Nghi Thức Sám Hối Pháp Hoa Tam Muội

Tùy Trí ỷ soạn

Bản Việt dịch của Thích Minh Kiết

***

Lời Tựa Xét Định Nguyên Bản Pháp Hoa Tam-muội Sám Nghi

Sa-môn Tuân Thức, truyền thừa Thiên Thai Giáo Quán chùa Thiên Trúc đời Tống thuật

Thánh giáo dần xa, văn cú lẫn lộn sai khác, cũng bởi người truyền quá mê muội. Nếu không tra xét lại chỗ đồng dị của thánh giáo, chỉ rõ chỗ được mất thì lâu ngày chày tháng sẽ dần xa, đánh mất cái chân vị. Nghi thức Pháp Hoa Tam-muội đây do đại sư Thiên Thai đích thân chấp bút viết tại chùa Ngõa Quan. Ý chỉ biệt hành của tam-muội thứ ba Chỉ Quán chính là văn này. Như muốn khơi mở dẫn dắt hàng hậu học có được cơ hội quay về, phá chướng hại ma, nhập cảnh giới Phật; được cùng với Văn-Thù, Phổ Hiền ngự xe báu, du hóa khắp nơi, quả thật chỉ có pháp này mới thẩm thấu. Nhưng điều lo là, sám này hơi sai dịch so với bản cũ hoặc là mất đi phần tinh yếu. Mười khoa hành pháp này, lý quán làm chủ. Nếu như lầm một pháp thì chín pháp còn lại uổng công. Có người trong phần pháp quán tọa thiền thêm thành năm câu. Nay liệt nêu ra cho biết. Lời sám: “vì do tâm cho nên có tâm? vì không do tâm cho nên có tâm? vì cũng do tâm cũng không do tâm cho nên có tâm? vì chẳng phải do tâm chẳng phải không do cho nên có tâm?” (phần nguyên văn) vì chẳng phải chẳng do tâm chẳng phải chẳng không do tâm cho nên có tâm? (phần thêm vào) Theo phái Sơn gia, ước về cú pháp, dụng quán chỉ có đến câu thứ tư. Chưa biết câu thứ năm rút từ văn nào. Lại nữa, trên thực tế suy kiểm ra, câu thứ năm đưa vào là y vào đâu làm cảnh? rồi cách quán như thế nào? trong Phụ Hành có nói: “Trong văn biệt hành kia chỉ chọn có bốn câu.” Cho nên, nay trong văn đây, rộng biên phần tượng quán để giải rõ phần kia (chánh văn của Phụ Hành). Huống hồ gì tượng quán đây cũng đã không không còn, còn môn chánh quán chỉ có bốn câu đây, làm sao có thể nghi lầm đại thể kia được chứ! Thế nên tôi trích dẫn lời văn này để ở phần cuối quyển, lạm đáp chú thích quê mùa, xen vào trong thiên này. Những thất lạc nhỏ nhít vụn vặt không thấy nay nêu ra. Nên nay dò ngay nguyên bản, cho khắc bản ấn hành, ngõ hầu giữ gìn chế định của tiên tổ. Từ nay về sau, muốn lưu truyền lời này, xin cố giữ lời tựa này để cho rõ lẽ.

(Đời Tùy, chùa Ngõa Quan, sa-môn Trí Khải đã chọn lấy ý kinh Pháp Hoa, Phổ Hiền Quán và các kinh đại thừa, soạn pháp môn này để lưu hành đời sau)

I. Nói Rõ Khuyến Tu Hành Sám Pháp Pháp Hoa 21 Ngày

Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau trong đời ác trược, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào tụng kinh Đại thừa, muốn tu hạnh đại thừa, phát ý đại thừa, muốn thấy sắc thân của Phổ Hiền Bồ-tát, muốn thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tháp Phật Đa Bảo, các Phật phân thân cùng mười phương chư Phật; muốn chứng được sáu căn thanh tịnh, nhập cảnh giới Phật, thông đạt vô ngại; muốn được nghe các đức Phật trong mười phương thuyết pháp, chỉ trong một niệm thảy đều có thể thọ trì thông đạt không quên, giải thích, diễn nói không chướng ngại; muốn được làm bạn đồng bực với các đại Bồ-tát như Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền v.v…; muốn được hiện sắc thân cùng khắp mọi nơi, trong một niệm không khởi diệt định, đến khắp mười phương tất cả cõi Phật cúng dường hết thảy chư Phật; muốn trong một niệm, đến khắp tất cả cõi Phật trong mười phương, hiện các thứ sắc thân, tạo chủng chủng thần biến, phóng ánh sáng lớn thuyết pháp độ thoát tất cả chúng sanh, nhập nhất thừa bất khả tư nghì; muốn được phá bốn loại ma, sạch trừ tất cả phiền não, diệt hết thảy tội chướng đạo, hiện thân nhập chánh vị Bồ-tát, đầy đủ tất cả công đức của chư Phật, trước tiên phải ở chỗ không nhàn (vắng lặng vô sự) 21 ngày nhất tâm nhập Pháp Hoa Tam-muội; nếu có Tỳ-kheo phạm ngũ nghịch, tứ trọng, mất đi pháp Tỳ-kheo, muốn được thanh tịnh trở lại đủ luật nghi của vị sa môn, được chủng chủng công đức thắng diệu như trên đã nói thì cũng nên trong 21 ngày, nhất tâm tinh tấn tu Pháp Hoa Tam-muội. Tại sao? vì Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của các Như Lai, là trên hết trong các kinh, đi trên con đường thẳng lớn mà không có gặp nạn; như viên minh châu trong búi tóc của vua chuyển luân thánh vương, không thể vọng trao cho người, nếu như người nào có được thì hết thảy mọi trân bảo theo ý mong cầu thảy đều được đầy đủ. Pháp Hoa Tam-muội cũng giống như vậy, có thể cho chúng sanh hết thảy trân bảo của Phật pháp, cho nên Bồ-tát hành trì phải không kể gì đến thân mạng, tận bờ mé vị lai tu hành kinh này, huống gì trong 21 ngày.

Hỏi: Phật đạo dài xa, tu hành 21 ngày có ích gì?

Đáp: có ba sự lợi ích, sẽ nói ở sau.

II. Nói Về Tiền Phương Tiện Hành Pháp 21 Ngày

(Tu hành có hai hạng, một là mới hành, hai là hành lâu. Dạy kẻ mới hành nên dùng pháp này. Còn dạy người tu lâu nên y phẩm An Lạc Hạnh.)

Phàm tất cả các cách hành sám hối đều cần phải hành tiền phương tiện. Tại sao? vì trước hết nếu không giữ thân tâm cho sạch kỹ mà vội vào đạo tràng thì đạo tâm không phát, hành không đúng pháp, không được sự cảm ứng giáng hiện. Vì vậy nên, trước khi chính thức sám hối, trong bảy ngày đầu, trước tiên hành giả phải tự điều phục tâm mình, dứt các duyên sự, cúng dường Tam bảo, chỉnh trang tôn nghiêm đạo tràng, y phục sạch sẽ, nhất tâm buộc niệm, tự nhớ đến ác nghiệp đã tạo đời này và các đời quá khứ của thân mình đây, sanh hổ thẹn lớn, lễ Phật sám hối, kinh hành, tụng kinh, tọa thiền, quán hạnh, phát nguyện chuyên tinh, là vì để khiến cho hành đúng tam-muội, thân tâm thanh tịnh không có chướng ngại, hết thảy mọi nguyện cầu đều được toại quả (cũng cần phải tụng các lời sám hối ở sau, sao cho thông thuộc.)

III. Nói Về Phương Pháp Nhất Tâm Tinh Tấn, Vào Đạo Tràng Tu 21 Ngày.

(Vào đạo tràng đúng pháp thì cần lấy sáu ngày trai, vì ngày này thái tử, sứ giả của bốn vị thiên vương v.v… các thiện thần xuống nhân gian, tra xét việc thiện ác, thấy người tu hành liền ghi vào sổ thiện, rồi vỗ về, bảo vệ cho, vì họ mà hiện điềm tốt lành, khiến cho hành giả tâm sanh hoan hỷ, tăng ích thiện căn)

Hành giả trước khi vào đạo tràng, đầu tiên phải nên tự an tâm. “Bắt đầu từ bây giờ cho đến hết 21 ngày, trong suốt khoảng thời gian đó, mình phải nhất tâm tinh tấn hành theo lời Phật dạy.” Tại sao? vì nếu tâm có suy nghĩ việc khác thì lập tức các phiền não sẽ xen vào, như vậy gọi là không thanh tịnh, vì tâm không thanh tịnh thì làm sao mà tương ưng với tam-muội chánh đạo được, cho nên phải tự an tâm, không tiếc gì thân mạng, nhất tâm tinh tấn cho trọn 21 ngày.

Hỏi: Tâm tướng chúng sanh dễ duyên theo cảnh, làm sao có thể được nhất tâm tinh tấn?

Đáp: Có hai loại tu nhất tâm, một là tu nhất tâm nơi sự, hai là tu nhất tâm nơi lý.

III.1. Nhất Tâm Tinh Tấn Nơi Sự:

Nghĩa là hành giả khi bắt đầu bước vào đạo tràng nên khởi nghĩ như vầy: “kể từ hôm nay cho đến hết 21 ngày, trong suốt thời gian này, mình có hành động việc chi cũng tự quán chiếu, tâm hành động tạo tác và tâm tánh không hai.” Tại sao? như khi lễ Phật phải nhất tâm lễ Phật, không duyên theo cảnh khác; cho đến sám hối, kinh hành, tụng kinh, tọa thiền cũng thảy đều nhất tâm; trong lúc hành trì, không để tâm phân tán, suốt hai mươi mốt ngày như vậy, đây gọi là tu nhất tâm tinh tấn nơi sự.

III.2. Nhất Tâm Tinh Tấn Nơi Lý:

Hành giả mới vào đạo tràng nên nghĩ như vầy: “Mình từ nay cho đến mãn 21 ngày, trong khoảng thời gian này, tất cả các hành động, thường tự chiếu soi. Tâm tạo tác và tâm tánh vốn không hai. Tại sao? Như khi lễ Phật, tâm tánh không sanh không diệt, nên biết tất cả hành động tạo tác, hết thảy mọi việc tâm tánh cũng đều không sanh không diệt, khi quán chiếu như vậy thấy tất cả tâm đều là nhất tâm, vì tâm tánh xưa nay vốn thường là một tướng.” hành giả có thể quán ngược nguồn tâm như vậy, dòng tâm tương tục, mãn 21 ngày không cho có tướng, tâm, đây gọi là pháp “tu nhất tâm tinh tấn nơi lý.”

IV. Nói Rõ Phương Pháp Tu Hành Chính Khi Vừa Vào Đạo Tràng.

Hành giả khi mới vào đạo tràng cần phải có đủ mười pháp. Thứ nhất là lập đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh. Thứ hai là làm sạch sẽ thân thể. Thứ ba là ba nghiệp cúng dường. Thứ tư là phụng thỉnh Tam bảo. Thứ năm là ngợi khen Tam bảo. Thứ sáu là lễ Phật. Thứ bảy là sám hối. Thứ tám là kinh hành nhiễu Phật. Thứ chín là tụng kinh Pháp Hoa. Thứ mười là tư duy cảnh giới nhất thật. Hành giả trong 21 ngày, đêm ngày sáu thời, khi mới vừa bước vào đạo tràng phải tu đủ mười pháp này. Sau đó trong sáu thời, trong mỗi thời hành trì nên lược bỏ đi phần thỉnh Phật, chín pháp còn lại thảy đều hành đúng theo như vậy.

IV.1. Cách Hành Giả Thiết Lập Đạo Tràng Trang Nghiêm Thanh Tịnh.

Nên chọn chỗ thanh vắng, sửa soạn một ngôi thất (căn nhà nhỏ) tôn nghiêm để làm đạo tràng. Sắp đặt một chỗ tĩnh tọa riêng, cách biệt với đạo tràng. Trong đạo tràng bày một tòa cao đẹp, thỉnh lên đó một bộ kinh Pháp Hoa. Cũng chưa cần lắm việc đặt để hình tượng, xá lợi hay các kinh điển khác, chỉ đặt một bộ kinh Pháp Hoa, bày tràng phang bảo cái cùng đầy đủ các món cúng dường.

Ngày vào đạo tràng, lúc trời hừng đông nên quét đất cho sạch, lấy nước thơm (nước hoa) rưới lên đất, sáp thơm thoa lên đất, thắp các thứ đèn dầu thơm, rãi các thứ hoa thơm, và các thứ bột trầm hương chiên đàn, xông các thứ danh hương để cúng dường Tam bảo, đầy đủ theo khả năng của mình, dốc lòng dốc ý làm cho đạo tràng cực nghiêm tịnh. Tại sao? vì trong tâm hành giả kính trọng Tam bảo vượt khỏi ba cõi, nay muốn phụng thỉnh cúng dường, đâu có thể để tâm hời hợt, nếu như không chịu bỏ tiền của để cúng dường đại thừa thì trọn không thể chiêu hiền cảm thánh, tội nặng cũng không được diệt.

IV.2. Nói Về Cách Thức Hành Giả Giữ Thân Sạch Sẽ:

Khởi đầu vào đạo tràng, hành giả nên lấy nước thơm (sà-phòng thơm) tắm gội cho sạch người, rồi mặc y phục sạch sẽ vào, hoặc là đại y, hoặc là các y mới nhuộm, nếu không có thì lấy y cũ đẹp nhất của mình để mặc vào đạo tràng. Về sau, nếu muốn rời đạo tràng để đến nhà xí thì nên cỡi y sạch ra mặc đồ cũ vào. Xong việc rồi phải tắm rửa lại, mặc y sạch trước vào, lên đạo tràng tu tiếp.

IV.3. Nói Pháp Hành Giả Tu Ba Nghiệp Cúng Dường.

(Khi mới vào đạo tràng, trước khi đến pháp tòa, phải trải ni-sư-đàn (tọa cụ) đứng ngay thẳng, đầu tiên nên khởi lòng từ nghĩ đến tất cả chúng sanh muốn được cứu độ, kế đến nên khởi tâm hổ thẹn sâu nặng; khẩn thiết chỉ nghĩ đến Như Lai. Tam bảo đầy khắp mười phương hư không, ảnh hiện trong đạo tràng. Bấy giờ tay cầm lò hương, xông các thứ hương thơm nổi tiếng, rãi các thứ hoa thơm cúng dường Tam bảo, rồi liền đó năm vóc gieo xuống đất, miệng tự xướng rằng)

Dốc lòng cung kính:

Nhất tâm kính lễ: Chư Phật thường trú trong mười phương. (miệng xướng tâm tưởng, dốc lòng đảnh lễ, đừng để phân tâm, rõ biết thân này như ảnh bóng không thật. Tâm không trụ vào người lễ và đối tượng lễ, tất cả chúng sanh cũng đồng nhập vào trong biển pháp giới. Một lễ Phật này lễ khắp mười phương cõi Phật. Lễ xong rồi, tiếp theo thân oai nghi đoan chánh, miệng tự xướng rằng)

Nhất tâm kính lễ: Hết thảy tôn pháp thường trú trong mười phương. (một lễ xong rồi tiếp theo chỉnh thân oai nghi, miệng tự xướng rằng)

Nhất tâm kính lễ: Tất cả hiền thánh tăng thường trú trong khắp mười phương. (Lễ một lễ, cách dụng tâm cũng không khác gì cách lễ Phật. Lễ Tam bảo rồi, liền quỳ xuống, gối phải chấm đất, chỉnh thân oai nghi, nhất tâm thắp hương rãi hoa, thân ngay ý chánh, kế đến miệng tự xướng rằng)

Đệ tử chúng con

Cả thảy đồng quỳ

Nghiêm trì hương hoa

Như pháp cúng dường:

Nguyện mây hương hoa nầy

Xông khắp mười pháp giới

Tất cả các cõi Phật

Vô lượng hương trang nghiêm

Đầy đủ Bồ Đề đạo

Thành tựu Như Lai hương

IV.4. Cách Thỉnh Tam Bảo:

(Hành giả đã tu ba nghiệp cúng dường xong rồi, kế đến nên thắp hương rãi hoa thêm, nhất tâm chánh niệm, khởi tâm phụng thỉnh Tam bảo như cúng dường ở trước. Cách thỉnh Tam bảo là chú tâm vào vị Phật, Pháp hay Tăng được cung thỉnh, miệng xưng niệm danh hiệu, mỗi một vị phụng thỉnh đúng như pháp, đừng để tâm tán loạn khinh suất.)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. (Liền biết pháp thân như hư không, không có tướng đến đi. Tất cả các đức Phật khác cũng đều như vậy, theo sự tưởng niệm nơi tâm, từ núi Kỳ-xà quật cùng đại chúng vây quanh đến đạo tràng thọ nhận sự phụng thỉnh, ân cần cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Quá Khứ Đa Bảo Thế Tôn. (Liền nghĩ ngay đến tháp Phật Đa Bảo từ đất vọt lên, hiện trước đạo tràng, nhận sự cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô chư Phật phân thân của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni trong mười phương. (Liền nghĩ đến các phân thân của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni thảy đều vân tập dưới tòa cây báu, nhận sự cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả chư Phật trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. (Liền nghĩ đến các đức Phật quá khứ như đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh v.v…Đức Phật hiện tại như đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí v.v…Đức Phật vị lai như đức Phật Hoa Quang v.v…thảy đều hiện ra trước, thọ nhận sự cúng dường của con.)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả chư Phật thường trú trong khắp mười phương. (liền khởi tâm nghĩ rằng, chư Phật ở phương đông thân sắc vàng, tướng đẹp đủ đầy phóng ánh sáng lớn cùng với đại chúng vây quanh trước sau, đến đạo tràng đầy khắp hư không, nhận sự cúng dường của con. Phương nam, phương tây, phương bắc, bốn hướng trên dưới cũng đều như vậy)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. (trong lòng khởi nghĩ tất cả pháp tạng bí mật sâu mầu thảy đều hiện trước mắt, nhận sự cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả tôn pháp thường trú trong mười phương. (liền nên khởi tâm nghĩ rằng, tất cả chư Phật trong mười phương, hết thảy pháp tạng thảy đều hiện trong đạo tràng, nhận sự cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát ma-ha-tát. (khởi tâm nghĩ rằng, Bồ-tát Văn Thù cùng vô lượng Bồ-tát vây quanh nhận sự cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Di-lặc Bồ-tát ma-ha-tát. (Khởi nghĩ cũng giống như trên)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát, Vô Tận Ý Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Diệu Âm Bồ-tát, Hoa Đức Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát, Trí Tích Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Tú Vương Hoa Bồ-tát, Dõng Thí Bồ-tát, Trì Địa Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Vô Biên A-tăng-kỳ Bồ-tát như Thượng Hạnh V.v… ở phương dưới.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả chư Đại Bồ-tát ma-ha-tát như Phổ Hiền Bồ-tát v.v… trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa (tâm nghĩ đến Bồ-tát Phổ Hiền cỡi tượng vương trắng sáu ngà, dùng sắc thân mà tất cả chúng sanh ưa thấy cùng với vô lượng quyến thuộc đến nơi đạo tràng nhận sự cúng dường của con)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả chư đại chúng Thanh Văn như Xá-lợi-phất v.v… trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả Tăng thường trú trong mười phương. (Khởi tâm nghĩ tưởng hết thảy các vị đại Bồ-tát, Duyên Giác, Thanh Văn phóng ánh sáng lớn cùng với các đại quyến thuộc vây quanh, cùng đến đạo tràng, nhận sự cúng dường của con.)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả tám bộ chúng Trời Rồng…trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cùng tất cả chư Thần chốn u minh, hư không cùng quyến thuộc của mỗi vị.

(Như vậy thứ lớp phụng thỉnh qua một lần rồi, liền năm vóc gieo xuống đất, rồi lại hồ quỳ, thắp hương rải hoa, rồi lại xưng danh phụng thỉnh lại từ đầu lần lược, phụng thỉnh đủ ba lần như vậy, rồi tự nói như vầy)

Duy nguyện:

Đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Thế Tôn, Đức Đa Bảo Như Lai cùng chư Phật phân thân đại từ đại bi nhận lời phụng thỉnh của chúng con mà đến đạo tràng.

Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, chân tịnh pháp môn xót thương che chở, nhận lời phụng thỉnh của con mà đến đạo tràng.

Các bậc thượng hạnh ở phương dưới như Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát, Phổ Hiền Bồ-tát; hết thảy các vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa như Phổ Hiền Bồ-tát v.v.. nhận lời phụng thỉnh của con mà đến đạo tràng.

Tất cả các đại Thanh văn như ngài Xá-lợi-phất v.v… thảy đều từ bi nhận lời phụng thỉnh của con mà đến đạo tràng.

Hết thảy mười phương Tam bảo thương xót che chở, nhận lời phụng thỉnh của con mà đến đạo tràng.

Cùng hết thảy bát bộ chúng Trời Rồng v.v… thảy sanh lòng ai mẫn nhận lời mời thỉnh của tôi mà đến đạo tràng, nguyện các chúng thánh đây thảy đều chứng minh.

Con nay muốn vì mười phương hết thảy chúng sanh trong sáu đường mà tu hành đại thừa vô thượng bồ-đề, phá hết thảy những trọng tội ngăn chướng đạo, nguyện đắc Pháp hoa tam-muội, phổ hiện sắc thân, ngay trong một niệm cúng dường hết thảy Tam bảo trong mười phương, ngay trong một niệm độ khắp hết thảy chúng sanh trong sáu đường mười phương, vì khiến nhập đại trí tuệ bình đẳng nhất thừa nên trong 21 ngày, nhất tâm tinh tấn tu hành như Kinh đã dạy. Nguyện hết thảy chư Phật Bồ-tát, Phổ Hiền đại sư vì sức bổn nguyện nhận sự sám hối của con, khiến cho việc tu của con, quyết định phá các tội chướng, pháp môn hiện tiền như kinh đã dạy (Hành giả nên tự thân dùng trí lực trình bày cái ý thỉnh Phật)

IV.5. Tán Thán Tam Bảo:

Dung nhan thật khác thường

Hào quang chiếu mười phương

Con vừa mới cúng dường

Nay còn đích thân thấy

Bậc thánh chúa vua trời

Tiếng ca-lăng-tầng-già

Đấng thương xót chúng sanh

Chúng con nay kính lễ (1 lạy)

Nguyện đem công đức tán thán Phật, thiện căn tu hành đại thừa vô thượng, dâng phước cho trời rồng bát bộ, đại Phạm thiên vương, tam thập tam Thiên, Diêm-la năm đường, lục trai bát vương, hành bệnh quỷ vương cùng với các quyến thuộc, các vị thần ở cõi này và những vị bảo vệ chánh pháp trong chốn tăng-già-lam. Lại vì quốc vương, muôn dân thuộc địa, sư Tăng cha mẹ, thiện ác tri thức, mười phương tín thí, đàn-việt tạo tự, rộng ra khắp pháp giới chúng sanh, nguyện nhờ thiện căn này, bình đẳng huân tu hai món trang nghiêm công đức trí tuệ, đồng chứng vô sanh, thành đạo chủng trí (Tức phải hiểu rõ, thân khẩu ý nghiệp đầy khắp pháp giới, khen ngợi Tam bảo không sanh không diệt, không có tự tánh)

IV.6. Cách Lễ Phật:

(hành giả khen ngợi Tam bảo rồi, nên nhất tâm giữ thân oai nghi, lần lượt lễ Phật. Cách lễ Phật là phải chí tâm nhớ nghĩ đến đức Phật mà mình lễ. Pháp thân của đức Phật đây cũng giống như hư không, vì độ sanh hiện tướng, như hiện ra trước mặt nhận con lễ lạy. Các đức Phật khác cũng đều như vậy, phải dụng tâm không được tán loạn. Lại nữa hành giả khi lễ Phật, tự biết mình thân tâm rỗng rang vắng lặng, không có tướng lễ. Lại cũng biết thân này tuy như huyễn không thật nhưng không phải không có sắc thân, trước mỗi vị Phật ở trong pháp giới thảy đều có thân này, đầu mặt đảnh lễ. Cách lễ Phật sáu thời trong 21 ngày cũng giống như đã nêu dưới đây.)

Nhất tâm kính lễ: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nhất tâm kính lễ: Quá Khứ Đa Bảo Phật.

Nhất tâm kính lễ: Phân thân của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong mười phương.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Thiện Đức ở phương đông cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương đông.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Vô Ưu Đức ở phương đông nam cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương đông nam.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Chiên Đàn Đức ở phương nam cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương nam.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Bảo Thí ở phương tây nam cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương tây nam.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Vô Lượng Minh ở phương tây cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương tây.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Hoa Đức ở phương tây bắc cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương tây bắc.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Tướng Đức ở phương bắc cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương bắc.

Nhất tâm kính lễ: Tam Thừa Hạnh Phật ở phương đông bắc cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương đông bắc.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Quảng Chúng Đức ở phương trên cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương trên.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Minh Đức ở phương dưới cùng tất cả chư Phật tận pháp giới phương dưới.

Nhất tâm kính lễ: Chư Phật trong ba đời từ xưa đến nay cùng bảy Phật Thế Tôn và ngàn Đức Phật ở hiền kiếp.

Nhất tâm kính lễ: Hai muôn ức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh vào thời quá khứ trong kinh Pháp Hoa cùng đức Phật Đại Thông Trí Thắng, mười sáu vị Phật vương tử v.v… và hết thảy chư Phật quá khứ.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí hiện tại trong kinh Pháp Hoa cùng đức Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương v.v… và hết thảy chư Phật hiện tại.

Nhất tâm kính lễ: Đức Phật Vị Lai Hoa Quang trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng v.v… cùng tất cả chư Phật vị lai.

Nhất tâm kính lễ: Hết thảy diệu tháp, tôn tượng, xá lợi trong mười phương thế giới, toàn thân bảo tháp của đức Đa Bảo Như Lai.

Nhất tâm kính lễ: Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, tất cả tôn kinh trong mười phương cùng mười hai bộ chơn tịnh pháp bảo.

Nhất tâm kính lễ: Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát, Di-lặc Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Quán Thế Âm Bồ-tát, Vô Tận Ý Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Diệu Âm Bồ-tát, Hoa Đức Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Thường Tin Tấn Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát, Trí Tích Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Tú Vương Hoa Bồ-tát, Trì Địa Bồ-tát, Dõng Thí Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Các bậc Thượng hạnh ở phương dưới trong kinh Pháp Hoa v.v… cùng hết thảy vô biên a-tăng-kỳ Bồ-tát ma-ha-tát.

Nhất tâm kính lễ: Xá-lợi-phất v.v.. hết thảy chúng đại Thanh văn trong kinh Pháp Hoa.

Nhất tâm kính lễ: Mười phương hết thảy chư tôn Bồ-tát đại quyền cùng Thanh văn, Duyên giác đắc đạo hiền thánh Tăng.

Nhất tâm kính lễ: Phổ Hiền Bồ-tát ma-ha-tát. (xướng danh hiệu Bồ-tát đây ba lần, vì đây là vị sám chủ Pháp Hoa, hành giả nên tự mình khởi tâm quỳ trước tôn tượng vị Bồ-tát này nói tội sám hối và phát nguyện v.v…các vị Phật Bồ-tát khác đều chứng minh cho. Trong hai mươi mốt ngày thảy đều làm như vậy.)

Con nay khắp vì bốn ân ba cõi cùng pháp giới chúng sanh thảy nguyện đoạn trừ ba chướng, thành kính quy mạng sám hối.

IV.7. Sám Hối Sáu Căn Và Khuyến Thỉnh, Tùy Hỷ, Hồi Hướng, Phát Nguyện:

Hành giả lễ Phật rồi, liền ở nơi pháp tòa, thân giữ ngay ngắn oai nghi, đốt hương rải hoa, tâm chỉ nghĩ đến Tam bảo đầy khắp hư không. Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng sáu ngà có vô lượng quyến thuộc trang nghiêm vây quanh, tưởng mình như đối trước mặt các Ngài, nhất tâm nhất ý vì tất cả chúng sanh hành pháp sám hối, sanh tâm rất hổ thẹn, phát lồ từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, mình với tất cả chúng sanh, sáu căn tạo tội, tất cả ác nghiệp, đoạn tâm tương tục; nguyện kể từ đời nay cho đến tận cùng bờ vị lai, trọn không tạo các ác nghiệp nữa. Tại sao? Vì tánh của nghiệp tuy không (rỗng rang), nhưng mà quả báo không mất. Người đã biết rổng rang rồi, thiện còn không tạo, hà huống gì tạo tội. Nếu cứ mãi tạo ác thì là điên đảo nhân duyên, phải chịu quả hư dối. Vì vậy, hành giả do biết là rổng rang nên sanh cực hổ thẹn, thắp hương rải hoa, phát lồ sám hối. Những chương cú sám hối được nêu dưới đây, phần nhiều dùng ý của kinh Phổ Hiền Quán. Nếu muốn biết rộng phương pháp sám hối thì đọc kinh sẽ tự rõ. Còn nếu không thể tìm rộng thì nay có thể lấy ý lược nói để thành phương pháp hành trì.

IV.7.1. Đầu Tiên Là Cách Sám Hối Nhãn Căn:

(Hành giả nhất tâm hồ quỳ, giữ thân ngay thẳng oai nghi, thắp hương rải hoa, tâm nghĩ cải hối. Con và chúng sanh, nhãn căn từ xưa đến nay, tánh thường rổng rang vắng lặng, vì điên đảo nhân duyên mà dấy các trọng tội, đau buồn rơi lệ, miệng thốt lời sám hối. Cách thức sám hối năm căn ở phần sau, cũng giống như lời ở đây nói, tức miệng tự thốt.)

Chí tâm sám hối, con tỳ-kheo………….cùng tất cả pháp giới chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, nhãn căn nhân duyên say đắm các sắc, do vì đắm sắc nên đắm yêu các trần, do đắm yêu trần nên thọ thân nữ, đời đời kiếp kiếp sanh ra nơi nào cũng bị mê đắm các sắc, sắc làm hư hoại mắt con, vì ân ái mà làm nô lệ. Vì vậy, sắc khiến con trôi nổi trong ba cõi, vì nó mà làm điều xấu, khiến bị mù lòa không thấy. Nhãn căn bất thiện làm tổn hại đến con nhiều. Mười phương chư Phật thường ở đời không mất. Con vì đôi mắt ô uế, ác trược làm chướng ngại nên không thấy, nay tụng kinh điển Phương đẳng đại thừa, quy hướng về Phổ Hiền Bồ-tát cùng tất cả Thế Tôn, thắp hương, rải hoa, thốt ra tội lỗi của mắt, không dám che giấu. Chư Phật Bồ-tát có nước pháp, huệ nhãn, xin hãy tẩy trừ cho chúng con. Nguyện nhờ nhân duyên này, khiến cho con và tất cả chúng sanh, hết thảy trọng tội của nhãn căn, rốt ráo thanh tịnh (Sám hối rồi đảnh lễ Tam bảo. 1 lạy hoặc 3 lạy)

Nói lời này xong, năm vóc gieo mình xuống đất. Trong Kinh Phổ Hiền Quán có nói rõ sám hối sáu căn cần phải nói ba lần. Như thời gian lâu khó hành thì nói một lần cũng được, nhưng phải nói lời này. Câu thứ hai thứ ba cũng phải nói như vầy. Hành giả phải tự mình nghĩ nhớ đến kinh, các trọng tội do nhãn căn gây tạo, đối trước Bồ-tát Phổ Hiền phát lồ sám hối. Năm căn ở sau cũng đều có cái ý này.)

IV.7.2. Cách Sám Hối Nhĩ Căn:

Chí tâm sám hối, con tỳ-kheo……………cùng tất cả pháp giới chúng sanh từ nhiều kiếp đến nay, nhĩ căn nhân duyên, chạy theo tiếng ngoài, khi nghe tiếng du dương tâm sanh mê đắm, lúc nghe lời xấu, khởi 108 thứ phiền não tặc hại. Tai nghe tiếng xấu như vậy cảm báo chịu việc xấu, thường nghe tiếng ác, sanh các phan duyên. Vì cái nghe điên đảo nên bị đọa vào đường ác, biên địa, tà kiến, không nghe được chánh pháp, chỗ nào cũng mê đắm không tạm dừng nghỉ; vì âm thanh này mà lao nhọc thần thức của con, chịu rơi đọa trong ba đường. Mười phương chư Phật thường đang thuyết pháp, con vì tai trược ác che lấp nên không nghe được. Ngày nay mới giác ngộ, tụng trì đại thừa, biển tạng công đức, quy hướng về Phổ Hiền Bồ-tát cùng tất cả Thế Tôn, thắp hương rải hoa, nói tội lỗi của tai không dám che giấu. Nguyện nhờ nhân duyên này khiến con và pháp giới chúng sanh, tất cả trọng tội mà nhĩ căn đã tạo rốt ráo được thanh tịnh (sám hối rồi lễ Tam bảo.1 lạy hoặc 3 lạy)

IV.7.3. Cách Sám Hối Tỹ Căn:

Chí tâm sám hối, con tỳ-kheo……………..cùng tất cả pháp giới chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, vì tỹ căn này, ngửi các mùi hương, như mùi hương trên người của nam nữ, mùi cá thịt thức ăn cùng các thứ mùi mê đắm không thôi, làm dấy động các kết sử, các giặc phiền não, đã ngủ trổi dậy, vô lượng tội nghiệp, do đây tăng trưởng, vì say đắm mùi, sanh khởi các thức phân biệt, mọi chỗ đắm nhiễm, đọa vào sanh tử, chịu các khổ báo. Mười phương chư Phật, diệu hương công đức, đầy khắp pháp giới, mũi con dơ xấu, gây chướng không nghe, nay tụng đại thừa, diệu điển thanh tịnh, quy hướng về Phổ Hiền Bồ-tát cùng tất cả Thế Tôn, thắp hương rải hoa, nói tội của mũi, không dám che dấu. Nguyện nhờ duyên này, khiến con và tất cả chúng sanh, hết thảy tội lỗi của tỹ căn rốt ráo thanh tịnh (sám hối rồi lễ Tam bảo. 1 lạy hoặc 3 lạy)

IV.7.4. Cách Sám Hối Thiệt Căn:

Chí tâm sám hối, con tỳ-kheo………………cùng tất cả pháp giới chúng sanh từ vô số kiếp đến nay, những ác nghiệp bất thiện mà căn lưỡi đã tạo, mê đắm các vị ngon, tổn hại chúng sanh, phá các giới cấm, mở cửa phóng túng, vô lượng tội nghiệp, từ căn lưỡi sanh; lại vì căn lưỡi, khởi tạo tội miệng như: nói dối, thêu dệt, mắng rủa, đôi chiều, phỉ báng Tam bảo, khen ngợi tà kiến, nói lời vô ích, đấu đá hại nhau, pháp nói phi pháp, các gai ác nghiệp, từ căn lưỡi xuất, đoạn xe chánh pháp, từ căn lưỡi khởi, lưỡi ác như vậy, đoạn giống công đức, nơi sự phi nghĩa, nhiều bề cưỡng nói, khen ngợi tà kiến, như củi thêm lửa, tội lỗi căn lưỡi, vô lượng vô biên, do nhân duyên này, phải đọa đường ác, trăm ngàn muôn kiếp, mãi không ngày ra. Pháp vị chư Phật, đầy khắp pháp giới, vì tội căn lưỡi, nên không rõ biết, nay tụng đại thừa, bí tạng của chư Phật, quy hướng về Phổ Hiền Bồ-tát cùng tất cả Thế Tôn, thắp hương rải hoa, nói tội của lưỡi, không dám che giấu. Nguyện nhờ nhân duyên này, khiến cho con cùng pháp giới chúng sanh, hết thảy trọng tội của căn lưỡi rốt ráo thanh tịnh (sám hối rồi lễ Tam bảo 1. lạy hoặc 3 lạy)

IV.7.5. Cách Sám Hối Thân Căn:

Chí tâm sám hối, con tỳ-kheo…………..cùng tất cả pháp giới chúng sanh từ lâu xa đến nay, căn thân bất thiện, tham đắm các xúc; các xúc chạm mềm mại, trơn mịn trên thân nam nữ… mọi thứ xúc chạm như vậy, điên đảo không dứt, phiền não cháy mạnh, tạo tác thân nghiệp, ba món bất thiện, làm sát đạo dâm, kết đại oán thù, với các chúng sanh, tạo nghịch phá giới; cho đến thiêu đốt chùa tháp, dùng của Tam bảo, không biết xấu hổ. Những tội như vậy v.v….Vô lượng vô biên, khởi từ thân nghiệp, nói không thể hết, nhân duyên tội cấu, khiến đời vị lai, đáng đọa địa ngục, chịu lửa cháy dữ, thiêu đốt thân con, vô lượng ức kiếp, thọ đại khổ não. Mười phương chư Phật, thường phóng tịnh quang, chiếu lên chúng con, do vì căn thân tạo trọng tội, gây chướng ngại nên không giác biết, chỉ biết tham đắm, các xúc thô ác, hiện chịu các khổ, sau chịu các khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mọi sự khổ não như vậy, con bị chìm đắm trong đó mà không tự hay biết. Ngày nay xấu hổ, tụng trì đại thừa, pháp tạng chân thật, quy hướng về Phổ Hiền Bồ-tát cùng tất cả Thế Tôn, thắp hương rải hoa, nói tội lỗi của thân không dám che giấu. Nguyện nhờ nhân duyên này, khiến cho con cùng pháp giới chúng sanh, hết thảy trọng tội của căn thân rốt ráo thanh tịnh (sám hối rồi lễ Tam bảo. 1 lạy hoặc 3 lạy)

IV.7.6. Cách Sám Hối Ý Căn:

Chí tâm sám hối, con tỳ-kheo……………..cùng tất cả pháp giới chúng sanh, từ vô thỉ đến nay, căn ý bất thiện, tham đắm các pháp, cuồng ngu không dứt, tùy theo cảnh duyên, khởi tham sân si, tà niệm như vậy, hay sanh tất cả chủng nghiệp, như là thập ác ngũ nghịch, giống như vượn khỉ, cũng như keo nhựa, tham đắm mọi chỗ, biến khắp hết thảy trong sáu căn. Nghiệp sáu căn này, cành nhánh hoa lá, thảy đầy khắp tam giới, hai mươi lăm hữu, tất cả chỗ sanh; cũng có thể làm tăng trưởng mười hai sự khổ vô minh…già chết; tám tà tám nạn, thảy đều đi qua, vô lượng vô biên ác báo bất thiện, từ căn ý sanh. Căn ý như vậy, chính là gốc rễ của tất cả sanh tử, là nguồn của các khổ. Như trong Kinh dạy: Đức Phật Thích-ca còn gọi là Tỳ-lô-giá-na, biến nhất thiết xứ. Nên biết tất cả các pháp thảy đều là Phật pháp. Vì vọng tưởng phân biệt, nên chịu các nóng bực, đó là do trong Bồ-đề mà thấy không thanh tịnh, trong giải thoát mà khởi trói buộc. Nay mới giác ngộ, sanh trọng hổ thẹn, sanh trọng sợ hãi, tụng trì đại thừa, như giáo tu hành, quy hướng về Phổ Hiền Bồ-tát cùng tất cả Thế Tôn, thắp hương rải hoa, nói tội lỗi của ý, phơi bày sám hối, không dám che giấu. Nguyện nhờ nhân duyên này khiến cho con và pháp giới chúng sanh, hết thảy trọng tội của ý căn, cho đến tất cả các ác nghiệp mà sáu căn đã khởi, hiện khởi, vị lai sẽ khởi, tẩy sạch sám hối, rốt ráo thanh tịnh (sám hối rồi lễ Tam bảo. 1 lạy hoặc 3 lạy.)

(Dùng cho cả sáu thời. Nếu người trì thấy lời nhiều thì có thể chọn ý, tự mình có thể giảm bớt lời.)

IV.7.7. Cách Khuyến Thỉnh:

(Nhất tâm hồ quỳ, thân giữ ngay ngắn oai nghi, thắp hương rãi hoa, nhất tâm khởi nghĩ đến việc thỉnh Phật Bồ-tát thuyết pháp độ chúng sanh, tâm nghĩ miệng nói. Ba pháp sau cũng như vậy. Nên nói lời này)

Con tỳ-kheo…………………..chí tâm khuyến thỉnh, mười phương pháp giới vô lượng Phật, duy nguyện trụ lâu nơi đời chuyển pháp luân, khiến cho hết thảy hàm thức được trở về thanh tịnh vốn có, rồi sau đó Như Lai mới quy về thường trụ (khuyến thỉnh rồi lễ Tam bảo. 1 lạy hoặc 3 lạy)

Thốt lời này rồi, năm vóc gieo mình xuống đất. Nếu hành giả muốn bày tỏ thì nghĩ bao nhiêu, tùy tâm mà nói bấy nhiêu. Ba pháp sau cũng như vậy.

IV.7.8 Cách Tùy Hỷ:

Con tỳ-kheo…………………….chí tâm tùy hỷ các công đức của chư Phật Bồ-tát, hàng phàm phu tạo thiện trong tĩnh loạn, hết thảy nghiệp hữu lậu và vô lậu, tỳ-kheo…………………………..con thảy đều tùy hỷ (tùy hỷ rồi lễ Tam bảo. Lạy 1 lạy hoặc 3 lạy)

IV.7.9 Cách Hồi Hướng:

Con tỳ-kheo……………….chí tâm hồi hướng, tất cả thiện do ba nghiệp tu tạo, dâng cúng mười phương hằng sa chư Phật, hư không pháp giới, tận cùng vị lai, nguyện hồi hướng phước này cầu Phật đạo. (Hồi hướng rồi lễ Tam bảo. Lạy 1 lạy hoặc 3 lạy)

IV.7.10 Cách Phát Nguyện:

Con tỳ-kheo………………..chí tâm phát nguyện. Nguyện khi mạng chung, thần thức không loạn, chánh niệm vãng sanh thẳng sang nước An dưỡng, diện kiến đức Phật A-di-đà cùng các thánh chúng, tu hành cái lạc thắng thường của thập địa.(Phát nguyện rồi lễ Tam bảo. Lạy 1 lạy hoặc 3 lạy.)

Cách phát nguyện là hành giả quỳ trước tôn tượng của đức Phổ Hiền Bồ-tát và các Thế Tôn, tâm nghĩ miệng nói ra hết thảy những điều nguyện cầu trong lòng, chẳng hạn như tấm thân này hành đạo không chướng ngại, bốn ma không khởi, đắc tam-muội sâu xa, nhập các pháp môn, hoằng thông chánh pháp, độ thoát chúng sanh, khi bỏ thân mạng này, chánh niệm thành tựu, cho đến đời vị lai, thường sanh nhà chánh tín, gặp Tam bảo, xuất gia tu đạo, cúng dường Tam bảo, thọ trì đại thừa, các ba-la-mật thảy đều hiện tiền, cùng với tất cả chúng sanh thành đẳng chánh giác, như vậy hết thảy các điều nguyện cầu trong lòng của mình, thảy đều tùy ý mà nói. Còn việc gia đình của mình, không được nói cụ thể hết ra đây.)

IV.8. Cách Kinh Hành:

(Hành giả lễ Phật rồi nên nhất tâm chánh thân oai nghi, nhiễu quanh bên pháp tòa, thắp hương rãi hoa, khoang thai nhẹ bước, tâm nghĩ đến Tam bảo. Thứ tự xưng niệm ba lần)

Nam mô thập phương Phật

Nam mô thập phương Pháp

Nam mô thập phương Tăng

Nam mô Thích-ca Mâu-ni Phật

Nam mô Đa Bảo Phật

Nam mô Chư Phật phân thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni

Nam mô Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Nam mô Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát

Nam mô Phổ Hiền Bồ-tát

(Xưng niệm danh hiệu chư Phật Bồ-tát ma-ha-tát như vậy rồi liền tụng kinh. Cách tụng kinh sẽ nói rõ phần sau. Hành giả không phải chỉ rõ biết tiếng tụng kinh tánh như hư không mà cũng nên biết thân tâm như mây như bóng, cất bước hạ chân tâm không có chỗ đắc, không trụ tướng hành và cũng biết rằng ảnh bóng của thân này hiện ở mười phương đầy khắp pháp giới, không nơi nào mà không hiện khắp, nhiễu vòng chư Phật. Nhiễu như vậy từ ba cho đến bảy vòng, hai mươi mốt vòng, bốn mươi chín vòng, trăm vòng, không có định số, nên tự liệu lượng. Như khi kinh hành sắp xong, nên trở lại xưng Tam bảo như trước, thắp hương chánh niệm tụng kinh, tụng kinh xong rồi đến chỗ lễ Phật cũ, quy y Tam bảo nhất tâm chánh niệm, miệng tự xướng rằng)

Con quy y Phật, nguyện cho chúng sanh, hiểu rõ Phật đạo, phát tâm vô thượng. (1 lạy)

Con quy y Pháp, nguyện cho chúng sanh, học sâu kinh tạng, trí huệ như biển. (1 lạy)

Con quy y Tăng, nguyện cho chúng sanh, lãnh nhiếp đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)

IV.9. Nói Lại Cách Tụng Kinh:

Hành giả ngay trước khi nhiễu Phật, xưng danh hiệu chư Phật Bồ-tát rồi, nhất tâm chánh niệm tụng kinh Pháp Hoa. Có hai hạng người tụng.

Một là tụng đầy đủ. Hai là tụng không đầy đủ. Tụng đầy đủ nghĩa là hành giả trước đó đã tụng trọn bộ kinh Pháp Hoa, thuộc rành mới vào đạo tràng, có thể ngay từ đầu tụng phẩm 1 phẩm 2, hoặc đến cả quyển, lúc kinh hành sắp xong thì dừng tụng kinh. Như trước đã nói, xưng danh hiệu chư Phật Bồ-tát rồi, ba tự quy y rồi, trở về chỗ ngồi trước kia, Nếu ý vẫn chưa muốn tọa thiền thì ngồi ngay ngắn tụng kinh tiếp. Tụng được bao nhiêu là do ở mình. Nhưng bốn thời tọa thiền không được bỏ hết, cần phải ngồi cho lâu. Nếu người nào vốn không học ngồi thiền, chỉ muốn tụng kinh sám hối thì nên trong cách hành tọa đổi thành tụng kinh lâu hơn, còn mệt quá thì bớt tụng lại, nghỉ ngơi rồi thì lại tụng kinh tiếp, cũng không trái với cách hành. Vì thế nói rằng không nhập tam-muội. Chỉ vì tụng kinh nên thấy sắc thượng diệu.

Hai là tụng không đủ đầy, nghĩa là hành giả vốn chưa từng tụng kinh Pháp Hoa, nay vì hành tam-muội nên tụng một phẩm An Lạc Hạnh, sao cho thật thông thuộc. Như khi đi nhiễu Phật chỉ tụng một phẩm này, từ một hoặc hai, hoặc ba biến, tụng bao nhiêu tùy ý mình. Như muốn tụng kèm thêm các phẩm khác của kinh Pháp Hoa cũng được, có điều không được tụng các kinh điển khác mà thôi. Phàm cách tụng kinh là nên tụng câu văn cho rõ ràng, âm thanh cũng rõ rệt, không kéo dài cũng không gấp, để tâm duyên theo lời kinh, như dò xét văn không khác, không được để sai lầm. Kế đến tĩnh tâm, rõ biết tánh của âm thanh, như tiếng vang trong hang, hư không. Tuy không được âm thanh, nhưng tâm được quán chiếu các nghĩa câu, ngôn từ rõ hết, vận chuyển pháp âm này đầy khắp pháp giới, cúng dường Tam bảo, thí khắp chúng sanh, khiến nhập đại thừa, cảnh giới nhất thật.

IV.10. Nói Cách Tọa Thiền Chánh Quán Thật Tướng:

Hành giả kinh hành tụng kinh xong rồi, liền đến chỗ ngồi, bước lên giường dây, sửa sang y phục, thân ngồi ngay ngắn, nhắm mắt ngậm miệng, điều hòa hơi thở, thả lỏng thân tâm, mỗi việc đều như phần tiền phương tiện đã nói, sau đó nhiếp niệm chánh quán, phá trừ nghiệp tội. Thế nào gọi là chánh quán?

Như pháp của Bồ-tát, không đoạn kết sử, không trụ biển kết sử, quán tất cả pháp, tướng như thật rỗng rang, đây gọi là chánh quán. Thế nào gọi là quán tất cả pháp rỗng rang. Nghĩa là hành giả quán cho thật kỹ, một niệm hiện tại, vọng tâm theo cảnh sở duyên mà khởi. Cái tâm như vậy là vì do tâm cho nên có tâm? hay vì không phải do tâm cho nên có tâm, vì cũng do tâm cũng chẳng phải do tâm cho nên có tâm? hay là vì chẳng phải do tâm chẳng phải không do tâm cho nên có tâm? là ở ba cõi? là ở hai bên trong ngoài hay ở khoảng giữa? có vết tích gì? ở nơi chốn nào? trong các thứ nhân duyên như vậy v.v… tìm tâm trọn không có được. Tâm như mộng huyễn không có thật, tịch nhiên như hư không, không danh không tướng, không thể rõ biết.

Lúc bấy giờ hành giả còn không thấy tâm là sanh tử thì há gì thấy tâm là niết-bàn. Đã không được đối tượng quán, cũng không chứa chủ thể quán; không lấy, không bỏ, không dựa vào, không dính mắc; tất cả nghĩ tưởng không khởi, tâm thường tịch nhiên; cũng không trụ nơi tịch nhiên, tuyệt đường ngôn ngữ, không thể diễn tả. Tuy không đạt được cái tướng tâm chẳng phải tâm, nhưng cũng rõ thấu thông đạt được tất cả pháp tâm chẳng phải tâm, hết thảy đều như huyễn hóa, đây gọi là quán tâm vô tâm, pháp bất trụ pháp, các pháp giải thoát, diệt đế tịch tĩnh.

Thực hành pháp sám hối này gọi là đại sám hối, là sám hối trang nghiêm, là sám hối không có tướng tội, là sám hối phá trừ tâm thức. Hành pháp sám hối này, tâm như dòng nước, không trụ nơi pháp. Tại sao? Vì tất cả các pháp, tội phước do vọng tưởng điên đảo mà ra, đều từ tâm khởi; hễ lìa tâm ra thì không có tội phước cùng tất cả pháp. Nếu quán tâm không tâm thì tội phước không có chủ tể. Biết tội phước tánh vốn như hư không thì tất cả các pháp đều như hư không.

Khi quán như vậy, có thể phá hết thảy sanh tử điên đảo, ba độc, vọng tưởng, ác nghiệp cực nặng; cũng không có đối tượng phá, thân tâm thanh tịnh; trong mỗi niệm soi rõ các pháp, không thọ, không dính mắc ấm giới vi tế. Nhờ nhân duyên này mà được tương ưng với tam-muội. Nhờ sức Tam-muội, nên liền thấy được Phổ Hiền cùng mười phương Phật xoa đảnh thuyết pháp, tất cả các pháp môn đều hiện trong một tâm niệm, chẳng phải một chẳng phải khác, không có chướng ngại, cũng giống như bảo châu như ý có đầy đủ tất cả thứ trân bảo.

Cái tánh bảo như vậy chẳng ở trong, chẳng ở ngoài. Hành giả khéo quán tâm tánh như hư không, trong tâm thanh tịnh rốt ráo, thấy tất cả các pháp môn thông đạt không trở ngại. Cũng giống như vậy, đây gọi là hành giả quán tâm thật tướng sám hối. Sáu căn không đoạn ngũ dục, được các căn thanh tịnh, thấy việc chướng ngại bên ngoài, rộng nói những điều như kinh Pháp Hoa, kinh Quán Phổ Hiền đã nói.

Lại nữa hành giả khi mới vào đạo tràng, nơi thời đầu, nên tu đầy đủ mười pháp này. Cũng như vậy, trong sáu thời thảy đều dùng cách này. Ngoại trừ lúc phụng thỉnh Tam bảo ra, trong hai mươi mốt ngày đều tu chín pháp. Mỗi một thời hành trì đều nên tu pháp quán này. Ở mỗi một thời trong sáu thời, không được khuyết thiếu phần sự lý. Đây gọi là nhất tâm tinh tấn trong hai mươi mốt ngày.

Lại nữa, hành giả khi tu sám hối trong hai mươi mốt ngày, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc ra vào, đại tiểu tiện, quét dọn tắm rửa vệ sinh, di chuyển, làm việc, cử động, nhìn ngó cúi ngước, phải nên lúc nào cũng nghĩ nhớ đến Tam bảo, quán tâm tánh rỗng rang, không được cho một khoảnh sát-na nhớ nghĩ đến thế sự ngũ dục, sanh tâm tà niệm, hay là nói chuyện luận bàn với người ngoài, buông lung nằm ngủ, cười giỡn, ngó sắc nghe thanh, đắm say các trần cảnh, khởi các tạp niệm phiền não, bất thiện, vô ký, trái với bốn món trong Phẩm An Lạc Hạnh đã nói. Nếu như có thể giữ cho mỗi tâm niệm được tương tục như vậy, không lìa thật tướng, không tiếc thân mạng, vì tất cả chúng sanh hành pháp sám hối thì đây gọi là trong hai mươi mốt ngày, chân thật nhất tâm tinh tấn tu vậy. (hình dáng cách hành phần nhiều rút từ trong Kinh Quán Phổ Hiền và trong Bốn món An Lạc Hạnh. Hành giả nếu muốn tinh tấn tu tam-muội, muốn cho việc tu không có lỗi thất thì nên xem kỹ hai phẩm kinh trên)

V. Lược Nói Tướng Tu Chứng:

Nếu hành giả thực hành theo được như vậy, trong hai mươi mốt ngày nhất tâm tinh tấn, khi tu tam-muội trong hai mươi mốt ngày, trong khoảng thời gian đó, hoặc mãn hai mươi mốt ngày rồi, có ba tướng mà hành giả tu chứng khác nhau, nay tôi sẽ nói sơ để mọi người rõ biết: một là tướng chứng của hành giả hạ căn, hai là tướng chứng của hành giả trung căn, ba là tướng chứng của hành giả thượng căn.

V.1. Tướng Chứng Của Hành Giả Hạ Căn

Đó là trong khoảng hai mươi mốt ngày hoặc là mãn hai mươi mốt ngày, đạt được giới căn thanh tịnh. Làm thế nào để nhận biết? Ngay trong phần này cũng có ba phẩm.

V.1.1.Một là tướng giới căn thanh tịnh của hành giả hạ phẩm: Có được các thứ giấc mộng đẹp linh dị, hoặc cảm thấy các căn sáng sạch, bốn đại nhẹ nhàng nhanh nhẹn, nhan sắc tươi sạch, thân có khí lực, oai đức vòi vọi, đạo tâm mạnh phát, đây gọi là tướng nhận biết giới căn dần tịnh của hạ phẩm.

V.1.2. Hai là tướng giới căn thanh tịnh của hàng trung phẩm: Như trong hai mươi mốt ngày hoặc là mãn hai mươi mốt ngày, khi đi kinh hành hoặc trong lúc tọa thiền, chợt thấy các thứ điềm linh, đó là tịnh sắc rực rỡ, mùi hương lạ kỳ; hoặc lời lành khen ngợi, các hiện tượng như trong Bồ-tát giới của kinh Phạm Võng có nói. Thấy một trong các tướng điềm lành linh dị như vậy rồi, thân tâm vui mừng, đặng pháp hỷ lạc, không có các ác tướng, đây là tướng nhận biết giới căn thanh tịnh của hàng trung phẩm.

V.1.3. Tướng tịnh giới căn của hàng thượng phẩm: Trong khoảng thời gian hai mươi mốt ngày hoặc là mãn hai mươi mốt ngày, trong lúc kinh hành hoặc là tọa thiền, tuy không chứng được chủng chủng pháp môn, nhưng thân tâm được an lạc tịch tĩnh. Trong sự tĩnh tâm đó, tự thấy tướng thân giới của mình thanh tịnh, nghĩa là thấy thân khoác pháp phục sạch sẽ, oai nghi tề chỉnh, thân tướng đoan nghiêm. Trong các thứ thanh tịnh đó, tự thấy tướng nghiệp thiện của mình, thấy rõ ràng rành mạch, giới tướng ba thiên lần lượt xuất hiện, tín tâm khai mở, tâm được pháp hỷ, an ổn vui vẻ, không có sợ hãi, trong sự định tâm thấy mỗi mỗi tướng nghiệp thiện như vậy đó. Đây gọi là tướng giới căn thanh tịnh của hàng thượng phẩm.

Qua tướng trạng của ba pháp này mà nghiệm biết giới căn dần đắc thanh tịnh. Tướng đó có nhiều không thể nêu ra hết. Nếu người tội nặng khó diệt mà lại chịu cố gắng, chịu khổ sám hối không thôi; hoặc có khi thấy tướng các tội như là thấy không có đầu, tay, cho đến rơi vào hầm sâu, nước dơ, lửa dữ, chốn ô uế, chủng chủng các cảnh giới ác; thấy như vậy rồi tâm sanh sợ hãi, ngay đó sám hối thật nặng, sám hối không thôi thì về sau này cũng đặng giới thanh tịnh.

V.2. Làm thế nào để biết được tướng thanh tịnh của hành giả trung căn chứng đắc?

Nói về chứng đắc định căn thanh tịnh, trong đó cũng có ba phẩm.

V.2.1. Hành giả hạ phẩm:

Như khi ngồi thiền, chợt thấy thân tâm lắng tĩnh, phát các thiền định, như là dục giới trụ và vị đáo địa định, thân tâm rỗng rang vắng lặng, các xúc trong thân lần lượt phát ra, giác quán rõ ràng, hỷ lạc nhất tâm, mặc nhiên tịch tĩnh; hoặc duyên chúng sanh mà chứng từ bi hỷ xả; hoặc lại duyên cái tướng hảo của Phật mà thiện tâm khai phát nhập các tam-muội, các thứ định v.v… như vậy, đây gọi là tướng định căn thanh tịnh của hàng hạ phẩm.

V.2.2. Tướng nhận biết định căn thanh tịnh của hàng trung phẩm:

Có những hành giả trong khi ngồi thiền thân tâm an định, rõ biết hơi thở ra vào, dài ngắn vi tế, toàn thân lỗ chân lông ra vào không bít, do đó thấy ba mươi sáu vật trong thân rõ ràng, phát các hỷ lạc, nhập chủng chủng thiền định; hoặc thấy trong ngoài thân các thứ xương trắng bất tịnh ngổn ngang; hoặc thấy xương trắng sáng sạch rõ ràng, nhàm lìa thế gian, do đó phát các thiền định, thân tâm khoái lạc, tịch nhiên chánh thọ; hoặc duyên nơi các pháp mà sanh từ bi hỷ xả; hoặc duyên nơi chủng chủng công đức trí tuệ vi diệu của chư Phật mà sanh tam-muội, chủng chủng các thiền định v.v… như vậy khai phát. Đây gọi là tướng định căn thanh tịnh của hàng trung phẩm.

V.2.3. Tướng thanh tịnh định căn của hàng thượng phẩm:

Hành giả trong lúc tọa thiền thân tâm an tĩnh, tâm duyên theo các pháp ấm nhập giới của thế gian, liền giác biết vô thường, khổ không, cái thọ của thân, cái pháp của tâm, thảy đều không thật; mười hai nhân duyên hư giả không có chủ tể. Tất cả các pháp không sanh không diệt, giống như hư không, thân tâm tịch nhiên, tương ưng với không, vô tướng, vô nguyện mà sanh chủng chủng các thiền định sâu xa, vi diệu khoái lạc, tịch tĩnh vô vi, nhàm lìa thế gian, thương nhớ hết thảy (chúng sanh) không còn cái phú (che đậy) và các pháp ác nữa, đây gọi là tướng định căn thanh tịnh của hàng thượng phẩm. Trên đây là lược nói tướng thanh tịnh định căn của hành giả trung phẩm đắc được.

V.3. Làm thế nào để biết tướng chứng đắc của hành giả thượng căn?

Đó là do vì tuệ căn thanh tịnh. Trong phần này cũng có ba phẩm.

V.3.1. Tướng tuệ căn thanh tịnh của hàng hạ phẩm:

Như trong khoảng hai mươi mốt ngày hoặc mãn hai mươi mốt ngày, hoặc trong lúc kinh hành, ngồi thiền nhập các thiền định, hành giả chợt giác biết thân tâm như mây, như ảnh, mộng huyễn không thật, do đó mà cái giác biết trong tâm phát, trí tuệ biết rõ, thông đạt các pháp, khéo nói phương tiện không có chướng ngại, thông đạt mười hai bộ kinh, tùy nghĩa giải thích, giỏi gạn hỏi đáp, thuyết pháp vô tận, đây gọi là tướng tuệ căn thanh tịnh của hàng hạ phẩm.

V.3.2. Tướng tuệ căn thanh tịnh của hàng trung phẩm:

Nghĩa là hành giả trong lúc tụng niệm, kinh hành, tọa thiền, thân tâm tịch nhiên giống như hư không, nhập các tịch định. Trong chánh tuệ thấy được đức Phổ Hiền Bồ-tát cỡi voi trắng sáu ngà cùng với vô lượng chúng Bồ-tát vây quanh, dùng sắc thân mà tất cả chúng sanh ưa thấy hiện ra trước mặt. Vị này nhờ được thấy Phổ Hiền Bồ-tát liền đắc được tam-muội và đà-la-ni. Đó gọi là Triền đà-la-ni, trăm ngàn muôn ức Triền đà-la-ni, Pháp âm phương tiện Đà-la-ni. Đà-la-ni nghĩa là đại trí tuệ. Vì đắc được đại trí tuệ cho nên những gì chư Phật nói vừa nghe xong nhớ kỹ không quên, thông đạt vô ngại. Ở trong một câu nói mà thông đạt tất cả nghĩa, nói không cùng tận, như gió trong hư không. Chứng đắc được chủng chủng các môn trí tuệ như vậy, gọi đó là tướng tuệ căn thanh tịnh của hàng trung phẩm.

V.3.3. Tướng tuệ căn thanh tịnh của hàng thượng phẩm:

Nghĩa là hành giả cũng trong lúc tụng niệm, kinh hành, tọa thiền, thân tâm chợt thanh tịnh, nhập thiền định sâu xa, giác tuệ rõ ràng, tâm không diêu động, ở trong thiền định được thấy Phổ Hiền Bồ-tát, Đức Phật Thích-ca, Đức Phật Đa Bảo và Phân Thân Phật của đức Thế Tôn cùng mười phương chư Phật, đắc Đà-la-ni vô ngại, đạt được sáu căn thanh tịnh, phổ hiện sắc thân, khai tri kiến Phật, vào ngôi vị Bồ-tát. Như phần nói rộng tìm xem trong kinh Phổ Hiền Quán, đây gọi là tướng tuệ căn thanh tịnh của hàng thượng phẩm.

Trên đây là lược nói tướng chứng đắc ba căn sai biệt không đồng của hành giả. Trong ba chánh tướng này, nếu gặp việc ma sự tương tợ, như chứng pháp này thì sẽ khéo biết rõ, không được liền đó sanh đẳng tâm (đối với tất cả chúng sanh không sanh tâm oán thân). Cho nên hành giả muốn đạt được lợi ích công đức lớn này thì phải nên trong hai mươi mốt ngày, nhất tâm tinh tấn tu theo cách thức trên. Nếu trong hai mươi mốt ngày mà không chứng đắc thì nên dụng công tiếp, chớ nên biếng lười bỏ phế. Còn nếu như đã được giảm diệt các tội chướng đạo mà tam-muội các pháp môn sâu xa chưa hiện ra trước, lại muốn thường hành tam-muội thì không nhất thiết là y theo mười pháp trên, chỉ cần khéo chọn lấy ý trong phẩm An Lạc Hạnh đã nói, nhất tâm tu tập thì liền tự được sáu căn thanh tịnh, thấy mười phương Phật, được phổ hiện sắc thân, khai tri kiến Phật vào ngôi vị Bồ-tát. Nên biết một kỳ là hai mươi mốt ngày, thực hiện như trên đã nói.

Trong sáu thời hành trì, vì để dạy cho hàng Bồ-tát mới học, chưa thể nhập vào tam-muội sâu xa, trước hết dùng pháp sự điều phục tâm mình, phá tội trọng làm chướng đạo, nhân đó mà thân tâm thanh tịnh, được pháp hỷ vị. Còn nếu muốn nhất tâm, thường tịch tĩnh, nhập tam-muội sâu xa thì phải bỏ những điều hành ở trước, thẳng y theo An Lạc Hạnh, thường thích ngồi thiền, quán tất cả pháp rỗng rang, thật tướng như thị, không khởi các lỗi trong ngoài, đại bi thương xót tất cả chúng sanh, tâm không ngừng nhớ nghĩ, tức là tu tam-muội vậy. Còn nếu y theo các pháp đã nêu ở trước thì bị sự nghi rườm rà gây trở ngại. Cho nên hành giả đã đạt được ý này, nên tự dùng trí lực châm chước, những điều dạy trong một kỳ, không được hành trọn. Còn hàng sơ học chưa có thể thiện xảo thì phải y nơi văn đây, dùng cách thức đã nói ở trên mà tu tam-muội.