Chư vị đồng tu, xin chào mọi người!

Phía trước chúng ta đã giảng đến chỗ tiên sinh Viên Liễu Phàm bái kiến thiền sư Vân Cốc, ngồi đối diện trong thiền đường suốt ba ngày ba đêm, mà không khởi một vọng niệm nào.

Vân Cốc thiền sư thấy lạ, liền hỏi ông duyên cớ vì sao? Viên Liễu Phàm tiên sinh thưa với Vân Cốc thiền sư là vận mệnh của ông đã được Khổng tiên sinh đoán định, trong hai mươi năm nay một tơ hào cũng không sai, nên ông cho rằng khởi tâm động niệm cũng đều vô ích, do vậy tâm ông định lại.

Lúc này, Vân Cốc thiền sư mới bảo: Cuộc đời của ông đã bị số mệnh câu thúc. Có thể bị vận số câu thúc, là bởi vì ông còn có vọng niệm, không thể gọi là người có công phu, chỉ có thể gọi là một phàm phu tiêu chuẩn mà thôi. Liễu Phàm tiên sinh sau khi nghe xong, vội quay lại thỉnh giáo ông.

[Dư vấn viết: nhiên tắc số khả đào hồ? Viết: mệnh do ngã tác, phúc tự kỷ cầu, Thi Thư sở xưng, đích vi minh huấn. Ngã giáo điển trung thuyết, cầu phú quý đắc phú quý, cầu nam nữ đắc nam nữ, cầu trường thọ đắc trường thọ. Phù vọng ngữ nãi Thích Ca đại giới, chư Phật Bồ Tát, khởi cuống ngữ khi nhân.]

 Trong đoạn đối thoại này, ý nghĩa hàm chứa trong đó vô cùng sâu sắc. Tiên sinh Viên Liễu Phàm hỏi: Người đều có số mạng, số mạng này có thể thay đổi sao? Ông đưa ra nghi vấn này, thiền sư đáp lại rằng “mạng là do mình tạo, phước là do mình cầu”. Hai câu nói này, phía trong ẩn chứa vấn đề rất quan trọng. Trước tiên chúng ta phải hiểu rõ, lục đạo phàm phu chạy không thoát khỏi số mạng. Số mạng từ đâu mà có? Cổ Thánh Tiên Hiền, chư Phật Bồ Tát, họ là người đến nơi đây, họ đối với chân tướng sự thật thấu triệt hiểu rõ, tơ hào cũng không sai, điều này chúng ta phải tin tưởng. Nếu như dùng cách nói của các khoa học gia hiện đại, đó chính là không gian duy thứ vô hạn, cũng chính là ba độ không gian, bốn độ không gian, năm độ không gian mà họ nói đến. Trên lí luận mà nói, không gian là độ số vô hạn. Chúng ta sinh tại nhân đạo, cho nên chỉ sinh hoạt trong ba độ không gian, chúng sanh ở duy thứ từ bốn độ không gian trở lên, chúng ta không biết được. Ngày nay khoa học gia cho chúng ta biết được xác thực là tồn tại mười một độ không gian. Nhưng làm thế nào để đột phá không gian duy thứ, hiện tại các khoa học gia vẫn còn đang nghiên cứu. Một khi đột phá được không gian duy thứ, điều mà chúng ta đã nói, tức bạn có thể biết được quá khứ, tương lai. Quá khứ đã tạo nhân gì, hiện tại phải chịu quả báo như thế nào, đời nay tạo cái nhân gì, tương lai quả báo ra sao, không phải đều hiểu rõ ràng hay sao? Đây không phải là cách suy đoán, so với Khổng tiên sinh còn cao minh hơn hay sao? Khổng tiên sinh là từ số học, “Kinh dịch” là một bộ số học, ông từ trên số học mà suy đoán, suy đoán được rất chính xác, tuy nhiên không dám nói là hoàn toàn chính xác. Bởi vì lúc suy đoán nếu có một tơ hào không chính xác thì kết quả hòan tòan không giống nhau. Nhưng nếu có thể đột phá không gian duy thứ thì quyết định là hoàn toàn chính xác, một tơ hào cũng không sai. Vì sao? vì quá khứ, hiện tại, vị lai, bạn đều là chính mắt mình nhìn thấy.

Cái sự việc này, hiện tại mà nói cũng không khó. Tại Cổ Ấn Độ, những chuyên gia về số luận, yoga, bà la môn giáo, họ đều có năng lực này. Cho nên thuyết về lục đạo luân hồi không phải của Phật giáo, mà là của cổ Bà La Môn giáo, nay là Ấn Độ giáo. Lịch sử của họ, hiện tại thế giới công nhận là có 8500 năm lịch sử. So với Phật giáo, họ ra đời sớm hơn rất nhiều. Những người này đều là tu thiền định, trong kinh Phật có nói đến tứ thiền bát định, do đó, không gian duy thứ trong lục đạo, họ cơ hồ đều đã đột phá được. Cho nên trạng huống trong lục đạo, họ nói được rất rõ ràng. Nhưng họ chỉ biết được cái đương nhiên mà không biết được cái sở dĩ nhiên. Lục đạo làm sao mà có, tại sao lại có hiện tượng này, tại sao lại có những biến hóa như vậy, họ đều không biết. Vì vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại thế gian này, Người vì sao lại xuất hiện? Là vì những người có năng lực quan sát đến được những cảnh giới như thế, nhưng lại đối với những cảnh giới này có rất nhiều nghi hoặc không thể giải trừ. Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại thế gian là vì cái sự việc này. Cái gọi là, chúng sanh có cảm thì Phật, Bồ tát có ứng. Điều này đã cảm ứng Thích Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này, vì chúng ta mà thuyết minh cái sở dĩ nhiên của những hiện tượng đó. Phật tại trong kinh Đại thừa đã giảng nói được rất nhiều, nhất là trong kinh Hoa Nghiêm. Không chỉ có lục đạo, bên ngoài lục đạo còn có Tứ thánh pháp giới, còn có nhất chân pháp giới, đây đều là quy nạp lại mà nói, nếu nói tỉ mỉ thì không thể dùng ngôn ngữ để nói một cách tường tận được. Cũng giống như chỗ mà khoa học gia đã nói, không gian duy thứ vô hạn, cùng với Phật tại trong kinh nói được hòan toàn tương ưng. Làm sao phát sinh ra nhiều không gian duy thứ không đồng như vậy? Phật nói với chúng ta, đều là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra. Chúng ta hãy tĩnh tâm mà quan sát, vọng tưởng của chúng sanh nhiều vô lượng vô biên, niệm trước vừa diệt thì niệm sau liền sanh, một ngày không biết đã khởi bao nhiêu vọng niệm, không biết có bao nhiêu phân biệt, chấp trước, điều này tạo nên không gian duy thứ không đồng; tạo nên hiện tượng không giống nhau.

Phật tại trong kinh thường nói, thập pháp giới y chánh trang nghiêm, dùng lời hiện tại mà nói chính là hiện tượng vũ trụ nhân sinh, chính là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Cũng giống như trên màn ảnh ti vi hiện nay, tướng hiện trên màn ảnh ti vi là tâm, do tâm hiện, cái tướng này có thể hoạt động. Nó tại nơi này sản sinh biến hóa, những biến hóa đó gọi là thức biến. Thức chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Những thứ này có thể đem những hiện tượng cải biến, biến được vô cùng phức tạp. Đây chính là căn nguyên Phật đem hiện tượng vũ trụ nhân sinh nói rõ cho chúng ta.

Cho nên, Vân Cốc thiền sư mới nói “mệnh do ta tạo”, không phải do người khác tạo, cùng người khác không có mảy may quan hệ. Hòan cảnh bên ngòai thân là huyễn cảnh. Trên kinh Kim Cang nói được rất hay “nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh”, không phải là thật. Những hiện tượng này, Phật nói với chúng ta rằng: không thể nói chúng có, cũng không thể nói chúng không có. Cũng giống như nằm mộng không khác, bạn không thể nói là không có cảnh giới mộng, trong mộng cảnh giới xác thực là có tồn tại. Nhưng bạn cũng không thể nói chúng có vì chúng là hư huyễn không thật, xác xác thực thực là liễu bất khả đắc. Nếu chúng ta tỉ mỉ quan sát, hiện tại, chúng ta ở cái thế giới này, xác xác thực thực cũng chỉ là một giấc mộng. Buổi tối, chúng ta đi ngủ, người khác mang chúng ta đi, chúng ta cũng không biết. Do đó mà thấy thân không phải là ta. Các nhà triết học phương Tây rất thông minh, họ biết thân này không phải là ta, do đó họ đưa ra lí luận rằng “tôi tư duy thì tôi tồn tại”. Điều này thừa nhận cái gì? Thân thể vật chất không phải là ta, là hư huyễn. Chỉ khi có thể tư duy, có thể tưởng tượng đó mới gọi là ta. Điều này so với người thông thường cao hơn một bậc. Đó có phải là chân tướng sự thật hay không? không phải. Chúng ta suy nghĩ là vọng tưởng, không phải là chân tướng sự thật. Cho nên cảnh giới của Phật so với họ cao hơn rất nhiều, ngay cả tư tưởng của chúng ta cũng buông bỏ thì thấu triệt căn nguyên, khôi phục chân tâm, khôi phục bổn tánh, sau đó mới có thể xem thấy được chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Cái chân tướng này trong Phật giáo có một tên gọi, là nhất chân pháp giới, hoặc gọi là chân như, cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế. Danh từ thuật ngữ mà Phật dùng để chỉ nó rất nhiều. Giáo học của Phật, tại sao lại dùng đến nhiều danh từ như thế? Ở đây có dụng ý, chính là muốn dạy chúng ta phải hiểu rõ chân tướng sự thật, chứ không được chấp trước trên danh tự. Nếu chấp vào danh tự thì lại sinh ra vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

 Ngày nay nếu muốn đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đoạn hết; trong tâm nghĩ “tôi cũng rất muốn”, vấn đề là cái gì? Đoạn không được, vọng niệm vẫn là tiếp nối nhau không dứt, đây chính là lí do chúng ta không thể thành tựu. Chúng ta tuy là từ trong kinh giáo hiểu rõ ràng minh bạch, tin sâu không nghi. Trong Phật pháp nói, chúng ta chỉ là giải ngộ chứ không phải chứng ngộ, không khế nhập được cảnh giới chân thật. Chỉ có chứng ngộ mới có chỗ dụng, giải ngộ không có chỗ dụng, không thể giải quyết được vấn đề. Do đó sau khi giải ngộ phải tu hành, phải đem những lí luận, những phương pháp này chân thật áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt của mình, dần dần nâng cao cảnh giới của mình. Được như vậy mới có thể giải quyết được vấn đề. Ở đây nói, chúng sanh trong lục đạo, vọng tưởng phân biệt chấp trước rất nặng, “mệnh do ta tạo”. Cuộc đời chúng ta giàu nghèo sang hèn, đây là mệnh. Vận mệnh này có định số, định số này từ đâu mà có, là do chính bản thân ta tạo. Nhà Phật giảng nhân quả thông ba đời, mỗi người quyết định là đều có đời quá khứ, đời vị lai. Phật giảng đến chỗ cứu cánh. Phật giảng thời gian nói đến cái sát na, sát na, đây là thời gian rất ngắn. Chúng ta ngày nay nói về đơn vị thời gian, nhỏ nhất là giây. Trong nhà Phật nói đến sát na, sát na làm sao mà tính? Phật dùng đàn chỉ, một đàn chỉ có 60 cái sát na. Một đàn chỉ (một khảy móng tay) chưa đến một giây, nếu chúng ta khảy được nhanh thì một giây đồng hồ chúng ta có thể khảy được 4 lần. Một đàn chỉ là ¼ giây, một đàn chỉ lại có 60 cái sát na, vậy 1/60 của ¼ giây mới gọi là một sát na. Trong một sát na lại có 900 sanh diệt, đó là niệm đầu, 1 niệm sanh, 1 niệm diệt, trong một sát na có 900 niệm sanh diệt. Điều này quá vi tế, người bình thường chúng ta không thể quan sát được. Chúng ta bình thường tâm khí bao chao, sao có thể quan sát đến được. Nhập định, trong định thì tâm thanh tịnh, có thể đem vọng tưởng phân biệt chấp trước của chúng ta lắng xuống. Ở trong thiền định thâm sâu, chúng ta mới có thể nhìn thấy được những hiện tượng sanh diệt. Đây phải là công phu rất cao, Vân Cốc thiền sư e rằng vẫn chưa thấy được. Trong đại thừa Phật pháp có nói, có thể nhìn thấy đầu số của sát na sanh diệt, phải là bát địa bồ tát của đại thừa viên giáo. Bát địa còn gọi là bất động địa, rất gần với quả vị của Như Lai. Trên bát địa là cửu địa, thập địa, đẳng giác, rất gần với quả vị Phật, lúc này mới chân chính có thể hiểu được chân tướng của vũ trụ nhân sinh.

Hôm nay, chúng ta nói đến ý niệm là niệm thô, vô cùng vô cùng thô. Chúng ta khởi lên một thiện niệm, lợi ích cho người khác, cho xã hội, cho chúng sanh, quả báo là được phước. Chúng ta khởi lên một niệm ác, niệm ác là vì lợi ích bản thân, cái gọi là tổn người lợi mình. Cái niệm này trong nhà Phật gọi là ác niệm. Ác niệm thì quả báo là hung, là tai họa. Cho nên, cát hung họa phước trong một đời chính là quả báo của ngôn ngữ tạo tác, khởi tâm động niệm của chính chúng ta, cũng có thể nói là hiện tượng của ngôn ngữ tạo tác. Đây chính là sở dĩ mà nói “mệnh do ta tạo”. Người chân chánh minh bạch hiểu rõ thì khẳng định đối với lời nói này, khẳng định đối với sự thật này. Trong suốt cuộc đời anh ta, bất luận là gặp bất cứ hoàn cảnh trái nghịch, bất thiện thế nào, anh ta cũng quyết không oán trời, quyết không trách người. Anh ta không trách người, mà quay lại trách chính mình “bản thân tôi tạo tác bất thiện nên mới phải chịu quả báo khổ sở như thế này.” Sau khi đã hiểu rõ rồi, phước phải do chính mình cầu, làm sao mà cầu đây? Cải ác làm thiện. Khi tôi còn nhỏ, lúc nhỏ, cha tôi qua đời rất sớm, lúc tôi 21 tuổi thì cha tôi qua đời. Tôi sống đúng vào lúc chiến tranh Trung-Nhật diễn ra, phải chịu 8 năm khổ nạn của chiến tranh, việc học dở dang, vào thời gian đó tôi là học sinh lưu vong, hòan toàn thoát ly gia đình. Nhà nước đối với chúng tôi cũng tính là không tệ, thành lập rất nhiều trường trung học quốc lập, thu nạp những học sinh lưu vong như chúng tôi. Trường học là nhà chúng tôi, thầy cô là cha mẹ chúng tôi, đồng học là huynh đệ tỷ muội của chúng tôi. Cho nên vào thời gian đó, chúng tôi đối với trường học, đối với bạn học, đối với thầy cô là cả một tấm lòng thân ái chân tình. Người hiện tại không cách gì tưởng tượng được, chúng tôi là bạn bè trong hoạn nạn mà có nhau, giúp đỡ chiếu cố lẫn nhau trải qua ngày tháng khó khổ. Cha tôi qua đời, trong gia đình một người cũng không còn. Tôi lưu lạc đến Đài Loan, tại Đài Loan làm việc hết 7,8 năm, tự thấy bản thân mình không có tiền đồ. Thầy của tôi là Chương Gia đại sư, đã thay tôi chọn một nghề nghiệp, ông khuyên tôi xuất gia, khuyên tôi hoằng dương Phật pháp. Tôi đã suy nghĩ rất lâu, Lão nhân gia chỉ thị rất chính xác, tôi nghe theo giáo huấn của ông, chọn cái hành nghiệp này. Tôi học với ông ba năm, ông cho tôi nền tảng cơ bản. Sau khi từ chức, tôi đến Đài Trung học giáo với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ở Đài Trung hơn mười năm. Vì vậy ở trong Phật pháp, tôi đã tiếp nhận sự chỉ dạy của hai vị lão sư trong 13 năm, nhưng trong giới học thuật, tôi chỉ mới tốt nghiệp sơ  trung. Cuộc đời sau này của tôi, phước báu là do tôi tự mình mà cầu được. Tôi minh bạch rồi, tôi giác ngộ rồi, cho nên từ sau khi 26 tuổi học Phật, tôi cẩn thận tỉ mỉ, y giáo phụng hành. Lúc nhỏ, cũng có một số người xem tướng đóan mệnh cho tôi, đây là phong tục cổ của người Trung Quốc. Lúc nhỏ, mẹ tôi dẫn tôi đi xem đóan mệnh, tôi cũng gặp qua không ít cao nhân, nói tôi sống không quá 45 tuổi. Vận mạng của tôi so với tiên sinh Viên Liễu Phàm còn khổ cực hơn, thọ mạng cũng ngắn hơn. Ông ấy còn sống đến 53 tuổi, chứ tôi đến 45 tuổi đã hết rồi, Cho nên lúc đó học Phật, tôi đem thọ mạng của mình tính đến 45 tuổi, sau 45 tuổi thì không còn nữa. Trong thời hạn 45 năm này tôi nhất định phải có thành tựu. Thành tựu này chính là quyết định vãng sanh Tịnh độ. Tôi đem mục tiêu đặt ở chỗ này, bản thân cũng có sự tính toán. Đến năm 45 tuổi, quả nhiên tôi bị bệnh nặng, bệnh suốt một tháng. Tôi không đi bác sĩ, cũng không uống thuốc bởi vì bản thân tôi hiểu rất rõ, bác sĩ chỉ chữa được bệnh chứ không cứu được mạng. Mạng đã đến, bạn đi bác sĩ có ích gì? Vì vậy tôi đóng cửa niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ. Mỗi ngày có mấy vị học trò đến nấu cơm cho tôi, ăn cháo, rau dưa. Sau một tháng, thân thể từ từ khỏe lại. Tôi cả đời hầu như không mang bệnh, sau khi khỏe lại, tôi vẫn tiếp tục công việc giảng kinh hoằng pháp. Đến năm sau, càng ngày càng thuận lợi, tôi ở chùa Thiện Đạo gặp được vị Cam Châu Hoạt Phật, đó cũng là bạn học cũ của tôi. Ông ấy là học trò của Chương Gia đại sư, đại khái hơn tôi xấp xỉ 12 tuổi. Lúc gặp nhau, ông ấy nói với tôi, ông ấy nói: Tịnh Không pháp sư, ông qua đây. Chúng tôi rất khó có cơ hội gặp nhau được một lần, cho nên vô cùng hoan hỷ. Ông nói: số mạng của ông bây giờ đã hoàn toàn chuyển đổi rồi. Tôi hỏi: tại sao vậy? Ông nói: lúc trước chúng tôi hay nói sau lưng ông. Tôi hỏi lại: nói điều gì? Nói: ông là người tuy rất thông minh nhưng không có phước báu, lại thêm đoản mệnh nữa. Tôi nói: điều này có thể nói trước mặt tôi, không cần phải nói sau lưng. Tôi còn nói thêm: tôi biết rất rõ. Ông nói tiếp: nhưng hiện tại những năm gần đây ông hoằng dương Phật pháp nên đã hòan toàn chuyển đổi lại rồi, không những có phước báu mà còn trường thọ nữa. Tôi rất cảm khái, đến năm sau thì Cam Châu Hoạt Phật qua đời. Đây là một vị đại đức rất khó có trong Phật giáo Tây Tạng, là một vị thiện tri thức chân chánh, một người xuất gia rất có quy củ, thực sự rất hiếm thấy. Tôi ở Hương Cảng có gặp qua một người, đó là pháp sư Thánh Nhất ở chùa Bảo Lâm trên núi Đại Tự. Tôi đối với ông vô cùng tôn trọng, vô cùng kính ngưỡng. Nghe nói hai năm qua, thân thể ông không được tốt, ông có cống hiến rất lớn cho phật giáo Trung Quốc.

Cho nên mệnh có thể cải đổi, phương pháp cải mệnh chính là sau khi đã giác ngộ rồi thì không tiếp tục tạo ác nữa. Khởi tâm động niệm đều vì người khác, vì xã hội, vì chúng sanh mà nghĩ, quyết không phải vì bản thân mình. Câu nói này nói được rất dễ, nhưng làm không dễ chút nào. Liễu Phàm tiên sinh làm suốt mười mấy năm liền có cảm ứng hiện tiền. Tôi cũng làm gần 30 năm, cảm ứng cũng rất rõ ràng mà bản thân tôi có thể cảm nhận được. Sau khi học xong, tôi ra giảng kinh thuyết pháp, 20 năm mới có một đạo tràng nhỏ, chính là Hoa Tạng Đồ thư quán ở Kinh Mỹ. Tôi hoằng pháp 20 năm mới có một nơi như vậy. Sau 5 năm nữa mới có “Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội” này. Lại thêm 5 năm nữa, trên thế giới có rất nhiều nơi, chúng tôi thành lập nên “Tịnh Tông Đạo Tràng”. Cho đến năm ngoái, xác thực là lời nói của Kim Châu Hoạt Phật đã ứng nghiệm, mọi việc càng ngày càng thuận lợi, tâm cũng càng ngày càng thanh tịnh, càng ngày càng không nghĩ cho mình. Ngày nay tôi sống ở cái thế giới này là vì người khác mà sống, không phải vì chính mình, bản thân tôi không còn nữa. Danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần tôi thảy đều buông xuống cả rồi. Ấn Quang đại sư lúc cuối đời thường nói: tôi không có gì hết, tôi cũng không sợ chết. Tôi hiện tại cũng sắp nhập vào cảnh giới của đại sư rồi, bản thân không có gì, chân thật cũng không sợ chết. Chết đối với tôi mà nói là sự việc rất hoan hỷ, vô cùng hào hứng. Bởi vì tôi biết chết sẽ đi về đâu; sanh từ đâu tới, chết sẽ đi về đâu. Tất cả tôi đều rõ rõ ràng ràng, minh minh bạch bạch. Đây gọi là “mệnh do ngã tác, phúc tại kỷ cầu” (mệnh do mình tạo, phước tại mình cầu) vậy. Câu nói này là thật, một chút cũng không giả. Viên Liễu Phàm tiên sinh cải đổi vận mạng một cách không dễ dàng gì. Về sau khi đọc đến đoạn văn này tôi sẽ đề tỉnh cho quý vị. Tôi khi cải đổi vận mạng của mình, tôi rất may mắn, tôi so với ông thuận lợi hơn rất nhiều. Nguyên nhân là bởi tôi trước sau đều không rời thầy, thầy thường ở bên cạnh đốc thúc, chỉ dạy, điều này mang lại lợi ích rất lớn. Tôi học cùng Chương Gia đại sư 3 năm, học cùng thầy Lý 10 năm, 13 năm này tôi luôn ở bên cạnh thầy. Điều này có được lợi ích vô cùng lớn. Tôi lúc đó chung quy vẫn còn trẻ tuổi, cho dù đã rất dụng công nhưng vẫn không đạt được cái tiêu chuẩn mà người xưa nói. Bản thân tôi đã rất dụng công nỗ lực, cho dù đã cố hết sức thì điểm số cũng không vượt quá 60 điểm, cũng chỉ đủ điểm đậu mà thôi. Hiện tại đại khái có thể đạt được tám, chín mươi điểm. Hiệu quả ngày càng rõ ràng, cái sự việc này, cổ đại đức nói chính là “chân can (tức chân thành)”. Tôi tổng hợp tâm đắc của bản thân sau 50 năm học Phật viết ra 20 chữ. Có người hỏi tôi: Pháp sư, ngài tu như thế nào, dạy người ra sao? Tôi đều là ở trong 20 chữ “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”. Mười chữ này là dụng tâm. Bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên. Nhà Phật nói chữ duyên là đối với người, đối với sự; hoàn cảnh nhân sự là dùng chữ duyên để nói, hoàn cảnh vật chất là nói đến cảnh giới, thuận cảnh hay nghịch cảnh là nói về hòan cảnh vật chất, còn thiện duyên hay ác duyên là nói về hoàn cảnh nhân sự. Chúng ta cần phải trong những cảnh duyên đó mà tôi luyện bản thân, nhất định phải lấy tâm chân thành mà xử sự, đối người, tiếp vật. Người khác dùng tâm hư vọng đối với ta, không có quan hệ, đó là anh ta, cùng ta không liên can. Thậm chí là anh ta hủy báng ta, vũ nhục ta, hãm hại ta, cùng ta không liên can. Bản thân chúng ta chỉ dùng tâm chân thành để đối người. Làm được như vậy thì sẽ chuyển họa thành phước, chuyển được rất nhanh, tai tiêu phước đến.

 Xử sự đối người tiếp vật cần phải dùng tâm thanh tịnh, thanh tịnh tức là một trần cũng không nhiễm, thuận cảnh tuyệt không khởi tâm tham luyến, ác cảnh không khởi tâm sân hận; phải luôn giữ được tâm thanh tịnh, bình đẳng của chúng ta, tự nhiên sẽ sinh trí huệ. Tâm ái hộ nhất thiết chúng sanh tự nhiên sinh ra, đó gọi là từ bi tâm. Từ bi tâm phải hai, ba năm mới có hiệu nghiệm. Lúc trước, tôi có đọc truyện ký của Ấn Quang đại sư, căn phòng khi đại sư mới ở, trong đó có rất nhiều muỗi, ruồi, bọ chét, chúng gây nhiều trở ngại. Thị giả của đại sư, tức người chăm sóc ông, muốn thanh trừ bọn chúng, đem bọn chúng đuổi đi hết. Đại sư nói: không cần, trong nhà có con vật, cho thấy đức hạnh tu hành của chúng ta chưa đủ, cho nên không thể cảm động được chúng, vì vậy không cần đuổi chúng đi. Sau khi đại sư 70 tuổi, trong phòng ở của Ngài muốn tìm một con cũng không thấy, quả nhiên chúng đã dọn nhà rồi, thuật ngữ trong nhà Phật gọi là “thiên đan (chuyển đến nơi khác)”, những con vật này đã chuyển đi rồi. Ấn Quang đại sư là sau 70 tuổi, tôi hiện tại cũng đã qua 70 tuổi rồi, hai năm gần đây, tôi rất hoan hỷ vì đã có hiệu quả, căn phòng tôi ở cũng có kiến, gián; cũng thường hay thấy; nhưng trong hai năm gần đây đã dần dần ít đi. Tôi ở tại một địa phương ở Toowoomba cũng đã được 1 năm 8 tháng, lúc mới mua nó, kiến rất nhiều, còn có gián, côn trùng cũng rất nhiều. Sống trên núi với tôi còn có hai vị đồng tu, tôi nói với họ nhất định không được giết chúng. Đối với những động vật nhỏ này cần phải dùng tâm thanh tịnh, dùng tâm cung kính mà đối đãi. Không những không được giết những con kiến nhỏ này, mà ngay cả ý niệm làm hại chúng cũng phải đoạn sạch. Khi nhìn thấy chúng, chúng ta phải chắp tay lại, cung kính mà nói “bồ tát kiến, bồ tát gián”, chúng ta phải dùng cái tâm này mà đối với chúng. Nói với chúng rằng: môi trường sống của chúng ta không giống nhau, bên trong căn phòng này là chỗ của chúng tôi, còn bên ngoài căn phòng này là môi trường sống của các bạn. Hy vọng chúng ta có thể đối xử hòa hài với nhau, hai bên không quấy nhiễu nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Phải thường dùng cái tâm như vậy mà đối đãi với chúng, khuyến miễn chúng. Một năm rưỡi sau, tôi thấy kiến đã ít đi chín mươi phần trăm, hiện tại vẫn còn nhưng rất ít, chứ không như lúc trước chúng kéo đàn kết bè lại. Tôi nói với mọi người rằng, chúng ta nỗ lực thêm hai năm nữa, có lẽ hoàn toàn không còn nữa. Phải dùng tâm yêu thương chân thành như vậy để đối với những động vật nhỏ, không chỉ đối với động vật nhỏ mà ngay cả với thực vật cũng không ngoại lệ. Trong hoa viên của chúng ta có rất nhiều cỏ, nhiều cây cối, còn có rau nữa. Trên núi, chúng ta trồng rất nhiều rau, chúng ta cũng phải dùng tâm yêu thương để đối đãi nó, để chiếu cố nó. Hoa nở rất đẹp, cũng tỏa ra rất nhiều hương. Những loại cây cối, rau củ này sinh trưởng rất tốt. Chúng ta không cần dùng phân bón, cũng không cần dùng đến thuốc trừ sâu, hoàn toàn không cần, chỉ cần dùng tâm yêu thương để bảo hộ chúng. Có cảm ứng, ngay cả cây cối hoa cỏ cũng đều có cảm ứng, điều này khiến chúng ta nghĩ đến một truyền thuyết thời xưa “sinh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu”, ngay cả đá cũng cảm động. Chúng ta hiện nay vẫn chưa có được cái cảm ứng này. Hiên tại, tôi chỉ mới có sự tương giao với thực vật, cùng thực vật có sự cảm ứng, còn với đất đá thì vẫn chưa có. Công phu của Sinh công so với tôi đã cao hơn một bậc. Tôi vẫn chưa đạt đến công phu của ông ấy. Đây đều là muốn nói với chư vị rằng “mệnh do mình tạo, phước do mình cầu”. Trong cuộc đời tôi, đây là điều tôi mà thể nghiệm được trong suốt 50 năm học Phật, vận mạng đã hoàn toàn chuyển đổi được. Tuy rằng không thể nói là đạt được đại tự tại, đại viên mãn, nhưng cũng đã tiếp cận được đến cái gọi là tự tại, viên mãn; có tín tâm là sẽ đạt được.

Phía sau, trên văn tự viết: [Thi Thư sở xưng, đích vi minh huấn], đây là những giáo huấn rất rõ ràng, minh bạch được nói đến trong các tác phẩm của Cổ Thánh Tiên Hiền, chúng ta cần phải tin tưởng.

[Ngã giáo điển trung thuyết], “ngã” là chỉ cho Vân Cốc thiền sư, ông là người xuất gia. “Ngã giáo” là chỉ Phật giáo. Trong kinh điển Phật giáo có nói: [cầu phú quý đắc phú quý, cầu nam nữ đắc nam nữ, cầu trường thọ đắc trường thọ], phàm phu chúng ta không thể vô cầu.

Tôi lúc mới học Phật, trong tâm cũng có mong cầu. Chương Gia đại sư nhìn thấy được đã dạy tôi: “Phật thị môn trung hữu cầu tất ứng”. Đây là lão nhân gia đã dạy cho tôi phương pháp để cầu. Viên Liễu Phàm là do Vân Cốc thiền sư dạy cho cách cầu, còn phương pháp của tôi là do Chương Gia đại sư truyền cho tôi. Ngôn ngữ so với Vân Cốc thiền sư thì đơn giản hơn nhưng lại vô cùng có hiệu quả. Ngài dạy cho tôi: khi ông dùng chân tâm để cầu mà không có cảm ứng, khi cầu mà không có cảm, đây là nguyên nhân gì? Đó là do nghiệp chướng của ông quá nặng, chướng ngại không phải ở phật pháp, không phải tại bên ngòai mà chính là từ trên thân chúng ta, do bản thân chúng ta có nghiệp chướng. Chỉ cần đem nghiệp chướng tiêu trừ hết thì cảm ứng liền hiện tiền, hữu cầu tất ứng.

Tôi lại hỏi ông, hướng đến lão sư mà thỉnh giáo, tôi hỏi: nghiệp chướng làm sao tiêu trừ? Ông nói với tôi: sám hối. “Sám trừ nghiệp chướng”, đây cũng là điều mà Phổ Hiền bồ tát trên kinh Hoa Nghiêm đã nói. Sau đó lại dạy cho tôi làm sao để sám hối? Tuyết đối không phải đi lạy Lương Hoàng sám, lạy Thủy sám, không phải làm cái việc này. Cho nên, vị thầy mà tôi gặp được, chân thật là một vị thầy giỏi. Ông nói: Phật pháp không tại hình thức, mà ở thực chất. Cái gì gọi là thực chất? chính là về sau không làm nữa. Ví như chúng ta khởi lên ý niệm không tốt, nói những lời không tốt, làm những việc không tốt, hiện tại biết đó là lỗi, là sai rồi thì về sau sẽ không phạm lại sai lầm đó nữa, đó mới gọi là chân thật sám hối, như vậy mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng.

Giả như bạn ở trước Phật, Bồ Tát tụng kinh niệm chú, cho là đã sám hối rồi, sau khi sám thì lại tạo, tạo xong lại sám. Như vậy chẳng có lợi ích gì, hòan toàn sai rồi. Thầy đã nói với tôi lời thật, phật pháp trọng thực chất, không trọng hình thức. Thí như nói đến giới luật, ông vô cùng coi trọng giới luật. Tôi theo học với ông ba năm, ông đề cập đến sự quan trọng của giới luật, tổng cộng hết 10 lần, khiến ấn tượng của tôi rất sâu.

Làm sao để trì giới? Ông nói với tôi: không cần phải đến bất cứ nơi nào cầu pháp sư thọ giới. Ông nói: không cần thiết, vô dụng. Tôi hỏi: vậy phải làm sao? Học một điều, làm được một điều, vậy thì điều này bạn giữ được. Thí như không sát sanh, bạn chân chánh làm đến được, đối với tất cả sinh vật bạn tuyệt đối không khởi lên ý niệm sát hại, như vậy bạn đối với cái giới này đã giữ được viên mãn, mà không nhất định phải đi thọ giới. Đến giới đàn thọ giới, thọ giới rồi, bạn lại không làm được, như vậy bạn hoàn toàn đã phá giới, phạm giới rồi, không phải là tội càng thêm tội hay sao?

Lão sư đã dạy cho tôi chính là cái phương pháp này; học một điều, làm một điều, làm được rồi thì chính là chân chánh trì giới. Cho nên tôi học Phật, đắc lực là ở sự giáo huấn của những đại thiện tri thức. Vào năm ngoái, tôi gặp tổng thống Nathan của Singapore, chúng tôi cùng nhau ăn cơm. Tổng thống Nathan là giáo đồ của Ấn Độ giáo (đạo Hindu). Ông nói với tôi: phật giáo trọng thực chất, không trọng hình thức. Tôi nghe xong, ngồi ngẩn ra. Câu nói này mấy chục năm trước là Chương Gia đại sư đã nói với tôi. Trong suốt mấy chục năm qua, tôi chưa từng nghe thấy ai nhắc đến câu này cả. Tôi nghe tổng thống Nathan nói vậy, liền biết ông là người “trong nghề”, người này không đơn giản. Cho nên tôi đối với ông rất kính trọng.

Chúng ta phải hiểu được rốt cuộc làm sao để cầu, chân chánh tiêu trừ nghiệp chướng rồi thì hữu cầu tất ứng. Nhưng nếu nghiệp chướng tập khí quá nặng thì sao? cái này không đáng lo, chúng ta cần phải nhẫn nại, cần thời gian để tiêu trừ. Liễu Phàm tiên sinh dùng thời gian mấy mươi năm, tôi cũng dùng từ hai mươi đến ba mươi năm, cho nên bạn không có khỏang thời gian đủ dài thì không được, không phải nói đoạn thì có thể đoạn được, nào có dễ dàng như vậy chứ.

Tập khí của chúng ta nhất định phải đè phục nó xuống, phải thường thường cảnh tỉnh bản thân. Cho nên cổ nhân rất coi trọng việc đọc tụng, điều này rất có đạo lý. Bản thân tôi một đời này có thể thành tựu, tôi biết được đó là nhờ tôi ở trên giảng đài. Hơn bốn mươi năm qua, tôi không một ngày nào gián đoạn trên giảng đài. Ngày ngày giảng kinh, ngày ngày khuyên người khác, cũng chính là ngày ngày khuyên chính mình. Người khác có được lợi ích hay không, tôi không biết, nhưng bản thân tôi chân thật có được lợi ích. Đây chính là điều trong nhà Phật thường nói: “nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu”. Nếu như không được huân tu trong thời gian dài, làm sao có được thành tựu. Tập khí xấu của chúng ta cũng là do vô lượng kiếp huân tập mà thành, đều là trường thời huân tu. Hiện tại chúng ta cần phải đem những tập  khí xấu, tập khí ác này tiêu trừ, cần phải học tập Cổ Thánh Tiên Hiền, học tập Phật Bồ tát, điều này vẫn là cần phải có thời gian. Cho nên nếu như không có thời gian tương đối dài, cần có quyết tâm, có nỗ lực, đọan trừ tập khí của mình mới có thể viên mãn thành tựu.

Website Phật Pháp Ứng Dụng chân thành cảm tạ dịch giả Diệu Âm đã gửi tặng các bài dịch từ pháp âm “Liễu Phàm Tứ Huấn” do Hoà Thượng Tịnh Không giảng tại Trung Quốc. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

HT Tịnh Không giảng Liễu Phàm Tứ Huấn (Tập 2)
5 (100%) 1 vote[s]