Bài Tập Thiền Minh Sát Vipassana – Thiền Tứ Niệm Xứ

1. Thiền Minh Sát Và Thiền Tứ Niệm Xứ – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 1

Thiền Minh Sát Và Thiền Tứ Niệm Xứ

Thiền

Thiền nói theo tiếng phạn là dhyana giúp hành giả sống thực sự sâu sắc trong hiện tại, không lo lắng về quá khứ, không sợ hãi về tương lai, thân tâm được thanh lọc, phát triển trí huệ và từ bi, đồng thời mang bình yên và tự do trở lại cho sự sống. Người nào cũng có thể thực tập thiền, cho nên ai cũng có thể có hạnh phúc, vượt thắng mọi sợ hãi và sống trong hiện tại dễ dàng. Thiền mang chất liệu của Niệm, Định và Tuệ, ba chất liệu này được phát khởi khi thực tập thiền. Tuy ba tên gọi khác nhau nhưng đều bổ sung, hỗ trợ và làm nhân duyên cho nhau. Thiền gắn liền với hình ảnh của một tu sĩ ngồi nhắm mắt, tĩnh tọa và có vẻ trang nghiêm. Nhưng không chỉ có thế, thiền còn ở tư thế nằm, tư thế đứng, tư thế đi, làm việc, sử dụng vi tính, nghe điện thoại, tưới rau, chăm sóc cây, ăn cơm hay đi vệ sinh… Nếu ba chất liệu kia thực sự có mặt, chúng chăm sóc cho ta và ngược lại ta cũng chăm sóc chúng, tức là ta đang thực tập thiền. Thiền không có nghĩa là chờ đợi hay đạt được mong ước. Thiền ngay bây giờ và ở đây. Không ai thực tập dùm ta mà chính ta phải làm công việc đó. Công việc này không là nghĩa vụ hay quyền lợi, đó là chuyện bình thường đến mức tự nhiên. Thiền có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu thân và tâm: nuôi dưỡng hạnh phúc và trị liệu khổ đau. Người trẻ càng thực tập thiền càng thành công, không phải đợi đến già hay gần chết. Chùa chiền mọc lên dành cho người trẻ, các bài thực tập dành cho người trẻ. Người trẻ không biết hay không chịu thực tập thì uổng lắm. Còn trẻ phải biết lợi dụng thiền để hạnh phúc hiện tiền và kéo dài nó, già rồi mới thực tập thì hạnh phúc thật ngắn ngủi. Cũng vậy, thiền đâu nằm ở thiền đường, thiền còn nằm ở tất cả mọi nơi ta có mặt, như vậy hạnh phúc khắp nơi chứ đâu chỉ có ở thiền đường.

Niệm hay còn gọi là chánh niệm giúp ta ý thức chuyện đang xảy ra bên trong lẫn bên ngoài ở giây phút trong hiện tại. Sự sống chỉ thực sự có mặt trong hiện tại mà thôi và biết được hiện tại thì ta mới đang sống thật. Biết bao nhiêu điều đang diễn ra với thân, với tâm và xung quanh. Ta không thể nào tiếp xúc toàn bộ nhưng có thể nhận diện điều làm ta chú ý nhiều nhất, nổi bật nhất, trân quý nhất hay quan trọng nhất. Trong phòng khách có ti vi đang bật và mẹ đang ngồi chung với ta. Dĩ nhiên ta đặt chánh niệm vào mẹ vì mẹ quan trọng hơn cả thảy. Khi niệm mẹ, mẹ hoàn toàn có mặt bên trong lẫn bên ngoài ta. Ta trở thành mẹ và mẹ trở thành ta. Ta biết mẹ thương ta và ta cũng thương mẹ. Nếu xem chiếc ti vi quan trọng hơn mẹ và niệm ti vi, mẹ lập tức biến mất khỏi cuộc đời mặc dù mẹ vẫn ngồi sờ sờ ra đó. Năng lượng niệm mạnh mẽ và cũng ghê gớm đến vậy. Khi theo dõi hơi thở, ta niệm hơi thở. Khi theo dõi bước chân, ta niệm bước chân. Khi theo dõi lặt rau, ta niệm lặt rau. Khi chú ý đến mẹ, ta niệm mẹ. Khi chú ý đến bực tức và nóng nảy, ta niệm bực tức và nóng nảy. Đối với bực tức và nóng nảy, nếu niệm liên tục, ta biết mình đang bực tức và nóng nảy, chất liệu chánh niệm làm ta buông bỏ nó, giúp nó thuyên giảm và chuyển hóa. Chánh niệm được thực tập mạnh mẽ, cái gì gọi là bực tức và nóng nảy không có điều kiện phát khởi và nếu như phát khởi, được nhận diện và hòa giải. Khi Niệm đủ điều kiện, Định phát khởi và đến lượt Định đủ điều kiện, Tuệ phát khởi. Tuệ ở đây giúp ta không sừng sọ hay hừng hẫy với bực tức và nóng nảy mà Tuệ giúp ta biết chấp nhận, vui vẻ với số phận và thậm chí quay lại yêu thương ngay chính điều bực tức và nóng nảy kia.

Thiền Minh Sát

            Thiền Minh Sát theo tiếng Pali gọi là Vipassana là việc thực tập thấu hiểu rõ ràng chính xác thân, tâm và những hiện tượng xảy ra bên trong và bên ngoài bản thân. Đây là bài thực tập cụ thể, chi tiết giúp hành giả tiếp xúc với thực tại cùng tột. Nhiều người thật dại dột khi chỉ trích, chê bai và thậm chí dùng lời lẽ ngăn cấm người khác thực tập Thiền Minh Sát, nhưng không hề biết rằng biết bao nhiêu người thực sự hạnh phúc khi tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong hiện tại lúc thực tập loại thiền này. Thiền nào cũng chỉ là thiền, người học loại thiền A hay B đều có thể học hỏi với loại thiền C hay D, không nên chê bai lẫn nhau mà hãy dành thời gian thực tập và phát triển bản thân. Mỗi ngày ta thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ đụng, suy nghĩ rất nhiều sự việc nhưng lại không ý thức được. Thiền Minh Sát giúp ta ý thức được chúng và thấy sự sống quá đỗi muôn màu. Ý thức mạnh mẽ tạo nên hiện tượng hiển nhiên của hiện tượng, ta biết cái đang là chính là thực tại cùng tột, dù chấp nhận hay không thực tại vẫn chỉ là thực tại. Thở vào bụng phồng lên, thở ra bụng xẹp xuống. Hoa mai nở hoa mai màu vàng, hoa mai tàn, màu vàng đậm lên rồi trở nên nâu và đen đi. Nhận biết rõ ràng hiện tượng, ta không khắc khoải về màu vàng của hoa mai và không tìm kiếm hay chờ đợi hoa mai về với đất. Màu vàng hay về với đất là bản chất vốn có của hoa mai. Thiền Minh Sát nếu thực tập vững vàng, ta sẽ thấy hạnh phúc khi hoa mai nở vàng ươm và cũng thấy hạnh phúc khi hoa mai về với đất, đất lại tiếp tục làm nhiệm vụ nuôi dưỡng cây mai và hoa mai mới lại xuất hiện.

            Hành giả thực hành Thiền Minh Sát có thể nhẫn nhục cao. Nhiều người lầm tưởng nhẫn nhục chính là chịu đựng. Khi ngồi thiền phải ngồi im re mặc cho muỗi cắn hay ngứa ngáy. Thật là sai lầm. Nếu chân tê cứng thì cứ việc đổi chân, nếu ngứa thì gãi và nếu mệt mỏi thì nghỉ ngơi. Nhẫn nhục là biết chấp nhận việc tê cứng, việc ngứa ngáy và việc mệt mỏi, đồng thời giải tỏa chúng bằng cách thắp lại ánh sáng nội tâm trong việc thay đổi chân trong chánh niệm, gãi chỗ ngứa trong chánh niệm và nghỉ ngơi trong chánh niệm. Bài tập Thiền Minh Sát chỉ rõ ràng mọi thực tập dù dễ dàng hay khó khăn đều phải ý thức. Nhiều người cho rằng Thiền Minh Sát mang tính hình thức và sức mấy có thể tiếp xúc với sự sống ở hiện tại. Tội nghiệp cho họ khi buông những lời như vậy. Thiền nào cũng tiếp xúc với sự sống hiện tại, Thiền Minh Sát giúp cho việc tiếp xúc sự sống hiện tại chi tiết và sâu sắc hơn bao giờ hết.

Thiền Tứ Niệm Xứ

            Thiền Tứ Niệm Xứ còn gọi là Thiền Minh Sát, là một pháp hành thiền quan trọng mà khi xưa hầu hết các tu sĩ đều thực tập, nó không chỉ hỗ trợ cho việc đạt đạo quả mà còn thực tập sống trong thực tại cùng tột. Tứ Niệm Xứ nói đến bốn lĩnh vực quán niệm bao gồm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp. Đối với niệm thân, hành giả chú ý theo dõi hơi thở vào ra trong chánh niệm. Thân tâm trở nên nhẹ nhàng, thanh tịnh và tỉnh giác, chỉ duy nhất làm công việc là ý thức về hơi thở. Đối với niệm thọ, hành giả ý thức về các cảm giác phát sanh như mệt mỏi, đau nhức, ngứa ngáy, tê buốc… Chánh niệm về thọ đến mức thuần thục, hành giả trở nên thản nhiên với mọi cảm thọ, không hả hê với thọ lạc và không chán nản với thọ khổ. Đối với niệm tâm, hành giả nhận diện các vọng tưởng và ý thức tính không đáng vướng mắc hay không đáng tham cầu của chúng. Mọi ham muốn hay chán ghét đều có thể vượt qua, đồng thời khả năng buông bỏ vượt trội lấn át mọi nhu cầu. Cuối cùng là niệm pháp, theo đó hành giả có thể đưa ra năm đề mục quán niệm: thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Với cách này, hành giả thực tập thiền suốt ngày và hoàn toàn sống trong sự mầu nhiệm của thiền, luôn tỉnh thức, luôn biết mình.

            Thiền Tứ Niệm Xứ còn gọi là Như Lai thiền vì chính đức Phật đã thực tập và đem giảng dạy lại cho các đệ tử của mình cách đây gần 26 thế kỷ. Bây giờ có nhiều loại thiền khác nhau nhưng tựu trung lại đều dựa trên căn bản của thiền Tứ Niệm Xứ, người phù hợp với loại thiền nào thì thực tập theo loại thiền đó, không nên có sự phân biệt hay chỉ trích, vì nếu như vậy chỉ làm hoen ố các dòng thiền mà thôi và đi ngược lại bản chất của thiền. Mục đích của thiền vẫn chỉ là thiền và có tác dụng sống sâu sắc trong hiện tại hay đi đến giải thoát. Thiền là tên gọi và thực tập là chủ yếu, đừng mất thì giờ vào các đàm luận và tranh cãi về thiền. Thực tập thiền phải nhận diện và buông bỏ vọng tưởng, muốn vậy phải có chánh niệm mà Tứ Niệm Xứ là phép hành căn bản. Khi ngồi thiền, hành giả còn có vọng tưởng nhìn cái này, thấy cái kia hay giác ngộ thành Phật thì không còn là thiền nữa, vì như vậy vọng tưởng sẽ ngăn cản việc tinh tấn hành thiền. Giác ngộ đâu phải là gì cao siêu, giác ngộ chỉ là ý thức cái đang là, biết cái đang là và cảm nhận đúng đắn về cái đang là. Giác ngộ không nằm trên mây, dưới lòng đất sâu hay khoảng không gian vô tận mà giác ngộ nằm ngay chỗ này, vào lúc này.

            Nhiều người ăn không ngồi rồi chỉ lo bàn chuyện tu thiền này cao siêu hơn, tu thiền kia sức mấy giác ngộ, hoặc là pháp môn này tuyệt vời, pháp môn kia chẳng hay ho gì, hơn nữa, nên làm đệ tử của sư phụ này giỏi hơn làm đệ tử của sư phụ kia. Đi tu mà còn phân biệt như vậy thì đi tu làm gì, giống như người ở trong tu viện lúc nào cũng chê bai khinh người chẳng khác nào ở ngoài đời, còn người đời biết gìn giữ khiêm cung, ai cũng có thể học được thì chẳng khác gì người tu. Mặc chiếc áo cà sa hay áo tràng chưa chắc là người biết tu và mặc áo thường dân chưa chắc là người không biết tu. Với một bó rau muống, ta có thể chế biến hàng chục món ăn, thiền, pháp môn hay sư phụ cũng vậy có hàng chục loại và loại nào cũng có cái hay riêng. Bây giờ người tu giả dạng rất nhiều và người biết tu ẩn mình cũng không phải là ít. Người thao thao bất tuyệt giảng thuyết kinh  điển  chưa  chắc  tu giỏi và người âm thầm lặng lẽ nói ít chưa chắc tu dở. Người đời và thậm chí cả tu sĩ thích hình thức hơn nội dung, thích đẹp con mắt và khoái lỗ tai trong khi bản chất thực sự không chịu học và thực tập, cứ mãi tìm kiếm gì đó tận đâu đâu. Người tu theo Phật cần dẹp bỏ mọi tâm phân biệt. Các loại thiền, pháp môn hay sư tổ đều có mối liên hệ tương tức với nhau và có những đặc điểm chung, nếu không nói là đồng nhất. Tứ Niệm Xứ là bài thực hành giúp ta vượt thắng mọi phân biệt, cho dù tên gọi của nó là gì, đều là giả danh cả, chỉ có dấn thân vào thực tập thì mới giỏi.

2. Niết Bàn Trong Hiện Tại – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 2

Niết Bàn Trong Hiện Tại

Danh và Sắc

            Năm uẩn phát sanh tại sáu căn bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm và tại sáu trần bao gồm hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và suy nghĩ. Sáu căn cứ mãi chạy theo sáu trần tạo nên năm uẩn. Năm uẩn là năm hợp thể hình thành nên con người bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi mắt thấy một hình sắc, tai nghe một âm thanh, mũi hửi một mùi hương, lưỡi nếm một vị, thân tiếp xúc với một vật và tâm nghĩ đến một điều gì, ngay liền lúc ấy năm uẩn tái sanh. Sắc uẩn là những cấu trúc thuộc về vật chất tạo nên các sự vật hiện tượng. Thọ uẩn là cảm giác của con người về khổ đau, an lạc, không khổ đau cũng không an lạc. Tưởng uẩn là hình ảnh, khái niệm, quan điểm của tri giác. Hành uẩn là sự tạo tác của tâm thức như suy nghĩ, mơ ước, chờ đợi, mong muốn, đam mê… Thức uẩn là tri giác phân biệt hay nhận thức, thuộc về chức năng hoạt động của ý thức. Năm uẩn thực chất là tiến trình sinh diệt liên hồi không có tự tính, nên không hề hiện hữu và được cho là không.

            Thân và tâm luôn thay đổi không chừng, diễn ra liên tiếp nhau và ta không thể nào nhớ được trong một ngày sự thay đổi đó diễn ra như thế nào. Muốn có tâm định, ta phải nhận diện cho được năm pháp chướng ngại: tham ái, sân hận, hôn trầm và hoài nghi. Khi có tâm tham, ta ý thức về cái tham của ta. Khi có tâm sân, ta phải ý thức về cái sân của ta. Tương tự với ba pháp chướng ngại còn lại. Danh Sắc tiếng Pali gọi là Nama Rupa, theo đó Sắc là đối tượng của sáu căn và Danh là tâm về đối tượng của nó. Khi thấy Sắc rõ thì tự nhiên thấy Danh. Lúc niệm phồng xệp theo hơi thở, phồng xệp là Sắc, biết rõ hơi thở vào ra đồng thời biết rõ bụng phồng xệp, cái biết này là Danh hay tâm thức. Khi hành thiền, ta phải thực sự tinh tấn trong khi đi, đứng, nằm ngồi và các công việc hàng ngày. Hạnh phúc hay hỷ lạc tự nhiên phát sinh khi ta biết rõ về Sắc và tâm không bị che lấp bởi năm uẩn. Chánh niệm rõ ràng, mọi thứ đều được nhận diện bởi Danh và Sắc. Cho dù bên trong hay bên ngoài, việc nhận diện cũng chỉ có hai yếu tố đó, không gì khác hơn. Sự sống có mặt nếu Danh và Sắc còn, chúng thực sự nương tựa nhau và làm bản lề cho nhau. Danh và Sắc rời xa nhau xem như không còn sự sống nữa. Nhìn xác chết không còn tâm thức, nó chỉ là một thứ sắc vô tác dụng không hơn không kém. Nhiều người thích chạy theo những thứ như vậy, đến khi không có gì thì than thân trách phận, đâu biết rằng chúng chỉ là những vô thường mà thôi.

            Thân và tâm tuy hai mà một, nương vào nhau mà sống, thân đau thì tâm đau và tâm đau thì thân đau. Chánh niệm mang thân và tâm lại với nhau, hợp nhất, lúc này thân tâm ở chung và sự sống được nhận biết. Ý thức về Danh Sắc sẽ hiểu không có gì gọi là linh hồn, không có gì là ta, và vì thế mọi chấp ngã tan biến. Buông bỏ chấp ngã ta mới có thể đi tiếp các bài thiền tập, điều này cũng có nghĩa mọi chúng sanh không có sự phân biệt, không có ta thì ta và người đâu khác. Thân và tâm luôn thay đổi. Thân và tâm ta ý thức vào lúc này cách đây tích tắc không còn như vậy nói chi đến ngày hôm qua hay ngày mai. Thân tâm thay đổi thì thân này đâu phải là ta, cho nên ta không bị kẹt vào thân này, tâm này cũng không phải ta, cho nên ta không bị kẹt vào tâm này. Thân này có thể bệnh hoạn, héo gầy, vật vã nhưng vì không kẹt vào thân nên các điều đó không hề hấn gì. Tâm này lúc buồn, lúc vui, lúc hạnh phúc, lúc chán nản… nhưng vì không kẹt vào tâm nên các điều đó cũng không hề hấn gì. Nếu niệm chặt chẽ và tinh tấn, Định và Tuệ sẽ có mặt, trở thành phương thuốc hữu hiệu chữa lành mọi vết thương của thân và tâm, hạnh phúc hiện tiền, hạnh phúc đơn giản là vắng mặt các khổ đau. Chánh niệm liên tục sẽ có hạnh phúc liên tục, niệm cái gì cái đó sẽ có mặt. Điều này thật đơn giản nhưng hết sức mầu nhiệm, chỉ có hành giả chuyên tâm thực tập mới thấy hạnh phúc này quý giá vô cùng.

Niết Bàn trong hiện tại

            Hiện tại mang chất liệu của quá khứ và là nền tảng cho tương lai, nói như vậy hiện tại bao hàm cả ba yếu tố quá khứ, hiện tại và tương lai, cho nên sống sâu sắc trong hiện tại đồng nghĩa với tiếp xúc cả ba thời khắc trong từng khoảnh khắc. Chưa bao giờ hiện tại đẹp như thế một khi được chú ý và chăm sóc kỹ càng. Bản chất của Niết Bàn là thực chứng những gì đang diễn ra, không phải là đã diễn ra hay sẽ diễn ra. Niết Bàn luôn có mặt và sẵn dành cho ta, chỉ cần với tay là có thể sờ, cầm, nắm và nếm được. Để làm được điều đó, ta phải có chánh niệm, chánh định và trí tuệ. Thiền Minh Sát giúp ta làm giàu ba nguồn năng lượng này, mang Niết Bàn đến trong tầm tay và nếu thực tập Tam Học suốt ngày, Niết Bàn mãi mãi ở chung với ta vào lúc này, nơi chốn này. Chăm nom cho hiện tại thì hiện tại sẽ chăm nom lại ta. Không có gì gọi là nhập Niết Bàn cả. Người tu tập đạt đạo quả giải thoát là đã nhập Niết Bàn rồi. Niết Bàn không nằm trong quá khứ hay tương lai, không dành riêng cho tu sĩ hay bậc thánh, Niết Bàn hiện tiền bây giờ và ở đây, đồng thời tất cả mọi người đều có khả năng nhập Niết Bàn.

            Đức Phật không bao giờ dạy con người phải là ai, phải làm gì và phải ra sao trong vòng 1 ngày, 1 tháng, 1 năm hay 1 thế kỷ, mà Người chỉ dạy làm thế nào để biết cái khổ, chuyển hóa khổ đau và tìm niềm vui đích thực trong phút giây hiện tại. Khi khổ đau vắng mặt, Niết Bàn hiện tiền. Con người thích nuôi dưỡng khổ đau nên chẳng bao giờ có hạnh phúc và nhiều lúc lầm khổ đau là hạnh phúc. Buông bỏ mọi dính mắc thì hạnh phúc đến trong tự nhiên. Giác ngộ ngồi chờ ta đã lâu nhưng vì lười biếng, ta để cho giác ngộ ngủ quên hay cho nó là một thứ xa xí phẩm đắt tiền. Ta hay đi tìm giác ngộ ở chân lý cao siêu, ở mặt trăng, dưới lòng biển sâu hay nhà máy điện hạt nhân, trong khi giác ngộ nó đang đậu trên hạt sương, trên cành cây, trên bông hoa, trong tiếng gió xào xạc và thậm chí trên đầu ngón tay… Vậy mà ta không hề biết, tình trạng thất niệm đẩy ta lao đi như tàu điện ngầm, ta xây không biết bao nhiêu đường cao tốc cho nó chạy, đến khi mòn đường vẫn chưa thể nhận ra con đường.

            Trên con đường đó Niết Bàn đầy dẫy, không cần dùng tàu điện tốc độ cao, máy bay tàng hình hay chiếc xe buýt tốc hành nào để nhận ra nó. Chỉ cần đi bộ, từng bước nhẹ nhàng, đường hoàng, đi bước nào biết bước đó, mỗi bước đi vào tỉnh thức, mỗi bước đi vào Niết Bàn, con đường dài triệu bước chân, ta tiếp xúc triệu Niết Bàn. Dữ dội đến như vậy. Ngày xưa đức Phật đi giáo hóa khắp nơi, vậy mà Người chỉ đi bộ rất từ tốn, mỗi bước chân nở hoa sen, đẹp đẽ và tinh khiết. Niết Bàn đâu phải là thứ được mua ở siêu thị, cửa hàng miễn thuế hay tiệm đồ đại hạ giá, hay Niết Bàn đâu phải là thứ được chụp ra, quét lên màn hình rồi dùng Photoshop chỉnh sửa. Niết Bàn chỉ là sự vắng mặt của khổ đau, là an vui và hạnh phúc tuyệt đối. An vui và hạnh phúc này không thể dùng tiền để mua, không thể cho tặng và không thể đổi chác. Chỉ có tự thân vận động, tự thực tập, tự chế tác và tự tiếp xúc mà thôi. Niết Bàn không nằm ở cõi Tây phương cực lạc, ở thiên đường hay nước Chúa, ở cung đình hay thiền đường, Niết Bàn ở ngay chốn nhân gian, trên Địa Cầu này. Hãy nhìn xem, Niết Bàn đang tràn lan nhưng kỳ thực người biết tu tập mới thưởng thức được nó. Hạnh phúc trên thế gian cần có điều kiện, cần đầu tư, cần gieo trồng và thu hoạch, hạnh phúc ở Niết Bàn là vĩnh viễn, không có máy móc nào có thể đo lường được. Mỗi giây phút đều tươi mát, hồn nhiên và dễ thương. Khi ta trở thành Niết Bàn và Niết Bàn chính là ta, ta đâu cần phải tìm kiếm chi nữa, mọi thứ đã được bình thường hóa.

3.Tự Thắp Đuốc Lên Mà Đi – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 3

Tự Thắp Đuốc Lên Mà Đi

Làm một hành giả

            Hành giả là người chuyên tâm thực hành thiền và các lời dạy của đức Phật trong khi học giả chủ yếu nghiên cứu và diễn giải. Hành giả nên là đệ tử của một thiền sư hay vị tu sĩ có nhiều kinh nghiệm không chỉ trong việc thực hành thiền mà còn hiểu biết về các giáo pháp. Quan sát và gần gũi thầy mình giúp hành giả học hỏi thật nhiều từ cách đi đứng, ăn nói và hành vi ứng xử hàng ngày. Hành giả gìn giữ giới luật nghiêm túc và tham gia đầy đủ các buổi công phu của tăng thân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hành thiền. Cư sĩ cần giữ Năm giới, Sa Di cần giữ Mười giới và nam Khất sĩ cần giữ 307 giới. Tứ Niệm Xứ là cơ sở phát triển Thiền Minh Sát, hành giả có thể thực tập Tứ Niệm Xứ hoặc Thiền Minh Sát đều được, miễn sao tiếp xúc được với thực tại cùng tột và có hạnh phúc trong hiện tại. Kinh Quán Niệm và Thiền Quán Niệm đề cập rất rõ phương pháp thực hành Tứ Niệm Xứ, nên học hỏi và hạ thủ công phu.

Trong quá trình thực tập, chắc chắn sẽ có những hạnh phúc và khó khăn, đừng ngại chia sẻ với thầy của mình, lắng nghe để có thể hiểu biết và thực tập đúng đắn hơn. Dù cho máu có khô cạn, da gân có bào mòn, thịt xương có tan chảy, vẫn miên mật thực tập không từ bỏ bất cứ cố gắng nào. Nói ít nhưng làm nhiều, nếu nói nhiều quá, không có thì giờ lắng nghe và thực tập. Ăn uống điều độ đủ chất dinh dưỡng, chú ý đến quân bình âm dương và nên áp dụng phương pháp ăn uống Ohsawa. Sức khỏe vừa đủ giúp việc hành thiền diễn ra trôi chảy không bị gián đoạn. Nhớ điều phục sáu căn, đừng để cho nó chạy theo tiếng gọi của sáu trần, biết nhận diện và chuyển hóa. Thực tập từ chối mọi lời mời, những lời dục vọng thấp hèn và nên mời người khác cùng thực tập với mình để gia tăng năng lượng. Trong mọi cử động dù chậm hay nhanh đều phải chú ý, chậm biết là chậm và nhanh biết là nhanh, nhưng chậm mà chắc vẫn hơn. Thật đáng khen nếu có thể ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng nhẹ nhàng và làm việc thảnh thơi. Thân tâm phải ở tình trạng tinh tấn, chánh niệm và tỉnh thức. Ba yếu tố này giúp hành giả không bị đi lạc, chỉ an trú trong việc thực tập. Không cần phải vồn vã hay ép buộc vào khuôn khổ, cứ tự nhiên và thoải mái, dần dần việc thực tập thành điều hiển nhiên, thực tập giống như không thực tập.

Hành giả vẫn sinh hoạt và làm các công việc hàng ngày bình thường nhưng nhớ rằng các giờ sinh hoạt và làm việc cũng là các bài hành thiền. Người bận rộn vì thế vẫn thực tập được, nhiều khi còn giỏi hơn người ít bận rộn. Đức Phật dạy thầy Mục Kiền Liên trong kinh Thắp Lại Ánh Sáng Nội Tâm về các phương pháp chấm dứt hôn trầm, buồn ngủ… Thường xuyên đọc các bài kệ khuyến khích mình tinh tấn, không thể thành tựu đối với người lười biếng và dễ duôi. Tham gia các buổi pháp đàm, chia sẻ với thầy, học hỏi kinh nghiệm thực tập và nâng cao khả năng nương tựa lẫn nhau trong thực tập. Nói lên những điều còn thắc mắc muốn được làm sáng tỏ phục vụ cho hành thiền đúng phương pháp, tuy nhiên không sa vào tranh cãi hay biện minh quan điểm. Thực tập một mình hay thực tập chung với tăng thân không quan trọng, điều cần thiết là lựa chọn môi trường thực tập yên tĩnh, có nhiều điều kiện và thì giờ thực tập. Nếu thực tập một mình thì cần biết cách tự khuyến khích thúc đẩy, nếu thực tập chung thì cần lựa chọn nhóm người có ý chí như mình hoặc giỏi hơn mình. Tận dụng các dấu hiệu nhắc nhở bản thân thực tập chánh niệm. Tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ, chuông điện thoại, tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, thậm chí tiếng em bé khóc hay tiếng còi xe hơi… đều có thể là các dấu hiệu đánh thức, ngụ ý hành giả phải tỉnh thức, theo dõi hơi thở hay tâm của mình.

Dứt bỏ những điều âu lo

            Nhiều sư chú thực tập thậm chí giỏi hơn sư thầy hay sư phụ của mình vì không phải lo lắng gì. Trong khi đó, sư thầy phải lo các công việc của tăng thân, sư phụ lo cho chùa nên nhiều khi quên thực tập. Làm việc thì cứ làm, lo thì cứ lo nhưng làm và lo phải có chánh niệm, thực tập ngay trong cái làm cái lo đó. Những lo âu quá mức ràng buộc hành giả xa rời việc thực tập, rơi vào thất niệm và tâm trở nên tán loạn. Sư phụ lo cho đệ tử là dĩ nhiên, nên khi thực tập, mọi lo toan vui lòng bỏ qua một bên, chuyên chú vào thực tập thôi. Lo âu mãi chắc chắn không thể chánh niệm được, nói chi đến đạt yếu tố định và tiến xa hơn. Sư phụ mà thực tập không giỏi bằng các sư chú, sư đệ hay sư em thì làm sư phụ làm gì. Người thuyết pháp giỏi chưa chắc thực tập giỏi nhưng người thực tập giỏi có khả năng chia sẻ và truyền đạt giá trị hơn. Nhiều giảng sư chỉ châm mẫm lo việc thuyết pháp khắp nơi, xây đắp tên tuổi, gầy dựng người hâm mộ và hả hê trong những lời khen tặng. Họ đánh mất mình hồi nào không hay trong khi quên rằng mục đích của người tu là tu, tu tức là sửa đổi và thực tập. Người tu mà không biết tu, không biết thực tập trở thành người máy có thương hiệu là tu sĩ. Nhiều đạo tràng thích khuyếch trương số lượng tu sĩ, khoe khoang về tu viện mình có những khóa tu rất đông người và thu hút hằng hà sa số tu sĩ đến tu tập, nhưng chất lượng tu học chẳng được quan tâm đến. Người ta đến tu viện để có cơ hội thực tập, nâng cao phẩm chất của mình, không phải để nghe khoe khoang năm nay tu viện mở được bao nhiêu cơ sở trên khắp thế giới. Con người dù sống trăm năm mà không tu không bằng người sống một ngày có tu. Tu không bị kẹt vào hình thức, không nhất thiết phải xưng tán cho giỏi, phải đi đứng cho ngay hay phải chứng minh mình là người tu giỏi nhất. Người tu giỏi không cần chứng minh bản thân với bất cứ ai, càng chứng minh bao nhiêu càng sai đường bấy nhiêu, bản ngã càng lớn và chẳng bao giờ giỏi được. Người làm chức càng cao trong tự viện càng khó tu vì họ thường có sĩ diện lớn, họ cho mình cái quyền nhận xét người khác, bài bác hay chỉ trích người khác và chỉ có mình là đúng. Làm đến chức thượng tọa, đại đức hay hòa thượng mà không biết thảnh thơi, không biết cười cứ lo rầu thì không bằng một chú tiểu chỉ mới cạo tóc có ba ngày mà lúc nào cũng vui cười, hồn nhiên, dễ thương biết bao. Tất cả những điều này ngăn cản hành giả tiến xa trên con đường tu tập. Phải biết buông bỏ và học theo các hạnh Bồ Tát, đồng thời phát nguyện thật mạnh để có đủ năng lượng và chất liệu vững chãi đưa ta đi một cách tự tại.

            Hành giả hay lo về cái ăn cái mặc, đơn giản vì trong lòng có nhiều sợ hãi và phóng tâm. Hoặc đưa ra danh sách các nhu cầu cần được phục vụ trong quá trình thực tập, và nếu không được đáp ứng thì bực tức khó chịu. Nghĩ ngợi nhiều đến các mối quan hệ trong tự viện cũng cản trở con đường tinh tiến. Nếu bàn cách làm thế nào lấy lòng sư thầy, làm thế nào để sư phụ chú ý đến, hay làm thế nào để được thăng tiến thì thôi ra đời đi làm cho rồi, ở trong chùa làm chi mà tính toán những chuyện này. Trong tự viện còn có tình trạng đưa hối lộ và tham nhũng thì thật đáng tiếc. Sư phụ có bao giờ cần hành giả làm những chuyện như vậy, tu tập và tiến bộ theo chánh pháp của đức Phật là cách cúng dường cao thượng nhất, là tu sĩ, đừng bao giờ quên điều đó. Hành giả cũng hay lo âu về bệnh tật. Dù bệnh vẫn có thể hành thiền, thiền trong tư thế nằm rất hay, vẫn có hạnh phúc như thường và hơn thế nữa, sống chung an lạc với căn bệnh của mình. Có người lo cho thực tập của người khác, nhưng lại không lo thực tập cho mình. Điều này nói ra nghe có vẻ cao thượng, biết hy sinh, nhưng thực ra rất dại dột. Bản thân thực tập chưa tới đâu mà hướng dẫn người này người kia thực tập, việc hướng dẫn có thể sai lạc. Tu sĩ phải giúp các chúng sanh là chuyện đương nhiên nhưng khi giúp phải chắc chắn, phải thực tập giỏi đã và chỉ nên hướng dẫn những bài thực tập mà mình thực sự hiểu rõ và có hạnh phúc. Bản thân không có hạnh phúc thì chẳng thể nào giúp người khác hạnh phúc được, nếu như không nói rơi vào tình huống vọng ngữ. Cái gọi là quyền hành trong tự viện là một thứ quyền lực bệnh hoạn khi tự cho mình cái quyền quản lý tu sĩ hay ra lệnh trừng phạt. Tăng thân là nơi giúp nhau chuyển hóa và thực tập hạnh phúc, đâu phải để ai quản lý ai hay ai trừng phạt ai. Kinh Hải Đảo Tự Thân dạy rõ ràng là hành giả phải tự thắp đuốc lên mà đi, lấy giáo pháp của đức Phật làm nền tảng và bước đi, không đứng ì ạch một chỗ. Người chấp vào quyền thế của mình còn lâu mới tu được, người khôn không bao giờ lấy quyền lực trong tự viện làm mục đích. Tu chính là quyền lực, người sớm tối chỉ lo tu, quyền lực rất lớn.

4.Thực Tại Cùng Tột – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 4

Thực Tại Cùng Tột

Nơi đâu cũng là thiền            

            Nói như vậy để thấy thiền có thể được thực tập khắp mọi nơi, nơi đâu ta có ý thức chánh niệm thì nơi đó ta đang thực tập thiền. Khi tôi viết cuốn sách này, tôi ý thức về nó, biết rằng mình đang viết sách, tôi đang làm một bài “thiền sách”. Chắc hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi tìm thấy trong cuốn này có khoảng 100 bài thiền khác nhau như thiền trái cây, thiền làm bánh chưng hay thiền học trò… Nghe có vẻ ngồ ngộ nhưng thực tập đi, bạn sẽ thấy rất vui và hạnh phúc. Thiền không chấp vào nơi thiền. Dĩ nhiên ngồi thiền ở nơi yên tĩnh sẽ dễ dàng hơn, nhưng ở nơi ồn ào vẫn thiền được mới hay. Trong thiền đường, ngồi thiền là chuyện đương nhiên, nhưng ở sân vận động đang diễn ra trận đấu bóng ồn ào hay ở nhà máy dệt đang làm ra sản phẩm mà vẫn thiền thì thật tuyệt vời. Mang thiền đường vào sân vận động và nhà máy thì khắp nơi đều là chốn thiền môn.

            Thiền nhưng không chấp vào thiền bởi vì có cái gì là thiền đâu, chẳng qua là theo dõi hơi thở, theo dõi tâm hành… rồi đặt cho nó cái tên thiền. Thiền như một tiến trình của sự sống, ý thức về sự sống chính là thiền. Tự tánh của con người vốn thanh tịnh nên cho rằng ngồi thiền để thanh tịnh thì chẳng bao giờ được thanh tịnh. Thiền đã là thanh tịnh rồi. Ăn cơm cũng thiền, uống trà cũng thiền, nấu nước cũng thiền và đi vệ sinh cũng thiền. Vậy hãy chỉ chỗ nào không phải thiền để có thể chấp vào? Nếu cho thiền là xa lánh thế gian thật là tội nghiệp. Thiền có công năng sống thực sự trong thế gian mãnh liệt nhất, sức sống của thiền thẩm thấu khắp nơi. Thiền bất động không có nghĩa là im re, không làm gì hết, như vậy là còn chấp vào tướng. Bất động tức là chẳng phân biệt gì, cái dở thì biết là dở, cái ngon thì biết là ngon, cái đẹp thì biết là đẹp, cái xấu thì biết là xấu, vậy thôi, không khen không chê, bởi vì dở hay ngon, đẹp hay xấu đều cùng bản chất. Giống như một hoa hậu và một người xấu xí trông có vẻ khác nhau đấy nhưng thật ra chỉ là một, chỉ là đất, nước, lửa, gió. Có người ngồi thiền im re, không nhúc nhích nhưng trong đầu diễn ra đủ thứ chấp, cái này đúng cái kia sai, người này chẳng hề bất động mà đang tán loạn, đau khổ vô chừng. Con người vì kẹt vào tướng quá nhiều mà sanh ra mê muội. Nhìn một người mặc áo nhà sư cho là nhà sư, nhìn người mặc áo thường dân cho là thường dân, có khi lầm to. Người mặc áo thường dân có khi là nhà sư và người mặc áo nhà sư có khi là quỷ dữ. Nhưng khi tâm không còn phân biệt, nhìn thấy nhà sư hay thường dân đều như nhau, người nào cũng đáng để tôn kính thì tâm không còn vọng động gì nữa. Tâm không để dao động bởi các ý niệm và quan điểm, giống như ý niệm đẹp hay xấu, ý niệm nhà sư hay thường dân. Còn kẹt vào ý niệm thì cái mình cho là thiền chỉ là hình thức. Nội dung của thiền không chất chứa ý niệm, không phán xét, không bày trò. Thiền đơn giản biết vậy hay vậy. Cảnh giới dù hạnh phúc hay đau khổ mà tâm không loạn thì đó là định. Nhiều người nói hạnh phúc mà không bày tỏ hay đau khổ mà không cảm nhận thành ra vô cảm. Định này thật ra lại là tình thương siêu đẳng, bởi vì nhờ định mà hạnh phúc biết hạnh phúc, đau khổ biết đau khổ và nhìn thấy bản chất thật của hạnh phúc hay đau khổ, nên không bị kẹt vào nó. Thế gian thường không biết rõ về hạnh phúc đích thực và đau khổ đích thực, tôn thờ hạnh phúc trá hình và đau khổ trá hình, hạnh phúc cho là đau khổ và đau khổ cho là hạnh phúc, lấy kẻ thù làm cha và lấy người thương bỏ đi. Tâm định nhận biết hạnh phúc và đau khổ về bản chất cũng vậy mà thôi, nên hạnh phúc và đau khổ chỉ là ý niệm.

Kinh Từ Bi và thực tập rải tâm từ

            Đọc và thực tập theo Kinh Từ Bi có tác dụng nuôi dưỡng các hạt giống từ bi của hành giả. Từ và bi là hai trong bốn tâm vô lượng mà bất cứ người tu sĩ nào cũng có thể thực tập, nuôi lớn tâm hồn và vì chúng sanh mà hành trì. Tâm từ và tâm bi khiến cho các lỗi lầm, hờn giận và bạo động được nhìn thấy, tạo ra sự hối lỗi và muốn thay đổi. Bồ Tát tu hạnh nhẫn nhục thường lấy từ bi làm nền tảng cho việc đánh giá hay soi sáng bản thân.

            Đối tượng của tâm từ là bản thân và chúng sanh. Muốn thực tập tâm từ, trước hết phải dễ thương với bản thân rồi mới tính đến chuyện dễ thương với chúng sanh. Rải tâm từ đến cho chúng sanh, giúp chúng sanh tiếp xúc được với năng lượng bình an, niềm vui và hạnh phúc. Tâm từ muốn được rải thì bản thân người thực hành phải tích lũy tâm từ. Không có tâm từ lấy gì mà rải. Hành giả sau khi hành thiền, tích lũy được nhiều tâm từ, là lúc thuận tiện để rải tâm từ. Vì thế, sau khi xả thiền, dành ít phút rải tâm từ cho chúng sanh, công đức từ hành thiền vì thế tăng lên gấp bội, không hề giảm đi chút nào mặc dù vừa mới thực hiện nghiệp vụ rải xong. Câu thần chú “Con xin rải tâm từ và hồi hướng phước báu cũng như công đức của con đến cho con, đến gia đình, tổ tiên, trong khu phố này, trong thành phố này, trong quốc gia này, trong địa cầu này, chúng sanh mười phương… Cầu nguyện cho các vị không có oan trái lẫn nhau, không có khổ thân, không có khổ tâm, thân tâm luôn được an lạc và sống sâu sắc trong hiện tại” là câu thần chú rải tâm từ hay đến nỗi nhiều người tâm trí trở nên loạn cuồng vì không tin đó là sự thật và cho nó là hình thức viễn vong. Ấy vậy mà hành giả cảm thấy cực kỳ hạnh phúc và sung sướng khi làm được công việc như vậy và người được rải tâm từ cũng như hồi hướng đó trong phút chốc cảm thấy tâm hồn thư thái và dễ chịu. Năng lượng tâm từ bao trùm không gian và thời gian. Điều trước hết hành giả tích lũy được thêm tâm từ sau khi đọc câu thần chú.

            Thực tập từ bi và rải tâm từ làm gia tăng tính hy sinh, chịu đựng và đạt hạnh nhẫn nhục. Người hay sân hận và thù hằn vì không có nổi tính chịu đựng, nói chi đến hy sinh và nhẫn nhục. Tính chịu đựng quá kém sẽ ngụp lặn trong ái dục và dễ dàng làm các điều bất thiện, mà trước hết gây khổ cho bản thân mình. Tâm từ rải ra phải toàn tâm toàn ý với mong muốn dốc toàn bộ từ tâm ra ban phát cho chúng sanh không cần giữ lại một chút mảy may. Thậm chí phát nguyện tâm từ tự động được rải và chúng sanh được tự do thụ hưởng mà không phải đợi hành giả thực hiện thao tác đọc câu thần chú. Rải tâm từ là một bài thực tập tiếp nối (follow-up) việc hành thiền và phát triển thành một bài thiền tập: thiền rải tâm từ. Bài thiền này khi thực tập miên mật có khả năng giúp hành giả buông bỏ mọi thứ nhanh chóng và dễ dàng, không còn kẹt vào gì nữa. Bồ Tát thực hành rải tâm từ tinh tấn và liên tục đến nỗi thân mạng không tiếc gì và mọi chí hướng đều vì chúng sanh mà làm. Người hành Thiền Minh Sát nên xem việc rải tâm từ là niềm vui và hạnh phúc. Nó tạo nhiều thuận duyên và điều kiện cho hành giả tinh tấn tu học. Tâm từ phát triển mạnh mẽ làm tâm bình đẳng hay không phân biệt phát khởi. Hạnh phúc của hành giả lớn đến nỗi hành giả vui sướng reo mừng và chẳng có gì có thể đánh đổi được. Tâm từ rải đi nhưng chẳng bao giờ vơi mà lúc nào cũng đầy ắp, thậm chí ngày càng nhiều hơn thế. Có khi hành giả bật khóc nức nở vì quá sung sướng khi nhìn thấy chúng sanh hưởng được niềm vui lâu dài do kết quả của việc rải tâm từ mang lại.

Gắn bó với thiền sư hoặc thầy hướng dẫn thiền

Chọn một Thiền Sư hay thầy hướng dẫn thiền giỏi để theo học. Vị thầy này cần am tường về các bài tập thực hành của Thiền Minh Sát và có khả năng hướng dẫn thiền tập mạch lạc, rõ ràng. Vị thầy cần khiêm cung, đồng thời hướng dẫn thiền sinh hết lòng. Nhiều thầy thích khoe khoang bản thân, đưa thiền sinh vào thế giới tâng bốc bản thân mà quên đi mục đích của mình là hướng dẫn người khác. Hành giả nên sinh sống tại tu viện, thiền viện, trung tâm hành thiền hay tại ngôi chùa mình muốn theo học. Theo đuổi một thời gian nhất định tạo điều kiện cho việc học hỏi và hành trì đầy đủ các phương pháp thiền. Có thể xung phong làm thị giả cho thầy hướng dẫn hoặc tìm các cơ hội gần gũi với thầy để học hỏi các lời dạy cũng như cách hành xử trong đời sống hàng ngày của người xuất gia. Tôn trọng và cung kính thầy là chuyện đương nhiên nhưng hành giả nên buông bỏ các sĩ diện và ngã mạn để có thể tiếp thu các lời dạy mà trước đây mình tưởng chừng khó có thể chấp nhận được. Người kiêu ngạo chẳng lắng nghe và học hỏi được gì, sớm muộn sẽ chán nản và bỏ cuộc rất nhanh. Có hành giả thích tranh cãi hay bắt bẻ thầy hướng dẫn, thậm chí chê bai thầy về phương diện nào đó và khoe khoang về các thành tựu bản thân. Tệ hại hơn nữa là đặt những câu hỏi về giáo lý quá nhiều hay cố tình đưa thầy vào thế bắt bí. Những người như vậy lấy làm thỏa mãn bản thân, khó có duyên với thiền nói chi đến đi sâu vào thiền.

Gắn bó và lắng nghe thầy của mình là hành vi cần thiết bất cứ hành giả nào cũng phải biết. Thầy là người đi trước và có nhiều kinh nghiệm trong việc hành thiền. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa thầy giỏi hơn trò vì có những trò đi rất nhanh và vượt qua cả thầy. Nhưng không vì thế mà muốn chứng tỏ bản thân, vì một khi ý niệm này khởi lên mà không có ý thức thì việc hành thiền đã đi thụt lùi, hành giả chưa bao giờ tiến tới cả. Nhiều vị thầy chưa dạy gì về thiền cho thiền sinh nhưng đã yêu cầu họ làm hết cái này đến cái kia. Nhiều người chấp tác liên tục từ sáng tới chiều quá mệt mỏi đâm ra oán giận thầy. Điều lúc ban đầu hành giả chưa hiểu là chấp tác trong chánh niệm là cách thức thiền công việc. Điều gì không nắm rõ thì cần phải đặt câu hỏi, nhưng đặt câu hỏi nhiều quá sẽ trở nên lười biếng trong suy nghĩ và quan sát. Gắn bó thầy để biết cách thầy làm việc trong chánh niệm. Thuở ban đầu khi chưa biết phải làm gì thì hành giả cần quan sát và bắt chước. Tuy nhiên bắt chước có sự sáng tạo nếu rập khuôn thì thành cái máy thiền.

Thực tại cùng tột

            Tất cả những gì hiện hữu trong vũ trụ đều là danh sắc, biến đổi không ngừng. Chúng chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc rất nhỏ khó mà nhận biết nhưng sự thật là vậy. Thực tại cùng tột là chân lý tuyệt đối, bằng quán chiếu có thể nhận biết được giá trị của thực tại với con mắt vô tướng. Không có gì gọi là muôn năm và bất di bất dịch mà biến chuyển liên tục, một thứ trông có vẻ đứng yên nhưng sự thật nó đang chuyển động bằng tốc lực tối đa. Thực tại của mỗi danh sắc ấy luôn nằm trong trạng thái hiện tại. Hiện tại chúng đang sống và đang có mặt. Tri giác chỉ trở về với thực tại khi biết nắm lấy sự sống trong hiện tại. Hiện tại chính là cái đang là, cái như vậy, cái như thế đó, không cần phải vẽ vời, hóa trang hay sơn phết. Thiền Minh Sát làm cho tâm chăm chú vào hiện tại, thổi sức sống vào hiện tại và hoàn toàn trở thành hiện tại. Tâm trụ vào hiện tại, nuôi dưỡng hiện tại và hiện tại trở nên màu mỡ, nhờ vậy tâm được bảo vệ không bay nhảy trong các phương trời không phải là hiện tại. Tâm rong ruổi không an trụ hay phóng tâm làm cho tham, sân, si, mạn, nghi, kiến và đủ thứ tâm hành bất thiện khác phát sinh, làm tâm mỏi mệt và bất an, hiện tại ngay lập tức biến mất, con người đi như mộng du và nói như ngủ mơ. Thất niệm hay phóng tâm bắt nguồn từ việc ưa thích, chán ghét, si mê, kiêu ngạo, nghi ngờ hoặc chấp thủ. Tất cả những điều này đều là nguyên nhân của đau khổ, dẫn đến khổ và đắm chìm trong khổ. Muốn thoát khổ, phải biết chúng đang có mặt, gọi cho được tên chúng, tìm ra nguyên nhân làm chúng phát sinh và chuyển hóa chúng. Trong hiện tại, tất cả điều này có thể được làm, đau khổ không nên để dành và để chất chứa.

            Hạnh phúc không đến bằng việc đi học, tranh cãi hay trình bày quan điểm, hạnh phúc được chế tác thông qua việc thực tập. Ngừng hay không thực tập tức là nói không với hạnh phúc. Thực tập suốt ngày thì hạnh phúc sẽ có mặt suốt ngày. Chứng ngộ thực tại cùng tột là chứng ngộ Niết Bàn. Không thể nào cầu xin một đấng thần linh hay thượng đế ban điều đó cho mình, tự mình phải thực tập và chứng ngộ. Nhưng thực chất chẳng có gì chứng ngộ cả, chỉ có mình an trú hoàn toàn trong hiện tại mà thôi. Chánh niệm là bài thực tập căn bản và hành Tứ Niệm Xứ dẫn hành giả đi đúng hướng cũng như thực tập các bài khác. Nhiều người có vẻ chẳng niệm gì cả nhưng họ đang an trú trong hiện tại, có định, có tuệ, sở dĩ như vậy vì việc thực tập của họ đã quá thuần thục, niệm như không niệm. Người mơ mộng nhiều sẽ rơi vào trạng thái mơ màng, bồng bềnh trong quá khứ và lơ đãng ở tương lai, không biết mình là ai trong hiện tại. Nền giáo dục dạy người trẻ phải trở thành người này và thăng tiến vào vị trí kia, nhưng thật khó hiểu họ chẳng dạy làm cách nào để hạnh phúc trong hiện tại. Hiện tại chính là mục đích thành đạt, thắng hay thua chỉ có trong hiện tại. Không cần phải học cao, hiểu biết rộng, thấm nhuần khoa học, người bình thường vẫn có thể thực tập Thiền Minh Sát và hạnh phúc ngay trong hiện tại. Khoa học đã phát triển bấy lâu nhưng khổ đau có bao giờ được giải quyết, có chăng khổ đau cũ chưa hết khổ đau mới đã đến.

            Chân tướng của thực tại được nhận biết khi tỉnh thức liên tục không gián đoạn. Nhiệm vụ chủ yếu của người tu là tỉnh thức, nhờ vậy mà tâm không bị mê và lôi kéo. Thực tại cùng tột không là gì cao siêu, nhưng không thể dùng ngôn từ để miêu tả, chỉ có thực tập mới nắm bắt được.

5.Những Cái Tuệ Của Thiền Minh Sát – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 5

Những cái tuệ của Thiền Minh Sát

            Tuệ thứ nhất: Tuệ nhận diện danh sắc.

Khi thực tập thiền đi, thiền ngồi, thiền nằm hay thiền công việc, hành giả biết cái nào là danh và cái nào là sắc. Tuy nhiên sự nhận biết này mang tính đơn thuần, không nhất thiết phải lý luận một cách sâu sắc và đặt câu hỏi tại sao cái này là danh hay sắc. Vật chất và tinh thần cấu tạo nên con người. Dĩ nhiên vì chúng rất đỗi vô thường nên thay đổi rất nhanh, hành giả cần có chủ quyền về sự thay đổi đó. Sắc là vật chất và danh là tinh thần. Nếu danh và sắc tách rời, con người không có sự sống. Có thể nói nếu người để tâm rong ruổi không hiệp với thân thì sống như đã chết. Vật chất vận động là sắc và ý thức về sự vận động của vật chất là danh. Khi thiền ăn cơm, hành động đưa cơm vào miệng là sắc và ý thức về hành động này là danh. An trú vào hành động chi tiết của quá trình ăn cơm, hành giả an trú hoàn toàn vào việc ăn cơm, không phóng tâm vào việc rửa chén và buổi trưa sẽ làm gì.

            Bất cứ ai cũng hàm chứa danh và sắc như vậy, diễn tiến liên hồi, không có gì sinh không có gì diệt, có chăng chỉ thay đổi từ dạng này sang dạng khác, vì vậy chẳng có chi gọi là cái ta. Nếu cho đó là ta thì khi vừa nói xong, cái ta đó thay đổi đi rồi và danh làm nhiệm vụ ghi nhận cái ta tiếp theo. Suốt ngày cứ ngồi ghi nhận cái ta liên hồi thì thật vô ích, nó chỉ là giả danh, cho nên cái mình cho là ta chỉ là ngộ nhận bởi vì chẳng có gì được cho là ta. Nếu gọi là ta chắc ta trẻ mãi không già và chẳng bao giờ sinh ra hay lớn lên.

            Nhận biết về sắc rồi nhận biết về danh, nhưng thực ra cả hai quá trình này tương tức với nhau vì chẳng có gì gọi là trước hay sau. Ngay khi nhận biết về sắc cũng là lúc nhận biết về danh và ngược lại. Nếu hành giả quên niệm thì nên tận dụng trợ lực đã nói ở trên như tiếng chuông hay bất cứ đối tượng âm thanh nào. Thân thể này cần được trân quý vì nó cho ta cơ hội thực tập đạo giải thoát, nhưng không nên kẹt vào thân này, nếu ta kẹt vào nó thì còn dính mắc, còn dính mắc thì phải thực tập buông bỏ. Giới luật yêu cầu gìn giữ thân tâm, đương nhiên, chỉ vì nếu không gìn giữ thì lấy gì mà thực tập. Thân tâm sạch sẽ như chiếc gương sáng trong đã được lau sạch bụi bậm, điều kiện thực tập dễ dàng. Mặt hồ phẳng lặng không gợn sóng rất đẹp, ai cũng muốn ngắm nhìn và hạnh phúc vì nó.

            Nói là danh điều khiển sắc là đúng nhưng chưa đủ, sắc vẫn có thể điều khiển danh. Khi muốn uống nước, muốn uống nước là danh. Thân uống, miệng hớp nước là sắc. Tuy nhiên, thân thiếu nước, đó là sắc. Việc khát nước dẫn đến ý muốn uống nước, đó là danh. Danh sai khiến sắc chỉ là một chiều, sắc vẫn sai khiến danh như thường. Muốn hai bên sai khiến lành mạnh, phải giữ thân tâm lành mạnh. Thân lành mạnh không sai khiến tâm mong muốn không lành mành. Tâm lành mạnh không bắt ép thân làm điều không lành mạnh. Khi chánh niệm, hành giả nhận biết dòng diễn tiến danh sắc nhưng không đưa sự phân biệt vào trong đó. Chỉ cần một nhỏ xíu phân biệt thôi sẽ làm mất đi tính nhận diện đơn thuần, bản ngã len lỏi, phiền não chuẩn bị phát khởi. Hành giả ban đầu hay quên chánh niệm, bị phóng tâm, nhưng khi có khả năng niệm rồi thì lại quên không nên có tâm phân biệt. Nếu tâm phân biệt phát khởi, phải nhận diện đơn thuần sự phân biệt đó bằng cách niệm “phân biệt à” đến khi sự phân biệt biến mất và quay trở lại theo dõi hơi thở. Cái gì diễn ra phải nhận diện kể cả tính phân biệt này, nếu không sẽ bị nó kéo đi và trở nên mê muội dù đang ở trạng thái thực tập thiền.

            Tuệ thứ hai: Tuệ nhận diện nhân quả.

Bản chất của nhân quả là vô thường vì không gì có thể mãi là nhân và không gì có thể mãi là quả. Nhân tạo nên quả và đến lúc nào đó quả lại trở thành nhân. Hơi thở vào làm nhân cho hơi thở ra, hơi thở ra là quả, rồi đến lượt hơi thở ra làm nhân cho hơi thở vào, hơi thở vào là quả. Nói về thời gian cũng thế, phút thứ nhất là nhân tạo nên phút thứ hai là quả, phút thứ hai đến phiên mình là nhân tạo quả ở phút thứ ba. Một người được khen là nhân có thể dẫn đến quả khuyến khích mình khiêm tốn hơn hoặc quả kiêu căng ngạo mạn. Người có quả khuyến khích mình khiêm tốn hơn trở thành nhân tạo quả tiếp tục được khen. Người có quả kiêu căng ngạo mạn trở thành nhân tạo quả bị chê.

            Diễn tiến nhân quả chi tiết đến nỗi hành giả mà tiếp xúc được đầy đủ thì thực tại cực kỳ cùng tột, người này biến thành thực tại đó không sai khác. Hơi thở vào là nhân, biết hơi thở vào là nhân, hơi thở ra là quả, biết hơi thở ra là quả. Nhân và quả này có thể xảy ra cùng một lúc, không nhất thiết phải trước sau, nhiều khi cái trước sau đó diễn ra quá nhanh khiến ta nghĩ nó xảy ra cùng một lúc, nhưng không phải vì thế mà không có thứ xảy ra cùng một lúc. Hai vợ chồng sống chung với nhau tạo thành gia đình, gia đình hình thành không phải sau khi hai người quyết định chung sống, mua nhà, sắm sửa đồ đạt mà khi cả hai có ý tưởng đó đã tạo nên gia đình. Ý tưởng là nhân và gia đình là quả, nhân và quả này xảy ra cùng lúc. Nói về văn hóa doanh nghiệp. Nếu cho rằng khi có công ty, đăng ký kinh doanh, xây dựng cộng đồng nhân viên, lúc đó mới có văn hóa doanh nghiệp là không đúng. Khi người chủ đầu tiên có ý niệm về việc thành lập doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp đã có mặt rồi. Điều này minh chứng nhân và quả xuất hiện cùng lúc. Cái nhân tạo tác ngày hôm nay đã gieo cái quả tạo tác sau này tùy theo điều kiện mà biểu hiện sớm hay muộn.

            Thiền sư Raja Siddhimuni cho rằng niệm Tứ Niệm Xứ là nhân và trí tuệ phát sanh là quả. Thực chất quả đã nằm trong nhân, tức là trí tuệ nằm trong việc niệm Tứ Niệm Xứ. Trí tuệ đã có sẵn rồi, chỉ vì điều kiện của niệm chưa đủ cho trí tuệ biểu hiện. Khi hành thiền, nếu tìm kiếm các điều kiện thì thật không nên. Chẳng hạn cố gắng mong mỏi ấn chứng xuất hiện, hiện tượng xuất hiện, cái thấy cái nghe xuất hiện để mình chứng, mình thấy, mình nghe, điềy này cần nên tránh. Mọi hiện tượng cứ để tự nhiên nó diễn ra, không tìm kiếm, còn tìm kiếm còn chưa phải là thiền. Một giảng sư thuyết giảng thường hay nói theo cái thấy của tôi, theo cái nghĩ của tôi, theo tuệ giác của tôi chứng tỏ vẫn còn ngã mạn, còn ngã mạn tức còn tìm kiếm, còn tìm kiếm cùng nghĩa với việc xem lại cách thiền của mình.

            Nhận diện được nhân quả cũng mang tính đơn thuần, không phán xét, phân biệt hay tìm hiểu quá đáng. Gọi tên cho được, à cái này là nhân, à cái này là quả, vậy thôi. Đừng mất thì giờ vào việc phân trần, trời ơi tại sao cái này lại là nhân, trời ơi tại sao cái này lại là quả. Làm được điều này, hành giả thấy khỏe, thân tâm nhẹ nhàng, bớt âu lo, bớt hoài nghi và người thực tập giỏi sẽ thấy không còn sợ hãi gì nữa. Mọi thứ đều là nhân quả của nhau, sở dĩ có cái này vì có cái kia, cho nên không lo không lắng, không buồn không khổ, điều này đồng nghĩa với không sợ hãi.

            Người nhận diện được nhân quả có khả năng hết hoài nghi. Tính nghi ngờ của con người làm cho họ rơi vào tri giác sai lầm. Tri giác sai lầm là nhân dẫn đến quả hồi hộp, tức tối, giận hờn, bực bội… Nếu xem tri giác sai lầm là một thứ quả, hãy quán chiếu xem nhân nào dẫn đến quả này, họ sẽ không bị kẹt vào tri giác đó. Khi hành thiền, hành giả thấy hoài nghi phải niệm hoài nghi cho đến khi hoài nghi không còn nữa và nếu hoài nghi không còn, phải biết mình đã hết hoài nghi.

Tuệ thứ ba: Tuệ nhận diện vô thường, vô ngã và Niết Bàn.  

Quán niệm về thân thể thấy rõ tính vô thường của nó. Nếu thân thể là thường, làm sao mẹ sinh đứa con và đứa con làm sao lớn lên, già đi và qua đời. Nói mọi thứ là thường giống như một người đi làm kiếm tiền về nhà cất tủ để đó chơi không bao giờ xài, hay một người chỉ có ăn cơm và uống nước không bao giờ đi tiểu và đi cầu. Nhờ vô thường, mà tiền kiếm được được xài, uống nước có đi tiểu và ăn cơm có đi cầu. Cho nên phải cám ơn vô thường. Vô thường giúp ta chăm sóc cái thân, không hành hạ cái thân, sử dụng cái thân để tu tập. Vô thường giúp ta bảo hộ cái tâm, không cho nó chạy vòng quanh, sử dụng cái tâm suy nghĩ điều thiện. Đời vô thường nên tu tập ngay bây giờ, thiền ngay bây giờ, hạnh phúc ngay bây giờ, đừng có đợi, đừng có hẹn, đừng có hứa. Quán niệm thân thể để thấy thân tâm này lúc khỏe lúc bệnh, lúc buồn lúc vui. Người tu biết giữ gìn sức khỏe cho cả thân và tâm và khi bệnh tật hay khổ đau, biết chăm sóc bản thân.

            Theo dõi hơi thở và bụng phồng lên xẹp xuống. Các hơi thở cứ thế vào ra mười phút, 1 tiếng hay 2 tiếng. Hơi thở đầu tiên dù vào hay ra được nhận diện nhưng có thể giữ nó lại, nắm lấy nó và ngắm nhìn nó không? Hơi thở dù dài hay ngắn cũng không thể giữ lại và không thể kéo dài đến năm phút, nói chi hai tiếng. Hơi thở không giữ được vậy hơi thở đâu phải là ta và càng không phải của ta. Hơi thở đến rồi đi mất, có chăng chỉ là sự phối hợp của đất, nước, lửa và gió. Ta mượn bốn thứ này rồi cũng phải trả lại bốn thứ này. Thở vào là mượn và thở ra là trả. Chẳng ai chỉ mãi thở vào mà chẳng bao giờ thở ra và ngược lại. Nhận diện được tính vô ngã, hành giả buông bỏ mọi chấp trước, không bị kẹt vào bản ngã, nhìn đâu cũng thấy bình đẳng, nhìn cái gì cũng như nhau không phân biệt. Chính vì không còn phân biệt, hành giả hạnh phúc với mọi đối tượng, hỷ lạc khắp châu thân, thứ hỷ lạc rất kỳ lạ, nhưng hành giả có chánh niệm thực thụ phải niệm hỷ lạc này. Bởi vì khi hỷ lạc chấm dứt, khả năng phiền não vi tế phát sanh bao gồm đau bụng, rùng mình, nổi da gà, mát mẻ, chóng mặt, vui vẻ, hân hoan, bực mình, ngứa ngáy, đức tin tràn trề, lầm tưởng đắc đạo, suy tính liên miên, muốn giúp người này người kia, muốn thực tập nữa, nhớ lại quá khứ, chán ghét thân thể, muốn ngồi thiền mau cho xong giờ, vọng tưởng, tưởng tượng đủ thứ… Tất cả điều này có thể khiến hành giả lầm tưởng mình đạt cảnh giới nào đó hay đắc đạo. Không nên có suy nghĩ như vậy mà cần phải tỉnh thức niệm những hiện tượng khởi lên như đau bụng thì niệm đau bụng đến khi hết đau bụng, rùng mình biết là rùng mình, vui vẻ biết đang vui vẻ… Nói chung, hành giả đừng bị kẹt vào bất cứ thứ gì dù là hiện tượng hỷ lạc hay khó chịu.

            Tuệ thứ 4: Tuệ nhận diện sanh diệt của danh sắc.

Trong quá trình thực tập, hành giả có thể phóng tâm hay nhìn thấy điều gì thì không nên dính mắc vào nó mà phải nhận biết mình đang phóng tâm và đang nhìn thấy cho đến khi các đối tượng xuất hiện đó biến mất. Sau đó quay trở về theo dõi hơi thở và sự phồng xộp của bụng. Nếu đối tượng nhìn thấy được ghi nhận và biến mất ngay sau khi ý thức đầu tiên về nó, hành giả nhận diện được sự sanh diệt của danh sắc. Việc này có thể diễn ra chỉ trong một sát na, rất nhanh và khi tỉnh thức, nó sẽ được biết đầy đủ. Cái gọi là ấn chứng đều do phóng tâm hay tâm chế tác ra, cho nên nó không thật, là giả tưởng hay tưởng tượng. Đừng vội cho đây là việc đắc đạo mà lầm đường lạc lối, sanh ra kiêu mạn và tự mình ngăn cản con đường thực tập. Lạc thọ, khổ thọ hay xả thọ nên được nhận biết. Nếu cảm giác hoan hỷ hay sung sướng phát khởi, niệm hoan hỷ và sung sướng, đây là lạc thọ. Không niệm sẽ bị chìm đắm trong cái hoan hỷ và trở nên mê muội. Nếu cảm giác đau đớn, tê nhức, mệt mỏi hay chán nản phát khởi, niệm đau đớn, niệm tê nhức, niệm mệt mỏi, niệm chán nản. Điều này có nghĩa hành giả biết mình đang đau đớn, đang tê nhức, đang mệt mỏi hay đang chán nản, đây là khổ thọ. Niệm cho đến khi khổ thọ không còn và biết mình không còn khổ thọ nữa. Xả thọ là sự vắng lặng của lạc thọ và khổ thọ, tức là không lạc cũng không khổ, hay đang ở trạng thái trung tính. Hành giả biết mình không lạc cũng không khổ nhưng vẫn không bị mắc kẹt dù xả thọ nghe có vẻ tốt hơn hai cảm thọ kia. Mắc kẹt vào cái gì đều không phải là thiền, buông bỏ đi cho dù tốt hay xấu. Có buông bỏ thì mới đi tiếp. Ví dụ muốn qua bài thiền số năm, phải buông bỏ cho được bài thiền số bốn, giống như muốn lên bậc thang thứ mười phải bỏ bậc thang thứ chín.

Hành giả đôi khi có tư tưởng móng tâm. Móng tâm là trông ngóng. Thứ nhất, trông ngóng cho mau hết giờ hành thiền. Thứ hai, trông ngóng cho mau có ấn chứng. Thứ ba, trông ngóng được lên bài thực tập cao hơn. Điều này thật tai hại vì hành giả đang mong cầu. Nếu mong cầu không được niệm hay nhận biết, hành giả trở nên thất niệm, không thể tiến xa hơn hay có thể đi thụt lùi. Đọc các bài viết ở phần trên cho thấy thiền chỉ là thiền, nếu thiền có mục đích thì không còn là thiền nữa.

            Tuệ thứ 5: Tuệ diệt.

Hành giả ý thức về toàn thân khá rõ ràng. Nhiều điểm đụng trên cơ thể giúp chánh niệm về thân và sử dụng tâm theo dõi thân chặt chẽ hơn. Hơi thở vào trở nên sâu và nhẹ, hơi thở ra trở nên chậm và nhịp nhàng, không còn hổn hển và mạnh bạo như thuở ban đầu. Nhiều người cảm thấy đau bụng và tức ngực lúc chưa quen việc theo dõi hơi thở, bây giờ điều này không còn nữa, thay vào đó thân tâm càng trở nên an lành và dễ chịu. Thực tập liên tục đúng cách làm hơi thở vào ra dài hơn, hành giả thấy hơi thở thật dễ mến, đáng yêu và quí giá vô cùng. Nhờ hơi thở, biết mình còn sống, biết các điểm đụng, các bộ phận cơ thể đang hoạt động và phục vụ bản thân liên tục không sao nhãng. Bài tập này khi thực tập liên tục thấy cơ thể gần như biến mất, chỉ còn tâm đi lên đi xuống chảy theo hơi thở. Hành giả cần ý thức về việc cơ thể có cảm giác biến mất, niệm cho đến khi ý thức được toàn thân. Các điểm đụng trên cơ thể đưa tâm hành giả trở về với thân, gọi tên điểm đụng, cho tâm chạm vào bộ phận cơ thể, thấy chúng có giá trị nuôi dưỡng, nhưng việc đưa tâm đụng các điểm khác nhau chứng tỏ thân thể là một tổ hợp thống nhất, hỗ trợ nhau cho nó hoạt động.

            Thực tập đến đây, thân tâm vô cùng thoải mái và bình an. Hành giả ý thức tình trạng thân tâm của mình và biết rõ chúng trong từng thời khắc của việc thực tập. Nếu quên niệm thì bỏ qua và chú tâm vào hiện tại. Tiếc nuối việc quên niệm làm cho hiện tại bị sao nhãng. Chỉ cần niệm hiện tại, không kéo cái niệm quá khứ và chờ đợi cái niệm tương lai. Một số sách nói đến tuệ này tức là thấy cơ thể mất hết, thấy mất một tay hay mất một chân, chỉ còn lại tâm, như vậy chưa hẳn là tuệ diệt. Nếu gọi đó là diệt thì vì sao thấy mất thân và còn tâm. Nếu là tuệ diệt thì thân và tâm phải mất hết. Điều này chưa đúng với bản thể không có gì sinh cũng không có gì diệt và cái gì sinh thì phải diệt. Tuệ diệt phát sinh khi chú tâm vào hiện tại để thấy nó trôi qua rất nhanh, không níu kéo quá khứ và với tay vào tương lai. Như khi đụng điểm thứ nhất đến đụng điểm thứ hai, điểm thứ hai đang là hiện tại thì chỉ lo đụng điểm hai thôi, không suy nghĩ xem khi nãy đụng điểm thứ nhất chưa hay chắc là bây giờ phải đụng điểm thứ ba chứ không phải điểm thứ hai.

            Hành giả nhận thức được bản thể của thân và tâm. Điểm đụng đó cũng phải diệt để qua điểm đụng khác, ý thức về điểm đụng này cũng phải đổi sang ý thức về điểm đụng khác. Điều này cho thấy tuệ diệt nằm ở chỗ điểm đụng thay đổi và ý thức về nó cũng thay đổi liên hồi. Diệt một điểm đụng để rồi sinh ra điểm đụng mới. Cho nên nói tuệ diệt cũng nói đến tuệ sinh bởi vì chẳng có gì diệt cũng chẳng có gì sinh. Nhận biết pháp sanh diệt dù chỉ trong tích tắc cũng chứng tỏ hành giả này có phước báu lớn trong đời sống quá khứ và hiện tại. Người phước báu ít ỏi chẳng bao giờ gặp được Thiền Minh Sát, hoặc gặp thì lại chê bai và không chịu thực tập. Tuệ thứ tư và năm đều nhấn mạnh kết quả nhận biết bản thể của danh sắc để thấy rằng chúng là vô thường, vô ngã và cũng chính chúng giúp Niết Bàn hiện tiền. Tuệ dù sinh hay diệt đều phải theo qui luật của nó có nghĩa đã sinh ra thì phải diệt. Cho nên hành giả khi có ấn chứng hay tuệ phát sinh thì không mong chúng xuất hiện trở lại, bởi vì nó cũng vô thường mà thôi.

            Tuệ thứ 6: Tuệ sợ.

Hành giả thực tập bài này có thể phát sinh sợ hãi, nhưng khi niệm sợ liên tục, sợ hãi có thể biến mất đi và nhận biết về sự biến mất của sợ hãi. Cái sợ còn bao gồm cả lo lắng về điều gì đó như về sức khỏe, về gia đình hay về công việc. Những lo lắng này tự nhiên phát khởi khiến cho hành giả sợ, đồng thời những ký ức cũ tự nhiên hiện về và vẽ ra trong đầu bao nhiêu dự tính cho tương lai. Hành giả phải chánh niệm về việc này. Khi ký ức cũ hiện về thì phải niệm phóng tâm và khi tương lai vồn vã tới thì phải niệm phóng tâm. Lo lắng dẫn đến sợ hãi và dĩ nhiên sợ hãi phải có đối tượng của sợ hãi, không thể nói không biết sợ hãi về cái gì, bởi vì nếu không biết xem như chánh niệm không rõ ràng. Nhìn phải có đối tượng, nghe phải có đối tượng và sợ hãi cũng phải có đối tượng. Ý thức về đối tượng của sợ hãi, hành giả tỉnh giác về sự sợ hãi đó và niệm sợ hãi cho đến khi không còn sợ hãi gì nữa.

            Hành giả ý thức về các cảm giác nóng, lạnh, mát, bực bội hay khó chịu… Nếu các hiện tượng này phát sinh, niệm chúng vì chúng là hiện tại, khi cảm giác biến mất thì lập tức quay về theo dõi hơi thở. Nếu không niệm, sợ hãi ban đầu không được nhận diện, hành giả bị sợ hãi lôi kéo, làm nô lệ cho nó và rơi vào tà dục nhanh chóng. Khi sợ hãi nổi lên, phải niệm ngay và làm cho nó lắng dịu. Có khi sợ hãi xuất hiện vì hành thiền quá mức hay ngồi không đúng cách, dẫn đến việc điều hòa hơi thở không thuận tiện và các mạch máu căng thẳng. Vì vậy, một khi sợ hãi quá mức và việc niệm không có kết quả, hành giả nên ngưng thiền, nghỉ ngơi, xoa bóp toàn thân hoặc đi kinh hành thư giãn thân tâm. Nên nói về nỗi sợ của mình cho thiền sư hoặc thầy hướng dẫn để có lời khuyên về cách thực tập, đồng thời tìm hiểu thêm về phương pháp rải tâm từ cho muôn loài và đọc Kinh Từ Bi cho các chúng sanh nghe. Việc làm này có tác dụng tưới tẩm thân tâm các cảm giác an toàn cũng như chế tác sự bình an cho môi trường xung quanh. Tuệ sợ phát sanh rồi sẽ tan biến, nhưng nếu không biết cách, hành giả duy trì nỗi sợ trong người và không muốn ngồi thiền nữa. Hành thiền phải có hạnh phúc, nếu không thì đừng có hành. Hạnh phúc thể hiện ở chỗ nỗi sợ hiện lên thì nắm chặt lấy nó, cái gì nắm chặt sẽ tự động rút lui, rút lui rồi thì sẽ có hạnh phúc. Tuy nhiên, dù sợ hãi hay hạnh phúc cũng đều nhận biết, đó là chánh niệm.

            Tuệ thứ 7: Tuệ nhận diện năm uẩn.

Năm uẩn bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức; theo đó sắc là thân và thọ, tưởng, hành, thức là danh hay tâm. Hành giả hành thiền phải gọi tên cho được cái này là sắc, cái này là thọ, cái này là tưởng, cái này là hành và cái này là thức. Dĩ nhiên không có mắc công ngồi phân loại danh và sắc tương ứng với uẩn của nó mà chỉ cần gọi tên hay nhận diện đơn thuần. Niệm phồng xộp cho đến khi không thấy niệm nữa nhưng thực sự đang niệm. Sự thuần thục chứng minh việc niệm như không niệm, không niệm nhưng thực sự đang niệm. Năm uẩn được xác lập bởi bốn yếu tố: đất, nước, lửa và gió. Niệm phồng xộp là niệm bốn yếu tố, tức niệm sắc. Ý thức về niệm là ý thức về bốn yếu tố, tức niệm danh. Niệm đến không thấy niệm là biết về danh sắc nhưng không bị kẹt vào nó. Không thấy niệm nhưng thực sự đang niệm là vượt thắng sợ hãi về sự biến chuyển của thân, thân này sẽ trở về bốn yếu tố và không đau đớn vì nó. Hành giả không còn tham cầu vào lạc thọ, khổ thọ hay xả thọ cũng như không dính mắc vào các thọ. Xem các thọ là như nhau, gọi đầy đủ tên các thọ nhưng không còn mảy may phân biệt. Mọi hiện tượng xảy ra với thân đều cho sự chuyển động hay hoạt náo của bốn yếu tố. Tâm ý thức về thay đổi của chúng. Sự thay đổi này làm cho cơ thể tê nhức, mệt mỏi, khó chịu, đau đớn hay ngứa ngáy. Các hiện tượng bất lợi này thực ra đâu phải là ta, tất cả đều do bốn yếu tố kia di chuyển làm ra vậy. Hành giả biết thế nên càng thực tập để lành mạnh hóa bốn yếu tố, không hành hạ hay cưỡng chế thân thể, đồng thời sử dụng thân thể thực tập con đường giải thoát, xem nó như phương tiện hỗ trợ, tuy nhiên không để phương tiện sai khiến trở lại. Thân năm uẩn gánh chịu tính vô thường, phải lớn lên, già nua, bệnh tật và đau đớn. Hiểu rõ tính chất này, hành giả không tham đắm, không chạy theo và mê mệt vì nó, nhưng ngược lại hành giả ra sức bảo tồn năm uẩn không phải vì sợ hãi mà vì bản chất trong lành của nó, giúp năm uẩn hòa giải với nhau, thân tâm sẽ dễ dàng bình an. Hành giả ngay lập tức chán nản, sau khi nhận diện được nó, chán nản chấm dứt, và cũng ngay lập tức trân quý, không cho phép năm uẩn làm bậy, mà chỉ làm công việc duy nhất: thực tập giải thoát, tiếp xúc với thực tại cùng tột và sống sâu sắc trong hiện tại.

            Khoa học thống kê con người có hàng trăm thứ bệnh và nhiều loại bệnh mới cứ liên tiếp xuất hiện. Hôm qua xem ti vi nhiều trẻ em còn nhỏ tuổi đã bệnh ung thư. Hành giả đang thực tập có thể tái phát các bệnh cũ. Bệnh xuất hiện như một thách thức với người tưởng chừng bệnh cũ đã qua. Thiền sinh bệnh suyễn đã hết nhưng trong phút chốc, căn bệnh trỗi dậy, thở còn khó nói chi đến phồng xệp. Căn bệnh lập tức được nhận biết và niệm bệnh. Tuy nhiên không cần phải sầu khổ vì đã dư sức biết chẳng qua đó là tính thăng trầm của bốn yếu tố. Có hành giả chạy đi tìm thuốc suyễn uống, như vậy cũng được nhưng phải niệm tất cả hành động từ ý muốn cho đến uống và kết thúc việc uống thuốc. Hành giả không cần uống thuốc gì cả, chỉ niệm căn bệnh thôi cho đến khi tự nhiên hết bệnh. Có danh sắc thì phải có các thọ, không chỉ có khổ thọ mà còn có lạc thọ và xả thọ. Chỉ cần biết như vậy là đủ, hành giả không quá chán nản cũng không quá trân quý, trạng thái ở tính quân bình, đơn giản là thấy được và biết được.

            Tuệ thứ 8: Tuệ chán nản và dễ chịu. 

Hành giả nhìn thấy sự sanh diệt của danh sắc nhưng thật ra đâu có gì sinh và đâu có gì diệt, có chăng chúng chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Nếu nói có sanh thì có gì đó xuất hiện và nếu nói có diệt thì có gì đó biến mất. Vạn pháp là vô thường nhưng lại không sanh không diệt. Từ chán nản sẽ biến thành dễ chịu, nên nói chán nản diệt để dễ chịu sanh, nhưng thực ra chán nản đâu có diệt, nó chỉ chuyển hóa thành dễ chịu thôi, nhờ chán nản mới biết được dễ chịu như thế nào. Đang hành thiền hoặc sau khi hành thiền, hành giả có thể khát nước hoặc không khát nước. Một bác sĩ đông y nói rằng, ngồi thiền mà thấy khát nước quá độ là ngồi chưa đúng. Tôi không cho như vậy, ngồi lâu dĩ nhiên phải khát nước, nhưng có người vừa mới ngồi không bao lâu, đã thấy khát nước kinh khủng. Người này có thể đứng dậy uống nước và ngồi trở lại hoặc không cần phải đi uống nước. Người khát nước niệm khát nước cho đến khi tình trạng khát nước biến mất. Việc khát nước của thân có thể dẫn đến quả khó chịu, đòi hỏi, mong muốn uống nước, thích ngưng thiền và trở nên nóng nảy. Hành giả có chánh niệm sẽ ý thức các hiện tượng này và không chiều theo bản thân. Ý thức về nóng nảy hay gắt gỏng làm cho tình trạng giảm thiểu và tan chảy. Tất cả các tâm hành bất thiện đều có thể phát khởi, nhưng nhờ ý thức chúng, hành giả không bị lôi kéo. Lúc này, hành giả xem tâm hành cũng vô thường, có khả năng làm cho nó ngủ yên.

            Tính tình hành giả có thể thay đổi, dễ chịu và thoải mái hơn. Nhờ ý thức được tâm hành, hành giả không buông trôi hay lả lơi với tính cách bất thiện. Ăn nói nhẹ nhàng, chú ý đến người xung quanh, phát nguyện thực tập mạnh mẽ và thích thú con đường tu tập là các biểu hiện dễ nhìn thấy. Thậm chí, hành giả muốn chia sẻ lập tức các kinh nghiệm thực tập cho người khác không hề giấu diếm. Sau đó, hành giả trở nên trầm lặng, ít tiếp xúc, muốn có thêm thì giờ để thực tập. Điều tai hại lúc này là hành giả muốn đi bài tiếp theo nhưng hãy nhớ mọi thứ cần phải kiên nhẫn, không cần phải vội vã hay hấp tấp. Thực tập chầm chậm, từ tốn và đúng đắn, giống như tập thể hình nếu nâng tạ nhẹ đúng cách bắp thịt vẫn nở nang, thì dù tập những bài thiền cơ bản vẫn có thành tựu như thường, đâu phải đợi đến hết 16 bài mới thành tựu.

            Tuệ thứ 9: Tuệ sống trong hiện tại.

Từ khi chán nản đến dễ chịu, hành giả buông bỏ những dính mắc cũng như tham cầu về thân và tâm. Hành giả hoàn toàn thực tập sống trong hiện tại, ý thức và chấp nhận thân tâm. Cho dù thân tâm như thế nào, đều phải tỉnh thức biết rõ tình trạng của nó, không xua đuổi ghét bỏ cũng không ôm ấp nâng niu. Chỉ cần nhận diện cái thực sự đang là xảy ra bên trong và bên ngoài sẽ thấy được bản thể của vạn vật. Tất cả nhu cầu trước đây, danh sách mục đích, mơ ước, chờ đợi, kế hoạch A, dự án B đều tan biến hết. Những yếu tố mình từng cho là khó chịu đều trở nên dễ mến và đáng yêu. Hành giả giảm thiểu ý niệm tôi thích cái này và không thích cái kia. Thích hay không thích đều cùng bản thể, như các đợt sóng cao hay thấp đều do kết hợp của nước và gió, không có gì khác nhau. Tâm phân biệt giảm xuống đến mức bằng không, nhìn bất cứ ai bất cứ vật gì cũng thấy trân quý như nhau. Hành giả có thể thấy đau đớn khi biết sự thật về bản thể, sau đó gia tăng cảm giác hối hận về quá khứ. Tại sao trong quá khứ mình lại giận người, hành xử không đúng đắn với người hay đối đãi tệ bạc với người. Làm như vậy chẳng khác nào cư xử không dễ thương với bản thân. Ta và người không khác nên không cần gì phải phân biệt nữa. Hành giả dặn lòng từ rày về sau đối xử dễ thương với mọi người là đối xử dễ thương với chính mình. Cơ thể hành giả ấm và nóng lên, hạnh phúc tột độ khi phát hiện ra sự thật. Sự hỷ lạc này làm nền tảng thúc giục thực tập miên mật không bao giờ dám dễ duôi hay giãi đãi. Có hành giả ngáp chảy nước mắt, người lắc qua phải qua trái hoặc quay vòng. Đơn giản vì năng lượng trong cơ thể quá mạnh, mạnh đến nỗi nếu có người chạm vào có thể có cảm giác điện giật hay bản thân hành giả muốn hét toáng lên và múa may, hoặc khóc òa một cách nức nở vì sung sướng. Lúc này hành giả phải hết sức tỉnh giác, nếu các hiện tượng này xảy ra phải niệm chúng cho đến khi chúng đi qua.

            Hành giả có ý muốn chuyên tâm an trú trong hiện tại, không quay về quá khứ hay chạy theo tương lai. Có người trong môi trường yên tĩnh muốn chạy đến nơi ồn ào và ngược lại, ở nơi ồn ào chỉ muốn yên tĩnh. Tức là thay đổi môi trường trong chốc lát, nhưng hành giả đâu cần phải chạy trốn, nếu tỉnh giác niệm các ý muốn đó thì chúng sẽ biến mất, đâu cần thay đổi môi trường chi cho mắc công. Đây là thời khắc hành giả thấy đời tu thật tuyệt vời, thân tâm thêm vững chãi và biết mình thực sự tu học đàng hoàng.

            Tuệ thứ 10: Tuệ an trú trong thực tại.

Hành giả thực sự an trú trong hiện tại, hạnh phúc hay đau khổ đều được nhận biết. Các lạc thọ và khổ thọ xuất hiện rất nhiều, liên tục niệm và liên tục hết. Thực tại được tiếp xúc và có nhiều giai đoạn hoàn toàn an trú trong thực tại. Hành giả thích thú sống trong thực tại và ngày càng tinh tấn hơn. Hành giả thực tập thoải mái và việc hành thiền trở thành lẽ tự nhiên như ăn cơm hàng ngày, không xem đó là công việc hay cố gắng hết sức nữa. Thấy được các nhiệm mầu trong thực tại, hành giả không mong cầu gì và chỉ chuyên tâm sống trong thực tại. Chấp nhận các hạnh phúc và khổ đau, xem hạnh phúc và khổ đau như nhau bởi vì tất cả chúng đều là hiện tại và diễn ra trong hiện tại. Tâm hối tiếc sẽ không còn và nếu có sẽ được niệm đến khi dứt hết, hành giả sống trọn vẹn trong hiện tại. Tuệ này có thể ngắn hay kéo dài tùy thuộc sự tinh tấn và tỉnh giác. Sau đó, hành giả có thể rơi vào trạng thái phóng tâm về quá khứ hay tương lai, nhưng không bị chúng lôi kéo mà hoàn toàn ý thức trong hiện tại, nghĩa là đem quá khứ và tương lai về hiện tại nghiên cứu và biết mình đang làm điều đó trong hiện tại.

            Tuệ thứ 11: Tuệ hành xả.

Hành giả cảm thấy nhẹ nhàng và dễ chịu. Đây không là dễ chịu của tiện nghi vật chất. Thực tập ở nơi lạnh giá hay nóng nực vẫn thấy dễ chịu như thường. Thiền công việc được chú ý nhiều hơn mặc dù trước đây việc này có thực tập nhưng không được miên mật lắm. Mọi thứ đều trở thành thiền được, nghe đâu cũng thấy thiền, nhìn đâu cũng thấy thiền. Hành giả tiếp xúc với xả thọ, tức là vắng mặt của lạc thọ và khổ thọ. Trạng thái chấp nhận lẫn không chấp nhận phát khởi, nói dễ hiểu là xem các chuyện rất bình thường. Hành giả đồng thời không chán nản thân tâm và cũng không trân quý thân tâm. Tâm bình đẳng xuất hiện khắp mọi nơi, bản chất tâm rõ ràng. Hành giả niệm như không niệm, không niệm cũng như niệm. Sự an nhiên làm cho việc thực tập đi, đứng, nằm, ngồi vững chải, công việc trong chúng có thể cực nhọc nhưng vẫn thảnh thơi. Thiền công việc lâu hơn mà vẫn không thấy mệt mỏi hay phiền hà. Khả năng tự tại bắt đầu phát sinh cho dù nó chưa phát triển và đạt đến độ chín muồi nhưng đã biểu hiện ở mức độ nhất định. Các niệm chi tiết hơn và hành giả tiếp xúc với thực tại dần dần cùng tột, có thể viên mãn phần nào ở thời điểm nào đó nhưng hành giả vẫn nhận biết được. Nhiều người chế tác ra nhiều bài thiền để tập niệm chi tiết như thiền ăn cơm, thiền dọn dẹp hay thiền làm bánh chưng. Các bài tập này có thể giúp hành giả thay đổi khẩu vị thiền và niệm chi tiết dễ dàng hơn, không đơn thuần chỉ chi tiết ở các điểm đụng của thân.

            Tâm được kiểm soát kỹ càng không cho chạy tới lui và nếu có đều được ý thức rõ ràng. Biết rõ thân tâm tức là biết rõ cảnh trần, bên trong và bên ngoài. Tuệ xả giúp hành giả bao dung, tinh thần phóng khoáng và cởi mở. Người thực tập đến đây có thể chia sẻ với thiền sư để được hướng dẫn thêm, tuy nhiên cần giữ sự khiêm cung, nếu không sẽ rơi vào vọng ngữ. Mục đích của thực tập là để thực tập, không phải khoe khoang hay lên lớp người khác. Chia sẻ phải đúng đối tượng và căn cơ, nếu không người nghe có thể rơi vào tình trạng ảo tưởng. Tất cả tuệ phát sinh bản thân hành giả chia sẻ với thiền sư và được thiền sư công nhận mới có thể thông qua, còn nếu bản thân không biết kể lại cho thiền sư mới được công nhận thì đó chưa phải là tuệ được nhận diện. Điều này cho thấy không có khái niệm tu dùm, mạnh ai nấy tu, mạnh ai nấy thực tập nhưng nương tựa lẫn nhau để giúp nhau tiến tu. Hành giả đạt được bài này càng phải nương tựa vào thiền sư, học hỏi và thực tập hết lòng, nếu không tâm tham sẽ xuất hiện, không chỉ cản trở việc thực tập mà còn đi thụt lùi.

            Tuệ thứ 12: Tuệ Niết Bàn là bây giờ và ở đây.

Khi năm căn bao gồm tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn được thực tập đầy đủ và cân bằng, hành giả có thể tiếp xúc với Niết Bàn trong giây phút hiện tại. 16 bài thiền giúp hành giả đi vào Niết Bàn ngay từ bài thực tập đầu tiên, không cần đợi đến hết bài 16 mới đến Niết Bàn. Niết Bàn trải dài suốt con đường thực tập. Chỉ có điều Niết Bàn biểu hiện rõ ràng hay mờ nhạt mà thôi. Năm căn đều có liên hệ tương tức với nhau, theo đó các căn hỗ trợ lẫn nhau mà biểu hiện. Trạng thái cân bằng giữa các căn giúp thân tâm quân bình, vì thế mà có xả hành để nói. Hiện tượng tà kiến, hoài nghi, phóng tâm hay hôn trầm đều do trạng thái mất cân bằng giữa các căn gây ra. Giống như làm việc quá độ thì mệt mỏi và làm việc quá ít thì lười biếng, nhưng nếu biết cách làm việc quân bình thì khỏe khoắn cả thân tâm.

            Người có chánh niệm sẽ có chủ quyền về thân và tâm, nếu không thân tâm bị cấm vận hoặc bị chiếm đóng. Chánh niệm giúp cân bằng các căn: niệm tín, niệm tấn, niệm niệm, niệm định và niệm tuệ. Niệm là một sự kiện nên bản thân niệm cũng phải được niệm, nên có từ niệm niệm. Niệm càng chi tiết thì việc cân bằng các căn càng mạnh. Quên niệm căn nào thì sử dụng tha lực nhắc nhở cho đến khi có thể tự lực được. Nhờ vào tha lực thì vẫn còn nương tựa vào ngoại cảnh, nhờ vào tự lực thì có thể nương tựa chính mình. Hành giả thực tập liên tục không có nghĩa thực tập từ sáng đến chiều, từ chiều đến tối và thức khuya thức hôm để tập. Khi thấy thoải mái hay cần thiết thì tập hoặc theo thói quen mỗi sáng và mỗi tối. Tập theo kiểu hành xác hay hành tâm đều không đúng đắn. Tập quá đáng không làm cho thiền có tác dụng trị liệu mà chỉ làm căng thẳng thêm vì thân tâm đều bị gò bó. Hành thiền ở các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi đều tốt nhưng thiền ngồi giúp ổn định năm căn nhanh và vững chắc hơn. Nhiều người trẻ tìm đến giải trí để thư giãn sau một tuần làm việc mệt mỏi căng thẳng, nếu giải trí quá đáng cũng sẽ chẳng giảm được mà còn căng thẳng thêm. Cân bằng giữa thiền và cuộc sống hay nhất là đưa thiền vào cuộc sống. Hãng Prudential Realty của Hoa Kỳ đã khuyến khích nhân viên tham thiền giải tỏa các ức chế tâm lý về khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 và các cựu chiến binh trở về từ Iraq hay Afganistan có thể cân bằng tâm lý do những hình ảnh ghê rợn của chiến tranh. Tùy theo mỗi người, hành giả này ưa thiền đi, người khác ưa thiền ngồi hay nằm và người khác thích thực tập chánh niệm trong công việc. Dung hòa giữa các tư thế thiền cũng tốt, nhưng không phải chỉ tập một tư thế thiền mà không có định và tuệ. Vẫn có người chỉ đi kinh hành hoặc chỉ ngồi thiền thôi mà có định và tuệ, hay đến như vậy.

            Khi bắt đầu thực tập trong ngày, hành giả nên ôn lại các bài thiền cũ làm tiền đề cho bài thiền đang tập. Đang tập ở bài 12 có thể đi vào bằng bài 1, tức là từ đầu, giống như chạy xe phải bắt số từ từ rồi mới chạy nhanh lên được. Một số hành giả thích bắt đầu ngay từ bài 12 vì họ nghĩ đang tập ở bài này, bài 1 đến bài 11 đã tập rồi thì không cần quay lại nữa. Làm vậy cũng được, nhưng như máy móc vừa khởi động đã cho chạy tốc độ cao sẽ sử dụng không lâu, hành giả dễ thấy khó chịu nếu bắt đầu ở bài cao ngay, leo núi nên từ từ để lên đến núi vẫn thấy đủ sức lực để xuống núi. Hành giả hiểu rõ và có khả năng ứng dụng 37 pháp chứng quả Bồ Đề bao gồm Bốn Niệm Xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, và Tám chánh đạo. Những gì học trong kinh điển chỉ mang tính lý thuyết, đem vào thực hành mới hiểu rõ giáo pháp vi diệu, không còn chấp vào vô thường, vô ngã và Niết Bàn. Ngay cả Niết Bàn còn không chấp thì tìm kiếm Niết Bàn làm gì nữa.

            Tuệ thứ 13: Tuệ xuất thế gian. 

Tuệ phát sanh mà không biết thì không thể cho là có niệm, có định, có tuệ được. Có tuệ phải niệm tuệ, biết, thấy, nhìn và hiểu rõ về nó. Sự sinh diệt của các pháp được nhận biết rất nhanh giống như xảy ra cùng lúc. Ý thức của hành giả không nằm ở nhanh hay chậm mà nằm ở biết sinh biết diệt. Cảm giác hụt hẫng có thể xảy ra nhưng cảm giác này được ghi nhận và cũng sinh diệt thật nhanh. Nhiều cảm giác lạ lẫm phát sinh, nhiều khi chưa bao giờ trải qua, không biết niệm nó như thế nào, chỉ có thể biết đó là điều lạ lẫm. Một con kiến cắn hay muỗi chích trong phút giây của điều lạ lẫm làm hành giả không biết đau và dĩ nhiên việc kiến cắn hay muỗi chích hành giả không biết có xảy ra hay không.

            Hành giả buông bỏ mọi vướng mắc của thế gian, tiếp xúc được với xuất thế gian, Niết Bàn hiện tiền. Hành giả không hề tự chế tác ra thứ Niết Bàn này mà do quá trình thực tập đủ điều kiện để tiếp xúc. Hành giả biết xuất thế gian nhưng lại không phân biệt với thế gian. Xuất thế gian và thế gian chỉ là các ý niệm, điều quan trọng là hành giả không còn bị kẹt vào ý niệm nào nữa. Niết Bàn thực sự không có biên giới hay làn ranh nào cả, nên không có hiện tượng gọi là nhập Niết Bàn. Chúng sanh thực sự đã sống trong Niết Bàn rồi chỉ vì mê muội nên không biết, còn người tu tập tỉnh giác thì biết rõ. Niết Bàn không là thứ vạch ra mục tiêu để đạt hay cái đích để đi tới. Niết Bàn là sự trở về như đứa con đi xa trở về nhà. Biết trở về nhà tức là buông bỏ mọi rong ruổi để an định trong căn nhà bấy lâu ta để cho rêu phong phủ kín, phải dọn dẹp sạch sẽ mới vào ở được. Căn nhà nằm ở đây và lúc này ta không chịu vào ở, cứ đi vòng quanh làm cho chóng mặt và lẩn quẩn. Căn nhà này không thể miêu tả được vì không có hình tướng, không có vườn tược, không có bốn yếu tố, nó chỉ là sự tắt ngấm, vắng lặng và thanh tịnh tuyệt đối. Ở thế gian, con người có thanh tịnh tuyệt đối tức là sống trong Niết Bàn rồi. Đức Phật khi giác ngộ, Người đã tiếp xúc và hoàn toàn sống giữa Niết Bàn, đâu cần phải đợi tịch diệt giữa hai cây song thọ mới đánh dấu hiện tượng nhập Niết Bàn.

            Tuệ thứ 14: Tuệ buông bỏ phiền não.

Nhiều người ngồi thiền để mong đắc đạo là không đúng. Đức Bồ Đề Đạt Ma nói ngồi thiền để thành Phật giống như mài đĩa thành gương. Tu muốn đắc đạo phải tu từ tâm, hành thiền là phương tiện hỗ trợ cho quá trình rèn luyện tâm. Chẳng có gì gọi là đắc đạo vì có đạo gì đâu để mà đắc. Cái gọi là đắc đạo hay đắc pháp chỉ là giả danh, đơn giản vì tâm càng trở nên thanh tịnh thôi. Tâm càng thanh tịnh thì phiền não càng giảm cho đến khi hoàn toàn được buông bỏ. Vì sao sử dụng từ buông bỏ phiền não? Vì có người thích phiền não, chìm đắm trong phiền não giống như người thích sống trong thú đau thương. Buông bỏ 50% tham sân si hoặc hơn nữa là giỏi lắm. Có mấy khi con người lìa bỏ được chúng thậm chí lấy chúng làm sự bám víu cho cuộc sống. Người cho rằng việc hành thiền chỉ làm mất thì giờ, nhưng họ không hề biết đây chính là cách nghỉ ngơi tích cực và tích cực đến nỗi con người vượt thoát tất cả hoài nghi, đặt niềm tin vững chắc vào con đường giải thoát. Hoài nghi khiến con người suy diễn, tưởng tượng và tự vẽ ra đủ thứ, từ đó có tri giác sai lầm và rơi vào tà kiến. Hết hoài nghi tức là hết suy diễn, chấm dứt tri giác sai lầm và chánh kiến rõ ràng. Chánh kiến là thấy rõ thực tướng của năm uẩn, bốn chân lý vi diệu, nói cách khác là nhìn đúng, thấy đúng. Bản thân có chánh kiến không hùa theo ai hay tâm không còn ngả nghiêng, mọi nhìn nhận và quyết định đều lấy chánh kiến ra làm kim chỉ nam để lắng nghe và học tập. Nhờ vậy, hành giả càng khao khát học hỏi và hành trì chánh pháp, sử dụng hải đảo tự thân để phát triển, nhiều khi muốn kiểm chứng lời dạy của thiền sư.

            Tuệ thứ 15: Tuệ chỉ trong một sát na.

Hành giả vượt thắng tất cả mọi thứ, không chấp vào bất cứ cái gì. Vượt thắng này xảy ra chỉ trong một sát na, trong khoảnh khắc tích tắc nhỏ xíu không thể nào đo lường bằng đồng hồ được. Thân tâm đạt đến trình độ chín mùi do quá trình thực tập cung cấp đầy đủ điều kiện, hành giả đạt đạo quả ngay lập tức. Thông thường hành giả không hề biết mình đắc pháp dù tỉnh thức cách mấy. Chỉ biết rằng niệm sự vượt thắng thì niệm sự vượt thắng, vậy thôi. Thời đức Phật tại thế, rất nhiều vị tu sĩ đạt quả vị A La Hán khi hành thiền và theo dõi tâm nhưng không hề biết và khi qua đời, đức Phật mới cho các vị tu sĩ khác hay về quả vị của vị tu sĩ ấy. Âu cũng là cơ duyên, có người tự biết mình đắc đạo quả nhưng không bao giờ chia sẻ với ai và đem sự thật đó vào Niết Bàn. Hành giả vượt thắng tất cả nên ở trong trạng thái tĩnh lặng, mọi việc xảy ra dù chi tiết vẫn tỉnh giác và biết rõ ràng, không mảy may xáo trộn. Việc niệm trở thành rất đỗi bình thường nếu không nói rất đương nhiên hay tự nhiên. Thông thường, hành giả có thành tựu như vậy vì phước báu trong vô số kiếp trước mang lại, làm nhân cho quả thành tựu ngày hôm nay. Công đức và phước đức sau bao nhiêu kiếp tích lũy mới có ngày gặp Thiền Minh Sát. Phước với huệ cùng tu thì làm việc gì cũng đều viên mãn. Hành giả thực tập đến đây ít nhất có thể đã đạt được quả vị Nhập Lưu hay Tu Đà Hoàn, là người đã đi vào dòng, trở thành bậc thánh, không bao giờ còn sợ rơi vào bốn đường ác đạo nữa. Nói ít nhất để thấy có người còn đạt quả vị cao hơn, thậm chí có thể liên tiếp nhau.

            Tuệ thứ 16: Tuệ Niết Bàn hiện tiền.

Hành giả kiểm soát được phiền não, biết rõ và nhận diện trực diện. Người giận biết mình đang giận thì được cho là tỉnh ngộ, nếu không thì được cho là mê muội. Hành giả có thể đối diện với nhiều nghịch cảnh và được ý thức. Nghịch cảnh như những thử thách đối với người hành thiền, nếu mọi việc đều suôn sẻ thì khó mà thành. Không cần hấp tấp phải tập một bài thật nhanh để qua bài tiếp theo. Ở trên đã nói dù tập đúng ở bài thấp vẫn có thể thành tựu ở bài cao, thậm chí chẳng có người thực tập gì, chỉ nhờ nghe pháp hay tự nhiên quán niệm ngẫu hứng một đối tượng nào đó và giác ngộ. Đạo quả Niết Bàn là mục đích cao nhất của người tu. Người tu khi dính mắc vào các chức vị hay quyền lực thì khó tu. Trong khi đó người có tu có chứng, có tỉnh có giác và có sống trong Niết Bàn thì mới là người có chức vị và quyền lực cao nhất. Không cần phải ngồi làm thống kê xem bản thân diệt được tham, sân, si nào. Làm vậy mất thì giờ. Chỉ cần biết khi chúng khởi lên thì biết vậy, theo dõi quá trình khởi lên, diễn tiến và chuyển hóa hay diệt đi. Khi đã diệt thì cũng biết là chúng đã được diệt. Không thể kéo một loại tham, một loại sân hay một loại si ra trong khi nó đã nằm im để rồi diệt nó. Khi tham, sân, si nằm im tức là ở trạng thái vắng lặng, đã ổn rồi không cần phải lôi chúng ra làm gì.

            Hiệu lực của phát nguyện và cầu nguyện có công năng rất lớn. Mọi công đức và phước đức làm từ trước đến nay đều tập trung vào lời phát nguyện và làm cho nó thành tựu. Phát nguyện chủ yếu vào con đường thực tập có đủ thuận duyên. Khi nhân duyên đủ, việc thực tập dễ dàng và trôi chảy. Không nên phát nguyện việc xảy ra các tuệ cũ. Đâu nhất thiết phải như thế. Cái gì đã qua cho nó đi qua và tiếp tục nhận diện thực tại.

            Mỗi hành giả thực tập đều có ấn chứng khác nhau vào các thời điểm khác nhau cũng như đạt tuệ khác nhau. Không hề có sự rập khuôn, tức là không có người này phải giống người kia về pháp hành và thực chứng. Những gì đọc được trong sách chỉ là chia sẻ đơn thuần, không phải là tiền đề tạo ra ảo giác hay ảo tưởng cho bất cứ ai. Tham khảo không có nghĩa phải như vậy, đem những gì đọc được làm chỉ nam cho sự thực tập có thể là sai lầm. Người thực tập theo sách có thể đạt đạo quả nhưng với cách hoàn toàn khác. Ngày xưa năm trăm vị A La Hán đạt đạo đều ở năm trăm phong cách, cách thức và kết quả khác nhau, không ai giống ai. Hãy nhớ rõ điều này để không bao giờ lầm tưởng việc mình thực chứng giống trong sách thì cho là đạt đạo, đó cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi.

6. Phiền Não Tức Bồ Đề – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 6

Phiền Não Tức Bồ Đề

Bốn Chân Lý Vi Diệu            

            Chân lý theo tiếng Pali là Sacca và tiếng Phạn là Satya là một sự kiện hiển nhiên không cần phải bàn cãi. Chân lý của thế gian còn nhập nhằng và tranh chấp có và không, đúng và sai. Chân lý theo Phật giáo là sự thật dùng để chứng minh cái khác. Chân lý vi diệu đầu tiên là đời sống này đầy dẫy những khổ đau. Khổ đau này tiếp nối khổ đau kia và cái được cho là hạnh phúc mật ngọt lại rất ít và cay đắng lại rất nhiều. Hạnh phúc và khổ đau đều có trên thế gian này, nhưng số người lăn xả trong khổ đau quá lớn và số người trầm mình trong hạnh phúc lại quá ít ỏi. Chính con người tạo ra khổ đau cho mình và cũng chính con người chế tác hạnh phúc để chấm dứt khổ đau. Ấy vậy mà có ai biết được cách thức chế tác hạnh phúc trong hiện tại, có người chỉ cho còn bĩu môi, chê bai và quay lưng đi, để rồi mãi ngụp lặn trong khổ đau. Chân lý vi diệu thứ hai là nguyên nhân gây ra khổ đau. Nguyên nhân rất nhiều, nói hoài cũng không kể hết được nhưng sâu xa nhất vẫn là ái dục, lòng khát khao thèm muốn, sự si mê, giận dữ, chấp trước chấp sau… Ái dục là thứ năng lượng rất mạnh mẽ đẩy con người ra đại dương mênh mông, bơi hoài không bao giờ thấy bến bờ. Chân lý vi diệu thứ ba là sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau, tức là Niết Bàn. Buông bỏ mọi ái dục thì không còn khổ đau, Niết Bàn hiện tiền ngay tập tức. Thực tập Tám Con Đường Chân Chánh đưa con người nhanh chóng thoát khổ, trở về nhà hay trạng thái vắng lặng. Con đường này đã được đức Phật chỉ dạy và vẽ ra chuyến hành trình, con người chỉ cần bước đi trên chuyến hành trình vĩ đại ấy. Con người có nhiều lựa chọn nhưng thường hay lựa chọn con đường chông gai. Những cái gai đó đều là ảo và tự hào ảo về việc nhổ được những cái gai ảo. Nếu lựa chọn con đường chánh pháp, cũng là con đường đầy chông gai nhưng chẳng bao giờ chúng được nhổ lên, mà chúng được nuôi dưỡng để từ đó nở ra những đóa hoa hồng. Con đường này không làm con người trở nên nhỏ bé mà ngày càng lớn và vĩ đại. Còn người chỉ lo chạy theo dục lạc, địa vị xã hội, ngạo mạn,… dù cho thân hình đẫy đà, đẹp đẽ và được ca ngợi cách mấy cũng chỉ là người vô hình. Thực tập Bốn Tâm Vô Lượng giúp vượt thắng những ích kỷ, hẹp hòi, vô cảm… Đây là thứ tình thương không thể dùng số học để đếm hay dùng cân để đo bởi vì tính cao siêu của nó. Tinh thần bất bạo động đem hòa bình cho thế giới. Đua nhau sắm sửa tàu chiến hay hiện đại hóa quân đội rồi cho rằng đó là cách gìn giữ hòa bình thì thật là ngu xuẩn. Chỉ có tình thương hay tâm từ mới chiến thắng mọi kẻ địch, chuyển hóa kẻ địch thành bạn. Đã nói đến tình thương thì đâu có phân biệt bạn hay thù, bởi vì dù bạn là ai, tôi vẫn thương bạn. Chân lý vi diệu thứ tư là Niết Bàn. Khi dứt trừ mọi đau khổ, con người chỉ có hạnh phúc, thoát khỏi sanh tử luân hồi và sống trong an vui tuyệt đối.

Tâm thanh tịnh

            Thực tập Thiền Minh Sát giúp cho tâm thanh tịnh, tiếp xúc Niết Bàn trong giây phút hiện tại. Thanh tịnh không có nghĩa là im re, không làm gì cả, thanh tịnh lại có nghĩa biết rõ việc gì đang xảy ra. Niết Bàn không chứa đựng tâm tán loạn, tâm càng tán loạn bao nhiêu càng xa Niết Bàn bấy nhiêu và tiếp xúc với cõi chấp nhận tâm tán loạn. Tâm thanh tịnh gần với Niết Bàn hơn và khi thanh tịnh vừa đủ, hành giả thực sự sống trong Niết Bàn. Sự trong sạch của thanh tịnh phát khởi khi các tuệ của Minh Sát được thực chứng, cho dù đầy đủ hay không. Muốn vậy phải có quyết tâm, thực tập miên mật nhưng không gò bó và thực tập với tâm trạng thoải mái. Các pháp thanh tịnh không đợi đến khi các tuệ phát sinh hay thực hành xong tất cả bài tập Minh Sát mới đạt được, mà chúng có thể được đạt trong suốt quá trình thực tập. Tâm con người vốn thanh tịnh, do các cảnh trần làm cho nó nhơ đục và bụi bậm. Hành thiền như gạn đục lóng trong và lau bụi bậm đi. Bảy pháp thanh tịnh đạo ví như bảy tầng lầu, muốn đến tầng lầu thứ bảy phải đi qua sáu tầng lầu kia. Các pháp thanh tịnh đạt được nhanh hay chậm tùy thuộc vào cơ duyên của hành giả, khi cơ duyên hội đủ thì đạt được không chậm trễ.

            Bảy pháp thanh tịnh bao gồm: giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh, đoạn hoài nghi thanh tịnh, tuệ kiến đạo chánh tà thanh tịnh, tuệ kiến chánh đạo thanh tịnh và tuệ kiến đạo tuệ thanh tịnh. Thứ nhất, giới thanh tịnh là suy nghĩ thanh tịnh, tư tưởng thanh tịnh, hành xử thanh tịnh và vì thế thân tâm thanh tịnh. Hành giả an trú trong niệm, xem việc niệm là chỗ dựa đưa đến thanh tịnh. Thứ hai, tâm thanh tịnh là tâm không vọng động, phóng tâm hay an trú đều được niệm. Phóng tâm có thể được cho là tiêu cực khi hành thiền, nhưng nếu niệm liên tục và ý thức rõ về nó, phóng tâm trở thành điều kiện tích cực. Thứ ba, kiến thanh tịnh là nhận diện đơn thuần hay biết thấy trong sạch. Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, danh và sắc rõ ràng, nhưng không còn tìm cách khuấy động nó, không tìm cách đưa các ý niệm bôi đen hay bôi đỏ nó. Thứ tư, chấm dứt hoài nghi thanh tịnh là không còn hoài nghi về nhân quả và buông bỏ mọi hoài nghi. Hoài nghi làm giảm niềm tin và hành giả không còn thanh tịnh khi thực tập. Hết hoài nghi, việc thực tập diễn ra hồn nhiên, không còn sợ hãi vì hành giả chắc chắn được che chở bởi con đường mình đã chọn. Thứ năm, tuệ kiến đạo chánh tà thanh tịnh là thấy rõ các phiền não một cách chi tiết và được niệm cho đến khi tan biến. Phiền não phát khởi biết phiền não phát khởi và khi phiền não hết, biết đã hết phiền não. Thiền là cách tập sống sâu sắc trong hiện tại, cho nên mơ ước thấy được quá khứ, tương lai và bay bổng trong hiện tại là không phải thiền, cách thực tập như vậy chưa đúng. Thứ sáu, tuệ kiến chánh đạo thực hành thanh tịnh là thực hành đúng đắn và trong sạch con đường chánh pháp. Các pháp môn là phương tiện, thiền cũng là phương tiện, kẹt vào phương tiện thì khó giải thoát nhưng biết sử dụng phương tiện làm lợi lạc cho việc tu tập thì vẫn giải thoát đúng đắn. Thứ bảy, tuệ kiến đạo tuệ thanh tịnh là sự hiểu biết sáng suốt, minh hiện tiền, vô minh bị đẩy lùi. Hành giả đi qua bốn tầng thiền và có thành tựu là người tu tập rất giỏi dù giáo lý chưa thông hiểu nhiều. Chỉ cần thực tập thôi thì hành giả đã trở nên cao thượng rồi, còn đứng bên ngoài chỉ trỏ hoa chân múa tay biết đến bao giờ nếm được mùi vị Niết Bàn.

 Phiền não tức bồ đề           

            Phiền não là những thứ phát sanh ra từ việc chấp vào cái ta, chạy theo lạc thú phi thời, không hiểu rõ bản chất của sự vật, suốt ngày lo nghĩ đến lợi ích riêng tư dù cho đó là vật chất hay tinh thần. Không có phiền não, tức là bồ đề, không chấp vào cái ta, không chạy theo lạc thú phi thời, hiểu rõ bản chất của sự vật và mọi việc thực tập đều vì lợi ích của toàn thể chúng sanh. Nói phiền não là đời và bồ đề là đạo không hề sai, nhưng chính vì có phiền não mới có bồ đề nên gọi phiền não tức bồ đề. Nhận biết phiền não đem lại mọi khổ đau, con người mới tập tành tu tập để cho chúng ngủ yên, lúc này bồ đề mới hiện tiền. Niệm phiền não sẽ có phiền não và niệm bồ đề sẽ có bồ đề. Người trong phiền não không biết mình đang phiền não, đó chính là phiền não, vì đây là thất niệm. Người cho rằng đang trong bồ đề không biết mình đang bồ đề, đó cũng là phiền não vì cũng thất niệm luôn. Phiền não biết phiền não, bồ đề biết bồ đề, ấy chính là bồ đề vậy vì chánh niệm thực sự. Thất niệm mãi sẽ phiền não mãi và tâm phiền não. Chánh niệm mãi sẽ bồ đề mãi và tâm bồ đề. Con người thường bị phiền não trói buộc hay bồ đề bị chính phiền não trói lại và nếu cởi bỏ phiền não, bồ đề tự do bay nhảy. Người sống trong phiền não quá lớn có một ý chí dù nhỏ nhoi muốn diệt trừ phiền não, bồ đề bắt đầu biểu hiện rồi. Tiếp tục nuôi dưỡng ý chí và nhất tâm với bồ đề, người này sẽ sống an nhiên tự tại giữa chốn nhân gian này, không bươn chãi trong phiền não nữa. Cho nên chúng sanh tu thành bậc giác ngộ, từ thế gian tu tập đến xuất thế gian hay muốn tu thì tu từ khi còn là chúng sanh. Ngay giữa phiền não mà tu, ngay giữa chúng sanh mà thực tập và ngay giữa bùn nhơ mới có hoa sen, phiền não tức bồ đề là vậy.

Có hai hạng người: phiền não không biết phiền não và phiền não biết phiền não. Người thứ nhất là mê và người thứ hai là tỉnh. Người phiền não nghèo nàn vô cùng, với họ vật chất của cải và dục lạc là những thứ phiền não họ cố kiếm tìm. Phiền não càng nhiều cái nghèo càng lớn, họ nghèo trí tuệ, nghèo hạnh phúc, nghèo thảnh thơi, nghèo bình an. Người không có phiền não dù trong tay không có tài sản nào nhưng giàu có vô cùng, giàu tự do, giàu niềm vui, giàu trí tuệ. Thiền Minh Sát có công năng điều tiết bản thân, diệt trừ phiền não và trở nên tự do. Tự do này không phải là tự do chính trị đòi hỏi quyền lợi, mà tự do này là buông bỏ mọi ràng buộc, mọi dính mắc và đòi hỏi duy nhất là quyền sống sâu sắc với thực tại. Chiến tranh khắp nơi xảy ra vì đấu tranh cho thứ tự do đòi hỏi, nếu từ bỏ những đòi hỏi thì còn gì chiến tranh. Tự do chân chính là không đòi hỏi gì cả, sống trong sạch với thực tại và chan hòa với chính mình. Hành thiền là quay về với tâm bồ đề, chuyển hóa tâm phiền não, ôm ấp bồ đề nhưng không bạo động với phiền não. Phiền não vẫn được yêu thương giống như bồ đề được yêu thương vậy. Phiền não rất tội nghiệp thì không nên trách nó, mà nên yêu thương để giúp phiền não đẹp đẽ như bồ đề.

7. Bố Thí Ba La Mật – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 7

Bố Thí Ba La Mật

Bốn bậc thánh

            Người tu tập theo lời dạy của đức Phật, dù theo pháp môn này hay pháp môn kia, phương pháp thiền này hay phương pháp thiền kia, gọt giũa tâm kiểu này hay kiểu kia đều có thể đạt bốn quả vị hay bốn bậc thánh: Nhập Lưu (Tu Đà Hoàn), Nhất Lai (Tư Đà Hàm), Bất Hoàn (A Na Hàm), A La Hán hoặc giỏi hơn là Phật Độc Giác, Bồ Tát và sau đó Phật.

            Người đạt quả vị Tu Đà Hoàn chắc chắn đã vào dòng, luôn trong con đường thiện và mãi mãi tiến tu, không bao giờ sợ bị lạc vào bốn đường ác đạo. Người này tối đa qua lại cõi chốn nhân gian bảy lần là có thể đạt quả vị A La Hán. Người có niềm tin trong sạch vào đức Phật, Pháp và Tăng, thực tập theo lời dạy của Tam Bảo và sống an vui với chánh pháp. Người biết chia sẻ niềm tin của mình với mọi người, giúp họ có niềm tin trong sạch như mình và hoan hỷ với niềm tin ấy.

            Người đạt quả vị Tư Đà Hàm có thể qua lại cõi chốn nhân gian một lần nữa trước khi đạt giải thoát hoàn toàn. Người cần phải tấn tu nhiều hơn và quả vị này lại là động lực thúc đẩy đạt quả vị tiếp theo rất nhanh. Người phát nguyện mạnh khiến luồn nghiệp trôi nhanh và các thử thách trong việc trả nghiệp tuôn ra không ngừng. Nếu vượt qua được, người có thể đi tiếp.

            Người đạt quả vị A Na Hàm nếu trong kiếp hiện tại chưa đạt quả vị A La Hán thì sẽ không quay lại chốn nhân gian này nữa. Thường người sẽ sanh về cõi trời Đâu Xuất tiếp tục tu tập và thành tựu giải thoát ngay tại đó.

            Người đạt quả vị A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ, vượt thoát mọi tử sanh, dù tuổi thọ trong chốn nhân gian vẫn còn nhưng thực sự đã tiếp xúc và sống trong Niết Bàn. Nhiều người đã đạt quả vị lại tiếp tục phát nguyện tu tập tiếp để đạt quả vị Độc Giác Phật, Bồ Tát hay Phật để có thể ở lại với thế gian, lăn xả trong thế gian lâu hơn cứu giúp chúng sanh. Khi còn đang là chúng sanh, người đã cứu giúp chúng sanh rồi nhưng khi đạt quả vị cao hơn, người có thể cứu giúp chúng sanh nhiều hơn nữa. Người đạt quả vị A La Hán sẽ trả nghiệp còn lại của hằng hà sa số kiếp trước cho đến hiện tại trước khi hoàn toàn tĩnh lặng, tuy nhiên với họ việc trả nghiệp này chẳng là gì cả vì họ đã trở nên an vui dù hiện thực là hạnh phúc hay khổ đau.

            Người đạt quả vị A La Hán không phải chỉ tu một kiếp mà thành, đó là thành quả của hằng hà sa số kiếp tu tập trong quá khứ không bao giờ buông lơi. Một đại kiếp gồm có 4 trung kiếp, một trung kiếp có 20 tiểu kiếp và một tiểu kiếp có 16 triệu năm. Ba a tăng kỳ kiếp gồm một tiểu kiếp, một trung kiếp và một đại kiếp. Các đức Phật, Bồ Tát, Độc Giác Phật và A La Hán không biết trải qua bao nhiêu a tăng kỳ kiếp tu tập mới có thể đạt đạo chỉ trong tích tắc. Điều này cho thấy làm người mà không tu rất uổng. Nếu chẳng may rơi vào bốn đường ác đạo thì phải khổ sở không biết bao nhiêu a tăng kỳ kiếp.

            Chúng sanh là Phật và Phật cũng là chúng sanh. Chúng sanh là người mê và Phật là người tỉnh thức. Nếu chúng sanh tu tập dù là thấp bé nhất vẫn có thể thành Phật. Chúng sanh có bốn loài bao gồm thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Đã là chúng sanh đều phải trải qua sanh tử luân hồi và tu tập cho đến khi chứng đạo giác ngộ. Đức Phật từng nói: Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành. Các người ở đây không chỉ là con người mà tất cả các loài chúng sanh khác. Cho nên phải trân quý tất cả các sanh mạng, tất cả sớm hay muộn rồi sẽ giác ngộ hết.

Thực tập khiêm cung

            Khiêm cung là một trong những đức tính cực kỳ quan trọng của người tu vì nếu người tu không khiêm cung có ngày sẽ rơi vào tà kiến và dính vào tà đạo ngay lập tức. Người khiêm cung không khen mình chê người, lúc nào cũng tỏ thái độ khiêm nhường học hỏi và lắng nghe. Im lặng lắng nghe là cách người tu thực tập để nghe được tất cả những gì dù đúng hay sai, dù hợp hay không hợp, dù chấp nhận hay không chấp nhận. Sự tự mãn sẽ giết chết người tu, không thể nào quay trở về nhà, thậm chí không về nhà được mặc dù ngôi nhà sờ sờ ra đó. Tự mãn quá độ thành ra tri giác sai lầm, cho nên lời khen là mật ngọt và cũng là lưỡi dao.

            Người khiêm cung luôn lấy sự nhã nhặn và nhường nhịn làm thước đo cho sự khiêm cung. Lời khen hay chê đều không quật ngã họ, trái lại làm điều kiện cho họ thực tập khiêm cung nhiều hơn nữa. Đức tính này làm tiền đề cho thực tập hạnh nhẫn nhục hay tâm không phân biệt. Người khen có thể quý mến nên dùng lời lẽ dịu êm khuyến khích động viên mình tinh tấn thêm. Người chê cũng vì mình mà soi sáng, giúp mình nhìn ra khuyết điểm để tiến bộ, thật ra họ chẳng chỉ trích gì cả, chẳng qua chỉ vì mình ngộ nhận thôi.

            Thực tập Thiền Minh Sát đòi hỏi phải khiêm cung, thực tập chính là hành những gì đã và đang học hỏi. Học hỏi không được làm cho việc hành sai đường và lệch lạc. Tính kiêu căng ngạo mạn làm người tu lên tiếng chỉ trích, lên án pháp môn hay cách thực tập của người khác mặc dù chưa biết rõ họ thực tập như vậy có hạnh phúc và an lạc không. Khi tự cho mình cái quyền chỉ trích người khác, hành giả không có thời gian tu tập và không thấy được điều chưa tốt của mình. Sự tiến bộ không nằm ở khoe khoang và chết cứng với thành tựu nhỏ bé. Người ngủ quên trên chiến thắng không đi xa được, cứ lẩn quẩn trong cái chiến thắng của mình, trong khi người khác, khiêm cung hơn, nhã nhặn hơn lại tiếp tục lập công, đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác. Người có trí tuệ chẳng bao giờ khoe khoang, vậy mà ai cũng biết và họ cũng đâu có cần người khác biết làm gì. Hành thiền để diệt trừ ngã mạn, đây là một thứ tà dục lôi kéo và ngăn cản người tu.

            Người khiêm cung là người có phúc, tránh được tai họa và làm được nhiều việc. Lịch sử cho thấy những người nói nhiều thường chẳng làm được gì và chỉ chứng minh cho tính ba hoa của mình. Còn người chuyên tâm tu tập, không quan tâm những việc đàm tiếu, sống gìn giữ từng đức tính, cái gì cũng thực hành dễ dàng. Ngày xưa đức Phật có bao giờ tìm cách hơn thua với các tôn giáo khác đến bày vẽ giáo lý. Lời dạy đức Phật đưa ra là để thực tập cho bản thân và xã hội, không phải để tranh cãi hay chứng minh pháp môn này hay pháp môn kia dở.

Bố thí Ba La Mật

            Bố thí Ba La Mật là băng qua con sông bố thí và đến được bờ bên kia. Nó thể hiện dòng diễn tiến của nhân duyên do các điều kiện kết hợp tạo thành cái gọi là bố thí. Bờ bên này là bờ tham lam, keo kiệt, tà kiến, sanh tử luân hồi, bờ bên kia là bờ đại bi, trí huệ, Niết Bàn giải thoát và con sông là sự bố thí. Nói cho văn vẻ như vậy nhưng chẳng có gì gọi là bờ này bờ kia hay con sông cả. Bố thí chỉ là bố thí, không có ai gọi là người cho và không có ai gọi là người nhận. Hành động chánh niệm trong bố thí làm cho việc ý thức về sự lấy và sự đưa như một tiến trình nhân duyên mà thôi. Bố thí không có phân biệt và mong cầu làm cho hạnh bố thí trong sáng và dễ thương. Nếu bố thí còn phân biệt kẻ sang người hèn hay phân biệt đối tượng được phước thì đó không còn là bố thí nữa mà trở thành mong cầu hay quá trình đầu tư. Tuy nhiên bố thí không mang tính chất vô cảm mà quán chiếu cho được các pháp bố thí không có tự tánh. Đã không có tự tánh thì xem là chuyện bình thường, người bố thí không thấy mình đi ban phước và không muốn người nhận phải mang ơn mình. Bản thân người bố thí và nhận bố thí đều là giả danh và không thực có, nói chi đồ vật đem cho. Chánh niệm bố thí làm các bên có nhiều hạnh phúc, hạnh phúc vì buông bỏ được cái giả danh và giúp người khác buông bỏ được. Hạnh phúc khi buông bỏ to lớn hơn nhiều so với hạnh phúc thu vào, giống như việc xem hạnh phúc của người là hạnh phúc của mình. Kinh Kim Cang nói bố thí thực ra chẳng bố thí nhưng lại là bố thí. Bố thí thì biết là bố thí, ý thức về bố thí khiến hành giả không bị kẹt vào bố thí. Có người bố thí để chứng minh mình là người ban phước, làm quảng cáo về nó và mong muốn được khen ngợi. Nói theo người đời bố thí như vậy cũng tốt nhưng đó là một thứ nghề nghiệp bố thí, không phải hạnh bố thí.

            Hành giả thực tập Thiền Minh Sát có thể hành trì bố thí Ba La Mật. Lấy đây như một đề mục thực tập thiền bố thí. Bố thí giúp hành giả buông bỏ những vướng mắc rất mau và rải tâm từ nuôi dưỡng từ bi cũng như hạnh nhẫn nhục. Bố thí không chỉ đơn thuần về vật chất mà còn tinh thần. Có mặt cho người thương là một sự bố thí tinh thần, nói lời ái ngữ hay lắng nghe nhìn sâu cũng là một thứ bố thí tinh thần. Hành thiền là một sự bố thí cao cả vì hành giả đang chế tác công đức lớn nên khi rải tâm từ cho chúng sanh, năng lượng rất mạnh mẽ. Năng lượng này tự nhiên quay trở lại trợ duyên hành giả thực tập tinh tiến, có nhiều hạnh phúc và thành tựu hơn. Thật khó đi tiếp nếu hành giả vướng mắc vào tài sản hay tình cảm. Đây là hai cản trở lớn khiến mình sa vào lo lắng, buồn khổ quá khứ và tương lai.

8.Thắp Lại Ánh Sáng Nội Tâm – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 8

Thắp Lại Ánh Sáng Nội Tâm

Kinh Thắp Lại Ánh Sáng Nội Tâm

Vào một ngày thuở nọ
Đức Phật đã tuyên dạy
Cho thầy Mục Kiền Liên
Về tám cách giải trừ
Các chướng ngại hôn trầm
Thắp Lại Ánh Sáng Nội Tâm.

Này thầy Mục Kiền Liên
Thầy đừng có nghĩ rằng
Đang có cơn buồn ngủ
Hiện diện ở trong thầy
Rồi chú ý đến nó.
Nếu giữ tâm như thế
Cơn buồn ngủ không còn.

Này thầy Mục Kiền Liên
Nếu đã làm như vậy
Mà hôn trầm không đi
Thì thầy nên nhớ lại
Những lời Như Lai dạy
Và suy gẫm cho kỹ.
Khi thầy đã nhớ đủ
Soi xét nghĩa giải thoát
Hôn trầm sẽ biết mất.

Này thầy Mục Kiền Liên
Nếu nhớ đủ Phật ngôn
Mà hôn trầm không hết
Thì thầy nên lập lại
Một cách chi tiết hơn

Về các pháp hữu vi
Mà Như Lai đã dạy
Hôn trầm sẽ  biến mất.Này thầy Mục Kiền Liên
Nếu hôn trầm không mất
Thầy hãy đem tâm ý
Để phổ vào xúc giác
Cọ mạnh đôi vành tai
Và xoa bóp tứ chi
Hôn trầm sẽ biến mất.

Này thầy Mục Kiền Liên
Khi đã làm như vậy
Mà hôn trầm không mất
Thầy nên đổi oai nghi
Để tâm và ý duyên
Vào từng động tác một
Đứng dậy đi tới lui
Rửa mặt bằng nước mát
Phóng tầm mắt quan sát
Cả mười phương tám hướng
Hay nhìn lên bầu trời
Quan sát mọi tinh tú
Quan sát mọi không gian
Hôn trầm sẽ biến mất.

Này thầy Mục Kiền Liên
Nhưng nếu làm như thế
Hôn trầm vẫn không mất

Thì thầy nên chăm chú
Đến các loại ánh sáng

Nếu đó là ban ngày
Lấy ánh sáng mặt trời

Nếu đó là ban đêm
Lấy ánh sáng trăng sao
Làm đề mục quan sát.
Đây là cách làm cho
Tinh thần được xán lạn
Không bị cho u ám
Hôn trầm sẽ biến mất.

Này thầy Mục Kiền Liên

Hôn trầm vẫn không mất
Thì thầy hãy quay lại
Soi xét nội tâm mình.
Nội tâm làm đề mục
Xem kỹ từng ý nghĩ
Lấy ánh sáng tinh thần
Rọi thẳng vào tâm thức
Để thấy rõ từng chập
Từng tư duy khác nhau
Đừng để tư duy nào
Hiện lên trong đầu thầy
Mà thầy không hề biết
Đồng thời thầy đứng dậy
Để mà đi kinh hành.
Nếu làm được như thế
Hôn trầm sẽ biến mất.

Này thầy Mục Kiền Liên
Nếu hôn trầm không hết

Thầy có thể nằm xuống
Biết rõ mình đang nằm
Như một con sư tử
Vai mặt ở phía dưới
Vai trái ở phía trên
Hai chân nên duỗi thẳng
Và kê lên với nhau.
Dùng ánh sáng bên ngoài
Luôn luôn giữ trong tâm
Một ý niệm mạnh mẽ
Ta biết toàn thân mình
Đang nằm như thế nào?
Nếu thân thể mệt mỏi
Ta để cho nghỉ ngơi
Nhưng ta không say đắm
Trong sự nghỉ ngơi ấy.
Và chính lúc này đây
Hôn trầm sẽ biến mất.

Này thầy Mục Kiền Liên
Thầy tinh tấn hành trì
Tám phương pháp giải trừ
Thầy sẽ đạt tiến bộ.
Thầy chớ nên lùi bước
Vì hôn trầm mê ngủ.
Hãy quan sát không gian
Sao sáng chiếu lung linh.
Hành thiền khi đêm đến
Tâm hãy như tinh tú.
Tuệ tâm sẽ bừng sáng
Giác tánh ở nơi mình.

Các phương pháp đối trị khi hành thiền  

            Khi hành thiền, hành giả có thể rơi vào các trạng thái: trạo cử, hôn trầm, vô ký, dục triền cái, sân triền cái, nghi triền cái và ảo giác vọng tưởng. Các trạng thái này lôi kéo hành giả thất niệm và đưa hành giả vào thế giới xa rời thực tại.

            Trạo cử là trạng thái phóng tâm, tâm đi, chạy, rượt theo đối tượng này đến đối tượng khác và biến thành đối tượng đó nhưng không hề có ý thức. Hành giả không biết rõ đối tượng phát khởi thế nào, diễn tiến ra sao và biến đi trong trường hợp nào. Khi phóng tâm, hành giả biết mình phóng tâm, niệm phóng tâm cho đến khi trạo cử biến mất và biết tình trạng phóng tâm đã hết. Sau đó quay trở lại việc theo dõi hơi thở và sự phồng xệp của bụng. Quan sát chặt chẽ hơi thở có thể khiến trạo cử không phát khởi nhưng với người mới thực tập hay thực tập chưa đúng, trạo cử thường phát khởi. Việc này không cần gì phải lo lắng. Tâm rong rủi tới lui thì biết nó đang rong ruổi tới lui. Ý thức này giúp hành giả biết “à mình đang rong rủi, phải trở về với thân mau”. Quay về với hơi thở nơi thân, lập tức các trạo cử biến mất. Điều quan trọng là hành giả không trốn chạy trạo cử và khó chịu vì sao việc phóng tâm cứ xuất hiện hoài. Trạo cử có mặt để giúp cho thân tâm an lạc. Niệm trạo cử cho nó biến mất đi để quay về với an lạc, nhưng an lạc không có nghĩa là vắng mặt trạo cử mà nó mang yếu tố trạo cử khi chính chúng được nhận biết. Vì vậy, không có chuyện đi vào trạo cử và đi ra trạo cử. Người tỉnh thức ở trong trạo cử biết mình đang trong trạo cử. Người mê muội không biết được điều này. Cho nên trong tình trạng trạo cử vẫn có an lạc như thường.

            Hôn trầm thụy miên là trạng thái mệt mỏi, giãi đãi, uể oải, chán chường, làm biếng, muốn cho xong, buồn ngủ, ngáp qua lại… Nguyên nhân do không có hứng thú trong việc thiền định, kể cả thiền công việc, có thể gọi là lờn thiền, hoặc làm việc quá sức thiếu chánh niệm đến giờ hành thiền chung với chúng lại buồn ngủ, hoặc các trạo cử không có ý thức cứ thu hút hành giả và mê mẫn với chúng. Sự mất kiểm soát xảy ra vì việc phóng tâm không được biết tới. Hành giả chơi vơi không biết bám víu vào đâu và làm nô lệ cho hôn trầm. Hôn trầm làm chủ và biến hành giả thành cái máy ngồi thiền chạy lẹt đẹt vì sắp hết xăng cho đến khi tắt dần. Kinh Thắp Lại Ánh Sáng Nội Tâm nêu rõ các phương pháp đối trị với hôn trầm mà đức Phật dạy cho thầy Mục Kiền Liên trước khi thầy đạt giải thoát như là: biết sự phóng tâm, suy nghĩ về giáo lý, lên tiếng đọc tụng kinh, xoa bóp tay chân cho máu huyết lưu thông, rửa mặt bằng nước mát và quan sát không gian, thay đổi tư thế thiền, đi kinh hành, hoặc nghỉ ngơi có chánh niệm. Tuy nhiên hành giả có thể tự chế tác thêm các phương pháp nhắc nhở mình vượt thắng hôn trầm như chúng thỉnh chuông trong khoảng thời gian nào đó, đọc các bài kệ hành thiền, đếm hơi thở, sử dụng các âm thanh tự động có tính chất nhắc nhở… Giống như ý thức trạo cử, ý thức về hôn trầm chứng tỏ hành giả đang tỉnh giác, còn hôn trầm làm cho ngủ luôn hay mệt mỏi và bỏ cuộc giữa chừng, như vậy đâu còn tỉnh giác nữa. Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp dạy người tỉnh giác dù giữa chốn bận rộn, biết mình đang bận rộn nhưng không kẹt vào sự bận rộn đó. Trạo cử hay hôn trầm cũng vậy, nó là biểu hiện cho sự bận rộn của thân tâm, ý thức về nó đồng nghĩa với việc làm cho nó lắng dịu, chuyển hóa, tan biến và tiếp xúc với thực tại. Biết hôn trầm đang diễn ra là biết thực tại, không biết nó đang diễn ra là không chăm sóc được thực tại.

Vô ký là trạng thái không hôn trầm, không trạo cử mà là trạng thái lơ tơ mơ, không biết rõ, không biết phải như thế nào hay ảo tưởng về tỉnh thức. Thực sự hành giả đang làm lơ với các hiện tượng xảy ra với thân và tâm, vẫn theo dõi hơi thở đấy nhưng thực sự lại không tỉnh giác vì hành giả đang trốn chạy, sử dụng hơi thở để khỏa lấp cũng như cố tình che chắn các đối tượng. Tâm rơi vào trạng thái si mê thực sự, không biết mình đang ở đâu và ngồi như một cái máy. Nhiều người lầm tưởng đây là trạng thái tĩnh lặng của tâm nên khi xả thiền tỏ ra mừng rỡ vô lý. Hành giả có thể lúng túng không biết giải quyết thế nào trong trường hợp này. Thực ra chẳng có gì phải lúng túng. Nếu niệm liên tục hành giả thấy tâm si mê là có thực và niệm cho đến khi ý thức chúng tan biến và trở về sân ga hơi thở. Có người si mê thiền, muốn chứng minh thiền giỏi và thiền lâu. Cái gì si mê đều không đi đến thành tựu và chỉ tôn vinh bản ngã của mình. Cho dù trạo cử, hôn trầm hay vô ký, hành giả đều biết và niệm chúng với ý thức tỉnh giác, hành giả sẽ nhanh chóng có định và dĩ nhiên biết được mình đang có định. Nhưng thiền để tìm kiếm định là không tưởng bởi vì lợi dụng thiền để tìm kiếm càng không thể có định và tính chất của tìm kiếm chính là không định.

Dục triền cái là sự phóng tâm về năm dục: sắc, thanh, hương, vị và xúc. Hành giả đưa tâm đến các đối tượng hoặc mong chờ các đối tượng phát khởi để diệt. Chúng có thể là hình dáng đẹp, âm thanh vui nhộn, mùi hương thơm, thèm khát thức ăn ngon và sự xúc chạm dễ chịu. Chúng cũng có thể là hình dáng xấu xí, âm thanh chói tai, mùi hương nghẹt thở, nhớ đến thức ăn không ngon và sự xúc chạm khó chịu. Dính mắc vào năm dục dù tốt hay không tốt đều đưa hành giả rơi vào cõi dục. Chỉ cần niệm và biết chúng như thế, không phân biệt đẹp hay xấu, ngon hay dở, chói tai hay dễ chịu. Thiền không có chỗ cho sự phân biệt và quán chiếu tính không đáng tham cầu hay không đáng vướng mắc của chúng. Biết nhưng không buông lơi và không bị mắc kẹt. Quán vô thường, vô ngã và Niết Bàn để thấy chúng sinh rồi sẽ diệt, chúng không phải là ta và ý thức về chúng lại giúp ta an tịnh. Dục khởi lên như một sự thử thách và hù dọa, nhìn chúng một cách đơn thuần không làm hành giả xao động hay thờ ơ. Hành giả nhìn thấy tính chất tầm thường của chúng và không cần đến chúng nữa. Chúng là những giả tạo, tâm vẽ ra và nếu buông bỏ, tâm không bị chúng kềm kẹp và trói chặt. Đến đây hành giả có hạnh phúc và an vui vì thắng được con ma dục. Những cái tên ma vương trong kinh nói hiện lên đùa giỡn với đức Phật khi Người hành thiền dưới cội bồ đề là các con ma dục kia. Thắng được chúng sẽ trở nên tự do chưa từng thấy. Tự do khi buông bỏ mọi con ma dục đó. Bạn đang khỏe mạnh và không bị bệnh, điều này không có nghĩa căn bệnh đó không có, nó vẫn chực chờ tấn công bạn. Nhưng cách bạn sống và làm việc an toàn khiến cho vi trùng không thể tấn công bạn. Bạn sống giữa bệnh nhưng không bị bệnh tật vì bạn biết rõ bệnh tật và cái gì làm cho bạn bệnh tật. Dục cũng vậy, bạn sống giữa thế giới dục nhưng bạn không nhiễm cái dục đó, bởi vì bạn biết rõ về dục và thực tập để sống chung với dục trong hòa bình, không đem dục tạo nên các yếu tố chiến tranh cho thân tâm.

Sân triền cái là tâm lý vội vã, nóng giận, nôn nóng, mong chờ, sốt ruột và ghét bỏ. Hành giả có cảm giác bất an và cảm thấy không yên. Niệm điều làm cho mình sân vì cái sân phải có đối tượng. Thực tập rải tâm từ, đọc kinh và các bài kệ giúp làm giảm cái sân, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân của cái sân. Thực tập tha thứ cho thân tâm nhẹ nhàng để có thể tiếp tục ngồi thiền. Đi thiền hành cho lắng dịu cảm giác và đi ra khỏi nơi mà mình cho là nguyên nhân gây giận. Niệm sân để biết mình đang sân cho đến khi cái sân trôi qua. Nhiều người không làm chủ được mình vì không biết rõ ràng về cái sân, cho nên nhiều khi ăn nói và hành động làm tan vỡ hết, tất cả công phu thực tập từ trước đến giờ đổ sông đổ biển. Quán niệm hậu quả của sân để tránh các hiện tượng kế tiếp có thể xảy ra. Ra vườn, vào thiền phòng, thỉnh một tiếng chuông nhắc nhở bản thân thực tập yêu thương và hạnh nhẫn nhục. Người tỉnh thức khi sân biết mình sân và không để sân ra oai và nhấn chìm. Sân là một thứ tâm lý tiêu cực, nếu biết nó là gì thì có thể là yếu tố tích cực giúp vững chãi con đường tiến tu.

Nghi triền cái là sự thực tập sai lầm hay ngộ nhận về thiền. Nếu cho rằng thiền là con đường duy nhất dẫn đến Niết Bàn và Niết Bàn là mục tiêu tối thượng của thiền thì thật sai lầm. Thiền chỉ để thiền, giúp hành giả tiếp xúc với thực tại cùng tột và hỗ trợ cho việc làm sạch tâm. Tu tâm mới là cứu cánh thật sự. Mọi nghi hoặc về thiền phải được niệm và chuyển hóa. Nếu không có niềm tin thì đừng có thiền, nếu không sẽ vô ích rồi đâm ra thù hằn và phỉ báng thiền.

Các ảo giác vọng tưởng là các cảm giác hay tâm lý do tâm vẽ nên, nhiều lúc làm hành giả sợ không muốn ngồi thiền nữa. Đâu có gì phải sợ. Chỉ cần niệm chúng, niệm cái ảo giác hay nỗi sợ, chúng sẽ từ từ biến mất. Tâm tán loạn ban đầu sẽ được đền đáp bằng tâm êm dịu sau đó. Hành giả sẽ thích thú với thiền và siêng năng tinh tấn hơn nữa. Chỉ cần tinh tấn như vậy, hành giả sẽ tự nhiên đi các con đường tiếp theo của thiền, đâu cần phải ngồi suy nghĩ không biết hiện tại đang ở tầng nào bậc nào của thiền. Làm vậy chi mất thì giờ, cứ thư giãn và hạnh phúc với thiền, như vậy là được rồi. Hơi thở vào ra phải nắm cho kỹ, bởi nó là dây neo đưa hành giả về với thực tại. Dù hạnh phúc hay đau khổ, hơi thở vẫn phải biết rõ, khi đó hành giả không bị trượt dài ở nơi đâu cả.

9. 16 Bài Tập Thiền Minh Sát – Hơi Thở Tinh Khôi

Hơi thở tinh khôi (P2) 9

16 Bài Tập Thiền Minh Sát

Bài tập số 1.               Khi ngồi thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống.

                                    Ta thở vào

                                    Ghi nhận bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Ghi nhận bụng xọp xuống.

                                    Thở vào, phồng à.

                                    Thở ra, xọp à.

                                    Khi nằm thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống.

                                    Ta thở vào

                                    Ghi nhận bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Ghi nhận bụng xọp xuống.

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à.

                                    Khi đi thiền

                                    Bước chân trái

                                    Bước chân phải …

                                    Bước chân dừng

                                    Bước chân xoay.

                                    Trái bước à

                                    Phải bước à …

                                    Đứng à

                                    Xoay à

                                    Trái, phải, … đứng, xoay.

Bài tập số 2.               Khi ngồi thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang ngồi.

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, ngồi à.

                                    Khi nằm thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang nằm.

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, nằm à.

                                    Khi đi thiền

                                    Chân trái dở

                                    Chân trái đạp

                                    Chân phải dở

                                    Chân phải đạp.

                                    Dở à, đạp à.

                                    Dở, đạp…

Bài tập số 3.               Khi ngồi thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang ngồi

                                    Đụng sau ót.

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, ngồi à, đụng à.

                                    Thở vào, phồng.

                                    Thở ra, xọp, ngồi, đụng.

                                    Khi nằm thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang nằm

                                    Đụng sau ót.

                                    Thở vào, phồng à.

                                    Thở ra, xọp à, nằm à, đụng à.

                                    Thở vào, phồng.

                                    Thở ra, xọp, nằm, đụng.

                                    Khi đi thiền

                                    Chân trái dở

                                    Chân trái bước

                                    Chân trái đạp

                                    Chân phải dở

                                    Chân phải bước

                                    Chân phải đạp.

                                    Dở à, bước à, đạp à.

                                    Dở, bước, đạp…

Bài tập số 4.               Khi ngồi thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang ngồi

                                    Đụng sau ót lần thứ nhất

                                    Đụng sau ót lần thứ hai

                                    Đụng sau ót lần thứ ba…

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, ngồi à, đụng à, đụng à, đụng à…

                                    Thở vào, phồng

                                    Thở ra, xọp, ngồi, đụng, đụng, đụng…

                                    Khi nằm thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang nằm

                                    Đụng sau ót lần thứ nhất

                                    Đụng sau ót lần thứ hai

                                    Đụng sau ót lần thứ ba…

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, nằm à, đụng à, đụng à, đụng à…

                                    Thở vào, phồng

                                    Thở ra, xọp, nằm, đụng, đụng, đụng…

                                    Khi đi thiền

                                    Chân trái nhón gót

                                    Chân trái dở

                                    Chân trái bước

                                    Chân trái đạp

                                    Chân phải nhón gót

                                    Chân phải dở

                                    Chân phải bước

                                    Chân phải đạp.

                                    Gót à, dở à, bước à, đạp à.

                                    Gót, dở, bước, đạp…

Bài tập số 5.               Khi ngồi thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang ngồi

                                    Đụng bàn tọa bên phải.

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, ngồi à, đụng bàn tọa bên phải à.

                                    Thở vào, phồng

                                    Thở ra, xọp, ngồi, đụng (bàn tọa bên phải).

                                    Thở vào, phồng

                                    Thở ra, xọp, ngồi, đụng (bàn tọa bên trái).

                                    Phồng, xọp, ngồi, đụng (đầu gối bên phải).

                                    Phồng, xọp, ngồi, đụng (đầu gối bên trái).

                                    Phồng, xọp, ngồi, đụng (mắt cá bên phải).

                                    Phồng, xọp, ngồi, đụng (mắt cá bên trái).

                                    Khi nằm thiền

                                    Ta thở vào

                                    Bụng phồng lên

                                    Ta thở ra

                                    Bụng xọp xuống

                                    Biết đang nằm

                                    Đụng sau ót.

                                    Thở vào, phồng à

                                    Thở ra, xọp à, nằm à, đụng sau ót à.

                                    Thở vào, phồng

                                    Thở ra, xọp, nằm, đụng (sau ót).

                                    Phồng, xọp, nằm, đụng (vai bên phải).

                                    Phồng, xọp, nằm, đụng (vai bên trái).

                                    Phồng, xọp, nằm, đụng (củi chỏ bên phải).

                                    Phồng, xọp, nằm, đụng (cùi chỏ bên trái).

                                    Khi đi thiền

                                    Chân trái nhón gót

                                    Chân trái dở

                                    Chân trái bước

                                    Chân trái xuống

                                    Chân trái đụng

                                    Chân phải nhón gót

                                    Chân phải dở

                                    Chân phải bước

                                    Chân phải xuống

                                    Chân phải đụng.

                                    Gót à, dở à, bước à, xuống à, đụng à

                                    Gót, dở, bước, xuống, đụng…

Bài tập số 6.

Khi ngồi thiền

Ta thở vào

Bụng phồng lên

Ta thở ra

Bụng xọp xuống

Biết đang ngồi

Đụng bàn tọa bên phải.

Thở vào, phồng à

Thở ra, xọp à, ngồi à, đụng bàn tọa bên phải à.

Thở vào, phồng

Thở ra, xọp, ngồi, đụng (bàn tọa bên phải).

Thở vào, phồng

Thở ra, xọp, ngồi, đụng (bàn tọa bên trái).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (đầu gối bên phải).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (đầu gối bên trái).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (mắt cá bên phải).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (mắt cá bên trái).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ quả thận bên phải).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ quả thận bên trái).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ lá gan bên phải).

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ đối diện lá gan bên trái)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ bên phải bao tử)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ bên trái bao tử)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ lá phổi bên phải)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ trái tim bên trái)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, lá phổi bên phải)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, trái tim bên trái)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, bên phải bao tử)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, bên trái bao tử)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, lá gan bên phải)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, đối diện bên trái lá gan)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, quả thận bên phải)

Phồng, xọp, ngồi, đụng (chỗ sau lưng, quả thận bên trái)

Phòng, xọp, ngồi, đụng (bàn tọa bên phải)

Phòng, xọp, ngồi, đụng (bàn tọa bên trái)…

Khi nằm thiền

Ta thở vào

Bụng phồng lên

Ta thở ra

Bụng xọp xuống

Biết đang nằm

Đụng sau ót.

Thở vào, phồng à

Thở ra, xọp à, nằm à, đụng sau ót à.

Thở vào, phồng

Thở ra, xọp, nằm, đụng (sau ót).

Phồng, xọp, nằm, đụng (vai bên phải).

Phồng, xọp, nằm, đụng (vai bên trái).

Phồng, xọp, nằm, đụng (cùi chỏ bên phải).

Phồng, xọp, nằm, đụng (cùi chỏ bên trái).

Phồng, xọp, nằm, đụng (bàn tọa bên phải).

Phồng, xọp, nằm, đụng (bàn tọa bên trái).

Phồng, xọp, nằm, đụng (sống chân bên phải).

Phồng, xọp, nằm, đụng (sống chân bên trái).

Phồng, xọp, nằm, đụng (gót chân bên phải).

Phồng, xọp, nằm, đụng (gót chân bên trái).

Khi đi thiền

Chân trái nhón gót

Chân trái dở

Chân trái bước

Chân trái xuống

Chân trái đụng

Chân trái ấn

Chân phải nhón gót

Chân phải dở

Chân phải bước

Chân phải xuống

Chân phải đụng

Chân phải ấn.

Gót à, dở à, bước à, xuống à, đụng à, ấn à.

Gót, dở, bước, xuống, đụng, ấn…

Bài tập số 7. Thiền chi tiết, thiền công việc

Thiền ăn cơm

Thấy vật thực, thấy à.

Muốn dùng bữa, muốn à.

Lấy thức ăn, lấy à.

Múc thức ăn, múc à.

Đưa thức ăn, đưa à.

Mở miệng ăn, mở à.

Nhai thức ăn, nhai à.

Nuốt thức ăn, nuốt à.

Dùng bữa xong, xong à…

Thấy à, muốn à, lấy à, múc à, đưa à, mở à, nhai à, nuốt à, xong à…

Thấy, muốn, lấy, múc, đưa, mở, nhai, nuốt, xong…

Đi thiền hành

Gót à, dở à, bước à, xuống à, đụng à, ấn à, ngừng à, quay à, đứng à, …

Gót, dở, bước, xuống, đụng, ấn, ngừng, quay, đứng…

Nhìn bên phải à, nhìn bên trái à, nhìn à, co tay à, co chân à, duỗi tay à, duỗi chân à, co vô à, duỗi ra à…

Nhìn bên phải, nhìn bên trái, nhìn, co tay, co chân, duỗi tay, duỗi chân, co vô, duỗi ra…

Thiền chi tiết

Thấy à, muốn cầm à, đưa tới à, cầm à, muốn đại tiện à, muốn tiểu tiện à, đại tiện à, tiểu tiện à, muốn đi à, muốn ngồi à, muốn ngủ à, muốn đứng à, muốn nói chuyện à, muốn làm thinh à, muốn rửa chén à, muốn lặt rau à, muốn lau nhà à, muốn nấu cơm à…

Thấy à, cầm à, đưa tới à, đại tiện à, tiểu tiện à, đi à, ngồi à, ngủ à, đứng à, nói chuyện à, làm thinh à, rửa chén à, lặt rau à, lau nhà à, nấu cơm à, viết sách à, uống nước à…

Thấy, cầm, đưa tới, đại tiện, tiểu tiện, đi, ngồi, đứng, nói chuyện, làm thinh, rửa chén, lặt rau, lau nhà, nấu cơm, viết sách, uống nước, tưới cây,…

Bài tập số 8.

Khi nhìn thấy một hình sắc, thấy à.

Khi nghe thấy một âm thanh, nghe à.

Khi hửi được một hương vị, hửi à.

Khi nếm được một mùi vị, nếm à.

Khi đụng chạm một đồ vật, đụng à.

Khi suy nghĩ một sự việc, nghĩ à.

Thấy à, nghe à, ngửi à, nếm à, đụng à, nghĩ à…

Thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, nghĩ…

Bài tập số 9.

Khi thấy đau trong cơ thể, đau à.

Khi thấy tê trong cơ thể, tê à.

Khi thấy êm dịu trong cơ thể, êm dịu à.

Khi thoải mái trong cơ thể, thoải mái à.

Khi khó chịu trong cơ thể, khó chịu à.

Khi bình thường trong cơ thể, bình thường à.

Khi thấy một hình ảnh, thấy à…

Đau à, tê à, êm dịu à, thoải mái à, khó chịu à, bình thường à, thấy à…

Đau, tê, êm dịu, thoải mái, khó chịu, bình thường, thấy…

Bài tập số 10.

Khi bản thân có nhu cầu, nhu cầu à.

Khi bản thân khởi tâm tham, tham à.

Khi bản thân không bằng lòng, không bằng lòng à.

Khi bản thân giận, giận à.

Khi bản thân buồn ngủ, buồn ngủ à.

Khi bản thân phóng tâm, phóng tâm à.

Khi bản thân có hoài nghi, hoài nghi à…

Nhu cầu à, tham à, không bằng lòng à, giận à, buồn ngủ à, phóng tâm à, hoài nghi à…

Nhu cầu, tham, không bằng lòng, giận, buồn ngủ, phóng tâm, hoài nghi…

Khi bản thân hết có nhu cầu, hết nhu cầu à.

Khi bản thân hết tâm tham, hết tham à.

Khi bản thân bằng lòng, bằng lòng à.

Khi bản thân hết giận, hết giận à.

Khi bản thân hết buồn ngủ, hết buồn ngủ à.

Khi bản thân hết phóng tâm, hết phóng tâm à.

Khi bản thân hết hoài nghi, hết hoài nghi à…

Hết nhu cầu à, hết tham à, bằng lòng à, hết giận à, hết buồn ngủ à, hết phóng tâm à, hết hoài nghi à…

Hết nhu cầu, hết tham, bằng lòng, hết giận, hết buồn ngủ, hết phóng tâm, hết hoài nghi…

Bài tập số 11.

Khi có hình sắc làm cho tâm thỏa mãn khoái lạc nhục dục, thỏa mãn à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi có âm thanh làm cho tâm thỏa mãn khoái lạc nhục dục, thỏa mãn à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi có mùi hương làm cho tâm thỏa mãn khoái lạc nhục dục, thỏa mãn à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi có mùi vị làm cho tâm thỏa mãn khoái lạc nhục dục, thỏa mãn à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi có sự tiếp xúc làm cho tâm thỏa mãn khoái lạc nhục dục, thỏa mãn à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi tâm đang nổi giận, nổi giận à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi tâm đang oán thù, oán thù à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi tâm đang dã dượi hôn trầm, buồn ngủ à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi tâm đang phóng đi hay lo âu, phóng tâm à, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó.

Khi tâm đang hoài nghi, thắc mắc hay bất định, hoài nghi à…

Thỏa mãn à, nổi giận à, oán thù à, buồn ngủ à, phóng tâm à, hoài nghi à…, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó…

Thỏa mãn, nổi giận, oán thù, buồn ngủ, phóng tâm, hoài nghi…, quán chiếu tính không đáng vướng mắc và không đáng tham cầu của nó…

Bài tập số 12.

Khi ngồi xuống, muốn ngồi à.

Khi đang ngồi xuống, đang ngồi xuống à.

Khi đã ngồi, ngồi à.

Khi bị ngứa, ngứa à.

Khi muốn gãi ngứa, muốn gãi à.

Khi đưa tay gãi, đụng à.

Khi đang gãi, gãi à.

Khi hết ngứa, hết ngứa à.

Khi để tay xuống, để tay xuống à…

Muốn ngồi à, đang ngồi xuống à, ngồi à, ngứa à, muốn gãi à, đụng à, gãi à, hết ngứa à, để tay xuống à…

Muốn ngồi, đang ngồi xuống, ngồi, ngứa, muốn gãi, đụng, gãi, hết ngứa, để tay xuống…

Bài tập số 13.

Thực tập suốt ngày đêm từ khi mở mắt dậy đến khi đi vào giấc ngủ.

Bài tập số 14.

Thực tập trong một giờ, hiện tượng sanh diệt ít nhất năm lần.

Thực tập trong 30 phút, hiện tượng sanh diệt ít nhất năm lần.

Thực tập trong 20 phút, 15 phút, 10 phút, 5 phút.

Thực tập trong hai tiếng như vậy.

Thực tập suốt ngày đêm như vậy.

Bài tập số 15.

Giữ tâm định vững chắc trong 5 phút, 10 phút, 15 phút, 20 phút, 30 phút, 1 giờ, 2 giờ …, 24 giờ.

Bài tập số 16.

16.1.   Phân biệt rõ ràng sự phát sanh và tiêu diệt của danh và sắc: tuệ thấy sự sanh diệt của danh sắc.

16.2.   Phát hiện rõ ràng, minh bạch sự tiêu diệt của danh sắc: tuệ diệt.

16.3.   Phát sanh dần dần tâm sợ hãi: tuệ sợ.

16.4. Phát sanh tất cả loại phiền não dính liền với danh và sắc như đau đớn, khó chịu, vô thường, khổ não và vô ngã: tuệ thấy tội của năm uẩn.

16.5.  Phát sanh sự nhàm chán danh và sắc: tuệ chán nản.

16.6.  Phát sanh liên tiếp ý muốn rút lui, bỏ đi lẫn trốn: tuệ muốn giải thoát.

16.7.  Phát sanh liên tiếp một cố gắng để tận lực tìm cách rút lui, bỏ đi, lẫn trốn: tuệ suy tư.

16.8.   Nghe danh và sắc hoàn toàn bình thản, tự tại: tuệ xả hành.

Trích “Hơi thở tinh khôi” của Thiền giả Minh Thạnh

Phật Pháp Ứng Dụng chân thành cảm tạ Thiền giả Minh Thạnh đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết để trích đăng trên Website. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

http://sachminhthanh.wordpress.com

Theo Phật Pháp Ứng Dụng