ta”. Suy nghĩ quá khứ, vị lai cũng như thế. Đó là chín thứ phiền não, do sân hận nên sinh oán thù, do tâm oán thù nên khởi tâm sát hại kẻ khác, cho nên những phiền não, sân hận, oán thù che đậy tâm nên gọi là Cái. Phải gấp bỏ nó không cho tăng trưởng.

Như ngài Thích-đề-bà-na, dùng bài kệ hỏi Phật:

Vật gì giết an lạc?

Vật gì giết vô ưu?

Vật gì gốc của độc?

Nuốt mất tất cả thiện?

Phật đáp:

Giết sân thì an lạc,

Giết sân thì vô ưu,

Sân là gốc của độc,

Sân diệt tất cả thiện.

Đã biết sân nguy hiểm như thế, nên phải tu từ bi nhẫn nhục để trừ diệt nó, cho tâm được thanh tịnh.

III- XẢ THÙY MIÊN (mê ngủ)

Nội tâm hôn ám gọi là thùy, phóng túng buông thả tứ chi, nằm lăn ra ngủ vùi gọi là miên. Ý thức mê mờ gọi là thùy, năm tình (ngũ căn) che tối mê man gọi là miên. Do nhân duyên đó gọi là thùy miên cái.

Trong Luận A Tỳ Đàm nói mê ngủ là tăng tâm số pháp (51 tâm sở), hay phá hoại cái vui chân thật nơi tâm của đời này và đời sau, cũng phá hoại phước báu sinh thiên ở đời vị lai. Nó là pháp ác, thật là bất thiện. Vì cớ sao? Vì những loại ngăn che tâm tính khác dễ phát hiện, nên có biện pháp đối trị được, còn khi mê ngủ như chết, không thể hiểu biết, vì không biết nên khó trừ.

Như có vị Bồ-tát quở các đệ tử mê ngủ:

Ông dậy chớ ôm thây thúi nằm,

Những thứ nhơ nhớp gọi là người,

Như bệnh nặng tên cắm vào thân,

Đầy dẫy đau đớn đâu yên ngủ.

Như người bị trói sắp đem giết,

Tai hại kề bên đâu thể ngủ,

Giặc phiền não chưa diệt chưa trừ,

Như cùng rắn độc chung nhà ở.

Như xông vào trận giữa làn dao,

Khi ấy làm sao yên ngủ được,

Ngủ là mê tối không thể thấy,

Ngày ngày cướp mất trí tuệ ta.

Do ngủ che tâm không thấy được,

Hại lớn như thế đâu yên ngủ.

Những việc quở trách mê ngủ như thế, nên lấy vô thường để cảnh giác, giảm bớt ngủ nghỉ, khiến không cho mê mờ tâm tính. Nếu tâm mê ngủ quá nặng, phải dùng thiền trượng để đuổi nó.

IV- XẢ TRẠO HỐI

a) Trạo: Là trạo cử

Có ba thứ: Thân, khẩu, ý.

– Thân trạo cử: Thân ưa thích chạy rong, đùa giỡn lăng xăng, ít khi ngồi yên.

– Khẩu trạo cử: Miệng ưa ca hát, tranh cãi phải quấy, luận bàn những chuyện vô ích, nói các việc thế tục.

– Tâm trạo cử: Tâm tính phóng túng, ý nghĩ lăng xăng, suy nghĩ văn chương, kỹ nghệ thế gian, xét nghĩ những điều xấu ác v.v… gọi là tâm trạo cử. Tâm trạo cử hay phá hoại tâm người xuất gia. Người cố nhiếp tâm vẫn không được định, huống chi kẻ tâm tán loạn. Người tâm tán loạn như con voi say không móc sắt, con lạc đà không dây mũi, không thể kềm chế được.

Như có bài kệ:

Ông đã cạo tóc mặc áo nhuộm,

Ôm bình bát vào xóm xin ăn,

Vì sao lại ưa thích lăng xăng,

Buông lung tâm ý, mất lợi lành.

Đã mất pháp lợi trong Phật pháp, lại mất cả sự vui ở đời. Biết trạo cử là tai hại phải gấp bỏ nó.

b) Hối: Nếu trạo cử mà không có hối hận thì chưa thành che đậy. Vì cớ sao? Vì khi trạo cử còn ở bên ngoài, trong khi nhập định mới hối hận việc làm trước, khiến lo buồn che đậy tâm tính.

Hối hận có hai thứ: Không nên làm mà làm; Nên làm mà chẳng làm.

Do trạo cử rồi mới sinh hối hận. Như người gây tội nặng, thường ôm lòng lo sợ, mũi tên hối hận cắm sâu vào tim khó nhổ ra được. Có bài kệ:

Không nên làm mà làm,

Nên làm mà chẳng làm,

Lửa hối hận thiêu cháy,

Đời sau đọa ác đạo.

Nếu phạm tội nên hối,

Hối rồi chẳng còn lo,

Như thế tâm an lạc,

Không nên thường nhớ mãi.

Đây có hai thứ hối,

Như nên làm không làm,

Không nên làm lại làm,

Ấy là tướng kẻ ngu.

Do không tâm hối hận,

Chẳng nên làm lại làm,

Các việc ác đã làm,

Không thể bảo không làm.

Dùng những nhân duyên quở trách trạo hối che đậy như thế. Tâm thần thanh tịnh, không có ngăn che, thường ở nơi tâm thiện thì được an lạc, vắng lặng, do đó nội tâm hỷ lạc sung mãn.

V- XẢ NGHI NGỜ

Do nghi ngờ che đậy tâm, đối trong chánh pháp chẳng có lòng tin. Vì lòng tin không có nên ở trong Phật Pháp chẳng lợi ích gì cả. Ví như người vào núi đầy của báu, vì không có tay nên chẳng thể lấy được gì. Trường hợp nghi có rất nhiều, không hẳn là chỉ riêng có chướng ngại thiền định mà thôi.

Nay nói về tâm nghi ngăn chướng thiền định. Gồm có ba thứ:

1. Nghi mình: Như có người nghĩ rằng: “Ta là kẻ ngu, tội chướng nặng nề, không như các bậc kia”. Tự khởi nghi như thế, thì thiền định không thể phát sinh. Hành giả muốn tu thiền định, chớ có khinh mình, vì căn lành đời trước đâu thể lường được.

2. Nghi thầy: Nghi thầy ấy tướng mạo và oai nghi như thế, chinh bản thân của thầy còn chưa có đạo đức thì làm sao dạy ta được. Khởi nghi mạn như thế, tức là chướng ngại thiền định. Phương pháp trị bệnh này như trong các Luận Ma Ha Diễn dạy: “Ví như trong đãy da thúi có đựng vàng, vì ham vàng ta không thể bỏ đãy da thúi này”. Người tu cũng vậy, vị thầy tuy chưa hoàn toàn thanh tịnh, cũng phải khởi tưởng như Phật.

3. Nghi pháp: Người đời phần nhiều hay chấp tâm mình suy nghĩ là đúng, nên sau khi thọ nhận pháp không thể tức thời tin tưởng, khởi tâm cung kính lãnh thọ thực hành. Nếu tâm do dự thì diệu pháp không thể lãnh hội. Vì cớ sao? Như bài kệ trách tâm nghi ngờ:

Như người trước ngã ba,

Nghi ngờ không biết lối,

Trong các pháp thật tướng,

Nghi cũng lại như vậy.

Vì nghi không cần cầu,

Thật tướng của các pháp,

Thấy nghi từ si sinh,

Là ác trong các ác.

Trong pháp thiện bất thiện,

Sinh tử và Niết-bàn,

Hẳn thật có pháp chân,

Trong đó chớ sinh nghi.

Ông nếu ôm lòng nghi,

Chết bị chúa ngục trói,

Như sư tử chụp nai,

Chẳng thể nào thoát khỏi.

Ở đời tuy có nghi,

Phải tùy hỷ pháp lành,

Ví như thấy ngã ba,

Đường tốt, lợi nên đi.

Lòng tin hay vào được Phật pháp. Nếu người không tin, tuy ở trong Phật pháp mà hoàn toàn chẳng có lợi ích. Những việc như thế, đủ biết tâm nghi ngờ rất tai hại phải gấp bỏ nó.

HỎI: Những việc ác nhiều như bụi không thể tính hết, tại sao ở đây chỉ bảo bỏ năm điều mà thôi?

ĐÁP: Trong năm điều này gồm có cả tam độc và đẳng phần, bốn thứ này làm căn bản, nhiếp cả tám muôn bốn ngàn (84000) trần lao. Đó là:

– Tham muốn thuộc tham độc.

– Giận hờn thuộc sân độc.

– Mê ngủ và nghi thuộc si độc.

– Diêu động và hối hận thuộc đẳng phần. Chúng hiệp thành bốn phần phiền não. Trong mỗi phần có hai vạn một ngàn (21000), bốn phần hợp lại là tám muôn bốn ngàn (84000). Thế nên trừ Ngũ cái là trừ tất cả pháp ác. Người tu nên lấy những việc như thế trừ bỏ Ngũ cái. Ngũ cái bỏ rồi, ví như người mang vật nặng được gỡ bỏ, như bệnh được lành, như người nghèo đói được đến ở nước giàu có, như bị giặc bao vây được cứu thoát, yên ổn không lo sợ. Người tu cũng vậy, trừ được Ngũ cái rồi, nội tâm an ổn mát mẻ an vui, như mặt trời, mặt trăng bị năm thứ che tối: Khói, bụi, mây, sương mù, và bàn tay của thần A-tu-la che thì không thể chiếu sáng. Tâm của người bị năm việc ngăn che cũng như vậy.

D. ĐIỀU HÒA NĂM VIỆC

I- Điều hòa ăn uống

II- Điều hòa ngủ nghỉ

III- Điều hòa thân

IV- Điều hòa hơi thở

V- Điều hòa tâm

Vì cớ sao? Nay mượn một thí dụ cụ thể, để so sánh pháp điều hòa này cho dễ hiểu. Như người thợ làm đồ gốm, muốn làm các món đồ, trước phải nhồi đất cho thật dẻo, khéo làm sao cho không cứng không nhão, rồi sau mới đưa lên khuôn mà nặn. Như muốn sử dụng cây đàn cầm, trước phải chỉnh dây đàn không căng, không dùn, sau mới khảy lên những bản nhạc âm thanh vi diệu. Hành giả tu tâm cũng như vậy, khéo điều hòa năm việc khiến được điều hòa thích nghi, thì chánh định dễ sinh. Nếu có một trong năm việc không được điều hòa, thì sinh nhiều chướng nạn, thiện căn khó phát sinh.

I- ĐIỀU HÒA ĂN UỐNG

Sự ăn uống là chủ yếu nuôi thân để tiến tu đạo nghiệp. Nếu ăn quá no thì bao tử đầy, hơi thở gấp, trăm mạch không thông, tâm bị bế tắc, ngồi niệm chẳng yên. Nếu ăn uống quá ít thì thân gầy, bao tử lỏng lẻo, ý lao lự xao động, không vững. Hai việc này đều không được định. Nếu ăn những vật trược uế, khiến tâm thức phải hôn mê. Nếu ăn những vật không thích hợp, thì kích phát bệnh cũ, khiến Tứ đại chống nghịch nhau. Người mới tu tập thiền định phải dè dặt, tránh những điều này. Cho nên kinh chép:

Thân an thì đạo tăng,

Ăn uống có tiết độ,

Thường ưa chỗ vắng vẻ,

Tâm lặng ưa tinh tấn,

Là lời chư Phật dạy.

II- ĐIỀU HÒA NGỦ NGHỈ

Ngủ là bị vô minh che đậy, không nên ngủ nhiều. Nếu người ngủ nhiều quá, không những bỏ bê việc tu hành, lại mất hết công phu, khiến tâm ám muội, căn lành tan mất. Phải giác ngộ lý vô thường, điều phục sự ngủ nghỉ để tinh thần trong sáng, tâm niệm sáng suốt thanh tịnh. Được thế mới có thể gá tâm nơi Thánh cảnh, chánh định hiện tiền. Cho nên trong kinh có ghi: “Đầu hôm và gần sáng chớ có bỏ phế, không do vì nhân duyên ngủ nghỉ, khiến cho một đời luống qua, không được gì cả. Phải nghĩ rằng ngọn lửa vô thường thiêu đốt cả thế gian, sớm cầu tự độ chớ nên ngủ nghỉ”.

III- ĐIỀU HÒA THÂN

Hành giả muốn nhập Tam-muội, phải áp dụng phương pháp điều thân. Khi chưa nhập định, đi, đứng, nằm, ngồi và mọi hành động thảy đều nhẹ nhàng thư thả, nếu các hành động thô tháo, hơi thở thành thô, do hơi thở thô thì tâm tán loạn khó kềm chế, đến khi ngồi tâm bứt rứt, không thư thái. Do đó, tuy chưa nhập định, hành giả vẫn phải dụng ý, sớm tìm phương tiện hạn chế nó dần. Lúc nhập định phải khéo an thân cho được ổn định. Khi đến chỗ ngồi thiền, trước phải ngồi yên, mỗi bộ phận đều thấy an ổn, lâu sau không thấy có gì trở ngại, mới bắt đầu sửa soạn chân.

Nếu ngồi bán già(8) thì lấy chân trái để lên đùi mặt, kéo sát vào thân, để bàn chân trái bằng với đùi mặt, bàn chân mặt bằng với đùi trái.

Nếu ngồi kiết già(9) thì kéo bàn chân trái lên đùi chân phải. Nới rộng dây lưng, cổ áo, sửa cho ngay thẳng, chớ để khi ngồi rời tuột. Lấy bàn tay trái để lên lòng bàn tay mặt và các ngón tay lật ngửa, chồng lên nhau, hai ngón cái đối nhau, rồi đặt lên bàn chân, kéo sát vào thân, đặt nằm ngay chính giữa.

Kế tiếp là chỉnh thân ngay thẳng, chuyển động thân và các chi tiết bảy lần, giống như phương pháp xoa bóp, không cho tay xê dịch. Như thế rồi giữ xương không cho cong vẹo. Kế nữa là sửa cổ cho ngay, đầu hơi cúi, giữ chóp mũi ngay, thẳng với rún, chẳng nghiêng chẳng vẹo, không ngước không cúi, nét mặt bình thản, thân ngồi yên bất động.

Kế tiếp là dùng miệng thở hơi ô trọc ra, khi thở há miệng cho hơi ra, đừng mạnh cũng đừng gấp, phải đều đều nhè nhẹ. Khi hít vô tưởng không khí trong sạch khắp trong thân thể, những chỗ không thông đều theo hơi thở mà được lưu thông, rồi há miệng thở hơi ra sạch hết. Thở như thế đến ba lần, nếu khi thân và hơi thở đã điều hòa, thì thở một lần cũng được. Thở xong ngậm miệng lại, môi và răng vừa khít nhau, lưỡi để trên vòm họng. Từ từ nhắm mắt, vừa khuất ánh sáng bên ngoài là được.

Thân ngồi ngay thẳng như vách đá, thân và chân tay không được cử động. Đây là phương pháp điều thân khi mới bắt đầu nhập định. Nói tóm lại, không hoãn cũng chẳng gấp, là tướng thân được điều hòa.

IV- ĐIỀU HÒA HƠI THỞ

Phương pháp điều hòa hơi thở khi bắt đầu nhập định, gồm có bốn tướng:

– Tướng phong

– Tướng suyễn

– Tướng khí

– Tướng tức

Ba tướng trước là không điều hòa, tướng sau cùng là điều hòa.

– Thế nào là tướng Phong? Khi ngồi thiền, hơi thở ra vào trong mũi nghe có tiếng, ấy là tướng Phong.

– Thế nào là tướng Suyễn? Khi ngồi hơi thở ra vào tuy không có tiếng, nhưng ngăn trệ không thông, ấy là tướng Suyễn.

– Thế nào là tướng Khí? Khi ngồi mà hơi thở ra vào tuy không có tiếng, không bị ngăn trệ, nhưng chẳng nhẹ nhàng, là tướng Khí.

– Thế nào là tướng Tức? Khi ngồi thiền mà hơi thở không có tiếng không bị ngăn và không thô, ra vào nhè nhẹ như còn như mất, tinh thần an ổn, thư thái, ấy là tướng Tức.

Nếu hơi thở Phong thì tán loạn, dùng hơi thở Suyễn thì ngăn trệ, hơi thở Khí thì nhọc nhằn, chỉ dùng tướng Tức sẽ được an định.

Lại nữa, khi ngồi mà có ba tướng: phong, suyễn và khí, gọi là chẳng điều hòa, nếu dụng tâm thì dễ sinh bệnh, nội tâm cũng khó an định.

Nếu muốn điều hòa phải y theo ba pháp:

1/ Chuyên tưởng an tâm tại dưới rún (huyệt đan điền).

2/ Buông thả thân thể.

3/ Tưởng khắp lỗ chân lông hơi thở ra vào thông suốt không ngăn ngại.

Nếu tâm được vi tế thì hơi thở nhẹ nhàng. Hơi thở điều hòa thì các bệnh không sinh, tâm dễ được định. Đây là phương pháp điều Tức khi mới bắt đầu nhập định. Nói tóm lại, hơi thở nhẹ và dài là tướng điều hòa.

V- ĐIỀU HÒA TÂM

Điều tâm có ba cách: Nhập, Trụ, Xuất.

a) Nhập: Có hai nghĩa:

1/ Điều phục loạn tưởng không cho buông lung.

2/ Phải điều hòa được các tướng: Trầm, Phù, Khoan, Cấp.

Thế nào là tướng Trầm?

Nếu khi ngồi mà tâm mờ mịt, không ghi nhớ, đầu ưa gục xuống, là tướng Trầm. Khi ấy phải chú tâm nơi chóp mũi, khiến tâm duyên nơi một cảnh, không cho ý phân tán. Đây là pháp trị bệnh Trầm.

Thế nào là tướng Phù?

Nếu khi ngồi, tâm ưa phóng túng loạn động, thân cũng không yên, nhớ những việc đâu đâu, là tướng Phù. Khi ấy nên tưởng tâm tại rún, ngăn các loạn niệm, tâm liền dừng trụ, dễ được an định. Tóm lại không Trầm, không Phù là tướng điều hòa.

HỎI: Tâm định ấy có tướng Khoan, Cấp không?

ĐÁP: Cũng có việc này:

– Tướng Cấp là do trong khi ngồi dùng niệm nhiếp tâm mà được vào định, thế nên hơi xông lên trên ngực, đau nhói, phải buông xả tâm đó, quán tưởng đưa hơi thở xuống, bệnh liền được lành.

– Nếu tâm mắc bệnh Khoan thì tâm trí bị tản mát, thân ưa xiêu vẹo, hoặc trong miệng chảy nước miếng, hoặc khi ấy tâm mờ mịt. Bấy giờ phải thúc liễm thân và tâm chuyên niệm, khiến tâm trụ trong một chỗ, thân thể kềm giữ nhau, lấy đó mà trị bệnh. Tâm có tướng thô phù hay hôn trầm, cứ xét nơi đó có thể biết. Đây là phương pháp điều tâm khi mới vào định.

Khi mới nhập định, phải bắt đầu từ thô vào tế. Thân là thô, Hơi thở là trung bình, Tâm là vi tế, nên điều hòa từ thô đến tế khiến tâm được an tịnh. Đây là phương tiện đầu tiên trước khi nhập định.

b) Trụ: Trong khi ngồi điều hòa có ba việc: Hành giả trong thời gian một lần ngồi, tùy thời gian dài hay ngắn, dụng tâm nhiếp niệm. Trong ấy phải khéo biết thân, hơi thở và tâm đã được điều hòa hay không điều hòa. Nếu khi ngồi, tuy điều thân xong, nhưng thân buông thả, hoặc kềm thúc, hoặc nghiêng, cong, cúi, ngước, không ngay thẳng, biết rồi liền sửa cho thẳng khiến được an ổn. Không khoan, không cấp, thân thể ngay thẳng bình thường, trụ ở mức trung bình.

Lại nữa, trong khi ngồi, thân tuy điều hòa, mà hơi thở lại không điều hòa. Tướng hơi thở không điều hòa như trước đã nói, hoặc Phong, hoặc Suyễn, hoặc Khí, hoặc trong thân đầy hơi. Phải dùng những phương pháp ở trước, tùy bệnh mà trị, khiến hơi thở êm nhẹ và dài, như có, như không.

Kế đến, trong thời gian ngồi thiền, thân và hơi thở tuy điều hòa mà tâm bị Phù động, hoặc Trầm, hoặc Khoan, hoặc Cấp không an định, bấy giờ nên dùng phương pháp đã nói ở trước mà điều hòa khiến được vừa chừng.

Ba việc này không nhất định trước sau, chỉ tùy cái nào không điều hòa thì chỉnh sửa cho được điều hòa, khiến thời gian ngồi, thân, tâm, hơi thở được điều hòa thích ứng, không để trái nhau, dung hòa không hai. Pháp này có thể trừ được các bệnh trước, nếu những chướng ngại không sinh, pháp thiền định chắc chắn thành tựu.

c) Xuất: Khi hành giả tọa thiền sắp xong, muốn xuất định, trước phải phóng tâm duyên vào cảnh khác, tụng bài hồi hướng, từ từ mở miệng cho hơi thở ra, đồng thời tưởng trăm mạch máu trong thân theo ý và hơi thở lưu chuyển ra ngoài, tưởng tất cả phiền não bệnh hoạn đều đẩy ra ngoài hết.

Sau đó là động thân, động vai, bắp tay và lần lượt đến tay, đầu, cổ, kế tiếp động hai chân, tất cả cử chỉ đều phải nhẹ nhàng. Sau đó là dùng tay xoa khắp lỗ chân lông, chà xát hai bàn tay cho ấm, áp nhẹ lên hai mắt, rồi mới mở mắt, đợi hơi nóng trong người tan hết mới tùy ý ra đi.

Nếu không đúng như vậy, khi ngồi được trụ tâm, khi xuất, buông xả mau quá, thì phần vi tế chưa tan, trụ lại trong thân khiến người nhức đầu, trăm lóng xương cứng đờ như chứng phong lao, sau này khi tọa thiền bứt rứt không an. Thế nên khi mới xuất định, mỗi việc đều phải lưu ý. Đây là phương pháp điều thân, hơi thở và tâm, từ tế đến thô, gọi là khéo Nhập, Trụ, Xuất, như bài kệ nói:

Tiến dừng có thứ tự,

Thô tế chẳng trái nhau,

Ví như khéo tập ngựa,

Tùy ý muốn dừng đi.

E. HÀNH NĂM PHÁP

I- Dục

II- Tinh tấn

III- Niệm

IV- Xảo tuệ

V- Nhất tâm

I- DỤC

Hành giả mới tu thiền, từ trong Định dục giới phát ra, mong muốn chứng được Sơ thiền, nên cũng gọi là Chí, gọi là Nguyện, là Ưa, là Thích. Vì nội tâm người này có chí nguyện ưa thích các thiền định.

HỎI: Tâm hy vọng sinh khởi, đối trong thiền định có chướng ngại, vì sao lấy làm phương tiện?

ĐÁP: Dục là chỉ cho tâm nguyện ưa thích muốn thành tựu chí lớn, nên gọi là Dục, chẳng phải trong lúc dụng tâm lại khởi niệm ý tưởng mong cầu. Nếu khởi mong muốn thì tâm không được lóng lặng, nếu tâm không lóng lặng, thì chánh định không thể khai phát được.

II- TINH TẤN

Có hai thứ: Thân tinh tấn và tâm tinh tấn. Nếu hành giả có thể tu 12 hạnh đầu-đà, tức là thân và tâm đã đầy đủ tinh tấn. Như Phật dạy ngài Ca Diếp: “Ở nơi a-lan-nhã, Tỳ-kheo xa lìa hai thứ đắm chấp thân và tâm, thanh tịnh thực hành hạnh đầu đà”. Hạnh đầu đà gồm có 12 việc:

1/ Ở nơi a-lan-nhã, xa lìa xóm làng đông đúc.

2/ Thường thực hành hạnh khất thực.

3/ Thứ tự khất thực, (không lựa chọn giàu nghèo).

4/ Thọ nhất thực pháp (ngày chỉ ăn một bữa).

5/ Tiết lượng thực (tiết chế lượng thức ăn).

6/ Sau giờ ngọ không uống nước trái cây.

7/ Mặc y cũ rách.

8/ Chỉ giữ được ba y.

9/ Ở gò mã nghĩa địa.

10/ Ở gốc cây.

11/ Ở nơi đất trống.

12/ Chỉ ngồi không nằm.

Mười hai hạnh đầu-đà này, trong Kinh Đầu Đà có nói rất rộng.

“Đầu-đà” còn gọi là Đẩu-tẩu, tức là tu tập khổ hạnh, thân tâm dứt bỏ các pháp bất thiện. Nếu khi tu thiền, thực hành các pháp này, ấy gọi là hạnh không phóng dật, thân tâm tinh tấn đầy đủ. Nên biết người này có thể chứng Thánh quả tam thừa, huống gì các thiền định của thế gian. Lại nữa, hành giả kiên trì giữ giới luật, xả bỏ Ngũ cái, đầu hôm và khuya, tinh chuyên không bê trễ, như người kéo lửa, nếu lửa chưa phát trọn không dừng nghỉ, ấy gọi là pháp Tinh tấn.

Như Phật dạy ngài A Nan: “Chư Phật chuyên nhất tâm tinh tấn, nên chứng được Bồ-đề, huống gì các pháp thiện khác”.

III- NIỆM

Như trong Luận Ma Ha Diễn nói: “Quán tưởng cõi Dục giới là bất tịnh, hư dối thấp hèn, nhớ nghĩ Sơ thiền là pháp tôn trọng đáng quý”. Pháp này ý nghĩa đồng với “Lục hành quán”, chỉ có danh từ khác nhau mà thôi.

Lục hành quán: là 6 phương pháp quán, thứ tự đoạn trừ Tư hoặc.

Đó là nhàm chán ba thứ: Khổ, Thô, Chướng của hạ địa, tức là quán Dục giới bất tịnh, hư dối, thấp kém và quán tưởng ưa thích ba thứ: Thắng, Diệu, Xuất của thượng địa, tức là quán Sơ thiền rất tôn trọng đáng quý.

* GIẢI THÍCH LỤC HÀNH QUÁN

Chia làm hai ý:

1. Giải thích Quả trong Lục hành quán

2. Giải thích Nhân trong Lục hành quán

1. Giải thích Quả trong Lục hành quán

a) Quả của Dục giới: Nhàm chán ba thứ: Khổ, Thô, Chướng, nghĩa là nhàm chán thân, tâm dục giới thô nặng và tai họa.

– Khổ: Hành giả suy nghĩ rằng: “Hiện nay báo thân của Dục giới này bị các thứ đói khát, nóng, lạnh, bệnh tật, đao binh v.v… bức bách, nên gọi là Khổ”.

– Thô: là thân này do 36 vật bất tịnh như: phân, nước tiểu, máu mủ v.v… hợp thành, nên gọi là Thô. Thô là xấu xí.

– Chướng: là sắc chất của thân này chướng ngại không được tự tại hoặc bị núi sông, vách đá ngăn cách, nên gọi là Chướng.

b) Quả của Sắc giới: nghĩa là ưa thích cảnh giới Thượng thắng, Diệu, Xuất:

– Thượng thắng: Hành giả nghĩ rằng: “Biết cái vui của Sắc giới là thù thắng, cái vui của Dục giới là khổ. Cái vui của Sắc giới là thù thắng vi diệu, cho nên khi được vui sướng thì ưa thích hơn khổ”, nên gọi là Thượng thắng.

– Diệu: thọ hưởng được sắc thân của cõi Sắc giới, như bóng trong gương, tuy có hình sắc mà chẳng có chất ngại, nên gọi là Diệu.

– Xuất: khi chứng được Ngũ thông, có thể thấy thấu suốt các thứ bị ngăn chướng ở bên ngoài, dù vách núi cũng không thể ngăn ngại, nên gọi là Xuất.

2. Giải thích Nhân trong Lục hành quán

a) Nhân của Dục giới: nghĩa là nguyên nhân nhàm chán các thứ: Khổ, Thô, Chướng của dục giới.

– Khổ: Hành giả tư duy: “Nếu ở trong Báo thân mà khởi các tâm niệm, duyên theo tham dục, không thể xa lìa được”. Như trong kinh ghi: “Tất cả chúng sinh là đầy tớ của ái”, nên gọi là Khổ.

– Thô: nghĩa là tâm duyên theo năm trần của Dục giới, khiến tâm dao động tán loạn, khởi tạo các ác nghiệp, nên gọi là Thô.

– Chướng: do phiền não che đậy, nên gọi là Chướng.

b) Nhân của Sắc giới: nghĩa là ưa thích

Thượng thắng, Diệu, Xuất của Sắc giới.

– Thượng thắng: Hành giả nghĩ rằng: “Cái vui của Sơ thiền là thù thắng, vì niềm vui này từ trong nội tâm khai phát”, nên gọi là Thượng thắng. So với cái vui tham dục phát sinh từ năm trần bên ngoài, là phiền não oán kết, là thấp kém chẳng bằng.

– Diệu: do chứng được cảnh giới an vui của thiền định, tâm an ổn không dấy động, nên pháp lạc được thành tựu, gọi là Diệu. Cái khoái lạc tham dục khiến nội tâm tán loạn dao động, nên gọi là Thô.

– Xuất: nghĩa là nội tâm được thoát khỏi sự chướng ngại, chứng được Sơ thiền, nên gọi là Xuất. Ví dụ như nước trong mạch đá ngầm, nước chẳng phải từ ngoài đến mà chính từ trong kẽ đá chảy vọt ra.

Nay lấy Lục hành quán này để giải thích nghĩa của Niệm, hàm ý có thể thấy trong đó.

HỎI: Nay nói đệ tử Phật tu thiền định, thì đâu cần giải thích phương pháp Lục hành quán của phàm phu?

ĐÁP: Phần trước đã giải thích các thiền định trong Tam giới, ở đây cũng cần biết nguyên nhân sở hành của nó. Nếu theo hàng đệ tử của Phật thì dùng phương pháp Bát thánh đạo, tu 16 pháp quán để xa lìa Ngũ dục, là ý muốn nhập vào Sơ thiền, thì đâu có lỗi gì? Ở trong phần thuyết minh về Thiền vô lậu, sẽ giải thích rộng.

IV- XẢO TUỆ

Nghĩa là so lường cảnh giới khoái lạc của Dục giới và cảnh giới an lạc của Sơ thiền, trong đó sự được, mất, khinh, trọng như thế nào? Nay chia ra hai phần để giải thích:

1. So lường: tức là dùng trí tuệ suy nghĩ để so sánh.

2. Được, mất: nghĩa là cảm giác khoái lạc trong Dục giới là mất, cảnh giới an lạc của Sơ thiền là được. Nghĩa là pháp an lạc của Sơ thiền không có lỗi lầm, nên gọi là được, cảm giác khoái lạc của Dục giới là sai lầm, nên gọi là mất.

Cũng có thể nói cảnh giới an lạc Sơ thiền là mất, và khoái lạc của Dục giới là được.

– Dục giới là được: nghĩa là hành giả chấp cảm giác khoái lạc thô thiển của Dục giới là thật, nên sinh khởi tâm chứng đắc.

– Sơ thiền là mất: nghĩa là hành giả nhận biết thân này rỗng rang và vắng lặng, có cảm thọ an lạc rất vi tế, tương tự như có, như không, không cố định, mất hết tướng trạng khoái lạc nên gọi là mất.

Khinh, Trọng: nghĩa là cõi Dục là khinh, Sơ thiền là trọng.

Vì sao gọi Dục giới là khinh? Vì năm thức tương ưng với cảm giác khoái lạc Dục giới thì nhanh chóng dễ mất, nên gọi là Khinh.

Vì sao gọi Sơ thiền là trọng? Vì cảnh giới an lạc của Sơ thiền cùng ý thức tương ưng, dừng trụ lâu nơi cảnh duyên, nên gọi là Trọng. Trọng là trân trọng, quý báu.

Cũng có thể gọi Dục giới là trọng, Sơ thiền là khinh. Vì khoái lạc của Dục giới cùng hợp với phiền não, nên nội tâm bị trói buộc nặng nề, nên gọi là Trọng. Cảnh giới an lạc của Sơ thiền, không bị tâm niệm ràng buộc, nên gọi là Khinh.

Lại có thầy giải thích về Xảo tuệ rằng: “Khi hành giả mới tập tu thiền, phải hiểu biết phương tiện nội và ngoại, khéo léo sử dụng, không mất đi sự thích ứng, sẽ mau chóng chứng được thiền định, nên gọi là Xảo tuệ”.

V- NHẤT TÂM

Hành giả khéo dùng phương pháp Xảo tuệ để so sánh, khéo léo dụng tâm không cho sai lầm, hành giả chỉ quyết định nhất tâm tu hành, nên gọi là Nhất tâm. Như người đi đường, trước phải biết đường thông hay bít, sau mới quyết định hướng theo con đường đã chọn mà tiến bước. Nên nói “Chẳng phải người trí thì không thể tu thiền, không thiền thì không trí tuệ” chính là ý nghĩa này vậy.

*

Chú thích chương 6:

(1) Yết-ma (Tác nghiệp): các việc làm có liên quan đến giới luật như thọ giới, sám hối, kiết giới, tức là chỉ cho Tác pháp sinh thiện diệt ác. Lúc thọ giới, nhờ yết-ma mà giới tử thành tựu được giới thể.

(2) Bát kỉnh pháp: 8 pháp mà Tỳ-kheo ni phải tôn trọng Tỳ-kheo tăng:

1/ Tỳ-kheo ni dầu 100 tuổi hạ, nhưng khi thấy vị Tỳ-kheo mới thọ giới, cũng phải đứng lên tiếp đón, lễ bái và trải tòa sạch sẽ mời ngồi.

2/ Tỳ-kheo ni không được chê bai mắng nhiếc Tỳ-kheo.

3/ Tỳ-kheo ni không được cử tội, nói lỗi của Tỳ-kheo, nhưng ngược lại Tỳ-kheo được quyền nói lỗi Tỳ-kheo ni.

4/ Thức-xoa-ma-na (học pháp nữ) học giới xong đương sự nên theo chúng Tăng cầu thọ đại giới.

5/ Tỳ-kheo ni mà phạm tội tăng-tàn thì phải trong nửa tháng ở trong hai bộ Tăng hành pháp Ma-na-đỏa.

6/ Tỳ-kheo ni nên mỗi nửa tháng theo Tỳ-kheo cầu thọ học.

7/ Tỳ-kheo ni không được an cư nơi không có Tỳ-kheo.

8/ Tỳ-kheo ni An cư kiết hạ xong, nên ở trong chúng Tỳ-kheo cầu xin ba việc để Tự Tứ sám hối.

(3) Cụ túc giới (Đại giới): giới luật đầy đủ mà Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni phải thọ trì. Theo giới pháp quy định, người thọ trì giới Cụ túc thì chính thức đạt được tư cách một Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni.

Giới Tỳ-kheo có 250 giới, Tỳ-kheo ni có 348 giới. Luật tứ phần ghi, giới đại khái có thể chia làm 8 loại: Ba-la-di: Tỳ-kheo 4; Tỳ-kheo ni 8. Tăng-tàn: Tỳ-kheo 13; Tỳ-kheo ni 17. Bất định: Tỳ-kheo 2. Xả đọa: Tỳ-kheo 30; Tỳ-kheo ni 30. Đơn đọa: Tỳ-kheo 90; Tỳ-kheo ni 178. Hối quá: Tỳ-kheo 4; Tỳ-kheo ni

8. Chúng học: Tỳ-kheo 100; Tỳ-kheo ni 100. Diệt tránh: Tỳ-kheo 7; Tỳ-kheo ni 7.

Ngoài ra, về giới Cụ túc, các bộ Luật Thập Tụng, Luật Ngũ Phần, Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa, Giới bản Paly, Giới bản Tây Tạng đều ghi chép khác nhau. Khi thọ giới này, tác pháp thọ giới phải đầy đủ các điều kiện: tam sư thất chứng, bạch tứ yết-ma. Người thọ giới Cụ túc không được phạm 13 nạn và 10 già. Cụ túc phương tiện: từ trong giới Cụ túc tùy theo căn cơ rút ra 5 giới, 8 giới v.v… theo thứ lớp để dạy cho họ.

Ở Trung quốc từ đời Tùy, Đường về sau tăng ni đều y theo Luật Tứ Phần mà thọ giới. Đặc biệt ngoài việc thọ giới Cụ túc, tăng ni còn thọ thêm giới Bồ-tát gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh. Ngoài ra, người muốn thọ giới cụ túc này, cần phải có thân thể khỏe mạnh, các căn đầy đủ, không có các tật như đui, điếc v.v… thân tâm phải thanh tịnh, không có các lỗi như: biên tội, phạm Tỳ-kheo ni, tặc trụ v.v… phải cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, đã thọ giới Sa-di hoặc (Sa-di ni) đủ 20 tuổi và không quá 70 tuổi.

Giới Cụ túc cũng chỉ nêu bày các giới luật chủ yếu, giúp cho người trì giới nhờ đó mà xa lìa được tội ác, trí đức tròn đủ. Nếu căn cứ vào số giới mà nói thì thật là vô lượng vô biên, phải siêng năng tu trì trong mọi hoàn cảnh, giữ việc lành bỏ việc ác.

(3) Bảy chúng: 7 hàng đệ tử xuất gia và tại gia, hình thành giáo đoàn của Đức Thích Tôn: Tỳ-kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.

(4) Tác pháp sám hối Đại thừa phương đẳng: tức là thực hành thân lễ bái cung kính, miệng xưng niệm tán tụng, tâm ý quán tưởng diệu tướng của Phật, ba nghiệp siêng năng, mỗi mỗi đều theo phép tắc mà sám hối các nghiệp tội đã gây ra trong quá khứ và hiện tại.

(5) Trí tuệ, Nhẫn: bậc Kiến đạo do quán Tứ đế mà phát sinh nhẫn vô lậu, trí vô lậu; Nhẫn là nhân của Trí, Trí là quả của Nhẫn Khổ: là 1 trong 8 Nhẫn; 4 nhẫn trước có thể ấn chứng cho 4 đế của cõi Dục, tức là 4 pháp nhẫn: Khổ pháp nhẫn, Tập pháp nhẫn, Diệt pháp nhẫn và Đạo pháp nhẫn; 4 Nhẫn sau có thể ấn chứng 4 đế của cõi sắc và cõi vô sắc, tức là 4 loại nhẫn: Khổ loại nhẫn, Tập loại nhẫn, Diệt loại nhẫn, Đạo loại nhẫn. Do 4 thứ nhẫn này chính là đoạn kiến hoặc của ba cõi, gọi là Vô gián đạo.

(6) Thiền Kinh (Tọa thiền tam-muội)

(7) Bán-già: cách ngồi chỉ một bàn chân gác lên bàn chân kia có hai cách: 1/ Cát tường bán già tọa: lấy chân phải đặt lên đùi chân trái. 2/ Hàng ma bán già tọa: lấy chân trái đặt lên đùi chân phải. Đời sau khi khắc vẽ hình tượng Bồ-tát hiện thân người nữ, phần nhiều đều vẽ theo tư thế ngồi bán già.

(8) Kiết-già (Kiết già phu tọa, Liên hoa tọa): đây là tư thế ngồi của Như lai khi thành chánh giác dưới cội Bồ-đề.

Có 2 loại: 1/ Hàng ma tọa: trước đặt chân phải lên đùi trái, sau đó đặt chân trái lên đùi phải, hai lòng bàn chân ngửa ra, tay trái nằm trên tay phải. 2/ Cát tường tọa: tư thế ngược lại với Hàng ma tọa.

***

NỘI PHƯƠNG TIỆN

(Có hai phần chủ yếu giải thích về Nội Phương Tiện. Phần Một thuyết minh Nhân tu pháp Chỉ, nội ngoại thiện căn được khai phát. Trong đó nói tổng quát về các loại thiền thuộc sự và lý và các hiện tượng khi chánh định thiện căn bắt đầu phát. Nêu lên Nhân tu tập của hành giả có căn tính bất đồng, cho nên khi chứng thiền định, phát thiền cũng có sự khác nhau, nếu luận sau khi Sơ thiền khai phát thì cảnh giới thiền định thuộc sự lý thâm sâu vi diệu đều được nói đại khái trong phần tu chứng của chương.)

Nội phương tiện chia làm năm phần chính:

*1 Thuyết minh Chỉ môn

*2 Nghiệm căn tính thiện ác

*3 Pháp an tâm

*4 Pháp trị bệnh

*5 Biết ma sự

Cả năm phần này, gọi chung là Nội phương tiện, nhân vì khi mới phát tâm tu thiền định, nội tâm yên lặng và niệm vi tế, cần phải vận dụng năm pháp thiện xảo này, thủ xả thích hợp, về sau mới có thể chứng nhập thiền định thâm sâu, nên gọi là phương tiện.

Nay đối với Nội phương tiện, lấy pháp Chỉ làm cửa đầu tiên, tất cả công đức của thiền định do kềm chế tâm tán loạn mà phát, nên trong kinh có nói “Chế tâm nhất xứ vạn sự bất biện” pháp Chỉ là cửa ban đầu, ý tại chỗ này vậy.

HỎI: Phần trước giải thích trong năm pháp Ngoại phương tiện, có luận về Nhất tâm, vì sao ở đây giải thích lập lại nữa?

ĐÁP: Chẳng phải như thế, phần trước chỉ luận chung về nhất tâm, chưa phân tích đầy đủ, tu pháp Chỉ này rất vi tế, nay vì muốn cho người tu hành biết pháp an tâm căn bản, nên mới nói rõ tướng trạng nhập định từ thô đến tế, từ cạn đến sâu, cũng đâu có lỗi.

HỎI: Trong kinh có nói về pháp quán bất tịnh và pháp quán Sổ tức, là hai pháp môn cam lồ, không nói pháp tu Chỉ là cửa ban đầu, vì sao ở đây lại nói như thế?

ĐÁP: Chẳng phải, ở trong các thiền định, pháp tu Chỉ gồm chung các môn, chung thâu nhiếp riêng nhưng riêng không thể thâu nhiếp chung, cho nên trước tiên dạy tu pháp Chỉ. Nếu sau khi tu Chỉ nhập vào các thiền khác, thì có lợi ích chung. Nếu nương vào các môn khác thì có lỗi trái ngược, không lợi ích, pháp đối trị phiền não cũng như thế.

Lại nữa, minh sư có hai hạng:

1. Vị thầy đã được Đạo nhãn (sáng đạo) xét biết căn cơ của người học, để cho phương pháp đối trị, phù hợp pháp môn tu tập. Như ngài Xá Lợi Phất(1) nói pháp cho hai đệ tử, do không biết căn cơ đệ tử, nên Ngài dạy người thợ rèn tu pháp quán bất tịnh, người đệ tử làm nghề giặt y phục thì dạy pháp tu Sổ tức. Do trái với pháp tu nên không thành tựu mà còn khởi tà kiến. Sau khi được Phật dạy chuyển đổi phương pháp quán, cả hai người đều ngộ đạo.

2. Vị thầy không có Tha tâm trí(2) chưa được đạo nhãn, không biết căn cơ người học. Nếu họ đến tham học tọa thiền, trước tiên cần phải dạy pháp tu Chỉ, sau khi họ tu pháp Chỉ, tâm được an định, các căn tính thiện hay ác liền hiện ra. Nếu nhân nơi tâm an tĩnh mà phát các thiền định, vị thầy phải xem pháp thiền nào phù hợp với căn cơ của họ để dạy họ tu tập. Nếu thấy pháp môn đó, người học tu tập mà không khai phát thiền định, thậm chí còn sinh khởi các phiền não tham, sân, si v.v… Lúc này vị thầy xem xét người học tùy theo thứ độc nào nhiều, khéo dạy họ pháp tu đối trị để phá trừ, sau khi phá trừ các bệnh chướng ngại, thiền định liền khai phát.

Hiện nay trước tiên là thuyết minh về phương pháp tu Chỉ, chính là ý của hai vị thầy trao dạy pháp tu. Nếu nói khác ở đây, thì căn duyên thiện ác của người học rất khó phân biệt, nếu không biết rõ căn cơ của họ, trao sai pháp tu, nhất định có lỗi không hợp căn cơ.

*1. THUYẾT MINH CHỈ MÔN

Chia làm bốn phần:

I- Phân biệt Chỉ môn bất đồng

II- Đại ý lập pháp tu Chỉ

III- Phương pháp tu Chỉ

IV- Tướng chứng pháp Chỉ

I- PHÂN BIỆT CHỈ MÔN BẤT ĐỒNG

Có hai ý:

1. Luận thực hành

2. Luận ý nghĩa

1. Luận thực hành

Có rất nhiều phương pháp, nay chỉ nêu ra ba pháp:

a) Hệ duyên chỉ

b) Chế tâm chỉ

c) Thể chân chỉ

Sở dĩ gọi chung là Chỉ, cũng gọi Chế chỉ, tức là kềm chế dừng dứt. Kềm hãm không cho tâm dong ruỗi, nên gọi là Chế. Chuyên chú tâm nơi một việc, dứt các loạn tưởng, gọi là Chỉ.

a) Hệ duyên Chỉ: buộc tâm nơi chóp mũi, hay giữa rốn v.v… không cho tâm chạy rong,

b) Chế tâm Chỉ: nếu tâm khởi giác quán (vọng tưởng), liền chế ngự không cho dấy khởi.

c) Thể chân Chỉ: thể ngộ các pháp là Không, dứt các vọng tưởng, lo nghĩ.

2. Luận ý nghĩa

Cũng có rất nhiều thứ, nay dẫn ra ba ý:

a) Tùy duyên Chỉ b) Nhập định Chỉ c) Chân tính Chỉ

a) Tùy duyên Chỉ: khi tùy theo tâm khởi, nhất định có Tam-ma-đề (định). Nên trong Kinh Niết Bàn nói: “Định trong Thập đại địa (tâm sở), gọi là định bậc hạ”.

b) Nhập định Chỉ: khi chứng thiền định, do pháp định trì giữ tâm nên tâm được dừng trụ.

c) Chân tính Chỉ: lý của tâm tính, thường tự chẳng động, nên gọi là Chỉ. Kinh Tư Ích nói: “Tất cả chúng sinh, tức là Diệt tận định”.

Nay dùng ba ý nghĩa này, để nói ba pháp tu Chỉ trên:

– Tùy theo nhân duyên tự tính mà được thiền định, nên nói Hệ duyên chỉ.

– Tùy theo quả báo mà có pháp thiền định, nên nói Chế tâm chỉ.

– Do đầy đủ tính bất động, nên nói Thể chân chỉ.

II- ĐẠI Ý LẬP PHÁP TU CHỈ

Có bốn phần:

1. Phân biệt tướng sâu cạn chẳng đồng của ba pháp tu Chỉ

2. Giải thích đối trị tướng phá của ba pháp tu Chỉ

3. Tùy tâm tham muốn

4. Tùy căn cơ thích hợp

1. Phân biệt tướng sâu cạn chẳng đồng của ba pháp tu Chỉ

Nhân nơi thô nhập vào tế, thì ý nghĩa có sâu cạn. Hệ duyên Chỉ và Chế tâm Chỉ là tu trên sự tướng nên thuộc về tướng thô cạn. Thể chân Chỉ rất vi tế nên thuộc về sâu kín, vi tế.

2. Giải thích đối trị tướng phá của ba pháp tu Chỉ

Có hai thứ:

a) Dùng sâu phá cạn

b) Hồi hỗ tướng phá

a) Dùng sâu phá cạn

Phá trừ tâm tán loạn chạy theo duyên ngoài, nên thành lập Hệ duyên Chỉ.

Chế tâm Chỉ dùng để phá trừ Hệ duyên Chỉ, vì tâm chẳng thuộc về sắc pháp thì làm sao đem tâm buộc trên chóp mũi hay dưới rốn? Do đó muốn tâm vắng lặng, cần phải dứt các duyên chạy theo ngoại cảnh, kềm chế tâm an định một chỗ. Thể chân Chỉ là dùng để phá trừ Chế tâm Chỉ, vì tâm không hình tướng, tự tính không thể được, thì làm sao kềm chế? Do hiểu tâm chẳng phải tâm, nên không khởi vọng niệm, dừng trụ mà không chỗ dừng trụ, nên gọi là Chỉ. Nếu có chỗ dừng trụ, là do nương nơi vọng tưởng phát sinh, nên không gọi là Chỉ. Trên đây là dùng sâu để phá cạn, trở về nguồn gốc, nên lập ra ba pháp tu Chỉ này.

b) Hồi hỗ tướng phá

Trong lúc tu Chỉ, nếu có một niệm tri kiến phát sinh, liền dùng một pháp tu Chỉ để đối trị phá trừ, chỉ cần suy xét kỹ sẽ hiểu.

3. Tùy tâm tham muốn

Có người thích an tâm nơi các cảnh giới, có người thích tu pháp Chế tâm Chỉ, hay Thể chân Chỉ. Nên vị thầy tùy theo sở thích của họ để dạy, thì người học hoan hỷ thực hành. Nếu trái sở thích của họ thì tâm họ không vui vẻ thực hành.

4. Tùy căn cơ thích hợp

Trường hợp này không nhất định phải dạy theo sở thích của người học, như người thích tu pháp Chế tâm Chỉ, mà không muốn nhập định, nếu tạm thời buộc tâm trụ nơi cảnh, liền phát các thiền định, cho nên phải tùy theo phương tiện thích nghi mà trao dạy pháp tu.

III- PHƯƠNG PHÁP TU CHỈ

Có ba ý:

1. Tu Hệ duyên Chỉ

2. Tu Chế tâm Chỉ

3. Tu Thể chân Chỉ

1. Tu Hệ duyên Chỉ

Đem tâm dừng trụ nơi năm địa điểm: Trên đỉnh đầu, giữa chặng mày, chóp mũi, dưới rốn và dưới chân.

HỎI: Toàn thân đều có thể trụ tâm, vì sao chỉ nói năm chỗ?

ĐÁP: Năm địa điểm này làm phương tiện dụng tâm dễ an định hơn chỗ khác, như hai bên sườn đều nghiên lệch nên không nói. Như đầu tròn đối với trời, chân vuông là đối với đất, rún là hơi khí của biển, mũi là cửa của gió, trán là chỗ để tu quán xương trắng.

Nay trụ tâm trên đỉnh đầu để đối trị tâm hôn trầm, ngủ nhiều. Nếu trụ lâu ở đây thì có cảm giác bồng bềnh như bệnh phong, hoặc tương tự như được thần thông muốn bay lên, do hay phát sinh những bệnh này nên không được áp dụng thường.

Nếu đem tâm trụ trên mé tóc, chỗ này tóc đen, thịt trắng, tâm dễ an trụ. Hoặc quán xương trắng lâu ngày thì bệnh phát sinh, ví như mắt cứ nhìn lên hoặc có thể thấy các màu sắc xanh, vàng, đỏ v.v… hình tướng như hoa đốm, như mây, khiến tâm sinh vọng lự điên đảo.

Nếu buộc tâm trụ nơi chóp mũi, do mũi là cửa ra vào của hơi thở, hành giả quán sát liên tục không dừng, thì dễ dàng ngộ được lý vô thường. Cũng dùng để tu pháp Sổ tức, nếu tâm an định có thể khai phát thiền định.

Nếu trụ tâm phía dưới rốn là huyệt Khí hải, cũng gọi là Trung cung, trụ tâm nơi đó có thể trừ các chứng bệnh, hoặc quán thấy 36 vật trong nội tạng, từ đó có thể khai phát các thiền định như: Thập lục đặc thắng v.v…

Nếu trụ tâm dưới chân, đây là chỗ thấp nhất, hơi theo tâm xuống dưới, Tứ đại được điều hòa. Những người tu tập pháp quán bất tịnh, phần nhiều quán từ dưới lên, do pháp trụ tâm này, có thể khai phát pháp môn quán bất tịnh của đời trước.

Dùng năm địa điểm này làm duyên an trụ tâm, khiến tâm không tán loạn, để luận về pháp tu Hệ duyên Chỉ, là ý tại ở đây. Ví như khỉ vượn leo cây, nhảy nhót lăng xăng, nếu xích nó lại một chỗ, lâu dần nó tự yên, pháp điều hòa tâm cũng như thế. Nếu tâm dừng trụ, trước khi nhập định, lại có tâm vắng lặng dừng trụ này, gọi là Ngưng tâm Chỉ. Nếu khi được nhập định, thân tâm tự nhiên rỗng rang vắng lặng, gọi là Nhập định Chỉ.

2. Tu Chế tâm Chỉ

Tâm vốn không có hình sắc, cũng không có chỗ cố định, làm sao trụ tâm nơi cảnh? Chẳng qua chỉ chế phục vọng tưởng duyên lự mà thôi. Nếu tâm đã yên lặng dừng trụ thì không cần kềm chế, chỉ dứt tâm vọng tưởng tán loạn, tức là tu Chỉ.

HỎI: Tâm chẳng phải trên, chẳng phải dưới, hoặc có khi Khoan, Cấp, Phù, Trầm, vậy phương pháp điều hòa cho thích hợp như thế nào?

ĐÁP: Tâm tuy chẳng phải là trên hay dưới, vì đối trị các bệnh phù, trầm, cho nên phải đưa tâm an trụ lên trên hay ở dưới, đối với việc tu hành không có lỗi. Nếu tâm phù động, có thể tác ý an tâm trụ xuống dưới. Nếu tâm hôn trầm có thể đưa tâm an trụ lên trên.

Lại nữa, nếu đem tâm an trụ xuống dưới, có rất nhiều lợi ích, nay chỉ nói sơ lược hai thứ:

Tâm dễ được định. Các bệnh không sinh.

3. Tu Thể chân Chỉ

Dùng trí tuệ quán chiếu, thể ngộ tất cả các pháp nhân quả trong Tam giới, như Thập nhị nhân duyên, Cửu thập bát sử(3) Tam độc, Ấm, Giới, Nhập

v.v… tất cả đều là Không, là tịch lặng. Như trong Kinh Đại Phẩm ghi: “Tức sắc là không, chẳng phải sắc diệt hết mới gọi là không, tự tính của sắc vốn là không. Không tức là sắc, sắc tức là không, lìa sắc thì chẳng có không, lìa không thì chẳng có sắc. Tất cả các pháp: Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng lại như thế”.

Vì cớ sao? Vì hiện nay thấy các pháp: Ấm, Giới, Nhập v.v… tự tính chẳng có, thì làm sao có thể sinh các thứ điên đảo nhân ngã, chúng sinh, thọ mạng v.v…

Làm sao biết các pháp là Không? Như quá khứ khởi tạo các hạnh nghiệp phiền não làm nhân, hiện tại nương nơi thân phần của cha mẹ làm duyên, do nhân duyên hợp thì có quả báo, đã có quả báo thì có các pháp ấm, giới, nhập v.v… nghiệp này là pháp gì mà có thể làm quả báo, tạo nhân ấm, giới, nhập? Nếu nói tâm thiện của quá khứ chính là nghiệp, nhưng tâm quá khứ tạo việc thiện và tâm số pháp đều đã diệt hết, làm sao có thể tạo nhân ấm, giới, nhập v.v… và quả báo hiện tại?

Nếu nói tâm chẳng phải là nghiệp, nhân khi khởi tạo nghiệp, nghiệp tùy theo tâm đến; tâm chuyển diệt nên nghiệp cũng phải theo tâm mà chuyển diệt; nếu nghiệp chuyển diệt, thì đâu thể cảm được quả báo đời này và các pháp ấm, giới, nhập v.v… Nếu nghiệp chuyển diệt, nên biết rằng nghiệp không thể đến. Vì sao nghiệp không đến? Nếu nghiệp không đến mà người thọ quả báo, báo này không thể gọi là quả báo. Vì sao? Vì không tạo nghiệp thì có chỗ nào đền trả quả báo.

Nếu nói tâm quá khứ tuy đã diệt hết rồi, mà tâm kế tiếp tục sinh khởi, cho nên nghiệp tiếp tục theo tâm mà đến, như nói nghiệp quá khứ tuy diệt hết, nghiệp kế lại tiếp tục sinh khởi, nên đến được nhân hiện tại, nói như thế thật là sai lầm lớn. Vì sao? Vì có khi tâm thiện của quá khứ diệt hết mà tâm ác tiếp tục sinh, nay cũng nghiệp thiện của quá khứ diệt mà nghiệp ác tiếp tục sinh, như thế phải cảm quả báo ác, nhưng vì sao lại cảm quả báo thiện được? Nếu nói nghiệp đến mà không theo tâm, thì nghiệp này phải tự có sẵn quả báo, lìa tâm mà thọ quả báo, thật ra ở đây chẳng phải thế.

Lại nữa, nếu nghiệp có hình tướng, nghiệp đó thuộc về pháp hữu vi. Nếu là pháp hữu vi, nhất định phải theo ba tướng: sinh, trụ, diệt; nếu rơi vào ba tướng tức là thuộc tướng sinh diệt; nếu đã sinh diệt thì nghiệp không đến hiện tại; quá khứ đã diệt, nên biết nghiệp cũ cũng diệt, vậy ai cảm quả báo này? Không thể nói là bắt đầu phát sinh nghiệp mới có thể cảm quả báo đời này, nếu nói nghiệp có hình tướng, nghĩa này không đúng. Nếu nói nghiệp không có hình tướng mà có thể cảm quả báo, đây cũng không đúng. Vì sao? Vì pháp không hình tướng, tức là pháp vô vi, mà vô vi tức là không có nghiệp, làm sao cảm được quả báo?

Lại nữa, pháp không hình tướng, chính là nghĩa Không. Không thì chẳng sinh diệt, đâu thể gọi là nghiệp? Nếu nói Không là chẳng có hình tướng có thể cảm quả báo, thì 3 Pháp vô vi(4) cũng phải cảm được quả báo, đã không phải như thế, làm sao nói nghiệp là vô tướng mà có thể sinh quả báo? Do những nhân duyên trên đây, thì nghiệp vốn không thể được, nên biết không có nghiệp này. Nếu nghiệp không thể được, vì sao lại nói tất cả các pháp ấm, giới, nhập đều do nghiệp ở trong phát sinh? Cũng không phải do từ duyên ngoài phát sinh, nếu từ duyên ở ngoài phát sinh quả báo, thì khi các âm dương kết hợp, đều phải có quả báo và các pháp ấm, giới, nhập v.v… như vậy thì chẳng cần đợi nghiệp giữ thần thức đến mới có sinh. Nên biết phát sinh quả báo, chẳng phải do duyên bên ngoài.

Nếu bảo rằng do nhân duyên hòa hợp, nên có sinh quả báo và các pháp ấm, giới, nhập v.v… Nếu trong nhân và duyên mỗi thứ đều có thể sinh, khi hợp lại phải có hai cái sinh ra. Nếu mỗi cái không sinh, khi hợp làm sao mà có sinh? Nếu nói lìa nhân và ngoại duyên mà có sinh, việc này không đúng.

Từ nhân duyên mà có sinh, còn không thể được, huống gì không nhân duyên mà có sinh sao? Nếu không nhân duyên mà có sinh, thì nghĩa lý nhân quả bị hoại vậy, như vậy người làm việc thiện ở thế gian, phải chịu quả báo ác, người làm việc ác được quả báo thiện. Cũng chẳng cần tu đạo làm gì, đây chính là phá đạo lý nhân quả thiện ác thế gian, gọi là đại tà kiến vậy.

Nên biết các pháp ấm, giới, nhập, chẳng phải từ nhân ở trong mà có, chẳng phải do duyên ngoài mà có, cũng không do nhân duyên hòa hợp mà có, cũng chẳng phải do không nhân duyên hòa hợp mà có.

Nếu chẳng Có tức là Không. Nếu trong chỗ Không mà chấp thật Có, đây là vô minh điên đảo, vọng chấp là có. Nếu biết các pháp chấp sai lầm ấy đều là hư dối, giống như mộng huyễn, chỉ có danh tự suông. Những pháp danh tự cũng không thể được, thì ngôn ngữ đều dứt bặt, tâm hành cũng diệt hết. Rốt ráo rỗng không và vắng lặng, giống như hư không.

Nếu hành giả thể ngộ được các pháp rỗng rang như hư không, không chấp cũng không xả, không nương gá, bám chấp, nếu tâm không thủ, không xả, không trụ, không chấp, thì những vọng tưởng điên đảo, nghiệp quả sinh tử thảy đều dừng dứt. Vô vi, vô dục, vô niệm, vô hành, chẳng tạo tác, không cạnh tranh, thị phi, rỗng rang thanh tịnh. Như cảnh giới Đại Niết-bàn, đây gọi là Chân chỉ.

Đây là dừng mà không chỗ dừng trụ, không dừng trụ mà dứt bặt, đây gọi là Thể chân chỉ. Như bài kệ trong kinh

Trong tất cả các pháp

Nhân duyên sinh không chủ,

Dứt niệm đạt nguồn tâm.

Nên hiệu là Sa-môn.

IV- TƯỚNG CHỨNG PHÁP CHỈ

Có hai kiến giải chẳng đồng

Có thầy cho rằng: Tu Chỉ không chứng gì khác, chỉ là tiền phương tiện của các thiền; nếu có sở chứng, cũng thuộc về các thiền khác. Ý nghĩa này đến chương “Giải thích thiện căn khai phát”, sẽ nói việc này.

Có thầy nói: Pháp tu Chỉ chẳng những có thể khai phát các thiền định, mà có khả năng chứng được Ngũ Luân thiền. Vì sao? Vì các pháp môn khác đều có pháp tu tập riêng để an tâm, về sau mới thứ tự khai phát các thiền định chẳng đồng.

Hiện nay giải thích pháp tu Chỉ này, tức là cần kiềm chế tâm một chỗ, thì Ngũ luân thiền tự nhiên khai phát. Ví như nước trong lặng không có sóng, thì muôn cảnh tượng đều hiện rõ, tu Chỉ cũng như thế.

Nay giải thích do tu Chỉ, chứng Ngũ luân thiền. Ngũ luân gồm có: Địa luân, Thủy luân, Phong luân, Kim sa luân, Kim cang luân. Năm pháp môn này, đều dùng thí dụ để đặt tên, gọi chung là luân. Luân nghĩa là vận chuyển vậy. Như bánh xe nếu chuyển động, từ chỗ này đến chỗ kia, trong thiền định giải thích chữ Luân cũng như thế.

Tầng định của Địa luân, nghĩa là do lìa tâm tán loạn, tu từ bậc thấp lên đến cảnh giới cao hơn, nên gọi là Luân. Cho đến ý nghĩa của định Kim cương luân cũng như thế, đây là từ cảnh giới thấp chuyển đến quả vị vô học cùng tột vậy.

1. Địa luân

Địa (đất) có hai nghĩa: Trụ trì bất động và sản sinh muôn vật.

Hành giả do tu Chỉ mà chứng định Vị đáo địa, tự nhiên nội tâm lắng lặng, tự biết thân tâm như tướng hư không, lặng lẽ nhập định. Do sức thiền định trì giữ tâm không dao động, nên gọi là Trụ trì. Nhân nơi định Vị đáo địa mà phát sinh các thứ công đức của Sơ thiền, ví như đất sinh ra muôn vật vậy.

2. Thủy luân

Thủy (nước) có hai nghĩa: Tưới tẩm muôn vật được sinh trưởng và thể tính nhu nhuyến, mềm mại.

Hành giả trụ trong định Địa luân, nếu chứng Thủy luân tam-muội, thì những công đức của các thiền định phát. Do nước thiền định tưới tẩm cho ruộng tâm, hành giả tự biết thiện căn trong nội tâm tăng trưởng, chính là ý nghĩa tưới ướt của nước vậy.

Do được thiền định, nên thân tâm hành giả dịu dàng, hàng phục chặt đứt tâm ngã mạn, tùy thuận theo pháp lành, đây là ý nghĩa nhu nhuyến, thấm ướt, nên gọi là Thủy luân.

3. Phong luân

Phong (gió) có ba nghĩa: Dạo trong hư không vô ngại, có thể phá hoại và đánh động muôn vật.

Khi hành giả khai phát Phong luân tam-muội cũng như thế. Hoặc nhân nơi thiền định phát Trí tuệ phương tiện vô ngại, ví như gió bay trong hư không, thảy đều vô ngại.

Đánh động: Nghĩa là hành giả dùng phương tiện, có thể kích phát những thứ công đức thiện căn xuất thế gian, được tăng trưởng.

Phá hoại: Nghĩa là trí tuệ phương tiện có khả năng phá trừ các tri kiến, phiền não.

Nếu hàng Nhị thừa chứng được Phong luân tam-muội này, tức là 5 phương tiện Tương tự vô lậu.(5) Nếu hàng Bồ-tát chứng pháp này, tức là nhập Thiết luân thập tín, gọi là Phong luân.

4. Kim sa luân

“Kim” nghĩa là vàng, dụ cho trí chân thật, “Sa” nghĩa là cát, dụ cho tâm không bám chấp.

Nếu hành giả khai trí tuệ thấy biết chân thật, không nhiễm không chấp, chứng được Tam quả (quả dự lưu, quả bất lai, quả bất hoàn). Nếu hàng Bồ-tát chứng Tam-muội này, tức là nhập vào địa vị Tam hiền(6) Thập địa(7) có khả năng phá trừ Trần sa phiền não(8). Đây gọi là Kim sa luân.

5. Kim cương luân

Tức là tầng thiền thứ chín (Cửu Vô ngại đạo) (9) gọi là Kim cương tam-muội. Ví dụ như thể chất cứng chắc của Kim cương, tác dụng rất sắc bén, có khả năng hủy hoại các vật. Sức định của Kim cương luân cũng như thế, không bị những phiền não hư vọng xâm phạm, có công năng diệt trừ các kiết sử phiền não, thành tựu quả A-la-hán. Nếu định này thuộc về tâm của Bồ-tát, tức là Kim cương bát-nhã, có khả năng phá trừ vô minh vi tế, chứng Nhất thiết chủng trí, định Kim cương này, cũng còn gọi là Thanh tịnh thiền. Bồ-tát nương nơi định này, nên chứng được quả đại Bồ-đề.

Ý nghĩa chữ Luân, ví dụ như bánh xe, nếu không có trâu kéo, bánh xe không thể tự lăn, thiền định của Ngũ luân cũng như thế. Tuy nơi mỗi tầng thiền đều có công đức vi diệu, nếu không dùng pháp tu Thể Chân Chỉ để dẫn đường và huân tu tâm buông xả, thì mỗi tầng thiền đều có chướng ngại, trái với ý nghĩa chữ Luân. Nếu hành giả khéo tu tập pháp vô chấp của Thể Chân Chỉ, có thể tu từ sơ tâm cho đến chứng quả Niết-bàn thì dùng chữ Luân mới đúng ý nghĩa.

Trong Kinh Pháp Hoa có nói: “Chúng sinh mỗi chỗ đều dính mắc, nên cần dẫn dắt họ được giải thoát”. Nên biết hành giả khéo tu pháp Chỉ, thì có đầy đủ năm thứ thiền định, chứng được quả Thánh của tam thừa.

*

Chú thích:

(1) Xá Lợi Phất: Trí Tuệ đệ nhất là 1 trong 10 Đại đệ tử Phật

(2) Tha tâm trí (Tha tâm thông): năng lực biết được tướng sai biệt trong tâm người khác, là 1 trong 10 trí, cũng là 1 trong Lục thông.

(3) Cửu thập bát sử (Cửu thập bát tùy miên): tức là 98 loại tùy miên, Kiến hoặc có (88 tùy miên) và Tư hoặc có (10 tùy miên) trong 3 cõi do Tông Câu Xá lập. Tùy miên là tên gọi khác của phiền não. Vì phiền não thường theo đuổi người nên gọi là tùy, thể trạng của nó vi tế sâu kín khó biết như bệnh ngủ nên gọi là Miên. Sở dĩ có 98 loại này là do phối hợp 10 tùy miên: [tham, sân, si, mạn, nghi, thân, biên, tà, thủ, giới cộng với 5 bộ (Kiến đạo khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế và tu đạo) trong 3 cõi] Cõi dục, “kiến khổ sở đoạn” có 10 thứ; “kiến tập sở đoạn” có 7 thứ; “kiến diệt sở đoạn” có 7 thứ; “kiến đạo sở đoạn” có 8 thứ và 4 thứ “Tu hoặc sở đoạn”, cộng chung là 36 thứ. Ngoài ra cõi Sắc và Vô sắc trong 5 bộ, mỗi cõi có 31 thứ hợp lại là 98 thứ.

(4) Ba pháp vô vi (Tam vô vi): ba pháp vô vi y cứ theo sự phân loại của thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ.

1/ Hư không vô vi: hư không tức vô ngại. Nghĩa là lý chân không không bị phiền não làm chướng ngại, tức là lấy vô ngại làm tính, dung chứa vạn vật và trùm khắp mọi nơi.

2/ Trạch diệt vô vi: hàng Thanh văn dùng trí phân tích xa lìa sự trói buộc của Kiến, Tư hoặc, chứng lý tịch diệt chân không.

3/ Phi trạch diệt vô vi: hàng Thanh văn sau khi chứng quả, các “Hoặc” không còn khởi nữa, tự nhiên khế ngộ lý tịch diệt chân không, không nhờ trạch diệt.

(5) Tương tự Vô lậu: Tỳ Bà Sa 5 có nói Thế đệ nhất pháp tương tự với Kiến đạo vô lậu, vì Thế đệ nhất pháp là chán ghét hữu lậu, thú hướng vô lậu, gần với Kiến đạo, nên gọi là Tương tự vô lậu.

(6) Tam hiền: 3 giai vị tu hành các thiện căn để hàng phục các phiền não, khiến tâm được điều hòa. Tam hiền có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau.

a) Tiểu thừa tam hiền vị: giai vị tu các thiện căn Hữu lậu, có 3 giai vị:

1/ Ngũ đình tâm quán: quán tâm để dứt năm món: tham, sân v.v…

2/ Biệt tướng niệm trụ: quán tự tướng: thân thọ tâm; cộng tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã.

3/ Tổng tướng niệm trụ vị: giai vị quán chung các cộng tướng. Ba giai vị tu hành chuẩn bị nhập Kiến đạo.

b) Đại thừa Tam hiền vị: giai vị tu hành của hàng Bồ-tát, có 3 lớp:

1/ Thập trụ: tâm hội được lý, an trụ bất động gọi là Trụ.

2/ Thập hạnh: thực hành 10 hạnh này thì sẽ được tiến tới quả vị nên gọi là hạnh.

3/ Thập hồi hướng: hồi nhân hướng quả gọi là hồi hướng, có 10 thứ.

(7) Thập địa: mười giai vị trong quá trình tu hành của đệ tử Phật. Địa nghĩa là trụ xứ, trụ trì, sinh thành. Tức là an trụ nơi giai vị ấy và lấy đó làm nhà, đồng thời giữ gìn pháp, trưởng dưỡng pháp, khiến cho sinh quả. Danh từ Thập địa mà các kinh luận nêu gồm có 4 loại:

1/ Tam Thừa Cộng Thập Địa hoặc là Cộng Thập Địa, hay Cộng Địa, Tông Thiên Thai gọi là Thông Giáo Thập Địa: tức là 10 địa chung cho cả 3 thừa được ghi trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã.

2/ Mười giai vị Bồ-tát được nói trong Kinh Hoa Nghiêm 23 (cựu dịch) 34 (bản tân dịch).

3/ Mười giai vị tu hành của hàng Thanh văn.

4/ Bích chi Phật thập địa, Duyên giác thập địa, Chi Phật thập địa, Độc giác thập địa, tức là 10 giai vị tu hành của Bích chi Phật.

(8) Trần sa phiền não (Trần sa hoặc): “Trần sa”: cát bụi, dụ cho số lượng rất nhiều. “Hoặc” là phiền não, hoặc này có mặt khắp trong ngoài 3 cõi, muốn phá trừ phải dùng “giả quán” trong 3 quán. Vì hoặc này nhiều vô số nên ví dụ như cát sông Hằng.

(9) Cửu Vô ngại đạo (Cửu vô gián đạo): 9 loại Vô lậu ở giai vị đang đoạn phiền não. Gián nghĩa là ngăn ngại, gián cách, tức là khi hành giả quán lý chân trí chẳng bị hoặc lậu làm chướng ngại. Tuy phiền não vẫn còn, nhưng niệm sau chứng được lý trạch diệt nên giữa phiền não và trạch diệt không có khoảng cách, gọi là vô gián. Từ quả vị này mà tu tập đạt đến Niết-bàn, gọi là Đạo. Ba cõi chia làm 9 địa, mỗi địa đều có Tư hoặc, Kiến hoặc. Tư hoặc của 1 địa lại chia làm 9 phẩm đoạn hoặc. Mỗi lần đoạn 1 phẩm hoặc đều có Vô gián đạo và Giải thoát đạo, giai vị đoạn phiền não này gọi là Vô gián đạo, còn trí tuệ đạt được sau khi đoạn hoặc gọi là Giải thoát đạo. Tu hoặc ở mỗi địa có 9 phẩm, cho nên đạo (phương pháp) đối trị cũng có 9 bậc, gọi là Cửu vô gián đạo, hay Cửu giải thoát đạo. Ngoài ra, bậc thánh vô học trong lúc tu luyện căn, chuyển chủng tính cũng có Cửu vô gián đạo hay Cửu giải thoát đạo.

*

*2. NGHIỆM CĂN TÍNH THIỆN ÁC

Hành giả đã khéo léo tu Chỉ, dừng dứt các loạn tưởng, thì nội tâm ngưng lặng. Do tâm ngưng lặng, nên những thiện căn từ đời trước tự nhiên khai phát. Nếu không có thiện căn thì sẽ phát những căn tính xấu ác, nên trong kinh có nói: “Trước tiên dùng thiền định dừng tâm động, sau mới dùng trí tuệ chặt đứt”. Tu pháp Chỉ là cửa ban đầu, trong hai thứ thiện và ác này, nhất định có một thứ phát ra.

Hành giả cần biết rõ tướng trạng của nó để thủ hay xả, mà không trái với chánh đạo, cho nên phải phân tích. Nay trong căn tính thiện ác chia làm hai phần để giải thích:

A. Thể nghiệm căn tính Thiện

B. Thể nghiệm căn tính Ác

Nhưng luận về phát sinh căn tính thiện ác thì có trước sau, mỗi loại tùy theo mỗi người chứ không nhất định phải thiện trước ác sau vậy.

A. THỂ NGHIỆM CĂN TÍNH THIỆN

Chia làm bốn phần:

I- Pháp thiện

II- Thiện căn phát tướng

III- Nghiệm biết thiền thật giả

IV- Tổng kết phát thiền bất định

I- PHÁP THIỆN

Có hai thứ:

1. Ngoại thiện

2. Nội thiện

1. Ngoại thiện

Có rất nhiều thứ, nay nói sơ lược có năm thứ: Bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ và sư trưởng, kính tin Tam bảo, siêng năng cúng dường, đọc tụng nghe pháp. Năm thứ thiện căn này, thuộc về phần ngoài, nên tướng phát thiện căn chẳng đồng. Sở dĩ đều thuộc thiện căn ở ngoài, là do nguồn gốc hành vi tạo tác và tu tập trong khi tâm còn loạn động, chưa thể ra khỏi Dục giới, khai phát thiền định vô lậu, nên gọi là Ngoại thiện.

2. Nội thiện

Tức là năm pháp môn thiền: A-na-ban-na (Sổ tức), Quán bất tịnh, Quán tâm từ, Quán nhân duyên, Niệm Phật tam-muội. Năm pháp môn này, thâu nhiếp tất cả các môn thiền định, khai phát thiền vô lậu, nên gọi là Nội thiện.

HỎI: Nội thiện có vô luợng, vì sao chỉ nói năm môn?

ĐÁP: Năm môn tuy ít, mà bao hàm các môn thiền.

Vì sao?

1. Quán sổ tức: Có khả năng thông đạt các thiền định như: Tứ thiền, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền v.v…

2. Quán bất tịnh: Có khả năng thông đạt các thiền tam-muội như: Cửu tưởng, Bát bối xả, Siêu việt tam-muội v.v…

3. Quán từ bi: Có khả năng thông đạt các thiền tam-muội như: Tứ vô lượng tâm, v.v…

4. Quán nhân duyên: Có khả năng thông đạt các thiền tam-muội như: Thập nhị nhân duyên, Tứ đế v.v…

5. Niệm Phật: Có khả năng thông đạt đến Cửu chủng thiền và 108 tam-muội(1).

Đồng thời pháp quán hơi thở, cũng chính là pháp tu thiền định của phàm phu thế gian. Quán bất tịnh tức là thiền xuất thế gian của hàng Thanh văn hành. Quán tâm từ, dù hàng phàm phu hay Thánh nhân cũng đều tu, vì pháp quán này phước đức rất lớn, cho nên tu quán tâm từ để thâm nhập Tứ vô lượng tâm. Kế là quán nhân duyên tức là pháp hành của Bích chi Phật, niệm Phật tam-muội tức là pháp hành của hàng Bồ-tát vì có công đức rộng lớn.

Trên đây đã giải thích thứ tự tướng trạng sâu cạn của năm môn thiền. Năm môn thiền này đối trị bốn phần phiền não, bốn phần phiền não phát sinh (84000) tám vạn bốn ngàn trần lao, thì năm môn thiền này có thể phát sinh (84000) tám vạn bốn ngàn phương pháp để dùng đối trị.

Nói tóm lại, chỉ nêu ra năm môn thiền này đã bao hàm đầy đủ tất cả thiện ở trong. Theo thuyết của Tát-bà-đa bộ, giải thích môn Ngũ đình tâm quán(2) của bậc Sơ hiền, so với năm pháp môn thiền này cũng có chỗ tương quan.

II- THIỆN CĂN PHÁT TƯỚNG

Có hai phần:

1. Ngoại thiện căn phát

2. Nội thiện căn phát

1. Ngoại thiện căn phát

Vì thiện ở bên ngoài có rất nhiều tướng trạng, nay y theo các môn ở chương trước chia ra năm thứ:

– Trong khi hành giả ngồi tĩnh tọa, bỗng nhiên trong thiền định thấy xuất hiện các thứ y phục, ngọa cụ, thức ăn mỹ vị, ruộng vườn, ao hồ, xe ngựa v.v… hoặc do tâm hành giả vắng lặng, tự mình có thể xả bỏ tham lam, keo kiệt, tâm thực hành bố thí, không luyến tiếc. Nên biết đây là hai tướng thiện căn khai phát do quả báo tu tập bố thí từ quá khứ và đời này.

– Khi hành giả ngồi tĩnh tọa, bỗng nhiên trong thiền định thấy xuất hiện các thứ như thân tướng đoan nghiêm, thân khoác y phục thanh tịnh như pháp, tắm rửa sạch sẽ, nhận được những vật tốt đẹp v.v… Hoặc khi tâm hành giả vắng lặng nên phát sinh tâm trì giới, nhẫn nhục, tự biết rõ các giới khinh, giới trọng, cho đến những tội nhỏ cũng sinh lòng lo sợ và khiêm tốn nhẫn nhục. Nên biết đây là hai thứ thiện căn phát tướng do quả báo tu tập trì giới, nhẫn nhục của đời trước và đời này.

– Khi hành giả ngồi tĩnh tọa, trong định bỗng thấy cha mẹ, sư tăng, bà con quyến thuộc, mặc y phục trang nghiêm thanh tịnh, tinh thần hoan hỷ vui mừng; Hoặc trong khi tâm hành giả vắng lặng nên phát sinh lòng từ bi, nhân ái, thương kính huynh đệ. Nên biết đây là hai thứ thiện căn khai phát, do quả báo tu tập tâm tôn kính hiếu thuận của đời trước và đời này vậy.

– Khi hành giả ngồi tĩnh tọa, trong định bỗng thấy cúng dường trang nghiêm các chùa tháp, kinh sách, hình tượng, chư tăng vân tập nơi pháp hội v.v… Hoặc trong khi tâm hành giả vắng lặng, phát sinh tâm tin kính Tam bảo, ưa thích cúng dường, tinh tấn dũng mãnh không mệt mỏi. Nên biết đây chính là hai thứ thiện căn khai phát, do quả báo tu tập tâm tin kính Tam bảo, siêng năng tinh tấn cúng dường của đời trước và đời nay vậy.

– Khi hành giả ngồi tĩnh tọa, do tâm ngưng lặng, hoặc thấy giải thích Tam tạng kinh điển, hoặc thấy bốn chúng xuất gia và chúng tại gia có đức hạnh đang đọc tụng, nghe kinh điển Đại thừa v.v… Hoặc do tâm hành giả vắng lặng nên đọc tụng kinh điển Đại thừa tự nhiên thâm nhập, tùy theo chỗ thấy nghe mà liễu ngộ. Hoặc tự nhiên thấu hiểu nghĩa lý Tam tạng kinh điển Đại thừa phân tích không ngăn ngại. Nên biết đây là hai thứ thiện căn phát, do quả báo tu tập nghe pháp, đọc tụng kinh điển của đời trước và đời này vậy.

Hành giả thấy các hiện tượng tốt và phát những tâm thiện như thế, chẳng phải do thiền định, mà phần nhiều là nhân đời trước và đời này tu tập các công đức trong khi tâm còn loạn động. Nay do tâm vắng lặng mà phát ra những hiện tượng như thế.

Thấy các hiện tượng ấy, đều thuộc về Nhân và Quả báo của tâm thiện khai phát, cũng do Nhân tu tập tâm thiện mà phát sinh vậy. Những tướng như thế rất nhiều không thể nói hết, hiện nay chỉ nêu sơ lược đại ý mà thôi.

Lại nữa, nguyên nhân phát sinh quả báo và tu tập có hai hạng căn tính chẳng đồng. Có người chỉ phát sinh hiện tượng do Quả báo mà không phát Nhân tu tập tâm thiện. Có người chỉ khai phát do Nhân tu tập tâm thiện mà không phát sinh hiện tượng do Quả báo.

Có người tu tập phát sinh đầy đủ cả hai thứ, có người tu tập mà cả hai thứ đều không khai phát. Những nguyên nhân như thế rất khó hiểu, đâu được sai lầm.

HỎI: Thiện căn đã là tâm tán loạn thì làm sao xuất hiện trong tâm tĩnh lặng được?

ĐÁP: Trong thiền định còn thấy được những nghiệp ác phiền não của quá khứ và đời nay sinh khởi, huống chi lý thể trợ giúp cho thiện căn mà không thấy sao?

HỎI: Khi thấy các hiện tượng ấy, có thể do thiên ma làm chăng?

ĐÁP: Cũng có trường hợp do ma giả hiện, ma còn gọi là Sát. Nếu muốn phân biệt, thì khi các hiện tượng ấy phát sinh, có thể khiến tâm thức của hành giả động loạn, hoặc các phiền não càng tăng, tâm cảm thấy bức bách chướng ngại rất nhiều, không lợi ích cho định tâm, thì đều thuộc về ma giả tạo.

Khi khai phát những thiện căn ấy, hành giả tự nhận biết tướng này rồi, tuy chưa chứng được thiền định, mà thân tâm sáng suốt, các căn thanh tịnh, khí sắc tươi nhuần, thể lực dồi dào, nên làm việc gì cũng tốt lành và lợi ích, những niệm thiện khai phát; từ đây về sau, tâm hành giả tự giác dễ thâu nhiếp, thân tâm yên ổn, không có những lỗi lầm, tai họa, nên biết đây là tướng thiện căn khai phát.

Lại nữa, nếu những hiện tượng của thiện căn khai phát này, là tướng của Báo nhân thì chỉ tạm thời xuất hiện rồi hết; hiện tượng Tập nhân của tâm thiện, thì xuất hiện liên tục không đoạn dứt. Nếu tướng ma giả hiện, thì cảnh xuất hiện rất lâu không diệt hết, tuy hết rồi lại đến não loạn hành giả; còn tâm thiện thì tạm thời phát rồi lại diệt, nhưng có khi biến thành niệm ác, nên biết đó là tà vậy.

Những hiện tượng tà hay chánh rất khó phân biệt, nếu tự mình không gần gũi bậc minh sư, thì không thể vọng chấp.

HỎI: Những thiện căn này nhất định phải khai phát trước khi chứng thiền định, hay trong khi chứng các thiền định, hay khi nhập sâu thiền định?

ĐÁP: Việc này không nhất định là phải khai phát trước thiền định, do thiện ở ngoài thuộc về tướng thô, nên giải thích trước mà thôi.

2. Nội thiện căn phát

Hiện nay rút từ trong năm môn thiền để luận về thiện căn ở trong khai phát. Trong năm môn này mỗi môn chia làm ba, cộng chung cả năm môn thành mười lăm thứ thiện căn khai phát.

a) Giải thích pháp quán hơi thở

Có ba thứ thiện căn khai phát chẳng đồng:

a.1. Thiện căn của Sổ tức phát

a.2. Thiện căn của Tùy tức phát

a.3. Thiện căn của Quán hơi thở phát

a.1. Thiện căn của Sổ tức phát

Hành giả khéo tu ba pháp Chỉ (Hệ duyên Chỉ, Chế tâm Chỉ, Thể chân Chỉ) để thân tâm được đều hòa, nên khai phát các Định dục giới và Vị đáo địa v.v… thân tâm rỗng rang vắng lặng, tâm an ổn yên định. Sau khi trải qua thời gian từ một ngày đến một tuần, một tháng, một năm, thân tâm được điều hòa tốt, tâm an định không thối chuyển. Lúc này trong thiền định, bỗng có cảm giác chuyển động cả thân tâm, phát khởi tám thứ xúc (đau, ngứa, nóng, lạnh, trơn, rít v.v…), đây là hiện tượng thiện căn của Sơ thiền khai phát. Trong định này, phát sinh cảm giác tâm thiện an ổn, hỷ lạc không gì có thể diễn tả được.

Sau khi phát Sơ thiền, tiến đến Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Tứ không v.v…

a.2. Thiện căn của Tùy tức phát

Cũng ngay trong khi tâm an định tĩnh lặng của Định dục giới, Vị đáo địa, bỗng nhiên nhận biết hơi thở ra vào dài ngắn và khắp lỗ chân lông trên thân đều rỗng. Hành giả dùng tâm sáng suốt nhìn thấy ba mươi sáu vật trong thân, như mở nhà chứa đậu mè, lúa v.v… đều thấy rõ ràng. Tâm hành giả rất vui mừng, an ổn, vắng lặng, thư thái, thân không còn tạo các nghiệp thiện ác và có cảm giác hỷ, lạc v.v… đây là hiện tượng khai phát thiện căn của Thập lục đặc thắng.

a.3. Thiện căn của Quán hơi thở phát

Hành giả đang trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm vắng lặng vi tế, bỗng thấy hơi thở ra vào khắp các lỗ chân lông trên thân thể không chướng ngại, tâm hành giả từ từ sáng suốt nhạy bén, quán thấy xương cốt, thịt v.v… trong thân, giống như thấy những thứ lúa, đậu v.v… ở trong màng lưới mỏng, cũng nhìn thấy 84.000 loài vi trùng dài, ngắn, lớn nhỏ, trong thân thể và ngôn ngữ âm thanh của chúng rất rõ ràng. Lúc này tâm hành giả yên định an lạc, hoan hỷ gấp mấy lần cảm giác của thiền định ở trên.

Hoặc hành giả thấy thân thể của mình, như thân cây chuối, như bọt nước, như mây nổi, như bóng, như hình v.v… đây là hiện tượng khai phát thiện căn của Thông minh thiền.

b) Giải thích pháp quán bất tịnh

Gồm có ba thứ thiện căn khai phát chẳng đồng:

b.1. Thiện căn của Cửu tưởng phát

b.2. Thiện căn của Bát bối xả phát

b.3. Thiện căn của Quán bất tịnh phát

b.1. Thiện căn của Cửu tưởng phát

Hành giả trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm ngưng lặng, bỗng thấy xác chết sình trương của nam và nữ, lúc này tâm hành giả giác ngộ vô thường, thương xót thân mình từ lâu nay chịu mê lầm, nên nhàm chán tham ái ngũ dục và muốn vĩnh viễn đoạn dứt. Hoặc thấy xác chết tím bầm, máu mủ, rục rã, chim chóc rúc rỉa, xương trắng tan hoại, rã rời nằm ngổn ngang v.v… Đây là thiện căn của Cửu tưởng khai phát.

b.2. Thiện căn của Bát bối xả phát

Hành giả trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm tĩnh lặng, bỗng thấy những thứ bất tịnh trong thân thể của mình, trương sình nhơ nhớp, hoặc thấy xương trắng trong thân thể, từ đầu đến chân, từng đốt nối liền nhau, thành một đống xương phát sáng. Lúc này tâm hành giả an định, nhàm chán ngũ dục, không còn ái chấp thân mình và thân của người khác. Đây là tướng thiện căn của Bát bối xả khai phát.

b.3. Thiện căn của Quán bất tịnh phát

Hành giả trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, thấy trong thân và ngoài thân, những loài cầm thú bay nhảy, hoặc y phục, thức ăn uống, núi rừng cây cối v.v… thảy đều bất tịnh. Hoặc thấy nhà cửa xóm làng, cả nuớc, cho đến mười phương thế giới thảy đều bất tịnh. Hoặc thấy đống xương trắng, cho đến thấy xương trắng trong thân của chính mình phát sáng. Đây là tướng thiện căn của Quán bất tịnh khai phát.

Khi hành giả quán thấy những cảnh tượng này, có thể phá trừ tất cả tâm bám chấp, dính mắc.

c) Giải thích pháp quán tâm từ

Có ba thứ thiện căn khai phát chẳng đồng:

c.1. Thiện căn Chúng sinh duyên từ phát

c.2. Thiện căn Pháp duyên từ phát

c.3. Thiện căn Vô duyên từ phát

c.1. Thiện căn Chúng sinh duyên Từ phát

Hành giả trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm tĩnh lặng, bỗng nhiên khởi lòng thương nhớ chúng sinh. Trước tiên là thấy bà con quyến thuộc của mình được vui sướng, cho đến những người quen và kẻ oán, cũng đều được vui vẻ, an lạc. Do đó nội tâm được an định, khoái lạc. Tâm hành giả không còn sân hận, không oán không phiền não, lòng từ ái quảng đại vô lượng, trùm khắp cả mười phương. Đây là tướng thiện căn của Chúng sinh duyên Từ khai phát. Tướng khai phát thiện căn của Chúng sinh duyên Bi, cho đến Hỷ và Xả cũng như thế.

c.2. Thiện căn Pháp duyên Từ khai phát

Hành giả trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm an định, bỗng nhận biết tất cả các pháp năm ấm, mười hai nhập trong và ngoài thân thể sinh khởi, chỉ thấy các pháp sinh khởi, và các pháp diệt, không thấy chúng sinh và ngã, ngã sở, chỉ có năm ấm mà thôi, ở trong năm ấm có những cảm thọ khoái lạc. Hành giả nhận biết như thế rồi liền duyên theo cảm thọ khoái lạc này, nên định tâm từ phát sinh. Trong thiền định nội tâm hành giả không còn sân hận, tâm từ rộng lớn vô lượng, trùm khắp cả mười phương. Đây là Pháp duyên Từ.

Hoặc thiện căn của Pháp duyên Bi, cho đến, Hỷ, Xả, cũng khai phát giống như tướng thiện căn của Pháp duyên Từ vậy.

c.3. Tướng thiện căn Vô duyên từ khai phát

Hành giả cũng an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm tĩnh lặng, bỗng giác ngộ các pháp chẳng phải có, chẳng phải không, không thấy hai bên. Nghĩ rằng chúng sinh nhưng chẳng phải là chúng sinh, hoặc pháp chẳng phải là pháp, tất cả đều không, nên tâm không có chỗ phan duyên. Do không chỗ để tâm phan duyên nên các vọng tưởng điên đảo dừng dứt, nội tâm vắng lặng, an lạc cùng sức định của tâm Từ tương ưng. Quán tất cả chúng sinh đều được pháp an lạc này. Trong thiền định này tâm hành giả không sân hận, không oán, không phiền não, lòng từ rộng lớn vô lượng, trùm khắp cả mười phương thế giới. Đây là tướng thiện căn của tâm từ khai phát. Hoặc hành giả phát định Vô duyên Bi, cho đến Hỷ, Xả cũng như thế.

d) Giải thích pháp quán nhân duyên

Gồm có ba thứ thiện căn phát chẳng đồng:

d.1. Thiện căn của Tam thế thập nhị nhân duyên khai phát

d.2. Thiện căn của Quả báo thập nhị nhân duyên khai phát

d.3. Thiện căn của Nhất niệm thập nhị nhân duyên khai phát

d.1. Thiện căn của Tam thế thập nhị nhân duyên khai phát

Tâm hành giả cũng đang an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, bỗng tâm giác ngộ phát sinh, do quán sát suy xét nguyên nhân vô minh của quá khứ trong ba đời đến nay, nhưng không thấy vô minh của ta và người v.v… tuy chẳng thấy nhưng các pháp cũng không thường và không đoạn, do đó hành giả có thể phá trừ 62 thứ tà kiến(3). Nên nội tâm được chánh định, an ổn, vắng lặng, trí tuệ quán chiếu sáng suốt, thông đạt vô ngại, nghiệp thân và khẩu thanh tịnh, hạnh tu chân chánh được thành tựu. Đây là tướng thiện căn khai phát trí tuệ quán chiếu mười hai nhân duyên của cả ba đời.

d.2. Thiện căn của quả báo thập nhị nhân duyên khai phát

Tâm hành giả cũng đang an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, bỗng nhận biết tâm thức sáng suốt, nhạy bén, liền tự suy nghĩ, khi ta mới sinh ra, là do tinh huyết của cha mẹ hòa hợp mà có, tinh huyết hợp lại ấy gọi là Ca-la-la, cũng gọi là vô minh. Nhân duyên thì có hành, thức, cho đến lão tử v.v… gọi chung là Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên). Nếu trong thời gian mới thọ thai chỉ có vô minh, hành, thức, hòa hợp, khi ấy không có ta và không có người, thì vô minh, hành, thức cũng chẳng có thật, 12 nhân này y cứ vào chỗ nào? Nếu không thấy các pháp nhân duyên, nên chấp là Không, vậy là tà sao? Khi hành giả nghĩ như thế, liền phá chấp Có và Không, tâm quay về chánh đạo tương ứng với chánh định, khai phát Tuệ giải(4), xa lìa hạnh tà. Đây là tướng thiện căn khai phát trí tuệ quán chiếu quả báo của 12 nhân duyên. Trong Kinh Đại Tập có giải thích Thập nhị nhân duyên này rất rõ ràng. Tướng khai phát của 12 nhân duyên này đồng với Khổ, Tập trong Tứ đế và cũng có thể giải thích tướng thiện căn khai phát Tứ đế giống như Thập nhị nhân duyên vậy.

d.3. Thiện căn của Nhất niệm thập nhị nhân duyên khai phát

Hành giả cũng đang an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm tĩnh lặng, bỗng nhiên tự nhận biết từng sát-na trong tâm, không có nhân, không có ngã, tự tính vốn không thật, vì cớ sao? Vì khi một niệm đầu dấy khởi, nhất định phải nhờ nhân duyên. Nhân duyên chính là đầy đủ cả 12 nhân duyên, nhưng nhân duyên thì không có tự tính, nên một niệm đâu nhất định phải có thật? Nếu một niệm không có thật, thì phá trừ tính tà chấp thật có của thế gian.

Lúc này tâm hành giả cùng chánh định tương ưng, trí tuệ liền khai phát, giống như tia nuớc vọt ra không dừng; nghiệp thân và khẩu của hành giả được thanh tịnh, xa lìa các tà hạnh. Đây là tướng khai phát thiện căn của nhất niệm 12 nhân duyên. Trong Kinh Đại Tập cũng giải thích 12 nhân duyên này rất rõ ràng, cũng có thể giải thích tướng thiện căn khai phát, một niệm đầy đủ Tứ đế, cũng giống như 12 nhân duyên này vậy.

e) Giải thích pháp niệm Phật

Gồm có ba thứ thiện căn khai phát chẳng đồng:

e.1. Niệm ứng thân Phật

e.2. Niệm báo thân Phật

e.3. Niệm pháp thân Phật

Ba ý nghĩa niệm Phật, trong Kinh Lăng Già

phân tích rất rộng.

e.1. Niệm ứng thân Phật

Hành giả an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm vắng lặng, bỗng nhiên nhớ những công đức của Phật, nghĩ rằng: Như lai trong nhiều A-tăng-kỳ kiếp về trước, vì chúng sinh mà tu đầy đủ hạnh Ba-la-mật, do các công đức trí tuệ, nên có được thân tướng hảo quang minh và tâm có trí tuệ chiếu sáng, hàng phục ma oán, chứng được Vô sư trí(5); tự giác, giác tha, vận chuyển bánh xe chánh pháp, thuyết pháp rộng độ tất cả chúng sinh; cho đến sau khi nhập Niết-bàn, để lại vô số xá lợi và kinh điển, làm lợi ích tất cả chúng sinh, những công đức như thế nhiều vô lượng, vô biên.

Khi hành giả nhớ nghĩ như thế, nội tâm phát sinh cung kính ái mộ chư Phật, thì tam-muội liền khai phát, an lạc nhập thiền định. Hoặc trong thiền định thấy thân tướng của Phật, nên tâm thiện khai phát; hoặc nghe Phật thuyết pháp, nội tâm được thanh tịnh, tin tưởng thấu hiểu nghĩa lý.

Những cảnh giới lành thù thắng như thế rất nhiều, đây gọi là tướng thiện căn niệm Phật khai phát.

e.2. Niệm báo thân Phật

Hành giả an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm tĩnh lặng rất vi tế, chợt nhớ Báo thân chân thật viên mãn của chư Phật, vắng lặng thường trụ ở khắp mười phương. Sắc và tâm thanh tịnh, vi diệu tịch diệt, công đức trí tuệ sung mãn khắp pháp giới, bất sinh, bất diệt, vô tác, vô vi, thì lẽ nào lại có sinh ra nơi cung vua sao? Cũng không có nhập diệt nơi rừng cây Sa-la ở nước Ấn Độ. Chỉ vì muốn hóa độ chúng sinh, mà ứng hiện có sinh diệt khắp cõi Phật ở mười phương. Những công đức ấy vô lượng, vô biên, không thể suy lường. Khi nghĩ như thế nội tâm liền an định, yên ổn, tam-muội khai phát, trí tuệ lý giải phân minh. Hoặc trong thiền định hành giả thấy cảnh giới Phật pháp không thể nghĩ bàn, do đó phát sinh vô lượng hạnh nguyện, vô lượng công đức, vô lượng pháp môn trí tuệ tam- muội. Đây là tướng thiện căn của niệm Báo thân Phật khai phát.

e.3. Niệm Pháp thân Phật

Hành giả an trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, nội tâm vắng lặng. Chợt nhớ thật tướng Pháp

thân của chư Phật khắp mười phương, giống như hư không, nên liền giác ngộ các pháp vốn tự không sinh, nay không diệt. Chẳng có, chẳng không, không đến, không đi, không tăng, không giảm, không trí, không có cảnh giới, không nhân, không quả, chẳng thường, chẳng đoạn, không ràng buộc cũng không giải thoát, không sinh tử, chẳng Niết- bàn, chỉ thanh tịnh vắng lặng. Dù có Phật hay không có Phật, tính và tướng vẫn thường hằng. Chúng sinh và chư Phật đồng một thật tướng, đây chính là Pháp thân Phật vậy.

Trong Kinh Đại Niết Bàn có nói: “Chư pháp như thật tướng, chư pháp như thật tức thị Phật”. Ngoài đây ra thì không có Phật nào khác. Khi hành giả nghĩ nhớ như thế, tam-muội hiện tiền, trí tuệ chân thật liền khai phát, thông đạt thấu suốt vô lượng pháp môn, trong thiền định, lặng lẽ bất động, những cảnh giới không thể nghĩ bàn đều xuất hiện. Cảnh giới chứng đạt Lục căn thanh tịnh(6) có diễn tả rất nhiều trong Kinh Pháp Hoa. Đây là tướng thiện căn niệm Pháp thân Phật khai phát.

Những thiện căn nói ở trên là do tu pháp Chỉ, khai phát mười lăm môn thiền, đều hoàn toàn từ Sơ thiền, mới bắt đầu xuất hiện các cảnh giới vô hình hay hữu hình ấy. Kỳ thật tất cả tướng chứng thiền định, không thể dùng văn tự mà diễn tả đầy đủ được. Ở đây nói do tu Chỉ mà xuất hiện các cảnh giới ấy, là nói về nguyên nhân tu tập từ quá khứ của hành giả không đồng nhau, nên thiền định khai phát cũng khác nhau. Vì thế muốn bàn luận đầy đủ cả mười lăm pháp môn thiền này thật là nan giải vì sự và lý trong đó rất rộng, cảnh giới rất sâu xa. Đến phần giải thích tu chứng trong chương 7, sẽ nói rõ từ đầu tới cuối, phân biệt từng phần nhỏ.

Lại nữa, nếu hành giả trụ trong Định dục giới, Vị đáo địa, thân tâm trong lặng, hoặc khai phát quán tưởng vô thường, vô ngã, bất tịnh, nhàm chán thế gian, thức ăn bất tịnh, tử, đoạn, ly, tận v.v… hoặc khai phát nhớ nghĩ Phật, Pháp, Tăng, Giới, Xả, Thiên v.v…

Hoặc khai phát pháp quán Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo(7) v.v… Hoặc khai phát pháp Quán không, Vô tướng, Vô tác, Tứ đế, Thập lục hạnh v.v… hoặc phát những công đức hạnh nguyện, Lục ba-la-mật, Tứ nhiếp pháp, Tứ vô ngại biện v.v… hoặc phát Lục thần thông như Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông v.v… hoặc phát mười tám thứ Không (18 Không); hoặc khai phát các môn Tam-muội như: Tự tính thiền, Thập lực chủng tính, Tam-ma-bát-đề, Thủ Lăng Nghiêm, Sư tử phấn tấn v.v… hoặc khai phát tất cả các môn Đà-la-ni như: Diên đà-la-ni, Bách thiên vạn ức Diên đà-la-ni, Pháp âm phương tiện Đà-la-ni(8) v.v…

Những cảnh giới Thiền tam-muội khác nhau như thế, tướng trạng rất nhiều. Đến chương 7 nói về tu chứng, sẽ phân biệt đầy đủ các tướng cảnh giới sâu hay cạn của Thiền tam-muội.

III- NGHIỆM BIẾT THIỀN THẬT GIẢ

Có hai ý:

1. Kiểm nghiệm thiền định thật giả

2. Phân biệt ma hay không phải ma

1. Kiểm nghiệm thiền định thật giả

Hành giả an trụ trong định, phát thiện căn của các thiền, trong đó thật hoặc giả không thể chọn lựa sai lầm. Vì sao? Nếu khi các thiền tam- muội khai phát, tâm không phân biệt rõ, hoặc lầm nhận ma định, cho là thiện căn phát, sinh tâm chấp trước cảnh giới ấy, do chấp lầm tà định nên phát sinh bịnh cuồng loạn.

Hoặc lúc thiện căn khai phát, cho là Ma định, do sinh tâm nghi ngờ, xả bỏ cảnh giới thiện căn, kết quả những lợi ích của thiện căn khai phát lại để thoái mất.

Những cảnh giới thật giả đó rất khó phân biệt rõ, nếu muốn biết rõ, phải y theo hai phương pháp kiểm nghiệm này, liền biết thật hay giả:

a) Xét cảnh giới để nghiệm biết

b) Dùng pháp để nghiệm biết

a) Xét cảnh giới để nghiệm biết

Có hai thứ:

a.1. Cảnh giới Tà

a.2. Tướng Chánh thiền phát

a.1. Cảnh giới Tà:

Trong thiền căn bản, khi các Xúc phát sinh, chỉ cần có một Xúc nào sinh tà pháp, tức là cảnh giới tà. Tà pháp rất nhiều, hiện nay chỉ rút gọn một thứ là Động xúc thuộc trong tám xúc, để giải thích cảnh giới Tà. Đại khái có mười cặp tà pháp:

1/ Xúc thể Tăng – Diệt

2/ Định – Loạn

3/ Không – Hữu

4/ Minh – Ám

5/ Ưu – Hỷ

6/ Khổ – Lạc

7/ Thiện – Ác

8/ Ngu – Trí

9/ Phược – Thoát

10/ Cương – Nhu

Các loại cảnh giới tà này, dù hành giả đã trải qua hoặc chưa gặp cũng cần nên biết rõ.

1/ Xúc thể Tăng – Diệt: Tăng: nghĩa là khi Động xúc phát sinh, hành giả cảm giác thân thể dao động và tay chân cũng động theo, nhưng người ở ngoài nhìn thấy hành giả ngồi ngơ ngơ như ngủ. Hoặc khua tay chân như quỷ. Hoặc khi ngồi hành giả thấy các cảnh kỳ dị, đây là tướng Tăng.

Diệt: nghĩa là khi Động xúc mới bắt đầu phát sinh, hoặc phần trên hoặc dưới thân, chưa được khắp toàn thân, thì cảnh giới diệt từ từ. Do cảnh giới đã diệt mất cho nên lúc hành giả ngồi tĩnh tọa cảm thấy buồn tẻ, vì thân không thể trì giữ, đây là tướng Diệt.

2/ Định – Loạn: Định là khi Động xúc phát, thân và tâm thức bị thiền định trói buộc, không được tự do, tự tại, hoặc nhân đó nhập tà định, có thể ngồi đến bảy ngày không xuất định.

Loạn là khi Động xúc phát, tâm ý nghĩ tưởng rối loạn, chạy theo duyên không thể dừng trụ.

3/ Không – Hữu: Không là khi Động xúc phát, hành giả không thấy thân thể, tự cho là đã chứng định Hư không.

Hữu là khi Động xúc phát sinh, hành giả cảm thấy thân thể cứng đơ như cây như đá.

4/ Minh – Ám: Minh là khi Động xúc phát sinh, hành giả thấy các thứ ánh sáng phía ngoài, cho đến ánh sáng mặt trăng, mặt trời, sao mai và những màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng v.v…

Ám là khi Động xúc phát sinh, hành giả thấy tâm mờ mịt, như đi vào trong nhà tối.

5/ Ưu – Hỷ: Ưu là khi Động xúc phát sinh, nội tâm bứt rứt phiền não, tiều tuỵ không vui.

Hỷ là khi Động xúc phát sinh, tâm rất vui vẻ, phấn khởi không thể yên định.

6/ Khổ – Lạc: Khổ là khi Động xúc phát sinh, khắp thân thể rất đau đớn khổ não.

Lạc là khi Động xúc phát sinh, hành giả cảm thấy khoái lạc, sinh tâm tham đắm bám chấp.

7/ Thiện – Ác: Thiện là khi Động xúc phát sinh, tâm hành giả nhớ nghĩ cảnh thiện giác quán ở ngoài, phá hoại chánh định,

Ác là khi Động xúc phát, tâm sinh khởi các điều ác không biết xấu hổ.

8/ Trí – Ngu: Trí là khi Động xúc phát sinh, nội tâm khởi kiết sử, tà tri kiến phá hoại chánh định.

Ngu là khi Động xúc phát, tâm thức ngu ngơ, phiền não, mê mờ điên đảo.

9/ Phược – Thoát: Phược là khi Động xúc phát sinh, năm ấm và các phiền não che đậy tâm thức.

Thoát là khi Động xúc phát sinh, hành giả tự cho là chứng các thiền định: Vô tưởng, Không, là đã đoạn trừ sạch kiết sử, chứng đắc đạo quả, được giải thoát, nên khởi tâm tăng thượng mạn.

10/ Cương – Nhu: Cương là khi Động xúc phát sinh, nội tâm chấp cứng, thiền định xuất nhập không được tự tại, giống như gạch đá, khó có thể xoay chuyển biến đổi thuận theo thiện đạo.

Nhu là khi Động xúc phát sinh, ý chí nội tâm mềm yếu, dễ dàng bại hoại, như bùn nhão, không thể nắn làm đồ dùng.

Các loại tà pháp không tốt này, nhiễu loạn nội tâm khi tọa thiền, phá hoại công phu thiền định, khiến tâm hành giả chấp theo tà kiến. Đây là tướng tà định phát.

Lại nữa, hai mươi thứ tà pháp này tùy theo hiện tượng phát sinh, nếu hành giả không phân biệt được tà nguỵ, sinh tâm tham ái đắm chấp, do đó dẫn đến mất tâm, phát sinh cuồng loạn, hoặc ca hát, khóc lóc, cười la, hoặc có khi kinh hãi chạy cuồng loạn, hoặc phát bệnh đến nỗi phải chết, có khi muốn tự sát nhảy từ núi cao xuống hoặc nhảy vào lửa, v.v… Những chướng ngại phiền não như thế rất nhiều.

Lại nữa, trong hai mươi thứ tà này, chỉ cần phát sinh một tà pháp, nếu cùng tương ưng với một pháp thuộc trong chín mươi sáu pháp quỷ thần (Cửu thập lục chủng đạo(9)) của ngoại đạo, mà hành giả không nhận biết, liền tiếp tục tu, đối với pháp chứng được, quỷ thần liền theo nhập vào tâm niệm hành giả, nhân đây hành giả chứng nhập pháp môn của quỷ thần. Lúc này quỷ thần trợ thêm thế lực cho hành giả, hoặc khiến hành giả phát những tà định sâu và trí biện tài, có năng lực biết trước những việc kiết hung thế gian, thần thông kỳ dị, biến hiện những việc hy hữu, làm cảm động chúng sinh, truyền bá giáo hóa hạnh tà. Hoặc làm nhiều việc đại ác, phá hoại căn lành của họ. Hoặc có khi tuy làm việc thiện, nhưng ẩn dấu điều hư dối. Người thế gian không có trí tuệ, chỉ thấy những sự kỳ đặc của vị ấy, cho đó là bậc Thánh nhân, hết lòng tin phục.

Nhưng trên thực tế thì nội tâm người này điên đảo, chuyên hành pháp ma, thường đem pháp ma để dạy người, cho người tin làm theo, thì phá giới luật, phá chánh tri kiến, phá oai nghi, phá cuộc sống thanh tịnh. Hoặc có khi ăn phân dơ, hay trần truồng không hổ thẹn, không tin kính Tam bảo, cha mẹ, sư trưởng. Hoặc đập phá hủy hoại kinh tượng, chùa tháp, tạo tội ngũ nghịch, đoạn diệt thiện căn. Hoặc hiện tướng bình đẳng, hoặc tự tán thán mình hành hạnh bình đẳng, dù trái đạo nhưng không chướng ngại, nó chê bai người tu pháp thiện, chẳng phải chánh đạo. Hoặc nói không có nhân quả, hoặc nói những đạo lý nhân quả tà, họ nói những tà pháp như thế để phá hoại chánh pháp. Những người nghe tin theo tu hành, bị tà pháp nhiễm tâm, chứng được tà thiền tam- muội và những pháp môn Trí đức, Đoạn đức tà, vì thế bên ngoài thì họ biện tài vô tận, hóa độ chúng sinh rất oai phong. Do nổi danh tiếng nên có tín đồ tán thán cung kính cúng dường những thứ tiền của. Thế nên Kinh Cửu Thập Lục Chủng Đạo ghi: “Khi người này thuyết pháp, được quỷ thần trợ lực, thì tất cả người nghe pháp, không ai mà không tín phục thọ nhận, những người nhìn thấy sinh lòng ái mộ kính mến”. Do có những việc như thế, nên thâm tâm hành giả đắm chấp không chịu hồi chuyển, tiếp tục làm rất nhiều thứ tà hạnh điên đảo.

Những người như thế, nên biết họ là những người xa lìa chánh pháp, khi thân hoại mạng chung đọa vào trong ba đường ác. Những sự việc này trong Kinh Đại Phẩm và Luận Ma Ha Diễn có giải thích rất rộng. Nếu muốn nghiên cứu những hiện tượng do quỷ thần, hành giả nên tìm xem trong Kinh Cửu Thập Lục Chủng Đạo, lắng tâm phân biệt so sánh những sự việc trên sẽ hiểu rõ.

HỎI: Người làm việc ác tương ứng với tà pháp, tội lỗi hiện tại đã làm như thế, sau khi mạng chung sẽ sinh vào ba đường ác. Nhưng có người tâm tà mà làm điều thiện, hiện tại lỗi như thế nào khi chết sinh vào chỗ nào?

ĐÁP: Người này tuy thân, khẩu, ý làm điều thiện, tuy ngoài thì thấy như Phật pháp, nhưng nội tâm kiến giải sai lầm, nếu không biết sửa đổi, sẽ gây chướng ngại khai phát quả vô lậu của Tam thừa. Tuy họ không thể hội Phật pháp chân chánh, nhưng đối với tâm điên đảo, có khi họ cũng chấn hưng xiển dương Tam bảo, khuyên mọi người tu thiện. Loại người này khi mạng chung không nhất định phải đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, mà tùy theo pháp được tương ứng với quỷ thần, cùng loài quỷ thần kia mà thác sinh vào một chỗ, làm bà con quyến thuộc của nó, hoặc có khi sinh vào cõi trời, cõi người. Nên trong Kinh Cửu Thập Lục Chủng Đạo ghi: “Có sáu mươi thứ ngoại đạo bậc thượng, tội chướng tà kiến điên đảo rất nặng, nên phải dùng những câu thần chú để đối trị nó. Có hơn hai mươi thứ ngoại đạo bậc hạ, tội chướng mê lầm ít và nhẹ, chỉ cần trực tâm nhận biết thì nó tự diệt”. Vả lại người này tuy sinh vào cõi trời, người, nhưng trong thầm kín ẩn mật vẫn lệ thuộc đạo của tà ma, ưa thích thân cận tà sư, thích nghe tà pháp, thích hành tà đạo, thích tán thán khen ngợi người tu tập hạnh tà. Hoặc thấy người nào tu học theo chánh pháp Tam thừa, không thích thân cận gần gũi, thậm chí còn đến nhiễu loạn người tu chánh pháp. Nên Kinh Pháp Hoa ghi: “Hoặc ma vương, hoặc ma con, ma dân, nếu bị đắm chấp nơi ma kia”. Kinh Đại Phẩm ghi: “Hoặc ma thiên, hoặc ma cõi người”. Nên biết tuy người này sinh vào cõi trời, người, vẫn còn bị ma trói buộc, thường khởi làm những nghiệp ma, thậm chí dù được xuất gia, mà vẫn tạo những ma nghiệp. Nên Kinh Niết Bàn có ghi: “Sau khi Phật nhập Niết-bàn trong khoảng năm trăm năm, đạo của ma từ từ hưng khởi. Ma xuất gia làm Tỳ-kheo, phá hoại rối loạn Phật pháp”. Cũng như trong Kinh Đại Tập luận về tướng của ma nghiệp, trong đó hành giả nên phân biệt rộng.

Như giải thích ở phần trên, chỉ trong một tướng Động xúc phát hai mươi tướng tà ma như thế, thì trong bảy thứ xúc còn lại cũng có đầy đủ các tướng ấy. Những tà tướng xuất hiện nơi thiền căn bản như thế, thì trong các thiền khác và mười bốn môn thiền còn lại, dù sự hoặc lý cũng đều có những pháp tà hư dối đó. Những sự việc tà rất nhiều nên không thể nói đầy đủ vậy.

HỎI: Khi một tà xúc phát sinh thì toàn bộ hai mươi thứ ấy đều phát đầy đủ hay không nhất định đầy đủ?

ĐÁP: Có khi đầy đủ, có khi không đủ, vì không cố định, nếu khi xúc phát sinh, chỉ cần có một tà pháp mà không lập tức trừ bỏ, liền đọa vào tà định, huống gì phát sinh cả hai mươi thứ tà pháp. Vì cớ sao? Thí dụ như hai mươi người cùng đi, nếu một người là kẻ giặc, thì cả mười chín người kia đều bị nguy hiểm đến tính mạng. Trong thiền định cũng như thế, nếu có một pháp ác phát sinh sẽ phá hoại các pháp thiện, không thể gọi là Chánh định, huống gì là có nhiều pháp tà hay sao? Nói tóm lại tướng một Tà xúc như thế, thì bảy tướng Tà xúc còn lại cũng vậy.

Lại nữa, có những tà pháp của các môn thiền khác, trong lúc hành giả nhập định cũng cần nên biết, sở dĩ nói cảnh giới tà pháp của các môn thiền khác, thí dụ như thiền Quán bất tịnh, khi nhập vào định này, cũng có hai mươi thứ tà pháp phát sinh, đến thâm nhập vào định này, mười bốn môn thiền còn lại cũng như thế, hành giả phải nhất định phân biệt mỗi thứ tà pháp rõ ràng.

Nếu hành giả chứng được thiền pháp, cần khéo biết tà pháp, dùng phương tiện trí tuệ soi chiếu không mê đắm cảnh giới tà định, thì tà pháp tự diệt.

a.2. Tướng Chánh thiền phát

Nếu khi Xúc phát sinh nhưng không có hai mươi thứ tà pháp trên, mà đầy đủ mười thứ thiện pháp, đó là tướng chân chánh.

Mười thứ thiện pháp là:

1/ Xúc như pháp

2/ Định như pháp

3/ Không như pháp

4/ Minh như pháp

5/ Hỷ như pháp

6/ Lạc như pháp

7/ Thiện như pháp

8/ Trí như pháp

9/ Giải thoát như pháp

10/ Tâm Nhu hòa như pháp

Thế nào gọi là Như pháp?

Đó là pháp trái ngược với hai mươi tướng bất thiện, ví như hành giả cảm thấy tâm an ổn, thanh tịnh điều hòa v.v… gọi là Như pháp, cũng gọi là Chánh tướng. Sự việc này đến Chương 7 phần giải thích sở chứng giác chi của Căn bản thiền, sẽ rõ việc này.

Tướng trạng của Động xúc chân chánh phát sinh thế nào, thì bảy thứ Xúc còn lại đối chiếu sẽ biết rõ.

HỎI: Trên đây đều giải thích theo sự tướng, nếu nơi tướng mà phân biệt là tà, là chánh, là thật, là giả, nên thủ nên xả v.v… đâu chẳng phải rơi vào tà niệm điên đảo hay sao?

ĐÁP: Chân chánh có hai loại:

– Chân chánh pháp thế gian

– Chân chánh pháp xuất thế gian

Nếu theo tướng thiện pháp thế gian mà giải thích, gọi là tướng chánh pháp thế gian. Nếu giải thích theo tướng xuất thế gian giải thoát, gọi là tướng chân chánh xuất thế gian.

Hiện nay giải thích về hiện tượng phát Xúc của thiền căn bản, xuất hiện mười thứ tướng chân chánh, tức là Biên thế gian chánh tướng. Như trong Luận Ma Ha Diễn ghi: “Do có chánh tri kiến của thế gian mới có khả năng chứng được chánh tri kiến xuất thế gian. Nếu phá chánh tri kiến thế gian, tức là phá chánh tri kiến xuất thế gian”. Cho nên nay nói chánh pháp xuất thế gian, cần phải giải thích chánh pháp thế gian trước, vì muốn nhân nơi sự mà hiển bày lý, nương nơi gần để nói xa vậy.

Trước tiên giải thích cảnh giới Động xúc của thiền căn bản, để nêu rõ cảnh giới chân chánh.

Nếu khi Động xúc phát sinh, hoặc thấy ba mươi hai vật trong thân thể, hoặc phát tâm từ, quán nhân duyên, chánh trí niệm Phật cùng các công đức thiền định v.v… Lúc này hành giả thấy tâm an ổn như pháp, cảm thọ khoái lạc của xúc khai phát. Đây cũng là hiện tượng khai phát thiện căn của đời trước, trong mỗi thứ có mười cảnh giới đều là chánh định, nhưng hành giả muốn tu thành tựu được thiền căn bản, hoàn toàn không nên chấp cảnh giới này, vì cảnh giới này dù diệt hay không diệt, đối với thiền căn bản không có gì chướng ngại. Nhưng vào thời kỳ mạt pháp, người tu hành do thiện căn cạn mỏng, cho nên khi thiền định những cảnh giới Động xúc phát sinh, đa số họ không phát Sự thiện và Lý thiện nào khác. Hiện nay vì sợ cảnh giới khai phát mà hành giả không biết, cho nên mới nói thêm ý này. Mười bốn môn thiền còn lại, khi chánh tướng khai phát cũng phân biệt rộng như thế.

b) Dùng pháp để nghiệm biết

Do cảnh giới tà thiền rất vi tế và khó phân biệt, cảnh giới tà cùng cảnh giới chánh tương tợ như nhau, vì thế cần dùng ba phương pháp để nghiệm biết.

b.1. Định tâm nghiên cứu

b.2. Dùng pháp tu cũ đối trị

b.3. Dùng trí tuệ quán sát

b.1. Định tâm nghiên cứu

Như trong Kinh Niết Bàn ghi: “Muốn biết vàng thật hay giả phải dùng ba phương pháp thử nghiệm, đó là đốt, đập, gọt mài”. Người tu hành cũng như thế, nếu muốn biết người tu thật hay tu giả cũng có ba pháp thử nghiệm.

– Nên cùng làm việc chung với họ.

– Nếu cùng cộng sự với họ mà không biết, thì phải sống chung với nhau thời gian thật lâu.

– Nếu ở lâu mà cũng không hiểu họ, phải dùng trí tuệ quán xét.

Nay dùng phương pháp này để giải thích cảnh giới tà chánh trong thiền định. Như khi phát một thứ Xúc, nếu chưa rõ tà hay chánh, hành giả phải cần nhập định, đối với cảnh giới không thủ, không xả, an tịnh dừng trụ nơi thiền định, nếu đúng chánh pháp thì định lực càng thâm sâu, thiện căn tăng trưởng, nếu do ma đến nhiễu loạn thì không bao lâu cảnh giới ấy tự hoại diệt.

b.2. Dùng pháp tu cũ đối trị

Nếu như trước kia hành giả tu quán bất tịnh được khai phát, thì nên tiếp tục tu pháp quán bất tịnh, khi tu thiền định, thấy cảnh giới tiến bộ tăng trưởng rõ ràng, đây là Chánh pháp. Nếu dùng pháp tu cũ để đối trị mà thiền định từ từ hoại diệt, đây chính là Tà pháp.

b.3. Dùng trí tuệ quán sát

Hành giả quán sát hiện tượng phát sinh, truy tìm nghiên cứu tận nguồn gốc của nó, không thấy chỗ phát sinh, biết là nó vốn rỗng lặng, thì tâm không bám chấp, cảnh giới tà sẽ tự diệt mất, tướng chân chánh tự hiện tiền. Như vàng thật càng đốt càng phát sáng, nếu vàng giả thì càng đốt càng đen và hủy hoại.

Dùng ba pháp kiểm nghiệm có thể biết rõ tà hay chánh:

Sức định: Dụ cho phương pháp mài gọt.

Tu trị: Dụ cho phương pháp đập gõ.

Trí tuệ quán sát: Dụ cho phương pháp đốt bằng lửa.

Lại nữa, sống chung là dụ cho mài gọt, làm việc với nhau thời gian dài là ví dụ cho đập gõ, trí tuệ quán sát là ví dụ cho dùng lửa để thử vàng. Những thiền định khác cũng thử nghiệm như thế thì tà chánh sẽ rõ.

2. Phân biệt ma hay không phải ma

Có hai thứ:

a) Cảnh giới ma

b) Không phải do ma

a) Cảnh giới Ma

Cũng có hai thứ bất đồng:

a.1. Thiền chứng được chẳng phải do ma tạo

Như hành giả trụ trong chánh định, thiền định được khai phát, ác ma sợ đạo hạnh của hành giả cao thâm, nên đến làm não loạn, nhập vào thiền định. Nếu hành giả khởi tâm tham đắm chấp trước cảnh giới này, hoặc nhân đây mà sinh ưu sầu lo sợ, ác ma liền có cơ hội thuận lợi hành động. Nếu hành giả dùng những phương pháp như trên để đối trị, ma tà pháp liền tự tiêu diệt, như mặt trời bị mây che phủ khi mây tan thì ánh sáng mặt trời tự hiển hiện, nếu tâm hành giả an định thì nội tâm được thanh tịnh sáng suốt.

a.2. Thiền định chứng được do ma tạo

Hành giả bị ma lừa dối mê hoặc, nếu hành giả biết cảnh giới này là hư giả chẳng thật, liền dùng phương pháp để đối trị nó, sau khi ma thoái lui thì không còn một chút pháp thiền nào cả.

b) Cảnh giới không phải do ma

Cũng có hai trường hợp:

– Do tội lỗi và nghiệp chướng ngăn che thiền định cũng tương tự như ma làm, nhưng thật tế thì không phải vì rất khó phân biệt, nếu hành giả dùng những phương pháp đối trị ở trước mà vẫn không đi, lúc này cần siêng năng tu sám hối, khi tội đã diệt thì tự nhiên thiền định khai phát sáng suốt.

– Khi hành giả nhập định, do không có phương tiện khéo léo, kết quả cảnh giới không được như pháp. Nếu khéo điều hòa thích hợp thì sở chứng thiền định được thanh tịnh sáng suốt, nên biết đây không phải là do ma tạo vậy.

IV- TỔNG KẾT PHÁT THIỀN BẤT ĐỊNH

Gồm có năm ý:

1. Tu cả sự và lý phát thiền bất định

2. Nguyên nhân phát các thiền

3. Thiền định phát nhiều hay ít

4. Thiện căn đời trước phát hết hay không hết

5. Giải thích hữu lậu và vô lậu

1. Tu cả sự và lý phát thiền bất định

HỎI: Trong ba pháp tu Chỉ đã nói ở trước, Hệ duyên chỉ và Chế tâm chỉ, hai pháp tu Chỉ này thuộc về sự tướng, nên chỉ phát thiền định trong sự tướng. Riêng về Thể chân chỉ thuộc về lý, nên phát thiền định trong lý. Hiện nay tại sao cả ba pháp tu Chỉ này đều phát các thiền định trong sự và lý, thì ở đây lẫn lộn nhân quả không thể phân biệt hay sao?

ĐÁP: Không phải như thế, hiện nay giải thích hai thứ tu về sự và lý, đều tùy theo căn duyên người tu, mà có phát sinh phương pháp khác nhau, không nhất định phải có phân chia? Như ba pháp tu Chỉ đã giải thích ở trên, nếu nói tóm lược, thì phải như chỗ ông hỏi là chỉ có hai thứ tu sự và lý. Nếu phân tích đầy đủ, phải chia làm bốn pháp tu.

Trong bốn pháp này, chia làm hai thứ: theo Chỉ môn và Quán môn.

a) Theo Chỉ môn giải thích về bốn pháp tu

a.1. Tu Chỉ trên sự tướng: Hệ duyên chỉ và chế tâm chỉ, thuộc về Sự

a.2. Tu Chỉ trên lý thể: Thể chân chỉ, thuộc về Lý

a.3. Tu Chỉ trên sự và lý: Thể chân chỉ và nhân duyên tục đế thuộc về Sự và Lý

a.4. Tu Chỉ không sự không lý: Dứt bỏ phân biệt hai bên, thuộc về Không sự, Không lý (phi sự, phi lý).

b) Theo Quán môn giải thích về bốn pháp tu

b.1. Tu Quán trên sự tướng: tức là pháp tu Sổ tức và Quán bất tịnh, thuộc về Sự.

b.2. Tu Quán trên lý thể: tức là pháp Quán không, Vô tướng v.v… thuộc về Lý.

b.3. Tu Quán trên sự và lý: tức là pháp tu Quán nhị đế (tục đế và chân đế), thuộc về Lý và Sự.

b.4. Tu Quán phi sự, phi lý: tức là pháp quán

Trung đạo chánh quán, thuộc về Phi sự, Phi lý.

Nay vì muốn giải thích ý nghĩa tu Chỉ môn phát thiền bất định ở trên, chỉ lấy bốn pháp tu Chỉ để giải thích pháp tu, trong mỗi cái đều có bốn trường hợp phát thiền bất định, cho nên cả bốn thứ hợp lại thành mười sáu trường hợp phát thiền bất định. Hành giả khéo léo nhận biết các tướng này, tự nhiên hiểu rõ hai pháp tu thuộc về Sự, Lý và thông suốt tất cả các Thiền tam-muội khai phát, tâm không còn nghi ngờ sai lầm.

Vì sao gọi là trong bốn pháp tu Chỉ mỗi thứ đều có bốn trường hợp phát thiền bất định?

1/ TU SỰ PHÁT THIỀN BẤT ĐỊNH

Hiện nay trước tiên giải thích trường hợp tu trên Sự tướng có bốn thứ phát thiền bất đồng.

– Có hành giả tu Chỉ trên sự tướng, tức là an tâm nơi Hệ duyên Chỉ và Chế tâm Chỉ, nhưng lại phát thiền định trên Sự tướng, nghĩa là các thiền tam-muội như: Tứ thiền căn bản, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định và Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ v.v…

– Có hành giả tu Chỉ trên sự tướng để an tâm, mà chỉ phát thiền định thuộc về Lý, nghĩa là các thiền tam-muội trong tuệ hành, lý hành như: Không, Vô tướng, Vô tác, Tam thập thất phẩm, Tứ đế, Thập nhị nhân duyên v.v….

– Có hành giả tu Chỉ trên sự tướng để an tâm mà phát thiền định đầy đủ cả Sự và Lý, đó là các thiền tam-muội về sự tướng như: Tứ thiền căn bản, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định, Cửu tưởng, Bối xả, Đặc Thắng, Nhất thiết xứ và các thiền tam-muội thuộc về lý hành trí tuệ như: Không, Vô tướng, Vô tác, Tam thập thất phẩm, Tứ đế, Thập nhị nhân duyên v.v… cho đến Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền, tất cả thiền định đều thuộc về Lý và Sự.

– Có hành giả tu Chỉ trên sự tướng để an tâm, bèn phát thiền định thuộc về phi sự phi lý, đó là: Tự tính thiền, Nhất thiết thiền, Pháp hoa tam- muội và các thiền tam-muội thuộc về trung đạo như: Nhất hạnh tam-muội. Thủ Lăng Nghiêm, Sư tử hống v.v…cho đến Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng.

HỎI: Nếu hành giả tu sự Chỉ, thì phải phát thiền định thuộc Sự tướng, vì sao lại phát thiền tam-muội và các pháp bất cộng thuộc về Phi sự phi lý?

ĐÁP: Nguyên nhân phát thiền định có hai thứ: Do đời này dùng phương tiện mà chứng được và do căn lành đời trước được khai phát.

Nếu tu về sự tướng mà phát thiền định thuộc về sự tướng là do đời này tu được. Nếu tu Sự mà lại phát thiền định tam-muội thuộc về Lý và Phi sự phi lý, tất cả đều do thiện căn thiền định của đời trước khai phát vậy.

Theo thuyết của Số nhân (Số luận sư), luận về nghĩa này có hai thứ: Tu đắc và Hạnh tu.

Tu Đắc: nghĩa là đời trước tu chưa chứng được. Hạnh tu: do đời trước đã từng tu chứng được. Lại nữa hiện nay chỉ nói về nội phương tiện, luận nguyên nhân tu Chỉ khai phát thiện căn đời trước, tuy giải thích về hiện tượng phát thiền tam muội thuộc về Sự và Lý rất sơ sài. Nếu luận về sự tu tập thành tựu, nhân quả tương ưng từ đầu đến cuối, thì cảnh giới Sự và Lý thâm sâu trong các thiền tam-muội, phải đến chương 7 mới phân biệt giải thích đầy đủ.

HỎI: Nếu tu về Sự tướng liền phát các thiền tam- muội và mười tám pháp bất cộng thuộc về Phi sự phi lý, là do nhân tu tập đời trước mà được. Thì tất cả tùy theo sự tướng tu hành đều phải chứng được các thiền tam-muội: Thập bát bất cộng, Thủ Lăng Nghiêm v.v… Như vậy, vì sao tất cả mười phương chư Phật, khen ngợi Bát-nhã ba-la-mật, nếu như hành giả có nghe Bát- nhã Ba-la-mật liền đầy đủ tất cả Phật pháp?

ĐÁP: Nghi vấn của ông chính là điều tôi đang cần nói, vì sao? Nếu đời quá khứ của hành giả từng gặp vô lượng chư Phật, ở chỗ chư Phật nghe thuyết Bát-nhã ba-la-mật và theo chỗ nghe tu hành thì đời này dù hành giả bất luận tu theo hạnh gì, cũng tự nhiên được khai phát các thiền tam-muội như: Mười tám pháp bất cộng thuộc về phi sự phi lý v.v…

Nếu đời quá khứ hành giả chưa từng nghe đến Bát-nhã, chẳng tu Bát-nhã, dù đời này tuy có nghe, có tu, nhưng lại không thể khai phát các thiền tam-muội, mười tám pháp bất cộng, huống gì chưa từng nghe Bát-nhã chưa từng tu Bát-nhã mà có thể được khai phát hay sao?

Lại nữa, tuy đời này có nghe giảng Bát-nhã, có tu Bát-nhã, nhưng thiền định không phát, đến đời sau nếu gặp được chư Phật, Bồ-tát, nghe thuyết Bát-nhã ba-la-mật, y theo đó tu hành, thì tất cả thiền tam-muội của Đại thừa, mười tám pháp bất cộng thảy đều được khai phát. Nên biết tất cả đều do nghe thuyết Bát-nhã, theo đó tu hành mới có thể khai phát tất cả thiền tam-muội v.v… không phải là không có nhân duyên vậy. Vì thế tất cả mười phương chư Phật, đều siêng năng tán thán Bát-nhã ba-la-mật, nếu có người nghe Bát-nhã và y theo đó tu hành, thì được đầy đủ tất cả Phật pháp, chính là ý nghĩa này vậy.

Lại nữa hành giả dùng sức phương tiện của Bát-nhã ba-la-mật, đối với tu trong sự tướng, tức là tu đầy đủ cả phi sự phi lý, nếu dũng mãnh tinh tấn tu tập không dừng nghỉ, thì có thể khai phát các thiền tam-muội và mười tám pháp bất cộng thuộc về Phi sự phi lý vậy.

HỎI: Chỗ này so với phần giải thích trước có gì sai khác?

ĐÁP: Trong nầy phải chia làm bốn trường hợp để giải thích.

– Nhân mạnh duyên yếu: nghĩa là do đời trước nhân tu hành mạnh mà duyên tu của đời này yếu, nhưng cũng có thể khai phát Mười tám pháp bất cộng và các thiền tam-muội thuộc về Phi sự phi lý như đã nói ở trước.

– Nhân yếu duyên mạnh: có thể khai phát pháp bất cộng và các thiền tam-muội thuộc về tu Phi sự phi lý, như hiện nay đang giải thích.

– Nhân duyên đều mạnh: cũng có thể khai phát Mười tám pháp bất cộng và các thiền tam- muội thuộc về tu Phi sự phi lý, bao gồm cả đời trước và đời này, nếu gặp trường hợp này hành giả sẽ chứng được pháp thiền rất thù thắng.

– Nhân duyên đều yếu: thì đời này tu có thể phát, hoặc không phát thiền định, giả sử nếu có phát thiền định thì cũng yếu cạn, không được kiên cố bền chắc, phần nhiều rất dễ thoái thất lui sụt. Đến thời tượng pháp và mạt pháp, người hành cao lắm chỉ được như thế. Trong ba thứ nhân duyên nói trên vào thời mạt pháp, vạn người không có một.

2/ TU LÝ PHÁT THIỀN BẤT ĐỊNH

Có bốn trường hợp bất đồng:

– Có hành giả chuyên tâm tu Thể Chân Chỉ thuộc về Lý lại phát thiền định trong lý thể, đó là các thiền tam-muội: Không, Vô tướng, v.v…

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ thuộc về Lý, mà chỉ phát các thiền tam-muội trên sự tướng, đó là Căn bản thiền, Bát bối xả.

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc về Lý, mà thiền định phát đầy đủ cả sự và lý, đó là các thiền tam-muội như: Căn bản thiền, Bối xả, Không, Vô tướng v.v…

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc về Lý nhưng lại phát thiền định thuộc về Phi sự phi lý, đó là Tự tính thiền và các thiền tam-muội, Mười tám pháp bất cộng thuộc Trung đạo, nếu phân biệt rộng tướng các thiền tam-muội và ý nghĩa tu hành được khai phát, cũng đại khái như giải thích trong câu đầu tiên.

3/ TU SỰ LÝ PHÁT THIỀN BẤT ĐỊNH

Cũng có bốn thứ bất đồng:

– Có hành giả chuyên tâm tu Thể chân chỉ, duyên tục đế thuộc Sự và Lý, lại phát thiền định trong sự tướng, đó là các thiền tam-muội như: Căn bản thiền, Bối xả, Không, Vô tướng v.v..

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc Sự và Lý, mà chỉ phát thiền định trong sự tướng, đó là các thiền tam-muội như: Căn bản thiền, Bối xả v.v…

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc Sự và Lý, mà chỉ phát thiền định trong lý thể, đó là các thiền tam-muội như: Không, Vô tướng, v.v…

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc Sự và Lý, bèn phát thiền định Phi sự phi lý, đó là Tự tính thiền và tất cả các thiền tam-muội và Pháp bất cộng thuộc về Trung đạo v.v…

Phân biệt tướng các thiền và ý nghĩa tu hành được khai phát này, cũng giải thích đại khái như các câu đầu tiên.

4/ TU PHI SỰ, PHI LÝ PHÁT THIỀN BẤT ĐỊNH

Cũng có bốn thứ bất đồng:

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc về Phi sự phi lý, lại phát thiền định phi sự phi lý, đó là Tự tính thiền, các thiền tam-muội và Bất cộng pháp của Trung đạo.

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc về Phi sự phi lý, mà chỉ phát thiền định trên sự tướng, đó là các thiền tam-muội như: Căn bản thiền, Bát bối xả v.v…

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc về Phi sự phi lý, mà chỉ phát thiền định thuộc về lý, đó là các thiền tam-muội như: Không, Vô tướng v.v…

– Có hành giả chuyên tâm tu Chỉ, thuộc về Phi sự phi lý, mà phát đầy đủ các thiền định thuộc về sự và lý, đó là các thiền tam-muội như: Căn bản thiền, Bát bối xả, Không, Vô tướng v.v…

Phân biệt tướng các thiền và ý nghĩa tu phát cũng như giải thích ở trước.

Nay lấy bốn pháp tu trong Chỉ môn để phân chia, thì gồm có mười sáu (16) trường hợp phát thiền bất định. Nếu đem bốn pháp tu trong Quán môn để phân chia, cũng có mười sáu trường hợp phát thiền bất định. Cộng chung cả hai trường hợp này thì có ba mươi hai (32) trường hợp phát thiền bất định.

Ba mươi hai trường hợp phát thiền này là pháp mà người tu dùng để phân chia, nếu hành giả nghe pháp môn Chỉ Quán tin nhận thực hành, kết quả phát thiền ngộ đạo không cố định, trong đó cũng có ba mươi hai trường hợp, những việc như thế ở đây không nói đủ.

Nếu luận chung tất cả thì bao gồm sáu mươi bốn (64) thứ. Nếu phân chia theo căn tính Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, thì có một trăm chín mươi hai (192) trường hợp khai phát thiền định khác nhau. Nếu phân tích chia chẻ tỷ mỉ các thiền và luận về phát sinh hiện tượng Tà, Chánh thì có nhiều vô lượng.

Hiện nay phân chia như thế đều từ trong tâm hành giả, không phải lời nói hư dối, hay giả thiết. Nên biết trường hợp khai phát thiền định không thể nghĩ lường, đây là cảnh giới của chư Phật và Bồ-tát, bậc Thánh nhị thừa còn không thể suy lường đến, huống gì hạng phàm phu có thể lường tính được sao? Nếu hành giả muốn tự tu và dạy cho người khác, cần biết rõ vài trường hợp khai phát của thiền định. Nếu tự sai lầm mà chấp cho là đúng, thì tổn mình và tổn hại người khác, kể cả pháp đối trị mình đang tu, vì không có trí tuệ nên không được lợi ích vậy.

2. Nguyên nhân phát các thiền

Có hai thứ kiến giải bất đồng:

– Có thầy nói: “Chỉ cần nhập định tu pháp Chỉ thì các thiền tự phát, không cần phải nhọc công tu pháp nào khác”. Vị thầy này xưa nay thường dạy người tu pháp Chỉ, cũng giống như thầy thuốc chuyên dùng một loại thuốc sữa. Nay ở đây không đồng ý luận điểm này. Vì sao? Vì chỉ tu riêng một pháp, thì chỉ khai phát một thứ thiền pháp; hành giả đã nhân nơi tu Chỉ mà thiền định khai phát bất đồng, làm sao lại chấp là do tu pháp Chỉ? Đây không những chỉ lầm lẫn đối với lý mà còn trái với giáo pháp của Phật.

– Có thầy nói: “Do thiện căn đời trước đã từng tu tập các thứ thiền làm Nhân, đời nay tu Chỉ chứng được thiền định làm Duyên”. Cho nên chỗ khai phát thiền định của hành giả mỗi mỗi chẳng đồng chính là nguyên nhân này vậy. Thí dụ như trên mặt đất tuy các thứ cỏ thuốc, cây cối, rừng núi v.v… có chủng loại và tên gọi, hình sắc khác nhau. Nếu mưa không thấm ướt tất cả thì làm sao mỗi chủng loại có thể tự sinh trưởng khác nhau? Đây cũng như thế. Nếu y theo trong Đại thừa nói về ý nghĩa của: Bảy báu, giếng, chậu bình, nhà tối, thì lại luận khác.

3. Thiền định phát nhiều hay ít

Trên đây tuy nói do tu Chỉ mà phát tất cả các thiền tam-muội, nhưng vì căn tính của người tu lại chẳng đồng nên thiền định khai phát nhiều hay ít, cũng có chỗ chẳng đồng.

Có người chỉ phát một môn thiền, có người phát hai môn, ba, bốn, năm môn. Hoặc có hạng người phát cả mười lăm môn và tất cả các thiền tam-muội, không thể nhất định.

Sở dĩ có những sự khác nhau là đều do Nhân tu tập đời trước của hành giả có sâu cạn, viên mãn cũng có khác nhau, cũng do đời này tu tinh tấn hay giải đãi và có trí tuệ phương tiện hay không trí tuệ phương tiện khác nhau, mà thiền định khai phát hơn kém bất đồng, trong đó có muôn vàn phẩm loại sai khác. Trên đây đã giải thích tóm lược về tướng trạng khai phát nhiều ít của thiền định.

4. Thiện căn đời trước phát hết hay không hết

Trước tiên đưa ra một pháp quán trong môn

quán bất tịnh để làm thí dụ cho dễ hiểu. Như có hành giả do đời trước đã từng tu tập chứng được pháp quán bất tịnh, thấy xương trắng phát sáng, đời này trong khi tu Chỉ, nhưng chỉ phát pháp Thiền quán bất tịnh mà chưa chứng được tướng xương trắng phát sáng, đây gọi là chưa hết. Nếu khai phát đầy đủ gọi là hết.

Nếu duyên tu tập đời trước của hành giả đã hết, tuy đời này lại tiếp tục tu Chỉ, thì không tăng tiến. Nhưng nếu tiếp tục chuyên tâm quán chiếu xương trắng, luyện tập không dừng, tâm liền tùy theo cảnh giới quán chiếu từ từ khai phát, các thiền như Bát bối xả, Quán, Luyện, Huân, Tu v.v… thảy đều thành tựu đầy đủ. Đây là do đời này khéo dùng phương tiện khéo léo tinh cần tu tập mà thành tựu, không quan hệ đến sự khai phát Nhân tu tập thiện căn của đời trước.

HỎI: Cảnh giới tu Chỉ môn không được tiến bộ, đâu phải nhất định là do nhân tu tập đời trước đã hết? Hoặc do tội chướng, chướng ngại thiện căn đời trước không được tăng trưởng khai phát?

ĐÁP: Ông nói chẳng sai, không phải vì duyên thiện căn đã hết làm trở ngại, và không liên quan đến tội chướng, cho nên đời này cần phải dùng phương pháp quán chiếu, tu tập đúng như pháp mới được thành tựu.

Trong đó cũng chia ra năm hạng căn tính để giải thích:

1/ Gặp duyên xấu liền lui sụt sở đắc.

2/ Đối với chỗ chứng đắc lại thêm giữ gìn.

3/ Hay an trụ nơi sở đắc.

4/ Hay tinh tiến tu hành chứng đắc.

5/ Hay tu luyện thông đạt đến cứu cánh. Những thứ như thế rất nhiều, hiện nay không ghi chép đủ. Ngoài ra còn có mười bốn thứ thiền định, trường hợp phát hết hay không hết, nếu suy xét có thể hiểu.

5. Giải thích hữu lậu và vô lậu

HỎI: Phần trước nói rõ mười lăm môn và tướng trạng khai phát của các thiền tam-muội, trong đó có hữu lậu và vô lậu. Pháp thiện của hữu lậu đời trước đã chứng được, có thể nhờ Nhân tu tập mà thiện căn phát. Nhưng cũng có thể đời trước chưa từng tu chứng pháp vô lậu, đời này có thể phát thiện căn vô lậu không?

ĐÁP: Vô lậu có hai thứ :

a) Hạnh hành vô lậu

b) Tuệ hành vô lậu

a) Hạnh hành vô lậu: là Pháp đối trị thuộc

về sự tướng, vì không duyên nơi chân tính tu hành, cho nên có Nhân tu tập thiện căn đời trước phát. Tuệ hành vô lậu là duyên nơi chân tính làm Nhân tu tập, cho nên không thể nói nhất định phải có Nhân tu tập thiện căn đời trước mới phát.

b) Tuệ hành vô lậu lại có hai thứ:

– Duyên lý tu tập để giải thích Tuệ hành

– Phát tuệ kiến lý là duyên nơi chân tính để giải thích Tuệ hành

– Duyên lý tu tập thì có khai phát Nhân tu tập thiện căn.

– Phát tuệ kiến lý dù duyên nơi chân tính tu tập, lại không phát Nhân tu tập thiện căn.

“Phát tuệ kiến chân” lại có hai thứ:

– Phát trí tuệ tương tự thì có phát Nhân thiện căn tu tập đời trước.

– Phát trí tuệ chân thật thì không phát Nhân thiện căn tu tập đời trước.

“Phát chân thật tuệ” lại có hai thứ:

– Kiến đế vô lậu: tức là khai phát khổ nhẫn v.v…

– Tam giới tư duy vô lậu: tức là khai phát giải thoát vô ngại v.v…

Nếu theo “Kiến đế vô lậu” khai phát khổ, nhẫn v.v… thì thông thường chẳng nói có tập nhân thiện căn phát; nếu “Tư duy vô lậu” khai phát thì do bất đồng giáo phái mà có mỗi thuyết bất đồng.

Nếu theo Luận Tát Bà Đa bộ giải thích: Nếu hàng thoái pháp Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán khi bị lui sụt trở lại trong Sơ quả Tu-đà-hoàn, nhưng sau do nỗ lực tiến tu mà chứng quả, thì có trường hợp Nhân tu tập thiện căn phát. Nếu hàng Tam quả Bất thoái pháp(10), đương nhiên không có trường hợp thiện căn phát lại lần nữa. Cho nên không nói có Nhân tu tập thiện căn phát.

Theo thuyết của Đàm Vô Đức giải thích: Hàng Tứ quả khi phát Chân vô lậu(11), đều không có trường hợp phát Nhân tu tập thiện căn của đời trước.

HỎI: Như theo Luận A Tỳ Đàm: “Chỉ khi bắt đầu phát sinh vô lậu mới là không có gieo nhân”, vì sao hiện nay lại nói Chân vô lậu mà hàng Tứ quả phát, đều không phát Nhân tu tập thiện căn đời trước?

ĐÁP: Nay giải thích Nhân tu tập phát thiền tam-muội, ý nghĩa chẳng đồng là căn cứ theo thiện căn của đời trước đã từng chứng được, nhưng trải qua mấy đời nên bị lui sụt hay mất hẳn. Đời nay nhân tu Chỉ mà được khai phát là để nói về Tập nhân thiện căn phát. Hàng Tứ quả phát Chân vô lậu, không phải do đời trước từng tu chứng được, bởi vì trong khoảng giữa đã bị mất và lui sụt, nhưng do đời này tu Chỉ mà được khai phát lại, đối với phần trước chẳng đồng.

Nếu luận chung thì tâm “Vô lậu chân giải” của Sơ phẩm, tức là lấy tâm vô lậu của Nhị phẩm làm nhân, cứ xoay vần như thế cho đến Cửu phẩm. Ở đây giải thích Nhân tu tập thiện, thì chỗ phát vô lậu của hàng Tứ quả đều nói là do Nhân tu tập thiện của đời trước khai phát vậy. Nay đã không theo quan điểm này để giải thích trường hợp khai phát Nhân tu tập thiện căn, nên mới nói: Chỗ chứng Tứ quả không phải do phát Nhân tu tập thiện của đời trước vậy.

Lại nữa, đời quá khứ hành giả từng tu tập các thiền tam-muội thuộc về sự lý, dù chưa chứng được quả vị, nhưng do đã từng tu tập qua, nên khi thiện căn đời này thuần thục, nhờ tu pháp Chỉ để làm duyên nên đều được khai phát, đây cũng gọi là khai phát Nhân tu tập thiện căn vậy.

Thời Phật còn tại thế, người cầu xuất gia Phật nói: “Thiện lai Tỳ-kheo” liền lập tức phát vô lậu, đồng thời chứng đầy đủ Tam minh, Bát giải thoát.

Phần giải thích tổng kết về Cũng hữu lậu cũng vô lậu, cho đến Phi hữu lậu phi vô lậu, nếu đối chiếu thì biết rõ.

*

Chú thích Quyển 3:

(1) 108 loại tam-muội (Bách bát tam-muội.) tđphhq t. 208) theo phẩm Tướng Hạnh trong Kinh Đại Phẩm Bát Nhã 3, Phẩm Vấn Thừa trong Kinh Đại Phẩm Bát Nhã 5, Kinh Đại Phẩm Bát Nhã 414, Luận Đại Trí Độ 43, 47.

Một trăm lẻ tám loại tam-muội như sau:

1/ Thủ lăng nghiêm tam-muội: khi Bồ-tát trụ tam-muội này, biết rõ cảnh giới sâu cạn của các tam-muội khác, nên tất cả ma phiền não không thể phá hoại được.

2/ Bảo ấn tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát có năng lực ấn chứng tất cả tam-muội, trong các món quý báu thì Pháp bảo là hơn hết, Bảo ấn tam-muội có công năng làm lợi ích cho đời này và đời sau cho đến chứng Niết bàn.

3/ Sư tử du hý tam-muội: khi trụ tam-muội này Bồ-tát có thể xuất nhập các tam-muội dù nhanh hay chậm. Có công năng độ chúng sinh và phá kiến chấp ngoại đạo.

4/ Diệu nguyệt tam-muội: khi trụ tam-muội này Bồ-tát có năng lực diệt trừ các tà kiến vô minh.

5/ Nguyệt tràng tướng tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này Bồ-tát thông đạt các pháp, có thể chuyển các pháp thuận theo mình.

6/ Xuất chư pháp tam-muội: Khi Bồ-tát trụ tam- muội này có năng lực phát sinh và làm tăng trưởng các tam-muội.

7/ Quán đảnh tam-muội: Bồ-tát trụ tam-muội này có năng lực thấy khắp tất cả tam-muội.

8/Tất pháp tính tam-muội: Bồ-tát trụ tam-muội này có năng lực biết rõ tính các pháp và được định như hư không, không ai có thể trụ được, nhưng người được Thần túc thông thì có thể an trụ.

9/ Tất tràng tướng tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam-muội này có công năng nắm chắc các pháp tràng tam-muội, vì tam-muội này cao hơn các tam-muội.

10/ Kim cương tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam- muội này có năng lực và trí tuệ bền chắc như Kim cương.

11/ Nhập pháp ấn tam-muội: khi Bồ-tát trụ tam-muội này có năng lực nhập vào thật tướng các pháp.

12/ Tam-muội vương an lập tam-muội: khi trụ tam-muội này Bồ-tát an lập được tất cả tam-muội khác.

13/ Phóng quang tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam-muội này có năng lực phóng các thứ ánh sáng, chiếu soi tất các tam-muội.

14/ Lực tấn tam-muội: khi Bồ-tát trụ tam-muội này có sức tinh tấn tự tại đối với tam-muội, thường có thần thông hóa độ chúng sinh.

15/ Cao xuất tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát tăng tưởng tất cả phước đức trí tuệ; từ tâm Bồ-tát lưu xuất ra tính các tam-muội

16/ Tất nhập biện tài tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát có năng lực thuyết giảng tất cả các tam-muội, phân biệt thứ lớp ngôn ngữ của chúng sinh và tên kinh sách một cách vô ngại.

17/ Thích danh tự tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực giải thích danh từ các tam- muội và các pháp nghĩa giúp cho người hiểu được.

18/ Quán phương tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam-muội này có công năng xuất nhập các tam- muội khác một cách vô ngại tự tại, cho nên Bồ-tát dùng tâm thương xót bình đẳng quán xét căn cơ chúng sinh khắp 10 phương để cứu độ.

19/ Đà-la-ni ấn tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam-muội này có năng lực trì các tam-muội ấn, phân biệt các tam-muội.

20/ Vô cuống tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam- muội này không sanh các tà kiến vô minh: ái, sân… đều nhận biết rõ ràng các tam-muội khác.

21/ Nhiếp chư pháp hải tam-muội: khi Bồ-tát trụ tam-muội này thâu nhiếp các pháp Tam thừa đều vào trong tam-muội.

22/ Biến phú hư không tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát có thể dùng sức tam-muội khiến việc làm của mình trùm khắp hư không, như phóng ánh sáng hoặc phát âm thanh.

23/ Kim cương luân tam-muội: Bồ-tát trụ nơi tam-muội này có thể trì các tam-muội, đối với các pháp không ngăn ngại.

24/ Bảo đoạn tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam- muội này có năng lực đoạn trừ các cấu uế phiền não của các tam-muội.

25/ Năng chiếu tam-muội: khi Bồ-tát trụ nơi tam-muội này, có năng lực dùng trí tuệ chiếu soi các pháp.

26/ Bất cầu tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu soi các pháp như huyễn hóa, ái dục trong 3 cõi thảy đều đoạn trừ, không còn mong cầu gì nữa.

27/ Vô trụ tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu soi thấy rõ các pháp thay đổi liên tục không dừng trụ.

28/ Vô tâm tam-muội: khi Bồ-tát an trụ trong tam-muội này thì tâm vương và tâm sở không sinh khởi tác dụng.

29/ Tịnh đăng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực xa lìa các phiền não cấu uế, nhờ ngọn đèn trí tuệ chiếu soi.

30/ Vô biên minh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi rõ biết vô lượng pháp và căn cơ của chúng sinh khắp 10 phương vô biên thế giới.

31/ Năng tác minh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu soi thấy rõ các pháp.

32/ Phổ chiếu minh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu khắp các pháp môn và các tam-muội.

33/ Kiên tịnh chư tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực làm cho các tam-muội thanh tịnh bền chắc, không bị tất cả các pháp cấu uế làm nhiễm ô hư hoại.

34/ Vô cấu minh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực, gột sạch phá trừ các cấu nhiễm làm chướng ngăn tất cả các tam-muội

35/ Hoan hỷ tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát có năng lực phát sinh vô lượng vô biên pháp lạc.

36/ Điện quang tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát khôi phục lại được Bồ-đề đạo (chân tâm) đã bị quên mất từ lâu, như ánh chớp lóe lên để dẫn lối cho hành giả.

37/ Vô tận tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát đoạn được tình chấp về tướng vô thường v.v… của các pháp, liền nhập được lý chân thật bất sinh bất diệt.

38/ Oai đức tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát được vô lượng oai đức, tự tại trang nghiêm.

39/ Ly tận tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ- tát thấy được các tam-muội không có cùng tận và rõ suốt lý tương ưng với các thứ công đức quả báo trong vô lượng A-tăng-kì kiếp và xa lìa tất cả kiến chấp đoạn diệt.

40/ Bất động tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát biết được thật tướng các pháp một cách rốt ráo rỗng lặng. Khi ấy trí tuệ tương ưng với tam-muội, đối với tất cả tam-muội và các pháp đều có năng lực thụ dụng chứ không hý luận (nói suông).

41/ Bất thoái tam-muội: khi Bồ-tát trụ tam-muội này, thường không thoái chuyển.

42/ Nhật đăng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu soi các pháp môn và các tam-muội.

43/ Nguyệt tịnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát dùng trí tuệ thanh tịnh làm lợi ích chúng sinh, lại có năng lực phá tan các vô minh làm chướng ngăn các tam-muội.

44/ Tịnh minh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu rõ các pháp không còn chướng ngại.

45/ Năng tác tam-muội: khi trụ tam-muội này, thì tương ưng với trí Bát-nhã, có năng lực chiếu suốt rõ ràng các pháp môn tam-muội.

46/ Tác hành tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực phát khởi các tam-muội trước kia đã được.

47/ Trí tướng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát thấy trong tất cả các tam-muội có tướng trí tuệ chân thật.

48/ Như kim cương tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực phá trừ tất cả phiền não, kiết sử.

49/ Tâm trụ tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực nhiếp phục các sự tán loạn, tâm không động chuyển.

50/ Phổ minh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát thấy rõ sự tướng của các pháp, không còn bị mê lầm tăm tối, dùng sức thần thông chiếu khắp thế gian rõ ràng không ngăn ngại.

51/ An lập tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát an lập tất cả các công đức thiện pháp một cách vững vàng.

52/ Bảo tụ tam-muội: khi trụ nơi tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chuyển tất cả quốc độ của mình đều thành bảy báu.

53/ Diệu pháp tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát được các tam-muội pháp ấn thuộc công đức trí tuệ sâu xa nhiệm mầu của chư Phật, Bồ-tát.

54/ Pháp đẳng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực thấy rõ chúng sinh và tất cả các pháp thảy đều bình đẳng.

55/ Đoạn hỷ tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực xét các tướng: khổ, không, vô thường, vô ngã, bất tịnh, đối với tất cả thế gian tâm sinh nhàm chán, không khởi tư tưởng đắm trước.

56/ Đáo pháp đảnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực dùng sức phương tiện Bát- nhã đạt đến đỉnh núi pháp.

57/ Năng tán tam-muội: khi trụ tam-muội này, liền tương ưng với không tuệ, có năng lực phá tan các pháp.

58/ Phân biệt chư pháp cú tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực phân biệt lời lẽ, câu văn đối với tất cả các pháp, vì chúng sinh diễn nói, ngôn từ không bị ngăn trệ.

59/ Tự đẳng tướng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát quán xét ngôn ngữ văn tự thảy đều bình đẳng, đối với những lời la mắng, khen ngợi không có ưa ghét.

60/ Ly tự tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ- tát rõ suốt nghĩa chân như của các pháp mà không bị văn tự luận bàn làm chướng ngại, cho nên trong biển chữ nghĩa, tự nó không có sự tồn tại của văn tự vọng kiến; tức là trong văn tự kinh sách cũng có năng lực thấy ngay nghĩa chân thật để xa lìa sự chấp trước văn tự danh tướng.

61/ Đoạn duyên tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực ở trong cảnh vui cũng không khởi niệm vui mừng, trong cảnh khổ cũng không niệm oán hận, trong cảnh không khổ, không vui cũng đều xả bỏ dễ dàng, do xa lìa ba thọ, không còn đắm trước nên tâm diệt duyên đoạn.

62/ Bất hoại tam-muội khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực rõ biết tính các pháp rốt ráo rỗng lặng, hý luận không thể phá, vô thường cũng không thể chuyển.

63/ Vô chủng tướng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát rõ biết thật tướng các pháp mà không thấy có tướng để chấp lấy.

64/ Vô xứ hành tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực biết lửa của tam độc thiêu đốt chúng sinh trong 3 cõi, cho nên tâm không nương vào đó, biết Niết-bàn rốt ráo là không, cho nên tâm cũng không nương vào đó.

65/ Ly ám tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ- tát có năng lực phá trừ hết các vô minh vi tế ngăn che các tam-muội.

66/ Vô khứ tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát không thấy tướng đến đi của tất cả các pháp.

67/ Bất biến dịch tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực quán sát tất cả các pháp tam-muội đều không thấy có tướng biến dịch.

68/ Độ duyên tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát đối với các duyên phiền não trong 6 trần thảy đều diệt hết, có năng lực vượt qua biển lớn 6 trần, cũng là trí tuệ vượt qua tất cả các tam-muội duyên sanh.

69/ Tập nhất thiết công đức tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát tinh tấn tu tập tất cả thiện căn công đức, đầu đêm, cuối đêm không hề ngủ nghỉ.

70/ Trụ vô tâm tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát chỉ nương trí tuệ chân thật an trụ nơi thật tướng các pháp mà không theo vọng tâm.

71/ Tịnh diệu hoa tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực ở trong các tam-muội làm cho đóa hoa công đức bừng nở để trang nghiêm một cách tự tại.

72/ Giác ý tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ- tát làm cho các tam-muội hữu lậu biến thành vô lậu.

73/ Vô lượng biện tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát được vô lượng biện tài, giảng ý nghĩa một câu hoặc một danh từ, dù trải qua vô lượng kiếp cũng không hết.

74/ Vô đẳng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát quán chúng sinh và Phật bình đẳng, quán tất cả các pháp đều đồng với pháp Phật.

75/ Độ chư pháp tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực nhập vào 3 môn giải thoát, ra khỏi 3 cõi, hóa độ chúng sinh trong Tam thừa.

76/ Phân biệt chư pháp tam-muội: khi trụ tam- muội này, Bồ-tát có năng lực phân biệt các tướng trạng của các pháp: bất thiện, thiện, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi v.v…

77/ Tán nghi võng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực phá được lưới nghi và thấy rõ thật tướng của các pháp.

78/ Vô trụ xứ tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát thông đạt các pháp mà không bám chấp, không mắc kẹt bởi phép tắc tiêu chuẩn nhất định nào.

79/ Nhất tướng trang nghiêm tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực thấy rõ các pháp đều là một thể, không luận có tướng, không tướng hoặc tất cả pháp không, biết rõ lý “tất cả tức là một” và dùng trí tuệ nhất tướng để trang nghiêm tam- muội này.

80/ Sinh hạnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực quán các tướng: hành, nhập, trụ, xuất thảy đều là không.

81/ Nhất hạnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát chuyên một hạnh tương ưng với cái Không rốt ráo, không còn hành hạnh thứ lớp nào khác.

82/ Bất nhất hạnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, không thấy tướng riêng biệt của các tam-muội, từ nơi tam-muội này có thể tu hành các pháp quán khác.

83/ Diệu hạnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát không còn thấy hành tướng phức tạp của các tam-muội khác mà chỉ có một tam-muội tương ưng với Không rốt ráo, cho nên các hý luận đều không thể phá được tam-muội này.

84/ Đạt nhất thiết hữu để tán tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực dùng trí tuệ vô lậu thông đạt 3 cõi, cho đến tận cùng cõi Phi hữu tưởng phi vô tưởng, khiến tất cả các cõi có phiền não đều bị tan hoại.

85/ Nhập danh ngữ tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực biết rõ tên của tất cả chúng sinh, tất cả vật, tất cả pháp và tất cả ngôn ngữ.

86/ Ly âm thanh tự ngữ tam-muội: khi trụ tam- muội này, Bồ-tát quán các pháp thường vắng lặng không có âm thanh ngôn ngữ.

87/ Nhiên cự tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có thể dùng đèn trí tuệ chiếu sáng tất cả pháp, không còn mảy may lầm lạc lẫn lộn.

88/ Tịnh tướng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực thanh tịnh đầy đủ, trang nghiêm 32 tướng, lại có năng lực quán tướng chung và riêng của các pháp một cách đúng như thật và cũng có khả năng quán thật tướng thanh tịnh của các pháp.

89/ Phá tướng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát không thấy tướng tất cả pháp và cũng không thấy tướng các tam-muội.

90/ Nhất thiết chủng diệu túc tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực dùng các công đức trang nghiêm thiền định, khiến được thanh tịnh và đầy đủ diệu tướng.

91/ Bất hỷ khổ lạc tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có khả năng quán sự vui của thế gian gây nhiều lỗi lầm, nhiều tai họa, điên đảo hư vọng, không đáng ưa thích, quán nỗi khổ của thế gian như bệnh hoạn, như bị mũi tên cắm vào thân, nên tâm không ưa thích. Vì biết rõ các pháp vốn là hư dối nên đối với khổ vui đều không vướng mắc.

92/ Vô tận tưởng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực quán các pháp không đoạn không thường, không hoại, không tận.

93/ Đà la-ni tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực trì các tam-muội và các Đà-la-ni đều tự nhiên mà được.

94/ Nhiếp chư tà chánh tướng tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát đối với chúng sinh nhập chánh định tụ, tà định tụ, bất định tụ thảy đều không bỏ, một lòng nhiếp thấy họ mà không thấy có các tướng tà, chánh.

95/ Diệt tắng ái tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có thể diệt trừ các sự yêu ghét, đối với cảnh đáng vui cũng không yêu thích, cảnh ghét cũng không khởi tâm sân giận.

96/ Nghịch thuận tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực tự tại với đối với các pháp thuận nghịch, có năng lực phá tan các chúng sinh tà nghịch và có năng lực thuận theo tất cả chúng sinh có thể hóa độ, nhưng lại không bám chấp tướng thuận nghịch.

97/ Tịnh quang tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát đối với các tam-muội quang minh thanh tịnh và các phiền não cấu nhiễm đều không đắm chấp.

98/ Kiên cố tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ- tát đối với các pháp thật tướng tương ưng với trí tuệ thảy đều bền chắc như hư không, không thể phá hoại.

99/ Mãn nguyệt tịnh quang tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát được tịnh trí quang minh đầy đủ, diệt trừ lửa vô minh như : ái, sân giận v.v… công đức trong sạch làm lợi ích chúng sinh.

100/ Đại trang nghiêm tam-muội: khi trụ tam- muội này, Bồ-tát thành tựu đại trang nghiêm, thấy 10 thế giới nhiều như cát sông Hằng, dùng hoa hương 7 báu trang nghiêm cõi Phật. Tuy có những thứ công đức như thế tâm vẫn không đắm chấp.

101/ Năng chiếu nhất thiết thế tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực chiếu soi tất cả các pháp như: chúng sinh, trụ xứ, ngũ chúng….

102/ Tam-muội đẳng tam-muội: khi trụ tam- muội này, Bồ-tát có năng lực quán các tam-muội một cách bình đẳng, không thấy có sự cao thấp, quán tất cả pháp hữu vi đều là nhân duyên sanh, đều là bình đẳng với tướng tam-muội.

103/ Vô tránh hạnh tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát có năng lực đối với các pháp, thông đạt vô ngại, không chấp mỗi pháp có tướng nhất định, đối với chúng sinh cũng không tranh luận đẹp xấu, tùy theo tâm hạnh của họ mà nhiếp thọ cứu độ.

104/ Vô trụ xứ tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát không thích trụ thế gian, vì thế gian là vô thường; cũng không trụ phi thế gian, vì chẳng chấp Không.

105/ Quyết định an trụ Chân như tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát biết tướng như thật của tất cả các pháp, không thấy có pháp nào hơn pháp nào.

106/ Hoại thân tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát dùng sức trí tuệ phá trừ sắc thân, các tướng suy nhờ đó tự nhiên hoại diệt.

107/ Hoại ngữ như hư không tam-muội: khi trụ tam-muội này, Bồ-tát thấy rõ các ngôn ngữ đều nương âm thanh mà có, như hư không, như huyễn hóa, do đó không khởi niệm yêu ghét,

108/ Ly trước hư không bất nhiễm tam-muội: Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, quán các pháp rốt ráo là Không, không sanh, không diệt, giống như hư không; tuy chứng được tam-muội nhưng không đắm nhiễm tướng hư không của nó.

Theo Luận Đại Trí Độ 5 (108 tam-muội. Ở đây chỉ trích tóm lược trong tđphhq t.208)

(2) Ngũ đình tâm quán: năm pháp quán để trừ phiền não mê lầm. 1/ Quán bất tịnh. 2/ Quán từ bi. 3/ Quán duyên khởi (12 nhân duyên). 4/ Quán vô ngã (quán 18 giới do hòa hợp để phá trừ ngã chấp). 5/ Quán sổ tức.

(3) 62 thứ tà kiến: sáu mươi hai kiến giải sai lầm mà các phái ngoại đạo ở Ấn Độ thời xưa chấp trước. Có nhiều thuyết khác nhau.

Theo Kinh Niết-bàn 23 (bản nam) từ 5 kiến sinh ra 62 kiến. Đại Bát Niết Bàn, Kinh Hội Sớ 23 của ngài Quán Đảnh giải thích: ngã kiến có 56 kiến: gồm 5 uẩn ở cõi dục, mỗi uẩn có 4 kiến, cộng thành 20 kiến; 5 uẩn ở cõi sắc cũng có 20 kiến, 4 tâm ở cõi vô sắc, 1 tâm đều có 4 kiến cộng thành 16 kiến. Biên kiến có 6, tức là cả 3 cõi mỗi cõi đều có chấp đoạn và thường. Tổng cộng ngã kiến và biên kiến thành 62 kiến.

Theo Tạng giáo của Tông Thiên Thai các Sư giải thích là đối với Ngã kiến có 20 loại thành 62 kiến: 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) x 4 câu: (chấp Sắc là ngã; Lìa sắc mà có ngã; Sắc là đại, ngã là tiểu, ngã trụ trong sắc; Ngã là đại, sắc là tiểu, sắc trụ trong ngã). Cộng thành 20 kiến x 3 đời: (quá khứ, hiện tại, vị lai) = 60 kiến + 2 kiến (Đoạn và Thường) = 62 kiến.

(4) Tuệ giải: trí tuệ vô lậu có năng lực đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng.

(5) Vô sư trí: trí tuệ sẵn có, do tự tu mà được khai phát, không nhờ người khác dạy dỗ.

(6) Lục căn thanh tịnh: 6 căn trong sạch sáng suốt, không bị vọng niệm ô nhiễm. Tông Thiên Thai nói Giai vị Thập tín trong Biệt giáo là Lục căn thanh tịnh.

(7) Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo (37 phẩm trợ đạo)

(8) Bách thiên vạn ức Diên đà-la-ni, Pháp âm phương tiện Đà-la-ni và Triền đà-la-ni: trong phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Khuyến Phát trong Kinh Pháp Hoa, ba loại này phối hợp với ba quán Không, Giả, Trung. Đà-la-ni còn gọi là Tổng trì, Năng trì, Năng giá. Nghĩa là năng lực của trí tuệ tóm thâu, gìn giữ vô lượng Phật pháp không để quên sót. Ngoài ra Đà- la-ni còn có năng lực giữ gìn các pháp thiện, ngăn chặn pháp ác. Vì Bồ-tát lấy hạnh lợi tha làm đầu, muốn giáo hóa người khác cần phải chứng được Đà-la-ni, chứng đắc Đà-la-ni thì không quên mất vô lượng Phật pháp, từ đó ở giữa đông người không e sợ mà còn có khả năng thuyết pháp giáo hóa một cách tự tại.

(9) Chín mươi sáu pháp quỷ thần: 96 phái ngoại đạo xuất hiện ở Ấn Độ trước và sau khi Phật tại thế. Về số lượng phái ngoại đạo, tuy có nhiều thuyết khác nhau nhưng chỉ có 2 thuyết nêu lên 96 hay 95 phái là được đề cập nhiều nhất. Trong các kinh luận có một số thuyết nói: Lục sư ngoại đạo: Phú-lan-na ca-diếp, Mạt-già-lê câu-xa-lê-tử, San-xà-dạ tỳ-la- chi-tử, A-kỳ-đa-si-xá khâm-bà-la. Ca-la-cưu-đà ca- chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử. Mỗi vị có 15 đệ tử, cộng chung là 96 người. Vì 6 phái này có 16 pháp sở học; trong đó 1 pháp tự học, còn 15 pháp kia mỗi pháp dạy cho 1 đệ tử, thầy và trò cộng lại là 96 pháp. Năm ngoại đạo lớn: Số luận, Thắng luận, Ly hệ, Thú xuất và Biến xuất. Mỗi chi phái có 18 bộ, tổng cộng là 95 phái.

(10) Bất thoái pháp: không thoái chuyển. Chỉ sự tu hành không lui sụt cho đến khi thành Phật. Còn hàng thoái pháp tức là chỉ cho sự lui sụt rơi vào đường ác hoặc Nhị thừa. Bất thoái vị còn gọi là bất thoái chuyển địa. Trong giai vị Tứ thiện căn của Hữu bộ, đến Nhẫn vị thì không còn rơi vào đường ác, được xếp vào Bất thoái vị.

(11) Chân vô lậu (Chân vô lậu trí): Trí vô lậu của Phật và Bồ-tát. Trí vô lậu của hàng Nhị thừa chưa được gọi là Chân vô lậu, vì trí này chưa đoạn được pháp chấp và sở tri chướng.

***

B. THỂ NGHIỆM CĂN TÍNH ÁC

Có bốn ý :

I- Số lượng phiền não

II- Căn tính Ác phát sinh

III- Lập phương pháp đối trị

IV- Tổng kết thành Tứ tất-đàn(1) quảng nhiếp Phật pháp

I- SỐ LƯỢNG PHIỀN NÃO

Phiền não: Kinh Niết Bàn ghi: “Phiền não tức là pháp ác”. Nếu đem ra luận đủ thì có rất nhiều danh từ, nay chỉ giải thích tóm lược năm thứ ác pháp bất thiện, nếu đem ra mổ xẻ phân tích thì có vô lượng.

Năm thứ bất thiện pháp:

– Giác quán bất thiện pháp

– Tham dục bất thiện pháp

– Sân khuể bất thiện pháp

– Ngu si bất thiện pháp

– Ác nghiệp bất thiện pháp

Nếu phân chia rộng ra thì có tám vạn bốn ngàn thứ (8400), luận về căn bản phiền não, chỉ có Tam độc đẳng phần. Nếu đem năm pháp bất thiện này chia làm bốn phần phiền não, thì tam độc (tham, sân, si) thành ba phần, thuộc về Tập nhân, hai thứ bất thiện là Giác quán và Ác nghiệp chướng đạo, hợp lại thành một phần.

Vì sao? Vì Giác quán bất thiện pháp là do ba phần phiền não (tham, sân, si) phát sinh, cũng có thể gọi là Tập nhân đẳng phần; còn Ác nghiệp chướng đạo thuộc về Báo nhân đẳng phần, do gộp chung hai thứ Tập nhân và Báo nhân để giải thích, nên chỉ nói là một Đẳng phần.

Năm loại bất thiện pháp, nếu nói tổng quát chỉ có bốn phần, luận rộng ra thì có tám mươi bốn ngàn (84.000), như trong luận Ma Ha Diễn ghi: “Tham dục phiền não tổng cộng có hai mươi mốt ngàn thứ (21.000). Sân phiền não tổng cộng có hai mươi mốt ngàn (21.000) Ngu si phiền não tổng cộng có hai mươi mốt ngàn thứ (21.000). Đẳng phần phiền não tổng cộng có hai mươi mốt ngàn thứ (21.000)”. Bốn phần phiền não gộp lại tổng cộng có tám mươi bốn ngàn thứ (84.000) phiền não trần lao nên Phật thuyết tám mươi bốn ngàn pháp môn để đối trị, hiện nay chỉ lấy năm thứ ác pháp bất thiện, để luận về tướng Ác căn tính khai phát.

Vì sao? Vì phần trước giải thích tướng Thiện căn tính khai phát, cũng dùng năm thứ để luận, hiện nay giải thích về Ác căn tính phát, đâu phải chỉ căn cứ năm pháp bất thiện mà luận? Vì đây là thuốc và bệnh đối nhau, pháp tướng đồng nhau. Hành giả muốn tu thiền định, cần phải khéo phân biệt rành rõ.

II- CĂN TÍNH ÁC PHÁT SINH

Có người khi tu thiền định, do tội lỗi và phiền não quá sâu nặng, tuy tâm dừng trụ nơi vắng lặng như đã giải thích ở phần trước, nhưng các thiện pháp trong và ngoài đều không có khai phát chút nào, chỉ thấy các phiền não dấy khởi. Cho nên nay giải thích trường hợp Ác căn tính khai phát, trong pháp ác khai phát, lại đưa ra năm thứ bất thiện để giải thích:

Trong một pháp bất thiện có ba trường hợp, ba nhân với năm thứ thì gồm có mười lăm pháp bất thiện.

Nếu luận về khi hành giả phát khởi pháp bất thiện, không nhất định phải theo thứ tự. Nay theo giáo môn thì y nơi thứ tự mà phân tích đầy đủ như nói ở phần trước.

1. Tướng giác quán (suy tính) khai phát

Có ba thứ:

a) Giác quán lanh lợi trong tâm khai phát

Nếu đời quá khứ hành giả không gieo trồng thiện căn, trong lúc tu thiền định các pháp thiện không khai phát, mà chỉ thấy nội tâm lăng xăng, niệm niệm không dừng, chỗ phan duyên của Tam độc cũng không cố định, có khi duyên niệm tham, có lúc duyên niệm si, có lúc duyên niệm sân. Đối với chỗ niệm khởi phan duyên rất rõ ràng, tuy phan duyên như thế dù trải qua nhiều năm tháng, mà các thiền định chẳng khai phát. Đây gọi là tướng Giác Quán lanh lợi trong nội tâm khai phát.

b) Giác Quán nửa tỉnh nửa hôn trầm phát

Nếu trong lúc hành giả thu nhiếp tâm niệm, tuy biết được phiền não giác quán, niệm niệm không dừng, khi theo duyên, hoặc sáng hoặc mờ tối, lúc tỉnh sáng thì Giác Quán phan theo duyên, nghĩ nhớ lăng xăng không dừng, lúc hôn trầm thì vô ký mờ mờ không biết rõ, nên gọi là Tướng Giác Quán nửa tỉnh nửa hôn trầm phát.

c) Giác Quán trong tâm hôn trầm phát

Nếu hành giả trong khi tu thiền định, tuy tâm lờ mờ giống như trong lúc ngủ say, trong chỗ lờ mờ đó Giác Quán lăng xăng phan theo duyên không dừng trụ, đây gọi là Tướng phiền não Giác Quán trong tâm hôn trầm phát.

2. Tướng Tham dục khai phát

Có ba tướng trạng khai phát

a) Ngoại tham dục phiền não phát

b) Ngoại nội tham dục phiền não phát

c) Nhất thiết xứ tham dục phiền não khởi

a) Ngoại tham dục phiền não phát

Lúc hành giả tu thiền định, tâm tham dục phát sinh, hoặc người nam khởi tham muốn người nữ, hoặc người nữ khởi tham muốn người nam, đắm chấp hình dáng, ngôn ngữ, cử chỉ, nội tâm sinh khởi nhiễm ô, niệm niệm không dừng trụ. Đây là tướng phiền não ngoại tham dục.

b) Ngoại nội tham dục phiền não phát

Trong lúc hành giả tu thiền định, tâm dục bị phát động, thấy hình dáng, oai nghi thư thái, sắc thần xinh đẹp, bèn khởi lòng tham ái yêu mến, hoặc lại yêu mến sắc thân của mình nên chải chuốt trang điểm, niệm niệm đắm chấp, sinh khởi các tâm tham ái, gây chướng ngại thiền định. Đây là tướng phiền não tham dục nội và ngoại.

c) Nhất thiết xứ tham dục phiền não khởi

Khi hành giả tu thiền định, không những tham dục cả nội và ngoại mà đối với tất cả cảnh giới của ngũ trần, thân thể và của cải v.v…cũng đều khởi tâm tham ái, hoặc tham muốn ruộng vườn, nhà cửa, áo quần và các vật thực ăn uống v.v… đối với tất cả các thứ đều khởi tâm tham muốn.

3. Tướng Sân hận khai phát

Có ba trường hợp

a) Phi lý sân

b) Thuận lý sân

c) Tranh luận sân

a) Phi lý sân

Khi hành giả tu thiền định, niệm sân hận tự nhiên phát khởi, dù có ai xâm phạm hay không xâm phạm, hoặc đúng lý hay không, tóm lại không có xảy ra việc gì mà tâm cũng tự nhiên khởi niệm sân giận. Đây là hiện tượng tà sân trái lý.

b. Thuận lý sân

Lúc hành giả tu thiền định, có người đến nhiễu loạn, vì thế hành giả liền khởi tâm sân giận, niệm sân giận dấy khởi không dừng, cũng ví như người trì giới luật, thấy người làm điều phi pháp, liền khởi tâm sân giận. Như trong Ma Ha Diễn ghi: “Trong cõi Phật thanh tịnh, tuy không có người tà, tham, sân, si, nhưng lại có tham sân si chân chánh”, nay nói Thuận lý chánh sân, chính là hạng người nầy vậy.

c) Tranh luận sân

Lúc hành giả tu thiền định, chấp pháp mình hiểu biết là đúng là phải, cho việc làm và lời nói của người khác là sai, nếu ý kiến người khác nói mà không thuận theo ý của mình liền nổi giận. Có những người ở thế gian, dù bị người ngoài chiếm đoạt tiền bạc, vật chất cũng có thể an nhẫn, nhưng nếu tranh luận một ý kiến mà không hợp ý liền nổi sân giận, quyết không cùng người ấy giao thiệp. Đây gọi là tướng tranh luận sân giận phát.

4. Tướng Ngu si khai phát

Có ba trường hợp:

a) Si chấp đoạn, thường

b) Si chấp có, không

c) Si chấp tính thế gian

Ba tướng này đều thuộc về chấp tà kiến, không thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, cho nên gọi chung là ngu si.

a) Si chấp đoạn thường

Trong khi hành giả tu thiền định, bỗng phát khởi tư tưởng sai lầm, nội tâm phân biệt linh lợi, họ nghĩ rằng: “Đời trước của ta và các pháp diệt rồi, đời nay mới có trở lại hay là do không diệt, mà lại có?”.

Do suy nghĩ nên tâm tri kiến liền khởi truy tìm cả ba đời, nếu hành giả cho là diệt hết, liền rơi vào Đoạn kiến, nếu cho là không diệt, liền rơi vào Thường kiến. Những niệm ngu si như thế dấy khởi liên tục, vì thế phát sinh tà trí rất linh lợi, nhạy bén, suy xét mau chóng, có biện tài thông suốt, lý luận tranh cãi, tạo nhiều ác hạnh, chướng ngại chánh định xuất thế gian. Đây là tướng si chấp Đoạn kiến và Thường kiến khai phát.

b) Si chấp có không

Trong khi hành giả tu thiền định, bỗng khởi niệm tư duy phân biệt, tâm nghĩ: “Hiện tại ta và năm ấm nhất định là Có hay là Không hoặc là chẳng có, chẳng không?”. Do hành giả suy tầm như thế, tâm tri kiến liền phát, tùy theo chỗ thấy để kết luận, rồi sinh tâm chấp trước, do chỗ thấy biết tà kiến, niệm niệm không dừng, phát sinh tà trí rất linh lợi, bén nhạy, lý luận tranh cãi, dấy khởi tà hạnh làm chướng ngại chánh định không được khai phát. Đây là tướng si chấp Có chấp Không phát.

c) Si chấp tính thế gian

Trong lúc tu thiền định hành giả chợt suy nghĩ, “Do có vi trần tích tụ cho nên mới có các pháp, có các pháp liền có tứ đại, do có tứ đại mà có tên gọi chúng sinh và thế giới”? Do hành giả tư duy như thế, niệm niệm trong nội tâm dấy khởi liên tục, cho nên phát sinh trí biện tài linh lợi, có thể vấn nạn và đối đáp với người khác, tâm cao ngạo tranh chấp phải quấy, chuyên làm hạnh tà, xa đạo chân thật, thậm chí tâm suy nghĩ phân biệt từng sát-na cũng như thế, do những nguyên nhân ấy, nên hành giả không chứng được các thiền định, giả sử có phát thiền định, cũng rơi vào tà định. Đây là tướng si chấp tính thế gian phát.

5. Nghiệp ác gây chướng đạo

Có ba thứ:

a) Hôn trầm che chướng

b) Ác niệm tư duy chướng

c) Cảnh giới bức bách chướng

a) Hôn trầm che chướng

Lúc hành giả dụng tâm tu thiền định, liền bị hôn trầm mờ tối không nhớ không biết gì, làm chướng ngại thiền định không được khai phát. Đây là tướng hôn trầm mờ tối ngăn chướng phát.

b) Ác niệm tư duy chướng

Khi hành giả muốn tu thiền định, tuy không bị hôn trầm mờ tối, nhưng những ác niệm bất thiện sinh khởi, hoặc nghĩ muốn tạo mười nghiệp ác, tội ngũ nghịch, muốn phá giới hoàn tục, trong nội tâm luôn luôn suy nghĩ không chút dừng dứt, vì thế gây chướng ngại các thiền định không được khai phát. Đây là tướng suy nghĩ niệm ác phát sinh chướng.

c) Tướng cảnh giới bức bách

Trong lúc hành giả tu thiền định, tuy không có xảy ra hai trường hợp như ở trên, nhưng thân thể bỗng nhiên đau nhức, hoặc có cảm giác bức bách khó chịu, hoặc mộng thấy, hoặc trong thiền định bỗng thấy người không đầu không tay chân, không mắt v.v… hoặc thấy áo quần rách nát, hoặc rơi vào hầm hố, hoặc thấy lửa thiêu đốt thân thể mình, hoặc thấy mình rơi từ trên bờ núi cao xuống, hoặc thấy bị kẹp giữa hai vách núi, hoặc gặp quỷ La-sát, hổ, sói v.v… Hoặc mộng thấy các hiện tượng xấu ác, những việc như thế, đều do những tội lỗi gây chướng đạo phát khởi bức bách hành giả, khiến hành giả lo sợ, hoặc sinh khổ não, những sự việc như thế rất nhiều không thể nói hết.

Nay đem năm pháp bất thiện này, gom lại thành ba thứ chướng đạo:

– Tham, Sân, Si: tức là Tập nhân phiền não chướng.

– Pháp giác quán não loạn trong phiền não đẳng phần: tức là bốn ấm thô, gọi là Báo chướng.

– Ác nghiệp chướng đạo: tức là Nghiệp chướng. Làm sao biết là chướng? Bởi vì đời quá khứ tạo nghiệp ác, vị lai phải chịu quả báo ác, do nghiệp giả chưa thọ quả báo, trở lại tu pháp thiện, do tính chất của ác và thiện chống trái nhau, nên nghiệp lực trợ giúp cho pháp ác dấy khởi để gây chướng ngại pháp thiện. Đây gọi là Nghiệp chướng.

– Ba loại: Tập nhân, Báo chướng và Nghiệp chướng này gây chướng ngại thiền định và trí tuệ của hành giả, khiến không được khai phát, nên gọi là Chướng.

III- PHƯƠNG PHÁP ĐỐI TRỊ

Đối: nghĩa là chủ yếu nhằm vào đối tượng. Trị: nghĩa là trị liệu.

Thí dụ như dùng pháp quán bất tịnh, chủ yếu là đối trị bệnh tham đắm sắc dục, nên gọi là đối trị. Cho đến các phương pháp niệm Phật tam muội v.v… cốt yếu là dùng để đối trị Ác nghiệp chướng đạo.

Nay giải thích pháp đối trị, có sáu thứ chẳng đồng

1/ Đối trị trị

2/ Chuyển trị

3/ Không chuyển trị

4/ Kiêm trị

5/ Kiêm chuyển, kiêm không chuyển trị

1. Giải thích đối trị trị

Trong hai căn tính thiện và ác khai phát đã giải thích ở phần trước, mỗi căn tính đều có mười lăm trường hợp, nay trong pháp đối trị này cũng có mười lăm thứ.

HỎI: Như vậy đâu chẳng phải là giải thích rườm rà lắm sao?

ĐÁP: Không phải như thế, phần trước là mười lăm trường hợp kiểm nghiệm để biết, hiện nay là mười lăm phương pháp dùng đối trị, phần trước là mười lăm pháp thiện do chính mình khai phát, hiện nay là mười lăm phương pháp tu tập, cho nên không giải thích rườm rà để khỏi bị trùng lập.

a) Trị bệnh nhiều giác quán (vọng niệm)

Như trong kinh có ghi: “Người có bệnh giác quán nhiều, dạy họ tu pháp Sổ tức”, bệnh của giác quán có ba thứ, pháp quán Sổ tức cũng có ba thứ đối trị.

a.1. Đối trị Tâm giác quán lanh lợi:

Hành giả trong lúc tọa thiền, tâm linh lợi phan duyên, niệm niệm không dừng.

Phương pháp đối trị là dạy họ tu pháp Sổ tức để đối trị. Vì pháp Sổ Tức nghĩa là buộc tâm nơi hơi thở, là phương thuốc rất tốt dùng đối trị tâm loạn động, nếu hành giả đếm từ một đến mười, mà không quên nửa chừng, thì có thể nhập định, phương pháp này có công năng phá trừ tâm loạn tưởng. Pháp đếm hơi thở này có thể khiến cho nội tâm yên ổn để nhớ số đếm chặt chẽ, do nội tâm yên ổn nên mới có thể đối trị tâm linh lợi loạn tưởng, cho nên pháp Sổ Tức có công năng trừ bệnh nội tâm giác quán linh lợi.

a.2. Đối trị giác quán nửa tỉnh nửa hôn trầm

Bệnh nầy phần trước có nói.

Phương pháp đối trị là dùng pháp Tùy tức. Tùy tức nghĩa là theo dõi hơi thở ra vào, tâm duyên nơi hơi thở, do duyên theo hơi thở nên hơi thở thô thì tâm thô, nếu hơi thở nhẹ thì tâm cũng rất vi tế, hơi thở ra vào nhè nhẹ và vi tế, đoạn dứt tâm phan duyên, có thể phá trừ bệnh giác quán. Do tâm đứng lặng sáng suốt, nhận biết hơi thở ra vào dài hay ngắn rất rõ ràng, vì quán chiếu được rõ ràng nên có thể phá trừ hôn trầm. Vì thế mới nói dùng phương pháp Tùy tức để đối trị bệnh nửa tỉnh nửa mê, nếu hành giả chỉ dùng mãi một pháp sổ tức thì có lỗi thêm hôn trầm, hoặc chỉ dùng mãi một pháp quán hơi thở cũng bị dao động, cho nên hành giả phải khéo léo dùng hai phương pháp này để đối trị bệnh cho thích hợp.

a.3. Đối trị tâm giác quán hôn trầm

Tướng trạng giác quán của hôn trầm như phần trước đã nói qua.

Phương pháp đối trị là dùng pháp quán hơi thở, trong lúc hơi thở ra vào, phải xét kỹ hơi thở từ chỗ nào đến, khi thở ra thì đi về đâu, khi hít vào thì đến chỗ nào, ngay lúc hơi thở từ miệng ra cũng quán như thế, phương pháp này phần sau sẽ nói tỷ mỉ hơn. Nếu hành giả truy tìm tận nguồn gốc của hơi thở ra không phân tán, hơi thở vào không tích tụ, chẳng thấy có hình tướng cố định. Do quán chiếu được sáng suốt, trí tuệ liền khai mở, phá tan hôn trầm; nội tâm vắng lặng nương theo hơi thở, có thể phá trừ tâm tán loạn, cho nên dùng pháp quán hơi thở để trị bệnh hôn trầm và giác quán.

b) Trị bệnh tham dục

Trong kinh có nói, “Người tham dục nhiều, dạy họ pháp quán bất tịnh”, bệnh tham dục có ba thứ, vì thế có ba pháp đối trị.

b.1. Trị ngoại tham dục

Lý do bệnh này là tham đắm hình dung oai nghi, lời nói, sắc đẹp bề ngoài cho nên lửa dục thiêu đốt tâm tư không dừng.

Phương pháp đối trị là phải dạy phương pháp Cửu tưởng quán, như hành giả quán tưởng xác chết trong nghĩa địa, đồng thời cũng quán cảnh giới mà mình yêu thích, như xác chết nằm trên mặt đất, sình chướng, tan rã, máu huyết chảy ra, nước giải phân uế tràn trên đất, ruồi nhặng bu đầy, lúc ấy hành giả quán tưởng thân thể người nam hoặc nữ mà mình say đắm yêu mến cũng như xác chết thì có chỗ nào đáng yêu mến. Hành giả quán tưởng như thế, tâm dâm tự diệt dứt. Cho nên phương pháp Cửu tưởng quán có công năng đối trị bệnh tham ái tham muốn ngoại cảnh.

b.2. Trị nội ngoại phiền não tham dục

Bệnh phiền não tham dục phát sinh đã giải thích phần trước rồi.

Phương pháp trị bệnh này nên dạy họ tu quán pháp Sơ bối xả v.v… Tức là hành giả quán thân thể của mình nhơ nhớp bất tịnh, giống như xác chết, rất nhờm gớm, như vậy có thể phá trừ tâm tham ái ở thân. Lại phải quán thân bất tịnh của người khác nhơ nhớp như phần trước, tức là trừ tham ái đối với ngoại cảnh. Đây gọi là Sơ bối xả, phương pháp quán bất tịnh trong nội thân và ngoài thân, có thể phá trừ bệnh tham dâm và tâm yêu thích ở trong và ngoài.

b.3. Trị tham dục nhất thiết xứ

Tướng bệnh tham dục phát sinh như đã nói phần trước.

Phương pháp trị bệnh này nên dạy họ tu pháp quán tất cả chỗ đều bất tịnh. Nghĩa là quán tưởng các pháp và thân thể của mình, hoặc người nam người nữ, ruộng vườn, nhà cửa, áo quần, đồ ăn uống và tất cả đồ vật có ở thế gian v.v… thảy đều bất tịnh, không có chỗ nào hay vật gì có thể khiến tâm sinh khởi tham ái, lúc này tâm hành giả đối với tất cả các thứ vật chất cảm thấy nhàm chán xa lìa thì tâm tham dục không còn sinh khởi. Đây pháp đối trị bệnh tham dục tất cả chỗ.

c) Trị bệnh sân hận

Như trong kinh điển có ghi: “Người sân hận nhiều, nên dạy họ dùng phương pháp quán tâm từ để đối trị”. Bệnh sân có ba loại, phương pháp đối trị cũng có ba thứ.

c.1. Trị tâm sân: Tâm sân tức là tâm niệm luôn nghĩ nhớ những việc phi lý cả ngày lẫn đêm, muốn tìm cách để hãm hại người khác, tướng trạng tâm sân phát sinh như nói phần trước.

Phương pháp đối trị phải bảo họ dùng pháp quán Chúng sinh duyên Từ. Nghĩa là trước tiên hành giả nghĩ tưởng đến một người thân mà mình thương mến nhất, muốn họ được vui vẻ, trong thiền định hành giả thấy người thân được sung sướng vui vẻ, kế tiếp là nghĩ đến bạn bè được vui vẻ, cuối cùng là những kẻ oán thù cũng đều được sung sướng vui vẻ. Do tâm hành giả muốn chúng sinh được sung sướng, nên khởi tâm yêu mến họ, có thể phá trừ tâm sân não, oán hận đối với tất cả chúng sinh.

c.2. Trị chánh sân: Chánh sân tức là lúc bình thường thì không khởi tâm sân, nhưng thấy ai làm điều xấu ác, hay phạm giới v.v… liền dấy khởi tâm sân hận. Trường hợp bệnh chánh sân phát sinh, phần trước đã giải thích qua.

Phương pháp đối trị, nên dạy họ tu Pháp duyên từ. Nghĩa là phương pháp quán chiếu 5 uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều là hư dối chẳng thật, không thấy có chúng sinh, nếu không có chúng sinh thì đâu có những việc trì phạm, phải quấy? Tâm hành giả chỉ muốn đem niềm vui của Phật pháp ban cho mọi người, đối với mọi người đều sinh tâm thương mến, không nên để chúng sinh tăng thêm phiền não. Khi tâm phải quấy đã hết, tâm sân hận liền dứt. Thế nên thực hành pháp quán của Pháp duyên từ có thể đối trị bệnh Sân thuận lý.

c.3. Trị tranh luận sân hận: Trường hợp bệnh này phát phần trước đã giải thích qua.

Phương pháp đối trị nên dạy họ tu pháp quán Vô duyên từ, vì sao? Nhân vì hành giả này chấp theo chỗ thấy biết của mình là đúng, cho quan điểm của người khác là sai lầm, nếu đồng quan điểm của mình, tâm sinh vui vẻ, nếu trái quan điểm của mình liền sinh tâm sân giận. Có hành giả chấp Tứ cú (Có, Không, Cũng có cũng không, Chẳng có chẳng không), hoặc lại chấp Trung đạo, những lý luận đều có chỗ y cứ, nên có nguyên nhân để tranh luận, do cố chấp khiến tâm khởi sân giận, phương pháp đối trị là tu pháp Vô duyên từ. Lúc thực hành phương pháp này, tất cả ngôn ngữ đều dứt bặt, tâm niệm dừng diệt, đối với các pháp chẳng nên nghĩ nhớ. Nếu không nghĩ nhớ thì nhân đâu tranh luận khiến tâm sân giận? Tâm từ bao la rộng lớn và bình đẳng, đồng với niềm an lạc thanh tịnh sẵn có, lúc ấy tự nhiên không còn tâm niệm muốn não hại chúng sinh, cho nên tâm Từ có công năng ban cho chúng sinh niềm an lạc. Cũng có thể nói “Bồ-tát vì thương xót chúng sinh nên nói pháp môn Vô duyên từ”, còn gọi là Đại Từ. Nên biết tu Vô duyên từ có thể đối trị các bệnh sân giận do tranh luận.

d) Trị bệnh ngu si

Như trong kinh có ghi: “Người ngu si nhiều, dạy quán nhân duyên”.

HỎI: Pháp quán Thập nhị nhân duyên nghĩa lý rất sâu mầu, vì sao người ngu si lại dạy tu pháp quán nhân duyên?

ĐÁP: Nói ngu si, chẳng phải ngu như các loại động vật trâu, bò v.v… mà chỉ đề cập về những người có căn tính thông minh, linh lợi, phân biệt suy lường, nhưng trí tuệ không được chân chánh, tâm chấp lý tà gọi là ngu si. Bệnh ngu si có ba loại, pháp đối trị cũng có ba thứ.

d.1. Đối trị bệnh Đoạn kiến và Thường kiến

Do hành giả chấp những tư tưởng tà, hoặc khởi Thường kiến hoặc Đoạn kiến, chấp rằng không có đạo lý nhân quả, tướng trạng tà tri kiến này phần trước đã giải thích.

Phương pháp đối trị, phải dạy tu quán Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên) cả ba đời.

– Đời quá khứ có hai: Vô minh và Hành.

– Hiện tại có tám: Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ và Hữu.

– Đời vị lai có hai: Sinh và Lão Tử.

Đây là Mười hai nhân duyên xoay vần cả ba đời làm nhân quả lẫn nhau, chẳng thường hằng, cũng không đoạn dứt, như bài kệ trong kinh có ghi:

Bản ngã chân thật trong Phật pháp

Tự tính tuy Không mà chẳng đoạn

Niệm niệm nối tiếp mà chẳng thường

Quả báo thiện ác cũng chẳng mất

Nếu hành giả khéo quán 12 nhân duyên, do không còn chấp Thường, không chấp Đoạn thì tâm tà kiến liền diệt dứt. Phương pháp này cũng dùng để đối trị phá trừ mê lầm Tương Tục Giả(2).

d.2. Đối trị bệnh si chấp có và không

Hành giả khởi tà niệm tư duy chấp có ngã hay không ngã, có 5 ấm hay là không có 5 ấm v.v… như phần trước đã giải thích qua.

Pháp đối trị là dạy họ dùng pháp quán quả báo 12 nhân duyên. Quả báo Mười hai nhân duyên tức là quán hiện tại trong thời gian ở trong thai mẹ mới bảy ngày (ca-la-la), gọi là Vô minh, cho đến Sinh, Lão Tử v.v… hiện tại tạo thành 5 ấm, 12 nhập, 18 giới đều từ nhân duyên phát sinh, trong thời gian ca-la-la có ba việc:

– Sinh mạng

– Noãn (trứng)

– Thần thức

Ba điều kiện này hợp thành gọi là Vô minh, vô minh đã từ nhân duyên sinh, nhưng nhân duyên vốn không có tự tính, nên không thể nói có hoặc nói không, cho đến mỗi thứ trong Mười hai nhân duyên cũng đều như thế.

Nếu hành giả hiểu rõ đạo lý tự tính chẳng phải không, chẳng phải có, liền phá trừ bệnh chấp hai bên, nên biết phương pháp quán quả báo của Mười hai nhân duyên có thể đối trị bệnh chấp Có chấp Không và cũng có thể dùng phương pháp này để đối trị phá trừ mê chấp Nhân Thành Giả(3).

d.3. Đối trị thế tính ngu si

Hành giả chấp vật cực nhỏ có thể sinh ra muôn pháp, tri kiến sai lầm này gọi là “Kế thế tính” như phần trước đã giải thích qua.

Phương pháp đối trị là tu pháp quán một niệm mười hai nhân duyên, vì sao? Vì hành giả quán trong một niệm có đầy đủ mười hai thứ nhân duyên, mà một niệm này chẳng phải mười hai nhân duyên, mười hai nhân duyên cũng chẳng phải một niệm này, nay đem một niệm để nói đủ mười hai nhân duyên, cũng từ mười hai nhân duyên để nói một niệm, nên biết một niệm vốn không có tự tính nhất định, mà đã không nhất định thì (Thế tính) cũng không thể được. Cho nên dùng pháp quán một niệm mười hai nhân duyên để phá si chấp sai lầm. Phương pháp quán một niệm mười hai nhân duyên này phần nhiều dùng để phá chấp thấy một và khác (nhất dị kiến), cũng có thể dùng để phá trừ chấp mê lầm Tương Đãi Giả(4).

e) Trị bệnh nghiệp ác gây chướng đạo

Như trong kinh điển có ghi: “Chướng ngại đạo nên dạy tu pháp niệm Phật”. Chướng đạo có ba thứ cho nên cũng có ba phương pháp đối trị.

e.1. Trị hôn trầm chướng ngại thiền định

Trường hợp bệnh hôn trầm phần trước đã giải thích qua.

Pháp đối trị là dạy họ tu quán Ứng thân Phật, trong ba mươi hai tướng(5) của Phật tùy ý chọn lấy một tướng. Ví dụ như quán tướng lông trắng giữa chặn mày của Phật. Tức là hành giả nhắm mắt lại mà quán tưởng, nếu tâm ám độn mờ tối, quán tưởng không thành tựu, phải đến trước hình tượng Phật, chuyên tâm quán tưởng một hình tướng, nhất tâm trụ vào đó nhập định. Nếu nhắm mắt quán tưởng không rõ, cần mở mắt ra để quán sát thật kỹ, sau đó mới nhắm mắt. Sau khi quán tưởng một tướng như vậy được rõ ràng, kế lại tiếp tục quán thứ tự khắp cả ba mươi hai tướng, khiến tâm nhãn(6) khai sáng, phương pháp này có công năng phá trừ tâm hôn trầm mờ tối, do công đức nhớ tưởng Phật nên có thể trừ diệt tội chướng.

HỎI: Nếu chọn một tướng để quán chiếu được rõ ràng, có thể phá trừ bệnh hôn trầm mê mờ, vì sao không tu pháp quán Cửu tưởng hoặc quán tướng xương trắng?

ĐÁP: Pháp quán Cửu tưởng và xương trắng, chỉ là quán thân bất tịnh và xác chết để tiêu trừ nghiệp tội của chúng sinh, nhưng công hiệu không mạnh, nên chẳng phải phương pháp đối trị bệnh này.

e.2. Pháp đối trị chướng ngại của tư duy

Hiện tượng phát sinh chướng ngại như giải thích ở trước.

Phương pháp đối trị là dạy họ niệm công đức của Phật. Niệm như thế nào? Hành giả dùng tâm chánh niệm, quán tưởng: Mười lực của Phật, Tứ vô sở úy, Mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết chủng trí, chiếu khắp pháp giới, thường vắng lặng bất động, thị hiện Sắc thân khắp pháp giới để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, công đức của Phật vô lượng, không thể nghĩ lường. Khi hành giả nhớ tưởng như thế, chính là phương pháp đối trị. Vì sao? Vì công đức nhớ tưởng Phật, phát sinh pháp thiện thù thắng từ trong tâm sở thiện. Nhớ nghĩ điều xấu ác là phát sinh từ trong tâm sở ác. Do niệm thiện có thể phá trừ niệm ác, cho nên cần nhớ tưởng Báo thân Phật.

Ví như có người xấu xí nhỏ nhoi, không trí tuệ, sống chung với người xinh đẹp, đoan chánh và có đại trí tuệ, thì tự cảm thấy xấu hổ. Ác niệm cũng như thế, nếu trong tâm thiện nhiều, thì tâm ác tự hổ thẹn dừng dứt, tưởng nhớ công đức Báo thân Phật, trong mỗi một niệm có công năng diệt trừ tất cả chướng ngại.

e.3. Đối trị cảnh giới bức bách chướng ngại

Cảnh giới nghiệp tội phát sinh phần trước giải thích qua.

Phương pháp đối trị là bảo họ niệm Pháp thân Phật. Pháp thân Phật tức là Pháp tính bình đẳng, bất sinh bất diệt, không có hình sắc, vắng lặng rỗng rang, vô vi, tịch tĩnh. Trong chỗ vô vi, đương nhiên là không có cảnh giới, không có cảnh giới thì tướng bức bách làm sao phát sinh? Nếu hành giả hiểu rõ cảnh giới vốn rỗng không, tức là pháp đối trị. Nếu niệm ba mươi hai tướng Ứng thân Phật, thì chẳng phải pháp đối trị, vì sao? Vì người này lúc chưa quán tưởng tướng này đã bị cảnh giới làm não loạn tâm, mà những người chấp tướng, phần nhiều nhân đây rơi vào cảnh giới ma, ma làm tâm họ cuồng loạn. Nay hành giả quán Không để phá trừ các cảnh giới, nếu nhớ tưởng Pháp thân Phật thì công đức vô lượng, có công năng diệt trừ các nghiệp tội cực nặng (trọng tội), đây chính là phương pháp đối trị, ý này có thể thấy rõ. Trên đây đã giải thích phương pháp đối trị trị xong.

2. Pháp chuyển trị

Trong Ma Ha Diễn Luận giải về Thập lực, Định lực, Cấu tịnh, Trí lực, có ghi: “Người tham dục bảo họ tu pháp quán tâm Từ, người sân nhiều tu quán Bất tịnh, người ngu si nhiều bảo họ quán Tư duy hữu biên hay vô biên, người tâm trạo cử tán loạn dạy họ tu Trí tuệ phân biệt, người hôn trầm dạy họ thâu nhiếp tâm niệm, nếu tu như thế, gọi là chuyển trị. Nếu chẳng phải thế gọi là Bất chuyển trị”. Đây là trái ngược với phần nói ở trên.

Hiện nay giải thích Pháp chuyển trị, có hai thứ:

a) Bệnh chuyển, pháp đối trị cũng chuyển

b) Bệnh không chuyển mà pháp đối trị chuyển

a) Bệnh chuyển, pháp đối trị cũng chuyển

Nay chỉ y theo phần trên để giải thích ý nghĩa chuyển trị thì trong phương pháp đối trị trị đã giải thích ở phần trước có nói: “Nếu người tâm tham dục nhiều bảo họ tu quán bất tịnh, sau khi tâm quán đã thành tựu, hành giả thấy cảnh bất tịnh nên tâm sinh nhàm gớm liền khởi sân giận”. Như thời Đức Phật còn tại thế, có các vị Tỳ-kheo tu tập phương pháp quán bất tịnh, sau khi quán tưởng thành tựu, các Tỳ-kheo cảm thấy chán ghét thân thể của chinh mình, liền nhờ người khác giết. Nếu người tu quán bất tịnh, phát sinh trường hợp như thế, nên bảo họ chuyển qua tu quán tâm Từ để đối trị tâm sân giận, đây gọi là chuyển trị và cũng gọi là thuốc và bệnh đều chuyển đổi. Tuy nói như thế cũng cần nên cân nhắc suy xét kỹ, vì e chưa phù hợp với giáo lý.

b) Bệnh không chuyển mà pháp đối trị chuyển

Ví như người trước kia có bệnh tham dục tuy quán bất tịnh mà không thể chuyển, nay đổi qua phương pháp quán tâm Từ để đối trị.

HỎI: Xưa nay con người thường có tâm tham muốn, ưa thích hình dáng xinh đẹp của người khác, hiện nay pháp quán tâm Từ cũng lấy hình dáng xinh đẹp của người khác, vậy thì làm sao có thể dùng tâm Từ để đối trị tâm tham dục?

ĐÁP: Giới Bồ-tát trong Kinh Phạm Võng có nói rất rõ, “Tất cả người nam đều là cha của ta, người nữ là mẹ của ta, người thọ Bồ-tát giới rồi chẳng lẽ không khởi tâm từ bi, đâu thể hành dâm dục không tiết độ, thậm chí nếu cùng Lục thân(7) hành dâm thì phạm tội Ba-la-di (tội cực nặng)”. Nếu hành giả quán tưởng nam nữ hiện tiền đều như mẹ, cha, con, cháu, thì tự nhiên khởi tâm cung kính, yêu mến, bởi vì tâm từ bi có thể phá trừ tâm tham dục, ví như người làm cha mẹ, đối với con ruột của mình không thể khởi tâm niệm phi pháp.

Lại nữa, ý nghĩa tâm Từ là ban niềm vui cho mọi người, còn tham dục là pháp bất thiện, gây thêm phiền não cho người khác, đây chẳng phải là đạo lý, không phải ban cho mọi người niềm an lạc. Do hành giả suy nghĩ như vậy nên nhất tâm tu quán tâm Từ, nếu thiền định của tâm Từ được khai phát thì có thể đối trị tâm tham dục, vì sao?

Vì pháp quán Tứ vô lượng tâm là của Sắc giới, không thể có tâm tham dục phát sinh. Đây là bệnh tuy không chuyển mà chuyển phương pháp quán khác để đối trị nó. Nay chỉ nêu đại khái một pháp quán bất tịnh để giải thích, còn mười bốn môn thiền khác cũng đều có hai ý nghĩa chuyển trị như thế.

Ngoài môn quán chuyển đổi này cũng có hai trường hợp.

– Chuyển tâm không chuyển cảnh

– Tâm cảnh đều chuyển

Hành giả nên khéo tự nghiên cứu suy tìm ý nghĩa có thể thấy vậy.

3. Không chuyển trị

Có hai ý:

a) Bệnh không chuyển, pháp quán cũng không chuyển.

b) Bệnh chuyển, pháp quán không chuyển.

a) Bệnh không chuyển, pháp quán cũng không chuyển

Ví như người tham dục nhiều, tuy tu pháp quán bất tịnh mà tâm tham dục không dừng dứt, lúc ấy lại tiếp tục quán tưởng thêm, không cần chuyển đổi pháp quán khác. Hành giả lại quán thêm các cảnh: xác chết, máu mủ chảy ra, tan rã v.v… sau khi quán một xác chết nhưng không dứt niệm tham dục, cần quán thêm nhiều xác, cứ tăng thêm từ từ, thậm chí xác người đầy cả xóm, cả thành phố, cả một nước cũng đều quán tưởng bất tịnh, như trong “Thiền kinh” có giải thích rộng, hoặc phải quán xương trắng phát sáng để đối trị tham dục thì tâm tham dục mới dừng được. Nên gọi là không chuyển đổi pháp đối trị, tuy nhiên có nghĩa lý này, nếu suy cứu kỹ cũng chưa phải hàm nghĩa chính xác của giáo lý.

b) Bệnh chuyển, pháp quán không chuyển

Do hành giả có bệnh tham dục, cho nên dùng pháp quán Bất tịnh để đối trị, kết quả niệm tham dục dừng dứt, nhưng lại sinh khởi bệnh sân giận, lúc ấy hành giả không đổi pháp quán bất tịnh, chỉ chuyển qua quán xương trắng phát sáng để nhập định, thì tâm sân tự diệt trừ, đây cũng có hai trường hợp:

– Cảnh không chuyển mà tâm chuyển.

– Cảnh không chuyển mà tâm cũng không chuyển.

Ngoài ra còn 14 pháp đối trị không chuyển trị, ý nghĩa cũng tương tự như thế.

4. Kiêm trị

Phương pháp đối trị này cũng trích từ Luận Ma Ha Diễn giải thích về pháp niệm Xả trong Bát niệm. Luận nói: “Pháp thí của Bồ-tát là pháp nhân duyên, hoặc thuyết pháp hoặc hiện thần thông, hoặc phóng quang v.v… dùng những phương tiện này để làm lợi ích và độ thoát cho chúng sinh, đây gọi là pháp thí”. Khi hành pháp thí, cần khéo biết rõ chúng sinh bị phiền não nhiều hay ít, vì có chúng sinh chỉ có một bệnh phiền não, hay hai, hoặc ba thứ lẫn lộn. Nếu hạng chúng sinh chỉ có một bệnh phiền não, chỉ cần dạy họ một phương pháp đối trị, nếu có hai bệnh phiền não thì dạy hai pháp đối trị, nếu chúng sinh có ba thứ phiền não thì nói ba pháp đối trị. Đây tức là tướng Kiêm trị.

Nếu chúng sinh chỉ có một bệnh, thì dạy một pháp đối trị, như phần trước đã nói qua. Nếu chúng sinh có hai thứ bệnh nên dùng hai pháp đối trị: Như hành giả có bệnh tham dục và bệnh sân giận, lúc ấy cần dùng pháp quán Từ Bi và quán Bất tịnh cùng phối hợp để đối trị. Vì sao? Nếu chỉ dùng một phương pháp đối trị, thì chỉ trị lành một bệnh, còn một bệnh kia càng tăng mạnh, đây là sai lầm. Nay dùng cả hai phương pháp để đối trị thì bệnh đều lành, như dùng pháp quán bất tịnh kèm thêm quán Từ Bi hoặc dùng pháp quán Từ Bi kèm thêm quán bất tịnh. Tóm lại, phương pháp đối trị phải tùy theo bệnh sinh khởi mà sử dụng, ý nghĩa này cần cân nhắc suy xét cẩn thận. Pháp kiêm trị cả hai, ba, bốn, cho đến năm thứ bệnh ý nghĩa cũng đều như vậy, nay không nói hết.

5. Kiêm chuyển trị, Kiêm không chuyển trị

Ý nghĩa này cũng như pháp chuyển trị và không chuyển trị, chỉ khác là đối với căn bệnh phát sinh nặng hay nhẹ, nhiều hay ít, để sử dụng phương pháp đối trị thích hợp, hành giả có thể theo ý nghĩa trong phương pháp đối trị của chuyển trị và không chuyển trị, nếu nghiên cứu kỹ sẽ thấy.

6. Không đối trị, không chuyển và không kiêm trị

Đây chính là nói về Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Bát-nhã chánh quán, “Bát-nhã chánh quán” này có thể đối trị cả mười lăm thứ bệnh, cũng khai phát tất cả mười lăm môn thiền, cho nên nói chẳng đối trị, chẳng chuyển, chẳng kiêm trị. Pháp tính chánh quán, tức là Pháp không thể dùng Pháp để đối trị Pháp, nên nói chẳng đối trị. Chánh quán vô lậu, không cần đối trị, do pháp quán này không đối trị một phía, thì không tăng thêm bệnh một phía, nên không cần chuyển đổi vậy.

– Năng lực của pháp Bát-nhã chánh quán có thể phá trừ chỗ có bệnh cần phá, nên không cần tu kèm thêm pháp quán nào khác, tuy pháp quán nầy không có “năng phá, sở phá” mà chỉ dùng để đối trị nên các pháp bất thiện thảy đều bị diệt trừ, gọi là Đối trị.

Trong Ma Ha Diễn ghi: “Có loại tam-muội chỉ trừ bỏ Tham dục mà không thể trừ bỏ Sân và Si. Có loại tam-muội có thể trừ bỏ cả ba thứ độc tham, sân, si”, chính là nói về Tam-muội này, là Bát-nhã chánh quán, là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn đang nói ở đây vậy.

Bát-nhã chánh quán này, có khả năng đối trị năm thứ bệnh:

a) Chánh quán trị tham dục

Như trong Kinh Tư Ích ghi: “Người tham dục, dùng pháp quán tịnh mà được giải thoát, chẳng phải tu quán bất tịnh được giải thoát, chính Thế tôn biết rõ việc nầy”.

b) Chánh quán trị sân

Như Kinh Bát-Nhã ghi: “Có một kiếp về trước, ta (Phật) bị vua Ca Lợi Vương chặt đứt thân thể, lúc ấy ta không thấy có ta, không thấy người, không thấy chúng sinh, cho nên tâm sân giận không sinh khởi”, nên biết thật tướng có thể đối trị tâm sân giận.

c) Chánh quán phá trừ ngu si

Trí tuệ Bát-nhã có công năng phá trừ Vô minh, nên trong Kinh Niết Bàn có ghi: “Lúc sáng thì không tối, lúc tối thì không sáng”, nghĩa là khi có trí tuệ thì không có Vô minh phiền não, khi có phiền não thì không có trí tuệ.

d) Chánh quán trị giác quán

Trong tâm chánh quán không có tướng ngôn ngữ, không có tâm niệm, thì tà giác quán từ đâu sinh khởi, nên Kinh Duy Ma Cật ghi: “Làm sao dừng tâm phan duyên, bảo rằng là ‘tâm vô sở đắc’ ”.

e) Chánh quán trị tội chướng

Như trong Phổ Hiền Quán giải thích ở phần trước: “Ngồi ngay thẳng quán thật tướng, gọi là sám hối đệ nhất, các tội lỗi như sương mai, bị mặt trời trí tuệ chiếu tan không còn dấu vết”.

Thí dụ như các thứ thuốc ở thế gian, mỗi thứ tùy theo căn bệnh để chữa trị, mỗi loại thuốc chỉ có công năng chữa trị một bệnh mà thôi, chứ không thể chữa trị tất cả các bệnh vậy. Chánh quán là dụ như loại thuốc A-yết-đà có công năng chữa lành tất cả các bệnh, đây gọi là chẳng đối trị, chẳng chuyển và chẳng kiêm trị, vì pháp này cũng có công năng chứng được đầy đủ tất cả các môn thiền định. Như trong Kinh Đại Phẩm ghi: “Muốn học tất cả pháp thiện cần nên học Bát- nhã”, vì sao? Ví dụ như khi Vua ngự giá đến đâu nhất định có đại binh hộ tống theo, vì khi trí tuệ Bát-nhã khai phát thì trong một tâm đầy đủ muôn hạnh. Đây cũng như lấy (ngọc Như ý) để làm ví dụ vậy.

IV- TỔNG KẾT THÀNH TỨ TẤT – ĐÀN TỔNG NHIẾP PHẬT PHÁP

Nay đem Nghiệm căn tính Ác để luận về phương pháp đối trị, tức là đối chiếu với ý nghĩa Tứ chủng Tất-đàn trong Luận Ma Ha Diễn.

Vì sao? Vì hiện tượng khai phát của mười lăm thứ cảnh giới bất thiện, chính là Thế giới tất-đàn, cho đến cảnh giới khai phát của thiện căn đã giải thích phần trước, cũng thuộc về Thế giới tất-đàn, vì năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới đều do nhân duyên sinh.

Kế đến là nêu rõ mười lăm thứ đối trị của thiền môn, tức là Đối trị tất-đàn, vì nội dung chính là biện biệt trường hợp phát bệnh và dùng thuốc.

Kế đến là giải thích chuyển trị và bất chuyển trị, tức là Vị nhân tất-đàn, đây là tùy theo căn duyên của người tu không đồng, để dùng phương tiện lợi ích cho chúng sinh, nên gọi là Nhân.

Kế là nói về không đối trị, không chuyển, đây chính là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, ý này rất rõ ràng. Nên Luận Ma Ha Diễn ghi: “Bốn thứ Tất-đàn này bao hàm tất cả Phật pháp, mười hai bộ kinh(8) và tám mươi bốn ngàn (84.000) pháp môn”. Theo lý mà suy luận, thì ý nghĩa của thiền môn rộng lớn như vậy, nên không chỗ nào mà chẳng thâu nhiếp.

*

*3. PHÁP AN TÂM

Có năm ý:

1. Tùy phương tiện thích nghi

2. Tùy pháp đối trị đã thành tựu lập pháp an tâm

3. Tùy theo pháp môn thích hợp

4. Tùy thứ lớp lập pháp an tâm

5. Tùy chọn một pháp môn

1. Tùy phương tiện thích nghi

Sau khi nghiệm biết trong tính thiện căn phát sinh mười lăm thứ thiền định, hành giả tùy theo một pháp thiền định nào phát sinh trong mười lăm thứ ấy, sẽ biết rõ đời trước hành giả đã từng tu tập qua môn thiền đó, đời nay quay trở lại tu hành khiến thành tựu, vì thế tùy theo chỗ phát sinh pháp thiền định ấy an tâm tu tập.

Như sau khi hành giả tu thiền định các thứ Xúc phát sinh, muốn cho tâm an ổn phải tu pháp Sổ tức để an tâm. Vì sao? Vì Sơ thiền căn bản, phần nhiều là do tu pháp quán Sổ tức mà chứng được, nên biết rằng người này đời quá khứ đã từng tu thiền định bằng phương pháp quán Sổ tức, nếu hiện nay dùng pháp Sổ tức để nhập định cộng với sự hỗ trợ của duyên tu tập đời trước nên dễ dàng được khai phát thiền định; lại cộng thêm sự nỗ lực dụng công liên tục, có thể đắc định Tứ thiền, Tứ không, nhân đây chứng quả vị Tam thừa: La hán, Duyên giác, Bồ-tát, ví dụ như trường hợp Phật dạy người thợ rèn tu pháp Sổ tức là thuận theo chỗ tu tập đời trước của họ, cho nên thiện căn dễ khai phát, sau khi thiện căn phát, phải dạy họ tu pháp môn an tâm. Mười bốn thứ thiện căn còn lại, cũng tu theo pháp Tùy tiện nghi như trên, phương pháp an tâm cũng vậy.

2. Tùy pháp đối trị đã thành tựu lập pháp an tâm

Nếu hành giả trước kia có nhiều tham dục, do pháp bất thiện làm chướng đạo, muốn trị bệnh, nên tu quán bất tịnh, sau khi quán bất tịnh đã thành tựu, tuy bệnh tham dục đã trị lành nhưng vẫn chưa chứng thiền định thâm diệu, cần phải gia công nỗ lực dụng tâm tu quán bất tịnh. Sau khi quán những thứ bất tịnh thành tựu rồi, kế tiếp bỏ phần quán da thịt của xác chết, mà tu quán xương trắng phát ánh sáng thâm nhập Bát bối xả, đoạn dứt phiền não trong Tam giới, chứng quả vị Tam thừa, mới không phí uổng công phu. Nếu không tu như thế, lại tu phương pháp an tâm khác, tạo công phu mới thì việc rất khó thành tựu. Mười bốn thứ tùy đối trị thành tựu còn lại cũng giải thích phương pháp an tâm tương tợ như loại này vậy.

3. Tùy theo pháp môn thích hợp

Nếu hành giả dùng pháp đối trị đoạn trừ bệnh phiền não bất thiện ở Dục giới, có thể thông suốt cả mười lăm loại thiền không chướng ngại gì. Lúc ấy tâm hành giả tùy theo các Thiền tam-muội nào mà mình ưa thích, cứ theo môn thiền đó để an tâm tu tập, đều được khai phát và thành tựu từ đầu đến cuối, pháp tu nầy tương tợ như pháp tu trị của phái Số luận.

4. Tùy thứ lớp lập pháp an tâm

Khi những chướng ngại đã diệt trừ, có hành giả muốn tu đầy đủ các thứ thiền định từ cạn đến sâu, cần phải y theo trong pháp quán A-na-ban-na để dạy họ tu pháp Sổ tức, khi chứng được Tứ thiền căn bản và Tứ Không định rồi. Kế tiếp dạy họ tu Tùy tức, chứng Thập lục đặc thắng. Kế tiếp nên quán hơi thở, chứng được Thông minh thiền. Kế tiếp lại quán bất tịnh, chứng nhập các thiền: Cửu tưởng, Bát bối xả v.v… Sau đó lại quán tâm tính chứng nhập Cửu chủng đại thiền. Thiền định thứ lớp có giải thích rõ trong Chương 5 “Minh thiền thứ lớp”. Phương pháp tu chứng phần sau sẽ giải thích cụ thể hơn.

Hiện nay giải thích trường hợp sau khi kiểm nghiệm căn tính thiện ác và dùng phương pháp an tâm. Do có những tiện lợi cho việc tu thiền định như thế, cho nên sau đây mới giải thích tu tập thiền định như thế nào.

5. Tùy chọn một pháp môn

Muốn chứng đắc Niết-bàn và Pháp bảo chân chánh, mỗi chúng sinh cần phải từ mỗi pháp môn để tiến nhập. Sau khi mười lăm thứ thiện căn đã khai phát và dùng năm phương pháp đối trị loại trừ các chướng ngại rồi, hành giả tùy chọn một pháp môn nào dễ dàng khai ngộ, làm phương pháp an tâm tu tập, phần nhiều họ nhân đây mà chứng được Thánh quả.

*

*4. PHÁP TRỊ BỆNH

Khi hành giả đã an tâm tu tập thiền định, nếu trước kia Tứ đại của hành giả đã có bệnh, hiện nay vì dụng tâm tu hành, khiến tâm và hơi thở giao xen kích phát thành bệnh. Hoặc có khi không khéo điều hòa ba việc là Thân, Tâm và Hơi thở, do trong ngoài chống trái lẫn nhau nên mới phát bệnh. Nay nếu người khéo dụng tâm tu tập phương pháp tọa thiền, thì (404) bốn trăm lẻ bốn bệnh tự lành. Nếu dụng tâm sai thì bốn trăm lẻ bốn bệnh sinh khởi.

Thế nên, hành giả tự tu tập hay dạy người tu, phải khéo biết nguồn gốc của bệnh, lúc tọa thiền phải khéo biết phương pháp trị bệnh nội tâm, nếu không biết phương pháp trị bệnh, một phen phát bệnh chẳng những chỉ chướng ngại sự tu hành, thậm chí tính mạng cũng khó bảo tồn.

Nay giải thích về phương pháp trị bệnh có hai

thứ:

I- Tướng bệnh phát khởi

II- Phương pháp trị bệnh thứ

I- TƯỚNG BỆNH PHÁT KHỞI

Bệnh tuy có nhiều loại, tóm lược không ngoài ba

1. Bệnh do tứ đại tăng

2. Từ ngũ tạng sinh bệnh

3. Tướng ngũ căn sinh bệnh

1. Bệnh do tứ đại tăng

Do địa đại tăng thì mắc bệnh thũng kiết trầm trọng, thân thể khô gầy v.v… nên một trăm lẻ một bệnh liền phát sinh. Thủy đại tăng thì đờm dãi nhiều, ăn uống không tiêu, đau bụng v.v… nên một trăm lẻ một bệnh liền phát sinh. Hỏa đại tăng thì thân chợt lạnh, nóng, đau nhức, miệng hôi, đại tiểu không thông v.v… nên một trăm lẻ một bệnh liền phát sinh. Phong đại tăng thì thân thể lơ lửng như bị treo trong hư không, uể oải mệt mỏi, xương khớp đau nhức, phổi sưng hơi thở gấp v.v… nên một trăm lẻ một bệnh phát sinh.

Trong kinh nói: “Một đại không điều hòa thì một trăm lẻ một bệnh sinh, bốn đại không điều hòa thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng phát khởi”. Khi bốn đại phát bệnh thì mỗi thứ có biểu hiện tướng mạo của nó, chính trong lúc ngồi thiền hoặc trong lúc nằm mộng, cần chú ý quan sát, vì tướng trạng của nó rất nhiều không thể nêu ra hết.

2. Từ ngũ tạng sinh bệnh

Tim sinh bệnh thì thân thể thường nóng hay lạnh nhiều, miệng khô v.v… vì tim chủ về miệng.

Phổi sinh bệnh thì thân thể trương đầy, tứ chi đau nhức, mũi nghẹt, vì phổi chủ về mũi.

Gan sinh bệnh thì trong lòng buồn rầu không vui, lo lắng, sân giận, đầu nhức, mắt nóng đỏ, vì gan chủ về mắt.

Lách sinh bệnh thì trên mặt nổi phong, khắp thân ngứa ngáy, đau nhức, ăn uống không ngon, vì lá lách chủ về lưỡi.

Thận sinh bệnh thì cổ họng nghẹn, bụng sình trướng, tai ù vì thận chủ về tai.

Năm tạng phát sinh bệnh rất nhiều, nguyên nhân phát bệnh mỗi cái cũng khác nhau, do tướng bệnh quá nhiều không thể nêu ra hết được, nếu quán xét trong lúc tọa thiền và nằm mộng sẽ biết rõ.

3. Tướng ngũ căn sinh bệnh

Bệnh về Thân: Thân thể bỗng nhiên đau nhức, khắp thân ngứa ngáy v.v…

Bệnh về Lưỡi: Nổi mụn trong lưỡi, đau nhức ăn uống không ngon.

Bệnh về Mũi: Mũi ngẹt không thông, chảy nước mũi, v.v…

Bệnh về Tai: Tai ù đau nhức, không nghe tiếng hoặc trong tai có âm thanh lùng bùng.

Bệnh về Mắt: Mắt thấy mờ mờ hoặc thấy đau nhức v.v…

Những nguyên nhân phát khởi sinh bệnh của Tứ đại, Ngũ tạng và Ngũ căn rất nhiều không thể nói hết.

HỎI: Bệnh của Ngũ căn và bệnh trong Ngũ tạng giống nhau, vì sao lại phân biệt?

ĐÁP: Vì trong lúc ngồi thiền, phương pháp trị bệnh chẳng đồng, cho nên phải nói riêng tướng mạo của từng bệnh. Nếu hành giả muốn tu thiền định, không bị phát sinh bệnh, cần phải biết rõ nguyên nhân sinh bệnh. Nguyên nhân chung của ba thứ bệnh này là do trong cảm ngoài ứng mà phát sinh, hoặc do ảnh hưởng thời tiết nóng quá hay lạnh quá, hoặc gió độc, ăn uống không cẩn thận, đây là nguyên nhân phát bệnh từ bên ngoài.

Nếu dụng tâm không được điều hòa, quán hạnh sai lạc, hoặc do nội tâm hiển hiện các cảnh giới, không có phương pháp diệt trừ, nên khiến Tứ đại, Ngũ tạng và Ngũ căn sinh bệnh, ba chỗ này phát sinh bệnh là do ở bên trong phát khởi.

Hành giả cũng cần biết, có ba thứ nguyên nhân sinh bệnh khác nhau:

– Tứ đại tăng giảm nên phát bệnh như đã nói ở trên.

– Ma quỷ hay thiên ma xúc não mà sinh bệnh.

– Nghiệp báo khiến sinh bệnh.

Những bệnh như thế, khi mới bắt đầu phát sinh bệnh, cần phải điều trị kịp thời, bệnh sẽ chóng lành. Nếu để lâu ngày, bệnh càng thêm trầm trọng, thân gầy suy yếu, chữa trị rất khó lành.

II- PHƯƠNG PHÁP TRỊ BỆNH

Khi hành giả hiểu rõ nguyên nhân phát bệnh, cần tìm phương pháp để điều trị, pháp chữa trị có rất nhiều, nay nêu sơ lược không ngoài năm thứ:

1. Dùng khí và hơi thở để trị bệnh

Có thầy nói nên dùng sáu thứ khí và mười hai thứ hơi thở để trị bệnh. Sáu thứ khí:

Suy, Hô, Hy, Ha, Hư, Hứ sáu thứ khí này đều do dùng Lưỡi và Miệng chuyển động phát ra. Khi ngồi thiền có cảm giác lạnh nên dùng khí Suy, nóng thì dùng khí Hô, khí Suy trị bệnh lạnh, khí Hô trừ bệnh nóng, khí Hy trừ bệnh phong đau nhức, khí Ha trừ bệnh bức rứt, khí Hư trị tan đờm và tiêu sình trương, khí Hứ có công năng bồi bổ cơ thể suy yếu.

Nếu dùng chữa bệnh trong ngũ tạng thì hai thứ khí Suy và Hô có thể trị bệnh Tim, khí Hư trị bệnh Gan, khí Ha trị bệnh Phổi, khí Hy trị bệnh Lá lách, khí Hứ trị bệnh Thận.

Dùng mười hai thứ hơi thở có công năng trị các bệnh

1/ Hơi thở lên

2/ Hơi thở xuống

3/ Hơi thở đầy

4/ Hơi thở tiêu

5/ Hơi thở tăng trưởng

6/ Hơi thở diệt

7/ Hơi thở ấm

8/ Hơi thở lạnh

9/ Hơi thở xông lên

10/ Hơi thở gìn giữ

11/ Hơi thở điều hòa

12/ Hơi thở bồi bổ

Mười hai thứ hơi thở này, đều sử dụng bằng nội tâm quán tưởng.

Nay nói sơ lược trường hợp dùng mười hai thứ hơi thở để trị tướng bệnh.

1/ Hơi thở lên dùng trị bệnh trầm trọng.

2/ Hơi thở xuống trị bệnh lơ lửng.

3/ Hơi thở đầy trị bệnh khô gầy

4/ Hơi thở tiêu trị bệnh phù thủng.

5/ Hơi thở tăng trưởng trị bệnh lao tổn.

6/ Hơi thở diệt trị bệnh tăng thịnh.

7/ Hơi thở ấm trị bệnh lạnh.

8/ Hơi thở lạnh trị bệnh nóng.

9/ Hơi thở xông trị bệnh bế tắc không thông.

10/ Hơi thở trì giữ trị bệnh lảo đảo.

11/ Hơi thở điều hòa trị bệnh Tứ đại bất hòa.

12/ Hơi thở bồi bổ trị bệnh Tứ đại suy yếu. Nếu hành giả khéo dùng các thứ hơi thở này trị lành các bệnh, dùng sai có thể sinh các bệnh, suy xét kỹ sẽ biết. Các vị thầy dùng hơi thở để trị bệnh, có rất nhiều phương pháp, nói không thể hết, hiện nay chỉ đưa ra vài phương pháp để hiểu đại ý.

2. Dùng quán giả tưởng để trị bệnh

Như trong Kinh Tạp A Hàm có nói rộng về 72 bí pháp(9) để chữa trị thiền bệnh, nhưng người thời nay căn cơ tối cạn, đa số tu tập pháp quán tưởng không thành công, hoặc không khéo điều phục được ý tưởng, chẳng những bệnh không lành mà còn tăng thêm nhiều thứ bệnh. Cho nên người tu thiền định, phải khéo hiểu được bí yếu, dùng sức quán giả tưởng thì không bệnh nào mà chẳng lành, vì pháp bí yếu này không thể dùng văn tự để diễn tả hết được.

3. Dùng chú thuật để trị bệnh

Muôn pháp đều có pháp đối trị, người khéo dùng pháp chú thuật chữa trị, nhất định sẽ lành bệnh. Pháp chú thuật có ghi chép rất nhiều trong các Thiền kinh và Đà-la-ni, những vị thầy tu tập chú thuật, đa số giữ bí mật không tùy tiện truyền trao.

4. Dùng tâm chuyên chú nơi cảnh để trị bệnh

Có thầy nói: “Tâm là chủ của quả báo trong một thời kỳ. Ví như vị quốc vương đến đâu thì bọn giặc cướp đều giải tán, tâm vương cũng như thế, tùy theo chỗ sinh bệnh, đem tâm chuyên chú nơi đó, trải qua thời gian lâu mà tâm không tán động, thì bệnh tự lành”. Lại có thầy nói “Ở dưới rốn khoảng một tấc gọi là huyệt Đan điền, nếu đem tâm an trụ nơi đó, đa số bệnh đều được lành”. Có thầy nói “Thường an tâm dưới chân có thể trị được rất nhiều bệnh”. Có rất nhiều thuyết nói về phương pháp trị bệnh, ở đây không ghi hết.

5. Quán chiếu phân tích để trị bệnh

Dùng trí tuệ chân chánh quán chiếu kiểm soát chỗ bị bệnh, quán tưởng bệnh vốn là Không, lúc ấy các bệnh do Tứ đại tự nhiên tiêu sạch. Nếu bệnh do ma quỷ hoặc Thiên ma phá, hành giả nên lập tâm vững chắc và tụng chú quán chiếu để đối trị. Nếu bệnh do nghiệp báo cần phải tu phước và tụng sám hối, bệnh tự nhiên lành.

Năm phương pháp trị bệnh này, hành giả chỉ cần thông hiểu một phương pháp, cũng có khả năng tự tu và dạy người khác, huống gì thông đạt tất cả. Nếu không biết một pháp nào, khi sinh bệnh không thể tự đối trị, chẳng những bỏ bê sự tu hành, mà còn nguy hiểm đến tính mạng, thì làm sao tự tu và dạy người.

Thế nên người muốn tu thiền định, phải khéo thông hiểu phương pháp dùng nội tâm để trị bệnh, phương pháp rất nhiều, văn tự không thể ghi chép hết vậy. Hành giả muốn tu tập để biết, nên nghiên cứu yếu chỉ đã nói ở phần trên. Nếu chỉ y theo văn tự để thực hành, văn tự không ghi chép đầy đủ, lại nêu lên phần sơ lược, không thể làm căn cứ nhất định. Người trí thông hiểu được ý này, có thể dùng phương tiện xoay chuyển mỗi phương pháp để trị bệnh, nếu không có bậc thiện tri thức hướng dẫn thì cũng có thể dùng cấp cứu tạm thời.

HỎI: Trong lúc tọa thiền, dùng tâm trị bệnh, nhất định có hiệu quả không?

ĐÁP: Chỉ cần đủ mười pháp này nhất định có lợi ích:

1/ Tin: Tin tưởng pháp này có khả năng trị lành bệnh.

2/ Dùng: Tùy thời dùng thường hằng.

3/ Siêng: Dùng chuyên cần không ngơi nghỉ cho đến khi lành bệnh mới thôi.

4/ Thường trụ trong cảnh duyên: Tâm vi tế luôn luôn trụ nơi pháp không cho tán loạn.

5/ Quán sát nguyên nhân phát bệnh: Như đã nói ở đoạn trên.

6/ Phương tiện: Như phương pháp hít thở khéo vận chuyển tâm tưởng, khéo léo thành tựu không trái phép.

7/ Thực hành lâu dài: Nếu áp dụng chưa có lợi ích, không quản ngày tháng bao lâu, vẫn thường thực hành chẳng bỏ phế.

8/ Biết thủ xả: Biết có lợi ích liền nỗ lực chuyên cần, cái có hại thì buông xả, luôn chính chắn chuyển tâm để điều trị.

9/ Khéo gìn giữ: Khéo biết tránh những duyên khác xúc phạm.

10/ Biết ngăn chướng: Nếu được lợi ích không nên đến nói với người khác, chưa thuyên giảm chẳng sinh lòng nghi chê.

Nếu hành giả y theo mười pháp này để trị bệnh, nhất định có hiệu quả.

*

*5. MA SỰ

Ma tiếng Phạn gọi là Ma-la, đời Tần dịch là Sát, vì nó có thể cướp đoạt của báu công đức và giết tuệ mạng của người tu hành. Nên gọi là Ma-la.

Vì sao gọi là Ma sự?

Chư Phật dùng công đức và trí tuệ độ thoát chúng sinh, khiến chúng sinh chứng nhập cảnh giới Niết-bàn, gọi là Phật sự.

Ma thường phá hoại căn lành của chúng sinh, khiến chúng sinh bị luân hồi trong vòng sinh tử, gọi là Ma sự.

Nếu người tu hành khéo an tâm nơi chánh đạo, mới biết đạo càng cao thì Ma càng thịnh, cho nên cần khéo biết rõ Ma sự.

Giải thích về Ma sự gồm có ba phần:

I- Phân biệt Ma pháp bất đồng

II- Giải thích Ma sự phát tướng

III- Phương pháp phá trừ Ma sự

I- PHÂN BIỆT MA PHÁP BẤT ĐỒNG

Ma có bốn loại:

1. Ma phiền não

2. Ma ấm, giới, nhập

3. Ma chết

4. Thiên ma ở dục giới

1. Ma phiền não

Là tam độc tham, sân, si và chín mươi tám loại phiền não. Thủ, Hữu trong mười hai nhân duyên, lưu chuyển đến Sinh, Tử, không được tự tại. Ngũ trược(10), Ngũ cái, Ngũ triền(11), Cửu kiết(12) và Mười sáu thứ phiền não(13) v.v… đều phá hoại tâm người tu hành. Như bài kệ trong Luận Ma Ha Diễn nói:

Dục ma quân thứ nhất.

Ưu sầu đội thứ hai.

Đói khát là thứ ba.

Yêu mến là thứ bốn.

Mê ngủ là thứ năm.

Kinh sợ là thứ sáu.

Nghi hối là thứ bảy.

Giận hờn là thứ tám.

Tham danh là thứ chín.

Ngã mạn là thứ mười.

Những ma sự như thế,

Dìm đắm người xuất gia,

Ta dùng sức thiền trí,

Phá dẹp các quân ma,

Được thành Phật đạo rồi,

Độ tất cả chúng sinh.

2. Ma Ấm, Giới, Nhập

Nghĩa là 5 ấm, 12 nhập, 18 giới, tất cả danh sắc ràng buộc chúng sinh, năm ấm ngăn che căn lành thanh tịnh và công đức trí tuệ người tu hành, khiến không được tăng trưởng, nên gọi là Ma.

Ấm, Giới, Nhập của cõi Dục, cho đến Giới, Ấm, Nhập của cõi Sắc và Vô sắc cũng như thế. Nếu tâm hành giả đã không thông hiểu mà lại tham chấp gọi là Ma, nếu tâm không còn chấp lại có thể quán chiếu ba cõi như hư không, không ngăn ngại. Đây gọi là phá Ma nghiệp.

3. Ma chết

Tất cả nghiệp báo sinh tử luân chuyển không dừng, đều gọi là Ma.

Nếu người muốn phát tâm tu hành, nhưng lại bị bệnh mà chết, hoặc bị kẻ khác giết hại, nên không thể tu hành, tức là đời này bỏ mất cơ hội để tu tập Thánh đạo. Nhưng đến đời sau, do nhân duyên thay đổi mà quên mất bản tâm, cũng đều gọi là Ma sự.

Lại nữa, khi hành giả muốn tu, nhưng lại sợ chết, khiến tâm tham tiếc thân mạng của mình, không dám tu Thánh đạo. Đây cũng thuộc trong phạm vi Ma sự.

4. Thiên ma ở dục giới

Là Ma vương Ba-tuần, loài ma này là oan gia của Phật pháp, nó thường lo sợ người tu hành vượt ra khỏi lãnh vực thống trị của nó, cho nên nó sai các quỷ thần quyến thuộc, quấy rối não loạn phá hoại căn lành người tu hành. Đây là Ma vương ở cõi trời Tha hóa tự tại.

II- GIẢI THÍCH MA SỰ PHÁT TƯỚNG

– Nếu hiện tượng của Ma phiền não phát sinh, cũng giải thích giống như Phiền não đẳng phần và Tam độc trong căn tính Bất thiện đã nói qua ở phần trước.

– Nếu hiện tượng Ma Ấm, Giới, Nhập phát sinh, cũng giải thích giống như trong Thiện căn và Bất thiện căn, các cảnh giới của sắc và nội tâm xuất hiện đã nói ở phần trước.

– Nếu hiện tượng Tử ma phát sinh, cũng giải thích giống như bệnh và tai họa đã nói ở phần trước. Vì cớ sao? Bệnh là nguyên nhân Tử vong.

– Nếu bệnh phát sinh do Quỷ, Thần hoặc Ma, hành giả phải cần biết và phân biệt.

Nay giải thích Ma sự gồm có ba loại:

1. Ma tinh mị

Là các loài thú trong mười hai giờ, nó biến hóa những thứ hình sắc, hoặc hình người thiếu nữ, thiếu nam, người già, cho đến các hình tướng rất đáng sợ, để não loạn người tu hành. Mỗi loài xuất hiện theo giờ của nó, hành giả cần phải biết rành rõ, nếu giờ Mẹo là loài thỏ, chồn, nai đến; nếu giờ Thìn thì loài rồng, trạnh đến. Hành giả biết rõ các loài tinh thú ấy liền gọi tên nó, thì chúng đều tiêu tan, những giờ khác hình tướng của nó xuất hiện, hành giả có thể suy biết.

2. Ma đôi dịch

Ma đôi dịch cũng biến hiện ra các loài thú để xúc não người tu hành, hoặc hóa thành sâu, mọt, chúng bò trên thân thể người, nó chích, đào bới, cào cấu dưới nách, trên mặt, hoặc ôm giữ, hoặc kêu réo tạo ra âm thanh ồn náo, hoặc hóa hiện muôn hình tướng kỳ dị, để quấy rối não loạn người tu hành. Sau khi hành giả biết rõ, liền nhất tâm nhắm mắt lại, thầm mắng rằng: “Ta nay đã biết rõ ngươi, ngươi tên là Thâu-lạp-kết-chi ở trong cõi Diêm-phù-đề, ưa ăn lửa, ngửi mùi hương, là loại tà kiến phá giới trọng, ta nay giữ giới quyết chẳng sợ ngươi”. Nếu là người xuất gia nên tụng Giới bổn, nếu người tại gia nên đọc tụng Tam quy, Ngũ giới, mười giới trọng của Bồ-tát và bốn mươi tám giới khinh, thì bọn quỷ này khúm núm rút lui.

Những hình tướng gây chướng ngại người tu hành và những phương pháp đối trị phá trừ, có nói đầy đủ trong Thiền kinh.

3. Ma não loạn

Loài ma này thường hóa hiện ra ba thứ cảnh tướng để phá hoại người tu hành.

– Hóa cảnh nghịch: Hóa làm những hình tướng và cảnh giới của năm trần rất ghê rợn, khiến tâm người tu kinh sợ.

– Hóa cảnh thuận: Biến hóa những hình tướng và cảnh giới của năm trần rất ưa thích, khiến người tu sinh tâm tham đắm.

– Hóa cảnh không thuận không nghịch: Cảnh giới 5 trần rất bình thường, làm động tâm người tu hành.

Thế nên, Ma gọi là Sát, cũng còn gọi là Mũi Tên Hoa, cũng còn có tên là Năm Mũi Tên, vì nó bắn vào năm giác quan của con người, trong mỗi giác quan hiện ra ba cảnh giới để não loạn người tu, cả năm giác quan hợp lại gồm có mười lăm cảnh giới.

Trong Sắc có ba thứ cảnh giới:

– Hóa cảnh thuận trong Sắc: Hóa hình cha mẹ, anh em, hình tượng chư Phật hoặc hình dáng nam nữ xinh đẹp và những cảnh ưa thích, khiến tâm người tu đắm mến.

– Hóa cảnh nghịch trong Sắc: Hóa hiện các loài dã thú như: Cọp, Sói v.v… và hình dáng quỷ La-sát rất đáng sợ để khủng bố người tu hành.

– Hóa cảnh không thuận không nghịch trong Sắc: Tức là chỉ hóa hiện những hình tướng bình thường, không đáng ưa thích, cũng không khiến người tu hành kinh sợ, nhưng có thể gây động loạn tâm, làm mất thiền định nên gọi là Ma.

Trong 4 trần: (thanh, hương, vị, xúc) ma cũng hóa những cảnh giới thuận nghịch như thế, chỉ là hình tướng trần cảnh khác nhau mà thôi. Nếu hành giả không phân biệt được sự hư dối của tà ma, sẽ bị tà ma phá hoại công phu, tâm phát sinh cuồng loạn, làm những việc tội lỗi, thân thể lõa lồ không biết hổ thẹn. Lại còn phá hoại việc thiện của người khác, hủy báng Tam bảo, tội ác rất nhiều không thể kể hết. Có khi phát bệnh đến chết, cho nên phải cẩn thận quán xét kỹ.

HỎI: Vì sao ở đây không nói về pháp trần đối với ý căn để luận về Ma sự?

ĐÁP: Vì theo đa số mà luận, thì tất cả Ma sự phần nhiều bắt đầu từ trong 5 căn đối 5 trần mà phát sinh, cho nên chỉ nói 5 trần, nếu nghiên cứu tỉ mỉ, thì trong ý căn cũng có ba trường hợp Ma sự não loạn, suy ra có thể biết. Trong các kinh điển Đại thừa, nói những sự việc biến chuyển hư vọng trong sáu trần và trường hợp Ma sự phát khởi đối với ý căn rất rõ ràng tường tận. Cho nên Kinh Đại Phẩm có ghi: “Những loại Ma sự, nếu ai không chỉ dạy cho người tu hành biết, đây chính là Bồ-tát ác tri thức vậy”.

III- PHƯƠNG PHÁP PHÁ TRỪ MA SỰ

Có ba phương pháp:

1. Hành giả cần biết rõ những giác quan thấy, nghe, giác, biết, đều là Không. Do đó hành giả không chấp nhận, không dính mắc, không lo sầu, không phân biệt thì cảnh giới không xuất hiện.

2. Hành giả chỉ cần xoay lại quán chiếu cái tâm thấy, nghe, giác, biết ấy, không có chỗ phát sinh, đã không thấy cái tâm nghe, thấy, giác, biết đó thì có chỗ nào não loạn, khi hành giả quán chiếu như thế, đối với cảnh giới đã không chấp nhận, không phân biệt thì Ma tự nhiên diệt mất.

3. Tuy hành giả quán chiếu như vậy, mà cảnh giới không diệt mất, lúc này cần chánh niệm liên tục, không sinh khởi tâm lo sợ, chấp tiếc thân mạng, tâm chánh niệm vững chắc không dao động, biết cảnh giới Ma cũng Như, cảnh giới Phật cũng Như(14) cảnh giới Ma hay cảnh giới Phật bình đẳng không hai (Ma giới như, Phật giới như, nhất như, vô nhị như). Đối với cảnh Ma cũng không xả, đối với cảnh Phật cũng không chấp, tức là Phật pháp hiện tiền, Ma tự nhiên tan hoại, đã không thấy có đến, đi, cũng không sinh tâm lo buồn hoặc vui mừng thì đâu bị ma não hại.

Lại nữa, cũng chưa từng thấy người nào trong lúc ngồi thiền, thấy ma hóa hình hổ, sói đến ăn thịt, ma chỉ biến hóa thành hổ để hù dọa, khiến tâm hành giả kinh sợ, nhưng thực tế là không có, hành giả chỉ cần biết hiện tượng đó là hư giả, khi biết rõ như thế thì tâm không còn lo sợ. Hoặc quán tưởng “Ta nay vì cầu đạo, dầu có chết hay bỏ thân mạng cũng đâu có gì mà lo sợ, thân thể của ta tùy ngươi làm gì cũng được”, tâm hành giả phải vững chắc như kim cương, không hề lay chuyển. Dù cho trải qua nhiều năm, nhiều tháng mà cảnh giới vẫn không diệt mất, cần phải trực tâm chánh niệm kiên cố, không tiếc thân mạng, không ôm lòng lo sợ.

Phải tụng kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng, thần chú trị ma, hoặc thầm tụng niệm và hằng nhớ Tam bảo.

Nếu khi xuất định cũng phải tụng thần chú để tự đề phòng, sám hối hổ thẹn và tụng giới luật, vì Tà không can phạm được Chánh, lâu dần nó tự tiêu diệt, phương pháp đối trị hoặc sự hoặc lý rất nhiều nói không thể hết, hành giả phải khéo biết nó để dùng phương tiện trừ diệt.

Thế nên người sơ tâm tu hành, muốn học tọa thiền, cần gần gũi những bậc thiện tri thức để được chỉ dẫn pháp đối trị những chướng nạn như thế. Khi Ma nhập tâm, có công năng khiến cho hành giả cũng chứng được các Tà thiền tam-muội, cũng có Trí tuệ, Thần thông và Đà-la-ni, huống gì những cảnh giới nhỏ nhặt như nói ở trên.

Nếu muốn biết rõ cảnh Ma, nên nghiên cứu trong các kinh điển Đại thừa, trong kinh cũng có giới thiệu ít phần, nay chỉ nói đại khái để hành giả biết thâm ý việc này, không bị lầm nhận cảnh giới ma.

Nói tóm lại nếu muốn bỏ tà quay về chánh đạo, cần phải quán thật tướng của các pháp, vì thế trong Luận Ma Ha Diễn ghi: “Trừ thật tướng các pháp, còn tất cả đều là Ma sự”.

Kệ nói rằng:

Nếu nhớ nghĩ phân biệt,

Tức là lưới của ma,

Không động không phân biệt,

Ấy tức là pháp ấn,

Luôn nghĩ đến Thường, Đoạn,

Đây chẳng phải chánh đạo.

Trong pháp không phân biệt,

Mà nghĩ tưởng phân biệt.

Lại nữa, giải thích tóm lược ý nghĩa phương pháp phá trừ ma bất đồng. Như trong Luận Ma Ha Diễn nói: “Do đắc Bồ-tát đạo nên phá trừ ma phiền não, do chứng được Pháp tính thân(15) nên phá trừ ma ấm, giới, nhập. Do đắc Bồ-tát đạo và Pháp tính thân nên phá Tử ma. Do đắc Bất động tam-muội nên ở trong tất cả pháp tự tại, vô trụ, có năng lực phá ma thiên tử (ma vương) cõi Tha hóa tự tại ở dục giới”.

Kinh Đại Tập ghi: “Đắc Tứ niệm xứ, tức là phá bốn thứ ma”, hai thuyết này danh từ tuy khác nhau mà ý lại đồng. Kinh Anh Lạc ghi: “Bậc Đẳng giác Như lai, đã trải qua ba thứ ma sự, chỉ còn một phẩm Tử ma”. Kinh Pháp Hoa ghi: “Hàng Nhị thừa chỉ phá được ba thứ ma, còn thiên ma dục giới là chưa thể phá”. Trong các kinh luận nhiều thuyết chẳng giống nhau, nhưng đều có thâm ý trong đó.

Nếu luận chung thì bốn thứ ma này phải đến khi chứng quả Bồ-đề mới dứt sạch. Vì cớ sao? Vì ma phiền não vô minh vi tế(16) phải có trí tuệ của Phật mới có thể đoạn trừ sạch. Ma ấm, giới, nhập, như Phật dạy ông Kiều Trần Như: “Sắc là vô thường, cần phải diệt sắc này, mới có thể chứng được sắc thường, thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế”.

Tử ma cũng giải thích như đoạn Kinh Anh Lạc đã nói phần trước. Thiên ma dục giới chỉ trong khi ngồi đạo tràng nó mới đến cùng Bồ-tát chiến đấu và hàng phục, nên biết bốn thứ ma này đến khi chứng quả Bồ-đề mới rốt ráo dứt sạch.

Tâm Bồ-tát rộng lớn, an trụ bất động, tu thiền định thâm sâu, từ lúc mới phát tâm Bồ-đề cho đến khi chứng Phật quả, hàng phục bốn ma, chuyển pháp luân làm Phật sự, quảng độ chúng sinh, tâm không lui sụt. Trong Kinh Niết Bàn có nói tám thứ ma, Kinh Hoa Nghiêm có nói mười thứ ma(17). Nếu hiểu được thâm ý này, thì bốn thứ ma bao hàm tất cả, chứ không có pháp nào khác. Các kinh luận nói về ma sự rất nhiều, ở đây chỉ giải thích sơ lược mà thôi.

*

Chú thích Quyển 4:

(1) Tứ Tất-đàn: 4 phạm trù mà Đức Phật dùng để hóa đạo khắp chúng sinh. Theo Trí Độ Luận 1, Giáo pháp của Phật có nhiều loại sai biệt, mới nhìn vào dường như có mâu thuẫn, nhưng nếu tổng hợp giáo thuyết ấy thì có 4 Tất đàn khác nhau, đều là thật nghĩa chứ không chống trái nhau.

1/ Thế giới Tất-đàn: tùy thuận pháp thế gian mà nói nghĩa nhân duyên hòa hợp, cũng tức là dùng các sự vật thông thường ở thế gian như tư tưởng, ngôn ngữ, quan niệm để thuyết minh chân lý duyên khởi. Như thân người là do nhân duyên hòa hợp mà tồn tại nên chẳng có thật thể. Cho rằng thân người là tồn tại vốn là kiến chấp của thế tục nói chung. Phật liền thuyết pháp thích hợp với thế tục để tùy thuận mọi người, khiến cho phàm phu vui mừng mà được chánh trí thế gian, nên Tất-đàn này còn gọi là Lạc dục Tất-đàn.

2/ Vị nhân Tất-đàn: tức là tùy theo căn cơ và năng lực khác nhau của mỗi chúng sinh mà nói các pháp thực tiễn xuất thế, khiến chúng sinh phát khởi thiện căn, nên còn gọi là Sinh thiện tất-đàn.

3/ Đối trị Tất-đàn: nhằm đối trị tất cả phiền não tham, sân, si của chúng sinh, tùy bệnh cho thuốc pháp. Đây là giáo pháp để diệt trừ phiền não và ác nghiệp của chúng sinh, vì tất-đàn này có công năng đoạn trừ các điều ác của chúng sinh nên còn gọi là Đoạn ác tất-đàn.

4/ Đệ nhất nghĩa Tất-đàn: tức là phá trừ tất cả luận nghị ngôn ngữ, trực tiếp dùng Đệ nhất nghĩa để làm sáng tỏ lý thật tướng của các pháp, khiến chúng sinh chân chính khế nhập giáo pháp, nên còn gọi là Nhập lý Tất-đàn.

(2) Tương Tục Giả: các pháp đều giả danh, do sự nhân quả về mặt thời gian mà hình thành và sự tương tục của 5 uẩn đều xem là giả có, không có thật thể.

(3) Nhân Thành Giả: các pháp hữu vi đều là giả, vì do nhân duyên tạo thành.

(4) Tương Đãi Giả: các pháp giả danh đối đãi nhau để thành lập tồn tại.

(5) Ba mươi hai tướng: là Ứng thân của Phật, chúng sinh thấy Phật chỉ thấy 32 tướng của Ngài, (tướng) này Chuyển Luân Thánh Vương và mọi người cũng có hoặc đủ hay thiếu tùy theo phước đức tu tập. Nhưng 80 vẻ đẹp (Hảo) thì chỉ Phật mới có, phần hiển lộ là tướng, phần vi tế là hảo. (Hảo) hiển phát lẫn giữa các tướng. Bồ-tát Thích Ca nhờ tinh tấn mà vượt qua 9 đại kiếp, chỉ trải qua 91 kiếp đã tu tập viên mãn nghiệp Tướng Hảo. 32 tướng có nhiều thuyết khác nhau, ở đây y theo Luận Đại Trí Độ 4, đó là:

1/ Tướng lòng bàn chân bằng phẳng, mềm mại, vừa khít mặt đất.

2/ Tướng như bánh xe 1000 căm tạo bằng những vân thịt trong lòng bàn chân và tay.

3/ Tướng ngón tay, ngón chân thon dài, ngay thẳng.

4/ Tướng gót chân đầy đặn no tròn.

5/ Tướng giữa ngón tay và ngón chân đều có màng nối liền nhau, cũng giống như Nhạn chúa, hễ xòe các ngón chân thì hiện, không xòe thì không hiện.

6/ Tướng tay chân rất mềm mại như Kiếp-ba.

7/ Tướng mu bàn chân vun lên đầy đặn.

8/ Tướng xương đùi tròn thon nhỏ như Nai chúa.

9/ Tướng hai tay, khi đứng thẳng hai tay duỗi xuống dài quá gối.

10/ Tướng nam căn ẩn kín trong thân.

11/ Tướng toàn thân rất đầy đặn, cân đối gọn gàng.

12/ Tướng lông và tóc từ đầu đến chân đều xoay về bên phải, và có màu đen pha hồng, rất mềm mại, bóng mướt.

13/ Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông màu lưu ly và tỏa ra mùi thơm vi diệu.

14/ Toàn thân sáng như màu vàng ròng.

15/ Ánh sáng toàn thân phát chiếu khắp tam thiên thế giới, bốn phía mỗi phía đều chiếu xa một trượng.

16/ Da dẻ mịn màng trơn láng, tất cả bụi bặm không dính.

17/ Thịt ở 7 chỗ: lòng hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai và cổ đều đầy đặn mềm mại.

18/ Xương thịt dưới hai nách đầy đặn không lõm.

19/ Nửa thân trên rộng, 4 oai nghi trang nghiêm như Sư tử chúa.

20/ Trong loài người thân Phật cao lớn và ngay thẳng nhất.

21/ Tướng hai vai tròn trịa, đầy đặn, thù thắng vi diệu.

22/ Phật có 40 cái răng rất đều đặn và trắng như tuyết.

23/ Các răng của Phật đều rắp không lớn không nhỏ, khít nhau không chút kẻ hở.

24/ Ngoài 40 cái răng, hàm trên và hàm dưới mỗi hàm có hai cái răng nanh màu sắc trắng trong, sáng sạch, bén nhọn như gươm, cứng chắc như Kim cương.

25/ Hai má đầy đặn như má sư tử.

26/ Trong miệng thường có vị tối thượng trong các mùi vị.

27/ Đầu lưỡi lớn rộng mềm mỏng, le ra dài đến mé tóc.

28/ Tướng âm thanh giọng nói thanh tịnh tròn đầy như tiếng trống trời và như tiếng chim Ca-lăng- tần-già.

29/ Đôi mắt xanh biếc như hoa sen xanh.

30/ Lông mi ngay thẳng không tạp lộn.

31/ Tướng đỉnh đầu có bướu thịt nổi lên như hình búi tóc.

32/ Giữa hai đầu lông mày có sợi lông trắng sáng, mềm mại như đâu-la-miên, dài 1 trượng 5 thước, cuộn tròn lại theo chiều bên phải, thường phát ánh sáng nên gọi là hào quang.

Ba mươi hai tướng này, do thực hành 100 điều thiện thì được một diệu Tướng, còn gọi là “Bách phước trang nghiêm”.

(6) Tâm nhãn: Tâm nhãn, tức là chỉ sự thấy biết nhờ năng lực thiền định, không nhờ nhục nhãn, cũng không nhờ thiên nhãn mà chủ yếu nhờ năng lực thiền định soi thấy được chư Phật và sự trang nghiêm của các cõi Phật, hoặc thấy được các chất bất tịnh trong thân thể của mình. Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật: khi vua Tần-bà-ta-la bị con trai là A-xà-thế giam trong ngục tối, ông đã dùng tâm nhãn để thấy Phật từ xa.

(7) Lục thân: 6 người thân thuộc: cha, mẹ, anh, em, vợ và con.

(8) Mười hai bộ kinh: 12 thể loại kinh được phân biệt theo hình thức trình bày và nội dung của giáo pháp.

1/ Khế kinh: ghi chép lời dạy của Phật theo thể loại văn xuôi.

2/ Trùng tụng: phần kệ tụng đọc lại.

3/ Thọ ký: đoạn văn nói về việc ấn chứng.

4/ Phúng tụng: kệ tụng ghi lại trực tiếp, không lập lại ý trước.

5/ Tự thuyết : không hỏi mà Phật tự khai thị.

6/ Nhân duyên: ghi chép nhân duyên giáo hóa.

7/ Thí dụ: dùng thí dụ để giảng nói giáo nghĩa.

8/ Bản sự: nói về đời trước của Phật và đệ tử.

9/ Bản sinh: nói về hạnh đại bi của Phật thời quá khứ.

10/ Phương quảng: Kinh nói giáo nghĩa rộng lớn cao xa.

11/ Vị tằng hữu: việc hiếm có của Phật và đệ tử.

12/ Luận nghị: phân tích thể tính các pháp và làm sáng tỏ ý nghĩa.

(9) Bảy mươi hai bí pháp: 72 bí pháp nói trong Tạp A Hàm, mỗi mỗi đều dùng phương tiện quán tâm làm pháp trị, bí pháp này tùy theo cơ duyên, nên nay chỉ nêu vài bí pháp để tham khảo.

1/ Thôn Xà Pháp (Pháp nuốt rắn): Kinh A Hàm bổn thứ nhất: “Như người ăn cơm, nuốt nhằm bóng con rắn, liền cho là rắn thật, ngày đêm tư tưởng thành bệnh, có người biết nguyên nhân, liền đem rắn chết lén bỏ vào bô đại tiện rồi hô lên là con rắn đã ra, bệnh liền lành”.

2/ Kinh A Hàm ghi: “Nước Xá Vệ có một trướng giả tên là Thần Sư, nhà có một nô tỳ diện mạo rất xấu, thường sai làm việc cực nhọc bên ngoài, như gánh nước, phát cỏ v.v… một hôm ra ngoài đồng, bên bờ suối có cây cổ thụ, trên cây có một cô gái đẹp đã thắt cổ chết, bóng hiện trong suối. Nữ tỳ thấy liền tưởng là bóng mình, vì thế bèn giận hết mọi người, tự nghĩ ta đẹp đẽ thế này làm vị phu nhân, tiểu thơ còn dư chán, cớ sao sai ta thường làm nô dịch lo việc điền viên hạ liệt thế này, bèn đập bể gàu múc nước. Về nhà, cô ta ngồi ngay ngắn trên Bảo trướng, im lặng không thèm nói, mọi người cho đó là bệnh điên cuồng, bèn hỏi cô ta, nữ tỳ đem việc đã thấy kể lại mà đáp: “Tại sao các người không thấy tôi xinh đẹp như vầy mà không được đối xử tử tế”, mọi người lấy gương đưa cho cô ta soi, tuy thấy mình xấu nhưng vẫn không tin, lại cho là gương xấu. Mọi người đã hiểu nguyên nhân, liền dẫn cô ta ra bờ suối có cô gái chết trên cây, chỉ cho tỳ nữ thấy. Do đó tâm ý sáng tỏ, sanh lòng hổ thẹn”. Nhân soi bóng mà khởi bệnh, cũng nhân thấy bóng mà hết bệnh.

Bảy mươi bí pháp trị bệnh trong Kinh A Hàm, mỗi mỗi đều như thế cả. Vì thế cổ nhân nói: “Vọng mai chỉ khát, huyền sa sung cơ” (trông me hết khát, treo cát trừ đói) đều là tướng trạng quán giả tưởng mà được lợi ích.

(10) Ngũ trược: 5 thứ cặn đục khởi lên trong tâm.

Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sinh trược, Mạng trược.

(11) Ngũ triền: 5 thứ phiền não trói buộc tâm, tâm sở pháp và sở duyên.

(12) Cửu kiết: là 9 thứ phiền não trói buộc chúng sinh không thể thoát khỏi sinh tử. Đó là: ái, khuể, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, xan.

(13) Mười sáu thứ phiền não (Thập lục sử): mười sáu Tư hoặc trong 3 cõi, theo thuyết của Đại thừa Duy thức, đó là: cõi Dục có 6 hoặc: tham, sân, si, mạn, thân kiến và biên kiến, cõi sắc và vô sắc mỗi cõi trừ Sân phiền não nên có 10 thứ.

(14) Như (Như như, Chân như, Như thật): mặc dù các pháp đều có sai biệt, nhưng về mặt lý thể của chúng thì bình đẳng không khác. Lý thể bình đẳng này vốn đồng nhau, cũng gọi là Như. Như cũng là tên gọi khác của lý, vì lý này chân thật nên gọi là Chân như, vì lý này là một nên gọi là Nhất như. Kinh Bát Nhã gọi Như tức là Không, Kinh Pháp Hoa gọi Như tức là Trung.

(15) Pháp tính thân (còn gọi là Chân như): Giác tướng năng chứng làm Pháp tính thân, pháp thể sở chứng làm Pháp tính độ, vì bản thể cả hai tức là Chân như.

(16) Vô minh vi tế (còn gọi là Căn bản vô minh): tức là chỉ cho một niệm đầu tiên (Hốt nhiên niệm khởi), tức là không rõ lý Chân như bình đẳng nên chợt khởi động niệm.

Là nguyên thỉ các phiền não, là tối sơ mê vọng, vì niệm này rất vi tế khó có thể phân biệt giữa tâm sở và tâm vương.

(17) Mười thứ ma: mười loại ma ghi trong Kinh Hoa Nghiêm 42, đó là: Ngũ ấm ma, Phiền não ma, Nghiệp ma, Tâm ma, Tử ma, Thiên ma, Thất thiện căn ma, Tam-muội ma (đắm vào thiền định sở đắc là ma), Thiện tri thức ma (bỏn xẻn chánh pháp là ma) và Bất tri Bồ-đề chính pháp ma.

***

CHƯƠNG 7: GIẢI THÍCH TƯỚNG TU CHỨNG THIỀN BA-LA-MẬT

Giải thích 4 loại thiền đồng thời nói rõ 9 loại Thiền ba-la-mật.

* I. Cửu tưởng

* II. Bát niệm

* III. Thập tưởng

* IV. Bát bối xả

* V. Bát thắng xứ

* VI. Thập nhất thiết xứ

* VII. Cửu thứ đệ định

* VIII. Sư tử phấn tấn tam-muội

* IX. Siêu việt tam-muội

Phần trước đã nêu rõ pháp môn Phương tiện Nội và Ngoại, nếu hành giả có thể chuyên tâm tu tập, chuyên dùng phương pháp của thiền môn, chắc chắn có chứng nghiệm thực tế. Cho nên Chương 7 phần nhiều nói về sự chứng nghiệm tu hành, trong kinh có ghi: “Pháp môn ta tu tập, khi chứng tự nhiên biết”. Nay giải thích tướng tu chứng của bốn loại thiền:

– TƯỚNG TU CHỨNG THIỀN THẾ GIAN (HỮU LẬU)

– TƯỚNG TU CHỨNG THIỀN THẾ GIAN VÀ XUẤT THẾ GIAN

– TƯỚNG TU CHỨNG THIỀN XUẤT THẾ GIAN

– CHẲNG PHẢI THẾ GIAN CHẲNG PHẢI XUẤT THẾ GIAN TƯỚNG TU CHỨNG THIỀN THẾ GIAN (HỮU LẬU)

Có ba phần:

*1. Tứ thiền (bốn tầng thiền)

*2. Tứ Vô lượng tâm

*3. Tứ Vô sắc định

Trước tiên là giải thích tướng tu chứng của bốn tầng thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.

Nay nếu luận về căn bản chánh định của Dục giới thì chỉ có bốn tầng thiền, nếu có thêm Trung gian thiền thì có nhiều thuyết chẳng đồng.

Như thuyết Tát Bà Đa bộ nói: “Có Vị đáo địa định và Trung gian thiền, thêm bốn tầng thiền, tổng cộng là sáu thứ thiền định”.

Thuyết Đàm Vô Đức nói: “Không có Vị lai thiền mà có Định dục giới và Trung gian thiền, cộng thêm bốn tầng thiền, tổng cộng gồm có sáu thứ thiền định”.

Thuyết Ma Ha Diễn và Cù Sa thì cho rằng: “Có Định dục giới, Vị đáo địa và Trung gian thiền, cộng thêm bốn tầng thiền, tổng cộng là bảy thứ thiền định”.

*1. TỨ THIỀN

(bốn tầng thiền căn bản)

Hiện nay ở đây có thể dung hội mà suy ra, nên chỉ giải thích về bốn tầng thiền căn bản là:

A. Sơ thiền

B. Đệ Nhị thiền

C. Đệ Tam thiền

D. Đệ Tứ thiền

A. SƠ THIỀN

Như bài kệ trong kinh ghi:

Ly dục và pháp ác

Gồm có giác có quán

Ly dục sinh hỷ lạc

Người ấy nhập Sơ thiền

Đã xa lìa lửa dâm

Được thiền định mát mẻ

Như người quá nóng nực

Vào ao lạnh được vui

Như người nghèo được vàng

Vui mừng động tâm giác

Phân biệt gọi là quán

Nhập Sơ thiền cũng vậy.

Bài kệ này đã giải thích đầy đủ trường hợp tu chứng Sơ thiền, nhưng hàm ý rất khó hiểu, nên cần giải thích thêm.

Giải thích Sơ thiền chia làm ba phần:

I- Giải thích danh từ Sơ thiền

II- Phương pháp tu tập Sơ thiền

III- Tướng chứng Sơ thiền

I- GIẢI THÍCH DANH TỪ SƠ THIỀN

Sơ thiền gọi là Chi lâm, cũng còn gọi là Công đức tùng lâm. Khi hành giả chứng được “chi lâm” thì gọi là Sơ thiền. “Chi” tức là giác và quán, khi hành giả tu giác quán, Sơ thiền nhất định phát sinh trước, cho nên giác quán cũng gọi là Sơ thiền.

HỎI: Nếu nói do thiền định khai phát trước, nên gọi là Sơ thiền, còn Định dục giới và Vị đáo địa cũng khai phát đầu tiên, vì sao không gọi là Sơ thiền ?

ĐÁP: Thiền cũng còn gọi là Công đức tùng lâm. Định dục giới, Vị đáo địa thì chưa có Chi lâm công đức, cho nên dù phát sinh đầu tiên cũng không thể gọi là Sơ thiền. Trong Ma Ha Diễn có ghi: “Định dục giới, Vị đáo địa và Trung gian thiền thì có trí tuệ nhiều mà định lại ít, là chỗ không được an lạc” do chẳng phải chánh định, cho nên không được nhận danh từ Sơ thiền.

Sơ thiền cũng còn gọi là có giác có quán tam- muội, vì có người nghi ngờ nói: “Nội tâm có giác có quán, chắc chắn không được an định” cho nên Phật nói giác quán tam-muội (chánh định).

Luận Địa Trì ghi: “Sơ thiền cũng còn gọi là giác quán câu thiền” vì khi Sơ thiền khai phát thì giác quán đồng thời cũng khai phát. Sơ thiền còn gọi là “Thánh thuyết pháp định” vì trong định này có giác quán, vẫn còn trên ngôn ngữ, nên gọi là Thuyết pháp định. Bởi vậy Sơ thiền mới có những danh từ khác nhau.

II- PHƯƠNG PHÁP TU TẬP SƠ THIỀN

Có hai phần:

1. Pháp tu tập

2. Luận về tâm năng tu

1. Pháp tu tập

Tức là phương pháp tu An-na-ban-na (Sổ tức), chính là pháp môn tu tập căn bản của Sơ thiền, trong đó chia làm 3 ý để giải thích.

a) Ý nghĩa danh từ

b) Luận tướng Sổ tức

c) Phương pháp quán hơi thở chẳng đồng

a) Ý nghĩa danh từ

An-na-ban-na là âm Phạn, đời Tần dịch là Sổ tức (hơi thở ra vào). Trong Kinh An Ban Thủ Ý Tam-muội ghi: “Chữ An có nghĩa là sinh, chữ Ban nghĩa là diệt”, nếu y theo ý nghĩa sinh diệt của hơi thở, tức là như ý ở trên vậy. Nếu giải thích trên sự sinh diệt của tâm niệm thì không phải ý nghĩa này. Cho nên ở đây dịch chữ An-na-ban-na, nghĩa là Sổ tức “hơi thở ra vào”.

b) Luận tướng Sổ tức

Nghĩa là tướng trạng hơi thở ra vào, gồm có bốn thứ:

– Phong

– Suyễn

– Khí

– Tức

Bốn tướng hơi thở này, trong phần giải thích về phương pháp điều Tức (điều hòa hơi thở) đã có nói qua. Nếu tướng hơi thở Phong thì tâm tán loạn, nếu tướng hơi thở Suyễn thì ngăn trệ, hơi thở Khí thì nhọc nhằn, hơi thở Tức thì tâm an định. Vì vậy hành giả phải bỏ ba tướng trước, chỉ dùng tướng sau cùng. Tướng Tức là tướng hơi thở điều hòa ra vào không có tiếng, không ngăn trệ, hơi thở nhè nhẹ như còn như mất.

c) Phương pháp quán hơi thở chẳng đồng

Có thầy nói: “Nên chú tâm nơi hơi thở ra, vì sao? Nếu đếm theo hơi thở ra thì hơi khí không gấp, thân không đầy, thân tâm được nhẹ nhàng dễ nhập thiền định”.

Có thầy nói: “Nên đếm theo hơi thở vào, vì sao?” Vì có năm lợi ích:

1/ Dễ dàng nhập định

2/ Dứt trừ ngoại cảnh

3/ Dễ thấy ba mươi sáu vật trong thân thể

4/ Thân nhẹ nhàng, khí lực sung mãn

5/ Nội tâm sung mãn dễ dứt trừ tâm tham sân

Do có những lợi ích thiết thực như thế, cho nên cần theo hơi thở vào.

Có thầy lại nói: “Phương pháp đếm theo hơi thở ra hay vào cũng không nhất định, chỉ cần biết phương tiện tùy lúc, tùy thời có thể dùng, tốt nhất là được an tâm nhập định, nếu không trở ngại thì cứ dùng”.

Ba phương pháp tu tập của ba vị thầy trên đây, đều không cho phép dùng một lúc cả hai pháp, vì cớ sao? Vì dễ phát sinh bệnh tắc nghẹn, trong cổ họng như có vướng vật gì, khạc không ra mà nuốt cũng chẳng vào.

2. Luận về tâm năng tu

Gồm có ba phần:

a) Tâm đếm

b) Chuyển biến

c) Tổng kết

a) Tâm đếm

Tức là dùng tâm vi tế để thâu nhiếp tâm niệm tán loạn, chuyên chú tâm nơi hơi thở, đếm từ 1 đến 10, khiến tâm không phân tán, nên gọi là Sổ tức. Nếu số đếm chưa đủ mười gọi là Sổ giảm, nếu đếm lên tới mười một gọi là Sổ tăng. Dù sổ tăng hay sổ giảm cũng đều không phải pháp được an định, nếu đếm từ một đến mười được liên tục không sai, mới gọi là quán Sổ tức được thành tựu.

Nếu trong thời gian đếm số từ 1 đến 10, tâm nghĩ tưởng việc khác thì số đếm bị tán loạn, nếu đếm hơi thở không liên tục thì không thể trị được tâm tán loạn. Nếu số đếm vượt quá 10, thì ngay trong một niệm đồng thời có hai số mục, tâm tán loạn liền khởi, nên gọi là Tăng. Phương pháp tu Sổ tức chỉ cần chuyên chú tâm nơi hơi thở và nhớ số mục đã quy định, không được đếm nhiều số. Nếu hơi thở nhiều thì khí đầy, bụng trướng sình, hơi thở gấp, ngồi không an định.

b) Phương pháp Chuyển biến

Khi hành giả mới bắt đầu tu pháp Sổ tức, biết hơi thở vi tế và có vấn đề bất thường, nên dừng đếm số chuyển sang phương pháp Tùy tức: nghĩa là theo hơi thở ra vào tự nhiên, khi tâm đã yên lặng, bỏ Tùy tức tâm được dừng trụ. Khi tâm dừng trụ nhưng lại bị hôn trầm, liền dùng công phu quán chiếu tâm ấy, nếu tâm dao động liền bỏ pháp quán trở về Sổ tức, Tùy tức và Chỉ, đây gọi là Hoàn. Khi tâm không còn tán loạn, hôn trầm, tinh thần ngưng lặng, đây gọi là Tịnh.

Nếu hành giả khéo ứng dụng Lục diệu pháp môn này để thu nhiếp tâm niệm, thì sẽ dễ dàng được nhập định.

c) Tổng kết

Phương pháp Sổ tức chính là phương tiện đầu tiên nhập đạo tu hành.

HỎI: Các pháp môn đều có thể làm cửa phương tiện đầu tiên, vì sao nói chỉ dùng pháp Sổ tức?

ĐÁP: Không phải vậy, nay y theo trong kinh Phật dạy: “Pháp Sổ tức là cửa đầu tiên bước vào đạo của ba đời chư Phật, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni mới đến ngồi thành đạo dưới cây Bồ- đề”. Khi hành giả muốn tu học Phật pháp, trước tiên nên tu pháp Sổ tức, Tùy tức, cho đến Hoàn, Tịnh, như trong Kinh Thụy Ứng có ghi rất đầy đủ rõ ràng.

Lại nữa, Tổ thứ mười lăm là Đề-bà(1), khi Ngài mới xuất thế, hàng phục ngoại đạo, được nhiều người cung kính và tin tưởng, Ngài độ nhiều người xuất gia không đếm xuể. Có một lần Ngài triệu tập tất cả bảy chúng xuất gia và tại gia, lại có cả vua quan, Bà-la-môn v.v… khi Ngài thăng tòa sư tử, bỗng rơi nước mắt như mưa, lúc này toàn chúng đều lặng lẽ, nghĩ rằng: “Không lẽ Phật pháp sắp diệt, ngoại đạo hưng thịnh hay trong nước có tai nạn bệnh dịch lưu hành?”.

Ngài biết tâm niệm của đại chúng, liền dùng khăn trắng lau khô nước mắt, chỉnh đốn dung nhan, y phục, đưa tay phải lên mà nói rằng: “Chẳng phải Phật pháp sắp diệt và ngoại đạo hưng thịnh, cũng chẳng phải trong nước sắp có tai nạn hay dịch bệnh lưu hành, mà ta chỉ thương xót mặt trời Phật pháp sắp lặn, vầng sáng Thánh hiền sắp chìm mất. Trong hàng Cà-sa không thấy Thánh nhân, Hiền nhân nên ta mới rơi lệ”.

Cả đại chúng nghe Ngài nói lời này, ai ai cũng đều xúc động, thương xót kêu khóc. Trên hư không có đàn chim bay ngang qua, nghe tiếng khóc bi thương, chúng liền rơi loạn xạ. Lúc này Ngài dùng âm thanh từ bi an ủi đại chúng mà nói kệ rằng:

Mặt trời Phật sáng rỡ ở thế gian.

Chúng sinh không mắt nên chẳng thấy.

Trăng sáng Thánh hiền chưa từng diệt,

Chúng sinh chướng nặng nên không gặp.

Nếu hay rửa sạch tâm nhãn bẩn,

Tự nhiên sẽ thấy Phật, Thánh hiền.

Tại sao chìm đắm trong sầu khổ,

Như kẻ ngu si như trẻ con.

Tất cả đại chúng khi nghe âm thanh từ bi của Bồ-tát, họ liền tỉnh ngộ, thu nhiếp thân tâm, lặng lẽ an tọa không tiếng động, nhất tâm nhìn Bồ-tát và lắng nghe Ngài thuyết pháp. Ngài nói kệ dạy chúng:

Phật nói pháp cam lồ.

Gọi là An-ban-na (Sổ tức),

Đối với các pháp môn,

Là an ổn bậc nhất.

Nhân duyên thứ lớp khởi

Không loạn không vọng tưởng

Ví như trồng cây lựu,

Mầm chồi thứ lớp sinh

Sắc hoa và vị quả

Tự nhiên không giả tạo,

Thời đến thì tự chứng,

Chẳng phải như phấn vẽ.

Các ông đã thuần thục,

Ơn ông trồng cây lựu,

Khiến tâm nhập cam lộ

Thứ lớp sinh đạo pháp.

Từ đây về sau, các pháp sư ở Ấn Độ truyền nhau không dứt, phần nhiều là dùng phương pháp Sổ tức làm cửa vào đạo. Bậc Đại sĩ Tứ y(2), Lục thông Bồ-tát thuyết pháp độ người, trước tiên đều đề xướng dùng pháp này, lẽ nào pháp Sổ tức chẳng phải là phương tiện đầu tiên nhập đạo hay sao?

Vào thời mạt pháp chư Tổ thay nhau thuyết pháp dạy người, tự mình không tu thiền định, vì thế đạo đã không chứng được, nói ra thì lại phá người tu thiền định, nếu xét theo lời dạy của ngài Đề-bà thì thiền định là cốt yếu, hạng người điên đảo ở thế gian thật đáng xót thương thay.

Lại có người nói: “Thiền pháp không thể ở trong đại chúng diễn nói”, nhưng hãy xem ngài Đề-bà ở trong đại chúng diễn nói thiền định. Ngày nay chúng ta lại ngậm miệng hay sao? Nếu phô trương nói giữa đại chúng rằng: “Tôi chứng pháp này, ông chứng pháp kia và cảnh giới bí mật vi diệu trong thiền định”, đó mới thật là tội không phải nhẹ vậy.

III- TƯỚNG CHỨNG SƠ THIỀN

Nếu luận từ pháp tu phương tiện cho đến khi chứng Sơ thiền, gồm có ba giai đoạn:

1. Chứng Định dục giới

2. Chứng Vị đáo địa

3. Chứng Sơ thiền

1. Chứng Định dục giới

Có hai phần:

a) Cảnh giới chứng đắc

b) Trường hợp chứng và lui sụt

a) Cảnh giới chứng đắc

Trong Dục giới cũng có ba thứ tâm:

– Trụ Tâm thô

– Trụ Tâm tế

– Chứng Định dục giới

– Trụ tâm Thô: Do dùng phương pháp Sổ tức tu tập, nội tâm dần dần rỗng rang ngưng lặng, không còn những duyên lự, gọi là Thô.

– Trụ tâm Tế: Sau khi tâm thô từ từ chuyển dần sang vi tế, gọi là tâm Tế.

Khi đang nhập tâm thô và tế hoặc khi sắp chứng được, sẽ có trường hợp trì thân xuất hiện, lúc này thân tâm hành giả tự nhiên chánh trực, ngồi không mệt mỏi, như có vật gì trì giữ thân thể.

Nếu trường hợp trì thân tốt thì hành giả cảm thấy nhẹ nhàng vi tế, pháp này chỉ trợ giúp cho thân thể mà thôi.

Nếu gặp trường hợp trì thân không được tốt thì hành giả có cảm giác cứng đờ, cấp bách mạnh mẽ, khi đến thì khổ sở, cấp bách và cứng đơ, lúc đi thì cảm thấy chậm chạp, khó khăn mệt mỏi, pháp này không tốt.

– Chứng Định dục giới: Sau khi tâm hành giả được vi tế, giác biết nội tâm tự nhiên thanh tịnh sáng suốt cùng với thiền định tương ưng. Khi ngồi do pháp định trì giữ, nội tâm lặng lẽ mặc tình bất động, cảnh giới thiền định phát sinh dần dần từ cạn đến sâu, có thể ngồi một tiếng đồng hồ mà tâm ý không phân tán, đây gọi là Định dục giới. Khi hành giả nhập định này, sắc tướng báo thân Dục giới vẫn chưa hết.

b) Trường hợp chứng và lui sụt

Sau khi hành giả nhập Định dục giới, do pháp và tâm còn yếu cạn, phần trì giữ chưa có, cho nên khó nhập được định mà dễ bị lui sụt, nên biết nguyên nhân dễ bị lui sụt là do hai thứ :

– Do từ ngoại duyên

Khi hành giả chứng được định, vì không khéo léo dụng tâm, phương pháp nội phương tiện và ngoại phương tiện chống trái nhau, nên nửa đường bị sai lầm, dễ bị lui sụt thiền định. Hoặc khi hành giả chứng dược thiền định, lại đến nói với người khác, hoặc hiện tướng chứng được thiền định để cho người khác biết, hoặc có duyên sự, nên bị phá hoại tướng định. Tuy gặp những thứ ngoại duyên như thế mà hành giả lại không biết, không có phương pháp đối trị các chướng ngại phát sinh, thì rất dễ dàng bị lui sụt thiền định. Nếu hành giả có thể trì giữ sức định thật tốt không cho lui sụt, những chướng ngại không thể phát sinh. Đây gọi là chứng đắc thiền định.

– Do từ nội duyên

Có sáu nguyên nhân làm lui sụt thiền định:

1/ Tâm hy vọng

2/ Tâm nghi ngờ

3/ Tâm lo sợ

4/ Tâm quá vui mừng

5/ Tâm tham ái

6/ Tâm ưu sầu hối hận

Tâm hy vọng là khi chưa chứng được thiền định, khởi tâm mong cầu được định. Tâm nghi ngờ là khi nhập thiền định, khởi tâm hoài nghi, có được định hay không, hoặc tâm cảm thấy lo sợ, hoặc khởi tâm vui mừng, hoặc sinh tâm tham ái, ưa thích. Tâm ưu sầu hối hận là sau khi xuất thiền định, lại lo sầu hối hận.

Sáu thứ tâm này thường hay phá rối tâm của hành giả, khiến thiền định bị thoái mất. Nếu luận chung cả sáu thứ này, khi tâm chưa được định nên trong lúc Nhập, Trụ, Xuất đều có sáu thứ này phát sinh, khiến lui sụt thiền định. Nếu không có sáu thứ này sẽ dễ dàng chứng được thiền định, do không mất thiền định, nên gọi là Đắc định. Việc này tuy nông cạn, nếu không giải thích thì người tu hành không biết, nếu hành giả khéo hiểu hàm ý trong đó, sẽ biết rõ những chướng ngại.

2. Chứng Vị đáo địa

– Sau khi hành giả chứng được Định dục giới, thân tâm tiêu mất, cảnh giới rỗng không, không có sắc thân dục giới, hoặc trong lúc tọa thiền không thấy đầu, tay, chân, sàn nhà, bồ đoàn v.v… tương tự như hư không, đây là cảnh giới định Vị đáo địa.

Có trường hợp giải thích tướng Vị đáo địa, cũng có thể phát sinh Sơ thiền, tức là những phương tiện đầu tiên khiến cho tâm dễ an định, còn gọi là Tiền phương tiện định Sơ thiền, cũng gọi là Vị lai thiền, vì nó chưa đạt đến thiền định, cũng gọi là “Hốt nhiêm trạm tâm”, nghĩa là bỗng nhiên nội tâm vắng lặng trong sáng. Cảnh giới tu chứng của định này, đương nhiên có sâu và cạn, nhưng hiện nay không thể nói cụ thể hết. Lại nữa, định này cũng có những hiện tượng tà ngụy, hành giả nên lưu ý, vì cảnh giới tà ngụy rất nhiều, trên đây chỉ giải thích sơ lược có hai thứ:

– Định tâm quá sáng và định tâm quá mờ tối, cả hai tướng cũng đều là Tà định.

a) Tướng định tâm quá sáng: Khi hành giả nhập định thấy các hình sắc xanh, đỏ, vàng, trắng ở ngoài. Hoặc thấy các cảnh giới như cung điện, mặt trăng, mặt trời, tinh tú v.v… Hoặc nhập định từ một ngày cho đến bảy ngày mà không xuất định, hoặc trong thiền định thấy như đã chứng được thần thông. Những hiện tượng này đều là tướng Tà định, hành giả nên xả bỏ.

b) Tướng định tâm mờ tối: Sau khi hành giả nhập định này, bỗng nhiên nội tâm mờ tối không còn tri giác, như trạng thái đang ngủ say. Tức là không có tâm tưởng, nó có thể khiến tâm phát sinh điên đảo, nên hành giả phải nhanh chóng từ bỏ.

Trên đây chỉ nói đại khái về tướng Tà định, trong đó có rất nhiều chướng nạn gây trở ngại, không thể dùng văn tự mà biểu đạt đầy đủ. Nếu y theo thuyết của Luận Thành Thật và Luận Đạt Ma Tỳ Đàm, phân chia hai thứ định này là không tiện vậy. Nay theo tôn giả Cù Sa phân chia hai thứ định này thì có chỗ sai biệt, như trong Ma Ha Diễn đã giải thích qua ở phần trước. Nhưng rất nhiều người khi tọa thiền chứng được Định dục giới và Vị đáo địa, cảnh giới họ chứng nghiệm có hai tướng định khác nhau. Cho nên nay mới chia thành hai thứ định để giải thích.

3. Chứng Sơ thiền

Giải thích trường hợp chứng Sơ thiền có sáu ý:

a) Sơ thiền phát

b) Ý nghĩa 5 chi

c) Nhân quả và thể dụng

d) Tướng sâu cạn

e) Tướng tiến thoái

g) Tướng công đức

a) Sơ thiền phát

Có bốn phần:

a.1. Tướng Sơ thiền phát

a.2. Tướng không phải Sơ thiền

a.3. Nhân duyên khai phát

a.4. Phân biệt tướng tà chánh

a.1. Tướng Sơ thiền phát

Hành giả trụ trong định Vị đáo địa, chứng được mười sáu thứ Xúc, đó là hiện tượng Sơ thiền khai phát.

Thế nào là chứng?

– Nếu sau khi hành giả chứng được định Vị đáo địa, từ từ nhập sâu vào thiền định, cảm giác thân tâm rỗng rang vắng lặng, không thấy có những vật trong và ngoài thân thể. Hoặc trải qua một ngày cho đến bảy ngày, hoặc một tháng, một năm, định tâm vẫn không hoại mất mà lại còn trì giữ và tăng trưởng. Trong định này hành giả thấy thân tâm ngưng lặng, dần dần chuyển động nhè nhẹ, khi động hành giả cảm thấy thân từ từ xuất hiện, bồng bềnh như mây, như bóng, đây là tướng Động xúc đang khai phát, có khi phát từ trên xuống dưới hoặc từ dưới phát lên, hoặc phát sinh từ eo lưng, rồi đến khắp toàn thân. Phát phần trên thì dễ bị thoái mất. Nếu phát phần dưới thì dễ được tăng tiến.

Khi tướng Động xúc khai phát cũng có vô lượng công đức, nay chỉ nói sơ lược có mười thứ thiện pháp cùng Động xúc phát khởi.

Mười thứ là:

– Định – Không – Minh tịnh – Hỉ duyệt – Lạc

– Thiện tâm sinh – Tri kiến sáng suốt – Giải thoát ràng buộc – Cảnh giới hiện tiền – Tâm nhu nhuyến.

Mười thiện pháp này cùng Động xúc đồng thời phát khởi, cho nên gọi là quyến thuộc của động xúc, công đức của nó rất thù thắng nhiệm mầu, trang nghiêm, nếu giải thích đầy đủ thì khó hết được, vì thế ở đây chỉ nói sơ lược về hiện tượng khi Động xúc mới phát.

Khi Động xúc phát, thời gian có thể một ngày, mười ngày, một tháng hay một năm. Trong thời gian trải qua các Xúc đó trở về sau, lần lượt phát thêm những tướng Xúc khác, thời kỳ phát mười sáu thứ Xúc gọi là Sơ thiền.

Những tướng Xúc: tức là tám loại cảm giác:

1/ Động xúc: khi tọa thiền, thân thể chốc lát khởi trạng thái dao động.

2/ Dưỡng xúc: chốc lát thân ngứa ngáy không yên.

3/ Lãnh xúc: chốc lát thân lạnh như nước đá.

4/ Khinh xúc: chốc lát thân nhẹ như mây, như bụi, có cảm giác như bay bổng.

5/ Trọng xúc: chốc lát thân nặng như đá lớn, không thể lay động.

6/ Hoạt xúc: chốc lát thân trơn nhẵn như sữa.

7/ Noãn xúc: chốc lát thân nóng như lửa.

8/ Sáp xúc: chốc lát thân rít ráp như vỏ cây.

Lại có tám thứ cảm giác khác:

1/ Trạo: bứt rứt không yên

2/ Ỷ: trơn

3/ Lãnh: lạnh

4/ Nhiệt: nóng

5/ Phù: dao động

6/ Trầm: hôn trầm

7/ Kiên: cứng

8/ Nhuyễn: mềm

Tám thứ xúc này và tám xúc ở trên, tuy tướng trạng đồng nhau, nhưng nếu quán xét kỹ thì cũng có phần nhỏ khác nhau. Cho nên mới chia danh mục riêng, nếu hợp cả hai thứ cộng thành mười sáu thứ. Khi mười sáu thứ xúc này phát sinh, cũng đều có thiện pháp công đức quyến thuộc, như tướng trạng Động xúc đã nói ở trước.

Hành giả chứng được định Vị đáo địa, phát sinh các công đức thiện pháp của mười sáu xúc, nên gọi là sơ phát Sơ thiền, cũng do Tứ đại thanh tịnh Sắc giới, nương nơi báo thân của Dục giới mà phát sinh những hiện tướng đó. Cho nên trong Ma Ha Diễn có ghi: “Tứ đại cõi Sắc tạo sắc, là nhờ nương gá thân Dục giới”.

a.2. Tướng không phải Sơ thiền

HỎI: Khi hành giả mới bắt đầu tọa thiền, tâm chưa được an định, cũng phát những thứ xúc như: lạnh, nóng, động v.v… nhưng không có những công đức phát sinh như nói ở trước. Có người cho rằng đây là bệnh sinh khởi. Vì sao? Vì các xúc như: rít ráp, nặng nề v.v… là bệnh do Địa đại sinh; các xúc như: nhẹ, động, là bệnh do Phong đại sinh; xúc như: ngứa, nóng v.v… là bệnh do Hỏa đại sinh; xúc như: lạnh, trơn là do bệnh Thủy đại sinh.

Lại nữa, vì có những xúc phát sinh nên Ngũ cái sinh khởi:

– Do nóng, nhiệt, ngứa v.v… nên dẫn đến bệnh tham dục.

– Do nặng nề, hôn trầm v.v… nên sinh bệnh thùy miên.

– Do dao động, lạnh v.v… nên sinh bệnh trạo hối.

– Do cứng, rít ráp v.v… nên sinh khởi niệm nghi.

– Do nặng nề, cứng đơ, rít ráp v.v… nên sinh sân giận.

Nên biết khi phát khởi những thứ xúc, có thể khiến Tứ đại sinh bệnh và sinh khởi Ngũ cái gây chướng ngại. Có người nói những thứ xúc này là do Ma tạo ra, vì thế khi Động xúc phát thì có những bệnh như trên. Đây đều là tướng xúc do Ma tạo ra. Vì sao nói đây là Sơ thiền?

ĐÁP: Không phải thế, như theo lời ông nói thì hiện tượng Xúc phát sinh trên là tướng sinh bệnh ngăn chướng, hiện tượng sáng và tối là tướng Tà xúc phát sinh và hiện tượng Động xúc đang luận ở đây không giống nhau vậy. Vì sao? Nếu trước khi chưa chứng được định Vị đáo địa mà đã phát sinh hiện tượng xúc, phần nhiều thuộc về bệnh thường sinh chướng ngại, đây là do Ma tạo tác.

Nay nói hiện tượng phát xúc, chính là khi định Vị đáo địa khai phát, đồng thời cũng có những công đức quyến thuộc phát khởi. Đây gọi là tướng Sơ thiền phát, tại sao khởi nghi ngờ?

HỎI: Nếu các xúc phát sinh trước khi chứng được định Vị đáo địa, chỉ là sanh bệnh, sanh chướng và do Ma tạo tác. Như vậy có thể nói là tướng xúc cũng có thể dùng để trị bệnh, trừ chướng, chẳng phải ma tạo chăng?

ĐÁP: Cũng có nghĩa này.

HỎI: Như thế thì cùng với những thứ xúc của Sơ thiền có gì khác nhau?

ĐÁP: Có khác nhau, tuy nhiên khi được Định dục giới có thể trị bệnh, trừ chướng và chẳng phải do ma tạo. Nhưng không phải là tướng xúc của Sơ thiền, vì đây thuộc về Tứ đại sắc pháp(3) trong Định dục giới, không thể phát định Sơ thiền, vì không có đầy đủ các phần thiện pháp và công đức chi lâm, nên không thể gọi là Sơ thiền vậy.

Ở đây đặc biệt nói về hiện tượng Động xúc thiện và bất thiện của Dục giới, nhưng khi hành giả mới bắt đầu tọa thiền, có khả năng chứng một trong hai thứ này, hoặc có khi không có hiện tượng nào phát sinh. Do khi tu hành đã có xảy ra những trường hợp như thế, nên nay chỉ nói sơ lược vài đặc điểm nhỏ.

HỎI: Trong định Vị đáo địa, cũng có phát sinh các thứ xúc thiện và bất thiện không?

ĐÁP: Chẳng phải là không có nghĩa này.

a.3. Nhân duyên khai phát thiền

Gồm có hai phần:

– Từ khi hành giả tu tập tọa thiền, không quản ngại khó nhọc, tinh cần tu tập, do có thiện tâm và nỗ lực dụng công, công sức thành tựu, tự nhiên được cảm quả báo thiền định. Như trong Kinh Pháp Hoa ghi: “Tùy theo công lao mà ban thưởng các thứ, cho đến thiền định, ngũ căn, ngũ lực v.v…”. Lại nữa, có thầy nói: “Do tu thập thiện tương ưng, nên các xúc phát sinh”, ý này không rõ ràng.

– Do ngũ ấm của Sắc giới, nương trụ trong thân Dục giới, nhưng thân Dục giới thì thô, Sắc giới thì vi tế, do sự giao tế trái nghịch nhau mà phát sinh những thứ dao động này. Ví như người thế gian, nếu nội tâm lo sầu phiền não, sẽ sinh khởi chướng ngại, ùn tắc không thông, khiến tứ đại nóng nảy bứt rứt cũng từ tâm phát sinh, thậm chí phát bệnh dẫn đến tử vong. Những bệnh khổ não này không phải từ ngoài đưa đến vậy.

Nay những cảm giác khoái lạc trong Sơ thiền cũng phát sinh từ nội tâm, do dùng phương pháp Sổ tức khiến tâm được nhẹ nhàng thư thái. Khi tu thiền định thì định Sắc giới phát sinh trong sắc thân Dục giới, vì định Sắc giới và báo thân Dục giới giao tiếp nhau, nên lần lượt phát sinh mười sáu thứ Xúc, các thứ này không phải do bên ngoài đến, nên gọi là Xúc.

Trong tám thứ xúc này chia thành mười sáu thứ, đều phát sinh từ Tứ đại, trong mỗi một đại lại có bốn thứ:

– Bốn thứ của Địa đại là nặng nề, hôn trầm, cứng đờ, rít ráp.

– Bốn thứ của Thủy đại là ngứa, lạnh, mềm, trơn như sữa.

– Bốn thứ của Hỏa đại là ấm, nóng, trơn, ngứa.

– Bốn thứ của Phong đại là bứt rứt, dao động, lăng xăng, nhẹ bổng.

Cho nên trong Kinh Kim Quang Minh ghi: “Hai con rắn Địa và Thủy, bản tính nó là chìm xuống dưới. Hai con rắn Phong và Hỏa, bản tính nó nhẹ nên bay lên”.

HỎI: Đã là bốn đại thì phải có bốn thứ xúc, tại vì sao lại có mười sáu thứ?

ĐÁP: Vì cùng chung tính nên được như vậy, thí dụ như:

Nhiệt là tính nóng của Hỏa đại, do hòa chung với tính Thủy nên biến thành noãn (ấm). Nếu Hỏa đại và Phong đại hòa chung thì tạo thành mềm mại, do Hỏa đại và Địa đại hòa chung thì biến thành trơn như sữa, khi Hỏa đại hòa chung cả ba đại, nên mất đi tính nhiệt (nóng), trở thành bốn thứ cảm giác. Phong đại, Thủy đại, Địa đại, mỗi đại hòa chung cả ba đại, ý nghĩa cũng như thế.

Khi mười sáu thứ xúc giác này phát sinh, mỗi xúc có mười thứ công đức thiện pháp xuất hiện, cộng chung thành một trăm sáu mươi (160) thứ thiện pháp.

Khi hành giả mới tọa thiền cũng có thể công đức phát hết hoặc chưa phát hết, hoặc chỉ phát ba, hay năm thứ, nên ở đây chỉ giải thích tóm lược.

HỎI: Tám thứ Xúc này phát sinh theo thứ tự hay không theo thứ tự? Trong các xúc, thứ nào phát khởi trước tiên?

ĐÁP: Nếu luận theo thứ tự cũng không nhất định trước hay sau, tuy nhiên khi nhân duyên tứ đại hòa hợp thì cảm giác cứng (kiên) phát trước tiên. Cũng có người thấy tướng Động xúc phát trước, như đã giải thích qua.

a.4. Phân biệt tướng tà chánh

Trong phần Nội phương tiện ở trước đã nói đầy đủ tướng Nghiệm biết căn tính thiện ác về hư thật, trong ấy hành giả phải khéo phân biệt.

b) Ý nghĩa năm Chi

Chia làm ba phần:

b.1. Giải thích danh từ Chi

b.2. Giải thích ý nghĩa Chi

b.3. Luận về tướng của Chi

b.1. Giải thích danh từ Chi

Sơ thiền có đầy đủ năm Chi: Giác, Quán, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm.

Giác: Tâm giác ngộ ban đầu.

Quán: Tâm vi tế quán sát phân biệt.

Hỷ: Tâm vui mừng hoan hỷ.

Lạc: Tâm thư thái điềm tĩnh.

Nhất tâm: Tâm lặng lẽ không tán loạn.

Lập ra năm chi là để đối với pháp bất thiện, tức là phá trừ ngũ dục, xả ngũ cái. Nếu đối với pháp thiện, tức là hành năm pháp (Dục, Tinh Tấn, Niệm, Xảo tuệ, Nhất tâm) cho nên trong Thích Luận có nói: “Lìa Ngũ cái, hành Năm pháp, đủ Năm chi, nhập Sơ thiền”.

b.2. Giải thích ý nghĩa Chi

Như trong Kinh Anh Lạc ghi: “Thiền còn gọi là Chi lâm, đây là giải thích theo tướng chung và riêng”.

Chi nghĩa là tách rời, ví như cây thì gồm có gốc rễ cành lá, gốc chỉ có một mà cành lá thì nhiều, tướng trạng cành lá khác nhau, nên ý nghĩa của thiền định cũng giống như thế. Từ trong một thiền định mà phát sinh ra năm chi. Đây là từ tướng chung phân chia thành từng tướng riêng biệt.

Lâm: ví dụ như trong rừng có nhiều cây cối nên gọi là lâm (rừng). Ý nghĩa của thiền định cũng giống như thế, do tập hợp năm chi nên gọi chung là thiền, đây là từ tướng riêng biệt mà nói về tướng chung. Nếu nói về thiền định, liền biết trong đó có năm chi, ví như nghe nói danh từ rừng liền biết trong đó có nhiều cây cối, cành lá. Có người nói ý nghĩa của Chi là Chi trì, như trong Định dục giới, Vị đáo địa, tuy chỉ có một tâm định yên lặng, chưa có năm chi giác quán cùng nhau phù trì (trợ giúp), thì định tâm yếu và dễ lui sụt. Nếu nhập được Sơ thiền liền có các pháp giác quán v.v… lúc này tâm thiền định mới được an ổn vững bền, không bị tan hoại và lui sụt.

b.3. Luận về tướng của Chi

Nếu theo Thuyết Tát Bà Đa bộ, lấy hai mươi hai tâm số pháp để phân biệt tướng trạng năm Chi. Nếu theo Tông Thiên Thai, chia làm hai phần:

b.3.A/ Giải thích Tướng riêng năm chi của Sơ thiền

b.3.B/ Giải thích Tướng chung năm chi của Sơ thiền

b.3.A/ Giải thích Tướng riêng năm chi của Sơ thiền:

– Giác chi: Thế nào gọi là Giác? Giác nghĩa là xúc giác (cảm giác xúc chạm) gồm có hai phần:

Thành tựu thiền giác và Hoại thiền giác, thí dụ như gió có thể làm mưa xuống cũng có thể làm hết mưa. Như phần trước đã có giải thích, trong mười sáu thứ xúc, mỗi xúc có mười thứ thiện pháp quyến thuộc trang nghiêm thiền pháp. Đây gọi là Thành tựu thiền giác. Cũng như phần trước đã nói, trong mỗi một xúc có hai mươi thứ ác pháp, đây gọi là Hoại thiền giác.

Giác: Giác thuộc về thân căn, vì thân thể là vật hữu tình, khác hẳn với các loại cây cỏ, đá gạch, vì thế thân căn cùng xúc giao tiếp nhau mà phát sinh cảm giác. Như trong kinh nói về ý nghĩa: thấy, nghe, giác, biết. Thấy là thuộc về căn mắt; Nghe thuộc về căn tai; Ngửi thuộc về căn mũi; Xúc giác thuộc về thân; hiểu Biết phân biệt thuộc về ý, đối với lưỡi cũng có tăng công dụng.

HỎI: Trong kinh có ghi: “Do sáu căn tiếp xúc sáu trần phát sinh cảm giác, vì sao chỉ nói riêng xúc giác thuộc về thân căn?”.

ĐÁP: Đây là giải thích chung, như khi Thấy cũng có thể gọi là Nghe vậy, ý nghĩa những cái khác cũng như thế. Nay theo ý nghĩa để phân tích Giác chi, cho nên chỉ nói đối với thân căn mà phát sinh cảm giác.

Trong định Vị đáo địa, phát sinh mười sáu thứ xúc, những xúc này tiếp xúc với thân căn, nên phát sinh ý thức, ý thức nhận biết được tướng trạng của xúc, nên gọi là Giác chi.

Giác cũng còn gọi là Linh ngộ, khi hành giả chứng được Sơ thiền liền có phát sinh các công đức thiện pháp chưa từng gặp, nên nội tâm kinh ngạc, giác ngộ. Vì xưa kia đã từng bị lửa dục thiêu đốt, khi chứng được Sơ thiền, chẳng khác nào như người đang bị nóng bức, được nhảy vào hồ nước trong mát. Nhưng thứ cảm giác này khác với cảm giác thân dục giới, vì cớ sao? Vì mười thứ thiện pháp cùng với thiền định đồng thời phát khởi, nên bài kệ nói:

Người nghèo được kho báu, Quá mừng nên tâm động.

Tâm thô gọi là Giác, ý nghĩa này so với Thuyết Tát Bà Đa bộ có điểm bất đồng.

– Quán chi: Tâm phân biệt vi tế gọi là Quán, sau khi động xúc phát sinh, phải dùng tâm chánh niệm phân tích. Ngay khi phát sinh xúc và các thiện pháp, khoảng giữa Định dục giới và Vị đáo địa cũng có phần khác nhau. Vì sao? Trong lúc Sơ thiền phát sinh xúc thì có những trân bảo thiện pháp và động xúc cũng đồng thời phát sinh, nhưng Định dục giới thì lại không có.

Công dụng phân biệt tướng thiện pháp trong mười sáu thứ xúc cũng khác nhau. Như biết tướng thô liền bỏ, biết điều thiện thì tu hành, tâm phân biệt vi tế này gọi là Quán chi.

HỎI: Như vậy thì giữa Giác và Quán có gì khác nhau?

ĐÁP: Như trong luận ghi: “Tâm thô tại nơi duyên gọi là Giác, tâm vi tế phân biệt gọi là Quán”

HỎI: Trong Luận A Tỳ Đàm nói: “Giác và Quán đều ở trong tâm, vì sao nay lại chia làm hai?”.

ĐÁP: Giác và Quán tuy ở trong một tâm, nhưng hai tướng không đồng thời. Như khi đang Giác biết thì Quán chiếu không được rõ ràng, khi Quán chiếu thì Giác biết không rõ ràng. Thí dụ như khi đánh chuông tuy âm thanh là một, mà tiếng thì có to hay nhỏ khác nhau. Giác và Quán đều có trong một tâm cũng như thế.

Lại nữa thân căn cùng thân thức tương ưng gọi là Giác. Ý căn cùng với ý thức tương ưng gọi là Quán.

Thân thức thuộc về phần ngoài nên trì trệ gọi là thô. Ý thức thuộc phần trong nên linh lợi, có công năng phân biệt gọi là tế. Giác và quán tuy đồng thời bị xúc trần dẫn phát mà hai tướng lại không sinh đồng một lúc, cho nên gọi là Quán chi.

– Hỷ chi: Sau khi hành giả quán chiếu suy nghĩ, biết mười sáu thứ xúc là vi diệu quý báu.

Trước kia chưa từng gặp bao giờ nên sinh tâm vui mừng hoan hỷ. Hành giả cũng biết rõ, tuy mất đi chút ít cảnh vui thú dục lạc, bù lại là chứng được cảnh giới công đức Sơ thiền, cái vui này vô cùng to lớn. Vì công đức giác và quán đối với ta thật lợi ích, nên sinh tâm vui vẻ, đây gọi là Hỷ chi.

– Lạc chi: Sau khi hành giả có được niềm hoan hỷ, trong nội tâm điềm tĩnh, cảm nhận sự an lạc, do pháp lạc khiến tâm vui mừng, an ổn, điềm tĩnh. Nên gọi là Lạc chi.

HỎI: Hỷ và Lạc có gì khác nhau?

ĐÁP: Sự khác nhau giữa giác và quán ở phần trước như thế nào, thì sự sai khác của hỷ và lạc cũng như thế.

Vui vẻ thô gọi là Hỷ, vui mừng vi tế gọi là Lạc. Trong tâm reo mừng gọi là Hỷ, nội tâm an tĩnh gọi là Lạc.

Khi hành giả có được niềm khoái lạc nên tâm sinh vui vẻ, nhưng chưa cảm nhận được cảm giác an lạc, nên gọi là Hỷ. Sau khi trạng thái vui vẻ đã dứt, chỉ còn niềm vui mừng nhẹ nhàng thư thái, nên gọi là Lạc.

Ví như người bị đói khát, khi được thức ăn nên sinh tâm vui mừng, nhưng chưa cảm nhận mùi vị thức ăn đó, gọi là Hỷ.

Sau khi ăn uống lúc này mới hưởng được mùi vị khoái lạc của thức ăn, nên gọi là Lạc. Giống như cảnh giới Tam thiền chỉ có an lạc mà không có hoan hỷ.

– Nhất tâm chi: Sau khi trải qua cảnh giới an lạc một thời gian, tâm thọ lạc đã hết, tuy có những xúc giác mà tâm vẫn không duyên theo, do tâm an định vắng lặng, không tán loạn. Nên gọi là Nhất tâm chi.

Trên đây chỉ giải thích đại khái về năm chi Sơ thiền lần lượt phát sinh, dựa theo công năng của nó mà lập ý nghĩa các chi.

HỎI: Như vậy thì mỗi một xúc trong mười sáu thứ xúc, có ý nghĩa của năm Chi không?

ĐÁP: Đúng như thế, các Chi trong Sơ thiền rất nhiều, tuy nhiều là chỉ đối với mười sáu thứ xúc, nhưng cũng không nằm ngoài phạm vi của năm chi. Thí dụ như: Năm ấm nếu đối với Năm căn thì trong mỗi một căn đều có tướng năm ấm. Tuy có rất nhiều tướng năm ấm nhưng cũng không thể nói có ấm thứ sáu vậy, trường hợp năm chi cũng như thế.

b.3.B/ Giải thích tướng chung năm chi của Sơ thiền:

Khi một xúc giác phát sinh thì có đầy đủ ý nghĩa cả năm chi. Vì cớ sao? Vì ngay trong khi một xúc phát sinh, hành giả liền biết cảm giác nóng hay lạnh, đây là Giác chi. Khi đang phát sinh cảm giác ấy, hành giả liền phân biệt tướng trạng cảm giác nóng hay lạnh khác nhau, đây gọi là Quán chi.

Khi hiện tượng xúc phát sinh, tâm hành giả cảm thấy hoan hỷ, như người vừa thấy hình sắc tốt đẹp của cảnh vật, liền khởi tâm vui vẻ, không cần qua giai đoạn suy nghĩ phân biệt. Đây gọi là Hỷ chi. Nên trong luận có bài kệ:

“Cảm giác vui mừng làm động tâm”

Khi xúc phát sinh, cả toàn thân đều nhận thấy có cảm giác thư thái thoải mái, đây gọi là Lạc chi.

Khi xúc phát sinh thì cùng với định tương ưng, gọi giác quán đều chánh định. Nên biết khi có Nhất tâm chi thì năm chi này đồng thời cùng phát khởi, không cần chờ chi này phát sinh rồi mới phát sinh chi khác. Nhưng do hiện tượng này không hiển bày rõ ràng, nên chỉ giải thích khi giác chi thành tựu. Ý nghĩa trong đó đã có phân biệt ở chương trước.

HỎI: Như vậy trong một lúc đồng thời cũng có năm thứ sao?

ĐÁP: Tuy trong một tâm không đồng thời có năm thứ, nhưng pháp thì đồng thời đều có cả năm thứ, trường hợp này cũng giống như ý nghĩa của tâm số (tâm sở).

HỎI: Nếu luận chung trong một chi có năm pháp như vậy năm chi phải có hai mươi lăm pháp?

ĐÁP: Thí dụ như trong kinh điển Phật nói 5 ấm, mỗi ấm lại có 5 căn, tổng cộng thành hai mươi lăm (25) pháp, 25 pháp này cũng nằm trong phạm vi của 5 ấm. Ý nghĩa thông tướng (luận chung) của 5 chi cũng như thế.

c) Nhân quả và Thể dụng của Sơ thiền

Có hai phần:

– Nhân quả: Luận về nguyên nhân xa, thì từ lúc mới bắt đầu tu Nội phương tiện và Ngoại phương tiện, cho đến nhập định Vị đáo địa làm Nhân, chứng được Sơ thiền làm Quả.

Hiện nay giải thích theo nhân gần thì căn cứ nơi Sơ thiền, đã có đầy đủ cả nhân và quả.

Có người cho rằng: trong năm chi, bốn chi trước là Nhân, chi thứ năm là Nhất tâm chi làm Quả, thuyết này không thông vậy.

Hiện nay chỉ y theo Kinh Anh Lạc để giải thích Sơ thiền.

Năm chi của Sơ thiền là Nhân. Chi thứ sáu là Tâm tĩnh lặng chính là bản thể thiền định, tức là lấy bản thể làm Quả. Nếu luận tổng quát cả nhân và quả thì mỗi một chi đều làm Nhân qua lại lẫn nhau mà thành Quả.

– Thể dụng: Tâm vắng lặng là bản thể Sơ thiền, do Xúc làm động loạn tâm này mà phát sinh ra năm chi, đây gọi là dụng. Vì cớ sao? Vì từ bản thể khởi dụng, tác dụng thuộc phần sau, nguyên nhân phát dụng là do Xúc làm xao động bản thể.

HỎI: Nhân quả và thể dụng, không thể phân biệt giải thích hay sao?

ĐÁP: Không phải vậy, tuy lấy năm chi để nêu rõ Nhân và Dụng, lấy tâm vắng lặng làm Thể và Quả. Nhưng vì ý nghĩa lại có nhiều chỗ bất đồng, vì sao? Do năm chi làm Nhân, nên cảm ứng Quả báo tâm tĩnh lặng. Quả tâm tĩnh lặng, khởi tác dụng thành năm chi, đây là lấy tâm tĩnh lặng làm bản thể, năm chi làm dụng vậy. Thí dụ như ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tu tập ba mươi bảy phẩm là nhân, sau khi tu chứng được đạo thì ba mươi bảy phẩm mới phát huy công dụng của nó.

HỎI: Từ bản thể tĩnh lặng phát sinh năm chi thù thắng, sau đó tâm lại càng thêm tĩnh lặng thù thắng, nghĩa này thế nào?

ĐÁP: Trường hợp này nên dùng nhân quả để giải thích, nếu tính chất thù thắng không khai phát thì đó chỉ là dụng của bản thể mà thôi.

d) Tướng sâu cạn của Sơ thiền

Khi Sơ thiền phát sinh tâm tĩnh lặng và năm chi, từ khi mới phát cho đến sau này không có hiện tượng thô tế bất đồng nên có sâu cạn, cần phải phân tích rõ. Vì sao? Như trong luận có nói: “Đệ tử Phật khi tu thiền định, công phu cũng có phân làm ba phẩm thượng, trung, hạ”.

Trong ba phẩm, mỗi phẩm chia làm ba phần. Cho nên trong chín phẩm có hiện tượng sâu cạn. Nếu phân tích để luận, thì có vô lượng phẩm. Thiền định mà ngoại đạo chứng được, cũng có hiện tượng sâu cạn chẳng đồng, nhưng không chia từng phẩm để giải thích. Do tâm họ còn thô, trong định lại không có giác, cũng không tu quán tuệ vô lậu, vì không có quán tuệ chiếu soi, nên tâm họ không thể nhận biết được các hiện tượng sâu cạn.

Hiện nay phân thành từng phẩm để giải thích hiện tượng sâu cạn của Sơ thiền. Gồm có hai phần:

– Tướng đồng loại: Khi một thứ xúc phát sinh, hành giả liền biết tướng thiền định sâu, cho đến sự sai biệt của chín phẩm.

– Tướng dị loại: Sau khi hiện tượng Động xúc hết, liền tiếp tục phát tướng xúc khác, tuy tướng trạng các xúc khác nhau, nhưng hành giả vẫn biết tướng của định này thâm sâu hơn định trước.

Lại nữa, nếu từ trong năm chi để giải thích tướng sâu cạn cũng chia làm hai phần:

– Đồng loại: Khi xúc phát khởi năm chi, năm chi cũng có tướng sâu cạn.

– Dị loại: Khi năm chi thứ tự tăng trưởng, trong mỗi một chi đều có tướng sâu cạn.

HỎI: Cần phải phát sinh đầy đủ cả mười sáu thứ xúc mới gọi là Sơ thiền, hay là chỉ phát sinh một xúc cũng được gọi là Sơ thiền?

ĐÁP: Sơ thiền có hai thứ: Đầy đủ và Không đầy đủ. Nếu cả mười sáu xúc đồng thời phát sinh, đây gọi là đầy đủ Sơ thiền, loại này rất thù thắng. Nếu chỉ phát sinh từ một đến hai thứ xúc cũng có thể gọi là Sơ thiền. Vì sao? Do mỗi một thứ xúc đều có mười thứ định quyến thuộc, lại có thành tựu công đức năm chi, nhưng Sơ thiền này vẫn gọi là không đầy đủ.

e) Tướng tiến thoái của Sơ thiền

Khi chứng Sơ thiền có bốn loại căn tính bất đồng: Lui sụt, Trụ phần, Tiến bộ, Thông đạt.

1/ Lui sụt: Có hành giả sau chứng được Sơ thiền hoặc có nguyên nhân, hoặc không nguyên nhân khiến thiền định bị lui sụt. Trường hợp lui sụt có hai thứ:

– Sau khi tiếp tục tu chứng được thiền định.

– Tuy tiếp tục tu nhưng không chứng được thiền định.

Đây là do các duyên chướng ngại của đời trước và đời này sinh khởi, người tu trong đời mạt pháp, phần nhiều hay gặp trường hợp này.

2/ Trụ phần: Có hành giả sau khi chứng được Sơ thiền, không lui sụt cũng không hoại mất, nội tâm được an định. Trường hợp này cũng có hai thứ:

– Mặc tình (tùy duyên) mà thiền định tự nhiên an trụ.

– Do khéo trì giữ mà thiền định được an trụ.

3/ Tiến bộ: Có hành giả chứng được Sơ thiền, sau khi được phẩm vị thù thắng, thậm chí còn tiến thêm một tầng định cao hơn. Trường hợp tiến bộ có hai thứ:

– Không cần tiếp tục dụng công mà tự nhiên tiến bộ.

– Do nỗ lực tinh cần tu tập mới được tiến bộ.

4/ Thông đạt: Có hành giả sau khi chứng được Sơ thiền, trong thiền định dứt sạch Kiến hoặc và Tư hoặc, chứng đạt đến Niết-bàn. Thông đạt cũng có hai trường hợp:

– Mặc tình tự nhiên thông đạt đến Niết-bàn.

– Tu quán chiếu mới có thể thông đạt đến Niết-bàn.

Trong bốn trường hợp này, cũng có bốn hạng căn tính bất đồng. Thí dụ như bốn trường hợp bị lui sụt:

+ Tự có lui sụt: Sau khi hành giả chứng được chín tầng thiền định nhưng tự nhiên lui sụt, thậm chí thoái mất hoàn toàn.

+ Tự có thoái trụ: Hành giả tu đến tầng thiền thứ chín, nhưng bị thoái lui tầng thứ tám hay thứ bảy, lại dừng trụ không mất.

+ Tự có thoái tiến: Hành giả từ tầng thiền thứ chín lui sụt xuống tầng thiền thứ tám hay thứ bảy, thậm chí chỉ còn tầng thiền thứ nhất, sau đó tiếp tục tu tiến lên.

+ Tự có thoái đạt: Hành giả từ tầng thiền thứ chín, thoái lui tầng thiền thứ tám, thứ bảy, thậm chí chỉ còn một tầng thiền, nhưng trong quá trình lui sụt, bỗng nhiên được khai phát chân tâm, chứng quả vô lậu.

Ngoài ra có các phần: Trụ, Tiến, Đạt trong mỗi thứ đều có xảy ra bốn trường hợp cũng như thế. Trong đó cũng có những trường hợp do tu hành phóng dật gây chướng ngại khiến thiền định bị thoái thất, hoặc do sám hối nên tâm được thanh tịnh, có thể tiến, trụ và chứng đạt, nghĩa này rất nhiều không thể nói hết.

f) Tướng Công đức của Sơ thiền

Như bài kệ nói ở chương trước: “Đã xa lìa lửa dâm, được thiền định mát mẻ”. Bài kệ này có đầy đủ hai thứ công đức: Công đức xa lìa lỗi lầm và Công đức phát sinh tâm thiện. Đây là nói về hai thứ thiện: Công đức dứt điều ác và Công đức hành việc thiện. Công đức Trí và Đoạn cũng như thế. Cho nên Kinh Đại Tập có ghi: “Sơ thiền cũng còn gọi là Ly, còn gọi là Cụ. Ly là xa lìa ngũ cái. Cụ là đầy đủ ngũ chi”.

Nay giải thích ý nghĩa khi chứng được Sơ thiền, liền xa lìa tham dục và ngũ cái, thọ hưởng sự khoái lạc thô cạn của Dục giới. Nhưng ở đây chứng được an lạc vi tế nhiệm mầu của Sơ thiền, vì vượt hẳn sự khoái lạc nơi cõi Dục, nên khi hành giả chứng được Sơ thiền, liền có công năng xa lìa khoái lạc ngũ dục và sự tham đắm ở cõi Dục. Cho nên sau khi chứng Sơ thiền, hành giả có được năm thứ công đức xa lìa lỗi lầm:

1/ Ly sân: do thống khổ bức bách ở cõi Dục, nên sinh tâm sân hận, sau khi chứng được Sơ thiền, không còn bức bách, nội tâm được an lạc, không sinh sân giận.

2/ Ly thùy miên: sau khi chứng Sơ thiền, thân tâm sáng suốt, thanh tịnh, do trì giữ tâm định, không còn hôn trầm tán loạn, nội tâm sinh khởi hoan hỷ nên không cần ngủ nghỉ.

3/ Ly hối: do nội tâm an định, lặng lẽ bất động, xa lìa trạo cử, tâm không còn trạo cử (lăng xăng), hối hận tự dứt sạch.

4/ Ly nghi: Khi hành giả chưa chứng được Sơ thiền, luôn luôn ôm lòng nghi ngờ, không biết mình tu có được thiền định hay không. Hiện nay đích thân chứng được thiền định, tâm nghi liền tự dứt.

5/ Thiện pháp: Khi hành giả chứng được Sơ thiền, liền có đầy đủ công đức thiện tâm, trường hợp này cũng giống như công đức thiện pháp đã nói ở chương trước.

Lại nữa, nếu chứng được Sơ thiền thì có đầy đủ các tâm thiện: Trì giới, Tín, Xả, Định, Văn, Tuệ v.v…

B. ĐỆ NHỊ THIỀN

Như bài kệ nói:

Giác quán làm động tâm,

Thiện pháp cũng phải bỏ,

Như hồ nước đứng lặng,

Sóng nhỏ cũng không thấy,

Như người bị mệt mỏi,

Chìm đắm giấc ngủ say,

Bỗng nghe tiếng thức giấc,

Tâm sinh khởi phiền não,

Nhiếp tâm nhập Nhị thiền,

Giác quán làm não loạn,

Cần nên trừ giác quán,

Nhập cảnh giới nhất tâm,

Nội tâm được thanh tịnh,

Trong định sinh hỷ lạc,

Nên chứng nhập Nhị thiền,

Trạng thái rất an lạc.

Bài kệ này nói rất tường tận về cảnh giới Nhị thiền và Trung gian thiền. Nay thuyết minh Nhị thiền chia làm ba ý:

I- Giải thích danh từ Nhị thiền

II- Thuyết minh tu tập Nhị thiền

III- Tướng chứng đắc Nhị thiền

I- GIẢI THÍCH DANH TỪ NHỊ THIỀN

Phần trước đã giới thiệu qua Sơ thiền, nay giới thiệu về Nhị thiền.

Hành giả xa lìa giác quán chứng được các Chi lâm công đức rất thù thắng, nên gọi là Nhị thiền, cũng còn gọi là Vô giác vô quán tam-muội. Vì sao? Khi hành giả chứng được Trung gian thiền liền đoạn trừ Giác chi, trong Nhị thiền nội tâm được thanh tịnh nên phá trừ Quán chi, đây gọi là “Thánh mặc nhiên định”. Do các ngôn ngữ giác và quán đã diệt, nên gọi là “Định tịch tĩnh”, nếu được trí tuệ vô lậu, tiến nhập sâu vào định này, đây gọi là “Thánh tịch tĩnh”.

Trong Luận Trì Địa ghi: “Nhị thiền là “Hỷ câu thiền”, nghĩa là khi định này phát sinh thì Hỷ chi cũng đồng thời khai phát”.

II- THUYẾT MINH TU TẬP NHỊ THIỀN

Có hai phần:

1. Pháp tu tập

2. Chứng trung gian thiền

1. Pháp tu tập

Phàm phu muốn tu chứng Nhị thiền, trước tiên cần tu Lục hạnh. Đệ tử của Phật đa số là tu Bát chánh đạo, ý nghĩa Bát chánh đạo đã có giải thích qua ở chương trước.

Lục hạnh là: Khổ, Thô, Chướng, Thắng, Diệu, Xuất. “Tâm đệ lục mặc nhiên” tức là tâm vắng lặng của Sơ thiền phát sinh nhàm chán, muốn xa lìa giác quán. Quán xét thấy Sơ thiền còn thấp kém và khổ, biết giác và quán gây loạn động khiến thiền định cảm thấy bức bách khổ não, nên gọi là Khổ.

Giác và Quán của Sơ thiền, phát định sinh hỷ lạc, nên gọi là Thô.

Do Giác, Quán gây chướng ngại tâm thanh tịnh của Nhị thiền, nên gọi là Chướng.

Do Nhị thiền thanh tịnh an ổn, thù thắng hơn hẳn cảnh giới thiền định có Giác, Quán của Sơ thiền, nên gọi là Thắng.

Do định hỷ, lạc của Nhị thiền thanh tịnh vi diệu, nên gọi là Diệu.

Sau khi chứng được Nhị thiền, tâm lìa khỏi chướng ngại Giác, Quán, nên gọi là Xuất.

Lại nữa, sau khi hành giả biết Sơ thiền làm chướng ngại Nhị thiền, hành giả muốn xa lìa chướng này, cần phải y theo ba thứ phương tiện:

1/ Đối với những chướng ngại không chấp nhận cũng không dính mắc, nên được xa lìa.

2/ Quở trách những chướng ngại nên được xa lìa.

3/ Dùng phương pháp quán chiếu để phân tích chướng ngại này, nên được xa lìa.

Ví như người ở thế gian, cần người giúp việc, sau một thời gian công tác chung với nhau, thấy những lỗi lầm của họ, trong lòng muốn đuổi người này đi, cần có ba phương pháp sau:

– Người trí tuệ linh lợi, tuy không thể hiện cho họ thấy sắc mặt, họ vẫn tự động bỏ đi.

– Nếu họ không đi, chỉ cần luôn khiển trách, họ tự ra đi.

– Nếu hai pháp trên, họ cũng chưa ra đi, phải dùng gậy xua đuổi họ đi.

Hành giả thâm hiểu ba pháp này, có thể xa lìa lỗi Giác và Quán của Sơ thiền.

2. Chứng Trung gian thiền

Thâm tâm hành giả quở trách giác quán của Sơ thiền, sau khi giác quán và năm chi cùng với tâm vắng lặng đều diệt, liền xa lìa Sơ thiền. Khi Nhị thiền chưa khai phát, khoảng trung gian cũng có định, nên được gọi là Trung gian thiền, nhưng định này không được lâu bền, vì sao? Do không có sự trợ lực của các Công đức chi lâm, nên định này rất vi tế, giống như không có vậy.

Nhiều vị thiền sư nói định này chuyển sang tâm tịch lặng, tức là chuyển thành tâm tĩnh lặng của Sơ thiền.

Trong Thích Luận nói: “Định này gọi là Quán tương ưng”, nghĩa là Trung gian thiền lấy Lục hành quán làm bản thể, do trụ trong định, nếu hành giả xa lìa Lục quán hạnh thì tâm phát sinh ân hận, lo sầu, nếu tâm sầu hận phát sinh thì Nhị thiền vĩnh viễn không phát, thậm chí tâm tĩnh lặng cũng mất luôn, hoặc lại phát Sơ thiền, hoặc Sơ thiền cũng mất, đây là do hành giả không có phương pháp trì giữ vậy.

Khi hành giả chứng được Trung gian thiền, tức là mười phần đã được chín phần, rất dễ bị bỏ dở nửa chừng, cho nên phải khéo thận trọng.

Kinh điển có ghi: “Trung gian thiền có Giác có Quán tam-muội, vì năm chi công đức và tâm vắng lặng Sơ thiền đã diệt mất”. Hành giả nên an trụ nơi tâm tương ưng và lục hạnh để tu Nhị thiền.

III- TƯỚNG CHỨNG ĐẮC NHỊ THIỀN

Chia làm sáu phần:

1. Tướng nhị thiền phát

2. Ý nghĩa chi lâm

3. Nhân quả thể dụng

4. Tướng sâu cạn

5. Tướng tiến thoái

6. Tướng công đức

1. Tướng Nhị thiền phát

Khi hành giả chứng Trung gian thiền, tâm không còn lo sầu hối hận, liền quyết tâm nỗ lực công phu, chuyên tinh tiến không dừng, nội tâm thấu đạt đến cảnh giới vắng lặng, trong sáng không tán loạn, đây gọi là định Vị đáo địa.

Trong luận có nói: “Hành giả được nhập vào một thứ tâm thức, đó là Tiền nhị thiền, phương tiện định phát”.

HỎI: Trong luận chỉ giải thích trước Sơ thiền có định Vị đáo địa, vì sao nay lại nói trước Nhị thiền cũng có định Vị đáo địa?

ĐÁP: Về lý thì giải thích chung cho nên chỉ nói một.

Nếu theo Luận A Tỳ Đàm của Xá Lợi Phất, luận về lý, thì định Vị đáo địa có bốn, Trung gian thiền cũng có bốn. Hiện nay y theo luận này nên nói có Vị đáo địa và Trung gian thiền vậy.

Hành giả an trụ trong định Vị đáo địa rất lâu mà không thoái mất, do chuyên tâm không dừng nghỉ, tâm được sáng suốt thanh tịnh, định tâm trong sáng cùng hỷ lạc đồng thời phát sinh. Ví như người từ trong nhà tối bước ra, thấy ánh sáng mặt trăng, mặt trời, cảnh giới tâm định này sáng suốt cũng như thế.

Khi chứng được Nhị thiền, nội tâm thanh tịnh, trong đó phát sinh mười thứ công đức quyến thuộc, như trường hợp của Sơ thiền, chỉ khác nhau ở chỗ, Nhị thiền phát xuất từ nơi nội tâm thanh tịnh.

Khi các chi hỷ lạc của Nhị thiền phát sinh, không phải từ ngoài vào, mà do hành giả nhất tâm tĩnh lặng mới phát sinh hỷ lạc, nên thanh tịnh mỹ diệu thù thắng hơn Sơ thiền.

Trong luận có ghi: “Do nội tâm thanh tịnh, nên định phát sinh hỷ lạc. Do chứng nhập Nhị thiền nên tâm sinh hỷ lạc”.

Thế nào là tâm thanh tịnh?

Nếu giải thích rộng, tức là đối với trần lao bên ngoài mà nói nội tâm thanh tịnh. Nếu luận gần là do đối với tâm ô nhiễm nên mới nói nội tâm thanh tịnh.

Vì sao?

Như trong Sơ thiền, khi phát sinh cảm xúc an lạc thì thân thể sáng suốt vắng lặng. Đồng thời tâm cũng được thanh tịnh. Xúc cùng thân thức tương ưng, gọi là Ngoại tịnh, do ngoại tịnh của Sơ thiền, nên nói tâm thức cùng Nhị thiền tương ưng, là nội tâm thanh tịnh, đồng thời thân cũng thanh tịnh, thanh tịnh ấy gọi là Ngoại tịnh. Nội tịnh tức là thanh tịnh từ trong nội tâm phát sinh, nên thân cũng được thanh tịnh, đây gọi là Nội tịnh.

Ở đây là luận về phần ô nhiễm ở trong mà nói là nội tâm thanh tịnh; vì trong Sơ thiền bị giác quán làm dao động nội tâm, nên nói Nội tâm ô nhiễm. Khi chứng được Nhị thiền, nội tâm không còn giác quán làm dao động, ô nhiễm, nên gọi là Nội tâm thanh tịnh.

HỎI: Sơ thiền là Ly sinh hỷ lạc, còn Nhị thiền là Định sinh hỷ lạc. Ý này thế nào?

ĐÁP: Sơ thiền đã xa lìa Dục giới, được định Sắc giới, nên gọi là Ly sinh. Nhị thiền không có ý nghĩa này nên gọi là Định sinh.

HỎI: Như vậy, Không xứ định cũng có thể gọi là Ly sinh chăng?

ĐÁP: Không đúng, vì Sơ thiền gọi là Ly sinh, nên không thể dùng danh từ trùng lập. Không xứ định tuy xa lìa Dục giới, nhưng khi định phát sinh, lại không có các Công đức chi lâm, nên không thể gọi là Ly sinh.

HỎI: Cảm giác hỷ, lạc của Sơ thiền và hỷ lạc của Nhị thiền có gì khác nhau?

ĐÁP: Cảm giác hỷ lạc của Sơ thiền phát sinh từ giác quán cùng với thân thức tương ưng. Nhưng hỷ lạc của Nhị thiền là do phát sinh từ nội tâm cùng với ý thức tương ưng, đây là chỗ khác nhau.

2. Ý nghĩa chi lâm

Đã có giải thích trong phần tổng luận và biệt luận ở chương trước.

Nhị thiền có bốn chi:

– Nội tịnh chi – Lạc chi

– Hỷ chi – Nhất tâm chi

– Nội tịnh chi: Sau khi tâm hành giả đã xa lìa giác quán, nương nơi nội tâm thanh tịnh, định tâm trong sáng không ô nhiễm, nên gọi là Nội tịnh chi.

– Hỷ chi: Khi định cùng Hỷ chi đồng thời khai phát, nội tâm hành giả tự nhiên phát sinh hoan hỷ và mười thứ công đức thiện pháp cũng khai phát, nên có niềm vui vô hạn, gọi là Hỷ chi.

– Lạc chi: Nội tâm hành giả cảm nhận niềm an lạc thư thái, nhẹ nhàng, điềm tĩnh rất mỹ diệu và khoan khoái, nên gọi là Lạc chi.

– Nhất tâm chi: Sau khi tâm khoái lạc dừng dứt, không duyên theo cái vui hỷ lạc, do nội tâm không còn duyên theo niệm tưởng ở ngoài, chỉ còn một tâm nhất như bất động, nên gọi là Nhất tâm chi.

HỎI: Trong Kinh Anh Lạc nói: Phần trước nhất tâm chi có thêm Ỷ chi?

ĐÁP: Ỷ chi tức là Nội tịnh chi, do phát sinh sau Hỷ chi và Lạc chi nên mới lập thêm danh từ khác mà thôi. Vì sao? Vì Ỷ chi còn có nghĩa là “Phóng túng”, phóng túng cũng có nghĩa là Mặc tình (nhậm vận) vì nội tâm không còn ô nhiễm nên mặc tình tự tại, không còn lo sợ âm thanh xúc não và giác quán trói buộc, nên gọi là Ỷ chi.

HỎI: Vì sao trong Kinh Đại Tập chỉ thành lập ba chi mà không có Nội tịnh chi?

ĐÁP: Do Kinh Đại Tập chỉ giải thích sơ lược, không phải là không nói. Nhị thiền cũng còn gọi là “Hỷ câu định”, tuy xa lìa giác quán mà vẫn có Hỷ chi thì nhất định sẽ có Nội tịnh định. Ý nghĩa thành lập các chi chung và riêng, cũng tương tự như Sơ thiền.

3. Nhân Quả, Thể Dụng

Như trong Kinh Anh Lạc nói: “Nhị thiền lấy bốn chi làm Nhân. Chi thứ năm là “Tâm tĩnh lặng” làm bản thể của thiền định, nếu luận về nhân, quả, thể, dụng thì giải thích xoay vần giống như của Sơ thiền vậy”.

4. Tướng sâu cạn

Cảnh giới sâu hay cạn của Nhị thiền cũng khai phát từ thấp lên cao giống như Sơ thiền, lý này không cần giải thích lại.

5. Tướng tiến thoái

Hiện tượng tiến và thoái cũng giải thích giống như Sơ thiền.

6. Tướng công đức

Gồm có hai phần: Xa lìa lỗi lầm và Chứng được tâm thiện. Trong Kinh Đại Tập ghi: “Nhị thiền cũng gọi là Ly, cũng gọi là Cụ, Ly là xa lìa ngũ cái, Cụ là đầy đủ bốn chi”.

Xa lìa lỗi lầm tức là xa lìa lỗi của giác và quán. Đầy đủ công đức tức là do nội tâm thanh tịnh và an lạc nên phát sinh đầy đủ các công đức như: tín tâm, cung kính, hổ thẹn, lục hạnh v.v…

C. ĐỆ TAM THIỀN

Như bài kệ nói:

Nhiếp tâm định bậc nhất,

Vắng lặng không thể thấy,

Họa khổ muốn xa lìa

Như buông xả giác quán,

Do ái nên sinh khổ

Hết vui sinh lo buồn

Lìa khổ thân an vui

Xả niệm và phương tiện.

Bài kệ tường thuật tướng chứng Tam thiền rất rõ ràng. Nay giải thích ý nghĩa Tam thiền chia làm ba phần:

I- Giải thích danh từ Tam thiền

II- Phương pháp tu tập Tam thiền

III- Tướng chứng chứng đắc Tam thiền

I- GIẢI THÍCH DANH TỪ TAM THIỀN

Hành giả tiếp tục dụng tâm lần thứ ba, chứng được năm thứ công đức chi lâm và thiện tâm trong thiền định, nên gọi là Tam thiền.

Trong Luận Trì Địa có ghi: “Tam thiền cũng còn gọi là Lạc câu thiền”, do các công đức quyến thuộc cùng với cảm giác an lạc toàn thân đồng thời phát khởi, nhưng vì định này còn thuộc về Không giác, Không quán tam-muội và Thánh mặc nhiên định, cho nên chỉ nói chung, bởi vì Nhị thiền đã dùng danh từ này rồi, nên không giải thích lại.

II- PHƯƠNG PHÁP TU TẬP TAM THIỀN

Phương pháp tu của Tam thiền như trong bài kệ trên “Nhiếp tâm định bậc nhất, vắng lặng không thể thấy, họa khổ muốn xa lìa, như buông xả giác quán, do ái nên sinh khổ, hết vui sinh lo buồn”.

Bài kệ này nói rõ trường hợp quở trách cảnh giới hoan hỷ của Nhị thiền, nếu hành giả muốn quán xét cái lỗi của Nhị thiền để chứng được Tam thiền, cần phải tu đầy đủ Lục hạnh quán. Hiện nay chỉ tóm lược về cái lỗi của Nhị thiền và phương pháp tu Lục hạnh quán.

Tuy cảnh giới Nhị thiền xuất phát từ nội tâm thanh tịnh, nhưng do quá vui mừng khiến tâm bị dao động nên sức an định không được lâu bền. Lỗi này như đã nói ở Sơ thiền, cho nên hành giả muốn an trụ tâm nơi chỗ an ổn. Ví như người chồng khi biết vợ mình chính là quỷ La-sát, liền bỏ người vợ đó mà tâm không có tham ái luyến tiếc. Do công đức nhất tâm buông xả liền được xa lìa tâm hỷ lạc và tâm mặc nhiên.

Phương pháp buông xả có ba thứ:

1/ Không chấp nhận tâm vui mừng.

2/ Quở trách những lỗi lầm.

3/ Dùng tâm quán chiếu, kiểm nghiệm.

Do hành giả không còn thọ nhận thì tâm vui mừng và tâm mặc nhiên tự diệt mất, trước khi chưa chứng Tam thiền cũng có phát Trung gian thiền, như nói ở phần trước, nhưng cảnh giới thiền định sâu hay cạn lại có sự sai khác, hành giả nên cẩn thận chớ sinh tâm lo sầu và hối hận, lỗi lầm này cũng như đã giải thích ở phần trước.

III- TƯỚNG CHỨNG ĐẮC TAM THIỀN

Có sáu phần:

1. Tướng Tam thiền phát

2. Ý nghĩa chi lâm

3. Nhân quả

4. Sâu cạn

5. Tiến thoái

6. Công đức

1. Tướng Tam thiền phát

Do hành giả dụng công miên mật, nhất tâm tu tập thiền định nên nội tâm được tĩnh lặng, lúc này cảm giác an lạc của thiền định vẫn chưa khai phát, nhưng hành giả không tiếp tục nỗ lực dụng công, lúc này nội tâm trong lặng, đây là cảnh giới định Vị đáo địa của Tam thiền.

Khi tâm hành giả rỗng rang tợ như hư không, tâm định cùng Lạc chi đồng thời khai phát, nhưng chẳng phải ở trong cũng chẳng phải từ ngoài. Ngay trong lúc Lạc chi phát sinh cũng có đầy đủ công đức quyến thuộc như đã giải thích ở phần trước. Tâm hoan hỷ đã dứt chỉ còn cảm giác an lạc, thư thái nhẹ nhàng, xuất phát từ nội tâm, tâm an lạc này vô cùng mỹ diệu không thể dùng văn tự hoặc ví dụ miêu tả được.

Khi thiền định mới phát sinh an lạc, nhưng chưa trùm khắp thân thể, trong giai đoạn đó có xảy ra ba trường hợp:

– Do hoan hỷ của thiền định còn yếu, khiến tâm bị hôn trầm nên tác dụng trí tuệ rất ít.

– Do hoan hỷ của thiền định vi diệu, trí tuệ khai phát mạnh mẽ khiến tâm không an ổn.

– Do tâm định an lạc cùng với trí tuệ đồng thời khai phát, nên rất nhẹ nhàng và mỹ diệu, khiến hành giả sinh tâm tham đắm.

Cho nên kinh ghi: “Chỉ có bậc Thánh nhân mới buông xả được, những hạng khác rất khó xả bỏ”.

Khi sắp chứng được Tam thiền, nếu xảy ra ba trường hợp lỗi lầm này, thiền định sẽ không tăng trưởng và không được an lạc khắp cả toàn thân, cho nên hành giả phải khéo điều hòa thích hợp.

Phương pháp điều hòa có ba:

– Khi tâm bị hôn trầm nên dùng: niệm, tinh tấn, trí tuệ v.v… để sách tấn đối trị hôn trầm.

– Nếu tâm nghĩ tưởng dấy động nên dùng định tam-muội nhiếp phục.

– Nếu tâm tham đắm thiền định, nên quán tưởng có những tầng thiền định rất thù thắng vi diệu và an lạc hơn, để tự tỉnh ngộ khiến tâm không còn tham đắm.

Hành giả khéo tu ba phương pháp này, điều hòa định tâm, cảm giác an lạc sẽ được tăng trưởng khắp toàn thân. Trong kinh có ghi: “Tam thiền thọ hưởng khoái lạc toàn thân”.

HỎI: Nếu Tam thiền được pháp an lạc khắp toàn thân, mà thân thì có năm căn, vậy trong năm căn có khoái lạc chăng?

ĐÁP: Khi pháp lạc đã sung mãn khắp toàn thân thì tất cả các lỗ chân lông trên khắp toàn thân đều có cảm giác an lạc. Lúc này tuy năm căn không có năm trần ở ngoài để phát ra năm thức, vì pháp lạc này xuất phát từ nội tâm và sung mãn khắp năm căn, nên cả năm căn đều được khoái lạc. Do tâm không duyên theo năm trần, thì năm thức không phát khởi. Năm căn nương nơi thân, nếu khoái lạc trùm khắp toàn thân thì các căn cũng đều được khoái lạc. Cảm giác khoái lạc cùng với ý thức tương ưng, do ý thức trùm vốn khắp trong thân thể, cho nên cả trong lẫn ngoài đều có cảm thọ khoái lạc. Trong kinh ghi: “Tam thiền thọ hưởng khoái lạc khắp toàn thân”.

– Cảm giác an lạc của Sơ thiền là do ở ngoài phát sinh cùng với thân thức tương ưng, không phải cùng ý thức tương ưng, nên pháp lạc trong nội tâm không được sung mãn.

– Cảm giác an lạc của Nhị thiền, tuy xuất phát từ nội tâm, nhưng lại phát sinh hoan hỷ cùng Hỷ căn tương ưng mà lại không tương ưng với Lạc căn, vì khoái lạc nương nơi Hỷ căn mà Hỷ căn lại chưa được trùm khắp toàn thân huống gì là Lạc căn.

– Cảm giác an lạc của Tam thiền là do xuất phát từ nội tâm, lấy Lạc căn làm chủ, do nội tâm không bị Hỷ căn làm xao động, lại có công đức của Niệm tuệ, khiến pháp lạc tăng trưởng sung mãn cả trong lẫn ngoài thân. Đây là pháp lạc thù thắng nhất trong thế gian.

HỎI: Phật nói trong Tam thiền có hai thứ: Thọ lạc và Khoái lạc là ý gì?

ĐÁP: Đúng thật có hai thứ cảm giác Lạc này:

– Lạc của Khoái lạc: Nghĩa là khi cảnh giới an lạc của thiền định mới phát sinh, nhưng chưa được sung mãn khắp toàn thân.

– Lạc của Thọ lạc: Khi khoái lạc tăng trưởng có cảm thọ khắp toàn thân. Ví như dòng nước trong đá chảy tràn ra ngoài, đầy khắp các sông ngòi, ao hồ. Cảm thọ an lạc của Tam thiền cũng như thế.

2. Ý nghĩa chi lâm

Chia làm hai phần:

a) Giải thích ý nghĩa Chi

b) Nguyên nhân phát sinh trước sau bất đồng

a) Giải thích ý nghĩa Chi

Tam thiền gồm có năm chi công đức: xả, niệm, tuệ, lạc, nhất tâm.

Xả: Khi hành giả chứng được pháp lạc của Tam thiền, tuy xả bỏ tâm hoan hỷ của Nhị thiền mà không hối tiếc. Cũng có thể gọi là xả bỏ ba thứ bệnh: hôn trầm, tán loạn và tham đắm.

Niệm: Khi chứng được pháp lạc Tam thiền, hành giả nên dùng ba phương pháp: Quở trách, quán chiếu và kiểm nghiệm để bảo trì pháp định khiến cho khoái lạc được tăng trưởng.

Tuệ: Hành giả khéo vận dụng ba phương pháp để đối trị và xa lìa ba thứ bệnh trên.

Lạc: Khi hành giả chứng được khoái lạc thì khắp cả toàn thân đều được thọ hưởng.

Nhất tâm: Khi cảm giác khoái lạc đã diệt mất, chỉ còn nội tâm vắng lặng yên tĩnh, cảnh giới thiền định giống như Nhị thiền.

Năm chi này có bốn ý nghĩa:

1/ Có ba chi thuộc về phương tiện: tức là dùng Niệm, Xả và Tuệ để điều hòa, khiến pháp lạc của thiền định tăng trưởng nhanh chóng khắp toàn thân, nên gọi ba chi này là Phương tiện. Có hai chi thuộc về chứng đắc: tức là Lạc và Nhất tâm thuộc về chứng đắc, hai chi này đồng thời cùng phát khởi, đây là chỗ cốt yếu của Tam thiền.

2/ Bốn chi: Niệm, Tuệ, Lạc, Nhất tâm, đều thành lập trong Tam thiền. Xả chi do buông bỏ Nhị thiền mà thành lập ba chi: Tuệ, Niệm, Lạc. Nhất tâm chi thành lập trong Tam thiền, Xả chi tức là buông bỏ cảnh giới hoan hỷ thô cạn, do không hối tiếc mà được thành tựu.

3/ Cả năm chi này đều là phương tiện. Còn ba chi Xả, Niệm, Tuệ như đã giải thích ở trên.

HỎI: Lạc và Nhất tâm cũng được gọi là Phương tiện hay không?

ĐÁP: Nhân tu thiền định, pháp lạc mới được tăng trưởng đưa đến cảm giác khoái lạc sau này, Nhất tâm chi cũng như thế, vì đối với bản thể của Mặc nhiên định, cũng có thể gọi Nhất tâm chi là phương tiện. Cho nên cả năm Chi đều được gọi là Phương tiện.

4/ Tất cả năm Chi cũng gọi là Chứng chi, vì khi hành giả chứng được pháp lạc của thiền định, tự nhiên xả bỏ tâm hoan hỷ của Nhị thiền. Do tham ái đắm chấp khoái lạc thiền định, như mẹ nhớ con, không cần ai khuyên bảo, vẫn có đầy đủ niệm tưởng. Do trí tuệ các chi tự nhiên phát sinh công dụng điều hòa để thọ hưởng, cho nên năm chi này thuộc về Chứng đắc.

HỎI: Như phần trước có giải thích cả năm chi đều là phương tiện, nhưng ở đây lại nói thuộc về chứng đắc, ý này chẳng phải là có mâu thuẫn sao?

ĐÁP: Những giải thích đó đều có hàm ý này, nếu nghiên cứu kỹ sẽ tự biết.

b) Nguyên nhân phát sinh trước sau bất đồng

Trong các kinh luận, sắp đặt vị trí năm chi theo thứ lớp phát sinh đều có khác nhau. Như thuyết của: Thành Thật Luận: Xả, Niệm, Tuệ, Lạc, Nhất tâm. A Tỳ Đàm Luận: Tuệ, Niệm, Xả, Nhất tâm. Kinh Đại Tập: Niệm, Xả, Tuệ, An, Định.

Kinh Anh Lạc: Lạc, Hộ, Niệm, Tuệ, Nhất tâm. Nếu theo Luận Ma Ha Diễn, không nhất định phải sắp đặt theo thứ lớp, vì có khi vị trí giống như thuyết của Thành Thật Luận, cũng có khi như Kinh Anh Lạc.

HỎI: Vì sao chỉ có năm chi của Tam thiền là có thứ lớp bất đồng, còn các thiền khác lại không có?

ĐÁP: Vì Sơ thiền chỉ có một thứ Lạc, còn Tam thiền có hai thứ Lạc, do hai thứ cảm thọ lạc này trước và sau chẳng đồng, sự qua lại cũng không cố định. Cho nên các kinh luận sắp xếp vị trí thứ lớp của các chi khác nhau, tuy nhiên trong đó đều có hàm ý, cần phải hiểu để thực hành.

3. Thể, dụng

Trong Kinh Anh Lạc ghi: “Công đức năm chi là Dụng, tâm tĩnh lặng là Thể”.

4. Sâu cạn:

5. Tiến thoái: (như phần trước đã giải thích)

6. Công đức:

Do Tam thiền đã xa lìa lỗi lầm nên được hai thứ: công đức và thiện tâm. Như trong Kinh Đại Tập ghi: “Ly là xa lìa ngũ cái. Cụ là đầy đủ năm chi công đức”.

Nếu luận về tướng riêng biệt, chỉ có Tam thiền mới được công đức xa lìa cái lỗi tâm hỷ của Nhị thiền, các trường hợp khác cũng tương tự như đã giải thích ở phần trước.

D. ĐỆ TỨ THIỀN

Như bài kệ trong kinh:

– Thánh nhân được liền xả

Người khác rất khó xả

Nếu biết họa khoái lạc

Thấy an nhiên bất động

– Vui buồn đã trừ xong

Khổ lạc cũng dứt diệt

Xả niệm tâm thanh tịnh

Thâm nhập đệ Tứ thiền

– Khoái lạc ở Tam thiền

Thường dao động nên xả Sơ,

Nhị thiền đều đoạn

Khổ buồn trong Dục giới

– Đức Thế tôn có dạy

Cảnh giới đệ Tứ thiền

Trước tiên đoạn sầu khổ

Sơ thiền và Nhị thiền

Kế dứt trừ khổ vui

Khoái lạc đệ Tam thiền.

Bốn hạnh trong bài kệ trên đã giải thích đầy đủ cảnh giới tu chứng đệ Tứ thiền.

Giải thích đệ Tứ thiền gồm có ba phần:

I- Giải thích danh từ đệ Tứ thiền

II- Phương pháp tu tập đệ Tứ thiền

III- Tướng chứng đắc đệ Tứ thiền

I- GIẢI THÍCH DANH TỪ ĐỆ TỨ THIỀN

Thiền gọi là chi lâm, định đệ Tứ thiền là do công đức bốn chi mà thành, từ trong nội tâm thứ lớp chứng được, nên gọi là Tứ thiền.

Nhưng đệ Tứ thiền thuộc về không giác không quán tam-muội và Thánh mặc nhiên, cũng còn gọi là Bất động định.

Trong Kinh Trì Địa ghi: “Tứ thiền gọi là Xả câu thiền”, vì khi định này phát, bản thể của nó vốn không có cảm giác khổ hay lạc mà đồng thời cùng với Xả thọ vi diệu phát sinh. Do định này cùng Xả căn tương ưng, nên gọi là Câu thiền.

II- PHƯƠNG PHÁP TU TẬP TỨ THIỀN

Như trong bài kệ thứ nhất diễn tả về cảnh giới khoái lạc Tam thiền, bậc Thánh xả bỏ được, người khác bỏ rất khó khăn. Nếu hành giả biết khoái lạc ấy là tai họa, thấy định bất động Tứ thiền thật an ổn nên mới thực hành. Bài kệ này Phật giải thích phương tiện tu tập Tứ thiền rất đầy đủ, vì cớ sao? Vì hành giả muốn chứng được Tứ thiền phải thấy rõ họa hoạn Tam thiền.

Thấy họa Tam thiền như thế nào?

Khi hành giả bắt đầu mong muốn chứng được cảnh giới khoái lạc của Tam thiền, do nhất tâm nỗ lực thật gian khổ, nên sau khi chứng được liền phát sinh tâm tham đắm, giữ gìn bảo vệ cũng thật gian khổ, nếu cảnh giới thiền định khoái lạc này hoại mất hành giả sẽ sinh tâm sầu khổ vô cùng. Nên kinh có ghi: “Khoái lạc trong Tam thiền, luôn luôn biến đổi vô thường nên khổ”.

Ngoài ra, cảnh giới thiền định khoái lạc của Tam thiền gây chướng ngăn che đậy, khiến tâm không được thanh tịnh sáng suốt, hành giả biết cảnh giới khoái lạc của Tam thiền có họa hoạn rất khổ não, nên nội tâm nhàm chán muốn xa lìa, mong cầu chứng được định bất động (Tứ thiền).

Khi hành giả đang trụ Trung gian thiền, tức là khoảng giữa đệ Tam thiền và đệ Tứ thiền, tu pháp Lục hạnh quán như đã giới thiệu ở chương trước. Đồng thời dùng ba phương pháp: vô chấp, quở trách và quán chiếu phân tích để loại trừ Tam thiền.

Sau khi thực hành ba pháp trên, cảnh giới Tam thiền tuy dứt diệt nhưng vẫn chưa chứng được Tứ thiền, lúc này cũng có Trung gian thiền khai phát như đã nói phần trước. Chỉ có cảm giác vui buồn là bất đồng và họa hoạn cũng như nói ở trên.

III- TƯỚNG CHỨNG ĐẮC ĐỆ TỨ THIỀN

Như trong ba bài kệ nói ở trên, nay chia làm năm phần để giải thích:

1. Tướng chứng đệ Tứ thiền

2. Ý nghĩa Chi lâm

3. Thể, dụng

4. Tiến, thoái

5. Công đức

1. Tướng chứng đệ Tứ thiền

Hành giả nhập định từ giai đoạn giữa Tam thiền tiến đến Tứ thiền, nhất tâm miên mật không dừng, liền nhập được định Vị đáo địa, tâm không tán động, đây là Định phương tiện của đệ Tứ thiền. Sau đó tâm hành giả hoát nhiên khai phát, định tâm an ổn, hơi thở ra vào dứt bặt. Khi định này phát sinh, xả niệm cũng đồng thời phát sinh. Nội tâm rỗng rang sáng suốt, vắng lặng không còn tướng khổ vui, các công đức thiện pháp quyến thuộc trong định phát sinh cũng như giải thích ở phần trước, chỉ khác là không có cảnh giới hỷ, lạc làm dao động như các thiền trước.

Lúc này tâm hành giả trong sáng như gương, thanh tịnh không chút dao động, như nước hồ trong lặng không gợn sóng. Do chánh niệm kiên cố, không còn loạn tưởng, nội tâm tựa như hư không, đây gọi là thiền định chân thật thế gian, không còn các cấu nhiễm.

Hành giả an trụ trong định Tứ thiền, tâm không nương gá pháp thiện, không trụ pháp ác, không nơi nương tựa, không hình không sắc, không tướng mạo mà thành tựu sắc pháp thanh tịnh ở nội tâm.

Làm sao biết được? Nếu không có sắc thanh tịnh căn bản, thì khi đối với các duyên, trong định không thể phát sinh các sắc tướng như: Tứ vô lượng tâm, Bát thắng xứ, Sắc biến hóa nhất thiết xứ v.v… các pháp này đều nương nơi đệ Tứ thiền.

Nếu không thấy sắc tướng mà cho là không có sắc, như định Hư không xứ, do các sắc như Ngũ căn, Ngũ trần, Vô biểu sắc v.v… thảy đều diệt mất, thì sắc pháp không thể hiển hiện. Nhưng Tứ thiền thì khác, tuy Tứ thiền không thấy được sắc pháp, mà các sắc pháp đều hiển hiện tự tại, pháp định vẫn không bị tổn giảm, cho nên Tứ thiền còn gọi là Chân sắc định. Thí dụ như, thể tính sáng suốt của gương là Sắc thanh tịnh, nên các hình tướng nào cũng đều hiển hiện trong gương.

Nếu Tứ thiền không có Sắc thanh tịnh làm căn bản, thì trong hư không chẳng thể hiển hiện các sắc tướng.

Lại nữa, do trí tuệ Tứ thiền cùng với định tương ưng, nhất tâm bất động nên tâm luôn luôn thanh tịnh. Vì thế Tứ thiền cũng còn gọi là Định trí tuệ bất động. Ở trong Tứ thiền nếu hành giả muốn chuyển duyên tu học tất cả sự việc, có thể tuỳ ý thành tựu. Những năng lực thần thông biến hóa, thuyết pháp biện tài vô ngại, cũng đều xuất phát từ định Tứ thiền. Cho nên Kinh ghi: “Phật lấy Tứ thiền làm căn bản”.

2. Ý nghĩa chi lâm

Tứ thiền gồm có bốn chi:

a) Không khổ, không lạc

b) Xả chi

c) Niệm thanh tịnh

d) Nhất tâm

a) Không khổ, không lạc:

Khi đệ Tứ thiền khai phát, Xả thọ cũng đồng thời khai phát, do tâm Xả thọ không cùng với Khổ, Lạc tương ưng, nên nói không khổ, không lạc.

b) Xả chi:

Khi nội tâm an định không khổ, không lạc, là do hành giả buông xả pháp định khoái lạc của Tam thiền, không sinh tâm hối hận, luyến tiếc. Vì chân định mới phát chưa được thành tựu, nếu tâm tiến thêm tầng định thù thắng hơn, thì tâm liền bị chuyển động duyên theo niệm, đây không thể gọi là Định bất động. Vì thế khi cảnh giới Tứ thiền khai phát, nội tâm không còn dấy khởi, tâm niệm bám chấp tự nhiên buông sạch, nên gọi là Xả.

c) Niệm thanh tịnh:

Do thiền định vắng lặng cùng trí tuệ sáng suốt chiếu soi, nên gọi là Niệm thanh tịnh.

d) Nhất tâm:

Tâm định vắng lặng, tuy đối diện với các duyên trần, tâm không động niệm, đây gọi là Nhất tâm.

Nếu giải thích ý nghĩa của năm Chi theo thứ lớp, thì chỉ cần giải thích một Chi đầu tiên, tức là đã đầy đủ bao gồm cả bốn chi.

HỎI: Trong Kinh Đại Tập nói, cảnh giới không khổ, không lạc là thuộc về Chi thứ ba. Vì sao ở đây lại nói là Chi thứ nhất?

ĐÁP: Sắp xếp thứ tự dù trước hay sau đều có lý do của nó, ở đây căn cứ vào thời gian thiền định khai phát, nên sắp xếp nó đứng hàng thứ nhất. Kinh Đại Tập căn cứ vào giai đoạn thành tựu, nên sắp xếp vào hàng thứ ba, cũng như sắp xếp Lạc chi của Tam thiền, vì thế không cố định thứ tự trước sau.

3. Thể, dụng

Trong Kinh Anh Lạc ghi: “Công đức bốn Chi của Tứ thiền là Dụng, tâm mặc nhiên là Thể”.

4. Sâu cạn

5. Tiến thoái: (Hai tướng Sâu cạn và Tiến thoái này cũng giải thích giống như ở trước)

6. Công đức

Đệ Tứ thiền cũng có đầy đủ hai thứ công đức Cụ và Ly, công đức hai thứ tâm thiện này như trong Kinh Đại Tập ghi: “Ly là xa lìa ngũ cái. Cụ là đủ cả bốn chi”. Nhưng đặc biệt chỉ riêng Tứ thiền mới có thể xa lìa họa hoạn vui buồn, khổ lạc và các tâm thiện: kính, tín, tàm, quý, thiện pháp. Tất cả công đức thiện căn sâu dày này đều xuất phát từ định bất động của Tứ thiền, cho nên thù thắng hơn các thiền trước.

HỎI: Hiện nay tu Bồ-tát đạo, thì phải giảng về Không định và các pháp thật tướng cao thâm mới phải. Vì sao lại nói về Tứ thiền của phàm phu là pháp hư dối, là sinh tử hữu lậu thế gian?

ĐÁP: Không phải vậy, như trong Thích Luận của ngài Long Thọ có lập giả thiết tự hỏi rằng: “Ý nghĩa trong Bát-nhã ba-la-mật, chỉ nói tướng các pháp là Không, nhưng Bồ-tát từ pháp Không làm sao khởi tu thiền định?”.

Ngài tự đáp: “Bồ-tát biết các pháp: Ngũ dục, Ngũ cái v.v… đều từ nhân duyên sinh khởi, không có tự tính là rỗng không, nên buông xả Ngũ dục và Ngũ cái rất dễ dàng. Chúng sinh do điên đảo, đắm chấp Ngũ dục, chìm đắm trong dục lạc xấu xa mà bỏ quên cảnh giới an lạc mỹ diệu của thiền định. Bồ-tát vì thương xót chúng sinh, nên khởi tâm từ bi khuyên bảo chúng sinh tu tập thiền định, nhất tâm chuyên niệm pháp môn thiền định, để xa lìa Ngũ dục, đoạn trừ Ngũ cái, thâm nhập hỷ lạc Sơ thiền.

Kế tiếp là dứt trừ giác quán Sơ thiền, nhiếp niệm thâm nhập nội tâm thanh tịnh. Chứng được niềm vui vi diệu Nhị thiền.

Do vui mừng hỷ lạc của Nhị thiền khiến tâm xao động, nên xả bỏ Nhị thiền, chứng nhập Tam thiền.

Kế tiếp là xa lìa tất cả cảnh giới buồn vui, khổ lạc, hơi thở ra vào tự nhiên dứt bặt, dùng tâm thanh tịnh vi diệu trang nghiêm thiền định, tiến nhập Tứ thiền. Tuy Bồ-tát biết các pháp là Không, là Vô tướng, nhưng vì chúng sinh chẳng hiểu biết, nên Bồ-tát dùng hình tướng thiền định để giáo hóa chúng sinh”.

Nếu không có các pháp thì không thể gọi là Không, đồng thời cũng chẳng phải không xả bỏ Ngũ dục mà được chứng thiền định.

Vì không có tướng xả, tướng chứng đắc, cho nên nói tướng Không của các pháp, không phải là khó nói. Nếu các pháp đều Không thì làm sao chứng được thiền định.

Lại nữa, nếu Bồ-tát tu thiền định, không còn tâm chấp tướng, không tham ái thiền định. Nên

lúc tu hành thiền định, cũng giống như người uống thuốc, chủ yếu là để trị bệnh, không phải vì tham đắm mùi vị mà tham dùng thuốc vậy. Như Bồ-tát tu thiền định cốt yếu là để giới luật thanh tịnh và thành tựu trí tuệ.

Bồ-tát thực hành trong mỗi mỗi tầng thiền, đều tu hạnh quán Không, hạnh đại từ bi, đối với thiền định không nương gá cũng không dừng nghỉ, do Ngũ dục thô thiển thấp kém, hư dối và điên đảo, cho nên mới dùng pháp Không vi tế nhiệm mầu của thiền định để đối trị Ngũ dục, ví dụ như “dùng độc để trị độc vậy”.

Trong Thích Luận có ghi: “Thí dụ như vị quốc vương thấy con mình từ bờ cao rơi xuống, vì sợ con mình bị mất mạng, nên dùng các đồ vật mềm mại để hứng lấy, chủ yếu là muốn con mình không bị tổn thương thân thể vậy”. Bồ-tát cũng như thế, vì thấy chúng sinh xa lìa trí tuệ Bát-nhã, bị điên đảo đọa lạc, mới chỉ dạy chúng sinh về pháp Không của Tứ thiền để tiếp độ họ, khiến họ không bị tổn thất Pháp thân, Tuệ mạng, cho nên hiện nay tuy nói về hạnh Bồ-tát đạo mà lại giải thích Tứ thiền, đối với nghĩa này không có lỗi vậy.

*

Chú thích chương 7:

(1) Đề-bà: Bồ-tát Ca-na Đề-bà (Kanadeva). Cuối thế kỷ thứ sáu sau khi Phật nhập Niết-bàn. Ngài dòng Tỳ Xá Ly ở Nam Ấn.

Thuở nhỏ Ngài bẩm tính thông minh, biện tài vô ngại. Ban sơ Ngài học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện. Khi Tổ Long Thọ đến nước này, Ngài tìm đến yết kiến. Tổ Long Thọ muốn thử Ngài, sai đồ đệ múc một thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài đi ngang qua lấy cây kim bỏ vào, rồi thẳng đến yết kiến Tổ. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lãnh hội, khi Tổ Long Thọ thuyết pháp hiện tướng vầng trăng tròn, Ngài thầm ngộ yếu chỉ.

Ngài theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn. Sau khi đắc pháp, ngài du hóa khắp nơi, lần lượt sang nước Ca Tỳ La để giáo hóa. Ngài là Bồ-tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại thừa.

Những tác phẩm Ngài trước thuật như: Bách Luận, Bách Tự Luận. Đại Trượng Phu Luận. Đề Bà Bồ- tát Phá Lăng Già kinh trung ngoại đạo Tiểu thừa Tứ tông luận. Đề Bà Bồ-tát Thích Lăng Già kinh trung ngoại đạo Tiểu thừa Niết-bàn Luận… Những bộ luận trên nổi tiếng nhất là Bách Luận và Đại Trượng Phu Luận.

(2) Đại sĩ Tứ y: Đại sĩ là từ tôn xưng Bồ-tát, là bậc đại hạnh, đại nguyện cứu độ chúng sinh.

Đại sĩ tứ y là bốn hạng người được chúng sinh tin cậy và xứng đáng làm y chỉ đó là: 1/ Xuất thế phàm phu (tam hiền, người còn phiền não); 2/ Bậc Tu-đà- hoàn. Tư-đà-hoàn; 3/ A-na-hàm; 4/ A-la-hán.

(3) Tứ đại sắc pháp: 4 yếu tố: đất, nước, gió, lửa hòa hợp tạo thành (vật chất) sắc pháp.

*

*2. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Giải thích Tứ vô lượng tâm

Chia làm năm phần:

A. Giải thích thứ lớp

B. Giải thích danh

C. Giải thích xứ sở

D. Giải thích tu chứng

E. Giải thích công đức Tứ vô lượng tâm

A. GIẢI THÍCH THỨ LỚP

Sở dĩ giải thích Tứ vô lượng tâm kế sau phần giải thích Tứ thiền, là do người tu có hai hạng:

– Thế gian

– Xuất thế gian

I- THẾ GIAN

Có ba hạng:

– Người ưa thích cảnh giới thù thắng tự tại, mong cầu làm Phạm Thiên vương, nên khi chứng được Tứ thiền rồi lại tiếp tục tiến tu Tứ vô lượng tâm. Vì cớ sao?

Vì Tứ thiền chỉ là cõi Sắc, tự mình tu hành đầy đủ nhưng chưa làm lợi ích cho người khác, nên công đức còn thấp kém, nếu sinh về cõi trời kia thì không được làm Thiên vương. Nếu tu thêm Tứ vô lượng tâm nội tâm hướng về mười phương chúng sinh mà nhập tam-muội, khởi lòng từ bi trùm khắp tất cả, tâm lợi tha rộng lớn, cho nên được nhiều công đức. Nếu được sinh về cõi trời kia nhất định sẽ làm Phạm Thiên vương, thống lãnh tự tại. Vì thế khi chứng được Tứ thiền, hành giả cần tu tập thêm Tứ vô lượng tâm.

– Hàng ngoại đạo tu hành, tuy chứng được Tứ thiền, nhưng thấy có tai họa của tâm thức, họ muốn được Niết-bàn vô tưởng tịch diệt, mà không biết phương pháp phá sắc tướng, lại dùng tà trí diệt tâm thức nhập định Vô tưởng.

– Hoặc có hàng phàm phu và ngoại đạo, chán ghét cõi Sắc như lao ngục, chuyên nhất tâm phá sắc tướng, tu định Tứ không. Hàng phàm phu cũng đều tu chứng được các định này, nhưng ý thích lại chẳng đồng, vì mỗi người đều tu tập theo sự ưa thích khác nhau.

II- XUẤT THẾ GIAN

Cũng có hai hạng: Tiểu thừa và Đại thừa. Đây là hai hạng người khi tu chứng được Tứ thiền, lại tiến tu Tứ vô lượng tâm.

– Người tu theo Tiểu thừa thì chỉ điều phục tâm mình, tăng trưởng phước đức, cho nên dễ chứng Niết-bàn.

– Người tu theo Đại thừa, vì muốn hóa độ chúng sinh, nên phải dùng tâm đại bi làm nền tảng, vì thế kế sau Tứ thiền cần phải giải thích phương pháp tu Tứ vô lượng tâm.

HỎI: Như trong Ma Ha Diễn có đặt câu hỏi giả thiết như: “Trong Tứ thiền đã có đủ các định Tứ vô lượng tâm và Nhất thiết nhập v.v… vì sao nay lại giải thích riêng?

ĐÁP: Tuy trong Tứ thiền đều có các pháp định ấy, nếu không giải thích riêng thì người tu không thể biết công đức của Tứ vô lượng tâm. Ví dụ như trong túi đãy có đựng vật báu, nếu không chỉ cho người thì người làm sao biết để lấy. Do muốn chỉ bày những phước đức lớn, cho nên giảng Tứ vô lượng tâm.

Nếu người chán cõi Sắc như lao ngục, nên vì họ giảng nói Tứ vô sắc định. Nếu người đối với trong các duyên quán chiếu mà không được tự tại, nên vì họ giảng nói Bát thắng xứ. Nếu họ bị trở ngại chướng đạo, không được thông đạt, nên vì họ giảng nói Bát bối xả. Nếu có người tâm không được điều hòa, không thể theo thứ lớp để nhập thiền, nên vì họ mà giảng nói Cửu thứ đệ định. Nếu người không thể tùy ý quán chiếu khắp tất cả các duyên, nên vì họ giảng nói Nhất thiết xứ.

HỎI: Nếu luận như thế, hiện nay người đã chứng được Tứ thiền, thì nhất định có đủ các thiền định Tứ vô lượng tâm v.v… hay không?

ĐÁP: Nếu theo ý nghĩa này mà luận, thì trong Tứ thiền vô lậu, có Tứ vô lượng tâm, nghĩa này đâu có lỗi. Vì cớ sao? Vì trong thiền vô lậu đều có đầy đủ các pháp môn Quán hạnh. Nếu nói về căn bản thiền hữu lậu, thì chẳng khác nào trong sữa nói Đề-hồ(1) vậy.

B. GIẢI THÍCH DANH TỪ

Tứ vô lượng tâm: (4 tinh thần phải có của Phật và Bồ-tát để độ khắp vô lượng chúng sinh, cho chúng sinh hết khổ được vui).

1. Từ vô lượng tâm: Từ là tâm yêu mến nhớ nghĩ chúng sinh, mong muốn chúng sinh được an vui và lợi ích.

2. Bi vô lượng tâm: Bi là tâm nhớ nghĩ thương xót chúng sinh thân đang chịu thống khổ trong năm đường ác.

3. Hỷ vô lượng tâm: Hỷ là muốn làm cho chúng sinh từ an lạc mà được hoan hỷ.

4. Xả vô lượng tâm: Xả là xả bỏ cả ba thứ tâm ở trước, chỉ nhớ chúng sinh, không thương không ghét.

Duyên nơi bốn pháp này, nên nói bốn tâm. Bốn tâm này trùm khắp cả mười phương không ngăn cách, nên gọi là Tâm vô lượng.

Tu tâm Từ, là trừ bỏ cảm giác sân hận trong chúng sinh.

Tu tâm Bi, là trừ cảm giác nóng nảy trong chúng sinh.

Tu tâm Hỷ, là trừ bỏ cảm giác lo buồn trong chúng sinh.

Tu tâm Xả, là trừ bỏ cảm giác yêu ghét trong chúng sinh.

Tướng trạng thứ lớp cấp bậc của bốn thứ định này, phần sau sẽ giải thích.

C. GIẢI THÍCH XỨ SỞ

Là chỗ tu của Tứ vô lượng tâm. Chia làm hai phần:

I- TỔNG THỂ

Từ Sơ thiền đến Tứ thiền đều tu được Tứ vô lượng tâm. Như trong Thích Luận nói: “Từ vô lượng tâm ở trong thiền căn bản của cõi Sắc và cũng thuộc Trung gian thiền. Vì cõi Vô sắc không có sắc chất, nên không có chúng sinh để làm phương tiện quán chiếu, mà Định dục giới và Vị đáo địa thì thấp cạn, không có phương tiện nào để tu tạo các công đức”.

HỎI: Trong Định dục giới và Vị đáo địa, người có căn khí nhạy bén có thể trong định này phát lý giải thấy biết chân thật, vì sao không được tu Tứ vô lượng tâm?

ĐÁP: Do sức trí tuệ tư duy trên lý thể quá nhạy bén, nên người có căn tính lanh lợi ngay tại trong Định dục giới và Vị đáo địa, có thể phát khởi thấy biết lý giải chân thật. Nếu là các thần thông vô lượng v.v… nhất định phải nhờ thiền định thâm sâu mới có thể phát huy tác dụng. Định dục giới và Vị đáo địa lại hoàn toàn không tu được Tứ vô lượng tâm, nhưng nếu phát được thì thuộc về Sơ thiền, nên không nói đến.

Như tác dụng của công đức năm chi Sơ thiền: Tác dụng của hai chi Giác và Quán là dùng để phân biệt dục giới, nên dễ dàng phát sinh Bi vô lượng tâm; tác dụng của Hỷ chi, thì dễ dàng phát sinh Hỷ vô lượng tâm; tác dụng của Lạc chi, thì dể dàng phát sinh Từ vô lượng tâm, tác dụng của Nhất tâm chi, thì dễ dàng phát được Xả vô lượng tâm. Cho nên gọi là “Chỗ tu chứng”.

HỎI: Trong định Tứ thiền và Trung gian thiền không có Hỷ và Lạc thì làm sao ban cho chúng sinh?

ĐÁP: Trong đó tuy không có Hỷ và Lạc, nhưng có thể dùng tướng hỷ, lạc ở ngoài mà bình đẳng ban cho chúng sinh được vui vẻ. Ví như hành giả đã lìa bỏ ngũ dục, chính mình không cần ngũ trần, cũng không cùng dục trần giao tiếp nhiễm ô. Nhưng vì muốn tu tạo phước đức, nên đem những khoái lạc thù thắng vi diệu của ngũ dục ban cho chúng sinh, mà chính nội tâm của mình không ô nhiễm. Trong định Tứ thiền ban cho chúng sinh hỷ lạc cũng như thế. Trường hợp của Trung gian và Vị đáo địa, cũng tương tự như thế.

II- GIẢI THÍCH RIÊNG

– Như Sơ thiền dùng giác quán là chủ yếu, biết rất tường tận cảnh khổ não của chúng sinh cõi Dục, nên trong Sơ thiền này tu tâm Bi vô lượng thì dễ thành tựu.

– Trong Nhị thiền đã có niềm vui lớn, nên Nhị thiền tu tâm Hỷ vô lượng dễ thành tựu.

– Trong Tam thiền có cảm giác an lạc toàn thân, nên tam thiền tu tâm Từ vô lượng dễ thành tựu.

– Trong Tứ thiền có sẵn diệu xả làm trang nghiêm, nên Tứ thiền tu tâm Xả vô lượng dễ thành tựu.

Đây là đặc tính mỗi loại thiền, đều có chỗ phương tiện của nó.

HỎI: Như thế tại sao Phật dạy trụ nơi Tứ thiền, tu Tứ vô lượng tâm dễ thành tựu?

ĐÁP: Đệ Tứ thiền gọi là niệm thanh tịnh, do chứng được định bất động, vì trong thiền này tu tất cả Phật pháp, công đức dễ thành tựu, nên mới nói như vậy.

HỎI: Phần trước có nói trong Sơ thiền tu tâm Bi, thì phá thứ tự. Như tu tâm Từ đứng trước thì Sơ thiền phải tu tâm Từ, Nhị thiền tu tâm Bi, Tam thiền tu tâm Hỷ, Tứ thiền tu tâm Xả. Vì sao vậy?

ĐÁP: Đây là tùy theo đặc tính của mỗi loại thiền để tu, mà không tu theo thứ tự. Như 10 vị đệ tử của Phật, mỗi vị đều đứng đầu mỗi hạnh, nếu hỏi người nào là trí tuệ đệ nhất, phải trả lời là Xá Lợi Phất, nếu lấy người có hạ lạp cao mà trả lời là đệ nhất, thì ý nghĩa quá sai lầm.

D. GIẢI THÍCH TU CHỨNG

Tu Tứ vô lượng tâm có bốn pháp:

I- Tu chứng tâm Từ

II- Tu chứng tâm Bi

III- Tu chứng tâm Hỷ

IV- Tu chứng tâm Xả

I- TU CHỨNG TÂM TỪ

Chia làm hai phần:

1. Phương pháp tu tập

2. Tướng thiền định của tâm Từ khai phát

1. Phương pháp tu tập

Trong các kinh Phật thường ghi: “Có Tỳ-kheo dùng tâm Từ tương ưng, vô sân, vô hận, vô oán, vô não, quảng đại vô lượng, khéo tu tập”.

Thế nào gọi là dùng “tâm Từ tương ưng”?

Như trong Thích Luận ghi: “Tâm hành giả luôn nhớ nghĩ chúng sinh khắp cả mười phương, trong lúc mong muốn chúng sinh được vui sướng thì hiện tượng trong các “tâm số pháp” phát sinh pháp lạc”. Tâm thiện chứng được, gọi là “tâm Từ tương ưng”.

Hành giả muốn nhập thiền định, trước phải phát thệ nguyện lớn. Nguyện cho chúng sinh đều được vui sướng và ở trong thiền định, ta có thể thấy được chúng sinh thọ hưởng vui sướng.

“Tâm số pháp” tức là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thân nghiệp, khẩu nghiệp, và tâm bất tương ưng các hành, tức là pháp hòa hợp đều gọi là tâm Từ. Vì các pháp này lấy tâm Từ làm chủ yếu, nên có tên gọi là “tâm Từ”. Ví dụ như tất cả “tâm số pháp” đều do người đời sau dùng tư duy mà có tên gọi, là chỗ tạo các nghiệp thiện ác, cho nên sức mạnh của tư duy rất lớn. Đây gọi là hiện tượng “tâm Từ tương ưng”.

Lại nữa, khi hành giả mới tu tâm Từ, phải dùng niệm thanh tịnh, mong muốn những người thân yêu của mình được hưởng vui sướng, hoặc cha mẹ, anh em v.v… tùy theo người nào mà mình yêu quý nhất, chuyên tâm nhớ nghĩ đến họ, nếu có tạp niệm khởi lên, liền nhiếp tâm khiến tan mất, để tâm quán tưởng nhìn thấy cảnh người thân yêu đang thọ hưởng vui sướng được rõ ràng. Sau đó dùng tâm yêu thương, quán tưởng đến tất cả người thân và kẻ oán thù đều được hưởng niềm vui sướng. Kế tiếp lại quán tưởng đến chúng sinh trong năm đường ác cũng hưởng được niềm vui sướng như thế.

Lại nữa, trong khi hành giả đang tu tâm Từ, nếu gặp những cảnh giới thiện ác, hoặc phát các hiện tượng trong thiền định, không nên chấp vào đó, chỉ cần chuyên chú nhất tâm, quán tưởng đến người thân của mình đang hưởng vui sướng, không được gián đoạn. Trên đây chỉ nói sơ lược về phương pháp tu tâm Từ.

2. Tướng thiền định của tâm Từ khai phát

Trong khi thiền định do sức thiện căn, công đức trí tuệ của hành giả đều thanh tịnh, hành giả nhất tâm nhớ nghĩ thương mến chúng sinh, thì tam-muội liền khai phát. Do sức tam-muội, trong thiền định hành giả sẽ thấy cảnh người thân yêu đang hưởng vui sướng. Hành giả nhìn thấy người thân yêu rõ ràng, nên thân tâm vui vẻ, nhan sắc từ hòa. Sau khi thấy người thân được thọ hưởng vui sướng, kế đến quán tưởng những người quen biết cho đến kẻ oán thù cũng được hưởng vui sướng như thế.

Trong định, tâm hành giả thấy từ một người cho đến mười người, lần lượt đến ngàn, vạn người, cả xóm làng, cả nước, cả thế giới v.v… cho đến chúng sinh khắp cả mười phương thế giới cũng đều được hưởng niềm vui sướng. Hành giả ở trong thiền định, thấy người ngoài hưởng niềm vui sướng, nên sức định trong nội tâm càng thâm sâu, cùng với tâm Từ ở ngoài tương ưng, lặng lẽ không động, đây gọi là “Tâm Từ tương ưng”. Tức là tương ưng với các pháp: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Ấm , Giới, Nhập v.v… cũng như đã nói ở phần trước.

HỎI: Trong định “tâm Từ tương ưng”, khi quán thấy chúng sinh là thấy thứ tự từ một người đến mười người hay thấy cùng một lúc?

ĐÁP: Căn tính của hành giả có nhanh chậm, không nhất định một loại. Tâm Từ tương ưng; “tâm Từ” tức là tâm số pháp có công năng loại trừ ô nhiễm phiền não uế trược trong tâm đó là sân hận, xan tham v.v… ví như hạt minh châu, có công năng làm nước đục trở thành nước trong, mỗi khi thả nó vào nước đục, nước lập tức trở nên trong suốt.

“Vô sân, vô hận, vô oán, vô não” là đối với chúng sinh không kể là có nguyên nhân hay không nguyên nhân, nếu tâm xấu ác dấy khởi đều gọi là tâm sân. Tâm sân giận tăng trưởng tính toán suy lường, nhưng chưa quyết định rõ ràng, gọi là Hận, cũng còn gọi là Oán. Nếu khi tâm đã quyết định rồi, không còn lo ngại, mà muốn nhằm vào đối phương để hành động, quyết gây tổn hại, gọi là Não. Dùng sức tâm Từ trừ bỏ tâm sân, hận, não, đây gọi là “Vô sân, vô hận, vô oán, vô não”. Do không có tâm Sân, Hận, Oán, Não, cho nên tán thán công đức của tâm Từ.

“Quảng đại, vô lượng”: trong một tâm chia làm hai tên gọi, như dùng tâm Từ quán thấy chúng sinh ở một phương gọi là Quảng. Khắp cả bốn phương gọi là Đại. Quán thấy bốn phương trên dưới gọi là Vô lượng.

Phá trừ tâm sân hận gọi là Quảng, phá bỏ tâm oán gọi là Đại, phá trừ tâm não, gọi là Vô lượng.

Tâm Từ duyên đến người thân, gọi là Quảng, tâm Từ duyên đến người quen gọi là Đại, tâm Từ duyên đến người thù oán được nhiều phước đức, gọi là Vô lượng.

Vì để đối với tâm Từ hẹp hòi nên gọi là Quảng, tâm Từ nhỏ nhoi nên gọi là Đại, tâm Từ có hạn lượng nên gọi là Vô lượng.

Người “khéo tu”, đây là tâm Từ đã kiên cố. Khi mới chứng được tâm Từ không thể gọi là “khéo tu”. Không những chỉ nhớ thương chúng sinh và chẳng phải chỉ ưa thích chúng sinh mà thôi, cũng không phải làm lợi ích trong một chúng sinh, không chỉ trong một phương chúng sinh, gọi là “khéo tu”. Hành giả nếu đối với người thân gần, thân xa, thân vừa vừa v.v… hay kẻ oán thù nhiều, ít, vừa v.v… trong chín hạng người ấy tâm thương ghét bình đẳng không khác. Cho đến nhớ thương tất cả chúng sinh trong năm đường khổ, dùng tâm Từ thấy họ như cha mẹ, anh em, bạn bè, bà con, tri thức v.v… thường mong cầu sự việc tốt lành, muốn khiến cho họ được lợi ích an lạc, nếu như tâm niệm này có thể ban rải khắp tất cả chúng sinh ở mười phương, đây mới gọi là “khéo tu tâm Từ”.

Lại nữa, nếu chỉ ban cho chúng sinh khoái lạc của Dục giới, không thể gọi là “khéo tu”. Nếu ban cho cảnh vui của Sơ thiền và Nhị thiền cũng không gọi là “khéo tu”. Nếu có thể ban cho chúng sinh cảnh khoái lạc của Dục giới cho đến cảnh giới an lạc của Tam thiền và Tứ thiền, mới gọi là “khéo tu tâm Từ”.

Tu tâm Từ như thế, gọi là Chúng sinh duyên từ, đây là chỗ hành của hàng phàm phu hoặc các bậc hữu học chưa được lậu tận cũng tu pháp này, do họ điều phục tâm, được phước đức lớn nên dễ dàng nhập vô lậu.

Pháp duyên Từ: Các bậc A-la-hán, Bích chi và chư Phật đã dứt hết lậu hoặc, những Thánh nhân này phá tướng ngã, diệt trừ tướng một và khác. Các Ngài chỉ quán tất cả các pháp do nhân duyên tương tục mà sinh, khi các Ngài dùng tâm Từ nghĩ nhớ chúng sinh cũng xuất phát từ nơi nhân duyên tương tục hòa hợp, tự tính là Không, Ngũ ấm tức là chúng sinh, Niệm tức là ngũ ấm.

Vì chúng sinh không biết tự tính các pháp thiền định vốn là không, nhưng lại thường mong muốn được khoái lạc thiền định. Nên bậc Thánh nhân khởi tâm từ thương xót họ, mà tùy ý ban cho họ được khoái lạc, vì đây là pháp thế tục, nên gọi là “Pháp duyên Từ”.

Vô duyên Từ: tâm Từ này chỉ Phật mới có. Vì sao? Vì chư Phật không trụ trong pháp hữu vi và vô vi, chẳng y nơi bốn phương, quá khứ, vị lai, hiện tại, chư Phật biết các pháp nhân duyên là chẳng thật, hư dối điên đảo, nên tâm không chỗ duyên.

Vì chúng sinh không biết thật tướng của các pháp, cho nên bị luân hồi xoay chuyển trong năm đường khổ, nguyên nhân là do tâm chấp trước các pháp phân biệt thủ xả. Do đó chư Phật đem trí tuệ thật tướng của các pháp giáo hóa khiến cho chúng sinh được an lạc, ấy gọi là “Vô duyên Từ”.

Ví dụ như khi cứu trợ cho người nghèo, hoặc ban cho họ tài vật, vàng bạc châu báu, hoặc ngọc thần như ý. Chúng sinh duyên Từ, Pháp duyên Từ, Vô duyên Từ cũng như thế. Nghĩa này trong Ma Ha Diễn có nói rất rộng.

Lại nữa, “Chúng sinh duyên Từ”, chỉ thấy cảnh giới chúng sinh thọ quả báo khoái lạc. “Pháp duyên Từ” thì chỉ thấy chúng sinh tiếp thọ các pháp môn và tướng Niết-bàn. “Vô duyên Từ”, thì thấy tất cả chúng sinh đồng một Phật tính và tướng Thường Lạc bình đẳng.

Lại nữa, “Chúng sinh duyên Từ”, thì xuất hiện trong các thiền căn bản. “Pháp duyên Từ” phần nhiều xuất hiện trong các thiền vô lậu như: Đặc Thắng, Bát bối xả, Thông minh thiền; “Vô duyên Từ” phần nhiều ở trong: Pháp Hoa Tam-muội, Thủ Lăng Nghiêm và Cửu chủng thiền.

II- TU CHỨNG TÂM BI

Chia làm hai phần:

1. Phương pháp tu tập

2. Thiền định của tâm bi khai phát

1. Phương pháp tu tập

Như Phật dạy: “Nếu có Tỳ-kheo dùng tâm Bi tương ưng, vô sân, vô hận, vô oán, vô não, quảng đại vô lượng, khéo tu tâm Bi tương ưng”.

Trong lúc hành giả trụ trong định của tâm Từ, thường nhớ thương mong muốn chúng sinh được vui sướng, nhưng sau khi xuất định vẫn còn thấy thân tâm của chúng sinh đang chịu những thống khổ mà sinh lòng thương xót, liền nghĩ rằng: “Phải nhớ đến chúng sinh, chớ để họ chịu những thứ đau khổ về thân và tâm”.

Hành giả lại nghĩ: “Ta nay như người mù, không thể thấy được người thân yêu và kẻ oán thù đang ở trong năm đường khổ, chính họ chịu bao đau khổ về thân, tâm, mà ta lại chẳng thấy biết. Ta cứ lười biếng ngày đêm ăn ngủ, không khởi tâm cứu vớt họ”. Nghĩ như vậy rồi, liền phát nguyện rằng: “Nếu có chúng sinh đang chịu những thứ khổ, hy vọng ta ở trong định, nguyện được thấy để siêng năng cứu hộ”. Nghĩ như vậy rồi, liền nhập thiền định. Hành giả dùng định tâm thanh tịnh, quán tưởng đến cảnh người thân đang chịu thống khổ, trụ tâm nơi cảnh ấy, nếu có tạp niệm dấy khởi, nhiếp tâm xoay lại, để tâm quán tưởng được rõ ràng.

Khi hành giả thấy người thân yêu thọ khổ, sinh tâm thương xót vô hạn, kế tiếp hành giả quán tưởng đến người quen, kẻ oán, từ một phương cho đến mười phương và chúng sinh trong năm đường khổ cũng như thế. Đây là tóm lược về phương pháp tu tâm Bi.

2. Tướng thiền định của tâm Bi khai phát

Khi quán tưởng như thế thì trí tuệ phước đức, thiện căn của hành giả đều thanh tịnh, tam-muội liền khai phát, ở trong thiền định hành giả thấy người thân đang chịu những cảnh đau khổ rất rõ ràng, nên sinh tâm muốn cứu vớt họ. Hành giả đã thấy cảnh người thân thọ khổ rồi, kế tiếp là thấy người quen và kẻ oán cũng thọ khổ, cho đến cảnh các chúng sinh khắp mười phương và trong năm đường cũng như thế. Hành giả trụ trong thiền định thấy người ở ngoài đang chịu đau khổ, mà nội tâm thương xót vô cùng, sau khi xuất định, tâm Bi càng thâm sâu vững chắc, do định tâm cùng ngoại cảnh tương ưng, nên tâm vắng lặng không dao động, đây gọi là “tâm Bi tương ưng”.

“Vô sân, vô hận, vô oán, vô não, quảng đại vô lượng” như đã nói ở trước.

“Khéo tu” tức là tâm Bi của hành giả trụ trong thiền định, không những chỉ thấy người thân yêu đang chịu khổ sinh tâm thương xót, mà cả những người không thân quen và oán ghét khắp mười phương cùng chúng sinh trong năm đường đang chịu đau khổ, hành giả cũng khởi tâm thương xót, mong muốn cứu hộ tất cả với tâm bình đẳng. Nên gọi là khéo tu tâm Bi.

Lại nữa, nếu hành giả thấy người đang thọ khổ mới sinh tâm thương xót, thấy người hưởng sung sướng và người không khổ không vui mà chẳng khởi tâm thương xót, đây không gọi là “khéo tu tâm Bi”. Nếu thấy cả ba hạng người này thảy đều là khổ, khởi tâm thương xót bình đẳng, gọi là “khéo tu tâm Bi”.

Nếu thấy chúng sinh trong năm đường có sự thọ khổ khác nhau, gọi là chẳng khéo tu tâm Bi. Nếu thấy họ thọ khổ đều như nhau mà sinh tâm thương xót bình đẳng, đây gọi là “khéo tu tâm Bi”.

Cũng có thể nói rằng: Thấy chúng sinh trong năm đường đang cùng chịu một thứ khổ, gọi là chẳng “khéo tu tâm Bi”. Nếu có thể phân biệt chúng sinh trong năm đường thọ khổ có sự sai khác bất đồng, đây gọi là “khéo tu tâm Bi”. Trên đây đã nói tóm lược trường hợp khéo tu tâm Bi.

HỎI: Quả báo chúng sinh trong năm đường, thọ những khổ vui khác nhau. Như chúng sinh trong Tam đồ phần nhiều thọ quả báo khổ, chúng sinh cõi người thọ cả khổ và vui, cõi trời phần nhiều hưởng quả báo khoái lạc, vì sao khi hành tâm Từ thì thấy chúng sinh đều hưởng vui sướng, mà khi tu tâm Bi lại thấy chúng sinh đều thọ khổ? Chẳng phải là đảo ngược sao?

ĐÁP: Không phải vậy, vì đây là phương pháp tu hành để giải thoát. Khi hành giả tu tâm Từ vô lượng, trước tiên cần phải phát thệ nguyện: Nguyện cho chúng sinh thọ hưởng tất cả khoái lạc. Quán tưởng cảnh vui sướng của chúng sinh mà nhiếp tâm nhập định, liền thấy chúng sinh đều hưởng cảnh vui sướng.

Ví như dùng một đốm lửa nhỏ, lấy cỏ khô mịn, phân bò, để mồi lửa, khi lửa cháy mạnh, mới có thể đốt đống củi ướt. Tâm đại Từ mới bắt đầu phát sinh cũng như khi lửa mới cháy, chỉ có thể quán tưởng người thân hưởng vui sướng, khi tâm Từ mở rộng đến người không thân và kẻ oán thù bình đẳng, thì đều thấy họ thọ hưởng vui sướng mà không có các cảnh khổ.

Lại nữa, tất cả chúng sinh luân chuyển trong năm đường, khổ vui chẳng cố định, chỉ vui tạm thời mà về sau chịu nhiều đau khổ, nay tuy chịu khổ mà sau này sẽ được an lạc, hiện tại tuy không được như vậy, nhưng nhất định có sự việc này. Cho nên hành giả cần dụng tâm để được giải thoát, quán tưởng tất cả chúng sinh thọ hưởng an lạc, mà chẳng rơi vào điên đảo vậy. Trường hợp tu tâm Bi, Hỷ, Xả cũng như thế.

III- TU CHỨNG TÂM HỶ

Có hai phần:

1. Phương pháp tu tập

Như Phật dạy: “Nếu có Tỳ-kheo dùng tâm Hỷ tương ưng, vô sân, vô hận, vô não, vô oán, quảng đại vô lượng, khéo tu tâm Hỷ tương ưng”.

Sau khi hành giả nhập định tâm Bi rồi, nội tâm thương xót tất cả chúng sinh ngày đêm bị khổ não bức bách, ta phải làm sao để cứu vớt họ thoát khỏi cảnh khổ được hưởng vui sướng, từ cảnh vui sướng mà sinh hoan hỷ? Lúc này hành giả quán chiếu sâu xa những chúng sinh tuy thọ khổ não, nhưng nỗi khổ này là hư giả, chẳng thật, trước kia vốn không mà nay lại có, nên có thể dễ dàng trừ diệt. Vì sao? Ví như người bệnh, nếu gặp thầy thuốc giỏi, cho thuốc thì bệnh sẽ lành, lại còn cung cấp áo quần, ăn uống nên người bệnh vô cùng vui sướng.

Hoặc ví như người bị lửa thiêu đốt rất đau khổ, nếu được tưới nước mát thì cảm giác nóng liền tiêu mất, nên tâm họ rất vui mừng. Hoặc như người nghèo khốn, do nghèo khổ mà sinh tâm tham lam, tạo bao ác nghiệp, nếu cung cấp cho họ vàng ngọc châu báu, khuyên họ tu bố thí, làm lành, không những người này hiện tại hết nghèo khổ mà thân tâm rất sung sướng, đời sau mãi mãi được thọ hưởng an lạc, giàu sang.

Như người thế gian ngu si mê lầm, bị phiền não ràng buộc, phải chịu bao đau khổ, sau khi nghe diệu pháp vô lậu thanh tịnh, y theo tu hành thì các bệnh phiền não tiêu trừ, chứng được thiền định trí tuệ và Niết-bàn an lạc.

Do những nhân duyên như thế, nên các thọ khổ vốn không có tự tính cố định, có thể dễ dàng trừ diệt, khiến tâm được hoan hỷ an lạc.

Hành giả quán chiếu như thế rồi, liền phát lời thệ nguyện rằng: “Nguyện cho tất cả chúng sinh không còn đau khổ nữa, khi ta trụ trong thiền định, thấy được chúng sinh đều an vui, sung sướng”. Hành giả nguyện xong liền nhập thiền định, dùng tâm thanh tịnh, quán tưởng đến người thân yêu thoát khỏi cảnh đau khổ, thọ hưởng niềm vui sướng, nhất tâm quán tưởng khiến cảnh giới được rõ ràng. Khi thấy cảnh người thân thọ hưởng vui sướng rồi, thì nội tâm rất vui vẻ.

Kế tiếp lại quán tưởng đến những người thân, kẻ oán, cho đến tất cả chúng sinh khắp mười phương và chúng sinh trong năm đường khổ cũng đều thọ hưởng cảnh vui sướng, vì thế mà tâm hành giả hoan hỷ vô lượng. Đây là tóm lược phương pháp tu tâm Hỷ.

2. Tướng thiền định của tâm Hỷ khai phát

Sau khi hành giả tu quán như thế rồi, do sức trí tuệ, phước đức, thiện căn thanh tịnh, tam-muội khai phát, nên trong lúc thiền định, tự nhiên thấy cảnh người thân thoát được cảnh khổ, đang thọ hưởng vui sướng, tướng hoan hỷ hiện rõ ràng. Trong tam-muội tâm vui vẻ không thể tả được, thậm chí quán tất cả chúng sinh khắp mười phương và trong năm đường, họ cũng thọ hưởng vui vẻ như thế.

Hành giả ở trong tam-muội, thấy cảnh chúng sinh vui vẻ nhưng nội tâm không hề động chuyển, thiền định càng thêm thâm sâu, đây gọi là “tâm Hỷ tương ưng”.

Trường hợp “Vô sân, vô hận, vô não, vô oán, quảng đại vô lượng” cũng như phần giải thích tâm Từ ở trước.

HỎI: Tâm Từ có thể cho chúng sinh được vui sướng, tâm Hỷ có thể khiến chúng sinh được hoan hỷ, vậy vui sướng và hoan hỷ có gì khác nhau?

ĐÁP: Trong Ma Ha Diễn có ghi: “Thân vui sướng gọi là Lạc, tâm vui vẻ gọi là Hỷ, năm thức tương ưng gọi là Lạc, ý thức tương ưng gọi là Hỷ”. Nếu đối với năm trần, tâm khởi niệm vui sướng gọi là Lạc, trong pháp trần nội tâm phát sinh vui vẻ gọi là Hỷ. Trong Định dục giới, năm thức được tương ưng gọi là Lạc, trong Sơ thiền cả ba thức (nhãn, nhĩ, thân) tương ưng gọi là Lạc, tất cả khoái lạc trong Tam thiền gọi là Lạc. Ý thức tương ưng với Sơ thiền và Định dục giới gọi là Lạc, tất cả cảnh giới khoái lạc trong Nhị thiền gọi là Hỷ. Vui mừng thô gọi là Lạc, vui mừng vi tế gọi là Hỷ. Trong nhân gọi là Lạc, khi thành quả gọi là Hỷ. Khi mới bắt đầu được vui sướng gọi là Lạc, tướng vui mừng từ nội tâm hoan hỷ hiện bày ra ngoài, vui vẻ nhảy nhót gọi là Hỷ. Lạc căn tương ưng gọi là Lạc, hỷ căn tương ưng gọi là Hỷ. Cho nên giữa Hỷ và Lạc có những sự tướng khác nhau như thế.

HỎI: Như vậy, tại sao tâm Từ và Hỷ, sắp xếp không theo thứ tự?

ĐÁP: Khi thực hành tâm Từ, do thương nhớ chúng sinh như con ruột, trong tâm ước nguyện cho chúng sinh được vui sướng. Sau khi xuất định, lại thấy chúng sinh vẫn đang còn thọ cảnh khổ, trong thâm tâm hành giả vì thương xót muốn cứu vớt họ, để họ được vui sướng. Cho nên đầu tiên là ban cho chúng sinh được sung sướng, sau đó mới ban cho hoan hỷ. Vì tâm Bi sinh khởi kế sau tâm Từ nên không thể sắp xếp kế Từ là Hỷ vậy.

Ví như người mẹ tuy luôn luôn nhớ nghĩ đến con, muốn con mình được hạnh phúc vẫn chưa gọi là hoan hỷ. Về sau thấy con mình nhiễm bệnh, lòng mẹ sầu khổ, khi bệnh của con đã lành, nên mẹ vui vẻ giao gia nghiệp cho con, cho nên kế tâm Bi mới nói tâm Hỷ vậy.

HỎI: Vì sao trong thiền định giải thích về Hỷ Lạc, Hỷ thuộc tâm thô. Trong Vô lượng tâm lại giải thích Hỷ là thuộc về tâm vi tế?

ĐÁP: Thiền lấy định làm chủ, nên tâm an lạc, điềm tĩnh, cùng trợ giúp tướng định là thù thắng. Tu pháp Vô lượng tâm thì tâm quán tưởng chúng sinh làm chủ, do duyên nơi chúng sinh lấy tâm hoan hỷ là thù thắng nên vi tế.

Lại nữa, khi thiền định mới phát, sức định còn cạn, nên chỉ dùng pháp an lạc để quán tưởng chúng sinh. Vì cớ sao? Vì nếu lấy tướng hoan hỷ quán tưởng chúng sinh thì tâm bị tán loạn khó nhiếp phục. Sau khi chánh định được thâm sâu, tuy hoan hỷ nhưng tâm vẫn không bị tán loạn nên nói là vi tế.

IV- TU CHỨNG TÂM XẢ

Có hai phần:

1. Phương pháp tu tập

2. Tướng thiền định của tâm Xả khai phát

1. Phương pháp tu tập

Phật dạy: “Như Tỳ-kheo dùng tâm Xả tương ưng, vô sân, vô hận, vô oán, vô não, quảng đại, vô lượng, khéo tu tâm Xả tương ưng”.

Khi hành giả xuất thiền định của tâm Hỷ, khởi niệm rằng: “Nếu ta tu tâm Từ là ban cho chúng sinh khoái lạc, tu tâm Bi là muốn cứu khổ cho chúng sinh, tu tâm Hỷ là khiến chúng sinh hoan hỷ, mà nội tâm ta lại chấp mình làm lợi ích cho chúng sinh, cứ nhớ nghĩ hai việc này, đây chẳng phải tu hạnh thù thắng. Ví như người cha làm lợi ích cho con của mình mà không mong muốn con báo đền công đức, mới là người cha chân chính.

Lại nữa, nguyên nhân làm cho chúng sinh được vui sướng có rất nhiều, chẳng phải riêng ta, nếu nói do ta ban cho chúng sinh được vui sướng thì thật quá đáng. Tâm Từ ban cho chúng sinh được vui sướng chỉ là sở đắc và giải ngộ của cá nhân hành giả trong lúc tu thiền định, nhưng trên thực tế thì chúng sinh không được vui sướng, nếu chấp cho là thật tức là sai lầm vậy.

Lại nữa, khi quán tưởng chúng sinh thọ khổ và thọ khoái lạc, khiến tâm phát sinh vui buồn. Khi tâm sinh vui, buồn thì có phiền não ràng buộc, như vậy rất khó giải thoát. Hiện nay ta muốn cho chúng sinh có được pháp lành thanh tịnh, thì không nên bám trụ trong ba tâm này. Dù ta thương nhớ chúng sinh kia cũng không có ích lợi gì, nay phải xả bỏ ba tâm này, tu những pháp thiện thực tế để lợi ích chúng sinh. Sau khi hành giả tư duy như thế, liền xả bỏ cả ba tâm, nhất tâm phát nguyện: “Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được tâm Xả trang nghiêm kỳ diệu, khiến ta đều thấy được”. Nghĩ như thế rồi, liền nhập định. Dùng tâm niệm thanh tịnh, quán tưởng đến một người thân, đang thọ cảnh không vui không khổ, chuyên tâm duyên nơi cảnh quán. Nếu có tạp niệm dấy khởi, liền nhiếp niệm xoay trở lại, để tâm quán tưởng được rõ ràng.

Sau khi nhìn thấy cảnh người thân thọ cảnh không khổ không vui, kế tiếp là quán tưởng đến người không thân và kẻ oán thù, cho đến chúng sinh trong mười phương và năm đường, cũng thọ cảnh không vui không khổ, mà tâm Xả đều bình đẳng. Đây là phương pháp tu tâm Xả.

2. Tướng thiền định của tâm Xả khai phát

Hành giả tu như thế rồi, do sức thiện căn phước đức chánh niệm, nên khi quán tưởng, tam-muội liền khai phát, ở trong thiền định không cần nỗ lực dụng công, mà tự nhiên thấy người thân, đang thọ cảnh không vui, không khổ, rất rõ ràng. Tuy trong thiền định thấy rõ chúng sinh, nhưng tâm không khởi yêu ghét, cho đến chúng sinh khắp mười phương và trong năm đường cũng như thế. Lúc đó hành giả ở trong định này, thấy các chúng sinh đều là tướng Xả, tam-muội được khai phát, không còn động chuyển, bền vững thâm sâu vi diệu, nội tâm an ổn, bình đẳng không hai, đây gọi là tâm Xả tương ưng.

Ý nghĩa “Vô sân, vô hận, vô não, vô oán, quảng đại, vô lượng, khéo tu” cũng như đã nói ở trên.

HỎI: Tu trong ba thứ tâm ở trước thì phải có phước đức, còn tu tâm Xả đối với chúng sinh, đã là không khổ không vui thì có lợi ích gì?

ĐÁP: Hành giả nghĩ rằng tất cả chúng sinh tạm thời lìa khổ được an vui, nhưng khi hết vui thì lại khổ, đều là phiền não trói buộc, hành giả vì mong muốn chúng sinh được không khổ không vui, thì nội tâm an ổn, trước sau không có tai họa, lấy tâm xả làm lợi ích cho chúng sinh nên được lợi ích cũng rất lớn.

Lại nữa, khi hành giả tu tâm Từ và tâm Hỷ, có lúc khởi tâm yêu thương say đắm, tu tâm Bi có khi sinh tâm buồn thương, nếu tâm tham ái thì công đức ít mà cạn, khi nhập vào tâm Xả có thể trừ lỗi tham ái này, do không có các phiền não, cho nên phước đức tu tâm Xả rất lớn.

Lại nữa, hành giả khi tu tâm Xả có thể làm những việc lợi ích cho chúng sinh, vì thế phước đức tăng lên rất nhiều. Trên đây đã nói tóm lược pháp tu tâm Xả vô lượng.

HỎI: Trong Bi, Hỷ, Xả vì sao không nói Pháp duyên, Vô duyên?

ĐÁP: Vì ý nghĩa cũng như pháp tu tâm Từ, nên không cần nói lại.

HỎI: Trong Tứ vô lượng tâm, pháp Lạc chia làm hai phần, còn Bi, Hỷ, Xả vì sao không chia làm hai phần?

ĐÁP: Pháp Lạc là cảnh chúng sinh ưa thích, nên chia làm hai phần, còn Khổ thì chúng sinh không muốn nên không chia làm hai phần.

HỎI: Tu Tứ vô lượng tâm, khi nhập định phát nguyện thấy chúng sinh, là thấy thật hay do tâm tưởng tượng thấy?

ĐÁP: Nhìn thấy có hai trường hợp:

– Hành giả nếu chứng được Thiên nhãn vô lượng tâm, đây là nhìn thấy thật.

– Hành giả chỉ dùng phương pháp quán tưởng được giải ngộ, quán tưởng chúng sinh mà nhập tam-muội. Khi đã chứng tam-muội, do sức tam- muội nên khi nhập định liền thấy, khi xuất định thì không thấy. Đây là sức tam-muội được giải ngộ, chẳng phải nhìn thấy thật.

HỎI: Chứng Tứ vô lượng tâm vì sao không phân tích những tướng công đức chi lâm, thể dụng, sâu cạn, tiến thoái v.v… ?

ĐÁP: Khi chứng Tứ Vô lượng tâm, cũng không phải hoàn toàn chẳng có nghĩa này, chỉ vì văn tự không ghi chép, nên không cần phân tích.

E. GIẢI THÍCH CÔNG ĐỨC TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Chia làm hai phần:

1. Công đức đời này

Trong Kinh A Hàm, Phật dạy: “Nếu nhập tâm Từ tam-muội, hiện đời có được năm thứ công đức:

Vào lửa không bị cháy. Trúng độc không chết. Đao binh không thương tổn. Không chết bất ngờ. Có thiện thần bảo hộ”.

Đây là do làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, nên được vô lượng phước đức.

2. Công đức đời sau

Nếu khéo tu Tứ vô lượng tâm, sẽ được sinh vào cõi Sắc làm Phạm Thiên vương. Dùng tâm rộng lớn vô lượng thâu nhiếp chúng sinh. Nếu ở Sơ thiền tu Tứ vô lượng tâm thì làm vua cõi Sơ thiền, cho đến Tứ thiền tu Vô lượng tâm, cũng được làm vua như thế.

HỎI: Trong Tam tạng kinh, chỉ nói Sơ thiền hiệu là Phạm Thiên vương làm vua thế giới Ta-bà, vì sao ở đây lại nói Tứ thiền đều có Phạm vương?

ĐÁP: Kinh Anh Lạc có nói về Tứ thiền, mỗi tầng thiền đều có Phạm vương.

HỎI: Như thế tại sao Phật nói chứng định tâm Từ được quả báo sinh lên trời Phạm thiên?

ĐÁP: Vì chúng sinh phần nhiều là nghe biết và tôn kính Phạm thiên. Phật ở nước Thiên Trúc (Ấn Độ), thời ấy có nhiều Bà-la-môn ngoại đạo, thuyết của Bà-la-môn là đem phước đức đã tạo hồi hướng nguyện sinh về trời Phạm thiên, nếu họ nghe nói tu tâm Từ được sinh về trời Phạm thiên, liền tin lời dạy, tu hạnh tâm Từ. Vì thế mà nói tu tâm Từ được sinh lên trời Phạm thiên.

Lại nữa, các cõi trời đã đoạn dứt dâm dục đều gọi là Phạm, chỉ nói danh từ Phạm thì bao hàm cả Tứ thiền, Tứ vô sắc định. Như trong luật nói về ngũ giới, chỉ cần nói một giới không vọng ngữ thì đã bao hàm cả ba việc: ác khẩu, luỡng thiệt, ỷ ngữ.

Nếu trong Tứ thiền, tu Tứ vô lượng tâm, tùy theo tu chứng một thiền nào, thì được sinh vào cõi thiền đó. Đã tùy theo chỗ thiền định mà sinh, thì tu Tứ vô lượng tâm có phước đức to lớn nên quả báo cũng chẳng đồng, cho nên khi sinh vào cõi trời kia mà không thể phân biệt giữa vua và dân hay sao?

Như trong Kinh Nhân Vương, Phật nói: “Mười tám cõi trời Phạm thiên cũng có phân biệt vua và dân khác nhau”.

Lại nói trong cõi trời Tứ thiền có Đại Tịnh vương, mà trong tam tạng, Phật chỉ nói trong Sơ thiền có Đại Phạm Thiên vương(2), vì Sơ thiền có tâm giác và quán, tức là có ngôn ngữ để chủ thống lãnh chúng sinh ở cõi dưới, nếu dùng phương tiện để so sánh thì Nhị thiền trở lên không có ngôn ngữ giác quán, nên không trích dẫn phân biệt.

HỎI: Như thế vì sao Phật nói công đức của Tứ vô lượng tâm: “Tâm Từ khéo tu thiện, tu phước đức tột cùng, sinh lên cõi trời Biến Tịnh thiên; Tu tâm Bi khéo tu thiện, tu phước đức được sinh vào Hư không xứ; Tu tâm Hỷ khéo tu thiện, tu phước đức được sinh vào Thức xứ; Tu tâm Xả khéo tu thiện tu phước đức được sinh vào Vô sở hữu xứ”. Vì sao ở đây nói quả báo tu tâm Từ phải sinh vào cõi trời Phạm thiên?

ĐÁP: Phật pháp sâu mầu không thể nghĩ bàn, Phật tùy theo căn cơ chúng sinh để hóa độ mà nói như thế.

Lại nữa, nếu từ thiền định của tâm Từ khởi, thì dễ tiến nhập Tam thiền.

Từ nơi định tâm Bi khởi, thì dễ tiến nhập Hư không xứ định.

Từ định tâm Hỷ khởi thì dễ nhập Định thức xứ.

Từ nơi định tâm Xả khởi, thì dễ tiến nhập Định vô sở hữu xứ.

Nguyện của tâm Từ là muốn chúng sinh được khoái lạc, nhưng quả báo này lại tự mình hưởng lạc, mà trong tam giới cõi trời Biến tịnh thiên(3) là vui sướng nhất, cho nên nói phước đức tột cùng của tâm Từ là sinh về cõi trời Biến tịnh thiên.

Tâm Bi quán tưởng chúng sinh chịu cảnh khổ sinh, lão, bệnh, tử, nên hành giả sinh tâm thương xót nghĩ rằng “Làm thế nào để chúng sinh lìa khổ, nếu trừ khổ trong thì khổ ngoài lại đến, nếu trừ khổ ngoài thì khổ nội tâm lại đến”. Hành giả tư duy: “Có thân thì có khổ, chỉ không có thân mới không còn đau khổ, mà hư không có thể phá sắc tướng”, cho nên nói phước đức tột cùng của tâm Bi là sinh về cõi trời Hư không xứ.

Tu tâm Hỷ là muốn chúng sinh được vui sướng, tâm thức vui sướng thì tâm được lìa thân, như chim sổ lồng, định Hư không xứ tuy tâm được lìa khỏi thân, nhưng tâm chấp hư không vẫn còn chướng ngại, đối trong tất cả các pháp đều có tâm thức, thức được tự tại vô biên, nên phước đức cùng tột của tâm Hỷ là sinh về cõi trời Thức xứ.

Tu tâm Xả là muốn chúng sinh xả bỏ những khổ vui, đây là pháp chân chánh, nghĩa là Vô sở hữu xứ, vì thế phước đức cùng tột của tâm Xả là sinh vào cõi trời Vô sở hữu xứ.

Công đức Tứ vô lượng tâm, chỉ có Thánh nhân mới được trí tuệ tự tại như thế, chẳng phải hàng phàm phu. Vì sao? Vì phàm phu trụ Sơ thiền đến Tứ thiền, tu Tứ vô lượng tâm, tùy theo quả báo của các thiền định, mà không có phương tiện khéo léo nhập vào cõi Vô sắc để tu Tứ vô lượng tâm.

Lại nữa, Phật biết đời sau căn tính của đệ tử rất chậm lụt, phân biệt bám chấp các pháp, nhầm lẫn tướng Vô lượng tâm, cho là Tứ vô lượng tâm, chỉ Thánh nhân mới biết rõ, còn “Chúng sinh duyên vô lượng tâm”, chỉ là pháp hữu lậu, do duyên nơi Dục giới nên không có Vô sắc giới. Vì sao? Vì Vô sắc giới không liên quan với Dục giới. Cho nên Phật vì đoạn trừ sự thấy biết sai lầm như thế mà nói Tứ vô lượng tâm. Trong Vô sắc giới cũng lấy Tứ vô lượng tâm duyên khắp tất cả chúng sinh khắp mười phương, nên chẳng giải thích lại trường hợp không duyên Vô sắc giới. Nói như thế là vì vẫn còn “Pháp duyên” và “Vô duyên”.

Nếu hành giả ở trong “Chúng sinh duyên” tu Tứ vô lượng tâm là đầy đủ “Pháp duyên” và “Vô duyên”. Khi tu “Chúng sinh duyên” của Tứ vô lượng tâm chính là pháp tu của Đại thừa.

Lại nữa, Bồ-tát phát tâm Bồ-đề hành Bồ-tát đạo, đây là Chúng sinh duyên vô lượng tâm. Tuy là chỗ tu của phàm phu, nhưng phải có chứng biết. Sau khi chứng rồi cũng không thể được, nên không bám chấp, dùng phương tiện khéo léo, có thể trong định này có đầy đủ tất cả thiện pháp để hóa độ chúng sinh, tức là hành Bồ-tát đạo.

Lại nữa, các công đức quán hạnh trong vô lượng tâm rất nhiều, hiện tại cần luận về việc khác, cho nên không giải thích hết được.

Kế sau phần Tứ vô lượng tâm, cần phải giải thích Vô tưởng định. Vì sao? Vì có các ngoại đạo, do nhàm chán sự sinh diệt của tâm thức hữu vi, muốn cầu được cảnh giới thường, lạc, tịch tịnh của Niết- bàn, nhưng họ không có trí tuệ, không biết pháp chân thật, khi chứng được Tứ thiền, không thấy tai họa của sắc pháp vi tế(4) mà chỉ biết tâm thức hư dối sinh diệt, nhân đó sinh chán ghét tâm thức ấy.

Họ đã không biết phương pháp phá sự ràng buộc của sắc pháp và đoạn sắc chất, lại dùng tà trí để diệt trừ tâm thức ấy. Do tà pháp tương ưng, nội tâm không còn niệm tưởng phân biệt, khi đó họ cho là đã chứng được Niết-bàn chân thật. Do họ chưa đoạn trừ được sự ràng buộc của sắc pháp, nên sau khi chết được sinh lên cõi trời Vô tưởng, cõi trời này vẫn còn ở trong Sắc giới, chưa được giải thoát sinh tử, cũng gọi là Khách thiên. Giống như bậc Thánh A-na-hàm, tu Ngũ phẩm Huân thiền, vì chưa đoạn tận tư hoặc của Sắc giới, nên phải nương gá thác sinh vào Sắc giới, cũng gọi là Khách thiên.

Định Vô tưởng đã là tà pháp, chẳng phải là pháp tu của đệ tử Phật, nay vì muốn giải thích đầy đủ các thiền định trong Tam giới, cho nên chỉ nói sơ qua để hành giả biết tướng tà định và chánh định.

*

Chú thích Quyển 6A:

(1) Đề-hồ: chất dinh dưỡng đặc chế từ sữa bò có mùi vị thơm ngon tuyệt hảo, là 1 trong 5 vị bổ dưỡng: (sữa, lạc, sinh tô, thục tô, đề-hồ).

(2) Đại Phạm Thiên vương: vị trời ở tầng thứ 3 thuộc

Sơ thiền cõi Sắc.

(3) Biến tịnh thiên: cõi trời cao nhất trong Đệ tam thiền, là 1 trong 18 tầng trời của cõi Sắc. Người được sanh lên tầng trời này thụ hưởng khoái lạc đầy đủ nên gọi là Biến tịnh.

(4) Sắc pháp vi tế: là loại vi trần rất nhỏ nhiệm (cực vi), chỉ có Thiên nhãn mới thấy được.

*

*3. TỨ VÔ SẮC ĐỊNH

Giải thích Tứ vô sắc định (Tứ vô sắc định: bốn cảnh giới vượt ngoài sự ràng buộc của Sắc pháp, là thứ định có được do tư duy Tứ vô sắc)

I- Định Hư không (Không vô biên xứ)

II- Định Thức xứ (Thức vô biên xứ)

III- Định Vô sở hữu xứ

IV- Định Phi tưởng phi phi tưởng xứ

Nay giải thích bốn thứ định này chia làm hai phần:

A. Giải thích tổng thể

B. Giải thích riêng

A. GIẢI THÍCH TỔNG THỂ

Tứ thiền và Tứ vô lượng tâm nói ở phần trước, đều do nương nơi sắc pháp mà có, nay bốn thứ định này đều nương nơi Vô sắc pháp, đây là tùy theo cảnh mà đặt tên, cho nên gọi là Vô sắc định.

Trong kinh có ghi: “Tứ Không diệt sắc chất, tâm tâm hỗ tương qua lại nương tựa lẫn nhau”. Cũng tên là Tứ Không định, vì không hình, không sắc chất, nghĩa là giống như hư không, nên gọi là Tứ Không định, cũng còn gọi là Tứ Không định xứ.

Bốn cảnh giới thiền định này, cũng gọi là Định xứ, vì bốn thứ thiền định này dùng cảnh “sở quán” làm xứ sở, như Tứ niệm xứ, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ v.v.. đều từ nơi cảnh “sở quán” mà đặt tên, tướng thứ lớp của Tứ không định, phần sau sẽ giải thích. Bốn thứ thiền định này không gọi là Thiền, vì phần trước đã có danh từ Tứ thiền, nên ở đây không lập lại, mà phải dùng danh từ khác là Tứ Không định.

Lại nữa, tự thể của Tứ Không định này còn thiếu các Công đức chi lâm, nên không thể gọi là Thiền.

HỎI: Kinh Anh Lạc nói: “Tứ Không định lấy năm Chi làm nhân, tâm lặng lẽ làm bản thể của định”, ở đây giải thích thế nào?

ĐÁP: Ở đây chỉ lấy ý nghĩa phương tiện mà lập công đức Chi lâm, chẳng phải như Tứ thiền đã thành tựu đầy đủ các công đức chi lâm, nên trong các kinh luận đều không nói các định này có công đức chi lâm vậy.

B. GIẢI THÍCH RIÊNG

I- ĐỊNH HƯ KHÔNG

Chia làm ba phần:

1. Giải thích danh từ

2. Phương pháp tu định Hư không

3. Giải thích tướng chứng đắc

1. Giải thích danh từ

Sở dĩ gọi định Hư không là do định này ban đầu lìa ba thứ sắc pháp, tâm duyên nơi hư không, cùng với Vô sắc tương ưng, nên còn gọi là Không xứ. Nay định này và ba thứ định Vô sắc ở trên, đều không có giác và quán, thuộc về Thánh mặc nhiên và xả. Như trong Ma Ha Diễn có nói: “Khi chứng đắc định Hư không, nội tâm không còn khổ, vui”.

HỎI: Nếu nói hư không là không có sắc tướng nên gọi là định Hư không, nhưng các loại thiền định trước (Dục giới, Vị đáo địa và bốn tầng thiền) cũng không có niệm tưởng, vì sao không gọi là định Hư không?

ĐÁP: Không phải vậy. Sáu tầng thiền định đã giải thích phần trước, không thể gọi là định Hư không, vì sao? Vì sau khi hành giả nhập định, nội tâm chuyển sang vi tế, do không thấy các sắc tướng thô, nên gọi là Không, mà trên thực tế thì chưa có khả năng quán sắc tướng, để phá tan sắc pháp và đoạn trừ sự ràng buộc của sắc chất. Cho nên trong khi thiền định có khi hành giả thấy sắc hoặc không thấy sắc, chẳng giống như định Hư không đã tuyệt đối dứt hẳn sắc tướng. Nên trong sáu tầng thiền định ở trước tuy không có hình tướng mà không thể gọi là định Hư không.

2. Phương pháp tu định Hư không

Chia làm hai phần:

a) Cảnh sở tu

b) Tâm năng tu

a) Cảnh sở tu

Có hai thứ:

a.1. Cảnh giới chướng ngại

a.2. Cảnh giới tu thành

a.1. Cảnh giới chướng ngại:

Hành giả muốn nhập định Hư không, cần phải diệt ba thứ sắc pháp:

1/ Sắc có thể thấy (Sắc trần: xanh, vàng, đỏ, trắng v.v…).

2/ Có sắc nhưng không thể thấy (bốn trần: thanh, hương, vị, xúc).

3/ Không hình sắc cũng không thể thấy (tức là Vô biểu sắc).

Nên trong kinh có ghi: “Vượt qua các sắc tướng, tức là diệt (sắc có thể thấy), không nhớ nghĩ các tướng nhập định Vô biên hư không xứ”.

Ma Ha Diễn có ghi: “Vượt qua tất cả sắc tướng liền phá trừ “Sắc có thể thấy” (sắc trần). Diệt sắc tướng tức là phá “Có sắc không thể thấy” (thanh, hương, vị, xúc). Không nhớ nghĩ các tướng tức là diệt “không sắc cũng không thể thấy”(vô biểu sắc)”.

Tất cả sắc pháp chẳng ngoài mười một thứ. Đó là: năm căn, năm trần và vô biểu sắc, tức là sắc, pháp, trần.

Như trong Luận A Tỳ Đàm ghi: “Mười loại sắc có thể thấy là năm căn, năm trần, nhất thiểu phần (Vô biểu sắc) là không sắc tướng, không thể thấy”. Hành giả muốn nhập định Hư không cần phải phá trừ ba thứ sắc pháp này, vì ba thứ sắc pháp này, chính là cảnh giới chướng ngại.

a.2. Cảnh giới tu thành

Hành giả dùng tâm trí duyên nơi Hư không, nhân đây nhập định, liền thành tựu cảnh giới của định Hư không.

b) Tâm năng tu

Chia làm hai phần:

b.1. Quở trách và tán thán

b.2. Quán chiếu và phân tích

b.1. Quở trách và tán thán

– Quở trách: Khi hành giả tu tập định Hư không, suy xét tai họa của sắc pháp, nghĩa là nếu có sắc thân thì có các thứ khổ: bệnh tật, đói khát, đại tiện, tiểu tiện, ô uế, thô nặng xấu xí, hư giả v.v… ngoài thân thì có các thứ khổ như: nóng lạnh, đao gậy, cùm khóa v.v… Do từ quả báo của nhân duyên đời trước hòa hợp mà có được thân này, nó chính là nguồn gốc những thứ bệnh khổ, ta không nên bám chấp gìn giữ.

Lại nữa, tất cả sắc pháp ràng buộc tâm, không được tự tại, tức là tâm bị giam giữ khiến phải chịu đựng phiền não, chẳng được an lạc nên không thể tham chấp. Đây là phương pháp quở trách tai họa và tội lỗi của sắc pháp.

– Tán thán: khen ngợi định Hư không, không có sắc pháp thì không có các tai họa như trên, nên được rỗng rang an lạc, định này vắng lặng, không có những tai họa phiền não.

Nay đã giải thích tóm lược phần tán thán và quở trách, tức là pháp tu tập của Lục hành như đã nói ở chương trước.

b.2. Quán chiếu và phân tích

Trong lúc hành giả trụ trong định Tứ thiền, khởi niệm rằng: “Nay ta ở trong định này, thân nương nơi Dục giới, đầy đủ sắc pháp, vì sao ta không thấy?”. Nghĩ như thế rồi nhất tâm quán chiếu thân thể của chính mình, thấy các lỗ chân lông và cửu khiếu, các thứ trong nội tạng đều là rỗng không, thưa thớt như tấm lụa thưa, trong ngoài thông nhau, hoặc như những bẹ cây chuối, từng lớp từng lớp không thật.

Khi quán như thế, hành giả liền thấy được cảnh ấy, sau khi thấy rồi, lại dùng tâm quán sát, thấy thân thể như cái nồi đất, như màng nhện, từ từ vi tế, cả toàn thân đều biến mất dần, không còn thấy thân và năm căn v.v… nội thân đã biến mất sạch thì sắc ngoài cũng như thế. Vì sao? Vì tất cả sắc pháp Tứ đại và Tứ vi trong nội thân, chẳng khác những sắc pháp Tứ đại và Tứ vi ở ngoài thân.

Khi hành giả quán chiếu như thế, mắt có thể nhìn thấy sắc chất tan hoại, nên gọi là “quá sắc”. Các căn trần như: thanh, hương, vị, xúc hoại diệt gọi là “Diệt có sắc không thể thấy” cho nên đối với hai thứ: Sắc và Vô biểu sắc đều không phân biệt, gọi là “Không nghĩ nhớ các tướng biệt và dị”.

Khi sắc pháp đã diệt, hành giả chỉ chuyên tâm quán tưởng hư không thật lâu, không buông xả, thì định Sắc giới đều biến mất, mà trước lúc chưa phát định Hư không, cũng có Trung gian thiền. Lúc này hành giả phải cẩn thận chớ lo buồn, hối hận mà phải tiếp tục tinh tấn nhất tâm nhớ hư không thì sẽ vượt qua cửa nạn của định Sắc giới “sáu tầng định ở trước”. Trên đây đã giới thiệu sơ lược về phương pháp tu tập định Hư không.

3. Giải thích tướng chứng

Chia làm sáu phần:

a) Chứng đắc

b) Có chi lâm hay không có chi lâm

c) Thể dụng

d) Sâu cạn

e) Tiến thoái

f) Công đức

a) Chứng đắc

Hành giả đã nhất tâm nhớ tưởng hư không miên mật không buông xả, thì tâm ấy từ từ tiêu mất, mặc tình tự an trụ trong hư không, cảnh giới này cũng tương tự như tướng trạng của định Vị đáo địa đã nói chương trước. Sau khi được rỗng rang cùng hư không tương ưng, nội tâm sáng suốt vắng lặng, cảm thọ không khổ không vui lại tăng trưởng. Trong thiền định thâm sâu chỉ còn thấy hư không, không có các sắc tướng. Tuy tâm duyên nơi hư không vô biên mà tâm chẳng phân tán. Khi không còn bị sắc ràng buộc, tâm thức được đứng lặng, tự tại vô ngại. Như chim bị nhốt trong lồng, khi được xổ lồng tung bay tự tại. Cảm giác chứng định Hư không cũng như thế.

Khi chứng được định Hư không, tức là đã vượt thoát ra ngoài Sắc giới, nên gọi là “Vượt qua tất cả sắc tướng”, vì dùng pháp Không để trì giữ tâm nên các thứ sắc tướng không thể sinh khởi. Cho nên gọi là “Diệt sắc có thể thấy”.

Nội tâm hành giả đã được rỗng không, thù thắng vi diệu, nên quyết định xả bỏ sắc pháp, thâm tâm không lưu luyến nhớ nghĩ, gọi là “không nhớ nghĩ các tướng”. Vì vậy trong các kinh điển phần nhiều dùng nghĩa này để giải thích trường hợp chứng định Hư không.

b) Có chi lâm hay không có chi lâm

Trong các kinh luận khác đều nói Tứ vô sắc định không có Công đức chi lâm, chỉ trong Kinh Anh Lạc ghi: “Định Tứ không có công đức năm chi làm Nhân, tâm vắng lặng thứ sáu làm bản thể của Định. Thể dụng tương tợ với phương tiện đạo”. Nếu theo Kinh Anh Lạc, thì định Hư không có năm chi công đức. Năm chi đó là Tưởng, Hộ, Chánh, Quán, Nhất Tâm”. Tứ thiền đã nói phần trước đều có tướng trạng của chi lâm, còn định Hư không này thì không có phương pháp chứng được chi lâm nào khác. Cho nên sợ căn cứ vào ý nghĩa phương tiện để tu định Hư không mà thiết lập Chi lâm, do đó kinh mới nói: “Thể dụng tương tợ với Phương tiện đạo”.

Các kinh luận khác đều không có lập Chi lâm của định Tứ không, vì tự thể của định Hư không vốn không có phương pháp chứng được Chi lâm nào khác, trong Kinh Anh Lạc nói có chi lâm, phần nhiều là căn cứ nơi phương tiện để thiết lập.

Ý nghĩa căn cứ nơi phương tiện để thiết lập năm chi công đức như thế nào?

Tưởng: tức là khi tu định Hư không, hành giả tưởng tượng thân thể như tấm lụa mỏng thưa thớt như cái nồi đất.

Hộ: còn gọi là Xả chi, tức là hành giả xả bỏ ba thứ sắc tướng: căn, trần, thức. Hộ cũng còn gọi là Hộ trì, giữ gìn, ngăn chặn ba thứ sắc này, không cho phá tâm Không.

Chánh: nghĩa là không tà, hành giả tu định Hư Không gọi là Chánh, nếu khởi niệm bám chấp vào sắc tướng gọi là Tà.

Quán: nghĩa là quán chiếu được chánh niệm, vì quán chiếu có thể phá trừ ba thứ sắc pháp, chứng đạt lý Không.

Nhất tâm: Quán tâm an trụ nơi hư không, không cho phân tán.

Nói chung chữ Chi, nghĩa là chia chẻ ra. Do năm pháp này được phân chia ra từng phần, không chung một nên gọi là Chi, đây là theo phương tiện tu hành để luận về ý nghĩa Chi thì phải đúng như thế.

Do không có kinh văn ghi chép xác thực, nên không thể nói cố định như thế, chân ý của Phật rất khó suy lường.

Hoặc nói: “Khi chứng định Hư không, trong định ấy có thành lập công đức của năm chi này”.

Vì sao? Vì trên kinh điển nói rằng: “năm chi là Nhân, tâm “Đệ lục mặc nhiên” làm bản thể của định Hư không”.

Nay theo chỗ tu định Hư không để thiết lập Chi lâm và dùng ẩn hiển để thuyết minh Nhân Quả, Thể Dụng tựa hồ không thích hợp. Nếu ước theo ý nghĩa khi chứng được định Hư không để thành lập ra năm chi thì thấy cũng có lý, hành giả nghiên cứu thật kỹ sẽ tự hiểu không cần giải thích nhiều.

c) Giải thích Thể và Dụng

Năm chi của định Hư Không làm Nhân, tâm mặc nhiên (tâm vắng lặng) làm Quả, sau đó Quả lại khởi năm chi làm Dụng. Cho nên lấy tâm mặc nhiên làm Thể giống như Tứ thiền đã nói ở chương trước vậy.

HỎI: Đã nói định này không chứng được Chi lâm, vì sao lại đồng với phần trước?

ĐÁP: Lý ấy là pháp phương tiện nên không có lỗi.

d) Giải thích sâu và cạn

Khi hành giả mới chứng được định Hư không, do xa lìa ba thứ sắc pháp, nên tâm cùng mười phương hư không tương ưng, đến khi sức định từ từ thâm sâu, nhân đó hành giả nhận biết tâm thức sáng suốt, vắng lặng, thấy hư không càng rộng lớn thì định lực càng thâm sâu. Hành giả tự biết sức định trước là thấp cạn, thấy sức định hiện nay càng ngày càng thâm sâu, rộng lớn, thậm chí đạt đến “Cửu phẩm”(1), cũng đại khái như đã nói ở chương trước vậy.

e) Giải thích tiến và thoái

Chứng được định Hư không, cũng có bốn hạng chẳng đồng: Có người lui sụt; Có người dừng; Có người tiến bộ; Có người thông đạt. Tóm lại, cũng như Tứ thiền đã nói ở chương trước vậy.

f) Giải thích công đức

Công đức của định này cũng có đồng và chẳng đồng. Công đức đồng thì như đã nói ở trước.

Công đức chẳng đồng có hai thứ: Lìa họa và Tâm thiện.

– Lìa họa: Sau khi chứng định Hư không, mới xa lìa khỏi họa của ba thứ sắc pháp.

– Tâm thiện: Sau khi lìa khỏi sắc pháp chứng định Hư không, mới được các công đức: tín tâm, cung kính, tăng tiến, thù thắng, hổ thẹn, v.v…

II- ĐỊNH THỨC XỨ

Chia làm ba phần:

1. Giải thích danh từ

2. Phương pháp tu

3. Giải thích tướng chứng

1. Giải thích danh từ

Định thức xứ tức là xả bỏ định Hư không để duyên nơi Thức, vì lấy Thức làm trụ Xứ, nên lấy Thức để lập tên, gọi là định Thức xứ.

2. Phương pháp tu

Có hai thứ:

a) Quở trách định Hư không

b) Quán phá trừ định Hư Không

a) Quở trách định Hư không

Hành giả hiểu rõ định Hư không cùng hư không tương ưng, mà Hư không thì vô biên, nếu tâm duyên nơi định Hư không, duyên nhiều thì tâm tán động, có thể phá hoại định tâm. Hư không là pháp ở ngoài, nếu duyên theo pháp ở ngoài nhập định, do sức định ở ngoài phát sinh, thì không được an ổn, có rất nhiều lỗi lầm, đây gọi là quở trách định Hư không. Hành giả biết định Thức xứ

là pháp ở trong, nếu pháp được duyên bên trong, thì khi nhập định nội tâm sẽ được vắng lặng, an ổn, cho nên tán thán định Thức xứ.

b) Quán phá trừ định Hư không

Hành giả trụ trong định Hư không, quán chiếu Thọ, Tưởng, Hành, Thức như ghẻ lở, bệnh tật, ung nhọt, gai chích, là vô thường, khổ, không, vô ngã, do nhân duyên hòa hợp mà có là hư giả chẳng thật. Đây tức là pháp quán Bát thánh chủng.

Bốn pháp quán (ghẻ, lở v.v…) là phương pháp đối trị, là pháp quán chiếu trên sự tướng; còn bốn pháp quán (vô thường v.v…) là phương pháp quán chiếu trên lý thể chân thật. Trong tám pháp quán này chia ra hai phần:

– Tổng quán: Dùng tám pháp quán này, quán toàn bộ định Hư không là do bốn ấm hòa hợp mà có định này, vì thế chỉ là tai họa chứ chẳng phải thật.

– Biệt quán: Dùng bốn pháp quán (bệnh, ung nhọt v.v…) để đối trị bốn ấm là pháp quán trên sự tướng, như dùng pháp quán “bệnh” để đối trị thọ ấm; quán như “ung nhọt” để đối trị tưởng ấm; quán “ghẻ lở” đối trị hành ấm; quán “gai chích” để đối trị thức ấm.

Dùng bốn pháp quán (vô thường, khổ v.v…) như quán “vô thường” để đối trị Thức ấm; quán “khổ” để đối trị Thọ ấm; quán “Không” để đối trị Tưởng ấm; quán “vô ngã” để đối trị Hành ấm.

Dùng hai pháp quán tổng biệt và sự lý để đối trị định Hư không, do đối với sự và lý không còn tham luyến khoái lạc, nên dễ sinh tâm nhàm chán và mau chóng xả bỏ, nếu hành giả khéo dùng pháp Tứ niệm xứ để suy tìm nghiên cứu và đối chiếu ý nghĩa trên sẽ hiểu rõ chánh định “tam-muội” này.

HỎI: Khi lìa bỏ Tứ thiền vì sao chỉ nói về ba pháp môn phương tiện? Nay lìa Tứ không định lại nói Bát thánh chủng?

ĐÁP: Định Hư không rất vi tế, nếu không dùng Bát thánh chủng để quán, rất khó thấy tai họa lỗi lầm của định Hư không.

HỎI: Như phàm phu không có Bát thánh chủng thì làm sao lìa khỏi định Hư không?

ĐÁP: Chỉ cần tu pháp “Lục hạnh” cũng lìa được định Hư không, nhưng không bằng tu Bát thánh chủng để được mau chóng.

HỎI: Phương pháp tu thiền hữu lậu là dùng Bát thánh chủng, còn thiền vô lậu có pháp tu gì khác không?

ĐÁP: Ở đây nói tu Bát thánh chủng chủ yếu là muốn hành giả mau chóng thoát lìa các định tầng thấp để tu tiến lên các tầng thiền định cao hơn, vì trong định này hành giả không thể thâm nhập quán chiếu, khiến phát được trí tuệ vô lậu, cho nên pháp tu ở đây cùng với pháp thiền vô lậu có khác nhau.

Kế tiếp là giải thích tâm duyên Thức. Hành giả đã khéo biết sai lầm của định Hư không, nội tâm chẳng còn vui mừng, liền xả bỏ định Hư không, nhất tâm duyên nơi tâm thức hiện tại, niệm niệm không rời, hoặc duyên nơi tâm quá khứ và vị lai cũng giống như thế. Hành giả luôn luôn chuyên chú duyên nơi thức, muốn cùng với thức tương ưng, kiên trì dụng công không quản thời gian bao lâu, mà chỉ nhất tâm duyên nơi thức chẳng có tạp niệm nào khác.

HỎI: Tâm thức quá khứ đã diệt, tâm vị lai chưa đến, tâm hiện tại không dừng trụ, thì làm sao tâm duyên theo để nhập định?

ĐÁP: Tâm thức mà ông hỏi, tuy tâm thức cả ba đời không thể được, mà có thể nhớ nghĩ được, ví như tâm sân quá khứ đã diệt, không thể trở lại, nhưng có thể nhớ nghĩ lại được, như người chứng được Tha tâm thông cũng có thể biết tâm lý của người khác, tuy các pháp vốn là Không mà không đoạn diệt, huống gì tự mình duyên nơi tâm thức ba đời của mình, làm sao không thể làm Nhân để nhập định hay sao?

Cái “Nhân” đang luận nơi đây, đương nhiên có ý niệm duyên nơi thức để nhập định, vì thế hành giả nhất tâm duyên nơi thức thì định Hư không liền diệt mất, trước khi định Thức xứ chưa phát sinh cũng có Trung gian thiền giống như đã nói ở chương trước vậy.

HỎI: Như vậy cần phải có trường hợp Trung gian thiền hay không?

ĐÁP: Phần trước đã có giải thích qua, ý nghĩa cũng như thế.

3. Giải thích tướng chứng

Chia làm sáu phần:

a) Tướng chứng

b) Chi lâm

c) Thể dụng

d) Sâu cạn

e) Tiến thoái

f) Công đức

a) Tướng chứng

Khi hành giả nhất tâm duyên nơi thức, tâm niệm từ từ tiêu mất, mặc tình tùy duyên an trụ nơi Thức xứ, nhân đây nội tâm được rỗng rang cùng với thức tương ưng, nên tâm an định không dao động. Trong định Thức xứ hành giả không thấy việc gì khác, chỉ thấy tâm thức hiện tại, niệm niệm chẳng dừng trụ, nội tâm an định, sáng suốt rõ ràng, tâm thức tự mở rộng vô biên.

Trong định này hành giả cũng có thể nhớ thức quá khứ đã dứt diệt vô lượng vô biên. Thức vị lai cũng sinh khởi vô lượng vô biên, những hiện tượng này đều xuất hiện trong định cùng với thức tương ưng. Do thức giữ gìn tâm thức, nên niệm không phân tán, định này rất an ổn, thanh tịnh, vắng lặng. Tâm thức sáng suốt, rõ ràng và vô cùng nhạy bén không thể dùng văn tự diễn tả được.

HỎI: Hành giả chưa chứng đắc Tha tâm thông, làm sao biết được tâm cả ba đời?

ĐÁP: Đây là do sức của chánh định, ý nghĩa cũng như Tứ vô lượng tâm.

b) Chi lâm

Như trong Kinh Anh Lạc nói: “Phương tiện năm chi của định Tứ không cũng tương tự như định Hư không”, cho nên ở đây chẳng cần nói lại.

c) Thể dụng, d) Sâu cạn, e) Tiến thoái, f) Công đức (đại khái cũng như các chương trước, nay cũng không cần giải thích riêng)

III- ĐỊNH VÔ SỞ HỮU XỨ

Chia làm ba phần:

1. Giải thích danh từ

2. Phương pháp tu hành

3. Giải thích tướng chứng

1. Giải thích danh từ

Vô sở hữu xứ hay còn gọi là “Bất dụng xứ”. Khi tu pháp định này, không cần dùng tất cả cảnh giới trong và ngoài. Cảnh ở ngoài gọi là Không, cảnh ở trong gọi là Tâm. Do xả bỏ cả hai cảnh giới này mà được định, nên gọi là Bất dụng xứ, cũng còn gọi là Thiểu xứ, Vô sở hữu xứ, Vô tưởng xứ, cả ba danh từ này đều căn cứ nơi bản thể của định mà đặt tên vậy.

2. Phương pháp tu

Có hai thứ:

a) Quở trách và tán thán

b) Quán hạnh tu tập

a) Vì sao gọi là quở trách và tán thán?

Hành giả biết rõ định Thức xứ là tai họa. Vì cớ sao? Tâm của định Thức xứ cùng với pháp của thức tương ưng, nếu trong thiền định, tâm duyên nơi thức, mà thức quá khứ, hiện tại, vị lai thì đều vô lượng vô biên, nếu tâm duyên nơi vô lượng vô biên, vì duyên nhiều tâm sẽ bị tán loạn phá mất định lực.

Lại nữa, định Hư không tức là tâm duyên nơi hư không mà nhập định, gọi là định ở ngoài. Nay duyên nơi thức để nhập định, nên gọi là định ở trong. Dù nương ở trong hay ngoài cũng đều chẳng phải tâm vắng lặng, nếu nương nơi nội tâm dùng tâm duyên thức để nhập định, vì định này nương theo tâm thức cả ba đời để phát sinh, thì chẳng phải chân thật. Chỉ có chỗ không có tâm thức, tâm không nương gá, mới gọi là an ổn, sau khi hành giả tư duy như thế, liền tán thán định Vô sở hữu xứ.

b) Quán hạnh tu tập

Hành giả quán chiếu Thọ, Tưởng, Hành, Thức giống như bệnh, như ghẻ, ung nhọt, gai châm và vô thường, khổ, không, vô ngã là do hòa hợp mà có, hư giả chẳng thật, ý nghĩa cũng như giải thích ở chương trước vậy.

Sau khi hành giả biết rõ liền xả bỏ định Thức xứ, duyên niệm nơi định Vô sở hữu xứ, định Vô sở hữu xứ không có chỗ nương gá, nên tâm thức ở trong lặng lẽ dứt bặt, không cần dùng các phương pháp của tâm thức. Biết pháp Vô sở hữu xứ là chẳng phải Không, chẳng phải Thức, không pháp trần, không có phân biệt. Hành giả biết rõ định Vô sở hữu xứ, lặng lẽ dứt bặt tâm niệm như thế thì định Thức xứ liền diệt mất, trong lúc thiền định chưa phát, cũng có Trung gian thiền, tướng chứng như đã nói ở chương trước vậy.

HỎI: Có người nói tu định Vô sở hữu xứ là dùng một ít thức làm duyên để nhập định việc này thế nào?

ĐÁP: Chẳng đúng, phải xả bỏ tất cả, chỉ quán các pháp là Vô sở hữu, nên gọi là Vô sở hữu xứ. Nói Thiểu xứ tức là ý căn “mạt-na” duyên nơi chỗ không có pháp trần mà phát sinh định Vô sở hữu xứ, chẳng phải là tâm duyên nơi một ít thức để nhập định gọi là Thiểu xứ.

3. Giải thích tướng chứng

Chia làm sáu phần:

a) Tướng chứng

b) Chi lâm

c) Thể dụng

d) Sâu cạn

e) Tiến thoái

f) Công đức

a) Tướng chứng định Vô sở hữu xứ

Hành giả trụ nơi Trung gian thiền, nội tâm không còn lo sầu, hối hận, do chuyên chú tu hành không chút giải đãi, thì nội tâm được vắng lặng, không nương gá chỗ nào, không thấy các pháp, thâm tâm lặng lẽ an ổn, không chút dao động. Đây là tướng chứng của định Vô sở hữu xứ.

Khi nhập định này, các vọng tưởng đều lặng lẽ dứt bặt, nội tâm thư thái, tịch tịnh. Tâm niệm còn không thấy, huống chi là các pháp khác sao? Do không có chỗ phân biệt, nên gọi là định Vô sở hữu xứ, cũng gọi là định Vô tưởng.

b) Chi lâm, c) Thể dụng, d) Tiến thoái, e) Sâu cạn, f) Công đức (ý nghĩa cũng như các tầng thiền đã giải thích ở phần trước vậy).

IV- ĐỊNH PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG (PHI HỮU TƯỞNG PHI VÔ TƯỞNG)

Cũng chia làm ba phần:

1. Giải thích danh từ

2. Phương pháp tu

3. Giải thích tướng chứng

1. Giải thích danh từ

Định Phi tưởng phi phi tưởng, cũng có nhiều danh từ chẳng đồng. Có người gọi còn định này là Nhất tồn, Nhất vong.

Phi tưởng: nghĩa là không có niệm tưởng thô, nên gọi là vong, tức là mất hết tưởng thô.

Phi phi tưởng: nghĩa là chẳng phải không có niệm tưởng vi tế, nên gọi là tồn tức là còn tưởng vi tế.

Lại có người giải thích rằng: định Thức xứ là có tưởng, định Vô sở hữu xứ là không có tưởng. Nay Phi tưởng tức là đoạn trừ có tưởng của định Thức xứ, Phi phi tưởng là đoạn trừ không có tưởng của định Vô sở hữu xứ.

Có người giải thích Phi hữu tưởng là trong định này không thấy có các hình tướng, nên gọi là Phi hữu tưởng. Phi vô tưởng là hành giả tự suy nghĩ rằng: Nếu nhất định không có niệm tưởng thì khác nào gạch đá vô tri, vậy làm sao có thể biết được không tưởng? Nên gọi là Phi vô tưởng vậy.

HỎI: Trong định Phi hữu tưởng phi vô tưởng, kỳ thật là có tưởng, vì sao nói vô tưởng?

ĐÁP: Định Phi tưởng có bốn ấm (thọ, tưởng, hành, thức) hợp thành, sao lại nói không? Nhưng hàng phàm phu khi nhập định này, do ấm, giới, nhập quá vi tế, vì không thấy, không biết, nên họ nói là không có tưởng (phi tưởng).

Trong Phật pháp thì nói định này có bốn ấm hợp thành, xưa kia đã có đặt danh từ này, nên hiện nay gọi là Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Cũng có người giải thích: “Theo phàm phu thì gọi là Phi hữu tưởng, ở trong Phật pháp thì gọi là Phi vô tưởng”, nếu đem cả hai danh từ hợp lại thì gọi là Phi hữu tưởng phi vô tưởng.

2. Phương pháp tu

Có hai phần:

a) Quở trách và tán thán

b) Tu tập quán hạnh

a) Quở trách và tán thán

Hành giả biết rõ tai họa sai lầm của định Vô sở hữu xứ, bởi vì trong định này bị vô minh che đậy, như ngu si, như say mê, mờ tối, không giác biết, không thể ưa thích. Trong Ma Ha Diễn có ghi: “Quán định Thức xứ giống như ung nhọt, quán định Vô sở hữu xứ như ngu si, hai thứ định này đều là bệnh của tâm thức, chẳng phải cảnh giới vắng lặng chân thực. Ngoài đây ra còn có một tầng định rất thù thắng vi diệu, gọi là Phi tưởng phi phi tưởng, định ấy mới thực là cảnh giới an ổn, không có lỗi lầm, hiện nay ta rất muốn chứng được định này”.

b) Tu tập Quán hạnh

Khi hành giả an trụ trong định Vô sở hữu xứ, chuyên tâm quán chiếu Thọ, Tưởng, Hành, Thức giống như bệnh, ung nhọt, máu mủ, gai châm, là vô thường, khổ, không, vô ngã, là hư giả chẳng thật, do nhân duyên hòa hợp mà có, nên gọi là chẳng thật có. Sau khi quán như thế, liền xả bỏ định Vô sở hữu xứ, tâm niệm quán tưởng chẳng phải có cũng chẳng phải không (phi hữu, phi vô).

– Sao gọi là Phi hữu? Nghĩa là không có tâm thức, vì tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều không thể được. Do tâm thức không có hình tướng, không chỗ trụ nên biết không có.

– Sao gọi là Phi vô? Nếu nói không, sao gọi là Không? Tâm là rỗng không hay lìa tâm mà thành Không? Nếu tâm là Không thì không thể gọi là tâm, vì sao? Vì không có cảm giác, không có cảnh giới để phan duyên nên gọi là không. Tâm chẳng phải là Không cũng không có riêng một cái Không. Vì sao? Không chẳng phải tự không, do phá bỏ tâm Có, nên nói không tâm thức, đã không có thì cái Không ấy cũng Không, cho nên nói là Phi hữu, Phi vô (Chẳng phải có, chẳng phải không).

Khi hành giả quán chiếu như thế, nội tâm chẳng còn thấy Có, thấy Không, liền nhất tâm trụ trong đó, không nhớ tưởng việc gì khác, đây gọi là tu định Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Hành giả chuyên chú miên mật không buông xả định này, thì định Vô sở hữu xứ liền diệt mất. Khi định Phi hữu tưởng phi vô tưởng chưa khai phát, cũng có Trung gian thiền như đã nói ở chương trước vậy.

3. Giải thích tướng chứng

Cũng chia làm sáu phần:

a) Tướng chứng

b) Chi lâm

c) Thể dụng

d) Sâu cạn

e) Tiến thoái

f) Công đức

a) Tướng chứng

Hành giả nhất tâm, tinh chuyên dụng công liên tục, do tâm được tự tại, mặc tình an trụ nơi định Phi hữu tưởng Phi phi tưởng. Sau đó phát thiền định chân thật, không thấy hình tướng Có và Không, nội tâm ngưng lặng dứt bặt chẳng dao động, thư thái thanh tịnh tương tự như cảnh giới Niết-bàn, định này rất vi diệu, trong tam giới không có định nào có thể vượt hơn. Hàng ngoại đạo khi chứng đến chỗ này, cho là đã chứng được trung đạo, thật tướng Niết-bàn, thường, lạc, ngã, tịnh, do tham ái chấp bám nơi định này, lại không tiếp tục tu tập Bát-nhã chánh quán, họ chẳng khác nào như trùng đục cây, đục mới đến vỏ cây, không tiến thêm nữa mà quay trở lui.

Như trong kinh có ghi: “Khi phàm phu chứng pháp định này, cũng giống như dây cột lừa, hết dây thì quay trở lại”. Vì chẳng biết định này là do bốn ấm hòa hợp mà có tự tính. Tuy trong định này, không có các phiền não thô, nhưng lại có mười thứ phiền não vi tế, do chẳng biết nên họ chấp cho là đã chứng đến cảnh giới chân thật.

Hàng ngoại đạo nhập trong định này, chẳng thấy tướng có và không, mà cảm nhận có tâm hay Biết (năng tri) chẳng phải có chẳng phải không, liền chấp chặt nơi tâm này, cho là “Chân thần bất diệt(2)” nên nói đến chỗ tâm vi tế không thể phá gọi là “Thần năng tri”. Nếu là đệ tử của Phật thì họ sẽ biết định này là do bốn ấm hòa hợp mà có, là hư giả, chẳng thật, chỉ là vọng tưởng trong nội tâm, thực tế không có “Thần tri” nào khác.

Lại nữa, định Hư không do phá trừ sắc tướng nên nói là Không; định Thức xứ phá chấp Không nên nói là Thức, nói có thức tức là Hữu tưởng. Còn định Vô sở hữu xứ phá bỏ Thức nên không có thức, nói không có thức tức là Vô tưởng. Hiện nay trong định này lại phá định Vô sở hữu xứ, nên nói là chẳng phải không có tưởng, vì thế định này còn gọi là Phi hữu tưởng phi vô tưởng.

Định này đối với các tướng: Trầm, Phù, Trí, Thiền, Định, Có, Không v.v… trong thế gian đều bình đẳng, cho nên định này luôn luôn an ổn, ở trong thế gian định này rất là tôn quý và thù thắng, trí thế gian không thể phá hoại, nên trong thuyết của Số Nhân nói: “Nhất thường hữu lậu”.

Định Vô tưởng có ba nghĩa:

– Vô tưởng thiền.

– Phi hữu tưởng phi vô tưởng.

– Diệt thọ tưởng.

Ngoại đạo không có phương tiện diệt tâm, nên nhập vào định “Vô tưởng thiền”; hàng phàm phu ngoại đạo có phương tiện tu hành để diệt tâm, thì được nhập vào “Định phi hữu tưởng phi vô tưởng”. Còn đệ tử Phật diệt tâm để nhập vào “Định diệt thọ tưởng”.

HỎI: Định Vô sở hữu xứ cũng gọi là định Vô tưởng, vì sao ngài không xếp nó vào ba thứ diệt tâm?

ĐÁP: Vì định Vô sở hữu xứ không khéo diệt các tâm số pháp, nên chẳng vi diệu.

Lại nữa, nếu trong Sắc giới thì định Vô tưởng là cùng tột. Nếu trong Vô sắc giới thì định Phi hữu tưởng phi vô tưởng là cùng tột. Nếu trong Phật pháp thì tự đã có định Diệt thọ tưởng. Cho nên định Vô sở hữu xứ so sánh với cả ba cảnh giới trên thì chẳng phải là pháp định thù thắng nên không lấy vậy.

b) Chi lâm, c) Thể dụng, d) Sâu cạn, e) Tiến thoái, f) Công đức: (cũng như đã nói ở chương trước vậy).

Trí Bát-nhã tuy diệt tất cả các pháp mà không sinh các pháp, như từ Sơ thiền mới diệt được tâm ưu phiền, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì chỉ diệt niệm tưởng của định Vô sở hữu xứ, các tầng định ấy đều thuộc về Tiền phương tiện trong Bát-nhã, dùng phương tiện này diệt hết các pháp để nhập vào định Hư không. Do diệt các pháp ấy rồi sau đó mới phát sinh các pháp thù thắng, nên Bát-nhã có thể sinh muôn pháp. Mười hai pháp môn thiền này chỉ thuộc về một phần của Bát-nhã.

HỎI: Bồ-tát hành đạo Bồ-đề để nhập vào lý chân không thật tướng, còn chẳng được Không, vì sao nay theo cái Không mê lầm chẳng thật này mà phân biệt có bốn thứ ?

ĐÁP: Như trong Thích Luận giải thích ý nghĩa của Tứ không và thật tướng các pháp cùng với “trí huệ hành”, thì luận về bốn tầng định Vô sắc cũng không có gì sai, vì đây là bốn định Vô sắc trong Đại thừa.

HỎI: Thế nào là thật tướng của các pháp?

ĐÁP: Các pháp tự tính là Không.

HỎI: Sắc pháp do nhân duyên hòa hợp, nên được kết luận là Không, còn trong định Vô sắc vì sao lại bảo là Không?

ĐÁP: Sắc pháp là những sự vật thô mà tai mắt có thể thấy nghe, còn cho là Không, huống gì cảnh giới mắt không thể thấy, không có chất ngại, không có cảm giác khổ vui, mà chẳng kết luận là Không hay sao?

Lại nữa, hành giả phân chia sắc pháp cho đến vi trần, thảy đều tan diệt trở về hư không, dù đó là những tâm tâm số pháp mà ngay cả thời tiết ngày tháng cho đến trong một niệm cũng đều không thể được, đây mới đúng thật nghĩa Không của bốn tầng định Vô sắc.

Bồ-tát biết rõ như thế, cũng có khả năng phân biệt các sắc tướng, rồi dùng phương tiện đại bi, vì tất cả chúng sinh mà tu hành, nhưng không có niệm bám chấp, và đem công đức này hồi hướng về Bồ-đề, chứng được đầy đủ tất cả Phật pháp đều ban cho tất cả chúng sinh, đây chính là thực hành Bồ-tát đạo vậy.

*

Chú thích Quyển 6B:

(1) Cửu phẩm: 9 bậc: Thượng thượng, Thượng trung, Thượng hạ; Trung thượng, Trung trung, Trung hạ và Hạ thượng, Hạ trung, Hạ hạ. Đây là thuật ngữ thường dùng trong giáo pháp Phật.

(2) Chân thần bất diệt: kiến chấp có linh hồn là tinh thần thuần túy thật có, thường trụ, độc tồn, Phật giáo thì cho thần ngã, linh hồn là cái ngã lìa uẩn và chủ trương các pháp vô ngã để phá chấp thuyết hữu ngã của phái Số luận.

***

LUẬN TU CHỨNG BA PHÁP MÔN THIỀN

Tướng tu chứng thiền Thế gian và Xuất thế gian

*A. Lục diệu pháp môn

*B. Thập lục đặc thắng

*C. Thông minh thiền

Ba pháp môn này, cũng còn gọi là Tịnh thiền. trong phần giải thích Tịnh thiền, so với Luận A Tỳ Đàm có khác nhau chút ít, sắp đặt theo thứ vị sâu cạn, đều giống như đã nói trong quyển 5. Nhưng trong giáo môn lập ra ba loại thiền để hóa độ chúng sinh. Phân chia như thế, vì người tu hành có ba hạng căn tính khác nhau.

1. Người có căn tính trí tuệ nhiều, sức định ít, nên vì họ dạy pháp tu Lục diệu môn. Người tu Lục diệu môn, do có căn tính trí tuệ nhiều, vì thế trong Định dục giới và Sơ thiền có thể khai phát trí tuệ vô lậu, không nhất định phải chứng đến các tầng thiền cao hơn mới khai phát vô lậu vậy.

2. Người có căn tính thiền định nhiều, tính trí tuệ ít, nên dạy họ pháp tu Thập lục đặc thắng. Do căn tính trí tuệ ít, vì thế ở tầng thiền thấp, không thể khai phát vô lậu. Do sức định nhiều, nên phải tu đầy đủ các tầng thiền định cao, mới có thể tu chứng đạo.

3. Người có căn tính trí tuệ và thiền định đều bình đẳng, thì dạy họ pháp tu Thông minh thiền. Thông minh thiền cũng có đầy đủ các thiền căn bản và trí tuệ quán chiếu rất thiện xảo vi tế, có thể từ tầng thiền thấp, cho đến tầng thiền cao cũng đều khai phát vô lậu vậy. Đây là tùy theo căn cơ mà giải thích, nếu theo phương pháp đối trị, thì không hợp ở đây. Nên nghiên cứu năm pháp môn thiền ở phần trước sẽ hiểu rõ.

*A. LỤC DIỆU PHÁP MÔN

Gồm có ba phần:

– Giải thích danh từ

– Luận vị thứ

– Giải thích tu chứng

GIẢI THÍCH DANH TỪ

Lục diệu môn tức là: sáu pháp thiền quán gồm có:

I- Sổ tức ( đếm hơi thở)

II- Tùy tức (để tâm theo hơi thở)

III- Chỉ

IV- Quán

V- Hoàn

VI- Tịnh

Chữ “Diệu” gọi là Niết-bàn, diệu pháp này có khả năng thông đạt đến Niết-bàn, nên gọi là Diệu môn, cũng gọi là Lục diệu môn. Trong Lục diệu pháp môn này, có ba pháp trí tuệ, ba pháp thiền định và ý nghĩa “Định ái tuệ sách và cũng hữu lậu cũng vô lậu” đều ở trong này.

LUẬN VỊ THỨ

Thành lập vị thứ của Lục diệu môn không cố định, vì cớ sao? Nếu hành giả ở trong định Dục giới và Vị đáo địa, khéo thực hành sáu pháp quán này, chỉ cần thành tựu pháp quán thứ sáu là “Tịnh”, cũng phát vô lậu của bậc Tam thừa, huống gì tiến lên các tầng thiền cao hơn mà chẳng mau chóng chứng đạo hay sao? Tuy vậy phần này và phần trước cũng có chỗ khác nhau, vì trong Kinh Thụy Ứng có nói: “Nhân nơi sáu pháp này mà phát sinh ra mười hai pháp môn”, theo đây để suy luận, thì thứ vị của Lục diệu môn này không có cố định vậy.

GIẢI THÍCH TU CHỨNG

Nếu giải thích rộng về tu chứng của sáu pháp quán này, thì các pháp thiền định đều thuộc trong phạm vi của Lục diệu môn. Nay chủ yếu chỉ theo thứ lớp nhập đạo, để giải thích tướng trạng tu chứng của Lục diệu môn.

Giải thích tu chứng Lục diệu môn, chia làm mười hai môn. Vì cớ sao? Vì phương pháp Sổ tức có hai thứ: Tu sổ tức và Sổ tức tương ưng, cho đến tu Tịnh và Tịnh tương ưng cũng như thế. Nên hiện nay giải thích tu chứng Lục diệu môn, chia làm mười hai môn.

I- SỔ TỨC

Có hai thứ:

Tu Sổ tức: Hành giả điều hòa hơi thở, được nhẹ nhàng an lành, không ngăn trệ, cũng không gấp gáp, mà chỉ thong thả đếm hơi thở, từ một đến mười, tâm nhiếp nơi số đếm không cho chạy tán loạn, đây gọi là tu Sổ tức.

Cùng Sổ tức tương ưng: Tâm hành giả tự nhiên nhận biết hơi thở từ một đến mười, không cần ra sức dụng công, tâm và hơi thở vẫn tự nhiên được an trụ. Hơi thở đã ngưng lặng, tâm niệm từ từ vi tế, lúc này hành giả biết pháp Sổ tức là thô, ý niệm không muốn đếm, cho nên buông xả pháp Sổ tức, để tu pháp Tùy tức.

II- TÙY TỨC

Cũng có hai thứ:

Tùy tức: Bỏ pháp tu Sổ tức (đếm hơi thở) nhất tâm nương theo hơi thở ra vào, tâm an trụ nơi hơi thở không cho phân tán, gọi là tu Tùy tức.

Cùng Tùy tức tương ưng: Tâm đã từ từ vi tế, biết rõ hơi thở dài ngắn, ra vào khắp thân thể, tâm và hơi thở nương nhau, vận động một cách tự nhiên, ý nghĩ ngưng lặng, đây gọi là “Cùng Tùy tức tương ưng”. Hành giả biết phương pháp (tùy tức) tu theo hơi thở là thô, nên tâm nhàm chán muốn xả bỏ, như người bệnh mệt mỏi muốn được ngủ nghỉ, không ưa làm các việc. Lúc này, hành giả nên xả bỏ pháp tu Tùy tức để tu Chỉ.

III- TU CHỈ

Cũng có hai thứ:

Tu Chỉ: dùng pháp Chế tâm chỉ, đây là một trong ba pháp tu Chỉ vậy, tức là kềm chế tâm niệm, dừng dứt các ý nghĩ, không nhớ hơi thở và đếm hơi thở, tâm niệm ngưng lặng, gọi là Tu Chỉ.

Cùng Chỉ tương ưng: Hành giả tự nhận biết thân tâm lặng lẽ từ từ nhập định, không còn thấy tướng mạo các vật trong và ngoài thân, do pháp định trì giữ tâm, nên tâm niệm tự nhiên không dao động, giống như Định dục giới và Vị đáo địa vậy. Lúc này hành giả khởi nghĩ: “Tam muội này tuy là vô vi tịch tịnh, an ổn khoái lạc, nhưng không có phương tiện của trí tuệ, thì không thể phá hoại sinh tử”. Lại khởi nghĩ: “Định này thuộc về nhân duyên, do các pháp ấm, giới, nhập hòa hợp mà có, là hư dối chẳng thật, ta nay không thấy không biết, nên cần chiếu soi”. Hành giả suy nghĩ như thế thì nội tâm không đắm chấp nơi pháp tu Chỉ mà khởi phương pháp tu Quán.

IV- TU QUÁN

Có hai thứ:

Tu Quán: Phương pháp quán gồm có ba thứ:

– Huệ hành: tức là trí tuệ quán chiếu chân thật.

– Đắc giải: tức là quán giả tưởng.

– Thật quán: tức là quán trên sự tướng vậy. Các thiền như: Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh quán v.v… trước tiên đều phải dùng pháp Thật quán để tu tập mới được thành tựu, sau đó dùng Huệ hành quán, để quán chiếu lý thể mà nhập đạo. Vì sao gọi là Thật? Vì thân mạng của quả báo đời này là do Tứ đại và 36 vật bất tịnh hợp thành mà có, nhưng vì vô minh che đậy, nên tâm nhãn không được khai mở, sáng suốt, thì không thể nương nơi chân thật mà thấy được. Nếu có thể chuyên tâm quán chiếu, tâm nhãn khai mở, sáng suốt, nương nơi chân thật mà thấy, đây là gọi Thật.

Hai pháp quán Huệ hành và Đắc giải, đến chương giải thích Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Cửu tưởng sẽ phân tích rộng hơn.

Tu tập Thật quán như thế nào? Hành giả đang trụ tâm trong thiền định, dùng tuệ phân biệt quán chiếu hơi thở ra vào trong thân thể rất vi tế, như gió trong hư không, quán ba mươi sáu vật trong thân như: Da, Thịt, Gân, Xương, Tủy v.v… cũng đều không thật, giống như bẹ cây chuối. Hành giả quán tưởng thấy các vật bất tịnh trong và ngoài thân thể thật là chán ghét.

Hành giả quán chiếu các cảm thọ khoái lạc và hoan hỷ cuối cùng cũng tan hoại, là tướng trạng đau khổ, chẳng phải an lạc. Lại quán chiếu tâm thức là vô thường, sinh diệt từng sát-na chẳng dừng trụ, không có chỗ bám chấp. Ở trong định, hành giả lại quán chiếu các pháp thiện và ác, đều thuộc về nhân duyên hòa hợp mà có, vốn không có tự tính. Khi quán chiếu như thế, có thể phá trừ được bốn thứ chấp điên đảo của phàm phu (chấp các pháp là thường, lạc, ngã, tịnh). Các pháp đã không có nhân ngã, thì cảnh giới định nương gá chỗ nào? Đây gọi là Tu Quán.

Cùng Quán tương ưng: Khi hành giả quán như trên, nhận biết hơi thở ra vào khắp lỗ chân lông, tâm nhãn mở sáng, thấy rõ ba mươi sáu vật và những loài vi trùng trong thân thể, ở trong và ngoài thân thảy đều bất tịnh, các cảm thọ khổ bức bách, thay đổi từng sát-na, tất cả vốn không có tự tính. Tâm sinh khởi vui buồn này không chỗ nương gá, nhân đây hành giả chứng được Tứ niệm xứ, phá trừ bốn thứ chấp điên đảo, đây gọi là “cùng quán tương ưng”.

Sau khi lý giải quán chiếu đã khai phát, tâm duyên nơi cảnh mà phân biệt phá dẹp, biết niệm lưu chuyển dao động là chẳng phải đạo chân thật, lúc này nên xả bỏ pháp Quán, tu Hoàn.

V- TU HOÀN

Có hai thứ:

Tu Hoàn: Hành giả đã biết pháp Quán là từ tâm sinh, hoặc do phân tích cảnh, đều không thể hợp với bản nguyên (cội nguồn). Cần phải xoay lại quán chiếu tâm này sinh khởi từ đâu? Là từ tâm sinh khởi quán, hay chẳng từ nơi tâm không sinh khởi quán chiếu? Nếu từ tâm sinh khởi quán, thì trước kia đã có quán, nay thật không phải như thế. Vì sao? Vì trong ba phương pháp: Sổ tức, Tùy tức và pháp tu Chỉ, chưa có pháp tu quán chiếu.

Nếu chẳng phải do tâm sinh khởi Quán chiếu, thì cái tâm này là sau khi diệt rồi mới sinh, hay không diệt mà sinh? Nếu chẳng phải diệt rồi mới sinh, thì đồng thời có cả hai tâm. Nếu diệt rồi mới sinh, nó đã diệt mất thì không thể sinh tâm quán được. Nếu chấp cũng diệt, cũng không diệt sinh, cho đến chẳng diệt, chẳng phải không diệt sinh, cũng đều chẳng thể được.

Nên biết tâm quán chiếu này, xưa nay vốn tự chẳng sinh, do chẳng sinh nên chẳng có, chẳng có tức là Không, vì không nên chẳng có tâm quán. Nếu không có tâm quán, lẽ nào lại có cảnh quán hay sao? Cảnh quán và trí quán đều mất, đây là chỗ trọng yếu để trở về nguồn nên gọi là Tu Hoàn.

Cùng Hoàn tương ưng: Sau khi tâm huệ đã khai phát, không cần phải nỗ lực dụng công, mà tự thầm thầm vận chuyển phá dẹp pháp Quán, trở về cội nguồn, gọi là “cùng Hoàn tương ưng”. Hành giả cần biết, nếu rời cảnh và trí, muốn trở về chỗ không có cảnh và trí, ngược lại bị cảnh và trí trói buộc, vì tâm còn theo hai bên vậy, lúc này nên xả bỏ pháp Hoàn, an tâm nơi Tịnh đạo.

VI- TU TỊNH

Có hai thứ:

Tu Tịnh: Vì hành giả biết Sắc là thanh tịnh, nên không khởi vọng tưởng phân biệt, các thứ Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như thế. Dứt bỏ các vọng tưởng ô uế, dứt các phân biệt ô uế, dứt các chấp ngã ô uế, đây gọi là Tu Tịnh.

Nói tóm lại, nếu tâm thường thanh tịnh, gọi là tu Tịnh. Cũng không có năng tu, sở tu, chẳng có tịnh hay bất tịnh nên gọi là tu Tịnh.

Cùng Tịnh tương ưng: Khi tu như trên bỗng nhiên tâm và tuệ tương ưng, có phương tiện vô ngại, tự nhiên dần dần khai phát, chứng được Tam muội chánh thọ, tâm không còn nương gá.

Chứng Tịnh cũng có hai:

– Chứng tương tự: tức là năm pháp tu phương tiện ở trên khai phát tương tự như trí tuệ vô lậu.

– Chứng thật: Khi hành giả phát được trí tuệ vô lậu của Tam thừa như: Khổ pháp nhẫn, cho đến Vô ngại đạo thứ chín v.v… lúc này những phiền não ô uế trong Tam giới đã hết sạch nên gọi là Chứng Tịnh.

Lại nữa, khi hành giả quán chúng sinh vốn là Không nên gọi là Quán; quán thật pháp cũng Không nên gọi là Hoàn; quán bình đẳng cũng Không nên gọi là Tịnh; tánh Không này cùng với Tam-muội tương ưng nên gọi là Quán. Vô tướng cùng Tam-muội tương ưng nên gọi là Hoàn; Vô tác cùng Tam-muội tương ưng nên gọi là Tịnh.

Tất cả ngoại quán, gọi là Quán; tất cả nội quán gọi là Hoàn; tất cả chẳng ngoại quán, chẳng phải nội quán, gọi là Tịnh. Cho nên Tiên Ni Phạm Chí nói: “Chẳng phải do nội quán mà được, ấy là trí tuệ, chẳng phải do ngoại quán mà được, ấy là trí tuệ, chẳng phải do nội quán hay ngoại quán mà được, ấy là trí tuệ; cũng chẳng phải do không quán mà được, ấy là trí tuệ”.

Bồ-tát quán từ Giả nhập Không, gọi là Quán; quán từ không nhập giả gọi là Hoàn; quán Giả và Không vốn là một tâm, gọi là Tịnh; nếu hành giả tu hành đúng như thế, thì Lục diệu môn này chính là pháp Ma Ha Diễn.

Lại nữa, tất cả chư Phật trong ba đời, khi các Ngài mới nhập đạo, cũng đều dùng Lục diệu môn này làm nền tảng để vào đạo, như Phật Thích Ca đến dưới cây Bồ-đề, tư duy pháp tu An-ban, gồm có: sổ tức, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh. Trải qua nhiều lần, phát sinh thành mười hai thứ, nhân nơi đây mà chứng được tất cả các pháp môn, hàng phục ma quân, thành tựu đạo quả. Cho nên Bồ-tát tu Lục diệu môn, tức là đã đầy đủ tất cả Phật pháp. Pháp tu Lục diệu môn này, chính là pháp tu của Bồ-tát Đại thừa. Hiện nay vì muốn giải thích về vấn đề khác nên chỉ nói tóm lược mà thôi.

* B. THẬP LỤC ĐẶC THẮNG

Chia làm ba phần để giải thích:

– Giải thích danh từ

– Chế lập pháp quán bất đồng

– Thuyết minh tu chứng

1. GIẢI THÍCH DANH TỪ

Thập lục đặc thắng: tức là 16 pháp quán rất thù thắng thuộc về Sổ tức quán đó là: biết hít vào, biết thở ra, biết hơi thở ngắn hay dài, biết hơi thở biến khắp thân, ngừng mọi hành vi của thân, thọ hỷ, thọ lạc, thọ các tâm hành, tâm an vui, tâm thu nhiếp, tâm giải thoát, quán vô thường, quán xuất tán, quán ly dục, quán diệt, quán xa lìa, những pháp quán này gọi chung là Thập lục đặc thắng, “Thập Lục” tức là con số 16. “Đặc Thắng” là danh từ do nhân duyên mà đặt tên.

Khi Phật chưa ra đời, hàng ngoại đạo đã tu chứng đạt đến Tứ thiền, Tứ không. Nhưng vì không có phương pháp quán hạnh để đối trị, nên không thể thoát khỏi sinh tử. Sau khi Như Lai thành đạo, Ngài mới thuyết pháp Tứ diệu đế cho những đệ tử có căn tánh nhạy bén, như ngài Ma-ha-nam(1) và Xá Lợi Phất v.v… thì họ liền chứng đạo.

Những vị như Ma-ha-ca-diếp(2), Hy-na(3) v.v… tuy họ cũng được nghe Như Lai thuyết Tứ diệu đế nhưng không thể khai ngộ, cho nên Như Lai dạy họ tu pháp quán bất tịnh để đối trị, phá trừ các phiền não, vì thế trước tiên Như Lai dạy họ tu các phương pháp quán bất tịnh như: Cửu tưởng, Bát bối xả v.v… Thời ấy, những người tu pháp quán này, chứng được đạo nhiều vô lượng.

Lại có những chúng sinh, tâm tham dục đã khô cạn, hoặc quá nhàm chán thân, khi họ quán bất tịnh, do tâm nhàm chán càng khởi mạnh, thì càng chán ghét tự thân, vì thế trước khi quả vô lậu chưa được khai phát, mà họ đã mượn người khác giết hại thân mình, những việc này trong tạng luật có ghi chép rất rõ.

Nhân đây Phật dạy các Tỳ-kheo nên xả bỏ pháp quán bất tịnh, chuyển qua tu pháp quán thù thắng hơn, pháp ấy tên là “Thập lục đặc thắng”, nếu hành giả y theo đây tu hành có thể chứng được đạo. Thập lục đặc thắng đều có định, có quán, trong đó bao hàm đầy đủ các môn thiền định, do những pháp hỷ, lạc v.v… nuôi dưỡng, khiến hành giả ưa thích, thì không có tai họa tự sát, lại có Thật quán để quán sát nên không còn bám chấp vào các tầng thiền, nhân đó có thể khai phát vô lậu.

Pháp quán này, khi tiến khi lùi đều rất thong thả, không bám chấp hai bên, do có công năng chứng được đạo, nên gọi là Đặc Thắng.

HỎI: Như vậy, cần phải giải thích Quán thiền rồi mới giải thích đến Tịnh thiền, vì sao? Nếu theo giáo môn, Tịnh thiền ở phần sau Quán thiền. Nếu luận theo pháp hành thì pháp Đặc Thắng cũng vượt hẳn hai bên, do đó nó cũng phải nằm ở phần sau?

ĐÁP: Hiện nay nói về tướng trạng sức dụng sâu cạn của thiền định, chẳng phải khi đối duyên làm lợi ích cho chúng sinh. Vì sao? Vì các pháp như: Bát bối xả, Bát thắng xứ v.v… đều là do phương pháp quán chiếu mà được giải thoát, sức quán chiếu có công năng chuyển đổi tâm tưởng, đoạn trừ kiết sử rất mạnh.

Phương pháp “Đặc Thắng” này chỉ là Thật quán, có khả năng thấy được 36 vật trong thân, nhưng sức công dụng yếu kém, không thể nhanh chóng đoạn trừ kiết sử, công đức lại cạn mỏng, nên cần phải giải thích trước.

Nếu quán bất tịnh, khi quán xương người tan hoại hết, thì không thể quán tướng hơi thở ra vào các lỗ chân lông nơi thân thể. Bởi vì sau khi tu Thật quán của Thập lục đặc thắng, chuyển qua quán Cửu tưởng, Bát bối xả v.v… thì mới thành tựu đầy đủ, nên ý nghĩa không sai. Lại nữa, trong Đại Phẩm Kinh Quảng Thừa Phẩm cũng nói Thập lục đặc thắng trước, kế đến là các pháp thiền quán: Cửu tưởng, Bát bối xả v.v… đây là nói để chứng minh, không nên nghi ngờ vậy.

2. CHẾ LẬP PHÁP QUÁN BẤT ĐỒNG

Có hai thứ lý giải:

Có thầy nói: pháp tu của Thập lục đặc thắng là pháp đối xứng với Tứ niệm xứ. Nếu lấy Tứ niệm xứ để giải thích, chỉ cần ở nơi Định dục giới và Vị đáo địa cho đến Sơ thiền, là đã đầy đủ vậy. Muốn tiến lên tầng thiền cao hơn, chẳng phải là không được, nhưng vì pháp quán quá ít nên không đầy đủ, như Tứ thiền không có các pháp: hỷ, lạc và hơi thở ra vào v.v… nếu lấy pháp hỷ, lạc và hơi thở để giải thích Niệm xứ thì bất tiện vậy.

Đối với Tứ niệm xứ cũng có hai thứ lý giải bất đồng, có thầy nói: “Trong 16 pháp này, 5 pháp đầu tiên là đối Thân niệm xứ, 3 pháp giữa đối Thọ niệm xứ, 3 pháp kế đối Tâm niệm xứ, 5 thứ sau cùng là đối Pháp niệm xứ”, vị thầy này nói Thập lục đặc thắng đối xứng với Tứ niệm xứ là y theo trong Thiền Kinh vậy.

1/ Quán hơi thở vào, cho đến khi hơi thở dứt.

2/ Quán hơi thở ra, đến dừng nơi chóp mũi.

3/ Quán hơi thở dài ngắn, nếu thân không an ổn, nội tâm nhiều tán loạn, thì hơi thở bị ngắn. Nếu thân an ổn, tâm tịch lặng, thì hơi thở ra dài.

4/ Quán hơi thở khắp thân: thân tâm đã an ổn, thì hơi thở không bị bế tắc, giống như uống không khí, sung mãn khắp toàn thân.

5/ Trừ các thân hành: (ngưng mọi hành vi của thân) “thọ, tưởng” thuộc về Tâm hành, “giác quán” thuộc về Khẩu hành, “hơi thở ra vào” thuộc về Thân hành. Khi “Hơi thở đã khắp thân” do bị những niệm thô của giác quán làm dao động tâm, nên phải trừ các lỗi thô, gọi là “trừ các thân hành”. Năm pháp này thuộc về Thân niệm xứ. Ba pháp sau đây là thuộc về Thọ niệm xứ.

6/ Thọ hỷ: là bỏ hơi thở thô, khiến thân tâm được an ổn, thọ nhận cảm giác vui vẻ, gọi là Hỷ.

7/ Thọ Lạc: chỉ có niềm vui vi tế, cảm giác khoái lạc khắp toàn thân, do đó thân và tâm đều được an lạc. Cảm giác vui mừng trong nội tâm gọi là Lạc.

8/ Thọ các tâm hành: cảm thọ khoái lạc đã tràn đầy, liền có các tâm số pháp duyên theo, do tâm nương theo cảnh giới khoái lạc này, nên gọi là Thọ các tâm hành.

9/ Tâm tác hỷ: khi tâm đã dừng trụ nơi một cảnh, nếu không có trí tuệ lý giải, tâm sẽ bị chìm lặng và mờ tối, do đó phải vui vẻ đề khởi tâm, khiến không bị chìm đắm hôn mê nên gọi là tác hỷ.

10/ Tâm tác nhiếp: do quá vui vẻ khiến tâm bị dao động lăng xăng, nên phải luôn luôn thu nhiếp tâm xoay trở lại, không cho chạy tán loạn theo các cảnh duyên, gọi là Tác nhiếp.

11/ Tâm tác giải thoát: tâm không có lăng xăng, tán loạn, không bị ràng buộc, gọi là Giải thoát.

12/ Quán vô thường: tâm đã được tự tại, không bị hôn trầm, tán loạn, có thể quán sự vô thường của các pháp, từng niệm từng niệm, sinh diệt, không có an lạc lâu dài, gọi là vô thường.

13/ Quán tán hoại: quán thân này chẳng bao lâu sẽ bị phân tán hoại diệt, tiêu mất, không phải là pháp chân thật lâu dài, gọi là tán hoại.

14/ Quán ly dục: quán thân này là nguồn gốc của khổ đau, nên tâm muốn lìa bỏ, gọi là Ly dục.

15/ Quán diệt: chiếu soi cái tâm dừng diệt có rất nhiều tai họa lỗi lầm, nên không muốn dừng trụ nơi tâm này gọi là diệt.

16/ Quán khí xả: quán chiếu các pháp đều có tai họa và sai lầm, cho nên muốn buông xả tất cả.

Mười sáu pháp quán hơi thở này là tự tánh của trí tuệ, vì không có một hơi thở nào mà tâm không nhận biết. Vị Luận sư kia giải thích 16 pháp Đặc Thắng, nhưng hiện nay chưa thấy nguyên văn của kinh, bởi vì nơi lý này, chỉ là thuật lại của người khác, nên không dám có ý kiến, cũng không nhất định phải như thế.

Lại có vị Luận sư khác giải thích rằng: “Lấy 16 pháp này đối chiếu với Tứ niệm xứ, chẳng phải là không được, nhưng phân chia như thế thật không thỏa đáng”.

Nếu đem mười sáu pháp hành Vô lậu để đối chiếu với Tứ đế (bốn chân lý), trong mỗi Đế gồm có bốn thứ (khổ, tập, diệt, đạo) bốn nhân với bốn thành mười sáu thứ, pháp Hữu lậu cũng như thế. Bởi vì trong Tứ niệm xứ, mỗi niệm xứ phải đầy đủ bốn thứ (thân, thọ, tâm, pháp) bốn nhân với bốn thành mười sáu thứ, ý nghĩa cũng như trên.

Phần trước nói Thân niệm xứ có năm thứ, Thân hành thuộc về Thân niệm xứ, nghĩa này không đúng. Vì sao? Vì thân và hơi thở là Thân hành, như trong Kinh Đại Tập ghi: “Hơi thở bao gồm cả ba hành (thân, khẩu, ý)”, như vậy chẳng phải chỉ riêng Thân hành mà thôi.

Hiện nay giải thích Thân hành, như trong Ma Ha Diễn ghi: “Hành gọi là Thân nghiệp, những nghiệp thiện ác đều từ tâm sinh, Thân và Hơi thở là vật vô tri, không thể tạo các nghiệp thiện ác, mà chỉ làm nhân duyên của hành vi”.

Thân thể là do có tâm đến thọ thân, khiến thân có sự tạo tác, gọi là Thân. Nay giải thích Thọ niệm xứ và Thân niệm xứ không có Thân hành, tức là phá bỏ Hành vậy, nên biết pháp quán “Trừ các thân hành” thuộc về Thọ niệm xứ, vì trong Thọ niệm xứ cũng có bao hàm đầy đủ cả bốn pháp: (thân, thọ, tâm, pháp).

Phần trước nói Pháp niệm xứ có năm thứ, quán vô thường thuộc về Pháp niệm xứ, đây cũng không đúng. Vì sao? Vì trong các kinh đều ghi: “Quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã” vì thế quán vô thường phải thuộc về Tâm niệm xứ vậy. Bởi trong một niệm xứ, đều phải có đầy đủ bốn thứ, bốn nhân với bốn thành mười sáu thứ, thì ý nghĩa trên mới được thông suốt.

Vị Luận sư thứ hai lại nói rằng: “mười sáu pháp” Đặc Thắng cần “thụ đối”. Tức là lập phương pháp đối chiếu, so sánh với tám pháp quán và các thiền, vì nó có sự quan hệ lẫn nhau, lý do như sau:

1. Biết hơi thở vào.

2. Biết hơi thở ra. Hai pháp này đối xứng với “Sổ tức quán”.

3. Biết hơi thở dài ngắn. Đối xứng với “Định dục giới”.

4. Biết hơi thở khắp thân. Đối xứng với “định Vị đáo địa”.

5. Trừ các thân hành. Đối xứng với “Giác chi của Sơ thiền”.

6. Thọ hỷ. Đối xứng với “Hỷ chi của Sơ thiền”.

7. Tâm thọ lạc. Đối xứng với “Lạc chi của Sơ thiền”.

8. Thọ các tâm hành. Đối xứng với “Nhất tâm chi của Sơ thiền”.

9. Tâm tác hỷ. Đối xứng với “Nội tịnh hỷ chi của Nhị thiền”.

10. Tâm tác nhiếp. Đối xứng với “Nhất tâm chi của Nhị thiền”.

11. Tâm tác giải thoát. Đối xứng với “Lạc chi của Tam thiền”.

12. Quán vô thường. Đối xứng với định “định Bất động của Tứ thiền”.

13. Quán xuất tán. Đối xứng với “định Hư Không”.

14. Quán ly dục. Đối xứng với “định Thức xứ”.

15. Quán diệt. Đối xứng với “định Vô sở hữu xứ”.

16. Quán khí xả. Đối xứng với “định Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.

Theo vị Luận sư này phân tích như thế, thì từ khi hành giả mới bắt đầu điều phục tâm cho đến khai phát thiền định, đều nói đầy đủ các pháp quán hạnh rất rõ ràng, nên kiến giải của vị Luận sư này hơn hẳn các vị trước.

3. THUYẾT MINH TU CHỨNG

Lấy tâm để giải thích tướng Tu chứng.

Tu: nghĩa là dụng tâm tu tập, khi tâm còn chưa tương ưng.

Chứng: nghĩa là tâm đã được tương ưng, có thể tự nhiên khai phát.

Ba vị Luận sư này chế lập pháp quán có chỗ chẳng đồng, cho nên tướng Tu và Chứng cũng có khác nhau.

– Hai vị trước nói: Trong Định dục giới, Vị đáo địa và Sơ thiền, lấy Tứ niệm xứ để giảng nói 16 pháp Đặc Thắng, đại ý pháp quán so sánh với pháp quán trong Lục diệu môn, có điểm bất đồng. Danh mục trong đó cũng có khác, nếu khéo suy tầm đối chiếu nghĩa lý trong đó sẽ hiểu.

Hiện nay nói về kiến giải của vị Luận sư thứ ba, vị này dùng phương pháp “Thụ đối tam giới” để giảng 16 pháp Đặc Thắng, do phần trước chưa giải thích pháp quán huệ này. Sở dĩ hiện nay đưa ra tướng Tu chứng và trường hợp chế lập pháp “Thụ đối” là để so sánh đối chiếu với 16 pháp Đặc Thắng”.

1. Biết hơi thở vào

2. Biết hơi thở ra

Dùng hai pháp này để đối chiếu với pháp Sổ tức, vì phương pháp điều hòa hơi thở cũng giống như pháp Sổ tức đã nói phần trước.

Lúc này hành giả đã điều hòa hơi thở rồi, tâm niệm từ từ nương theo hơi thở, nếu khi hít vào biết rõ hơi thở từ chóp mũi vào đến rốn, khi hơi thở ra, biết rõ hơi thở từ rốn ra đến mũi, hành giả chuyên tâm quán sát như thế, nương theo hơi thở, nên tâm không tán loạn.

Lúc này, hành giả biết rõ tướng Thô và Tế của hơi thở. Nếu hơi thở có tướng “Phong, Khí, Suyển” gọi là Thô, nếu hơi thở tướng “Tức” gọi là Tế, khi hơi thở vào nếu thô, thì phải điều hòa hơi thở cho được nhẹ nhàng, đây gọi là biết hơi thở Thô, Tế.

Ví như người gác cổng, biết rõ những người đi ra, kẻ đi vào, cũng nhận biết người tốt, kẻ xấu, nếu người tốt thì cho vào, người có hành vi xấu thì ngăn lại.

Biết Thô, Tế: nghĩa là hành giả biết rõ khi hơi thở vào thân thể thuộc về tướng Thô, hơi thở ra thuộc về tướng Tế. Vì sao? Vì khi hơi thở đi vào thuận và nhanh nên hiện tướng Thô. Hơi thở ra chậm và nhẹ nên tướng trạng rất vi tế.

Biết Khinh, Trọng: biết rõ khi hít vào cảm thấy nhẹ nhàng, khi thở ra cảm thấy nặng nề. Vì sao? Vì khi hơi khí vào khắp thân thể, khiến thân nhẹ bổng. Khi thở ra, không khí trong thân đã hết sạch nên cảm thấy thân thể nặng nề.

Biết hơi thở Trơn, Rít: khi hít vào cảm thấy thông suốt, khi thở ra cảm thấy ngăn trệ. Vì sao? Vì khi hơi thở vào, không khí từ ngoài đi vào rất thuận lợi nên cảm thấy thông suốt “Trơn”, khi hơi thở từ trong thân thể đi ra, tống các chất dơ bẩn ra ngoài, các lỗ chân lông bị ngăn bít, tắt nghẽn, thì có cảm giác ngăn trệ “Rít”.

Biết hơi thở Lạnh, Nóng: khi hít vào cảm thấy lạnh, khi thở ra cảm thấy nóng. Vì sao? Vì hơi khí từ ngoài đi vào nên có cảm giác Lạnh, khi thở ra, do đưa hơi khí nóng từ trong thân thể ra ngoài nên có cảm giác Nóng.

Biết hơi thở dài, ngắn: tức là nhận biết hơi thở dài và hơi thở ngắn. Vì khi hít vào thuận và mau chóng, nên cảm thấy hơi thở ngắn, khi thở ra có sự trở ngại nên cảm thấy hơi thở chậm mà dài.

Hành giả nên biết do hơi thở ra vào, mới có những phiền não đau khổ, sinh tử luân hồi mãi mãi không dừng. Nhân đây mà khởi tâm lo sợ vậy. Khi hành giả theo dõi hơi thở, nhận biết những tướng trạng khác nhau của hơi thở, nên nói rằng “biết hơi thở ra, biết hơi thở vào” vậy.

HỎI: Vì sao lại dùng phương pháp này để thay thế pháp Sổ tức.

ĐÁP: Pháp Sổ tức, chỉ là dùng tâm mờ tối để đếm hơi thở, mà không có Quán hạnh, khi được tu chứng, sẽ dễ phát sinh các bệnh phiền não: Ái, Kiến, Mạn.

Ái: nghĩa là tham ái và đắm chấp nơi pháp Sổ tức.

Kiến: tự cho ta có khả năng tu phương pháp này.

Mạn: tự cho ta tu pháp này hơn hẳn những người khác, nên sinh tâm khinh thường người khác.

Hiện nay dùng phương pháp Tùy tức để thay thế pháp Sổ tức. Vì khi tu pháp Tùy tức có thể biết rõ hơi thở là vô thường, mạng sống nương nơi hơi thở, hơi thở còn thì có mạng sống, một hơi thở không trở lại, sự sống liền kết thúc. Khi đã biết hơi thở là vô thường, thân mạng là nguy hiểm. Do biết hơi thở vô thường, tâm không còn sinh tham ái, biết hơi thở không phải là ta, nên không sinh tâm kiến chấp! Giác ngộ vô thường thì không sinh tâm ngã mạn!

Bởi vì khi hành giả mới bắt đầu tu tập phương pháp này, đã có khả năng phá trừ các kiết sử “phiền não”. Đây là chỗ không đồng với pháp quán Sổ tức vậy.

Lại nữa, nếu tâm hành giả nương theo hơi thở, khiến không tán loạn để được nhập thiền định, nên gọi là “cũng tham ái”. Do được giác ngộ vô thường, nên gọi là “cũng sách phát”. Vì cùng với thiền định tương ưng nên gọi là “cũng hữu lậu”. Do quán chiếu mà không chấp đắm tham ái nơi thiền định này, nên gọi là “cũng vô lậu”.

Lại nữa, khi tu quán Sổ tức, vì chỉ dùng tâm mê mờ để đếm số, không có trí tuệ quán chiếu, nên sau khi chứng thiền định, thì tâm không thấy biết gì. Nay tu pháp Tùy tức có thể dùng tâm sáng suốt quán chiếu hơi thở, sau khi chứng thiền định, tâm nhãn liền khai sáng, thấy rõ 36 vật trong thân thể, phá trừ tâm tham ái, kiến chấp, ngã mạn. Đây tức là chỗ thù thắng của Thập Lục Đặc Thắng hơn hẳn pháp Sổ tức vậy.

3. Biết hơi thở dài ngắn

Dùng pháp này đối chiếu để phá Định dục giới. Nếu khi chứng được Định dục giới, cảnh giới trong định vắng lặng trong sáng, dù một chút tướng trạng của hơi thở cũng không nhận biết. Còn trong 16 pháp này, chỉ khi mới bắt đầu được định, liền có khả năng nhận biết tướng của hơi thở dài hay là ngắn.

Làm sao biết? Nếu khi tâm an định, biết hơi thở vào thì dài, biết hơi thở ra thì ngắn, vì sao? Vì khi nội tâm đã an trụ vắng lặng, hơi thở theo tâm vào, nên cảm thấy hơi thở vào là dài. Do tâm niệm không duyên theo cảnh bên ngoài, nên cảm nhận hơi thở ra là ngắn.

Biết hơi thở dài là tâm Tế, biết hơi thở ngắn là tâm Thô. Vì tâm vi tế thì hơi thở nhẹ nhàng, do hơi thở nhẹ nên khi hít từ mũi đến rốn, thì hơi đi vào chậm mà dài, còn hơi thở từ rốn đi ra đến mũi cũng nhẹ và chậm như thế. Tâm thô thì hơi thở thô, nếu hơi thở thô thì khi hít vào từ mũi đến rốn hơi đi nhanh mà ngắn, khi thở ra từ rốn đến mũi cũng nhanh và ngắn như thế.

Do tâm vi tế nên nhận biết hơi thở ngắn. Do tâm thô nên nhận biết hơi thở dài, vì sao? Vì tâm niệm từ từ chuyển sang vắng lặng, nên khi thở ra, hơi thở đi từ rốn đến ngực thì hết, khi hít vào vừa đến cổ họng liền biết hơi thở đã hết. Đây là do khi tâm yên lặng, nên mới nhận biết được hơi thở là ngắn.

Tâm thô nên nhận biết hơi thở dài là do tâm của hành giả thô, cho nên nhận biết hơi thở đi từ rốn đến mũi, từ mũi đến rốn, trên lộ trình xa mà dài, vì tâm thô nên cảm nhận hơi thở dài. Nếu trên đoạn đường ngắn, có thể cảm nhận hơi thở dài, thì sức định rất vi tế, nếu trên đoạn đường dài mà cảm nhận hơi thở ngắn, là định lực còn thô.

Vì sao vậy? Vì khi hơi thở từ mũi đến rốn thì hết, tuy đoạn đường ngắn mà thời gian lại dài, nên rất lâu hơi thở mới đến được rốn, bởi vì thời gian thì dài mà lộ trình lại ngắn vậy. Nếu theo đó mà luận thì đoạn đường ngắn cảm nhận hơi thở dài, định này là vi tế.

Trên đoạn đường dài, cảm nhận hơi thở ngắn, là định thô, ví như tâm niệm thô, thì hơi thở đi trên đoạn đường dài từ mũi đến rốn, thời gian lại quá ngắn, khi thở ra liền đến mũi, vì sao? Vì tâm niệm còn thô nên hơi khí đi nhanh chóng, tuy đường dài mà hơi thở ngắn, hơi thở ngắn này là tâm Thô.

Cho nên nói rằng: “Dài trong ngắn thì thô, ngắn trong dài thì tế vậy”.

Hành giả cảm nhận thời gian dài ngắn của hơi thở, biết rõ vô thường là do sự sinh diệt không cố định của tâm niệm, cho nên mới có tướng mạo của hơi thở dài hay ngắn khác nhau, vì khi chứng được Định dục giới, tâm giác ngộ vô thường lại càng rõ ràng.

Do chứng được Định dục giới, nên gọi là “cũng Ái”, do quán chiếu sự vận hành hơi thở mà giác ngộ vô thường, nên gọi là “cũng Sách”.

Trên đây đã giới thiệu sơ lược về tướng mạo hơi thở dài ngắn và trường hợp phá trừ Định dục giới.

4. Biết hơi thở khắp thân

Dùng pháp này đối chiếu với định Vị đáo địa. Thông thường khi chứng được Vị đáo địa, chỉ cảm nhận thân thể trống rỗng như hư không, nhưng thật tế là có hơi thở và thân thể, vì tâm nhãn chưa mở sáng, nên không nhận ra và cũng không thấy.

Nay hành giả tu 16 pháp Đặc Thắng này, khi định Vị đáo địa khai phát, nội tâm lặng lẽ nhập định, liền cảm nhận thân thể từ từ xuất hiện, tương tự như bóng, như mây và biết rõ hơi thở ra vào khắp các lỗ chân lông trên thân thể. Lúc này hành giả cũng cảm nhận tướng mạo của hơi thở giống như nhau, cũng biết rõ hơi thở ra vào không tích tụ, không phân tán. Do sự sinh diệt vô thường, cho nên mới biết được thân thể rỗng không là hư giả, chẳng thật. Nhân đây hành giả biết được từng sát-na sinh diệt không dừng trụ.

Do ba thứ, (thân thể như mây, hơi thở ra, hơi thở vào) hòa hợp, mà phát sinh định Vị đáo địa, ba sự kiện này đều là Không, thì pháp định nương gá vào chỗ nào? Hành giả biết cái Không đó cũng không có, nên chẳng còn bám chấp nơi định, tức là phá trừ được định Vị đáo địa. Ý nghĩa Ái và Sách cũng đều bao hàm trong đó.

HỎI: Trong các Kinh điển Ma Ha Diễn, phần nhiều là nói pháp quán hơi thở ra vào, vì sao ở đây lại nói Biết hơi thở ra vào?

ĐÁP: Thực tế ở đây nói chữ Biết, trong các kinh điển gọi là Quán, nhưng trên thực tế thì pháp quán chưa được đầy đủ trọn vẹn, cho nên ở đây mới dùng chữ Biết để thay thế vậy. Phẩm Quảng Thừa trong Kinh Đại Phẩm có ghi: “Khi giải thích tướng mạo của 16 pháp quán Đặc Thắng cũng đều nói Biết hơi thở ra vào, dài ngắn v.v…”, lấy kinh này để chứng minh, vì thế dùng chữ Biết cũng không trái với văn nghĩa của kinh. Đến phần quán huệ sẽ giảng rõ hơn.

5. Trừ các thân hành

Dùng pháp quán này đối chiếu với Giác quán của Sơ thiền, trong đó chia làm hai phần để giải thích:

– Thân hành

– Trừ thân hành

– Thân hành: Khi thân thể của Dục giới phát được Sơ thiền, Tứ đại tạo sắc của cõi Sắc giới, tiếp xúc đến thân Dục giới, thân căn của Dục giới sinh ra thân thức, cảm nhận xúc của Sắc giới, vì sắc chất của Dục giới và sắc giới giao xen nương trụ lẫn nhau, nên gọi là Thân.

Thân hành tức là Quán, do pháp quán này phát sinh từ nơi thân nhận biết những hành động tạo tác trong thân thể, nên gọi là Thân hành.

– Trừ thân hành: Do hành giả nhận biết hơi thở khắp toàn thân, mà chứng được Sơ thiền, tâm nhãn mở sáng, thấy rõ 36 vật ở trong thân rất dơ bẩn nhàm gớm, đồng thời cũng biết 36 vật này do bốn đại tạo thành sáu phần: đầu, thân, hai tay và hai chân. Mỗi một phần ấy chẳng phải là Thân, cả bốn đại đều không phải là Thân, lúc này hành giả có thể phá trừ chấp thân Dục giới vậy.

– Trừ thân của Sơ thiền: Thân tuy còn trong cõi Dục giới mà mong muốn tìm Tứ đại của Sắc giới là không thể được, đây gọi là trừ chấp thân Sơ thiền.

Vì cớ sao? Nếu nói có Tứ đại tạo sắc của Sắc giới, sắc này là do từ ngoài vào hay từ trong ra? Hay ở chặng giữa? Trong khi quán chiếu như thế, thấy tất cả rốt ráo là Không, chỉ do sự tưởng nhớ điên đảo, nên mới có cảm thọ xúc của Sắc giới. Thực tế nếu quán sát kỹ thì chẳng có, tức là phá chấp thân Sơ thiền, sau khi đã loại trừ chấp thân này rồi, thân hành tự diệt mất.

Lại nữa, khi chưa chứng được Sơ thiền, tại thân Dục giới khởi tạo bao nhiêu nghiệp thiện ác, nay quán thấy tướng bất tịnh của thân thể, không còn tạo các nghiệp thiện ác, phiền não, cho nên gọi là Trừ thân hành.

Do tu 16 pháp quán Đặc Thắng mà có được hai thứ:

Công đức năm chi của Sơ thiền: giống như đã nói ở chương trước.

Công đức năm chi của Tịnh thiền là:

– Nhận biết 36 vật trong thân là hư giả chẳng thật, gọi là Giác.

– Có khả năng phân biệt thiền này với các công đức của Định dục giới và căn bản thiền, có sự hơn kém nhau, gọi là Quán.

– Được pháp hoan hỷ sung mãn, nên nội tâm rất vui vẻ, gọi là Hỷ.

– Do tâm không còn những cấu uế nên được thọ hưởng cảm giác khoan khoái, an lạc, gọi là Lạc.

– Khi được chánh định có thể khiến tâm không dao động, gọi là Nhất tâm. Trong định này, thành tựu được cảm giác hoan hỷ an lạc rất thù thắng vi diệu, tâm không đắm nhiễm, chấp trước, nên gọi là Tịnh thiền vậy.

Lại nữa, Trong Luận A Tỳ Đàm ghi: “Ý nghĩa ngăn che vô ký là cấu “phiền não”, không ngăn che vô ký là bất cấu “không phiền não” đây chính là nói về hai thứ thiền định này, cho nên cần phân tích rộng.

6. Thọ Hỷ

Dùng pháp này đối chiếu để phá trừ Hỷ của Sơ thiền và thọ Hỷ trong căn bản thiền.

Sau khi từ chỗ phiền não ngăn che phát sinh giác quán, do không có trí tuệ quán chiếu thì phiền não sinh khởi, cho nên xả bỏ niềm hoan hỷ này.

Nay thọ Hỷ của 16 pháp Đặc Thắng này, là từ trong giác quán của Tịnh thiền phát sinh, do có sức quán chiếu, phân tích, mới liễu đạt được tính không của giác quán. Nên biết niềm hoan hỷ xuất phát từ nơi giác quán cũng là Không, tức là tâm không còn đắm chấp nơi pháp hỷ, do không có những lỗi lầm, nên nói thọ Hỷ, ví như bậc A-la-hán, không còn tham đắm các vật cúng dường, nên gọi là Ứng cúng.

Lại nữa, do thấy biết chân thật, nên tâm có niềm hoan hỷ chân chính, gọi là thọ Hỷ.

7. Thọ Lạc

Dùng pháp này đối chiếu Lạc chi của Sơ thiền. Do Sơ thiền của phàm phu, không có trí tuệ quán chiếu nên sinh tâm đắm nhiễm cảnh giới khoái lạc, vì thế hành giả không nên thọ nhận khoái lạc này. Nay giải thích về thọ Lạc của 16 pháp Đặc Thắng: nghĩa là thọ nhận niềm vui không có khoái lạc, vì biết Lạc này tự tính là Không, do không đắm chấp cảm thọ của Lạc, nên không có những lỗi lầm thọ hưởng khoái lạc, do phần trước không chứng được an lạc vô vi, cho nên chỗ này gọi là thọ Lạc.

8. Thọ các tâm hành

Dùng pháp này đối chiếu để phá Nhất tâm của Sơ thiền.

Các tâm hành: bao gồm tất cả các pháp, tâm hành có hai loại: Động hành, Bất động hành.

Có vị giải thích rằng: “Từ Sơ thiền đến Tam thiền vẫn còn thuộc về Động hành (tu hành còn dao động), từ Tứ thiền trở lên, mới gọi là Bất động hành”. Nay giải thích về Bất động hành.

Bất động hành: bốn chi (giác, quán, hỷ, lạc) thuộc về Động hành, Nhất tâm chi thuộc về Bất động hành, cũng còn gọi là “các tâm hành”. Tức là tu hành đến chỗ nhất tâm bất động.

Khi hàng phàm phu chứng được Nhất tâm của Sơ thiền liền sinh tâm đắm chấp, nên khi hành giả chứng nhập định này cần phải buông xả. Nay giải thích về “thọ các tâm hành” của 16 pháp Đặc Thắng, tức là biết định này là hư giả chẳng thật, không phải chân tâm nên không đắm chấp, do không phát sinh lỗi lầm, có khả năng chứng được Tam-muội chính thọ, nên mới gọi là Thọ các tâm hành.

9. Tâm tác hỷ

Dùng pháp này đối chiếu để phá cảnh giới Nội tịnh hỷ của Nhị thiền.

Vì sao? Vì pháp hỷ của Nhị thiền xuất phát từ nội tâm vắng lặng, nhưng không có trí tuệ chiếu soi, nên phần nhiều đắm nhiễm nơi thọ Hỷ, phương pháp Đặc Thắng là dùng trí tuệ quán chiếu cảnh giới hoan hỷ, biết nó là hư giả chẳng thật nên tâm không còn đắm chấp. Vì thấy biết đúng như thật liền phát sinh pháp hoan hỷ, cũng gọi là Hỷ giác chi. Do từ nơi tâm chánh quán mà phát sinh pháp hoan hỷ chân thật, nên gọi là Tâm tác hỷ.

10. Tâm tác nhiếp

Dùng pháp quán này đối chiếu để phá trừ Nhất tâm của Nhị thiền.

Vì sao? Vì pháp hỷ của Nhị thiền khiến tâm dao động, cần phải thâu nhiếp, gọi là tâm tác nhiếp. Khi thu nhiếp tâm như thế, chính là phá trừ tâm hoan hỷ hư dối ở trước, mà phát sinh cảm giác vui mừng của pháp Hỷ. Cảm giác hoan hỷ này tuy từ chánh định phát ra, nhưng lại có lỗi là còn làm dao động tâm, phải xoay lại quán chiếu tự tính của nó, biết tự tính pháp Hỷ vốn rỗng lặng, do đó tâm không còn bị tán loạn, không chạy theo cảm giác hoan hỷ dao đọng, nên gọi là Tác nhiếp. Cho nên trong Kinh Đại Tập có ghi: “Tâm động đến tâm”.

11. Tâm trụ giải thoát

Dùng Pháp này đối chiếu để phá thọ Lạc của Tam thiền.

Vì sao? Vì Tam thiền có cảm giác khoái lạc khắp toàn thân, nên khi hàng phàm phu chứng được cảnh giới này, đa số sinh tâm tham ái, đắm nhiễm, ràng buộc không thể giải thoát. Nay nói giải thoát là khi hành giả chứng cảnh khoái lạc toàn thân, liền dùng trí tuệ quán chiếu, phá trừ, biết khoái lạc từ nhân duyên sinh, là rỗng không, chẳng có tự tính, là hư dối chẳng thật. Do hành giả quán chiếu như thế nên không còn đắm chấp thì nội tâm được tự tại, đây gọi là Tâm tác giải thoát.

12. Quán vô thường

Dùng pháp này đối chiếu để phá cảnh giới bất động của Tứ thiền.

Vì sao? Vì trong thế gian, có hai pháp là động và bất động, từ Sơ thiền đến Tam thiền, nội tâm đều có cảm thọ hỷ và lạc, khiến tâm bị dao động, nên còn gọi là Pháp động, Tứ thiền còn gọi là định bất động, khi hàng phàm phu chứng được định này, phần nhiều họ chấp cho là cảnh giới thường hằng, nên sinh tâm đắm chấp, tham ái. Nay hành giả quán sát thấy Tứ thiền có ba tướng là Sinh, Trụ, Diệt luôn luôn dời đổi, đó là tướng phá hoại bất an. Nên kinh ghi: “Tất cả pháp động và bất động của thế gian đều là tướng bại hoại bất an”, nên gọi là Quán vô thường.

13. Quán xuất tán

Dùng pháp này đối chiếu để phá cảnh giới của định Hư không.

Xuất: tức là ra khỏi Sắc giới, Tán: tức là tiêu mất ba thứ sắc pháp đó là: năm căn, năm trần và vô biểu sắc.

Xuất Tán: nghĩa là thoát ra khỏi cảnh giới của định Sắc giới, do tâm hành giả nương nơi định Hư không, tiêu dao tự tại, nên không bị các sắc pháp ràng buộc, đây gọi là Xuất Tán. Hàng phàm phu khi chứng được định này, lầm chấp cho là đã đạt được cảnh giới chân Không an ổn, nên sinh tâm tham chấp.

Nay giải thích pháp quán Xuất tán. Khi hành giả nhập định Hư không, biết rõ định này do bốn thứ: thọ, tưởng, hành, thức hòa hợp mà thành, vốn không có tự tính, nên không sinh tâm đắm chấp, vì sao? Vì nếu nói có xuất tán, thì hư không xuất tán, hay tâm xuất tán? Nếu nói tâm xuất tán, thì tâm bị ba tướng (quá khứ, hiện tại, vị lai) thay đổi, nhưng quá khứ đã diệt mất, vị lai chưa đến, hiện tại không dừng trụ, thì làm sao xuất tán “ra khỏi”. Nếu nói hư không xuất tán, hư không vốn là vô tri, đã là vật vô tri thì làm sao xuất tán? Nhân đây hành giả biết định Hư không vốn là Không, nên tâm chẳng còn tham ái đắm chấp, gọi là Quán xuất tán.

14. Quán ly dục

Dùng pháp này đối chiếu để phá định Thức xứ. Vì cớ sao? Hễ tham đắm tất cả ngoại cảnh đều

gọi là dục, từ Định dục giới đến định Hư Không đều là cảnh giới ở ngoài tâm.

Định Hư không là cảnh ở ngoài, tâm thức đến lãnh thọ định này, liền chấp hư không. Định Thức xứ duyên nơi tâm thức ở trong, có thể lìa tâm tham chấp định Hư không nên gọi là Ly dục. Nếu hàng phàm phu khi chứng được định này, do không có trí tuệ quán chiếu, họ cho là tâm và thức tương ưng, là định chân thật an ổn, liền sinh tâm tham ái, đắm chấp.

Nay giải thích pháp quán ly dục của Đặc Thắng: tức là khi hành giả chứng được định này, dùng trí quán chiếu phá trừ, nếu nói do tâm duyên nơi thức, tâm cùng với thức tương ưng mà được nhập định, thật tế thì không đúng! Vì sao? Vì thức quá khứ, vị lai, hiện tại, không cùng với tâm hiện tại tương ưng, vậy thì tại sao có thể nói là do tâm cùng với thức cả ba đời tương ưng mà được định? Nhân pháp định trì giữ tâm, gọi là định Thức xứ, nên biết pháp định của thức này chỉ là danh từ suông, là hư giả không thật nên gọi là Ly dục.

15. Quán diệt

Dúng pháp này đối chiếu để phá định Vô sở hữu xứ.

Vì sao? Vì định Vô sở hữu xứ duyên pháp trần vô vi, tâm cùng với vô vi tương ưng, do định này đối với pháp trần vô vi, phát khởi một ít tâm thức mà được vậy. Khi hàng phàm phu chứng được định này, cho là tâm đã diệt hết, thì khởi tâm tham đắm, không thể buông xả nên bị trói buộc.

Nay giải thích pháp Quán diệt: khi hành giả chứng được định, liền nhận biết có một ít tâm thức, tuy thức này rất vi tế, nhưng cũng là do bốn ấm hòa hợp, là vô thường, vô ngã, hư giả chẳng thật, chẳng khác phân dơ, dù ít hay nhiều vẫn là dơ bẩn hôi thối, không thể đắm nhiễm, gọi là Quán diệt.

16. Quán khí xả

Dùng pháp này đối chiếu để phá định Phi tưởng.

Vì sao? Vì định Phi tưởng phi phi tưởng là pháp đối trị, để xả bỏ định Thức xứ và Vô sở hữu xứ, từ Sơ thiền trở về trước, chỉ có pháp xả bỏ một bên, không xả bỏ cả hai. Cho nên chưa dùng danh từ Khí xả, định Phi tưởng có thể xả bỏ hai thứ: Có tưởng và không tưởng, nên gọi là Khí xả. Định Phi tưởng, cũng là phương pháp buông xả tột đỉnh, nên cuối cùng mới dùng danh từ này. Nếu hạng phàm phu khi chứng được định này, cho là đã chứng được Niết-bàn, do không có trí tuệ phương tiện quán chiếu nên không thể buông xả.

Nay giải thích pháp quán khí xả của Đặc Thắng: khi hành giả chứng được định, liền biết rõ bốn ấm, Thập nhị nhân duyên, Tam giới và Mười thứ tâm vi tế v.v… đều do hòa hợp tạo thành. Hành giả biết rõ pháp định này là vô thường, khổ, không, vô ngã, là hư giả chẳng thật, nên không còn chấp là Niết-bàn an lạc. Biết định này vốn rỗng lặng, nên tâm không còn đắm chấp, gọi là Quán khí xả.

Khi thành tựu được định này, liền có đầy đủ hai thứ Khí xả: xả Niết-bàn và xả bỏ các thiền căn bản, vĩnh viễn xả bỏ sinh tử, nên gọi là Quán khí xả. Lúc này hành giả xả pháp quán, liền chứng ngộ Niết-bàn của Tam thừa! Sự việc này giống như khi Phật bảo ông Tu-bạt-đà-la(4) quán chiếu tâm tưởng vi tế trong định phi tưởng, ông liền chứng quả A-la-hán.

Trường hợp chứng đạo không nhất định phải tu đầy đủ cả 16 pháp Đặc Thắng, chỉ cần hai hay ba pháp, cũng có khả năng ngộ đạo! Có trường hợp những bậc căn cơ linh lợi, khi họ mới tu pháp Tùy tức, giác ngộ vô thường liền ngộ đạo, đây là tùy theo căn cơ từng người vậy.

Từ khi mới tu tập thiền định trở về trước, đều có thể phát được thiền định căn bản, nên gọi là “cũng hữu lậu”. Do trong định dùng trí tuệ quán chiếu phân tích, không còn đắm chấp, nên gọi là “cũng Vô lậu”, nên nói rằng Thập lục đặc thắng là loại thiền “cũng hữu lậu cũng vô lậu”. Trên đây đã giới thiệu từng pháp quán để đối chiếu với các tầng thiền định trong Tam giới.

*

Chú thích Quyển 7B:

(1) Ma Ha Nam: Ngài là một trong năm người được vua Tịnh Phạn chọn trong hoàng tộc để theo hầu Thái tử, lúc Thái tử vượt thành xuất gia. Sau khi Thái tử đắc đạo thành Phật, chuyển pháp luân đầu tiên ở vườn Lộc Dã, đã độ Ngài cùng với bốn vị khác chứng quả A-la-hán.

(2) Ma Ha Ca Diếp (Đại Ca Diếp, Ẩm Quang): là đệ tử xuất sắc của Đức Phật. Ngài sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở vùng ngoại ô thành Vương Xá. Sau khi Đức Phật thành đạo ba năm, Ngài đến quy y với Phật, tu được tám ngày đã chứng quả A-la- hán, sau khi Phật nhập diệt, Ngài là vị đứng đầu Tăng đoàn, đứng ra tổ chức kết tập kinh điển lần thứ nhất tại thành Vương Xá, sau khi truyền pháp cho tôn giả A Nan, Ngài vào núi Kê Túc nhập định để chờ Phật Di Lặc ra đời mới nhập Niết-bàn. Ngài nổi tiếng hành hạnh Đầu Đà nghiêm túc nhất trong hàng đệ tử Phật. Trên hội Linh Sơn “Niêm hoa vi tiếu” (trong Kinh Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi. Đại chánh tân tu Đại tạng kinh) Ngài được Đức Phật Thích Ca truyền tâm ấn. Từ đó Ngài trở thành Sơ tổ của Thiền tông Ấn Độ.

(3) Hy Na (Câu-hy-la): một vị A-la-hán, đệ tử lớn của Phật, chứng được lý năm uẩn đều Không. Theo Kinh Tạp A Hàm 12, lúc Ngài ở núi Kỳ-xà-quật, tôn giả Xá Lợi Phất đến hỏi nghĩa lý Thập nhị nhân duyên, Ngài trả lời thông suốt, Xá Lợi Phất khen là bậc trí tuệ biện tài, khéo hàng phục khi có người đến vấn nạn.

(4) Tu-bạt-đà-la: người đệ tử sau cùng được Đức Phật khai thị và đắc đạo trước khi Phật sắp nhập Niết- bàn. Lúc đắc đạo Ngài đã 120 tuổi, trước kia Ngài rất thông minh, khi nghe Phật thuyết Bát chánh đạo liền xuất gia thụ giới ngay trong đêm ấy, nỗ lực tịnh tu phạm hạnh, đêm xuống không bao lâu, Ngài đắc quả A-la-hán rồi liền diệt độ trước Đức Phật.

*

*C. THÔNG MINH THIỀN

Nay luận về pháp thiền này, chia làm ba phần:

– Giải thích danh từ

– Luận vị thứ

– Thuyết minh tu chứng

GIẢI THÍCH DANH TỪ

Sở dĩ thiền này tên là Thông minh thiền hay còn gọi là Thông minh quán, vì trước kia phương pháp quán này phát xuất từ Kinh Đại Tập, trong đó vốn không có danh mục này, về sau các thiền sư bên Ấn Độ khi tu chứng được, muốn chỉ dạy cho người mà không biết gọi là danh từ gì. Muốn sắp đặt trong Căn bản thiền nhưng phương pháp và tướng mạo lại bất đồng. Nếu đối chiếu với “Thập lục đặc thắng” thì thấy danh mục lại hoàn toàn không tương quan, nếu sắp đặt trong “Bát bối xả, Bát thắng xứ” thì phương pháp quán hạnh lại khác biệt. Sắp đặt lui tới cũng không tương ưng, cho nên các thiền sư lập riêng một danh mục, gọi là thiền “Thông minh quán” hoặc có thuyết nói trong Kinh Hoa Nghiêm cũng có danh mục này.

Giải thích chữ “Thông”, nghĩa là từ khi bắt đầu tu tập, đã quán thông cả ba việc, như khi quán hơi thở tức là quán thông cả sắc và tâm, nếu quán sắc thì đã quán thông cả hơi thở và tâm, nếu khi quán tâm thì quán thông cả sắc và hơi thở. Do pháp quán này thanh tịnh sáng suốt, có thể tâm nhãn khai mở, chẳng bị các mê mờ che đậy; hoặc công năng quán một liền thông đạt cả ba, có thể thấy rõ thấu triệt không chướng ngại, nên gọi là Thông minh.

Lại nữa, nếu hành giả khéo tu pháp thiền này, nhất định sẽ được khai phát Tam minh, Lục thông. Trong Kinh Đại Tập có ghi: “Pháp hành Tỳ-kheo khi tu pháp thiền này, muốn được thần thông liền có được thần thông”. Nay nói “Thông” nghĩa là có khả năng chứng đắc Lục thông. “Minh” nghĩa là có thể phát sinh Tam minh. Đây là từ trong nhân nói quả, nên gọi là Thông minh quán.

HỎI: Các thiền khác cũng có thể khai phát Tam minh, Lục thông, vì sao chỉ riêng thiền này được gọi là Thông minh?

ĐÁP: Các thiền khác tuy cũng có phát thần thông, nhưng không thuận lợi và nhanh chóng như pháp thiền này, nên chỉ riêng thiền này được gọi là Thông minh.

HỎI: Như trong Kinh Đại Tập cũng có chỗ giải thích riêng ý nghĩa tên của thiền này. Kinh ghi: “Nói thiền, là nhanh chóng nên gọi là Thiền, nhanh rất nhanh, trụ luôn thường trụ, tịch tịnh, quán diệt, đạt cảnh giới xuất ly, ấy tên là Thiền”. Vì sao nay lại lập danh mục riêng?

ĐÁP: Kinh Đại Tập tuy có nói đến thiền này, ý nghĩa rất rõ, mà tên gọi vẫn còn lờ mờ, chẳng có danh mục chính xác, nên nay mới lập danh từ là Thông minh.

LUẬN VỊ THỨ

Thiền này không có thứ vị riêng biệt, cũng giống như lập thứ vị của Tứ thiền, Tứ không vậy, nhưng đối với trong mỗi mỗi tầng thiền, lại có thêm pháp định và quán thù thắng xuất thế gian, có khả năng nhanh chóng khai phát Vô lậu và Tam minh, Lục thông. Thiền này ở hậu tâm (tâm niệm cuối cùng của mỗi thiền định) của Phi tưởng định, diệt các tâm số, nhập Diệt thọ tưởng định, cho nên chẳng đồng với Tứ thiền, Tứ không. Vì sao? Vì định Tứ thiền và Tứ không thì mờ tối lại chấp nơi sở chứng, không có công năng trí tuệ, thần thông. Nên thứ vị tuy đồng với Tứ thiền, Tứ không, mà trí tuệ quán chiếu lại khác biệt, sợ người học hiểu lầm nên lập danh mục riêng, tuy danh từ thì khác mà thứ vị lại đồng.

HỎI: Nếu thiền này được nhập Diệt tận định, so với Cửu thứ đệ định có gì khác nhau?

ĐÁP: Khi tu Thông minh thiền, do tâm tâm không gián đoạn, nên cũng được gọi là Cửu thứ đệ định. Nhưng thiền này chẳng phải đầy đủ các pháp như Cửu thứ đệ định, đến phần sau sẽ tự hiểu. Nếu đối chiếu với phần giải thích Cửu định và Bát giải của thuyết Thành Thật Luận(1) cũng là đã đầy đủ vậy.

THUYẾT MINH TU CHỨNG

Thiền này không lập thứ vị riêng, chỉ theo thứ vị của Tứ thiền, Tứ không, để biện luận tu chứng của nó.

Có ba hạng:

– Hạ căn tu chứng năm chi của Sơ thiền

– Trung căn tu chứng Sơ thiền

– Thượng căn tu chứng Sơ thiền.

1. HẠ CĂN TU CHỨNG NĂM CHI CỦA SƠ THIỀN

Như Kinh Đại Tập ghi: “Nói Sơ thiền của thiền này gọi là Cụ, cũng gọi là Ly. Ly tức là lìa Ngũ cái, Cụ là đầy đủ cả Ngũ chi. Ngũ chi là: Giác, Quán, Hỷ, An, Định”.

Thế nào là Giác? “Như tâm, Giác, Đại giác, Tư duy, Đại tư duy, quán đối với tâm tính”, ấy gọi là Giác.

Thế nào là Quán? “Quán tâm, Hành đại hạnh, Biên hành, Tùy ý”, ấy gọi là Quán.

Thế nào là Hỷ? “Như thật tri, Đại tri, Tâm động đến tâm”, gọi là Hỷ.

Thế nào là An? “Tâm an, Thân an, Thọ an, thọ đối với các xúc lạc”, ấy gọi là An.

Thế nào là Định? “Tâm trụ, Đại trụ, đối với các duyên tâm không động loạn, không có sai lầm, điên đảo”, ấy gọi là Định”.

Đây là phần tóm lược của Kinh Đại Tập giải thích tướng tu chứng Sơ thiền của Thông minh quán. Do kinh này nói công đức năm chi, rất khác với các kinh, nên cần phải giải thích riêng.

– Giải thích “Như tâm”: tức là phương tiện đầu tiên để khai phát Sơ thiền, cũng tức là định Vị đáo địa, nhưng muốn chứng được định Vị đáo địa thì phải tu tập. Tu tập thế nào? Hành giả từ khi mới tu pháp an tâm, đồng thời quán cả ba việc là hơi thở, sắc và tâm đều bình đẳng.

Quán ba việc là nhất định phải quán hơi thở trước. Quán thế nào? Nghĩa là hành giả ngồi nhiếp tâm, điều hòa hơi thở, nhất tâm quán hơi thở, tưởng hơi thở ra vào khắp toàn thân. Nếu trí tuệ sáng suốt nhạy bén, liền biết hơi thở vào không tích tụ, hơi thở ra không phân tán, chẳng có chỗ đến, không có chỗ đi, tuy nhiên vẫn biết rõ hơi thở ra vào khắp thân như gió trong hư không, chẳng có tự tính. Đây là giới thiệu sơ lược pháp quán hơi thở của “Như tâm”.

– Giải thích quán Sắc như: Hành giả đã biết hơi thở nương nơi thân, không thân thì chẳng có hơi thở, nên cần phải quán Sắc thân. Sắc thân này vốn tự chẳng có, đều do nhân duyên vọng tưởng của đời trước, chiêu cảm “tứ đại tạo sắc” của đời này, như vật giữa hư không, tạm gọi là thân. Hành giả nhất tâm quán từ đầu đến chân, ba mươi sáu vật, tứ đại, tứ vi, mỗi cái chẳng phải là thân. Tứ vi(2), Tứ đại cũng đều chẳng thật, đã tự chẳng có làm sao có thể sinh ra sáu phần của thân thể và ba mươi sáu vật? Thân thể đã là không, lúc này tâm hành giả chẳng còn phân biệt, tức là thông đạt Sắc như.

– Giải thích quán Tâm Như: Hành giả nên biết, do có tâm nên có sắc thân, đi đứng di chuyển, nếu chẳng có tâm này, thì ai phân biệt sắc tướng, sắc này nhân gì mà sinh? Hành giả quán thân này do nhân duyên mà có, sinh diệt nhanh chóng, không thấy chỗ dừng trụ, cũng không tướng mạo, chỉ có danh từ, danh từ cũng không, tức là đạt Tâm Như. Hành giả nếu biết rõ tự tính của hơi thở, sắc và tâm đều như như, đây gọi là Như Tâm.

Lại nữa, nếu khi hành giả quán hơi thở, biết hơi thở là chẳng thể được, liền thông đạt Sắc và Tâm tự tính vốn rỗng lặng. Vì sao? Vì cả ba pháp chẳng lìa nhau, khi quán Sắc, Tâm cũng như thế! Nếu quán hơi thở mà đồng thời chẳng quán Sắc và Tâm thì không thể chứng được tất cả các pháp. Vì sao? Vì nếu cả ba việc này hòa hợp, mới có thể sinh ra tất cả Ấm, Giới, Nhập, những đau khổ, phiền não, hành nghiệp thiện, ác v.v… qua lại trong năm đường, lưu chuyển chẳng dừng nghỉ. Nếu thấu đạt ba việc này vốn không sinh, thì tất cả các pháp tự rỗng lặng. Đây là đã giới thiệu sơ lược về tướng tu tập của Như tâm.

NÓI RÕ TƯỚNG CHỨNG SƠ THIỀN CỦA THÔNG MINH QUÁN

Pháp thiền này cũng chứng đầy đủ hai thứ định: Dục giới và Vị đáo địa.

Hành giả quán sát như trên biết rõ cả ba thứ tự tánh là Không, nên nội tâm lặng lẽ an trụ nơi Chân Như, rỗng rang sáng suốt, đây gọi là Định dục giới. Sau khi chứng đắc định này, tâm nương nơi Chân Như lặng lẽ nhập định, cùng tương ưng với chân như. Do trì giữ tâm như thế, nội tâm an định bất động, rỗng rang, chẳng còn thấy tướng sai biệt của ba pháp: Thân, Hơi thở và Tâm, tất cả giống như hư không, nên gọi là Như Tâm, đây tức là định Vị đáo địa của Thông minh thiền.

Kế tiếp giải thích tướng Sơ thiền phát. Như trích dẫn đoạn kinh ở trước, cần phải giải thích đầy đủ tướng chứng của công đức năm chi. Nay căn cứ Giác chi làm gốc, sau khi giải thích ý nghĩa Giác chi rõ ràng, mới giải thích tiếp bốn chi khác, từ đó đối chiếu sẽ hiểu.

Giác, Đại giác: Sở dĩ kinh nói: “Giác, Đại giác” là cảm giác nhận biết của căn bản thiền, nhận biết hiện tượng xúc phát sinh, nên gọi là Giác, việc này đã có nói ở phần trước, chỉ có sâu hay cạn mà thôi! Khi tâm nhãn bỗng nhiên khai mở sáng suốt, hành giả thấy rõ tướng ra vào của hơi thở, tâm niệm và sắc thân, nên gọi là Đại giác. Trên đây chỉ giải thích sơ lược chưa phải là ý chính.

Lại nữa, nay cần chia chẻ ý nghĩa Giác và Đại giác. Giác là trạng thái giác ngộ của thế gian, Đại giác là trạng thái giác ngộ xuất thế gian, đây là giải thích đối với Chân đế và Tục đế, trong đó cũng có ý nghĩa Hữu lậu và Vô lậu.

Thế gian có ba loại:

*1/ Căn bản thế gian: Tức là thân và tâm của một đời.

*2/ Nghĩa thế gian: Tức là biết rõ thân tâm đời này cùng nghĩa lý tất cả pháp ở ngoài có sự tương quan.

*3/ Sự thế gian: tức là khi phát năm thứ thần thông, có khả năng thấy những chủng loại chúng sinh và tất cả sự việc của thế gian.

Thế gian đã có ba loại thì đối với Xuất thế gian cũng có ba loại. Vì sao? Vì căn tính chúng sinh có Hạ, Trung, Thượng và lợi độn khác nhau, cho nên tuy đồng chứng Sơ thiền này, mà cảnh giới lại có sâu cạn khác nhau, vì thế phải lấy ba nghĩa phân chia làm ba bậc chứng Sơ thiền chẳng đồng để giải thích.

*1/ Căn bản thế gian

Giải thích về tướng năm chi: Giác và Đại giác thành tựu Sơ thiền.

Chia ra hai ý:

A. Tướng chứng Sơ thiền phát

B. Giải thích tướng sai biệt 5 chi

A. TƯỚNG CHỨNG SƠ THIỀN PHÁT

Chia làm ba bậc:

I- Sơ chứng

II- Trung chứng

III- Hậu chứng

I- TƯỚNG SƠ CHỨNG

Khi bắt đầu phát Sơ thiền, hành giả bỗng thấy chín vạn chín ngàn (99.000) lỗ chân lông trên thân thể của mình trống rỗng, hơi thở ra vào các lỗ chân lông khắp thân thể. Tuy nhiên chỉ có tâm nhãn mới có thể thấy được tướng hơi thở ra vào khắp thân, khi hơi thở vào không tích tụ, khi ra chẳng phân tán, chẳng có chỗ đến cũng không đi về đâu.

Hành giả lại thấy rõ 36 vật trong thân. 36 vật đó là: tóc, lông, móng, răng, ghèn, nước mắt, nước miếng, nước dãi, phẩn, tiểu, cáu bẩn, mồ hôi, da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ tảng, mỡ sa, não, màng, gan, mật, ruột, bao tử, lá lách, thận, tim, phổi, sinh tạng, thục tạng, đàm đỏ, đàm trắng. Trong 36 vật này, mười thứ thuộc vật ở ngoài, hai mươi sáu thứ thuộc vật ở trong thân. Trong đó hai mươi hai thứ thuộc về đất, mười bốn thứ thuộc về nước.

Hành giả thấy tướng đất, nước, gió rõ ràng. Lại thấy các vật đều bị hơi nóng nung đốt, thì thấy tướng lửa rõ ràng. Quán xét Tứ đại như bốn con rắn ở chung một lồng, tính tình lại khác nhau! Giống như người mổ bò, chia thịt ra bốn phần, nhìn kỹ thì bốn phần thịt này chẳng liên quan nhau, hành giả nghĩ tưởng thân thể của ta và những đống thịt này đâu có gì khác nhau, nên sinh tâm sợ hãi tỉnh ngộ.

Lại nữa, hành giả không những chỉ thấy tính chất 36 vật nơi thân và Tứ đại là giả hợp bất tịnh, mà còn có thể nhận biết năm tướng bất tịnh. Đó là:

1/ Tự tướng bất tịnh: Thấy mười vật bất tịnh ở ngoài thân, sinh tâm nhàm chán.

2/ Tự tánh bất tịnh: Thấy hai mươi sáu vật bất tịnh ở trong thân.

3/ Chủng tử bất tịnh: Tự nhận biết thân này do tinh huyết của cha mẹ hợp thành, là chủng tử của thân.

4/ Sinh xứ bất tịnh: Khi thân này ở bào thai, nằm ở giữa sinh tạng và thục tạng.

5/ Cứu cánh bất tịnh: Sau khi chết bỏ ngoài nghĩa địa, tự nó tan hoại, hôi thối, ô uế.

Nên biết thân này từ thỉ đến chung, đều do bất tịnh tạo thành, chẳng có gì đáng ưa thích, thật là nhàm chán. Ta xưa nay chẳng khác gì kẻ mù, đắm chấp nơi thân hôi thối bất tịnh, tạo nghiệp trong sinh tử, nhiều vô lượng kiếp, hôm nay mới giác ngộ, trong lòng cảm thấy buồn vui lẫn lộn.

Năm tướng bất tịnh này trong Ma Ha Diễn có nói rất tường tận. Hành giả lại biết tâm thức trong thiền định, duyên theo các cảnh giới, niệm niệm không dừng, các tâm số pháp dấy khởi liên tục, tướng trạng mỗi niệm cũng đều khác nhau, đây gọi là tướng sơ chứng của Sơ thiền.

II- TƯỚNG TRUNG CHỨNG

Hành giả trụ trong định, tam-muội từ từ thâm sâu, biết rõ hơi thở trong ngũ tạng phát ra các tướng hơi thở từ các lỗ chân lông có các màu sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen v.v… tùy theo mỗi tạng mà có màu sắc riêng biệt. Nếu hơi thở từ năm căn vào, thì sắc tướng cũng bất đồng, vì những hình tướng màu sắc như thế rất nhiều.

Hành giả lại thấy thân này, những thứ da dày, da mỏng, cơ thịt, đều có 99 lớp, 360 đốt xương to, xương nhỏ và tủy đều có 99 lớp. Giữa xương và thịt có rất nhiều vi trùng 4 đầu, 4 miệng, 99 đuôi, hình tướng chẳng giống nhau, cho đến ngôn ngữ, âm thanh và những hoạt động đi ra, đi vào của chúng, hành giả đều biết rõ.

Hành giả thấy sọ não, cũng chia ra làm bốn phần, mỗi phần có bốn lớp. Ngũ tạng trong thân thể, có từng lớp ngăn che nhau, giống như hoa sen, các kẽ hở rỗng hoát, trong ngoài thông nhau, đều có 99 lớp. Giữa mỗi vật có 80 nhóm vi trùng sinh sống trong đó, tranh giành lẫn nhau. Nếu khi nội tâm hành giả thật yên tĩnh vi tế, thì trong định có thể nghe được âm thanh ngôn ngữ của chúng, hoặc nhân đây chánh định khai phát, thông hiểu tất cả ngôn ngữ chúng sinh.

Các mạch máu trong thân, mạch tim là chủ, từ mạch tim sinh ra bốn mạch lớn, mỗi mạch lớn có mười mạch nhỏ, trong mỗi mạch nhỏ đều có mười mạch, hợp tất cả là 400 mạch máu. Từ đầu đến chân tổng cộng là 404 mạch. Trong đó có hơi gió và máu huyết trôi chảy, trong các mạch máu này, cũng có rất nhiều vi trùng sinh sống ở đây.

Hành giả biết trong thân và ngoài thân đều chẳng thật. Giống như những bẹ cây chuối. Lại quán tâm niệm chạy theo cảnh duyên mà có bốn thứ: Thọ, Tưởng, Hành, Thức bất đồng.

III- TƯỚNG HẬU CHỨNG

Trí tuệ và tam-muội của hành giả càng lâu, càng thâm sâu, thanh tịnh, sáng suốt, nhạy bén. Lại thấy hơi thở điều hòa, sắc tướng bình đẳng không hai, giống như ngọc lưu ly, chẳng có màu xanh, vàng, đỏ, trắng; cũng thấy hơi thở ra vào là sinh diệt vô thường, rỗng lặng.

Lại thấy thân thể đổi mới không dừng. Vì sao? Vì ăn uống thuộc về Tứ đại ở bên ngoài, khi đưa vào bụng nuôi dưỡng thân thể, Tứ đại mới sinh trưởng, lúc này các tế bào cũ theo đó mà diệt mất. Ví dụ như các loại cây cỏ, nẩy chồi non thì lá già tự rụng, thân thể cũng như thế. Chỉ những kẻ ngu không hiểu biết, chấp thân thể là thường, người có trí tuệ trụ trong tam-muội, biết thân này biến đổi vô thường, sinh sinh, diệt diệt chẳng có tự tính, do đây mà giác ngộ Sắc tức là Không.

Lại khi một niệm sinh khởi, liền có 60 sát-na(3) sinh diệt. Hoặc có người nói, có 600 sát-na sinh diệt nhanh chóng, mà thật tế sát-na cũng chẳng có tự tính, cho nên tâm niệm cũng Không.

B. GIẢI THÍCH TƯỚNG SAI BIỆT CỦA NĂM CHI

Năm chi là: Giác, Quán, Hỷ, An, Định

I- Giác

Trong kinh nói Giác chi là “Giác, Đại giác, Tư duy, Đại tư duy, Quán đối với tâm tính”. Dùng năm câu này để giải thích tướng trạng của Giác.

– Giải thích “Giác, Đại giác”. Do lấy cảnh giới của thế gian và xuất thế gian để phân tích, nên có hàm nghĩa của hai thứ Giác bất đồng. Cảnh giới thế gian tức là tướng Dị; cảnh giới xuất thế gian tức là tướng Như. Tướng Như và Dị tức là tên gọi khác của Chân đế và Tục đế vậy.

Nay dùng phương pháp quán để dễ thấy cảnh giới sâu cạn. Hiện tại y nơi Luận Ma Ha Diễn phân chia có ba bậc thượng, trung, hạ. Như và Dị đã có ba thứ, nên Giác và Đại giác cũng chia làm ba thứ vậy. Theo Luận Ma Ha Diễn nói:

“Phân biệt giả danh gọi là Dị; phân biệt pháp thật của Tứ đại vốn đồng một thể gọi là Như bậc hạ.

Phân biệt địa đại khác với ba đại gọi là Dị; Phân biệt cả Tứ đại đều là vô thường, sinh diệt như nhau, gọi là Như bậc trung.

Biết vô thường sinh diệt gọi là Dị; biết sinh diệt vốn Không, gọi là Như bậc thượng”.

Nay đem tướng chứng Thông minh thiền chia thành ba phẩm: hạ, trung, thượng để giải thích tướng sâu cạn của pháp quán.

a) Giải thích Giác bậc hạ: hành giả nhận biết hơi thở ra vào có sâu cạn, những màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng bất đồng, gọi là Giác. Nhận biết hơi thở này giống như gió, gọi là Đại giác. Nhận biết 36 vật mỗi thứ chẳng đồng gọi là Giác. Nhận biết cả ba đại như nhau, gọi là Đại giác. Nhận biết tâm số rất nhiều, gọi là Giác, nhận biết bốn thứ: thọ, tưởng, hành, thức đồng nhau, gọi là Đại giác. b) Giác bậc trung: hành giả nhận biết phong đại, gọi là Giác. Nhận biết hơi thở sinh diệt vô thường, gọi là Đại giác. Nhận biết ba đại riêng biệt gọi là Giác. Nhận biết ba đại đều vô thường, gọi là Đại giác. Nhận biết thọ, tưởng, hành, thức chẳng đồng, gọi là Giác. Nhận biết bốn thứ đều vô thường, sinh diệt, gọi là Đại giác.

c) Giác bậc thượng: hành giả nhận biết hơi thở vô thường là bất đồng, vì hơi thở này có tám tướng luôn thay đổi, nên vô thường. Tám tướng là: sinh, trụ, dị, diệt, sinh sinh, trụ trụ, dị dị, diệt diệt. Do tám tướng này luôn thay đổi, nên nhận biết thể tướng hơi thở khác nhau, gọi là Giác. Nhận biết hơi thở vốn rỗng lặng, tám tướng chẳng khác nhau, gọi là Đại giác.

Nhận biết cả ba đại còn lại, cũng có tám tướng bất đồng, gọi là Giác. Nhận biết cả ba đại này, xưa nay vốn rỗng lặng, không có tám tướng sai khác, gọi là Đại giác. Nhận biết tâm niệm thay đổi như tám tướng, mỗi thứ đều sai khác, gọi là Giác. Nhận biết tâm ấy xưa nay rỗng lặng, không có tám tướng khác nhau, gọi là Đại giác. Vì sao? Nếu tám tướng tức là tâm, tâm tức là tám tướng, thì hoại tướng hữu dư. Vì sao? Vì hơi thở và sắc pháp, chính là tám tướng, tám tướng cũng chính là hơi thở và sắc pháp, tám tướng đã chẳng khác, nên hơi thở, sắc và tâm cũng chẳng khác.

Nếu như thế, thì khi nói về tâm, tức phải nói đến hơi thở và sắc pháp. Nhưng thật tế chẳng như thế! Vì làm rối loạn tướng thế gian. Ví như có người gọi đem lửa đến, người ta lại đem nước đến. Nếu cho rằng tâm tức là hơi thở và sắc, thì sự sai lầm cũng giống như thế.

Lại nữa, nếu lìa tâm mà có tám tướng, lìa tám tướng mà có tâm, đây là biểu thị tâm không phải là tám tướng, tám tướng chẳng phải là tâm. Nếu tâm chẳng phải tám tướng, thì tâm chỉ có danh mà không tướng, đã không tướng chẳng thể gọi là tâm. Nếu tám tướng lìa tâm, thì tám tướng không có chỗ thay đổi, do đó cũng không thể gọi là tám tướng. Vì tám tướng chẳng có chỗ dời đổi.

Hành giả quán xét tỷ mỉ, thì nhận biết tâm cùng tám tướng vốn tự là Không, cũng chẳng phải nương nơi vật khác mà có tự tính. Tự tính như hư không, chẳng có tướng đồng hay bất đồng. Đây gọi là Đại giác.

Hơi thở và sắc pháp cũng phân tích như thế. Trên đây là giới thiệu sơ lược về Giác và Đại giác của thượng phẩm.

– Giải thích “Tư duy, Đại tư duy”: Đây lại nói tiếp Giác và Đại giác ở trước. Vì sao? Vì tướng sơ tâm giác ngộ Chân đế và Tục đế, gọi là Giác và Đại giác. Hậu tâm lại tiếp tục tư duy quán sát, cho nên gọi là Tư duy, Đại tư duy. Kế sau Giác gọi là Tư duy, sau Đại giác gọi là Đại tư duy, nghĩa này cũng dễ hiểu, nên chẳng giải thích nhiều.

– Giải thích “Quán đối với tâm tính”: tức là xoay lại quán tâm Tư duy và Đại tư duy. Vì sao? Hành giả tuy hiểu được cảnh giới hiện tiền, nếu không thể xoay lại, quán chiếu thấu đạt tâm tính, thì chẳng thể hội được đạo chân thật. Như nay xoay lại quán chiếu tâm, là từ tâm quán chiếu phát sinh, hay là chẳng phải tâm quán chiếu sinh. Hoặc từ quán tâm phát sinh, hoặc chẳng phải từ tâm quán chiếu phát sinh, cũng đều có lỗi. Nên biết, tâm quán chiếu rốt ráo là rỗng lặng, Trên đây đã giải thích năm câu của Giác chi xong.

II- QUÁN

Kinh ghi: “Hoặc Quán tâm, Hành đại hành, Biên hành, Tùy ý”.

Quán tâm: tức là Quán đối với tâm tính đã giải thích ở trước.

Hành đại hành: Hàng Thanh văn lấy Tứ đế làm đại hạnh. Khi quán tâm tức là đã đầy đủ chánh quán của Tứ đế. Vì sao? Nếu người chẳng biết bản tâm, nên không hiểu rõ vô minh, tạo các phiền não và nghiệp chướng, gọi là Tập đế. Do nhân duyên của Tập đế, nhất định chiêu cảm quả báo khổ của sắc thân đời vị lai, gọi là Khổ đế. Nếu có thể quán tâm tính, tức là đã đầy đủ Giới, Định, Huệ, tu 37 phẩm trợ đạo, nên gọi là Đạo đế. Hoặc có chánh quán thì hiện tiền các phiền não chẳng sinh, quả báo khổ vị lai cũng diệt, đây gọi là Diệt đế. Trên đây là pháp hành của hàng Thanh văn, gọi là “hành”. Nếu hàng Duyên giác quán chiếu 12 nhân duyên, gọi là “Đại hành”. Nếu là hàng Bồ-tát liền nhập vô sinh chính đạo chánh quán, chứng định tịch tịnh, Lưu Ly tam-muội, nơi vô lượng lỗ chân lông, thấy chư Phật vô lượng mà nhập vào địa vị Bồ-tát. Trên đây đã giải thích sơ lược tướng “Đại hành” đắc đạo của hàng Tam thừa.

Biên hành: khi công phu quán chiếu chưa thuần thục, nhạy bén, lại càng tinh tấn quán Tứ đế, nên gọi là “Đại hành”. Nay công phu quán chánh đạo đã thuần thục, có thể trải qua các phương diện để quán chiếu Tứ đế, mà phát xuất 16 pháp quán, đây gọi là “Biên hành”.

Tùy ý: Nếu là “Biên hành”, tuy ở trong định, có thể thấy được các hiện tượng, nhưng khi xuất thiền định, thì chẳng cùng cảnh giới trong định tương ưng. “Tùy ý” là không quản nhập định hay xuất định, có thể tùy ý thấy các pháp, không cần dụng tâm quán chiếu mà tự thành, chẳng phải do tác ý, đây gọi là “Tùy ý”. Trên đây đã giải thích sơ lược tướng trạng của Quán chi.

III- HỶ

Kinh ghi: “Như chân thật tri, Đại tri, Tâm động đến tâm, gọi là Hỷ”.

Như chân thật tri: Tức là quán chiếu tâm tính, và quán chân lý Tứ đế, như đã nói ở trước. Nếu tâm quán xét Tứ đế, dừng trụ trong các duyên biết rõ lý của sự tướng, nên gọi là “Chân thật tri”.

Đại tri: Nếu tâm hoát nhiên khai ngộ, từ trong nội quán hiểu thấu được lý thể, tâm sinh hoan hỷ, đây gọi là “Đại tri”.

Tâm động đến tâm: Khi được pháp hoan hỷ thì tâm bị dấy động, nếu chấp theo pháp hỷ này tức là sai lầm. Nay hành giả hiểu được pháp hỷ vốn là không, liền biết được tự tính của pháp hỷ, gọi là “đến tâm”.

Trên đây đã giải thích sơ lược công đức Hỷ chi.

IV- AN

Kinh ghi: “Nếu Thân an, Tâm an, Thọ an, Thọ đối với lạc xúc, ấy gọi là An chi”.

Thân an: Tức là hiểu được tự tính của sắc thân, nên chẳng bị thân nghiệp làm dao động, thì thân được an ổn.

Tâm an: Tức là liễu đạt được tâm tính, chẳng bị tâm nghiệp làm xao động, tâm được khoái lạc.

Thọ an: Tâm có thể quán chiếu gọi là Thọ. Do biết các thọ chẳng phải thọ, nên đoạn trừ các thọ, chứng được khoái lạc an ổn.

Thọ đối với xúc lạc: Tức là hai thứ khoái lạc ở thế gian và xuất thế gian, do tâm cảm thọ đối với khoái lạc.

V- ĐỊNH

Kinh ghi: “Nếu Tâm trụ, Đại trụ, Chẳng loạn khi đối duyên, Chẳng lầm, Chẳng có điên đảo, ấy gọi là Định”.

Tâm trụ: Tức là an trụ trong thiền định thế gian, chuyên trì giữ tâm không tán loạn.

Đại trụ: Trụ trong Chân như, tức là thiền định xuất thế gian, an trụ trì giữ tâm không tán loạn.

Chẳng loạn khi đối duyên: Chỉ nhất tâm an trụ, có thể phân biệt các tướng ở thế gian mà tâm không bị tán loạn.

Chẳng lầm: Biết rõ Chân như, nên đối với pháp hư dối không còn khởi tâm chấp trước.

Chẳng có điên đảo: Nếu tâm chấp thiên lệch về các pháp tướng ở thế gian, tức là chấp theo chỗ thấy Có mà trầm luân trong sinh tử, không thể giải thoát được. Nếu tâm chỉ thiên chấp về tướng Chân như, tức là chấp theo chỗ thấy Không, phá bỏ thuyết nhân quả của thế gian, chẳng tu pháp lành, đây chính là sự sai lầm rất đáng sợ. Hành giả đã khéo thông đạt đạo lý Chân đế và Tục đế, nên có thể xa lìa hai thứ tà kiến.

Lại nữa, nếu hàng Nhị thừa chứng được tâm này, phá trừ bốn thứ tri kiến điên đảo: (Thường, lạc, ngã, tịnh) của thế gian, nên gọi là “Bất điên đảo”. Nếu là bậc Bồ-tát chứng được định này có thể phá trừ tám thứ điên đảo, đó là bốn thứ kiến chấp thế gian và bốn thứ kiến chấp của hàng Nhị thừa, nên gọi là “Bất điên đảo”.

Hành giả khi mới thành tựu Giác chi, biết thân và hơi thở chẳng thật, giống như những bẹ cây chuối. Nay được nhất tâm an trụ, thì thành tựu Định chi. Khi tâm đã tịch lặng, rỗng rang và vi tế, liền nhận biết tướng hơi thở và sắc thân này vốn không thật, chẳng khác nào đống bọt nước.

Trên đây đã giới thiệu sơ lược pháp hành của hành giả căn cơ bậc hạ, tu chứng được Sơ thiền của Thông minh quán.

*

Chú thích Quyển 8:

(1) Thành Thật Luận: Luận 16 quyển do ngài Ha-lê-bạt- ma (Harivarman) soạn, ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào khoảng năm 411-412 đời Dao Tần, được xếp vào Đại chính tạng, tập 32. Đây là kinh điển căn bản của Tông Thành Thật. “Thành thật” nghĩa là “Thành sự thật Tứ đế”. Kiến giải của luận này, tức cho rằng diệt hết ba tâm: Giả danh, Pháp và Không, thì đạt đến cảnh giới Niết-bàn. Lập trường của luận này là y cứ vào Nhị thế (quá khứ, vị lai) vô luận, Tính bản bất tịnh luận, Vô ngã luận, đồng thời chủ trương Nhân, Pháp đều Không. Giáo thuyết toàn luận chẳng những bao trùm các giáo lý quan trọng của Phật giáo bộ phái (Phật giáo Tiểu thừa) mà còn bao hàm kiến giải Đại thừa.

(2) Tứ vi còn gọi là Tứ trần: sắc, hương, vị, xúc. Nếu hợp với Tứ đại gọi là (Bát sự câu sinh) tạo thành cơ thể con người.

(3) Sát-na: thời gian rất ngắn như giây lát, phút chốc.

Có nhiều thuyết khác nhau, theo Luận Đại Trí Độ thì 1 khảy móng tay có 60 sát-na. Theo Phẩm Quán Không trong Kinh Nhân Vương thượng, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch, 1 sát-na có 900 lần sinh diệt.

2. TRUNG CĂN TU CHỨNG SƠ THIỀN

*2/ Nghĩa thế gian

Nói về bậc trung căn tu chứng năm chi của Sơ thiền. Chia làm hai phần:

A. Giải thích nghĩa thế gian

B. Giải thích nghĩa thành giác

A. GIẢI THÍCH NGHĨA THẾ GIAN

Chia làm hai ý:

I- Ngoại thế gian

II- Nội thế gian

I- NGOẠI THẾ GIAN

Chia làm ba phần:

1. Nhân duyên căn bản thế gian

2. Tính tương quan giữa Nội thế gian và Ngoại thế gian

3. Vương pháp chính trị trong thân

1. Nhân duyên căn bản thế gian

Khi hành giả mới chứng được Sơ thiền, đã chứng kiến tướng thân tâm của căn bản thế gian, lúc này có người được thấy đạo, hoặc chưa thấy đạo. Nay hành giả muốn biết rõ quả báo thân tâm của đời này phát sinh như thế nào. Lúc này hành giả an trụ trong chánh định, trí tuệ rất sáng suốt, nhạy bén, quán Tứ đại, Ngũ ấm và 36 vật ở nội thân. Trong thâm tâm hành giả nguyện ước, muốn biết nguyên nhân vì sao có thân này. Do sức tam- muội, trí tuệ, phước đức, thiện căn, hành giả liền tự biết rõ thân mạng của mình, đều do nghiệp lực trì giữ năm giới của đời trước mà có được.

Khi còn ở thân trung ấm, nghiệp lực này chẳng đoạn chẳng diệt. Trong lúc cha mẹ giao hợp, nghiệp lực biến thành Thức, thức chấp vào tinh huyết kết hợp của cha mẹ, lớn bằng hạt đậu cho đó là thân của mình. Tâm thức gá vào trong vật này, liền có đầy đủ thân căn, mạng căn, tâm thức. Trong tâm thức có đầy đủ tính của Ngũ thức (5 thần). Vật này cứ bảy ngày biến đổi một lần, mới đầu giống như váng sữa, từ từ lớn dần như quả trứng gà, do nhân duyên nghiệp lực nên cấu tạo thành thân này.

Trước tiên lấy Ngũ tạng trong thân, sắp xếp cho Ngũ thức. Lúc này hành giả biết là do giữ giới sát nên tạo thành tạng Gan trong thân, Hồn nương nơi đây. Do giữ giới không trộm cướp, nên tạo thành tạng Thận ở trong thân, Chí nương nơi đây. Do giữ giới không dâm dục, nên tạo thành tạng Phổi trong thân, Phách nương ở đây. Do giữ giới không vọng ngữ, nên tạo thành tạng Lách trong thân, Ý nương ở đây. Do giữ giới không uống rượu nên tạo thành tạng Tim trong thân, Thần nương ở đây.

Năm thứ thần: Hồn, Chí, Phách, Ý, Thần cũng còn gọi là Ngũ thức, khi nhà cửa Ngũ tạng đã xây dựng xong thì thần thức có chỗ nương náu, khi có chỗ nương rồi thì cần được nuôi dưỡng. Nghiệp lực ngũ giới, có công năng biến hóa ra thần khí và lục phủ (6 phủ) trong cơ thể, lục phủ có công năng nuôi dưỡng Ngũ tạng và toàn thân.

Phủ nghĩa là chỗ nương tựa. Mật là phủ của Gan, có công năng chứa nước thành khí tưới mát cho Gan; Tiểu tràng (ruột non) là phủ của Tim, tim màu đỏ tiểu tràng cũng màu đỏ, tim đưa dẫn khí huyết, tiểu tràng cũng thông khí huyết, tưới mát cho tim, đưa máu khắp thân thể; Đại tràng (ruột già) là phủ của Phổi, phổi màu trắng nên đại tràng cũng màu trắng, Đại tràng có công năng bài trừ những tạp vật để làm lợi ích cho Phổi; Bao tử là phủ của Lách, bao tử màu vàng, lách cũng màu vàng, bao tử có tác dụng tiêu hóa thức ăn, màu vàng thông khắp các tạng phủ; khí của Lách có khả năng thâm nhập vào tứ chi; Bàng quang là phủ của Thận, thận màu đen bàng quang cũng màu đen, Bàng quang đưa khí ướt tưới tẩm cho Thận, có tác dụng lợi tiểu khiến ruột được vận hành.

Tam tiêu(1) hợp thành một Phủ, mỗi cái đều có tác dụng riêng. Thượng tiêu chủ về nước bọt, thuộc khí sạch ấm. Trung tiêu chủ về thông huyết mạch, thuộc khí của tinh thần. Hạ tiêu chủ thông về Đại tiện, công dụng của tam tiêu làm lợi ích cho thân khí ở trên và dưới.

Thần thức của Ngũ tạng chia ra đối trị Lục phủ. Khí của lục phủ lại hình thành thần thức của ngũ tạng, chủ trị toàn thân. Do Phủ và Tạng nuôi dưỡng lẫn nhau mà sinh ra bảy thể: (xương, tủy, gân, ruột, máu, cơ thịt, da).

– Thận sinh ra xương và tủy, vì thận thuộc về Thủy (nước), vì trong nước có cát và đá, cát đá là ý nghĩa của xương tủy.

– Gan sinh ra gân và ruột, vì gan thuộc Mộc (cây), cây là chằng giữ cho đất, nên mộc phát sinh gân và ruột.

– Tim sinh ra huyết mạch, vì tim màu đỏ thuộc về máu, tác dụng thông thần khí, thần khí này là sự vận hành tự nhiên.

– Lách sinh ra cơ thịt, vì lách thuộc về tính Địa đại (đất) nên cơ thịt cũng thuộc về Địa đại.

– Phổi sinh ra da, vì phổi ở trên các tạng, nên da cũng nằm bề ngoài thân thể.

Đây là Ngũ tạng sinh bảy thể, cũng còn gọi là bảy chi. Phổi ví như quan Đại phu nên ở trên cao, trừ bỏ các thứ bất nhân nghĩa ở dưới. Gan ví như quan Đô úy, giữ gìn an ninh. Tim ở trung ương cung cấp các loại cần thiết. Lách ở khoảng giữa quân bình Ngũ vị(2). Thận là nơi quan trọng ở dưới, có công năng khiến tứ khí tăng trưởng.

Bảy thể hợp thành thân:

Xương làm trụ cột, Tủy làm dầu mỡ, Gân làm dây chằng, Mạch lưu thông, dùng Huyết để tưới tẩm, Thịt để bao bọc, Da để che đậy. Do những nhân duyên đó mà có thân thể, đầu, tay, chân. Xương ngoài gọi là Răng, Thịt dư thành Lưỡi, Gân dư thành móng tay, móng chân, Máu dư thành Tóc, Da thừa thành Tai, Thức thần ở trong nội thân.

Do nhân duyên trì giữ giới luật, nên năm căn của bào thai được khai nở, do “Tứ đại thanh tịnh tạo sắc(3)” biến thành năm căn. Năm căn này khi đối diện với sắc trần, dùng thức phân biệt năm thứ sắc trần, phát sinh ra ý thức, khi sắc trần diệt hết, thức quay về trong ngũ tạng. Khi 4 đại, 12 nhập, 18 giới đã thành tựu đầy đủ là Quả báo của một đời. Trên đây đã giải thích sơ lược nguyên nhân quả báo một đời và ý nghĩa căn bản thế gian.

HỎI: Nếu nói ý thức từ trong thân sinh ra, ở giữa năm căn, ý thức riêng biệt với năm trần, nghĩa này cùng với ngoại đạo có gì khác nhau?

ĐÁP: Kinh Tịnh Danh ghi: “Không xả bỏ tám thứ tà kiến mà nhập bát chánh đạo”. Cũng nói rằng: “62 thứ tà kiến là chủng tử Như Lai” ý nghĩa lời nói này thế nào? Những ý nghĩa này trong Kinh Đề Vị(4) nói rất rõ ràng, vì sao? Vì chẳng phải có người tạo tác. Nếu ý nghĩa này chưa được rõ ràng, đến phần sau sẽ giảng rõ.

2. Tính tương quan giữa Nội thế gian và Ngoại thế gian

Khi hành giả dùng tam-muội, trí tuệ và sức phát nguyện, nhất tâm quán sát thân này, biết thân này cùng với thế gian và vũ trụ có sự tương quan lẫn nhau. Vì sao? Vì hình tướng của thân có thể ví như vũ trụ: đầu tròn ví dụ là Trời, chân bằng ví như Đất, chỗ trống trong thân ví như Hư không, hơi ấm trong bụng ví như mùa Xuân mùa Hạ, chất cứng của xương lưng giống như mùa Thu, Đông, 4 chi của thân là bốn mùa, 12 đốt xương lớn là 12 tháng, 360 đốt xương nhỏ là 360 ngày.

Mũi miệng đưa hơi thở ra vào, như gió trong các hang động, ao hồ trong núi thổi ra, con mắt ví như mặt trăng, mặt trời, khi nhắm mắt là ban đêm, mở mắt là ban ngày. Tóc là sao mai, mi mắt là sao bắc đẩu. Huyết mạch là những sông ngòi, Xương cốt là đá ngọc, Da thịt là đất, Lông là rừng cây.

Ngũ tạng trong thân, giống như Ngũ tinh(5) trên trời, Ngũ nhạc(6) dưới đất, âm dương Ngũ hành(7), Ngũ đế(8) ở thế gian. Ngũ tạng là năm thần thức, là năm đức tu hành, vận hành của Bát quái(9), là Ngũ hình(10) trị tội, năm thức là năm vị quan, có thể thành năm đám mây biến thành năm rồng. Tim là chim Khổng tước, Thận là rùa Huyền vũ, Gan là Rồng xanh, Phổi là Hổ trắng, Lách là Câu trần. Năm loài chúng sinh này, thâu nhiếp toàn bộ các loài cầm thú ở thế gian. Cũng biểu thị cho năm tính (ngũ âm): Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ(11), vì tất cả muôn vạn tính, cũng đều bao hàm trong đó.

Đối với kinh sách đó là Ngũ kinh(12), vì tất cả sách vở đều từ Ngũ kinh mà ra. Nếu đối với công xảo tức là Ngũ minh(13), Lục nghệ(14), vì tất cả kỹ thuật công nghệ đều bao hàm trong đó. Nên biết thân này tuy nhỏ, nhưng ý nghĩa lại cùng trời đất tương ưng, sắc thân này không chỉ là năm ấm thế gian, mà cũng là quốc độ thế gian.

3. Vương pháp (pháp luật) chính trị trong thân

Hành giả ở trong Tam-muội, do nguyện lực và trí tuệ, nhận biết trong thân: Tim là vị Đại vương, dùng nhân nghĩa trị thiên hạ, ngự ở trong cung, có quân hộ vệ hai bên; Phổi là quan Tư Mã; Gan là quan Tư Đồ; Lách là quan Tư Không; Thận là biển cả, trong biển có rùa thần hít thở nguyên khí, có thể hô mây hoán vũ, đưa hơi khí vào khắp tứ chi; Tứ chi là nhân dân, bên phải là quan Tư mạng, bên trái là quan Tư lục(15), chủ quản tính mạng muôn dân, Thái nhất quân(16) ở chính giữa, cũng là người trụ cột. Thiên đại tướng quân bảo vệ Vua, chủ quản ngàn vạn đại thần trong thân. Thái nhất quân có tám vị sứ giả cùng cộng tác, xưng là Cửu khanh(17).

Hai bên tam tiêu, bên tả là Xả, bên hữu là Ấp, chủ quản gian tặc. Thượng tiêu đưa hơi khí lên đỉnh đầu, Trung tiêu là tông miếu, cung điện, Vua ngự trong đó, trị dân trị nước.

Nếu tâm vua thực hành đúng chánh pháp, bầy tôi liền tuân theo, nền chính trị được thanh bình. Do đó ngũ tạng điều hòa, lục phủ thông suốt, thích hợp, tứ đại an ổn, không có các bệnh tật phiền não, được thọ hưởng lâu dài.

Nếu tâm vua hành phi pháp, thì quần thần làm loạn, giết hại lẫn nhau, do tâm hành điều xấu ác khiến tứ đại không điều hòa, các căn đều bị bế tắc, cuối cùng phải ôm bệnh mà chết.

Kinh nói: “mất Hồn tức loạn, mất Phách tức cuồng, mất Ý thì mê, mất Chí thì quên, mất Thần thì chết”. Nên biết lập vương pháp chính trị của thế gian, cũng là pháp trong thân thể, đạo lý này trong Kinh Đề Vị nói rất rõ ràng.

II- NỘI THẾ GIAN

Phần trước nói nghĩa tương quan ngoại thế gian. Vì sao? Trước khi Phật chưa ra đời, các bậc thần tiên có trí thế gian cũng thông đạt pháp này, gọi là nghĩa tương đối, nên trước là nói về nghĩa ngoài thế gian vậy. Các vị Thần Tiên tuy là thế trí biện thông(18), có khả năng thông đạt pháp thế gian. Nếu trụ nơi phân biệt này, cũng chỉ là tâm vọng tưởng, không thấy được pháp chân thật, đối với Phật pháp chưa phải là bậc Thánh nhân, họ vẫn còn là phàm phu, luân hồi trong tam giới, 25 cõi, chưa thoát khỏi sinh tử. Nếu họ giáo hóa chúng sinh, chỉ gọi là Cựu y, cũng gọi là thầy thuốc thế gian. Nên Kinh Niết Bàn nói: “Cách trị bệnh của thầy thuốc thế gian, bệnh lành rồi lại phát. Nếu Như Lai trị bệnh, khi lành bệnh sẽ không tái phát”. Ý này phần sau sẽ nói rõ.

Nay giải thích nghĩa Nội thế gian, tức là sau khi Như Lai xuất thế, giảng rộng nội dung ý nghĩa danh tự của nhiều pháp môn, để hóa độ chúng sinh. Hành giả ở trong định, nội tâm muốn hiểu được tướng tương đối và cốt yếu của giáo lý Như Lai, do sức thiện căn, tam-muội và trí tuệ liền biết phương tiện. Vì sao? Như Phật nói ý nghĩa của 5 giới là đối với 5 tạng, như đã nói ở trước. Như 4 đại, 5 ấm, 12 nhập, 18 giới, Tứ đế, 12 nhân duyên, thảy đều ở trong thân thể.

Nghe nói đến Tứ đại liền biết ý nghĩa đối với Ngũ tạng, như Phong đại đối Gan, Hỏa đại đối Tim, Thủy đại đối Thận, Địa đại đối Phổi, Lách.

Nghe nói Ngũ ấm liền biết là đối Ngũ tạng: Sắc ấm đối Gan, Thức ấm đối Lách, Tưởng ấm đối Tim, Thọ ấm đối Thận, Hành ấm đối Phổi, tuy không sắp đặt danh từ theo thứ lớp, mà ý nghĩa lại có tương quan lẫn nhau.

Nếu nghe nói đến 12 nhập, 18 giới cũng biết là đối với Ngũ tạng, ý nghĩa 10 nhập, 15 giới, suy xét tự có thể thấy. Nhị nhập và Tam giới thì cần phân tích thêm.

– Toàn bộ năm thức đều thuộc về Ý nhập giới.

– Năm trần ở ngoài và pháp trần ở trong là Pháp nhập giới, đây gọi là Nhị nhập và Tam giới có sự tương quan qua lại lẫn nhau.

– Khi năm thức mới sinh, gọi là năm căn, năm căn tiếp xúc pháp trần ở ngoài phát sinh ý thức, gọi là Ý thức giới.

Hoặc nghe nói đến năm căn biết là đối năm tạng: Ưu buồn là đối gan, Khổ não đối tim, Hỷ đối phổi, Lạc đối Thận, Xả đối Lách.

Nguyên nhân năm căn và tam giới cũng có liên quan, như Ưu buồn đối Dục giới, Khổ đối Sơ thiền, Hỷ đối Nhị thiền, Lạc đối Tam thiền, Xả đối Tứ thiền, cho đến Tứ không định cũng đều gọi Xả câu thiền. Nên biết tam giới cũng là ngũ tạng, ý nghĩa có sự tương quan.

Hoặc nghe nói đến Tứ sinh (4 loài chúng sinh: thai, thấp, hóa, noãn) cũng biết có liên quan đến ngũ tạng, vì Dục giới có đủ ngũ căn, ngũ căn lại liên quan với ngũ tạng, ngũ tạng lại cùng tứ đại tương quan, tứ đại đối tứ sinh. Tất cả loài sinh bằng trứng (noãn sinh) phần nhiều thuộc về tính Phong đại, nên thân có thể bay lên. Tất cả loài sinh nơi ẩm ướt (thấp sinh) thuộc về tính Thủy đại, vì thân sinh ra từ chỗ ướt. Các loài sinh bằng thai (thai sinh) phần nhiều thuộc về tính Địa đại, vì thân nặng trì trệ. Các loài biến hóa (hóa sinh) phần nhiều thuộc về tính Hỏa đại, vì bản thể của Hỏa (lửa) từ Không mà bỗng nhiên có, đồng thời Hỏa cũng phát ánh sáng.

Như Lai vì muốn hóa độ bốn loài chúng sinh trong tam giới, nên giảng nói pháp Tứ đế, 12 nhân duyên, Lục độ ba-la-mật, phải biết ba pháp này là những viên thần dược, để đối trị ngũ tạng, ngũ căn, ngũ ấm của chúng sinh.

Vì sao? Khi Phật giảng nói về lý Nhất tâm và Tứ đế, nên biết Tập đế đối với tạng Gan, là nhân mới bắt đầu sinh khởi. Khổ đế đối Tim vì quả khổ đã thành tựu. Đạo đế đối Phổi vì kim cương có thể cắt đứt. Diệt đế đối Thận vì mùa đông tàng trữ, từ có biến hoại thành không. Nhất tâm là đối Lách, vì có thể khai thông Tứ đế, cho đến 12 nhân duyên và Lục ba-la-mật, nếu hành giả suy xét có thể hiểu vậy.

Ba thứ pháp tạng này, bao hàm tất cả các giáo lý của Như Lai, cho nên nếu tâm hành giả sáng suốt, nhạy bén, quán xét thân tướng của mình, có thể hiểu rõ tất cả danh và nghĩa trong Phật pháp.

Nên Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hiểu rõ thân này, tức là thông đạt tất cả”. Đây là nói về trường hợp ý nghĩa thế gian và nội thân có sự tương quan lẫn nhau. Do hàm ý trong đó rất thâm thúy vi tế, không nên nói với người chưa ngộ.

B. GIẢI THÍCH Ý NGHĨA THÀNH GIÁC

Giác cũng có ba phẩm: Hạ, Trung, Thượng.

I- GIÁC, ĐẠI GIÁC CỦA HẠ PHẨM

– Giác: hành giả trụ trong thiền định, nội tâm vắng lặng, biết rõ ý nghĩa tướng nội thế gian và ngoại thế gian, phân biệt mỗi thứ danh nghĩa bất đồng, tức là tướng riêng biệt khác nhau, nên gọi là “giác ngộ nghĩa thế gian”. Biết rõ nghĩa thế gian nên gọi là Giác.

– Đại giác: biết tất cả danh nghĩa ngoài thế gian, tuy khác nhau nhưng không có thật thể, chỉ nương theo ngũ tạng mà có. Như nhân nơi tạng Gan, nói là do trì giới bất sát. Các pháp như: Sao Mộc, Thái sơn, Thanh sắc, Mộc, Hồn, Nhãn thức, Nhân, Mao, Giác tính, Chấn động v.v… chẳng khác gì Gan. Ý nghĩa của Gan cũng chẳng khác các pháp Bất sát (không sát sanh) v.v… tức là Như, nên gọi là Đại giác. Hành giả biết các pháp vốn là Như, bốn tạng còn lại ý nghĩa cũng vậy.

II- GIÁC, ĐẠI GIÁC CỦA TRUNG PHẨM

– Giác: Hành giả biết tạng Gan tuy là giống như các pháp Bất sát v.v… Nhưng Gan chẳng phải

là các tạng: Phổi, Thận, Tim, Lách v.v… hành giả biết rõ sự sai biệt trong đó, nên gọi là Giác.

– Đại giác: Hành giả biết các pháp và tạng Gan v.v… là vô thường sinh diệt, bốn tạng còn lại, cũng vô thường sinh diệt, đây gọi là Đại giác.

III- GIÁC, ĐẠI GIÁC CỦA THƯỢNG PHẨM

– Giác: Hành giả biết các pháp như: Gan v.v…

có tám tướng riêng biệt, gọi là Giác.

– Đại giác: Hành giả biết rõ các pháp như: Gan v.v… vốn là rỗng lặng, chẳng có tướng sai khác, đây gọi là Đại giác.

Phân biệt Giác, Đại giác và tướng thế gian, xuất thế gian, tuy nhiên đồng với ở trước, mà cũng có chỗ bất đồng, nếu hành giả nghiên cứu kỹ sẽ thấy.

Kế tiếp là giải thích ý nghĩa Tư duy và Đại tư duy, Quán đối tâm tính, cũng đại khái như đã nói ở trước. Trên đây là giới thiệu sơ lược Giác chi của Sơ thiền và nghĩa thế gian. Còn các pháp như: Quán, Hỷ, An, Định v.v… cũng phân tích như thế.

*

Chú thích Quyển 8B:

(1) Tam tiêu: danh từ đông y, nói về 3 vị trí trên cơ thể con người: Thượng tiêu (miệng trên của dạ dày), Trung tiêu (phần giữa dạ dày) và Hạ tiêu (miệng trên bàng quang).

(2) Ngũ vị: ngọt, chua, đắng, cay, mặn.

(3) Tứ đại thanh tịnh tạo sắc: (thuộc về Thể đại) Tứ đại: 4 yếu tố tạo thành vật chất (sắc pháp) nên tứ đại còn gọi là Sắc năng tạo, các sắc pháp được tạo thành thì gọi là Tứ đại sở tạo, chữ Đại có 3 nghĩa:

1/ Thể đại: thể tính tứ đại trùm khắp tất cả sắc pháp.

2/ Tướng đại: hình tướng tứ đại rộng lớn, như núi, biển, gió, lửa. 3/ Dụng đại: công dụng rộng lớn của tứ đại, như Tam tai.

(4) Kinh Đề Vị (Đề Vị Ba Lợi Kinh, Đề Vị Ngũ Giới Kinh

– trích 1491 tđphhq): kinh gồm có 2 quyển, do Ngài Đàm Tĩnh soạn vào thời Bắc Ngụy (Trung Quốc). Nội dung kinh này nói về việc sau khi thành đạo, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển, giữa đường Ngài thuyết Ngũ giới, Thập thiện cho 500 thương nhân như Đề-vị Ba-lợi v.v… nghe. Ông Đề-vị chứng được Bất khởi pháp nhẫn, 200 thương nhân được Nhu thuận pháp nhẫn, 300 thương nhân được quả Tu- đà-hoàn. Kinh này thất lạc nên không lưu truyền, nhưng nhờ các sách trích dẫn rất nhiều nên có thể biết được nội dung của kinh.

(5) Ngũ tinh: tên của 5 ngôi sao quan trọng: Kim tinh, Mộc tinh, Thủy tinh, Hỏa tinh, Thổ tinh.

(6) Ngũ nhạc: 5 hòn núi tiêu biểu cho 5 phương của

Trung Quốc. Hoắc sơn (Nam nhạc) Hoa sơn (Tây nhạc) Hằng sơn (Bắc nhạc) Thái sơn (Đông nhạc) Tung sơn (Trung nhạc).

(7) Ngũ hành: (hành là chuyển vận) 5 chất: kim, mộc, hỏa, thủy, thổ. Năm thứ này chuyển vần tương sinh tương khắc lẫn nhau.

(8) Ngũ đế: 5 vị vua ngày xưa ở Trung Quốc, có hai thuyết: một thuyết gọi Thái Hiệu, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hiệu, Chuyên Húc. Còn một thuyết thì nói: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là ngũ đế (tđhvtn).

(9) Bát quái: tám quẻ. Chữ do Phục Hy đặt ra và gồm có 8 dấu hiệu: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài.

(10) Ngũ hình: 5 phương thức để trừng phạt kẻ phạm tội ngày xưa đại khái như: đánh bằng roi, gậy, xử tử, đày, nhốt một nơi kín.

(11) Lục nghệ: sáu tài nghệ mà những kẻ trí thức ngày xưa cần phải biết: Lễ, Nhạc, Xạ (bắn) Ngự (cầm cương xe) Thư (viết chữ đẹp) Số (tính toán).

(12) Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ: là 5 âm chính trong âm nhạc.

(13) Ngũ minh: 5 môn học ở Ấn Độ thời cổ: 1/ Thanh minh: Môn học ngôn ngữ văn chương. 2/ Công xảo minh: Công nghệ kỹ thuật, lịch toán. 3/ Y phương minh: Môn y dược, chú pháp. 4/ Nhân minh: Môn lý luận.

5/ Nội minh: Nội điển, tông chỉ của tông phái mình.

(14) Ngũ kinh: 5 bộ sách quan trọng của Trung Quốc mà các nhà Nho dùng để học hay nghiên cứu: Kinh dịch, Kinh thơ, Kinh thi, Kinh lễ, Kinh xuân thu.

(15) Tư đồ, Tư không, Tư mạng, Tư lục: những chức quan ở Trung Quốc thời Đường, Ngu. Trông coi về nghi lễ, ghi chép, tương đương Bộ trưởng thời nay.

(16) Thái nhất quân: Thái là rất lớn, Quân là vua, mẹ vua là Thái hậu, cứ lên một tầng là thêm một chữ Thái.

(17) Cửu khanh: 9 chức quan khanh đời xưa Trung Quốc gồm có: Trủng tể, Tư đồ, Tôn bá, Tư mã, Tư khấu, Tư không, Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo.

(18) Thế trí biện thông: trí thông minh lanh lợi về mặt thế tục của hàng phàm phu, là 1 trong 8 nạn. Hàng phàm phu chỉ thích học theo kinh sách ngoại đạo, không tin nhận chánh pháp xuất thế, trở thành chướng ngại cho việc tin hiểu Phật pháp và tu thiền định xuất thế. Cũng có người cho rằng Thế trí biện thông là giàu kiến thức thế gian, giỏi luận biện, khéo xử thế. Trong Đại thừa nghĩa chương 8 (Đại 44, 629 thượng) ghi: “Vì Thế trí biện thông chỉ làm tăng thêm điều ác cho nên gọi là Nạn, tà kiến này trái với chánh đạo”.

3. THƯỢNG CĂN TU CHỨNG SƠ THIỀN

*3/ Sự thế gian

Khi hành giả ở trong định Sơ thiền, chứng được Lục thần thông, thấy sự việc ở thế gian rất rõ ràng phân minh, như xem thấy trái xoài trong lòng bàn tay. Đây là mắt thấy những sự việc hiện tiền, chẳng đồng như nói ở trước. Lấy nghĩa này mà suy ngẫm so sánh để phân biệt sự thế gian.

Giải thích Sự thế gian, chia làm hai ý:

A. Thấy sự tướng của thế gian

B. Ý nghĩa thành tựu năm chi giác quán

A. THẤY SỰ TƯỚNG CỦA THẾ GIAN

Hành giả bậc thượng căn, do phước đức và trí tuệ đều sáng suốt linh lợi, khi chứng Sơ thiền, có hai nguyên nhân chứng được năm thứ thần thông đó là Tự phát và Tu đắc.

I- TỰ PHÁT

Khi hành giả chứng nhập Sơ thiền, quán sát kỹ ba việc thế gian: hơi thở, thân và tâm, thì có thể thông đạt tướng nghĩa thế gian. Khi hiểu biết nghĩa thế gian, trí tuệ chánh định của hành giả càng thêm thâm sâu và linh lợi, do đó thần thông liền khai phát. Lúc này hành giả được Tứ đại thanh tịnh của Sắc giới tạo thành nhãn căn. Dùng tâm nhãn thanh tịnh có thể nhìn thấy thấu triệt tất cả sắc pháp khắp mười phương, phân biệt những sự tướng rất rõ ràng, tâm không loạn động, gọi là Thiên nhãn thông. Còn Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông v.v… cũng lại như thế.

Khi hành giả chứng được năm thần thông, có thể thấy rõ tất cả sắc và tâm của ba đời khắp cả mười phương, và sự sai biệt bất đồng của các cảnh giới, thấy những chủng loại chúng sinh chẳng đồng, cõi nước cũng khác nhau. Đây gọi là dị kiến sự thế gian. Nên kinh có nói: “Thâm tu thiền định, được ngũ thần thông”.

II- TU ĐẮC

Nghĩa là chứng được năm thứ thần thông thấy sự thế gian, trong Kinh Đại Tập nói: “Pháp hành Tỳ-kheo, chứng được Sơ thiền, sau khi nhập thiền định muốn được Thần túc thông, nên tu pháp Sổ tức, trụ tâm nơi chóp mũi, quán hơi thở ra vào, thấy rõ hơi thở vào ra nơi 99.000 lỗ chân lông, thấy thân thể rỗng suốt, cho đến Tứ đại cũng đều rỗng không. Do quán chiếu như thế, nên xa lìa sắc tướng, chứng được Thần túc thông. Cho đến Tứ thiền cũng đều như thế”.

– Thế nào là Pháp hành của Tỳ-kheo tu được Thiên nhãn thông? Nếu có Tỳ-kheo khi chứng được Sơ thiền, quán hơi thở ra vào, thấy sắc pháp chân thật. Sau khi thấy sắc pháp, lại suy nghĩ rằng: “Ta muốn thấy các sắc pháp cả ba đời”, do ý mong muốn được trông thấy thì liền thấy, cho đến Tứ thiền cũng lại như thế.

– Thế nào là Pháp hành Tỳ-kheo tu được Thiên nhĩ thông? Này Kiều Trần Như, nếu có Tỳ-kheo chứng được Sơ thiền, quán hơi thở ra vào, lại quán âm thanh, cho đến Tứ thiền cũng lại như thế.

– Thế nào là Pháp hành Tỳ-kheo tu được Tha tâm thông? Nếu có Tỳ-kheo quán hơi thở ra vào, khi chứng được Sơ thiền, tu Xa-ma-tha (Chỉ) Tỳ-bà-xá-na (quán), ấy gọi là Tha tâm trí, cho đến Tứ thiền cũng lại như thế.

– Thế nào là Pháp hành Tỳ-kheo tu được Túc mạng thông? Này Kiều Trần Như, nếu có Tỳ-kheo quán hơi thở ra vào, khi được Sơ thiền, liền chứng Thiên nhãn thông. Sau khi được Nhãn thông rồi, dùng Thiên nhãn quán từ khi mới có “Ca-la-la(1)” ở bào thai và quán sự sinh diệt của năm ấm, cho đến Tứ thiền cũng như thế”.

Sau khi chứng được năm thứ thần thông, có thể thấy được mười phương ba đời, chúng sinh phàm phu và Thánh nhân trong chín đường, chủng loại và cõi nước đều có hình tướng khác nhau. Đây gọi là tu đắc thần thông, thấy sự thế gian thông đạt vô ngại.

B. Ý NGHĨA THÀNH TỰU NĂM CHI GIÁC QUÁN

Giải thích Giác, chia làm ba phẩm:

I- Hạ phẩm Giác và Đại giác

II- Trung phẩm Giác và Đại giác

III- Thượng phẩm Giác và Đại giác

I- HẠ PHẨM GIÁC VÀ ĐẠI GIÁC

– Giác: dùng Thiên nhãn thông thấy thấu suốt các sắc tướng, phân biệt các chủng loại chúng sinh

chẳng phải một, những cõi nước cũng có sai biệt bất đồng, danh từ khác nhau, nên gọi là Giác.

– Đại giác: Giác ngộ tất cả sở hữu của thế gian chỉ là hư giả, quán sát kỹ Tứ đại đều không và thấy thế gian có sự sai biệt khác nhau, hành giả thấy rất rõ ràng nên gọi là Đại giác. Bốn thứ thần thông khác cũng như thế.

II- TRUNG PHẨM GIÁC VÀ ĐẠI GIÁC

– Giác: dùng Thiên nhãn thông thấy sắc tướng của Tứ đại, liền biết tự tính mỗi đại đều khác nhau, nên gọi là Giác.

– Đại giác: biết rõ Tứ đại là vô thường sinh diệt, bản tính không có sai biệt, nên gọi là Đại giác. Bốn thứ thần thông còn lại cũng như thế.

III- THƯỢNG PHẨM GIÁC VÀ ĐẠI GIÁC

– Giác: dùng Thiên nhãn thông, thấy rõ pháp vô thường có tám tướng (sanh, diệt, nhất, dị, có, không v.v…) khác nhau, gọi là Giác.

– Đại giác: giác ngộ tám tướng xưa nay vốn là rỗng lặng, một tướng cũng không có, nên gọi là Đại giác. Bốn thứ thần thông khác cũng như thế.

Đây là nói dùng năm thứ thần thông để thấy Giác và Đại giác của sự thế gian. Trường hợp tư duy, đại tư duy, quán đối với tâm tính và tướng thành tựu Giác chi cũng đại khái như đã giải thích ở trên vậy.

Bốn chi như: Quán, Hỷ, An, Định cũng phân biệt mỗi thứ đều như thế.

Hành giả nên biết, nếu hàng Thanh văn, Duyên giác chứng được thiền này, nương nơi định này mà chứng được: Bất hoại giải thoát, Vô ngại giải thoát, Tam minh, Lục thông, nên gọi là Thông minh quán.

Nếu hàng Bồ-tát Đại Sĩ an trụ ở thiền này, liền chứng được Vô ngại Đà-la-ni(2), cho đến Tứ thiền cũng lại như thế.

NHỊ THIỀN

Khi thâm nhập vào Nhị thiền cho đến định Phi tưởng Phi phi tưởng, Diệt tận định, cảnh giới càng sâu và huyền diệu, sự tướng rất nhiều, không thể nói hết được. Nay chỉ trích trong kinh điển để giải thích những ý chính mà thôi. Kinh ghi: “Nhị thiền cũng còn gọi là Ly, cũng gọi là Cụ. Ly là xa lìa ngũ cái, Cụ là đầy đủ cả ba chi: Hỷ, An, Định”.

Giải thích

Hành giả trụ ở tâm cuối của Sơ thiền, do nhàm chán giác và quán của Sơ thiền làm tán động tâm, nên muốn nhiếp tâm vào định, buông bỏ giác quán. Biết các tầng thiền trước đều chẳng thật, quán kỹ ba pháp: Hơi thở, Sắc và Tâm, nhất tâm trụ vào đó, giác quán tự diệt, nội tâm thanh tịnh liền phát Đại hỷ tam-muội, trong định hành giả thấy thân thể như bọt nước, tức là thành tựu Nhị thiền.

TAM THIỀN

– Kinh ghi: “Tam thiền cũng gọi là Ly, cũng gọi là Cụ, Ly là xa lìa ngũ cái, Cụ là đầy đủ năm chi: Niệm, Xả, Huệ, An, Định”.

Giải thích

Sau khi hành giả chứng Nhị thiền, nhàm chán tâm vui mừng tán động, nên nhiếp tâm buông bỏ. Hành giả cũng biết các tầng thiền trước đều chẳng thật, do nhất tâm quán sát, niệm vui mừng diệt mất, liền phát sinh cảm giác an lạc cả toàn thân, trong định hành giả thấy sắc thân như mây nổi, tức là thành tựu Tam thiền.

TỨ THIỀN

– Kinh ghi: “Tứ thiền còn gọi là Ly, cũng gọi là Cụ. Ly là xa lìa ngũ cái, Cụ là đầy đủ bốn chi: Niệm, Xả, Bất khổ bất lạc, Định”.

Giải thích

Sau khi chứng được Tam thiền rồi, thì nội tâm hành giả nhàm chán cảnh giới khoái lạc, nên nhất tâm buông bỏ. Cũng biết Tứ thiền vốn chẳng thật, quán sát tự tính của ba pháp (hơi thở, sắc, tâm), mà được rỗng rang thanh tịnh, sáng suốt, trí tuệ tam-muội cùng xả đồng thời phát sinh, nội tâm không vui mừng, cũng chẳng có niệm ác, hành giả chánh tâm an trụ trong định này, thấy rõ thân thể như hình bóng, tức là thành tựu Tứ thiền.

ĐỊNH HƯ KHÔNG XỨ

– Kinh ghi: “Quán nhàm chán sắc thân, xa lìa thân tướng và tất cả thân xúc, hỷ xúc, lạc xúc. Phân biệt sắc tướng, xa lìa sắc ấm, nhất tâm quán hư không vô lượng, đây gọi là Tỳ-kheo chứng đắc định Hư Không xứ”.

Giải thích: chia làm hai nghĩa:

1. Quán chung thiền định bậc thấp và cao

Kinh ghi: “Quán nhàm chán sắc thân, xa lìa thân tướng”. Nghĩa là biết rõ thân của Dục giới tội lỗi rất nhiều, các phần thân thể đều không thật. Ba thứ cảm xúc: “thân xúc, hỷ xúc, lạc xúc” là để đối xứng Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, suy xét pháp đối này có thể thấy rõ.

“Phân biệt sắc tướng” nghĩa là phân biệt sắc thân của Dục giới, cho đến sắc pháp của Tứ thiền, mỗi một thứ đều khác nhau và chẳng thật, đồng thời cũng biết rõ định Hư không cũng chưa lìa khỏi sắc pháp.

“Xa lìa sắc ấm, nhất tâm quán hư không vô lượng” như nói trong căn bản thiền, sau khi diệt ba thứ sắc pháp liền cùng hư không tương ưng.

2. Quán từ định Hư không xứ trở lên

“Quán nhàm chán sắc thân, xa lìa thân tướng”, tức là nhàm chán sắc thân như bóng như hình, che đậy ngăn chướng tâm niệm. Quán sắc thân như bóng này cũng là không vậy. Ba thứ cảm xúc nơi thân thể: Thân, Hỷ, Lạc cùng Hỷ căn có khác nhau, vì Hỷ căn đã không còn khởi tác dụng. Đây là do sắc pháp của Tứ thiền khởi cảm xúc, nên tâm sinh ba thứ xúc vậy.

“Phân biệt sắc tướng” tức là quán sắc thân như bóng và cảm xúc Hỷ Lạc của Tứ thiền, đều là hư dối chẳng thật.

“Xa lìa sắc ấm và quán hư không vô lượng” cũng như đã nói ở trên.

ĐỊNH THỨC XỨ

– Kinh ghi: “Nếu có Tỳ-kheo tu Xa-ma-tha (Chỉ), Tỳ-bà-xá-na (Quán), quán tâm ý thức, tự biết thân này không thọ ba thứ cảm thọ, do được xa lìa ba thứ thọ này, nên Tỳ-kheo ấy chứng được định Thức xứ”.

Giải thích

“Tâm ý thức” tức là hành giả xả bỏ định Hư không, duyên nơi ba pháp: Thân, Hơi thở và Tâm, nhập vào định Thức xứ, dùng trí tuệ tam-muội thâu nhiếp tâm. Tuy biết ba pháp ấy vốn chẳng thật, vì muốn lìa bỏ định Hư không xứ, nên nhất tâm duyên nơi thức, nhập vào định Thức xứ vậy”.

Câu “Tự biết thân này, không thọ ba thứ cảm thọ”, nghĩa là tuy định Hư không xứ đã lìa xả bỏ “thân bất tịnh” trong Tứ niệm xứ là: (thân, thọ, tâm, pháp) nhưng còn ba thọ sau là (thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã) nhưng định Thức xứ thì lại duyên nơi Thức để nhập định, có khả năng lìa bỏ cả bốn thứ thọ này. Vì bốn thọ ấy đều thuộc nơi Thức, cho nên nói “Tự biết thân này, không thọ ba thứ cảm thọ”, cũng có thể nói là “không thọ Khổ, Lạc và không Khổ, không Lạc vậy”. Khi được xa lìa ba thứ thọ này, gọi là chứng cảnh giới định Thức xứ.

ĐỊNH THIỂU THỨC XỨ (VÔ SỞ HƯU XỨ)

– Kinh ghi: “Nếu có Tỳ-kheo, quán cả ba đời đều là Không, biết tất cả hành cũng sinh cũng diệt! định Hư không xứ và định Thức xứ cũng sinh cũng diệt, quán như thế rồi, lần lượt quán Thức của định Thức xứ. Nghĩ rằng: “Thức này, cũng không phải là Thức, cũng chẳng phải không phải Thức, nếu nói không phải là Thức, tức là rỗng lặng. Tại sao ta lại muốn đoạn trừ Thức này? Đây gọi là chứng được định Thiểu thức xứ”.

Giải thích

“Quán ba đời đều Không, biết tất cả các hành cũng sinh cũng diệt” tức là quán chiếu định Thức xứ và Tâm số pháp của các tầng định cao và thấp, đều là tướng hữu vi sinh diệt, hư giả chẳng thật!

“Lần lượt quán Thức”, tức là quán định Thức xứ.

“Cũng chẳng phải là thức, chẳng phải không phải là Thức”, tức là biết các pháp là Không, không thể được vậy.

“Nếu chẳng phải Thức, tức là rỗng lặng, tại sao ta lại muốn đoạn Thức này”. Đây là phương tiện dùng niệm để diệt Thức. Duyên nơi chỗ chẳng phải Thức, mà được nhập định Thiểu thức xứ vậy.

ĐỊNH PHI TƯỞNG

– Kinh ghi: “Nếu có Tỳ-kheo, có phi tâm tưởng, tự suy nghĩ: ‘Tưởng này là khổ là hữu lậu, là ung nhọt, là chẳng tịch tịnh. Nếu ta có thể đoạn trừ định Phi tưởng phi phi tưởng, mới gọi là tịch tịnh’. Nếu có Tỳ-kheo có thể đoạn trừ định Phi tưởng phi phi tưởng như thế, gọi là chứng được Vô tưởng giải thoát. Vì sao? Vì Tỳ-kheo này tư duy: Nếu có thọ tưởng, hoặc thức tưởng, xúc tưởng, không tưởng và phi tưởng phi phi tưởng v.v… cũng đều gọi là Tưởng thô. Nếu ta nay tu Vô tưởng tam-muội thì có thể đoạn dứt vĩnh viễn các Tưởng này. Do hành giả thấy định Phi tưởng Phi phi tưởng là chỗ tịch tịnh. Sau khi nhập định này rồi, do không thọ và chẳng bám chấp tất cả, nên có thể phá trừ Vô minh, sau khi phá trừ vô minh rồi, gọi là chứng quả A-la-hán”.

Giải thích

“Có phi tâm tưởng” tức là định Vô tưởng vậy.

“Là khổ, là hữu lậu v.v…” tức là quán chiếu tai họa sai lầm của định Vô tưởng vậy.

“Nếu ta có thể đoạn trừ Phi tưởng phi phi tưởng, ấy là tịch tịnh”. “Phi tưởng”: tức là định Phi tưởng: “Phi phi tưởng”, tức là đã thấy tai họa sai lầm của các tầng định ở trước nên cần phải đoạn trừ. “Ấy gọi là tịch tịnh” tức là sau khi phá định phi tưởng, nên chứng được Niết-bàn tịch tịnh vậy.

“Nếu có Tỳ-kheo có thể đoạn trừ phi tưởng, chứng được Vô tưởng giải thoát”, tức là tất cả thiền định trong Tam giới, đều gọi là Tưởng, nay đoạn trừ các tưởng này, chứng đắc Vô tưởng tam-muội, như thế có thể ở trong định Phi tưởng, phá trừ vô minh, phát vô lậu, đắc quả A-la-hán, chứng Niết- bàn vậy. Pháp hành của Tỳ-kheo nếu thuyết minh từ Thọ tưởng v.v… trở xuống, cũng giải thích ý nghĩa như đã nói trên.

Kinh lại có chép rằng: “Ba tầng định ở trước, hàng phàm phu và ngoại đạo cũng có thể đoạn, từ tầng định thứ tư trở về sau, thì thế tục không thể đoạn. Phàm phu ở trong định Phi tưởng xứ, tuy lìa được các phiền não thô, nhưng lại có 10 pháp vi tế. Do định này không có các phiền não thô, nên tất cả hạng phàm phu chấp cho là đã chứng được Niết-bàn”.

Giải thích

Đây là nói trí tuệ của phàm phu, ở trong định Phi tưởng không thể phát Vô lậu vậy. Kinh lại có nói: “Kiều Trần Như! Nếu có Tỳ-kheo tu tập thánh đạo, chán lìa Tứ thiền, định Tứ không, quán nhập diệt tận định trang nghiêm”.

Giải thích như sau: “Đây là nói pháp quán tưởng của Thông minh thiền, sau cùng được nhập định Diệt thọ tưởng”, ý nghĩa này khi đến phần giải thích Bát bối xả sẽ nói cụ thể. Hành giả tu pháp môn này, nhưng không chứng nhập Niết-bàn, tiếp tục tu tất cả Phật pháp, có đầy đủ phương tiện đại bi, dùng sáu thứ thần thông hóa độ chúng sinh. Trên đây là lấy một pháp môn để thuyết minh về Đại thừa.

*

Chú thích Quyển 8C:

(1) Ca-la-la: tên gọi số lượng rất nhỏ.

(2) Vô ngại Đà-la-ni (Tổng trì vô ngại): là 1 trong 3 thứ vô ngại: biện tài, trí tuệ thông đạt, tổng trì.

Nghĩa là Bồ-tát được đại tổng trì, không mất thiện pháp, không sinh ác pháp, đối với tất cả ngôn ngữ các pháp phân biệt điều biết rõ vô ngại.

***

THUYẾT MINH TU CHỨNG THIỀN XUẤT THẾ GIAN (VÔ LẬU) QUÁN THIỀN

Thiền Vô lậu có hai thứ: Đối trị vô lậu, Duyên lý vô lậu. Trong Kinh Đại Tập ghi: “Có hai hạnh, Hạnh hành và Tuệ hành”.

1/ Hạnh hành: tức là các phương pháp tu đối trị thuộc về thiền vô lậu như: quán Cửu tưởng, Bát bối xả v.v… Nghĩa là duyên nơi sự tướng quán chiếu để đối trị phá trừ các phiền não, nên còn gọi là “Hành hạnh vô lậu”.

2/ Tuệ hành: tức là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Chân không chánh quán v.v… Nghĩa là duyên nơi lý thể, dùng trí tuệ quán chiếu đoạn trừ các lậu hoặc phiền não, nên còn gọi là “Hành tuệ vô lậu”.

Giải thích Đối trị vô lậu:

Phương pháp đối trị vô lậu gồm có 9 pháp môn:

– Cửu tưởng

– Bát niệm

– Thập tưởng

– Bát bối xả

– Bát thắng xứ

– Thập nhất thiết xứ

– Cửu thứ đệ định

– Sư tử phấn tấn tam-muội

– Siêu việt tam-muội

* Nói chung chín pháp môn thiền này, đều là phương pháp đối trị của thiền vô lậu. Ý nghĩa sâu, cạn thứ lớp của nó đều giống như đã giải thích qua ở trong Quyển 1.

Trong chín pháp môn này có hai thứ đối trị Vô lậu đạo:

A. Pháp quán hoại (Hoại pháp đạo)

B. Pháp quán bất hoại (Bất hoại pháp đạo)

A. PHÁP QUÁN HOẠI

Gồm các pháp quán như:

*I- CỬU TƯỞNG

*II- BÁT NIỆM

*III- THẬP TƯỞNG

Nếu khéo tu ba pháp này, vô lậu chân thật sẽ được khai phát, thành tựu A-la-hán hoại pháp (tu pháp quán hoại).

B. PHÁP QUÁN BẤT HOẠI

Gồm các thiền như:

*IV- BÁT BỐI XẢ

*V- BÁT THẮNG XỨ

*VI- NHẤT THIẾT XỨ

*VII- CỬU THỨ ĐỆ ĐỊNH

*VIII- SƯ TỬ PHẤN TẤN TAM-MUỘI

*IX- SIÊU VIỆT TAM-MUỘI

Nếu khéo tu đầy đủ các thiền này, vô lậu chân thật sẽ khai phát, thành A-la-hán bất hoại pháp (tu pháp quán bất hoại).

Nay giải thích chung cả loại pháp môn trong một thứ Hoại pháp quán, sở dĩ ba pháp này gọi là Hoại pháp quán, nghĩa là do hành giả nhàm chán Lục dục giống như giặc thù, nên phải tu quán Cửu tưởng để đối trị. Sau khi quán Cửu tưởng, tuy đã phá trừ tâm tham ái Lục dục, nhưng phần nhiều là khởi tâm lo sợ. Nếu tu Bát niệm thì tâm lo sợ tự tiêu trừ, tâm tham dục đã khô cạn, lại không còn lo sợ. Lúc này hành giả muốn đoạn dứt kiết sử phiền não trong Tam giới, cần phải tu thêm pháp Thập tưởng. Sau khi tu Thập tưởng thành tựu, các giặc kiết sử bị quét sạch, liền chứng quả A-la-hán.

Do sắc thân Dục giới của vị này đã bị hoại diệt, nên không thể tu đầy đủ các thiền như: Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền, Tu thiền của Tam giới và chứng Tam minh, Bát giải thoát, nên gọi là A-la-hán hoại pháp.

HỎI: Cửu tưởng và Thập tưởng có gì khác nhau?

ĐÁP: Cũng có khác và không khác.

– Chỗ khác nhau là pháp quán Cửu tưởng, ví như trói được giặc, pháp quán Thập tưởng ví như giết chết giặc. Pháp quán Cửu tưởng ví như mới bắt đầu tu học, quán Thập tưởng ví như sau khi tu học được thành tựu.

Quán Cửu tưởng là nhân, quán Thập tưởng là quả.

Nên kinh có ghi: “Hai pháp môn cam lồ, đó là quán Bất tịnh và quán Sổ tức”.

– Chỗ không khác nhau: nếu khéo tu quán Cửu tưởng tức là đã đầy đủ cả Thập tưởng. Ý nghĩa này chương sau sẽ nói rõ.

Gồm có:

*I- QUÁN CỬU TƯỞNG

1. Trướng tưởng

2. Hoại tưởng

3. Huyết nùng tưởng

4. Nùng lạn tưởng

5. Thanh ứ tưởng

6. Đạm tưởng

7. Tán tưởng

8. Cốt tưởng

9. Thiêu tưởng

Chín pháp quán này gọi chung là Tưởng, vì có khả năng chuyển đổi tâm. Nghĩa là pháp quán tưởng có công năng chuyển biến tâm niệm si mê, do chúng sinh từ lâu đã lầm chấp sắc thân này là sạch sẽ, thanh tịnh, nên nay quán tưởng thành thân bất tịnh, gọi là Tưởng.

GIẢI THÍCH CỬU TƯỞNG

Chia làm bốn phần:

– Tu chứng

– Đối trị

– Nhiếp pháp

– Nhập đạo

TU CHỨNG CỬU TƯỞNG

Trước tiên hành giả giữ giới cho thật thanh tịnh, khiến tâm không hối hận mới tu pháp quán

được dễ dàng và có thể phá trừ các giặc phiền não tham ái, dâm dục.

Đầu tiên hành giả nên quán khi người mới bắt đầu chết, trong lúc họ đang còn nói chuyện luận bàn, nhưng chỉ một hơi thở ra không trở lại liền chết mất, hơi khí diệt hết thân thể lạnh ngắt, chẳng còn cảm giác gì nữa. Những người thân trong gia đình kinh hãi, khóc lóc than trời, kêu đất. Nghĩ rằng: “Mới thấy người này đang nói năng, nhưng bây giờ đã chết. Thật là đáng sợ!”, không ai có thể tránh khỏi việc này. Ví như khi tận thế, cả thế giới sẽ bị lửa thiêu sạch chẳng có một thứ gì thoát khỏi được.

Như bài kệ nói:

Chết không chọn nghèo giàu,

Chẳng siêng tu thiện pháp,

Không quý cũng không tiện,

Trẻ già chẳng tránh khỏi,

Không thể xin cầu cứu,

Không dùng mưu tẩu thoát,

Cũng không chỗ trốn chạy,

Tất cả không thoát được.

Chết tức là xa lìa chỗ yêu quý và những người thương. Tất cả chúng sinh đều có sinh mạng nên rất lo sợ, tuy biết