Chư vị đồng tu, xin chào mọi người!

 Mời xem “Liễu Phàm tứ huấn” thiên thứ hai: “Phương pháp sửa lỗi”, chúng ta từ đoạn thứ hai xem:

[Đãn cải quá giả, đệ nhất, yếu phát sỉ tâm, tư cổ chi thánh hiền, dữ ngã đồng vi trượng phu, bỉ hà dĩ bách thế khả sư, ngã hà dĩ nhất thân ngõa liệt, đam nhiễm trần tình, tư hành bất nghĩa, vị nhân bất tri, ngạo nhiên vô quý, tuơng nhật luân ư cầm thú nhi bất tự tri hĩ, thế chi khả tu khả sỉ giả, mạc đại hồ thử, Mạnh tử viết, sỉ chi ư nhân đại hĩ, dĩ kì nhi đắc thánh hiền, thất chi tắc cầm thú nhĩ, thử cải quá chi yếu ki dã.]

(TẠM DỊCH: Người muốn sửa lỗi, đầu tiên là phải biết xấu hổ. Nghĩ đến các bậc thánh hiền ngày xưa cũng là con người như chúng ta, tại sao họ có thể nêu gương ngàn đời mà chúng ta lại thân bại danh liệt. Vì ta đắm mê trần tình, lén làm những việc bất nghĩa, tưởng không ai biết nên ưởn ngực không biết xấu hổ, có ngày sống như cầm thú mà không hay, không gì đáng xấu hổ bằng. Mạnh tử nói biết xấu hổ đối với con người rất quan trọng. Người biết xấu hổ sẽ ngang hàng với thánh hiền, còn không biết xấu hổ thì khác gì cầm thú. Đó là chỗ then chốt của việc sửa lỗi.)

Nói về sửa lỗi, Liễu Phàm tiên sinh đưa ra ba điểm: Điểm thứ nhất là tâm hổ thẹn. Cái gọi là “tri sỉ cận hồ dũng-biết sỉ nhục là gần với dũng vậy”. “Dũng” lã dũng mãnh ở việc sửa sai tự làm mới, cho nên ở đây câu thứ nhất ông nói “đản cải quá giả-nhưng người biết sửa sai”. Phương pháp sửa sai, đệ nhất là “yếu phát tu sỉ tâm-cần phải có tâm biết hổ thẹn”. Người có thể tri sỉ-tức người biết hổ thẹn, anh ta quyết định không khởi vọng tưởng, không động niệm ác. Chúng ta phải thường nghĩ đến Đại Thánh Đại Hiền thời xưa, họ cũng là người như chúng ta; Phật tại trong kinh điển thường nói: chúng ta cùng với chư Phật Như Lai nguyên lai vốn dĩ là người phàm phu. Tại sao họ có thể trở thành Phật, thành Bồ Tát, thành thánh, thành hiền; còn ta tại sao lại không thể? Lấy tiêu chuẩn này mà quan sát, chúng ta mới có thể khởi phát tâm hổ thẹn. Họ đích thực là thầy của trăm đời. Khổng lão phu tử truyền đến hiện tại đã hơn 2500 năm, Thích Ca Mâu Ni Phật truyền đến ngày nay gần 3000 năm, tại sao họ có thể ở tại thế gian này, không phân quốc gia, không phân chủng tộc, thậm chí là không phân biệt tôn giáo, mà lưu truyền đến ngày nay. Thế gian vẫn còn rất nhiều người tôn kính họ, tiếp nhận sự giáo huấn của họ, hướng đến họ học tập? Đây gọi là đại trượng phu. Họ có thể làm được, tại sao ta lại làm không được? Người người thường có cái tâm niệm này, nhất định có thể phát phẩn tự cường-tự mình nỗ lực cố gắng.

Tiếp theo là nói đến bệnh căn của chúng ta: “Ngã hà dĩ nhất thân ngõa liệt- Sao ta lại để thân tàn hủ bại”, ngõa liệt-hình dung giống như một món đồ gốm bị phá nát, không còn giá trị! Bệnh của chúng ta là “đam nhiễm trần tình- tức là đắm say trần tình”, đam là vui sướng thái quá, nhiễm là ô nhiễm; người thế gian đắm chìm trong thất tình ngũ dục, mà không biết thất tình, ngũ dục đó đều không thật. Trong đó có khoái lạc, cũng không sai, Thánh nhân cũng không phản đối, nhưng cái giá mà bạn phải trả lại quá lớn; câu này có nghĩa là “lợi bất cập hại”. Cái giá quá lớn này, nếu như không phải Phật đã tỉ mỉ nói rõ ra trong kinh thì chúng ta làm sao có thể tưởng tượng đến được. Cái giá mà chúng ta phải trả này chính là lục đạo sanh tử luân hồi. Nếu như chân chánh hiểu rõ, minh bạch thì chúng ta mới biết sợ. Thế-xuất thế gian không có cái gì đáng sợ hơn việc này. Do đây có thể biết, Thánh hiền ở tại thế gian cũng không thể li khai khỏi thất tình ngũ dục, tuy nhiên họ đối với chúng rất đạm bạc, hơn nữa hành vi của họ rất hợp lễ hợp pháp. “Lễ” – nhất định phải có tiết độ, câu này ý nói không thể thái quá, cũng không thể bất cập; bất cập là không hợp lễ, thái quá cũng là không hợp lễ. Cho nên khi nói đến “lễ” luôn kèm theo “tiết”, tiết là tiết độ. Trong việc giáo dục của Cổ Thánh Tiên Hiền, gia đình kết hôn sinh con, vợ chồng tương kính như tân-kính trọng nhau như khách, họ đều có tiết độ, tuyệt đối không phải là “tùng tình đam nhiễm-thuận theo trần nhiễm thế gian”, quyết không phải như vậy. Điều này cùng với xã hội hiện tại không giống nhau! Cho nên gia đình của họ hòa hài, gia đình có trật tự. Câu này đặt ở phía trước, dụng ý vô cùng sâu sắc, là đem bệnh căn của chúng ta thảy đều nói hết ra. Phàm phu sở dĩ không thể thành Thánh, bệnh căn là tại chỗ này!

Bây giờ chúng ta nói đến chỗ thô thiển nhất của nó. Con người tuy rất thích hưởng thụ thất tình ngũ dục, nhưng con người càng yêu quý sinh mạng của mình hơn. Đến lúc phải xả bỏ, đại khái họ có thể xả bỏ thất tình ngũ dục, nhưng không muốn từ bỏ thân mạng của mình, hơn họ luôn hi vọng bản thân được trường thọ, đây là suy nghĩ thường tình của con người. Nếu bạn muốn sống lâu, trên các phương diện của cuộc sống, bạn phải biết tiết chế. Lời người xưa nói không sai :“bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”.

Bạn muốn tránh tai họa thì không thể không cẩn trọng lời nói, không thể không cẩn trọng thái độ của mình. Nếu muốn thân thể khỏe mạnh, việc ăn uống của bạn không thể không cẩn thận. Ngày nay rất nhiều người mong cầu khỏe mạnh trường thọ, nhưng họ không hiểu được đạo lí này, cho nên từ độ tuổi trung niên trở lên, thân thể liền suy nhược. Là do không hiểu được đạo dưỡng sinh vậy!

Tôi tiếp xúc với Phật pháp, lúc đó tôi 26 tuổi. Tiếp xúc được nữa năm, tôi hiểu rõ lợi ích của việc ăn chay, đối với sức khỏe thân thể có lợi ích, nên tôi liền quyết tâm ăn chay. Tôi học Phật nữa năm thì ăn trường chay, từ năm 26 tuổi cho đến bây giờ, ăn chay đã tròn 50 năm. Lúc đó, một số cấp trên, đồng học và bạn bè đều nói tôi bị mê hoặc, khuyên tôi không nên làm như vậy, họ nói rằng: “Tuổi còn nhỏ, học Phật thì còn được, chứ trong nhà Phật có rất nhiều việc không nên làm!” Tôi đáp lại rằng: “Tôi biết Phật pháp quá trễ rồi. Thời xưa có rất nhiều người chỉ mới mười mấy tuổi đã học Phật, đã tiếp xúc với Phật pháp, tôi đến 26 tuổi mới biết đến Phật pháp, đã là quá trễ rồi!” Thế nhưng đến sau này, lúc tôi năm, sáu mươi tuổi, bạn bè trước đây nhìn thấy tôi, thái độ lúc trước đã hoàn tòan thay đổi, khi thấy tôi họ đều nói: “Con đường của ông đi rất đúng!” Hiện tại lại trải qua hai mươi mấy năm nữa, khi họ nhìn thấy tôi, ai ai cũng đều ngưỡng mộ! Họ là ngưỡng mộ cái gì? Ngưỡng mộ tướng mạo tôi đã thay đổi, thể chất cũng thay đổi. Tôi năm nay đã 75 tuổi, không sinh bệnh, thân thể rất khỏe mạnh. Năm ngoái, Chính phủ Úc mời tôi ở lại vĩnh viễn, chiếu theo quy định tôi phải đi khám sức khỏe. Sau khi khám xong, bác sĩ nói với tôi: “Thưa pháp sư, Ngài đến kiểm tra là việc dư thừa rồi”. Tôi nói: Cho dù là việc dư thừa thì cũng phải làm.” Đây là ý gì? Đây là lợi ích thứ nhất trong việc tu học Phật pháp, mọi người đều có thể nhìn thấy được. Thể lực của tôi ngày nay, đại khái có thể bì kịp với người ba, bốn mươi tuổi. Vị bác sĩ đó hỏi tôi: Ngài rốt cuộc là ăn thức ăn gì, dùng thực phẩm dinh dưỡng nào? Tôi nói: Tất cả thực phẩm dinh dưỡng, tôi một chút cũng không dùng đến. Tại sao? Những thực phẩm đó đều có tác dụng phụ. Cuộc sống càng đơn giản càng tốt, chỉ cần rau xanh, đậu phụ là được rồi. Tôi đối với việc uống nước, những thức uống tôi không dùng, vì bên trong những thức uống đó, thực tại mà nói, hiện nay người ta nói đến vệ sinh, những thức uống đó hòan toàn không vệ sinh, trong đó có rất nhiều chất hóa học. Ngay đến cả trà, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, mọi người mời tôi uống trà, vì tôn kính người mời nên tôi mới uống. Bản thân tôi không uống trà, tôi chỉ uống nước. Ăn cũng rất ít, quyết không ăn những thức ăn nhẹ-tức những thức ăn sẵn.

Mỗi ngày, thời gian đọc sách của tôi rất nhiều, buổi tối đại khái là tôi đọc đến 12 giờ mới đi ngủ, ngày hôm sau, xấp xỉ hơn 6 giờ sáng thì thức dậy. Nếu không có việc gì thì sau khi ăn cơm trưa xong nghỉ ngơi một chút, nếu có việc thì có thể không cần phải ngủ, tinh thần vẫn rất sung mãn, công việc bình thường, bạn có thể nói là ăn chay không có dinh dưỡng sao? Bản thân tôi có thể làm một chứng minh cho bạn. Hơn nữa rất nhiều người xuất gia thân thể rất tốt, thân thể mập mạp, họ không ăn thịt!

Nhân tố chính yếu của sức khỏe là tâm thanh tịnh, không có vọng tưởng, không có tạp niệm. Thứ đến là chế độ ăn uống hằng ngày phải đúng như pháp. Có quy củ, có tiết chế, quyết định là không nhiễm ngũ dục lục trần, tâm bạn mới có thể thanh tịnh, nhất định phải buông xuống danh văn lợi dưỡng, buông xả tham sân si mạn. Tâm địa thanh tịnh, đây là nhân tố chính yếu của sức khỏe; nhất định phải tùy duyên mà không phan duyên, đây là ngoại duyên của sức khỏe. Có nhân tố chính, có ngoại duyên, quả báo của sức khỏe tự nhiên sẽ hiện tiền.

“Đam nhiễm trần tình”, “trần” là chỉ cho ngũ dục lục trần; ngũ dục là tài sắc danh thực thùy, lục trần là sắc thanh hương vị xúc pháp, những thứ này cần phải có tiết chế. Nếu như không có tiết chế, tuỳ theo tình mà phóng dật, hậu quả thật không thể lường được, như vậy chính là bạn đã phá hoại thân thể của mình rồi.

[Tư hành bất nghĩa], bất nghĩa là chỉ những việc không nên làm. Vô luận là đối người, đối sự hay đối vật, nhất định phải nghĩ đến: Chúng ta có nên làm như vậy hay không? Đối với ngôn ngữ thì cần phải nghĩ đến: lời nói này mình có nên nói ra hay không? Người chân thật có tu dưỡng, anh ta hiểu được bản thân phải rất cẩn trọng. Tư hành bất nghĩa-lén làm điều bất nghĩa, “vị nhân bất tri”, cho rằng người khác không biết, đây là sai rồi. Cổ nhân nói: “nhược dục nhân bất tri, trừ phi kỉ mạc vi – nếu muốn người không biết, trừ phi mình đừng làm”. Bí mật giấu giếm đến cuối cùng cũng có một ngày sẽ bại lộ, nào có việc gì mà người không biết chứ?

“Ngạo nhiên vô quý”, “ngạo” là chỉ ngạo mạn, “vô quý” là không có tâm “tàm quý”; “tàm” chính là lương tâm cắn rứt, “quý” là chế tài của dư luận. Người ngoài đến phê bình bạn, bạn không quan tâm, “vô quý” là không quan tâm. Ngày nay chúng ta thường nói là “da mặt dày”, hành vi như vậy “tương nhật luân ư cầm thú nhi bất tự tri”- ngày càng đọa lạc vào đường cầm thú mà không tự biết. Câu nói này chúng ta phải tỉ mỉ mà thể hội. “Cầm thú” là ba đường ác, ý nghĩa của nó là: bạn nhất định sẽ đọa vào ba đường ác, mà bạn vẫn không tự mình nhận biết.

Phật tại trong kinh thường nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe.” Chúng ta một khi mất đi thân người, đời sau có thể có lại thân người chỉ là một con số rất ít, đại bộ phận là đời sau không thể có được thân người. Điều kiện để có được thân người là gì? Không chỉ trong Phật pháp, mà Cổ Thánh Tiên Hiền Trung Quốc đều đã nói với chúng ta; cũng giống như ngũ giới thập thiện trong nhà Phật, trong nhà Nho là luân thường đạo lí, ngũ luân thập nghĩa, bạn đều có thể làm được không có khiếm khuyết, thì đời sau bạn nhất định được thân người. Chúng ta đời nay có thể được thân người, cho thấy ngũ giới thập thiện tu được trong đời quá khứ chúng ta tu được là không tệ, đời này mới có được quả báo như vậy. Nhưng trong đời này, chúng ta có thể làm được như vậy hay không? Điều này thì phải hỏi bản thân ta.

[Thế chi khả tu khả sỉ giả, mạc đại hồ thử], ý nghĩa câu này là nói Thánh Hiền vốn dĩ cũng giồng như chúng ta. Ngày nay, họ làm Thánh, làm Hiền, làm Bồ Tát, làm Phật, hay đã sinh Thiên rồi; còn chúng ta ngày nay tư tưởng, kiến giải, ngôn hành đều bất thiện, tiền đồ của ta trong tương lai là ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, quả báo thật sai biệt thật quá lớn! Chúng ta xem thấy họ cảm thấy thật đáng hổ thẹn!

Có người hỏi tôi rằng: “ Thưa Pháp sư, tại sao ngài học Phật?” Đáp án của tôi rất đơn giản: “Học Phật chính là học Cái thân này hiện tại vẫn còn, vẫn chưa li khai nó, chúng ta cần phải dùng cái thân thể này làm công cụ để thay cho xã hội, cho chúng sanh làm nhiều việc tốt; hiện tại mọi người thường nói là “vì nhân dân phục vụ, vì quốc gia phục vụ, vì chúng sanh phục vụ”, cái thân thể này là một công cụ.Thánh Nhân, học làm một người minh bạch.” Duy chỉ có minh bạch, mới có thể đem cảnh giới của bản thân đề thăng lên, hiện tiền sống trong cảnh giới của Phật, Bồ Tát; tương lai nhập vào cảnh giới của chư Phật, Bồ Tát. Chúng ta học Phật, mục tiêu chân chánh là ở tại chỗ này.

 Trong “Liễu Phàm tứ huấn” nói đến chính là cải ác tu thiện, tích công lũy đức, vì đại chúng làm một mô phạm. Làm mô phạm không thể không có công cụ, thân thể chính là một công cụ tốt, cùng với chúng ta một tơ hào cũng không quan hệ, chúng ta cần phải hiểu rõ cái đạo lí này.

[Mạnh tử viết, sỉ chi ư nhân đại hĩ, dĩ kì nhi đắc thánh hiền, thất chi tắc cầm thú nhĩ, thử cải quá chi yếu ki dã.]

Nho gia thường nói: “tri sỉ cận hồ dũng”, bạn cần phải làm được như vậy, bạn mới có thể thành thánh thành hiền; nếu như bạn thất trách, không biết tri sỉ, bạn liền đoạ lạc vào đường cầm thú, ngạ quỷ và địa ngục. “Tri sỉ” là bí quyết quan trọng để cải lỗi, chúng ta không thể không chú ý.

Có một năm tôi ở tại Houston-Mỹ quốc giảng kinh, gặp được một vị đồng tu, ông làm giáo thọ trong một trường học bên cạnh. Khi chúng tôi ăn cơm, ông đã hỏi tôi một vấn đề rằng: “Xã hội ngày nay động loạn không an, phải từ nơi đâu để cứu giúp xã hội?” Điều mà ông nghĩ đến chính là đề cập đến hai chữ “tri sỉ” này. Ông nói: “Người hiện tại sở dĩ dám tạo tác ác nghiệp, mang đến những bất an động loạn cho xã hội, truy cứu nhân tố căn bản của nó thì chính là không biết tri sỉ. Cho nên ngày nay nhất định phải đề xướng tri sỉ.” Sau khi tôi nghe xong, tôi đồng ý với cách nói của ông. Ông lúc đó liền nghĩ ra, ông nói: “Chúng ta thành lập một học xã biết tri sỉ”. Tôi nói: “Rất tốt, ngài hãy lên chương trình, tôi sẽ hưởng ứng”.

 Sau đó, tôi rời khỏi nước Mỹ, cái sự việc này đại khái cũng không quan tâm nữa. Cho nên, một việc tốt như vậy, nhất định phải có người nhiệt tâm thúc đẩy. Trong xã hội có thể tìm kiếm những người vẫn quan tâm đến truyền thống đạo đức luân lý, những người khi nghe nói đến điều này vẫn còn sanh tâm hoan hỷ, tập hợp họ trở lại, thành lập một xã đoàn, bản thân chúng ta nhận chân nỗ lực mà học tập, ra sức thúc đẩy, hoằng dương, đây là một việc làm rất tốt. Cư sĩ này họ Thái, là cư sĩ Thái.

Chúng ta xem tiếp điều thứ hai: [Đệ nhị: yếu phát úy tâm]. (Điều thứ hai là cần phải phát lòng úy kính, e dè sợ sệt)

Tri úy là biết lo sợ, biết lo sợ mới đủ để phát khởi tâm thành kính.

[Thiên địa tại thượng, quỷ thần nan khi, ngô tuy quá tại ẩn vi, nhi thiên địa quỷ thần, thật giám lâm chi, trọng tắc hàng chi bách ương, khinh tắc tổn kì hiện phúc, ngô hà khả dĩ bất cụ]. (Trời đất ở trên, quỷ thần khó xem thường, lỗi của chúng ta tuy đem giấu kín, người đời có lẽ không biết nhưng thiên địa quỷ thần đều thấu rõ, tội nặng ắt sẽ giáng trăm điều tai ương, lỗi nhẹ ắt sẽ giảm phúc hiện tiền. Chúng ta há chẳng đáng nên sợ hay sao!)

“Úy” là sợ, là e ngại, ở đây còn hàm ý nghĩa cung kính, “úy” thường đi kèm với “kính”, gọi là “kính úy-kính sợ”. Trong quá khứ, con em đối với cha mẹ, tôn trưởng; học trò đối với thầy cô, đều có tâm úy kính, vừa kính yêu vừa sợ sệt. Nếu như không có tâm e sợ, không biết tri sỉ, chư vị thử nghĩ xem, chúng có thể làm ra cái sự việc tệ hại đến mức nào? Cái xã hội ngày nay, người biết tri sỉ ít rồi, người có tâm úy kính cũng ít rồi, nguyên nhân là tại chỗ nào? Nguyên nhân là do không có sự dạy dỗ tốt. Con người không phải là Thánh Hiền, không phải là Phật Bồ Tát tái lai thì việc giáo dục là quan trọng hơn tất cả. Hiểu được đạo lí này, hiểu được phương pháp này, xác thực chỉ có Cổ Thánh Tiên Hiền Trung Quốc. Trong “Lễ kí-Học kí”, chúng ta đọc đến đoạn: “Kiến quốc vi dân, giáo học vi tiên-xây dựng đất nước thì giáo dục làm đầu”, lại xem xem lịch sử Trung Quốc, từ xưa đến nay, kiến lập một chính quyền, hình thành một triều đại, không quá 5 năm, quốc gia đó nhất định chế tác lễ nhạc để giáo hóa nhân dân, cái công tác này phải hoàn thành. Cho nên vào thời chiến tranh loạn lạc, các triều đại thay thế nhau rất nhanh đã có thể khôi phục được trật tự xã hội. Duy chỉ có triều đại mà chúng tôi sống, người thời này rất đáng thương, rất khổ cực! Sau khi triều Mãn Thanh diệt vong cho đến ngày nay, Lễ Nhạc đều không được chế tác. Lễ Nhạc không được ban bố. Cái thời đại này, tương lai lịch sử sẽ gọi là “thời loạn”, trong lịch sử Trung Quốc, đây là thời kỳ động lọan kéo dài nhất. Đời sống nhân dân, quan hệ giữa người và người, không biết phải làm như thế nào.

Lúc trước, tôi ở Đài Loan, có người hỏi tôi. Thông thường tại Đài Loan, cha mẹ qua đời, y phục mà con cái họ măc, có người mặc đồ tang làm bằng gai, có người đồ trung sơn màu đen. Đồng tu xem thấy như vậy liền hỏi tôi, anh ta nói: “Như vậy có hợp lễ hay không?” Tôi trả lời: Từ khi Trung Hoa Dân Quốc kiến lập đến ngày nay, không có ban bố Lễ Nhạc. Người mặc đồ tang bằng gai là dùng lễ đời nhà Thanh, còn người mặc đồ đen là dùng lễ của người ngoại quốc. Tôi gật gật đầu nói: đều có thể được, bởi vì đất nước không chế tác Lễ, nên nhân dân làm thế nào cũng đều có thể được. Không có Lễ, cùng với quá khứ không giống nhau. Quá khứ thời đại đế vương, Lễ Nhạc được coi trọng vô cùng. Mặc y phục không thể tùy tiện mà mặc, thân phận của bạn như thế nào thì mặc trang phục như thế ấy, sĩ nông công thương đều có sự phân biệt, mọi người một khi nhìn thấy liền biết bạn làm cái hành nghiệp gì, trong xã hội địa vị như thế nào; người có địa vị thấp hơn bạn, nhất định đối với bạn tôn trọng, phải hành lễ. Hiện tại không còn nữa. Hiện tại bạn xem thấy tại Đài Loan, tổng thống cùng với người dân thường đều mặc đồ trung sơn, họ đứng cùng nhau thì thể nào phân biệt được, không có lễ thì thiên hạ đại loạn, trật tự xã hội cũng không còn, điều này trước đây tuyệt đối không được. Chúng ta sinh ra trong thời đại này, chúng ta hướng về xã hội xưa nhưng cũng không thể tách khỏi xã hội hiện đại, tuy người khác không nói đến nhưng trong lòng chúng ta thì đều minh bạch.

Thiên địa quỷ thần có hay không? Khẳng định là có. Có, vậy họ ở chỗ nào? Tuy mắt chúng ta không nhìn thấy, tai không nghe thấy, thân thể không tiếp xúc được; nhưng không thể nói thân thể chúng ta không tiếp xúc được thì cho rằng họ không tồn tại. Huống gì trong lịch sử Trung Quốc, cảm ứng của quỷ thần được ghi chép lại rất nhiều, hiện tại, chúng ta thường xem thấy trên tin tức, tạp chí, báo chương đều có một số báo cáo. Những báo cáo đó đương nhiên là có thật, nhưng có rất nhiều người không tin. Điều này cũng khó trách, nếu như không phải là tận mắt chứng kiến, mà nghe người khác nói thì đều không đáng tin.

Lúc mới học Phật, khi đó tôi hai mươi mấy tuổi. Lão cư sĩ Chu Kính Trụ, đây là một vị trưởng bối vô cùng yêu thương bảo hộ tôi, chuyện kể của ông rất nhiều, đều là việc mà ông đích thân trải qua, thường hay kể cho tôi nghe. Chúng tôi cũng rất hoan hỷ nghe ông kể chuyện, bởi vì những chuyện này đều do đích thân ông trải nghiệm, nên là thật chứ không phải giả. Ông cũng không bịa ra chuyện để lừa chúng tôi. Chúng tôi hỏi nguyên nhân lão nhân gia học Phật.

Bởi vì ông học tài chính, trong thời kì kháng chiến, ông là Trưởng Cục Thuế vụ ở Tứ Xuyên, là người quản lí về thuế. Sau khi kháng chiến thắng lợi, ông ở Chiết Giang, ông làm thủ quỷ tài chính Chiết Giang. Trước kháng chiến, ông từng làm Tổng Tài của một ngân hàng ở Tô Châu.

Tôi hướng đến ông thỉnh giáo nguyên nhân ông học Phật, ông nói với tôi, ông nói nhân duyên học Phật là vào thời gian kháng chiến. Ông ở tại Trùng Khánh, buổi tối một ngày nọ, ông cùng với vài người bạn đánh mạt chược, đây là việc thường tình, thường thường là hơn 2 giờ khuya mới giải tán. Giải tán thì ai về nhà nấy, thời đó tuy rằng địa vị của ông cao như vậy, nhưng vẫn không có phương tiện giao thông, trở về vẫn là đi bộ. Không như bây giờ, đều có xe rồi, lúc đó vẫn là đi bộ. Hơn nữa, đèn đường rất tối, người hiện tại rất khó thể hội được, nếu như là người trong độ tuổi của tôi, thì bạn có thể biết. Đèn đường, rất xa mới có một cái cột đèn, hơn nữa đèn đường lọai bóng của nó đại khái là loại 40, được treo với cự li rất cao, rất xa, chân thật là nhìn như có như không. Sau khi trời tối đen ông mới ra về, khi quay về thì ông phải đi rất xa, đại khái là phải đi hết bốn, năm mươi phút mới về được đến nhà. Trên đường đi, phía trước ông có một người, cũng đi cùng đường với ông vào thời điểm đó, đi ngay phía trước ông, ban đầu ông cũng không để ý đến. Đi được gần nửa giờ đồng hồ, ông đột nhiên nghĩ đến, xem thấy phía trước là một người con gái, ông nghĩ: một cô gái đơn độc, làm sao lại ra ngoài vào lúc nửa đêm như vậy? Ông nghĩ như vậy. Tôi nghe ông kể mà dựng cả tóc gáy. Ông quan sát kĩ người phía trước thì thấy cô ta có thân trên mà không có thân dưới, ông chết điếng cả người, nhìn lại người phía trước không còn nữa, không có nữa. Ông cùng với người này đi chung, đi hết nửa giờ đồng hồ, tuyệt đối không phải là hoa mắt. Ông thật sự là đã nhìn thấy ma rồi. Ông nói từ cái ngày ấy, ông mới chân thật tin Phật.

Sau khi học Phật, ông đối với con ma ấy vô cùng cảm kích. Nếu như không phải đích thân ông nhìn thấy, ông nói cả đời ông vĩnh viễn cũng không thể tin.

Nhạc phụ của ông là Chương Thái Viêm, rất có địa vị trong giới học thuật Trung Quốc. Nhạc phụ của ông là một tín đồ Phật giáo kiền thành, chuyện kể cũng rất nhiều, thường thường kể cho ông nghe, ông nghe xong nửa tin nửa ngờ, mãi cho đến khi bản thân ông gặp phải sự việc như thế ông mới tin. Cái việc này là có thật, chuyện của ông rất nhiều. Nếu như tôi nói phải mất hết vài giờ đồng hồ, vô cùng thú vị, quyết định không phải là hư vọng.

Bản thân tôi tuy cả đời chưa từng gặp qua ma quỷ, nhưng tôi thực sự đã từng gặp hồ li tinh được nói đến trong tiểu thuyết “Liêu trai chí dị”. Đại khái là khi tôi năm, sáu mươi tuổi, tôi xác thực là đã gặp phải hồ li tinh, cho nên tôi tin điều đó là thật chứ không phải giả.

Con hồ li tinh đó mà tôi gặp cũng biến thành hình người, nhưng là nam chứ không phải nữ, rất nhiều người đã nhìn thấy qua, ở tại khe núi Hồ Nam. Sau khi kháng chiến thắng lợi, tôi về lại quê hương, một người bà con ở quê tôi gặp phải một sự việc rất kì lạ. Gạo của quê tôi làm ra, đều thu lại vận chuyển đến Vu Hồ, Nam Kinh để bán. Người bà con của tôi, ông ấy có một thuyền gạo, ông dùng bao bố đóng gạo lại thành bao rồi mang lên thuyền. Trong khi đóng hàng, xem thấy có một con chồn vàng từ ngòai nhảy vào trong thuyền. Công nhân trên thuyền liền đi tìm, tìm rất lâu mà không thấy. Tìm không thấy nên mọi người cho rằng mình bị hoa mắt, nên cũng coi như không có gì. Thuyền gạo này được vận chuyển đến Nam Kinh, sau khi đến Nam Kinh, lúc đưa hàng hóa xuống, bổng nhiên thấy trong túi gạo, một hạt gạo cũng không có, cả thuyền gạo đều không thấy. Mọi người hiểt được, đây là do con chồn vàng tác quái. Nhìn thấy mọi thứ là thật chứ không phải giả, cả thuyền gạo đều không thấy. Cho nên chỉ lưu lại Nam Kinh vài ngày, rồi quay về. Sau khi về nhà, gạo của ông đều ở trong kho. Không biết làm cách nào để trừng phạt con chồn vàng đó, nó đã trêu đùa ông. Tuy không có tổn thất nhưng một thuyền gạo đều mang cả về nhà, đây là việc có thật.

Cho nên, thế gian rộng lớn không điều kì quái gì không có, không thể nói bản thân tôi không thấy thì không tin, sự việc mà đích thân chúng tôi nhìn thấy thì quá ít. Những sự việc này ở Hương Cảng cũng rất nhiều, ở Trung Quốc đại lục thì càng nhiều, ở ngoại quốc cũng rất nhiều.

Người tôi gặp được rất nhiều, bởi vì thính chúng nghe tôi giảng kinh rất đông, họ thường đem những sự việc mà họ đích thân gặp phải kể cho tôi nghe. Cho nên, thiên địa quỷ thần không thể xem thường, chúng ta lừa dối người thì dễ, nhưng lừa dối thiên địa quỷ thần thì rất khó rất khó.

[Ngô tuy quá tại ẩn vi], lỗi lầm của chúng ta vô cùng bí mật, vô cùng vi tế, người khác nhìn không thấy được, nhưng “thiên địa quỷ thần thực giám lâm chi”. “Giám” là tấm gương, chính là tấm gương chiếu rõ ràng, chiếu được hết. “Trọng tắc giáng nhi bách ương-nặng thì giáng tram điều tai ương”, nếu như bạn tạo ác nghiệp nặng, bạn nhất định gặp phải những tai nạn không như ý; “khinh tắc tổn kỳ hiện phúc”, tội nhẹ thì phước báu hiện tại của bạn bị tổn giảm. Bạn phải hiểu được đạo lí này, bạn phải lí giải được chân tướng sự thật này, làm sao có thể không lo sợ chứ?

Xin xem tiếp kinh văn phía sau:

[Bất duy thị dã], không những chỉ như vậy.

[Nhàn cư chi địa, chỉ thị chiêu nhiên, ngô tuy yểm chi thậm mật, văn chi thậm xảo, nhi phế can tảo lộ, chung nan tự khi, bị nhân thứ phá, bất trị nhất văn hĩ, ô đắc bất lẫm lẫm?]

(Tạm dịch: Những nơi vắng vẻ chỉ riêng mình ta cũng có quỷ thần giám sát, dù ta che đậy khéo léo, thần minh cũng đã sớm thấu rõ đến tận gan phổi của ta, vậy nên khó có thể tự lừa dối mình mãi được; một khi bị người phát hiện thì chẳng còn giá trị gì nữa. Vậy há không nên e dè, úy kính hay sao?)

Phía trước đã nói thiên địa quỷ thần xem thấy chúng ta rất rõ ràng, đoạn này là nói hòan cảnh hiện tại cư trú của chúng ta, cái gọi là “mười mắt nhìn thấy, mười bàn tay chỉ”. Đặc biệt là xã hội đô thị hiện nay, nhân khẩu đông đúc, nhất cử nhất động của chúng ta đều có rất nhiều người nhìn thấy. Chúng ta giấu giếm bí mật, “văn chi thậm xảo”, văn là ngụy trang, bạn ngụy trang được rất khéo, nhưng “phế can tảo lộ chung nan tự khi” – trong tâm bạn sớm đã không thể tự lừa dối mình.

Phía trước đã nói qua với chư vị, người có học vấn, có đạo đức vừa nhìn là đã rõ ràng. Khi bạn bị người nhìn thấu thì bạn chẳng còn giá trị gì nữa. Nghĩ đến chỗ này, sao có thể không lo sợ chứ? “Lẫm lẫm” là là dáng vẻ lo lắng, sợ sệt. Đây chính là nói người khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, cần phải có lương tâm, có thiên lương, cần phải biết sợ chế tài của dư luận. Chúng ta làm thiện không muốn để người khác biết. Nhưng điều ác mà chúng ta làm, cần phải hi vọng người khác biết; khi bị người khác chỉ trích thì điều ác của chúng ta cũng đã trả được rồi, đây là một việc tốt. Anh ta chỉ trích ta, ta chân thật có sai, ta phải tiếp nhận, ta phải hối cải; anh ta chỉ ra rồi thì ta không còn lỗi sai đó nữa, ta cũng rất hoan hỷ. Nếu như ta bị oan uổng, bị oan là cách tốt nhất để tiêu tai, tiêu nghiệp chướng.

 Cho nên bất luận người khác chỉ trích là đúng hay sai, chúng ta đều phải có tâm cảm ơn. Cổ nhân thường nói: có thì sửa đổi, không có thì tránh. Phê bình của người khác đối với ta, đặc biệt là những phê bình ác ý, nếu ta có thì phải khẩn thiết sửa sai tự làm mới, nếu ta không có thì phải gia tăng cảnh giác, quyết định không phạm phải sai lầm như vậy, thành tựu đức hạnh cho bản thân.

Cho nên, một người chân thật có tu dưỡng, chân chánh hiểu được đọan ác tu thiện, tích công lũy đức, cùng với người bình thường quyết định là không giống nhau. Hơn nữa trong mỗi niệm đều là nghĩ đến điểm tốt của người khác, tuyệt đối không đem điều không tốt của người khác để trong tâm, đó là việc làm không đáng nhất. Tại sao? Tâm của chúng ta thuần thiện, đem điều bất thiện của người khác để trong tâm, cái tâm thuần thiện của mình phá hoại, bạn nói oan uổng biết bao? Chúng ta xem thấy trong xã hội, người ngu si như thế không phải là con số ít. Nếu người khác tán thán, cung kính chúng ta, chúng ta phải tĩnh tâm mà xuy xét: “họ tán thán ta, cung kính ta, ta có cái đức hạnh đó hay không? Ta có thật sự làm được điều tốt đó hay không?” Nếu như chân thật là có thì chúng ta phải khiêm tốn, càng phải nỗ lực hơn. Nếu như họ tán thán vượt quá sự thật, chúng ta phải sinh tâm hổ thẹn, nhất định phải hướng đến họ sám hối rằng: “Tôi nào có làm được việc tốt như thế, bạn nói quá lời rồi.” Bản thân ta phải nỗ lực cố gắng mà làm, hi vọng không phụ lòng tán thán của họ. Bản thân tu dưỡng như vậy, thì đức hạnh mới có thể thành tựu. Trên quả báo, hung tai mới có thể miễn trừ, phước thiện mới đến, đây là đạo lí nhất định. Chúng ta cần phải hiểu rõ, cần phải nhận chân nỗ lực tu học, phải có tâm hổ thẹn, phải nỗ lực nhận rõ vấn đề.

Hôm nay chúng ta chỉ giảng đến đây thôi. A MI ĐÀ PHẬT

Website Phật Pháp Ứng Dụng chân thành cảm tạ dịch giả Diệu Âm đã gửi tặng các bài dịch từ pháp âm “Liễu Phàm Tứ Huấn” do Hoà Thượng Tịnh Không giảng tại Trung Quốc. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

Bài liên quan