Chư vị đồng tu, xin chào mọi người!

Mời xem tiếp đoạn văn tự phía sau, đây là ví dụ thứ tám:

  [Gia Hưng đồ khang hi công, sơ vi hành bộ chủ sự, túc ngục trung, tế tuân chư tù tình trạng, đắc vô cô giả nhược can nhân, công bất tự dĩ vi công, mật sơ kì sự, dĩ bạch đường quan, hậu triều thẩm, đường quan trích kì ngữ, dĩ tấn chư tù, vô bất phục giả, thích oan ức thập dư nhân, nhất thì liễn hạ hàm tụng thượng thư chi minh].

Chúng ta xem một đoạn này, “Gia Hưng” tại tỉnh Chiết Giang. Từ những ví dụ này của Liễu Phàm tiên sinh cử ra, đại đa số các câu chuyện đều là khu vực Chiết Giang. Do đây có thể thấy, nguyên tắc đưa ra ví dụ, nhất định phải là địa phương gần nhất, người nghe đều biết, như vậy mới có sự tín nhiệm lớn. Còn về thời đại, càng gần với ta càng tốt.

 “Đồ Khang Hy”, ông làm quan trong hình bộ, “chủ sự” là tên gọi cho quan chức đương thời. Một lần vào buổi tối, ông ngủ tại nhà ngục cùng với tù phạm, ông nghe được một cách tỉ mỉ về tình trạng của những phạm nhân này. Nhờ vậy ông biết được trong số những phạm nhân này có không ít người bị oan uổng, bị người vu cáo. Từ tiên sinh hoàn toàn không lập công cho riêng mình, ông đem những tình hình này viết thành một bức thư mật, gửi lên cho vị Đường Quan. Đường Quan là cấp trên của ông, cũng chính là Hình Bộ Thượng Thư, Hình Bộ Thượng Thư chính là Bộ Trưởng hiện nay.

[Hậu triều thẩm], qua mấy ngày, thẩm vấn lại các phạm nhân này; Đường Quan căn cứ trên những án tình của Đồ Khang công, để thẩm vấn các tù phạm, tù phạm không ai không phục. Nhờ vậy đã phóng thích những người bị oan uổng, đại khái có mười mấy người. “Nhất thời”, đương thời sự việc này được truyền ra ngoài. “Liễn hạ”, liễn là chỉ cho xe mà hoàng thượng ngồi, “liễn hạ” ý nghĩa là chỉ cho thủ đô, kinh thành, là nơi hoàng đế ở.

Liễn hạ hàm tụng thượng thư chi minh”. Mọi người đối với sự công chính liêm minh của Hình Bộ Thượng Thư không ngớt lời tán thán. Đồ tiên sinh lại nghĩ đến một việc, phía dưới ông nói:

[Công phục bẩm viết: liễn cốc chi hạ, thượng đa oan dân, tứ hải chi quảng, triệu dân chi chúng, khởi vô uổng giả, nghi ngũ niên sai nhất giảm hình quan, hạch thật nhi bình phản chi].

Đây là kiến nghị lên trên của ông, kiến nghị với Thượng Thư. Ông nói: tại nơi kinh thành này, vẫn còn nhiều người oan uổng như thế, bên ngoài kinh thành, trên cả nước, dân chúng nhiều như vậy, làm sao không có người bị oan uổng chứ? Nghĩ rằng nhất định có nhiều người chịu oan uổng. “Nghi” là nên phải, cứ năm năm nên phái một vị quan giảm hình, đem những vụ án kiểm tra lại cho chính xác và công bằng. Đây là việc làm tốt.

[Thượng Thư vi tấu]. Trưởng quan của ông, Hình Bộ Thượng Thư đồng ý với ý kiến này của ông, đem ý kiến này tâu lên hoàng đế.

[Duẫn kỳ nghị]. Hoàng đế đồng ý.

[Thời công diệc sai giảm hình chi liệt].

Ông Đồ Khang Hy cũng được phái làm một trong số những quan giảm hình, cách làm này đã hạn chế được rất nhiều người phải chịu oan uổng.

[Mộng nhất thần cáo chi viết, nhữ mệnh vô tử, kim giảm hình chi nghị, thâm hợp thiên ý].

Đây là cảm ứng. Bản thân có thể tu đức tích thiện, trên hợp với ý trời, thượng đế không phải là không ái hộ nhất thiết chúng sanh, cho nên nói “thượng thiên hữu hiếu sinh chi đức- trời có đức hiếu sinh”, cách làm của ông, kiến nghị của ông vô cùng hợp với ý trời. Trong mạng ông không có con, bây giờ:

[Thượng đế tứ nhữ tam tử].

Ông vốn không có cầu con trai. Không cầu con trai, mà lại có được cảm ứng này.

[Giai y tử yêu kim, thị tịch phu nhân hữu thần, hậu sanh ứng Huân, ứng Khôn, Ứng Tuấn giai hiển quan.]

Đây là thiện nhân thiện quả. Trong kinh văn “y tử yêu kim”, đây là nói mặc quan phục màu tím, đeo thắt lưng màu vàng, đây là chỉ cho quan lớn. Chúng ta biết, lễ phục thời cổ, hòang tộc mặc là long bào màu vàng, điều này chỉ giới hạn trong hoàng tộc; văn võ bá quan, tử bào (áo bào màu tím) trong quan văn là tước vị tối cao, đại khái đều là Thượng Thư trở lên, quan phục của bộ trưởng trở lên mới là màu tím. Đây là một ví dụ.

Phía sau, ví dụ thứ 9 là Bao Bằng. Đây là người đã bỏ tiền ra để tu sửa chùa miếu, cũng được cảm ứng:

[Gia Hưng Bao Bằng, tự Tín Chi, kỳ phụ vi Trì Dương Thái thú, sinh thất tử, Bằng tối thiểu, chuế bình hồ viên thị, dữ ngô phụ vãng lai thậm hậu, bác học cao tài, lũy cử bất đệ, lưu tâm nhị thị chi học].

Chúng ta xem một đọan này, “Gia Hưng nhân Bao Bằng”, ở đây ngay cả tên tự của ông là Tín Chi cũng được viết ra. Do đây có thể biết, Bao Bằng và Liễu Phàm tiên sinh tương đối quen biết. Phụ thân của Bao Bằng đã từng làm thái thú Trì Châu. Thái thú so với tri huyện cao hơn một cấp, chức quan tương đương với tri phủ, Trì Châu tại huyện Quý Trì, tỉnh An Huy. Ông sinh được bảy người con trai, Bao Bằng là nhỏ nhất; có lẽ ông có nhiều con, cho nên người con trai út này đi ở rể ở nhà họ Viên tại Bình Hồ, cùng với Viên Liễu Phàm là người một nhà, đến ở rể nhà họ.

“Dữ ngô phụ vãng lai thậm hậu”, cha của Liễu Phàm tiên sinh cùng với Bao Bằng thường hay qua lại, đây là quan hệ bằng hữu thân thiết. Người này “bác học cao tài”, nhưng “lũy cử bất đệ”, mỗi lần đi thi đều không đậu. Vậy nên “lưu tâm nhị thị chi học”. “Nhị thị” chính là Phật gia cùng Đạo gia, ông học Phật, ông học Đạo.

[Nhất nhật đông du mão hồ, ngẫu chí nhất thôn tự trung, kiến Quan Âm tượng, lâm lí lộ lập, tức giải thác trung đắc thập kim, thụ chủ tăng, lệnh tu ốc vũ, tăng cáo dĩ công đại ngân thiểu, bất năng thuân sư, phục thủ tùng bố tứ sơ, kiểm khiếp trung y thất kiện dữ chi, nội trữ điệp, hệ tân trí, kì bộc thỉnh dĩ chi, bằng viết, đãn đắc thánh tượng vô dang, ngô tuy lỏa trình hà thương].

Chúng ta xem một đoạn này. Có một ngày, ông đi ra ngoài du ngoạn, đi chơi hồ liễu. Tình cờ gặp một tự viện trong thôn trang, nhìn thấy tượng Quan Thế Âm. Đại khái là lúc này trời đang mưa, trong chùa miếu bị mưa dột, tượng Quán Thế Âm bị mưa dột ướt. Ông xem thấy rất buồn, liền “giải thác trung”, “thác” là túi tiền, mở túi tiền ra xem thử, thấy vẫn còn 10 lạng bạc, “thập kim” chính là 10 lạng bạc. Tất cả đều lấy hết ra, giao hết cho vị xuất gia trong chùa miếu, thỉnh ông ấy tu sửa lại chánh điện, để tượng Bồ Tát không bị mưa dột uớt nữa. Vị xuất gia đó nói với ông, công trình tu sửa phòng ốc rất lớn, 10 lạng bạc này quá ít, e rằng không có cách gì hoàn thành công trình được. Ông có mang theo người hầu làm tùy tùng, họ đi du ngoạn tổng cộng có mang theo một số hành lí, mang theo một số quần áo, trong này có bốn tấm vải quý, trong rương, “khiếp-rương nhỏ” mở nó ra xem xem, vẫn còn có bảy bộ y phục. Những bộ y phục này đều là y phục mới, chưa từng mặc qua. Bên trong còn có một số thứ quý giá, “trữ điệp” là y phục được làm bằng gai, bằng đay; “điệp” là áo kép, có áo đơn, có áo kép, đều là quần áo mới mua. Người hầu của ông liền nói: “Được rồi! hà tất phải quyên góp nhiều đến vậy!” Bao Bằng liền nói: “chỉ cần Thánh tượng an ổn là được rồi”, có thể tu sửa lại mái nhà cho tốt, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát không bị mưa dột ướt nữa, “cho dù tôi có xích thân lộ thể-tức là nói ông phải ở trần” cũng không sao”. Đây là cả một tấm lòng chân thành!

[Tăng thùy lệ viết, xả ngân cập y bố, do phi nan sự, chỉ thử nhất điểm tâm, như hà dị đắc].

Người xuất gia này nghe thấy lời nói của ông, vô cùng cảm động! Ông nói: “bố thí bạc và những y phục, vải vóc, đây không phải là việc khó, nhưng tấm lòng chân thành như vậy thì khó có vô cùng.”

[Hậu công hoàn, lạp lão phụ đồng du, túc tự trung, công mộng già lam lai tạ viết, nhữ tử đương hưởng thế lộc hĩ, hậu tử Biện, tôn Sanh Phương, giai đăng đệ, tác hiển quan].

Bao Bằng đợi đến khi ngôi chùa được tu sửa tốt, liền đưa cha ông đến đó xem, tối cũng ngủ lại trong ngôi chùa này, buổi tối Bao Bằng nằm mộng thấy thần Già Lam. “Già Lam” là thần hộ pháp, thần hộ pháp đến cảm tạ ông, nói rằng: “con ông sẽ được hưởng phước lộc thế gian, có được phước báu.” Quả nhiên về sau, con của ông là Biện và cháu là Sanh Phương, đều “đăng đệ”, đăng đệ là chỉ thi đỗ học vị tiến sĩ; “tác hiển quan”. Đây là quả báo con cháu phú quý vinh hiển.

Phật tại trong đại tạng kinh, có một bộ kinh gọi là “tạo tượng công đức kinh”. Hiện tại chúng ta nhìn thấy rất nhiều nơi tạo tượng Phật lớn, Trung Quốc hiện tại rất hưng khởi, ở nước ngoài cũng có. Tôi tại Tân Thành của Malaysia, chùa Cực Lạc, năm ngoái họ đã tạo một tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đứng cao hơn 30 m. Chúng tôi muốn hỏi: tạo tượng đến cuối cùng là có công đức hay không?

Nhìn thấy sự việc này của Bao Biện liền hiểu được, tạo tượng xác thực là có công đức. Tuy nhiên, công đức cần phải có đủ điều kiện. Nếu như chỉ tạo hình tượng Phật Bồ Tát, mà không có hoằng pháp lợi sanh, người bình thường nhìn thấy dễ dàng sanh mê tín. Bên cạnh việc tạo tượng này, không chỉ không có lợi ích, ngược lại còn khiến nhiều chúng sanh tạo tội nghiệp, đây thì là sai rồi. Cho nên, hoằng pháp lợi sanh là vô cùng quan trọng! Một đạo tràng nhất định phải giảng kinh, nhất định phải tu hành, cái gọi là giải môn, hành môn, giải hành phải tương ưng, việc này quan trọng.

Trong giải môn, tông phái Trung Quốc rất nhiều, đạo tràng thuộc về tông phái nào, nhất định phải y cứ vào kinh điển của tông phái đó mà tu học; những kinh điển đó phải đọc tụng, phải nghiên cứu, phải giảng giải thấu triệt, chân thật áp dụng vào cuộc sống của chính mình, như vậy mới đầy đủ công đức. Tượng Phật, phía trước đã từng nói qua với chư vị, là ý nghĩa biểu pháp, nhà Phật dùng những phương thức này, thời thời khắc khắc đề tỉnh chúng ta. Quần chúng nhìn thấy tượng của Quán Thế Âm Bồ tát, liền biết “ta phải phát tâm từ bi, phải từ bi giống như Quán Thế Âm Bồ tát, giúp đỡ tất cả khổ nạn chúng sanh”, công đức của tạo tượng này thì lớn. Nếu như không hiểu được đạo lí này, đem tượng Phật xem như thần minh giữ chùa, đến nơi này để thắp hương, cúng bái, cầu phước, cầu con cái, cầu thăng quan phát tài, đó gọi là mê tín, đó là sai rồi. Tôi nói đến chỗ này, đồng tu cần phải nên thể hội được. Chúng ta trong xã hội hiện đại này, phải học phật như thế nào, làm sao để đạt được lợi ích chân thật của phật pháp? Trong hành môn, mỗi tông cũng không giống nhau. Giống như tông Thiên Thai, họ tu chỉ quán; trong thiền tông, họ tu tham thoại đầu, hoặc là dùng quán tâm; trong mật tông là dùng trì chú; trong tịnh độ tông của chúng ta là dùng trì danh niệm phật. Chọn giữ một môn, công phu không gián đoạn, đều có thể đạt được thanh tịnh tâm, đều có thể thành tựu giới định tuệ, đạo tràng này lợi ích công đức là chân thật. Phía sau là ví dụ thứ mười:

[Gia Thiện Chi Lập chi phụ].

Đây cũng là người huyện Gia Thiện, tỉnh Chiết Giang. Ông họ “Chi”, tên đơn là “Lập”. Phụ thân của ông:

[Vi hình phòng lại]. Đây là án kiện hình sự trong nha môn quản.

[Hữu tù vô cô hãm trọng tịch]

Ông ta biết có tù phạm, xác thực là bị oan uổng, bị xử phạt trọng hình, có thể bị xử tử hình.

[Ý ai chi]. Trong tâm ông hiểu rõ, nên vô cùng thương cảm cho anh ta.

[Dục cứu kỳ sanh].

Ông giúp đỡ anh ta, thoát khỏi tội danh đó. Phạm nhân này biết được ý tốt của cha Chi Lập, đến thay anh ta biện bạch.

[Tù ngữ kỳ thê viết, Chi công gia ý, quý vô dĩ báo, minh nhật diên chi hạ hương, nhữ dĩ thân sự chi, bỉ hoặc khẳng dụng ý, tắc ngã khả sanh dã.]

Tù phạm cùng với vợ của ông thương lượng, ông nói: “Chi công có ý muốn giúp đỡ ta, đến cứu ta thóat khỏi hình phạt. Ta rất hỗ thẹn, không có gì báo đáp.” Đây là ân cứu mạng, anh ta nói: “ngày mai nàng hãy đến thỉnh ông ấy về nhà mình, đại khái họ là người đồng hương, lại cùng cô ta thương lượng, bảo cô ta “dĩ thân phụng chi”. Anh ta nói: “Nếu như Chi công có ý muốn thu nạp, như vậy thì ta có thể sống được”.

[Kỳ thê lập nhi thính mệnh].

Người vợ này vô cùng hiền lương, quả nhiên là chiếu theo như vậy mà làm.

[Cập chí, thê tự xuất khuyến tửu, cụ cáo dĩ phu ý, Chi bất thính, tốt vi tận lực bình phản chi.]

Người vợ của phạm nhân tự mình đến mời ruợu, đem ý của chồng nói lại với Chi công, sau khi nghe xong Chi công không tiếp nhận. Tuy là không tiếp nhận, ông vẫn toàn tâm toàn lực đem vụ án của anh ta lật ngược trở lại.

[Tù xuất ngục, phu thê đăng môn khấu tạ viết, công như thử hậu đức, vãn thế sở hi.]

Đây là việc rất khó, ông ấy có thể làm đến chí công vô tư, dùng tâm chân thành để giải oan cho phạm nhân. Khi phu thê phạm nhân này đến đến khấu tạ, anh ta nói:

[Kim vô tử]

Ông hiện tại không có con, đã lớn tuổi như vậy mà vẫn chưa có con.

[Ngô hữu nhược nữ, tống vi cơ trửu thiếp, thử tắc lễ chi khả thông giả.]

Anh ta nói: Tôi có đứa con gái, nó cũng đã lớn rồi. Tôi đem tặng ngài làm vợ, hi vọng tương lai có thể sinh con cho ngài. Điều này trên mặt lễ nghĩa có thể nói là phù hợp.”

[Chi vi bị lễ nhi nạp chi], Chi tiên sinh đồng ý, và tiếp nhận.

[Sinh Lập]

Về sau sinh ra Chi Lập. Đây là cha của Chi Lập làm thiện sự như vậy.

[Nhược quán trúng khôi, quan chí Hàn Lâm Khổng Mục, Lập sinh Cao, Cao sinh Lộc, giai cống vị học bác, Lộc sinh Đại Luân, đăng đệ].

Con cháu đời sau càng ngày càng phát đạt. Chi Lập “nhược quán trúng khôi”, hai mươi tuổi thi đậu tiến sĩ, làm quan đến “Hàn Lâm khổng mục”,quan thư kí trong Hàn Lâm Viện. “Chi Lập sinh Cao”, đây là con của Chi tiên sinh, “Cao sinh Lộc”, đây là mấy đời của họ. Mấy đời này “giai cống vi học bác”, học vị này phía trước đã nói qua, đó là cống sinh; “học bác” là giáo quan trong các trường học ở châu, huyện. “Lộc sinh Đại Luân, đăng đệ”, đây là nói thi đậu tiến sĩ.

Đều có rất nhiều quả báo hiển hiện như thế, khu vực đại khái đều là những nơi không xa với Gia Hưng, Chiết Giang. Do đây có thể biết, Liễu Phàm tiên sinh đương thời đưa ra những người này, đại khái ông đều quen biết, đều hiểu rõ họ, đủ để làm chứng minh cho câu “tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh”. Văn tự phía sau là tổng kết:

[Phàm thử thập điều, sở hành bất đồng, đồng quy ư thiện nhi dĩ].

Đều là làm việc tốt. Chúng ta sau khi đọc xong liền suy nghĩ, đều là việc làm lợi ích cho người khác, toàn tâm toàn lực làm lợi ích cho người khác, lợi ích cho xã hội, lợi ích cho quốc gia.

Hôm nay tâm lượng chúng ta càng được mở rộng hơn, niệm niệm đều vì lợi ích cho toàn thế giới. Chúng ta nào có năng lực lớn lao như vậy, có thể làm lợi ích cho tòan thế giới sao? Cho dù là việc thiện nhỏ nhặt, chúng ta có một nguyện vọng, hi vọng cho người trên tòan thế giới đều làm được như vậy, đây là lợi ích cho cả thế giới. Sự, vô luận là lớn hay nhỏ, chỉ xem bạn dụng tâm như thế nào, cho nên ngạn ngữ thường nói “lượng lớn phước lớn”. Nếu như tâm lượng chúng ta lớn, một chút xíu thiện nhỏ, đều biến thành thiện đức vô lượng vô biên; nếu như tâm lượng nhỏ, làm được việc thiện có lớn hơn nữa, phước báu cũng không quá lớn. Do đây có thể biết, tâm chuyển cảnh giới là thật. Phía sau, Liễu Phàm tiên sinh tiến lên một bước trong việc giáo huấn con ông, nói với con ông cái gì là “thiện”, điều này rất quan trọng! Nhất định phải có năng lực biện biệt được. Mời xem nguyên văn:

[Nhược phục tinh nhi ngôn chi, tắc thiện hữu chân hữu giả, hữu đoan hữu khúc, hữu âm hữu dương, hữu thị hữu phi, hữu thiên hữu chánh, hữu bán hữu mãn, hữu đại hữu tiểu, hữu nan hữu dị.]

 Một hơi liền nói luôn tám điều.

[Giai đương thâm biện]. Đều phải nên phân biệt được, phải nên rõ ràng.

[Vi thiện nhi bất cùng lí, tắc tự vị hành trì, khởi tri tạo nghiệt, uổng phí khổ tâm, vô ích dã.]

Hiện tại thế gian này có rất nhiều người tu thiện, trong nhà Phật thì càng nhiều hơn. Học Phật nhiều năm, hành thiện nhiều năm, mà không có quả báo tốt, thế là hoài nghi: phật pháp không linh. Do đó chuyển qua đi học pháp môn khác, đi học tôn giáo khác, làm như vậy bạn có thể có được quả báo tốt ư? Chưa chắc. Tại sao lại phát sinh ra cái sự việc này? Chính là đối với cái “Thiện” này, đến cuối cùng là chân hay giả, là tà hay chánh, là thiên hay viên đều không biết, tự cho rằng là thiện; đã từng có những người có trí huệ đức hạnh phân tích cho chúng tôi, hóa ra đó là tội nghiệp. Chúng ta nghĩ muốn tu thiện tích đức, trước tiên hãy đem những việc này làm cho rõ ràng, bây giờ chúng ta từng việc từng việc nghiên cứu. Phía dưới là đoạn thứ nhất “chân giả”:

[Hà vị chân giả]. (Cái gì gọi là chân giả?) Điều này tất phải biện biệt được. Ông cử ra ví dụ nói:

[Tích hữu nho sinh sổ bối]. (Xưa có mấy vị nho sinh) Nho sinh là chỉ cho học trò đọc sách.

[Yết Trung Phong hòa thượng] (Yết kiến hòa thượng Trung Phong)

Trung Phong hòa thượng, là người thời Nguyên, đây là cao tăng một thời, trước thuật của ông rất nhiều. Chúng ta thành lập Tịnh Tông Học Hội, có lúc không tránh được phải tùy thuận phong tục, làm pháp hội siêu độ. Siêu độ của chúng ta cùng với tự viện thông thường làm không giống nhau, chúng ta chỉ chọn lấy phương pháp, quá nửa là sau khi phật thất viên mãn một ngày, chúng ta làm một phật sự tam thời hệ niệm. “Tam thời hệ niệm”, phật sự nghi quy này là do Trung Phong hòa thượng làm ra, là tác phẩm của ông ấy. Phật sự này âm dương lưỡng lợi. Trong những năm gần đây, chúng tôi ở trong nước, ngoài nước tuyên dương phổ biến, cho nên đồng tu tịnh tông đối với hòa thượng Trung Phong không thể xa lạ.

[Vấn viết]. Đây là có một số người đọc sách hướng đến Trung Phong hòa thượng thỉnh giáo.

[Phật thị luận thiện ác báo ứng, như ảnh tùy hình].

Phật gia cùng Đạo gia thường nói “thiện ác báo ứng như ảnh tùy hình”.

[Kim mỗ nhân thiện, nhi tử tôn bất hưng, mỗ nhân ác, nhi gia môn long thịnh, phật thuyết vô kê hĩ.]

Câu nói này của Phật không thể dựa vào được! Tại sao nhìn thấy người đó hành thiện mà con cháu anh ta không phát đạt? Người này tạo ác, gia đạo của anh ta vô cùng hưng thịnh chứ? Trong xã hội hiện nay cũng có những việc như vậy, chúng tôi không chỉ là nghe nói qua, mà là chính mắt chúng tôi nhìn thấy. Trung Phong hòa thượng giải thích với họ như thế nào?

[Trung Phong vân. Phàm tình vị địch, chánh nhãn vị khai, nhận thiện vi ác, chỉ ác vi thiện, vãng vãng hữu chi, bất hám kỉ chi thị phi điên đảo, nhi phản oán thiên chi báo ứng hữu sai hồ.]

(Người phàm tâm tính chưa được tẩy gội thanh tịnh, pháp nhãn chưa mở, cho việc thiện là ác, cho ác là thiện là chuyện thường. Quý vị điên đảo thị phi không thấy xấu hỗ mà còn chỉ trich báo ứng thiện ác của Phật là sai lầm).

Câu nói này của Trung Phong thiền sư vô cùng sâu sắc, người thông thường không hiểu được. Chúng ta là phàm phu, phàm phu thì tình nhiễm không thể tẩy rửa cho thanh tịnh được, pháp nhãn, huệ nhãn của chúng ta không khai, cho nên thường hay đem sự việc nhìn sai đi, nhìn điên đảo cả, đem thiện nhìn thành ác, đem ác nhìn ra thiện. Có sự việc này hay không? Thật sự là có! Cho nên, bạn không nhận ra chính bản thân mình thị phi điên đảo, mà ngược lại oán trách trời đất báo ứng không công bằng, bạn là tội càng chồng thêm tội.

[Chúng viết]

Đây là nhóm học trò nói:

[Thiện ác hà trí tương phản]. Chúng ta sao có thể đem thiện ác đảo lộn được chứ?

[Trung Phong lệnh thí ngôn kì trọng].

Lão hòa thượng có trí tuệ, lão hòa thượng là có phương pháp để giáo học, không cần giải thích, bảo bọn họ nói thử xem: “Các bạn nói xem, thế nào là thiện, thế nào là ác? nói thử ta nghe xem.”

[Nhất nhân vị ẩu nhân lị nhân thị ác, kính nhân lễ nhân thị thiện].

Có người học sinh lại nói: “mắng người, đánh người, đây là ác; cung kính người, lễ kính người, đây là thiện”.

[Trung Phong vân, vị tất nhiên dã]. Ông nói là chưa chắc.

[Nhất nhân vị]. Lại có một học sinh nói:

[Tham tài vọng thủ thị ác, liêm khiết hữu thủ thị thiện, Trung Phong vân, vị tất nhiên dã, chúng nhân lịch ngôn kỳ huống.]

(Tham lam, ăn cắp là ác, liêm khiết giữ luật là thiện. Hòa thượng đáp rằng chưa chắc. Mọi người đều lần lượt đưa ra thí dụ)

Rất nhiều học sinh mỗi người đều nói ra cách nhìn của mình về thiện ác, Trung Phong thiền sư hoàn toàn không đồng ý. Có thể thấy những người trẻ tuổi này tri thức thô thiển, nhìn vấn đề chỉ nhìn trên bề mặt, không nhìn sâu sắc thấu đáo, luôn đem vấn đề nhìn sai đi.

[Trung Phong giai vị bất nhiên, nhân thỉnh vấn]. Trung Phong thiền sư đem cách nhìn của họ phủ định đi. Những học sinh này hướng đến Trung Phong thiền sư thỉnh giáo: cuối cùng thì cái gì là thiện, cái gì là ác.

[Trung Phong cáo chi viết, hữu ích ư nhân thị thiện, hữu ích ư kỉ ư thị ác].

Đây là ông đem tiêu chuẩn của thiện ác nói rõ ra. Bạn khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác là lợi ích cho người khác, lợi ích cho xã hội, đó là thiện; nếu như là tự tư tự lợi thì đó là ác.

[Hữu ích ư nhân, tắc ẩu nhân lị nhân giai thiện dã.]    

Bạn vì lợi ích cho anh ta, bạn đánh anh ta, mắng anh ta, đó là thiện! Cha mẹ giáo huấn con cái, có khi thì đánh, có khi lại mắng, tại sao? Vì muốn tốt cho con cái, đó không phải là ác, đó là thiện. Học sinh không giữ quy củ, thầy giáo xử phạt cậu ta, trong quá khứ có hình phạt đối với thân thể, ngày nay trong trường học hình như không có. Thời tôi còn đi học đã chịu qua hình phạt thân thể, thầy giáo đánh vào lòng bàn tay, phạt quỳ, chúng tôi đều đã chịu qua. Đây không phải là ác, đây là thiện.

[Hữu ích ư kỉ, tắc kính nhân lễ nhân giai ác dã.]

Nếu như là vì tự tư tự lợi, cung kính người, lễ kính người, đó là giả vờ, đó là ác, đó không phải thiện. Đây là Trung Phong thiền sư dạy cho nhóm bạn trẻ tuổi này.

[Thị cố nhân chi hành thiện, lợi nhân giả công, công tắc vi chân, lợi kỉ giả tư, tư tắc vi giả].

Chân thiện, giả thiện nhất định phải rõ ràng. Quyết định không có tâm riêng tư, quyết định không có tự lợi, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều vì lợi ích xã hội, lợi ích quần chúng, hôm nay nói đến lợi ích của thế giới. Lợi người, đại công vô tư, công là chân, cái thiện này thì là thật. Lợi mình, đó chính là tư tâm của bạn; có tâm riêng tư thì cái thiện này là giả, không phải là thật.

[Hựu lương tâm giả chân, tập tích giả giả].

Ở đây tiến thêm một bước. Nếu như tâm mà bạn phát là từ trên chân tâm mà phát, vì lợi ích cho đại chúng, đây là chân thiện. Nếu như nhìn thấy người khác làm, bản thân cũng muốn bắt chước, “tập tích” là mô phỏng (làm theo), đây là giả thiện, không phải là từ trong chân tâm của bạn phát xuất ra. Làm thiện quan trọng nhất là phải từ trong chân tâm. Phía trước chúng ta đọc qua 10 ví dụ, mười người này tu thiện, về sau đều có quả báo tốt, nguyên nhân là gì? Chân tâm; chỉ cần biết giúp đỡ cho người khác, tuyệt không mong cầu một điểm tự tư tự lợi. Chân giả phải từ chỗ này mà phân biệt.

[Hựu vô vi nhi giả chân, hữu vi nhi vi giả giả, giai đương tự khảo].

Bản thân chúng ta phải tỉ mỉ khảo sát. “Vô vi nhi vi”, chính là những việc thiện mà chúng ta làm, không để lộ ra dấu tích, tức không để cho người khác biết, vậy thiện sự mà bạn làm là chân thật, đây gọi là âm đức. Nếu như là “hữu vi nhi vi” , bạn là có trù tính, là có mục đích, bạn mới làm việc thiện này, việc thiện này là giả. Những điểm này chúng ta đều phải tự mình nhận chân phản tỉnh quán sát cho kỹ.

Thứ hai là “Đoan khúc”:

[Hà vị đoan khúc]. Liễu Phàm tiên sinh nói:

[Kim nhân kiến cẩn nguyện chi sĩ, loại xưng vi thiện nhi thủ chi, thánh nhân tắc ninh thủ cuồng quyến, chí ư cẩn nguyện chi sĩ, tuy nhất lương giai hảo, nhi tất dĩ vi đức chi tặc, thị thế nhân chi thiện ác, phân minh dữ thánh nhân tương phản, thôi thử nhất đoan, chủng chủng thủ xả, vô hữu bất mậu].

Đoạn này nói: cái gì gọi là đoan, cái gì gọi là chánh. Người hiện tại, nhìn thấy người thận trọng, không khuất phục kẻ mạnh, đều xưng rằng: “đây là người thiện”, xã hội đều rất tôn trọng anh ta. Thế nhưng, thánh hiền thời xưa, họ tán dương những người có chí khí, có tinh thần tiến thủ, thay cho những người an phận giữ mình không chịu vươn lên; vì những người này, họ mới có can đảm, họ mới chân chánh có thể vì đại chúng phục vụ, vì quốc gia mà đảm đương trách nhiệm lớn lao. Nếu như người trong quê hương của bạn, tuy rằng rất thận trọng, tuy rằng là người tốt, nhưng cá tính lại vô cùng yếu đuối, mặc cho số phận, không có chí khí, không có đảm lược, người như vậy, Khổng phu tử nói là giả nhân nghĩa, là kẻ thù của đạo đức. Kẻ thù của đạo đức, anh ta không thể là mô phạm tốt, nếu người người đều học theo anh ta thì xã hội liền hư hoại mất. Cho nên, người thế gian đối với tiêu chuẩn của người thiện, người ác cùng với thánh nhân hòan tòan tương phản.

[Thôi thử nhất đoan, chủng chủng thủ xả, vô hữu bất mậu]. “Mậu” là sai lầm. Thánh nhân thủ xả như thế nào? Thánh nhân là người minh bạch; là người có học vấn, có đức hạnh, có kinh nghiệm, họ có thể phân biệt được người thiện, kẻ ác. Mấy câu phía dưới nói được rất hay:

[Thiên địa quỷ thần chi phước thiện họa dâm, giai hưng thánh nhân đồng thị phi, nhi bất hưng thế tục đồng thủ xả].

Đây là nói tới thiên địa quỷ thần, kiến giải của họ tương đồng với thánh nhân, cùng với cách nhìn của người thế tục xác thực là không giống nhau. “Phước thiện họa dâm”của Quỷ thần là như thế nào? Những ví dụ đã cử ra phía trước, chúng ta đều có thể quan sát đến được. Chúng ta phải hỏi: quỷ thần có quyền giáng phước giáng họa cho con người hay không? Không có. Điều này phải biết, quỷ thần vốn không có quyền. Cũng giống như người thế gian, có người làm việc thiện, có người làm việc ác. Nhân viên chấp pháp, những hình cảnh đến xử phạt bạn, anh ta là có quyền phải không? Không phải, là bởi vì bạn phạm tội, anh ta lấy còng tay, còng chân lại còng bạn. Bạn không phạm tội, anh ta không dám xâm phạm bạn. Thiên địa quỷ thần cũng giống như hình cảnh không khác, là bởi vì chính bản thân bạn tạo thiện nghiệp cùng bất thiện nghiệp, cho nên họ đến khen thưởng bạn, họ đến trừng phạt bạn; những phần thưởng, hình phạt này đều là tự làm tự chịu, đạo lí này bạn nhất định phải hiểu.

Hôm nay chúng ta chỉ giảng đến đây thôi.

Website Phật Pháp Ứng Dụng chân thành cảm tạ dịch giả Diệu Âm đã gửi tặng các bài dịch từ pháp âm “Liễu Phàm Tứ Huấn” do Hoà Thượng Tịnh Không giảng tại Trung Quốc. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

Bài liên quan