Chương 3: Tính Không, Thuyết Tương Đối và Vật lý Lượng tử 

Một trong những điều hấp dẫn nhất về khoa học là sự thay đổi hiểu biết của ta về thế giới được chiếu rọi bởi ánh sáng của những khám phá mới. Ngành vật lý vẫn đang đấu tranh với việc tiềm tàng một dịch chuyển mẫu hình mà nó trải qua như là kết quả của việc xuất hiện lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử ở cuối thế kỉ 20. Các nhà khoa học cũng như triết học đã không ngớt sống với các mô hình mâu thuẫn nhau về thực tại – Mô hình Newton, thừa nhận về một vũ trụ cơ học và dự đoán được, trong khi lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử thừa nhậnvề một vũ trụ hỗn độn hơn. Sự tiềm tàng của mô hình thứ nhì cho hiểu biết của chúng ta về thế giới chưa hoàn toàn rõ nét.

Thế giới quan của riêng tôi thì có nền tảng trong triết học và giáo pháp Phật giáo, được hình thành trong môi trường tri thức của Ấn Độ cổ đại. Tôi đã được học hỏi về triết học Ấn Độ cổ đại ở tuổi còn bé. Các thầy giáo của tôi lúc đó là nhiếp chánh của Tây Tạng là Tadrak Rinpoche và Ling Rinpoche[1]. Ngài Tadrak Rinpoche là người cao niên, rất được kính trọng và tương đối nghiêm khắc. Ling Rinpoche thì trẻ hơn nhiều; ngài luôn luôn dịu ngọt, nói năng nhỏ nhẹ, và học sâu hiểu rộng, nhưng không phải là một người lắm lời (ít nhất khi tôi còn là đứa trẻ). Tôi còn nhớ mình rất kinh hãi mỗi khi có mặt của cả hai người. Tôi có nhiều người trợ giúp về triết lý để bàn luận về những điều được dạy dỗ. Trong đó có Trijang Rinpoche[2] và đại sư học giả nổi tiếng Ngodrup Tsoknyi. Khi ngài Tadrak Rinpoche mất, Ling Rinpoche trở thành người thái sư[3] bậc cao và Trijang Pinpoche được thăng cấp thành thái sư.

Hai người này vẫn còn là thái sư cho đến khi hoàn tất chương trình học vấn chính thức, và tôi tiếp tụcnhận được nhiều di sản Phật giáo Tây Tạng của nhiều dòng truyền thừa khác nhau từ hai ngài. Họ là những người bạn thân nhưng lại có các cá tính rất khác nhau. Ling Rinpoche là một người rắn chắc với đầu trọc láng bóng, và mỗi khi ông cười thì toàn thân cũng rung theo. Ông có vóc dáng to lớn nhưng đôi mắt nhỏ. Trijang Rinpoche là người cao gầy với có dáng khoan thai và thanh lịch với mũi cao nhọn so với người Tây Tạng. Ông ta rất hoà nhã và chất giọng sâu lắng, đặc biệt nhiều nhạc tính khi ông ấy tụng kinh. Ling Rinpoche là một triết gia sâu sắc với một tâm thức luận lý[4] nhạy bén và là một biệt tài hùng biện với trí nhớ tuyệt vời. Trijang Rinpoche là một trong những nhà thơ vỹ đại với một khả năng chiết trung[5] thành thạo về nghệ thuật và văn chương thời bấy giờ. Nói về khí chất và các năng khiếu của tôi thì tôi cho rằng mình gần gũi với Ling Rinpoche hơn bất kỳ người thái sư nào. Có lẽ công bằng mà nói thì ngài Ling Rinpoche đã có ảnh hưởng nhiều nhất lên cuộc đời tôi

Khi bắt đầu học nhiều giáo pháp khác nhau của các trường phái Ấn Độ cổ đại, thì tôi đã không có cách để liên hệ được chúng với bất kỳ khía cạnh nào của kinh nghiệm bản thân. Chẳng hạn, thuyết nhân quảcủa trường phái Sāṃkhya[6] cho rằng một hậu quả bất kỳ đều là một sự biểu thị của một phần đã có sẵn bên trong của nguyên nhân; thuyết của phái Vaiśeṣika[7] về vũ trụ đề xướng rằng sự đa dạng của một lớp các vật thể bất kỳ có tính chất tổng quát lý tưởng thường hằng là nó phụ thuộc vào tất cả các tính chất đặc thù của nó. Đã có các luận điểm hữu thần Ấn Độ chứng minh sự tồn tại của đấng Tạo Hoá và các luận điểm bài bác của Phật giáo mô tả điều ngược lại. Thêm vào đó tôi phải học nhiều điểm phức tạp khác nhau trong các giáo pháp của nhiều trường phái Phật giáo. Chúng thật quá bí hiểm để trực tiếp phù hợp cho một cậu bé mười mấy tuổi đầu mà sự ham thích của cậu ta chỉ đặt nhiều hơn vào tháo và lắp các đồng hồ, hay là các xe hơi và nghiền ngẫm các bức hình về Thế Chiến thứ II trong những tập sách và các ấn bản của tạp chí Life. Thật ra, khi Babu Tashi tháo rời và rửa chiếc máy phát điện thì tôi đứng đó để phụ giúp. Tôi thật vui thú với tiến trình này đến nỗi hay quên các buổi học và ngay cả các bữa ăn. Khi những người trợ giúp triết học đến để giúp tôi ôn tập, thì tâm trí tôi lại miên man về máy phát điện và nhiều bộ phận của nó.

Nhưng mọi thứ thay đổi khi tôi lên 16. Các sự kiện chuyển biến nhanh chóng, quân đội Trung Quốc tiến đến biên giới Tây Tạng vào muà hè năm 1950, ngài nhiếp chánh, Tadrak Rinpoche cho rằng thời điểm để tôi nắm lấy toàn quyền lãnh đạo của quốc gia đã đến. Có lẽ việc đó đã đánh mất tuổi thanh xuân, trói buộc tôi bằng thực tế đen tối của cuộc khủng hoảng đang bắt đầu xảy ra, khiến tôi hiểu rõ được giá trịcủa việc giáo dục [ở đây là việc giảng dạy về các triết thuyết cụ thể của Phật giáo đến giai đoạn này được tác giả áp dụng vào thực tế]. Dù với nguyên nhân nào đi nữa, thì ở lứa tuổi 16 hoạt động học tập của tôi về triết học, tâm lý học, và thần học đã tạo được sự khác biệt về chất lượng. Tôi không những đã dồn hết tâm sức để đảm bảo việc học tập chúng mà còn liên hệ được nhiều khiá cạnh của sự học này với hiểu biết của chính tôi về cuộc sống và những sự kiện của thế giới bên ngoài.

Khi tôi bắt đầu đào sâu vào việc học tập, quán chiếu, và thiền định về các tư tưởng và thực hành Phật giáo, thì việc đương đầu của Tây Tạng với các lực lượng Trung Quốc trong lãnh thổ – nhằm thử dàn xếp để đem đến sự thoả thuận chính trị cho cả hai – đã trở nên ngày càng phức tạp. Cuối cùng ngay sau khi tôi kết thúc chương trình học chính thức và ngồi trước sự hiện diện của hàng ngàn tăng sĩ trong kỳ sát hạch Geshe[8] tại vùng đất thánh thành phố Lhasa đã là một sự kiện đánh dấu đỉnh cao về cácnghiên cứu hàn lâm chính thức và cho đến hôm nay sự kiện này vẫn là một nguồn vui lớn của tôi, thì cuộc khủng hoảng ở trung tâm Tây Tạng buộc tôi lánh khỏi quê nhà sang Ấn Độ, để dấn thân vào cuộc đời tị nạn không quốc tịch. Điều này vẫn còn là tình trạng hợp lệ của tôi. Nhưng mất quyền công dân ở quê hương, tôi tìm thấy một ý nghĩa lớn hơn, có thể nói một cách chân thành rằng tôi là một công dân của thế giới.

Một trong những tuệ giác[9] quan trọng nhất trong Phật giáo đến từ điều được biết như là thuyết lý về tính Không[10]. Trọng tâm của giáo thuyết này là sự công nhận sâu sắc rằng có một khác biệt nền tảng giữa cách mà ta nhận thức về thế giới, bao gồm cả sự tồn tại của chúng ta trong đó với cách mà sự vật thực sự có; trong kinh nghiệm hằng ngày, ta có xu hướng liên hệ đến thế giới và đến chính mình như là các thực thể chiếm hữu một thực tại tự tồn, định danh được, tách biệt, và lâu bền. Chẳng hạn, nếu ta thẩm tra tri kiến của chính mình về bản ngã, sẽ thấy rằng ta có xu hướng tin vào sự có mặt của một trung tâm cốt yếu cho con người chúng ta mà nó đặc trưng cho cá nhân và nhận diện như là một cái tôi riêng biệt, độc lập với các thành tố tinh thần và thể chất đã cấu trúc nên sự tồn tại của ta. Thuyết lý về tính Không phát hiện ra điều này chẳng những là một sai sót nền tảng mà còn là cơ sở cho tham ái, bám chấp, và là sự phát triển của nhiều loại thành kiến của ta.

Theo lý thuyết về tính Không, thì một lòng tin bất kỳ vào một thực tế khách quan có nền tảng dựa trênmột giả định về sự tồn tại bản chất độc lập thì sẽ không hợp lý lẽ. Tất cả sự vật và hiện tượng, bất kể là vật chất, tinh thần hay các khái niệm trừu tượng như là thời gian, đều thiếu vắng tính tồn tại khách thể độc lập. Để có được sự tồn tại độc lập, bản chất như thế sẽ phải ngụ ý rằng những sự vật và hiện tượngđó tự chúng bằng cách nào đó đầy đủ và do đó hoàn toàn tự nội tại[11]. Điều này có nghĩa là không sự vật gì có khả năng tương tác và gây được ảnh hưởng lên các hiện tượng khác. Nhưng ta biết rằng có nhân và quả[12] – Vặn chìa khoá khởi động, bu-gi đánh lửa, máy nổ, động cơ chuyển vận, xăng và nhớt được đốt. Trong một vũ trụ của các sự vật tự nội tại, tồn tại một cách tự tính[13], thì những sự kiện như thế không thể xảy ra. Tôi sẽ không thể viết lên giấy, và bạn sẽ không thể nào đọc những chữ trên trang giấy này. Nhưng bởi vì chúng ta tương tác và thay đổi lẫn nhau, nên ta phải thừa nhận rằng ta khôngđộc lập mặc dù ta có thể cảm thấy hay trực giác rằng chúng ta có sự độc lập.

Một trong các hệ quả là quan điểm về sự tồn tại độc lập tự tính thì không phù hợp với luật nhân quả. Lý do là vì luật nhân quả bao hàm khả năng xảy đến và sự phụ thuộc, trong khi vật bất kỳ nào có đặc tínhtồn tại độc lập thì bất khả biến và tự đóng kín. Mọi vật đều là sự hợp thành của các sự kiện quan hệ một cách phụ thuộc, của các hiện tượng tương tác nhau một cách liên tục với bản chất không thường hằngkhông có xếp đặt từ trước, mà những hiện tượng đó tự chúng cũng nằm trong các mối tương quan động thường biến. Các sự vật và hiện tượng đều là “Không” trong ý nghĩa là chúng không có bản chấtbất khả biến, không có thực chất tự tính, hay không là một “thực thể” tuyệt đối có khả năng độc lập. Chân lý nền tảng này về “cách mà sự vật thật sự có” được mô tả trong kinh văn Phật giáo là “tính Không” hay śūnya trong Phạn ngữ.

Trong quan điểm thông dụng hay ngây thơ của mình, chúng ta liên hệ đến sự vật và sự kiện như là chúng có một thực tại tự tính lâu bền. Ta có xu hướng tin rằng thế giới này được làm ra từ những sự vật và hiện tượng mà mỗi phần tử trong chúng đều có một thực tại độc lập tách biệt cho tự chính nó và những sự vật thế này tương tác với sự vật khác bằng một sự độc lập và những đặc trưng tách biệt. Chúng ta tin rằng những hạt giống thực một cách tự tính sẽ sản sinh những vụ mùa thực ở một thời điểm thực và tại một nơi thật sự và các yếu tố này đều có mặt một cách tự tính. Mỗi thành viên trong mối quan hệ nhân quả này – tức là hạt giống, thời gian, nơi chốn và hậu quả – được ta gán cho trạng thái bản thể rắn chắc. Quan điểm về một thế giới như là được làm từ các đối tượng rắn chắc và các đặc tính tự tính còn được củng cố thêm bởi ngôn ngữ của chúng ta về các chủ ngữ và vị ngữ mà được cấu trúc một mặt bởi các danh từ và tính từ mang tính chất tồn tại độc lập và mặt khác bởi các động từ chủ động. Nhưng mọi vật được cấu thành bởi các bộ phận – một người thì bao gồm cả hai: thân lẫn tâm. Xa hơn nữa, mỗi đặc trưng của các sự vật còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố, chẳng hạn như là các tên mà ta gán cho chúng, các chức năng, và các khái niệm mà ta có về chúng.

Mặc dù đuợc đặt nền móng bởi sự phiên dịch của các kinh điển cổ, mà được cho là từ đức Phật lịch sử[14], thì lý thuyết tính Không này đã được chú giải lần đầu tiên một cách hệ thống bởi luận sư vỹ đại Long Thụ[15] (thế kỉ thứ 2). Người ta biết không nhiều về đời sống cá nhân, ngài đến từ miền Nam Ấn Độ – và chỉ sau đức Phật – Ngài là hình ảnh quan trọng nhất cho việc lý giải về Phật giáo tại Ấn Độ. Các nhà sử học cho rằng ngài có công trong sự hình thành của trường phái Trung Đạo[16] của Phật giáo Đại thừa mà vẫn còn là trường phái chiếm ưu thế tại Tây Tạng cho đến ngày nay. Tác phẩm triết học gây ảnh hưởng nhiều nhất của ngài là Căn Bản Trung Quán Luận mà vẫn còn được tiếp tục học thuộc lòng, nghiên cứu và luận bàn trong các đại học Phật giáo ở Tây Tạng.

Tôi đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu chi tiết về các vấn đề được nêu lên trong bản luận này đồng thờithảo luận với các thầy giáo và đồng môn. Vào thập niên 1960, trong suốt thập niên đầu trong cuộc đời tị nạn tại Ấn, tôi đã có thể đào bới một cách sâu sắc và rất cá nhân vào thuyết lý tính Không. Không như ngày nay, hồi đó tôi được nghỉ ngơi một cách hợp lý, chỉ với một ít hoạt động chính quy, tôi vẫn chưa bắt đầu đi chu du thế giới, một quá trình mà giờ đây chiếm phần chính thời gian của tôi. Trong suốt thập kỷ trước, tôi đã có nhiều cơ hội sử dụng hàng giờ với các thầy giáo riêng, mà cả hai đều là những chuyên gia trong các thực hành triết học và thiền định về tính Không.

Tôi cũng có được các giảng huấn từ một học giả Tây Tạng khiêm tốn nhưng tài ba tên là Nyima Gyalsen[17]. Một cách trìu mến được biết đến đưới tên Gen Nyima, ngài là một trong những người hiếm hoi với tài biểu thị một cách mạch lạc các tuệ giác thâm sâu bằng những thuật ngữ mà hầu như có thể truy cập tới được. Ông ấy hơi hói và đeo một đôi kính mát tròn và to. Mắt phải của ngài bị chứng co giật khiến phải nháy thường xuyên. Nhưng năng lực tập trung tinh thần đặc biệt khi theo dõi một chuỗi dài các ý tưởng và đào bới sâu vào một điểm của ông thì thật đáng kinh ngạc – quả là một huyền thoại. Ông ta có thể trở nên rành mạch hoàn toàn với những gì xảy ra ở xung quanh một khi mà ông ở một trong các trạng thái này. Thật sự thuyết lý tính Không đã là chuyên môn đặc biệt của Gen Nyima khiến những giờ trao đổi của tôi với ngài tất cả trở nên đích đáng hơn.

Một trong những điều đặc biệt và sôi nổi nhất về vật lý hiện đại là cách mà thế giới vi mô của cơ học lượng tử thách thức hiểu biết chung của chúng ta. Những dữ kiện về lưỡng tính sóng-hạt của ánh sáng và về nguyên lý bất định[18] phát biểu rằng ta không thể nào xác định được cùng lúc trạng thái chuyển động và vị trí của nó, và về khái niệm của sự chồng chập lượng tử[19]; tất cả nói lên một cách hiểu hoàn toàn khác về thế giới so với vật lý cổ điển cho rằng các vật thể hoạt động trong một cách thức xác lập và dự đoán được. Chẳng hạn, trong thí dụ nổi tiếng về chú mèo của Schrödinger[20], trong đó, chú mèo được đặt trong một hộp có nguồn phóng xạ mà có đến 50% cơ hội để thoát ra độc tố gây tử vong, ta buộc phải chấp nhận rằng, cho đến khi nắp hộp được mở ra, thì chú mèo vừa sống và vừa chết, điều này dường như không tuân theo luật mâu thuẫn.

Đối với một Phật tử Đại thừa được giàn trải tư tưởng của thánh giả Long Thụ, có một sự cộng hưởngkhông thể sai lầm giữa khái niệm tính Không và vật lý mới. Nếu trong cấp độ lượng tử, vật chất tỏ ra ít rắn chắc và khó xác định hơn như là sự trình hiện của chúng, thì dường như, đối với tôi, khoa học đang tiến gần hơn đến với các tuệ giác Phật giáo về tính Không và sự tương thuộc lẫn nhau. Ở một hội nghịtại New Delhi, tôi đã có lần được nghe Raja Ramanan[21], một nhà vật lý được sánh như là Sakharov[22] của Ấn Độ, đã mô tả sự song hành giữa thuyết lý tính Không của Long Thụ với cơ học lượng tử. Qua nhiều năm, sau khi được tiếp chuyện với nhiều nhà khoa học bạn bè, tôi cho rằng những phát kiến to lớn kể từ thời Copernicus[23] đã đem lại một thấu hiểu rõ ràng là thực tại thì không giống như trình hiện của nó trước mắt ta. Khi đặt thế giới dưới một góc nhìn nghiêm túc của việc khảo sát – tức là dùng phương pháp và thí nghiệm khoa học hay phân tích luận lý về tính Không hoặc phương pháp phân tích thiền định (thiền quán -ND) – người ta có thể thấy được các sự vật ở mức vi tế hơn, và ngay cả trong một số trường hợp thấy được mâu thuẫn với các giả định của quan niệm thông thường về thế giới của chúng ta.

Ngoài việc miêu tả không đúng thực tại, người ta có thể hỏi thêm gì về các sai sót khi tin vào việc tồn tạiđộc lập tự tính của sự vật? Đối với ngài Long Thụ, niềm tin này có những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng. Long Thụ luận rằng niềm tin vào sự tồn tại tự tính chứa đựng cơ sở chức năng sai lạc có tính tự ngã trường cửu trong các tiếp giao của ta với thế giới và với những chúng sinh đồng loại. Khi đối xử với các đặc tính tự tính hấp dẫn, thì ta phản ứng đến các đối tượng và sự vật với sự luyến ái lừa dối, trong khi đó, lúc đối với các đặc tính tự tính khó ưa thì ta lại phản ứng ghét bỏ. Nói cách khác, Long Thụ biện minh rằng việc bám chấp vào tính tồn tại độc lập của sự vật dẫn tới phiền não, mà theo đó, sẽ khởi tiếp một chuỗi các hành vi phản ứng hủy hoại và đau khổ. Trong phân tích sau cùng, theo Long Thụ, thuyết lý về tính Không không phải chỉ là vấn đề hiểu biết khái niệm về thực tại. Nó dính líu chặt chẽ với đạo đức và tâm lý một cách sâu sắc.

Có lần tôi hỏi người bằng hữu, nhà vật lý David Bohm, câu hỏi rằng trong quan điểm khoa học hiện đại, ngoài vấn đề miêu tả sai lạc, thì điều gì sai trái khi tin vào sự tồn tại độc lập của các sự vật? Câu trả lờicủa ông ấy rất đích đáng. Ông ta bảo rằng nếu ta kiểm điểm lại những hệ tư tưởng vốn có xu hướngphân chia nhân loại như là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa quốc gia quá khích, và tầng lớp đấu tranh chủ nghĩa Mác, thì một trong những nhân tố chính yếu từ trong cội nguồn của các chủ trương đó là chiều hướng nhận thức các sự vật bị chia biệt và rời rạc một cách tự tính. Từ nhận thức sai lầmnày, kích khởi lên lòng tin rằng mỗi thành phần trong các sự phân chia đó là độc lập một cách bản chấtvà tự tồn. Trả lời của ngài Bohm, người có nhân thân trong hoạt động về vật lý lượng tử, đã lập lại một mối quan tâm đạo đức về việc chứa chấp các tín điều mà ngài Long Thụ đã lo ngại nêu ra trước đó gần 2000 năm. Nói một cách nghiêm túc, cho là khoa học không có trách nhiệm với những vấn đề các đạo đức và các phán xét đánh giá; sự thật là khoa học, một nỗ lực của nhân loại, vẫn phải liên hệ tới câu hỏi cơ bản về sự hoàn thiện của con người. Vậy nên, trong một ý nghĩa nào đó thì không có gì đáng ngạc nhiên về câu trả lời của Bohm. Tôi ước có thêm nhiều khoa học gia đồng ý với suy nghĩ của ông ấy về mối liên hệ lẫn nhau giữa khoa học với các khuôn khổ nhận thức và tính nhân bản.

Theo tôi biết thì khoa học hiện đại đã đối mặt với một cuộc khủng hoảng trong đầu thế kỉ thứ 20. Công trình vỹ đại về vật lý cổ điển được dựng lên bởi Isaac Newton, James Maxwell[24] và nhiều nhà khoa học khác đã cung ứng các giải thích dường như rất hiệu quả về những thực tại được nhận thấy về thế giới và các giải thích đó khế hợp với các ý tưởng thông thường. Công trình đó đã bị làm suy yếu bởi việc phát hiện ra thuyết tương đối và bởi ứng hoạt kỳ lạ của vật chất cấp mức độ nhỏ hơn nguyên tử [hạ nguyên tử], mà đã được tìm hiểu trong vật lý lượng tử. Như Carl von Weizsäcker có lần giải thích với tôi rằng vật lý cổ điển chấp nhận một thế giới quan cơ giới trong đó các luật vật lý phổ dụng chắc chắn bao gồm trọng lực và các định luật cơ học, đã xác lập một cách hiệu quả mô hình của các hành vi tự nhiên. Trong mô hình này, có bốn thực tại khách quan – là các vật thể, các lực, không gian và thời gian– và luôn luôn có một sự khác nhau rõ ràng giữa các đối tượng được biết và chủ thể là người nhận biết. Nhưng trong thuyết tương đối và cơ học lượng tử, theo von Weizsäcker, thì ta phải từ bỏ vấn đề có tính nguyên lý là sự biệt lập giữa chủ thể và đối tượng, và từ bỏ tất cả những chắc chắn của ta về khả năng khách quan của các dữ kiện thực nghiệm. Dẫu sao – và đây là điều mà von Weizsäcker xác quyết: những khái niệm duy nhất mà ta có cho việc mô tả cơ lượng tử và các thí nghiệm để kiểm nhận bức tranh mới của nó [cơ lương tử] về thực tại lại là những thứ thuộc về vật lý cổ điển [là bộ môn] vốn đã bị lượng tử lý thuyết bác bỏ. Mặc dù với các vấn đề này, von Weizsäcker luận rằng chúng ta cần liên tục tìm kiếm về sự gắn kết nhau trong tự nhiên và về sự hiểu biết của thực tại, của khoa học, và của chỗ đứng của nhân loại mà chúng đúng đắn hơn theo kiến thức khoa học mới nhất.

Dưới ánh sáng của các phát kiến khoa học, tôi cảm thấy rằng Phật giáo cũng phải quyết tâm thích ứngvới vật lý cơ bản về các lý thuyết “nguyên tử” của nó, bất kể thẩm quyền được xác lập từ lâu của chúng trong truyền thống Phật giáo. Chẳng hạn, học thuyết cổ sơ Phật giáo về “nguyên tử” chưa bao giờ trải qua một sự tu chỉnh lớn nào, đã đề xuất rằng vật chất thì được cấu trúc bởi một tập hợp của bộ tám “nguyên tử” căn bản: đất, nước, lửa, và gió; tạo thành tứ đại và sắc, hương, vị, và xúc[25] được gọi là bốn dẫn xuất căn bản. Đất có tính rắn đặc, nước có tính kết dính uyển chuyển, lửa có tính năng lực, và gió có tính năng động. Một “nguyên tử” thấy được như là tổ hợp của tám yếu tố căn bản, và dựa trên cơ sở của sự kết hợp[26] của các “nguyên tử” thành phần, mà sự tồn tại của các đối thể trong thế giới vi mô được giải thích. Theo một trường phái Phật giáo cổ nhất là Tì-bà-sa Luận[27] thì những “nguyên tử” căn bản riêng lẻ là các cấu trúc nhỏ nhất của vật chất, không phân chia được (bất khả phân) và do đó không có các bộ phận. Khi các “nguyên tử” như thế kết hợp để hình thành các đối thể, thì những người theo phái Tì-bà-sa khẳng định rằng các “nguyên tử” riêng lẻ không hề chạm nhau. Sự hỗ trợ của thành tố gió và các lực lượng khác trong tự nhiên giúp cho các thành tố cấu trúc được kết hợp thành một hệ thống hơn là việc sụp đổ vào bên trong hay giãn nở vô hạn định.

Sẽ bằng thừa nếu nói rằng những lý thuyết như vậy phải được phát triển thông qua sự tranh luận kịch liệt với các trường phái triết học Ấn khác, đặc biệt là các hệ thống lập luận của Nyaya[28] và Vaisheshika. Nếu kiểm nghiệm lại các văn liệu triết học Ấn từ thời cổ, thì người ta sẽ cảm nhận được một nền văn hóa giàu tính tranh luận, bàn bạc, và đối thoại giữa những người theo đuổi các trường phái và hệ thống khác nhau. Các trường phái cổ Ấn này – như là Phật giáo, Nyaya, Vaisheshika, Mimamsa, Samkhya, và Aidvaidavadanta[29] – cùng chia sẻ các lợi lạc và phương pháp của sự phân tích. Loại tranh luận kịch liệt này giữa các trường phái tư tưởng đã là nhân tố chính trong sự phát triển của tri kiếnvà tinh lọc các ý tưởng triết học, từ thời Phật giáo cổ Ấn đến trung cổ và thời Tây Tạng hiện đại.

Những nguồn giáo pháp cổ xưa nhất được biết đến về lý thuyết “nguyên tử” của phái Tì-bà-sa có thể từ tác phẩm A-tỳ-đàm Tâm Luận của ngài Dharmaśrī và tác phẩm được tôn vinh Đại-tì-bà-sa luận[30]. Tác phẩm đầu được các nhà nghiên cứu hiện nay cho là có mặt vào khoảng thế kỉ thứ 2 trước Tây lịch và thế kỉ thứ 1. Mặc dù nó chưa bao giờ được dịch sang Tạng ngữ, tôi đã được cho biết rằng bản Hán ngữ đã được tạo ra vào thế kỉ thứ 3. Bài luận của ngài Pháp Thắng thể hiện một nỗ lực tinh tế nhằm hệ thống hoá các quan điểm tinh yếu của triết lý Phật giáo trước đó, khá nhiều ý tưởng cơ sở của nó chắc chắn đã có mặt một thời gian trước khi bài luận đó được soạn thảo. Ngược lại, tập Đại-tì-bà-sa luận là một bài thuyết giảng được soạn thảo vào khoảng giữa thế kỉ thứ nhất và thứ ba sau Tây lịch thiết lậpcác giáo lý của một trường phái Phật giáo đặc biệt như là giáo pháp chính thống và trả lời cho nhiều phản bác khác nhau chống lại các giáo lý này bằng cách đưa ra một nền tảng lập luận triết lý. Mặc dù các luận điểm của Đại-tì-bà-sa luận rất quen thuộc với Phật giáo Tây Tạng, thì tác phẩm này tự nó cũng chưa hề thực sự được chuyển dịch đầy đủ sang Tạng ngữ.

Trên cơ sở của hai luận văn này, đặc biệt là bản Đại-tì-bà-sa, thì Thế Thân, một đại sư triết học nhiều uy tín người Ấn, đã soạn tác phẩm A-tì-đàm-câu-xá Luận trong thế kỉ thứ tư[31]. Tác phẩm này tổng kếtcác điểm tinh yếu của Đại-tì-bà-sa luận đưa chúng ra để phân tích xa hơn. Nó đã trở thành việc làmchuẩn mực cho ngành tâm lý học và triết học Phật giáo cổ sơ tại Tây Tạng; thí dụ, khi còn là một tu sĩtrẻ, tôi phải học thuộc lòng chính văn của bài luận này.

Như là sự hợp thành của các “nguyên tử” và mối quan hệ tương hỗ giữa các “nguyên tử” với những đặc tính cấu trúc của chúng, Phật giáo cổ sơ đã sản sinh ra tất cả các loại lý thuyết suy diễn. Điểm lý thú là A-tì-đàm-câu-xá thậm chí còn bàn thảo về kích thước vật lý của các “nguyên tử” khác nhau. Hạt tử tuyệt đối nhỏ nhất được tả là khoảng 1 phần 2.400 lần cỡ của một “nguyên tử” của con thỏ, theo một ý nghĩanào đó. Tôi không biết bằng cách nào ngài Thế Thân tính ra được như vậy!

Trong khi chấp nhận thuyết nguyên tử, các trường phái Phật giáo khác đã đặt nghi vấn về quan điểmcác nguyên tử không chia được. Một số còn truy cứu đến điều cho rằng bốn yếu tố sắc, hương, vị, và xúc như là một cơ sở cấu thành vật chất. Chẳng hạn, Thế Thân đã nổi tiếng vì việc ngài tự mình chỉ trích quan điểm về những nguyên tử thực tại khách quan không chia được. Ngài phản bác rằng, nếu các nguyên tử độc lập bất khả phân tồn tại, thì không thể nào có được sự hình thành của các vật thể trong thế giới thường ngày. Để các vật thể như thế được hình thành, phải có một cách giải thích phương thức mà các nguyên tử đơn giản liên kết nhau trong các hệ thống phức hợp.

Nếu một sự kết hợp như thế xảy ra, như là nó phải có, thì hãy mường tượng một nguyên tử đơn lẻ được vây quanh bởi 6 nguyên tử khác, mỗi nguyên tử phân bố theo các hướng chính và một phía trên, một phía dưới. Sau đó, ta có thể đặt nghi vấn là: Phải chăng cùng một bộ phận của nguyên tử ở trung tâm giao tiếp với nguyên tử ở phía đông và đồng thời giao tiếp với nguyên tử ở phía bắc? Nếu không thì nguyên tử ở trung tâm phải có nhiều hơn 1 bộ phận và do đó ít nhất trên nguyên tắc phải chia cắt được. Nguyên tử ở giữa phải có một bộ phận giao tiếp nguyên tử ở phía đông nhưng không giao tiếp với nguyên tử ở phía bắc. Nếu ngược lại, phần phía đông này không giao tiếp với nguyên tử ở phía bắc, thì cũng không có gì ngăn cản phần đó giao tiếp với các nguyên tử trong tất cả các hướng khác. Trong trường hợp như vậy, Thế Thân tranh luận rằng, các vị trí không gian của tất cả bảy nguyên tử – một ở giữa và 6 xung quanh – sẽ là một, và do đó tất cả sẽ sụp đổ vào trong một nguyên tử đơn nhất. Như là kết quả của thí nghiệm suy tưởng này, ngài Thế Thân phản bác rằng không thể nào có các vật thể của thế giới vi mô trong ý nghĩa của sự kết hợp vật chất đơn thuần như là các nguyên tử không phân chiađược.

Một cách cá nhân thì tôi không thể nào hiểu ý nghĩ cho rằng các phẩm chất như hương, vị, và xúc là cơ sở cấu thành của các vật thể vật chất. Tôi có thể thấy được cách thức mà người ta phát triển một lý thuyết nguyên tử liên kết của vật chất trên cơ sở của bốn thành tố như là các cấu trúc. Trong mọi trường hợp thì tôi cảm thấy rằng phương diện tư tưởng Phật giáo này, chủ yếu là một dạng của vật lý sơ đẳng, suy diễn, giờ đây phải được điều chỉnh dưới ánh sáng của vật lý hiện đại mà đã được chi tiết hóa và được kiểm tra việc hiểu biết về cơ sở các cấu trúc của vật chất một cách có thử nghiệm trong khuôn khổ của các hạt vật lý như là các hạt điện tử quay quanh một hạt nhân với proton và neutron. Khi người ta nghe nói về các mô tả về các hạt hạ nguyên tử, như là quark và lepton[32] trong vật lý hiện đại, thì đó là bằng chứng rằng các lý thuyết nguyên tử Phật giáo cổ xưa và nhận thức của chúng về các hạt vật chấtnhỏ nhất bất khả phân quá lắm chỉ là những mô hình thô thiển. Mặc dù vậy, điểm nhấn mạnh cơ bản của các luận sư Phật giáo cho là ngay cả với những cấu trúc tinh vi nhất của vật chất đều phải được hiểu dưới dạng của các thành phần kết hợp có vẻ đã đi đúng đường.

Một trong những động lực cơ bản đứng sau việc truy cứu về triết lý và khoa học lên các cấu trúc cơ sở của vật chất là để tìm ra viên gạch xây dựng không thể rút nhỏ hơn được. Điều này không chỉ đúng trong triết học cổ Ấn độ và vật lý hiện đại mà cả với các nhà khoa học cổ Hy Lạp, chẳng hạn như các lý thuyết gia chủ trương “nguyên tử”. Một cách chính xác, thì đây là cuộc truy lùng vào bản chất tối hậucủa thực tại, dù rằng còn tùy theo cách định nghĩa. Tư tưởng Phật giáo luận đàm trên các nền tảng lô-gíc rằng cuộc truy tìm này là bị lạc lối. Đã có một thời, khoa học tin vào việc tìm ra nguyên tử là đã tìm thấy được cấu trúc tối hậu của vật chất; nhưng các thí nghiệm vật lý thế kỉ thứ 20 đã phân chia được nguyên tử thành các hạt vi tế hơn. Mặc dù ít ra có một quan điểm trong cơ học lượng tử cho rằng ta sẽ không bao giờ tìm được hạt không thể rút nhỏ hơn thực sự một cách khách quan, thì nhiều nhà khoa học vẫn sống trong niềm hy vọng về sự phát hiện của bộ môn này.

Trong mùa hè 1998, Tôi có viếng thăm phòng thí nghiệm của nhà vật lý người Áo Anton Zeilinger tại đại học Innsbruck[33]. Anton hướng dẫn tôi dùng thiết bị cho phép người ta quan sát một nguyên tử riêng lẻ được ion hóa. Tôi đã cố thử hết khả năng nhưng vẫn không thấy nổi nó. Có lẽ duyên nghiệp của tôi không đủ chín mùi để được hưởng hình ảnh tuyệt vời này. Tôi gặp Anton lần đầu tiên khi mà ông ta tham dự hội nghị Life and Mind[34] tại Dharamsala vào năm 1997. Bằng một cách nào đó thì trái ngược với David Bohm, ông ta to lớn với râu quai nón và mang kiếng, có tài hài hước, và tiếng cười rung cả toàn thân. Là một nhà vật lý thực nghiệm, ông ta cởi mở một cách đáng ghi nhận đối với mọi cải cáchcủa các đề tài lý thuyết dưới ánh sáng của các kết quả thực nghiệm mới nhất. Ông ta hứng thú đối thoại với Phật giáo trong việc so sánh các lý thuyết của tri thức – vật lý lượng tử và Phật giáo – bởi vì ông ta thấy rằng cả hai đều loại bỏ bất kỳ ý niệm nào về một thực tại khách quan độc lập.

 Cũng trong lần đó, tôi đã gặp nhà vật lý Hoa kỳ Athur Zajonc[35]; một người nói năng nhỏ nhẹ và có cặp mắt sắc sảo, đặc biệt khi ông ta chăm chú mạnh vào một điểm; là một giáo viên thiên tài với khả năng làm cho ngay cả một đề tài phức tạp nhất trở nên rõ ràng. Trong vai trò giới thiệu, Athur tổng kếtvà tóm tắt các bàn thảo một cách thật súc tích khiến chúng trở nên rất hữu dụng cho tôi.

Nhiều năm trước đó, tôi đã có may mắn được đến thăm học viện Niels Bohr[36] ở Copenhagen [thủ đô Đan Mạch] để tham dự một cuộc đàm thoại không chính thức. Vài ngày trước chuyến viếng thăm, trong khi đang ở tạm tại Luân-đôn, tôi có bữa ăn trưa với David Bohm và vợ ông ta tại khách sạn mà tôi trú. Do có thông báo với ông ta rằng tôi sẽ tham dự cuộc đối thoại về triết học vật lý và Phật giáo tại học viện Bohr, nên Bohm đã nhiệt tình đem đến cho tôi hai trang tổng kết của chính ngài Bohr về các quan điểm triết học đối với bản chất của thực tại. Thật là tuyệt vời khi nghe Bohm kể về mô hình hành tinh Bohr của nguyên tử và mô hình nguyên tử của Rutherford[37] như là một hạt nhân với các điện tử xoay quanh, cả hai đều nhắm phản ứng lại mô hình “plum pudding” [giống như chè thạch – mận].

Mô hình plum pudding đã hình thành từ cuối thế kỉ 19 sau khi J.J. Thomson[38] phát hiện các điện tử tích điện âm; và mô hình đó cho rằng lượng điện tích dương cân bằng với lượng điện tích âm của các điện tử đã trải đều trong nguyên tử như là chè thạch, trong đó các điện tử là những trái mận. Trong đầu thế kỉ 20, Ernest Rutherford phát hiện ra rằng khi các hạt alpha tích điện dương được bắn vào một lá vàng mỏng, thì hầu hết xuyên qua ngoại trừ một số bị dội lại. Ông ta kết luận một cách đúng đắn là các phần tích điện dương của vàng không thể trải đều trong những nguyên tử như chè thạch mà phải tập trung bên trong trung tâm của chúng: khi hạt alpha va chạm với trung tâm của nguyên tử vàng, phần tích điện dương đủ mạnh để đẩy ngược nó trở lại. Từ đây, Rutherford hệ thống hóa thành mô hình “hệ thống mặt trời” của nguyên tử, với hạt nhân tích điện dương và được xoay quanh bởi các điện tử tích điện âm. Sau đó, Niels Bohr đã điều chỉnh mô hìnhcủa Rutherford bằng mô hình hành tinh của nguyên tử mà điều đó trong nhiều chiều hướng là cha đẻ của cơ học lượng tử.

Trong cuộc đàm thoại, Bohm cũng cho tôi một cái nhìn lướt qua về cuộc tranh luận lâu dài giữa Bohr và Einstein đối với việc diễn giải về vật lý lượng tử. Cốt yếu cuả cuộc bàn cãi xoay quanh việc Einstein phủ nhận giá trị của nguyên lý bất định; trung tâm của tranh luận là vấn đề liệu thực tại ở cấp nền tảng có là không xác định, là không thể dự đoán, và là xác suất hay không. Einstein đã chống lại mạnh mẽ với khả năng này, như là sự phản ánh mệnh đề cảm thán nổi tiếng của ông: “Thượng Đế không chơi trò súc sắc!” Tất cả điều này gợi cho tôi nhớ về lịch sử Phật giáo truyền thống của tôi, trong đó tranh luận giữ vai trò trọng yếu trong sự hình thành và tinh lọc nhiều ý tưởng triết học.

Không như các luận sư Phật giáo thời cổ, các khoa học gia có thể nâng cao năng lực của đôi mắt nhìn một cách to tát thông qua các trang cụ khoa học như các kính thiên văn khổng lồ, thí dụ như kính thiên văn Hubble[39], hay thông qua các kính hiển vi điện tử. Kết quả là một tri thức thực nghiệm về các đối tượng vật chất vượt xa ngay cả sự tưởng tượng trong thời cổ. Trong cái nhìn về khả năng này, trong nhiều dịp, tôi đã nhấn mạnh cho việc nhập môn vật lý cơ sở vào các ngành học của các trường cao đẳng Phật giáo Tây Tạng. Tôi cho rằng chúng tôi, thật ra, sẽ không mở ra bộ môn mới mà đúng hơn chúng tôi sẽ cập nhật chương trình học vốn có. Tôi cảm thấy vui sướng là giờ đây các học viện cao đẳng Phật giáo đã tiến hành thường xuyên các hội thảo về vật lý hiện đại. Những hội thảo này được thực hiện bởi các giáo sư vật lý và một số sinh viên tốt nghiệp của họ tại các đại học Tây Phương. Tôi hy vọng rằng sự khởi động này sẽ cuối cùng đạt kết quả nhập môn đầy đủ của vật lý hiện đại vào trong chương trình triết học bắt buộc trong các tự viện Tây Tạng.

Mặc dù tôi đã nghe nói về lý thuyết tương đối hẹp của Einstein từ lâu, David Bohm lần đầu tiên giải thíchlại kèm theo đó với một số ý tưởng triết học cho tôi. Vì không có căn bản toán học, nên việc giảng dạy cho tôi về vật lý hiện đại, đặc biệt là các đề tài bí hiểm như thuyết tương đối, thực sự không dễ dàng. Khi nghĩ đến sự nhẫn nại của Bohm, giọng nói êm dịu, cử chỉ thanh lịch, và sự cẩn thận, để chắc chắnlà tôi theo kịp được lời giảng của ông, tôi thiệt nhớ ông ta.

Như bất cứ người thường nào đã thử tìm hiểu về lý thuyết này đều biết rằng ngay cả một sự nắm bắt cơ bản về nguyên lý của Einstein đều cần có một mong ước vượt qua các ý tưởng thông thường. Einstein đưa ra hai định đề: vận tốc ánh sáng là không đổi và nguyên lý tương đối của ông, cho rằng mọi định luật vật lý phải tác động chính xác như nhau cho tất cả người quan sát trong chuyển động tương đối. Với hai tiền đề này, Einstein đã các mạng hóa sự hiểu biết khoa học về không và thời gian.

Lý thuyết tương đối của ông ấy cho ta một phương trình nổi tiếng về vật chất và năng lượng, E=mc2, phải thừa nhận là phương trình khoa học duy nhất mà tôi biết (ngày nay chúng ta có thể thấy nó ngay cả trên các áo thun), và nó là nguồn của các thí nghiệm suy tưởng có tính thách đố và giải trí. Nhiều thí nghiệm trong đó, như là nghịch lý trẻ sinh đôi về lý thuyết tương đối hẹp, thời gian giãn nở, hay sự thu nhỏ của các vật thể ở vận tốc cao, giờ đây đã được xác nhận một cách thực nghiệm. Nghịch lý trẻ sinh đôi, trong đó một người anh em bay đi trong một tàu không gian ở vận tốc gần ánh sáng đến một vì sao cho là cách xa 20 năm ánh sáng và sau đó trở về trái đất, ông ta sẽ thấy rằng người anh em song sinh già hơn mình, đã gợi nhớ cho tôi về câu chuyện về ngài Vô Trước[40] bằng cách nào đó đã đến được cõi trời của đức Di Lặc[41], nơi đó ông nhận được 5 bản kinh, là một bộ kinh luận Đại thừa quan trọng của ngài Di Lặc, tất cả xảy ra trong khuôn khổ của thời gian nghỉ uống trà. Nhưng khi ngài trở về trái đất thì 50 năm đã trôi qua.

Việc đánh giá được toàn bộ bản chất của nghịch lý trẻ sinh đôi sẽ dính dáng đến hiểu biết về một số tính toán phức tạp mà tôi e rằng sẽ quá sức tôi[42]. Theo như tôi hiểu thì ý tưởng quan trọng nhất của lý thuyết tương đối của Einstein là quan điểm về không gian, thời gian, và khối lượng không thể được xem như là tuyệt đối, tự tồn tại trong chúng như là những thực thể hay những bản thể trường cửu, không đổi. Không gian thì không độc lập, 3 chiều, và thời gian thì không là một thực thể đứng riêng, đúng hơn chúng tồn tại cùng nhau như là một dòng tương liên 4 chiều của “không-thời gian”. Một cách cô đọng, lý thuyết tương đối hẹp của Einstein bao hàm rằng trong khi vận tốc ánh sáng không đổi, thì không có khuôn khổ tuyệt đối, ưu tiên của sự tham chiếu và mọi vật, kể cả không gian và thời gian là tương đốihoàn toàn. Đây là phát hiện thật đáng ghi nhớ.

Trong thế giới triết học Phật giáo thì quan điểm về thời gian tương đối thì không xa lạ. Trước đây ở thế kỉ thứ hai trường phái Kinh Lượng Bộ[43] đã bài bác quan điểm về thời gian tuyệt đối. Trong việc phân chia tiến trình thời gian thành quá khứ, hiện tại, và tương lai, Kinh Lượng bộ đã biểu thị sự phụ thuộc lẫn nhau của cả ba và luận rằng bất kỳ quan điểm nào về quá khứ, hiện tại, và tương lai [tạm thời] thực sự độc lập đều không thể đứng vững. Họ chỉ ra rằng thời gian không thể được nhận thức như là một thực thể tự tính tồn tại độc lập với các hiện tượng thời gian mà phải được hiểu như là một tập hợp của các quan hệ giữa các hiện tượng thời gian. Ngoài các hiện tượng thời gian mà ta cấu trúc nên khái niệm về thời gian nói trên, không có thời gian thực mà bằng cách nào đó nó là một bình chứa vỹ đại như một sự tuyệt đối tự tồn, mà trong đó các sự vật và hiện tượng xảy đến.

Những luận điểm về tính tương đối của thời gian này, sau đó được ngài Long Thụ phát triển, chủ yếu là trong triết học, nhưng sự thật còn lại là thời gian đã được nhận thức có tính tương đối trong truyền thống triết học Phật giáo gần hai ngàn năm. Mặc dù tôi đã được bảo rằng một số nhà khoa học xem không-thời gian bốn chiều của Einstein như là một bình chứa vỹ đại với tính năng tồn tại tự tính trong đó các hiện tượng xảy ra; đối với một người nghiên cứu Phật giáo quen thuộc với các luận điểm của Thánh giả Long Thụ thì biểu thức của Einstein về tính tương đối của thời gian, đặc biệt thông qua các thí nghiệm suy tưởng nổi tiếng của ông trở nên vô cùng hữu ích trong việc đào sâu hiểu biết về bản chấttương đối của thời gian.

Sự nắm bắt của tôi về thuyết lượng tử, thành thật mà nói, thì chẳng có gì hay ho … mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều! Tôi được nghe về một trong những lý thuyết gia lượng tử vỹ đại nhất, Richard Feynman[44] đã viết “Tôi nghĩ tôi có thể nói một cách an toàn rằng không ai hiểu nổi vật lý lượng tử”, như vậy thì ít nhất tôi cảm thấy mình đồng hội đồng thuyền. Nhưng ngay cả với một người nào đó như tôi đây không thể theo dõi các chi tiết toán học phức tạp của lý thuyết này – thực ra, toán học là mộtlãnh vực của khoa học hiện đại mà dường như tôi không có duyên nghiệp với nó chút nào – thì hiển nhiên là ta không thể nói về các hạt sơ cấp như là các thực thể xác định được, độc lập, hay tương quan loại trừ nhau. Các cấu trúc cơ sở của vật chất và các photon (đó là các vật liệu cơ bản lần lượt của vật chất và của ánh sáng) có thể hoặc có tính hạt hay tính sóng hay có cả hai [lưỡng tính sóng-hạt]. (Sự thật là người đoạt giải Nobel vì đã chỉ ra điện tử có tính sóng George Thomson[45], là con của một người cũng đã nhận giải thưởng này do công chứng tỏ rằng điện tử có tính hạt, tức là J.J. Thomson). Cho dù người ta nhận thức các điện tử cách nào sóng hay hạt thì tôi được nghe rằng thì điều đó phụ thuộc vào hành vi của người quan sát và các lựa chọn dụng cụ thí nghiệm và đo đạc.

Mặc dù đã từ lâu tôi nghe về bản chất mâu thuẫn của ánh sáng, chỉ đến năm 1997 khi mà nhà vật lýthực nghiệm Anton Zeilinger giải thích cho tôi với các minh họa chi tiết – tôi đã cảm thấy cuối cùng thì cũng nắm bắt được vấn đề. Anton chỉ ra cách mà thí nghiệm tự nó xác minh được khi nào một điện tử hành xử như là một hạt hay một sóng. Trong thí nghiệm khe hở đôi nổi tiếng, chùm điện tử được bắn từng đợt qua một tấm chắn có hai khe hở (song song) và được ghi ảnh lên vật liệu như là bề mặt ảnh chụp ở phiá sau của tấm chắn. Nếu chỉ có một khe hở được mở ra, mỗi điện tử sẽ ghi lại dấu vết trên bề mặt ảnh chụp theo kiểu cách của một hạt. Mặc dù vậy, nếu cả hai khe hở được mở ra, khi lượng lớn điện tử được bắn ra thì dấu vết trên bề mặt ảnh chụp cho thấy rằng chúng đã đi qua cả hai khe hở cùng lúc, để lại một dạng tựa như sóng.

Anton đã đem đến dụng cụ có thể lập lại thí nghiệm này trên một kích cỡ nhỏ, và tất cả mọi người tham gia đã thật vui vẻ. Anton thích coi trọng các khía cạnh thực nghiệm của cơ học lượng tử, toàn bộ hiểu biết của ông ta có nền tảng trên những điều mà ta có thể học trực tiếp từ các thí nghiệm. Điều này khác nhiều với cách tiếp cận của David Bohm, người chủ yếu hứng thú trong lý thuyết và ý nghĩa triết học của cơ học lượng tử. Sau này tôi biết thêm là Anton đã và giữ vững lập trường cổ vũ cho điều được gọi là diễn dịch Copenhagen[46] về cơ học lượng tử, trong khi David Bohm lại là người phê phán nó mãnh liệt nhất.

Phải thừa nhận là tôi cũng không biết chắc toàn bộ các ý nghiã triết học và nhận thức về nghịch lý lưỡng tính sóng-hạt có thể là gì. Tôi không gặp trở ngại trong việc chấp nhận ý nghĩa triết học cơ bản mà ở mức nhỏ hơn nguyên tử thì chính ý niệm về thực tại không thể tách rời khỏi các hệ thống đo đạc được dùng bởi người quan sát, và do đó, không thể nói rằng hoàn toàn khách quan. Dầu sao, thì nghịch lýnày cũng dường như nói lên rằng – ngoại trừ người ta đính kèm theo một loại khả năng thu thập thông tin nào đó từ các điện tử – thì ở mức thấp hơn nguyên tử, hai nguyên lý quan trọng nhất của lô-gíc, là luật mâu thuẫn và luật loại trừ trạng thái trung gian, dường như bị vi phạm[47]. Trong một thí nghiệm thông thường, chúng ta sẽ đoán rằng đã ở dạng sóng thì không thể nào là hạt, nhưng ở mức độ lượngtử, ánh sáng thể hiện mâu thuẫn với điều này vì nó hành xử như là cả hai dạng. Tương tự trong thí nghiệm khe hở đôi, có sự thể hiện như một số photon đã đi qua cả hai khe hở đồng thời, do đó vi phạmluật loại trừ trạng thái trung gian, mà được dự đoán là chúng chỉ đi qua hoặc một trong hai khe hở mà thôi.

Vũ trụ trong một nguyên tử (Chương 3)

Ảnh minh họa cho thấy bản chất sóng của ánh sáng qua thí nghiệm khe hở đôi.

Đối với ý nghĩa nhận thức của các kết quả của thí nghiệm khe hở đôi, tôi nghĩ rằng vẫn còn có điều đáng bàn thảo ở đây, nguyên lý bất định nổi tiếng của Heisenberg phát biểu rằng sự đo đạc vị trí của một nguyên tử càng chính xác bao nhiêu thì càng không thể biết rõ được trạng thái moment chuyển động của nó, và ngược lại, càng đo đạc chính xác trạng thái moment của nó thì càng không thể tìm rõ được vị trí của nó. Một lần nữa điều này cho thấy người quan sát có vai trò nền tảng: khi chọn nghiên cứu moment chuyển động của điện tử, thì ta bị loại trừ khỏi việc tìm hiểu vị trí của nó; và khi chọn nghiên cứu vị trí thì lại bị loại trừ việc tìm hiểu moment chuyển động của nó. Vậy người quan sát là một thành phần tham gia một cách hiệu quả trong thực thể đang được quan sát. Tôi nhận ra rằng vấn đề vai trò của người quan sát là một trong những câu hỏi gai góc nhất của cơ học lượng tử. Quả vậy, tại hội nghị Mind and Life trong năm 1997, nhiều thành viên khoa học có những quan điểm mang sắc thái khác nhau. Một số cho rằng vai trò của người quan sát giới hạn trong việc lựa chọn các thiết bị đo đạc, trong khi số khác chấp nhận tầm quan trọng to tát của người quan sát như là một thành tố cấu trúc trong thực thể được quan sát.

Vấn đề này từ lâu đã được chú ý bàn thảo trong hệ tư tuởng Phật giáo. Một thái cực là những nhà “duy vật”[48] Phật giáo là những người tin rằng thế giới vật chất được hợp thành bởi các hạt tử bất khả phân mà chúng có một thực tại khách quan độc lập với tâm thức. Thái cực khác là những nhà “duy tâm”, được gọi là trường phái Duy Thức[49], họ bác bỏ bất kỳ mức độ nào của thực tại khách quan trong thế giới bên ngoài. Trong phân tích cuối cùng, họ nhận thức thế giới vật chất bên ngoài là một sự mở rộngcủa tâm thức quán tưởng. Tuy nhiên, có một quan điểm thứ ba, là lập trường của trường phái Trung Quán Cụ Duyên[50], được kính trọng nhất bởi truyền thống Tây Tạng. Theo quan điểm này, thì mặc dù thực tại của thế giới bên ngoài thì không bị bác bỏ, nó phải được hiểu với tính tương đối. Nó còn tùy thuộc vào ngôn ngữ của chúng ta, vào tập quán xã hội, và các nhận thức được chia sẻ chung. Ý niệmvề thực tại độc lập với người quan sát thì không thể đứng vững. Như trong vật lý hiện nay, vật chấtkhông thể được nhận thức hay được mô tả tách rời khỏi người quan sát – vật chất và tâm thức là hai thành phần phụ thuộc nhau.

Sự thừa nhận bản chất phụ thuộc một cách nền tảng của thực tại trong Phật giáo được gọi là “duyên khởi” – là tâm điểm của hiểu biết Phật giáo về thế giới và về bản chất sự tồn tại của con người chúng ta. Một cách tinh yếu, nguyên lý duyên khởi có thể hiểu được theo ba cách sau đây. Thứ nhất, tất cả các sự vật và hiện tượng duyên sinh [pháp hữu vi] đều chỉ được hình thành như là kết quả sự tượng tác của các nguyên nhân [nhân] và các điều kiện [duyên] chúng không tự hình thành, hay được tạo ra hoàn bị. Thứ nhì, có một sự phụ thuộc tương hỗ giữa các thành phần và toàn thể; thiếu các thành phầnthì không thể có toàn thể, không có toàn thể thì nói về các thành phần là điều vô nghĩa. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần và toàn thể này áp dụng trong cả khuôn khổ về không gian và thời gian. Vật bất kỳ chỉ tồn tại và là một tập hợp của các đặc trưng[51] bên trong mạng lưới tổng thể của mọi vậtmà chúng có một mối quan hệ tiềm năng hay khả dĩ với vật đó. Không có hiện tượng nào tồn tại với tập hợp đặc thù độc lập hay tự tính của mình.

Và thế giới thì được tạo thành bởi mạng lưới phức tạp của các mối quan hệ lẫn nhau. Ta không thể nói về một thực tại của một thực thể cách biệt bên ngoài nội dung của chuỗi các mối quan hệ lẫn nhau của nó với môi trường và các hiện tượng khác, kể cả ngôn ngữ, các khái niệm, và các tập quán khác. Do đó, không thể có các chủ thể mà không có các đối tượng mà bởi đó chúng được định nghĩa; không thể có các đối tượng mà không có các chủ thể để nhận thức chúng; không thể có những người làm mà không có các sự vật được làm [tức các đối tượng của việc làm]. Không thể có các chiếc ghế mà không có các chân, chỗ để ngồi, lưng ghế, gỗ, các đinh ốc, nền mà trên đó nó đặt lên, các bức tường để xác định gian phòng mà nó nằm bên trong, những người chế tạo ra nó, và những cá nhân nào đã đồng ý để gọi tên nó là ghế và công nhận nó là vật để ngồi lên. Theo nguyên lý này thì các sự vật và hiện tượngkhông chỉ hoàn toàn tương thuộc mà mỗi một đặc trưng của chúng đều phụ thuộc một cách xuyên suốt vào những sự vật và hiện tượng khác.

Trong vật lý, bản chất phụ thuộc sâu xa của thực tại đã được nhấn mạnh sắc bén bởi nghịch lý được gọi là EPR – là tên gợi ý bởi những người tạo ra nó, Albert Einstein, Boris Podolsky, và Nathan Rosen[52] – nguyên, nó được tạo thành để thử thách cơ học lượng tử. Giả sử một cặp hạt sơ cấp được tạo thành và sau đó bị tách rời, chuyển động ra xa theo hai hướng ngược nhau – cho là đến những vị trí cách nhaurất xa, chẳng hạn Dharamsala, nơi tôi sống và New York. Một trong những thuộc tính của cặp hạt này là spin[53] [sự quay] của chúng phải ngược nhau – tức là nếu một hạt đo được chiều hướng “lên” thì hạt kia sẽ có chiều “xuống”. Theo cơ học lượng tử thì mối tương quan của sự đo lường (chẳng hạn khi một hạt spin lên thì hạt kia spin xuống) phải tồn tại ngay cả khi các thuộc tính của từng hạt chưa được xác định cho đến khi những người làm thí nghiệm tiến hành đo kiểm một trong các hạt, thí dụ như hạt tại New York. Tại thời điểm đó một người ở New York sẽ thu được một giá trị – giả sử là lên – trong trường hợp này thì hạt kia phải đồng thời trở thành xuống. Những sự xác định của lên và xuống là tức thì, ngay cả đối với hạt ở Dharamsala, chưa hề được đo kiểm. Bất chấp sự phân cách giữa chúng, hai hạt này trình hiện như là một thực thể quấn quít nhau. Theo cơ học lượng tử, dường như có một sự nối kết lẫn nhau sâu sắc và đáng ngạc nhiên trong trọng tâm của môn vật lý này.

Tại một buổi diễn thuyết công cộng ở Đức, tôi đã gây được sự chú ý lớn trong giới khoa học gia nghiêmtúc khi nói đến tuệ giác về thế giới của các truyền thống thiền định. Tôi đã nói về nền tảng gặp gỡ giữatruyền thống Phật giáo của chính tôi và khoa học hiện đại – đặc biệt là trong các luận điểm của Phật giáo về tính tương đối của thời gian và bác bỏ chủ trương thực tính[54]. Sau đó tôi nhận thấy von Weizsäcker trong các thính giả, và khi nói đến món nợ tôi mang đối với ông ta bởi một ít hiểu biết về vật lý lượng tử thì Weizsäcker lịch sự rào đón rằng nếu vị thầy của ông ấy là Werner Heisenberg có mặt ở đó, thì ông ấy sẽ rất hứng khởi khi được nghe về sự song song cộng hưởng giữa triết học Phật giáo và sự thấu suốt khoa học của ông ấy.

Một loạt các vấn đề quan trọng khác trong cơ học lượng tử quan tâm đến câu hỏi về sự đo kiểm. Tóm lại, tôi thấy thật ra toàn bộ lãnh vực nghiên cứu đều dành cho điều này. Nhiều khoa học gia cho rằng hành vi đo kiểm gây ra sự “sụp đổ” của một trong hai tính năng sóng hay hạt của hạt sơ cấp , tùy thuộcvào hệ thống đo kiểm được sử dụng trong thí nghiệm; chỉ có sự đo kiểm này có tiềm năng làm điều đó xảy ra. Nhưng ta sống trong thế giới của các đối tượng thường ngày. Vậy nên câu hỏi là: Làm thế nào từ quan điểm của vật lý, chúng ta dung hợp được giữa một bên là các ý niệm thông thường về thế giớithường ngày của các đối tượng và các đặc tính của chúng, với phía bên kia là thế giới kỳ lạ của cơ học lượng tử? Có thể nào cả hai tầm nhìn này dung hợp được với nhau? Phải chăng ta bị tuyên án là không thích nghi để sống với điều dường như là một quan điểm phân liệt về thế giới?

Trong hai ngày tu học về các vấn đề nhận thức luận có liên quan đến nền tảng của cơ học lượng tử và triết học Trung đạo Phật giáo tại Innsbruck, nơi mà tôi, Anton Zeilinger và Arthur Zajone gặp gỡ để đối thoại, thì Anton đã nói với tôi về một đồng nghiệp nổi tiếng của ông ta đã có lần nhận xét rằng hầu hết các nhà vật lý lượng tử liên hệ đến lãnh vực của họ trong một kiểu cách phân liệt. Khi ở trong phòng thí nghiệm, họ và đùa nghịch với các đồ vật, họ là những người duy vật. Họ nói về các photon và các điện tử dịch chuyển đây đó. Mặc dù vậy, ở thời điểm mà bạn chuyển sang bàn thảo về triết học và hỏi họ về nền tảng cơ học lượng tử, thì hầu hết họ sẽ nói rằng không có gì thực sự tồn tại nếu không có thiết bị để định nghĩa chúng.

Một số nghi vấn tương tự đã xuất hiện trong triết học Phật giáo liên hệ đến sự phân cực giữa quan điểmthông thường của chúng ta về thế giới và tầm nhìn được gợi lên bởi triết lý của ngài Long Thụ về tính Không. Thánh giả Long Thụ viện dẫn quan điểm về hai chân lý [nhị đế] bao hàm tục đế [thông thường] và chân đế [tối hậu], tương ứng với kinh nghiệm về thế giới thường ngày, và sự vật và hiện tượng trong dạng thức tối hậu, tức là ở mức độ của tính Không. Trong mức độ thông thường, ta có thể nói về một thế giới đa nguyên của sự vật và hiện tượng với các đặc trưng riêng biệt và tiến trình nguyên nhân. Đây là giới mà ta có thể trông đợi luật nhân quả, và các luật về lô-gic – như là các nguyên lý xác định, mâu thuẫn, và luật loại trừ trung gian – tác động mà không có sự vi phạm. Thế giới kinh nghiệm thực nghiệm thì không phải là một ảo tưởng, cũng không phải không thật. Nó là thật mà trong đó ta thể nghiệm. Một hạt lúa có sản sinh thành cây lúa, mà nó cuối cùng hình thành lúa chín hạt. Sử dụng độc tố có thể gây tử vong, và tương tự dùng thuốc có thể chữa được bệnh. Mặc dù vậy, trong tầm nhìn của chân đế, sự vật và hiện tượng không chiếm hữu các thực tại độc lập riêng biệt. Thể trạng tối hậu của chúng là “thiếu vắng” trong đó không có gì chiếm hữu bất kỳ một bản chất thực tính hay tự tính.

Tôi có thể hình dung điều tương tự với nguyên lý nhị đế này khi áp dụng vào của vật lý. Chẳng hạn, ta có thể nói rằng mô hình Newton là một áp dụng cho thế giới thông thường như là chúng ta biết về nó, trong khi thuyết tương đối Einstein – cơ bản dựa trên những giả định khác về gốc rễ – điển hình cho việc cộng thêm vào mô hình xuất sắc của một phạm vi nội hàm khác biệt hay lớn hơn. Mô hình Einstein mô tả các khía cạnh của thực tại trong trường hợp mà các trạng thái chuyển động tương đối là thiết yếu nhưng không thực sự ảnh hưởng đến hình ảnh thông thường của chúng ta trong hầu hết các tình huống. Tương tự, các mô hình vật lý lượng tử về thực tại thể hiện các hoạt động trong một nội hàm khác – hầu như “suy diễn” thực tại của các hạt sơ cấp, đặc biệt trong thế giới vi mô. Mỗi một trong các mô hình trên đều vượt trội trong lãnh vực của mình và trong các mục tiêu mà nó được thiết kế, nhưng nếu chúng ta tin vào một mô hình bất kỳ nào trong chúng là được cấu trúc bởi các sự vật thực sự tự tínhthì chúng ta lọt vào tầm mức của sự thất vọng.

Tôi thấy rằng thật hữu ích khi quán chiếu lên một sự phân biệt quan trọng được miêu tả bởi ngài Nguyệt Xứng[55] (thế kỉ thứ 7) trong mối quan hệ giữa các nội hàm của luận đàm về tục đế và chân đế của sự vật. Nguyệt Xứng luận rằng, khi hệ thống hóa hiểu biết về thực tại, người ta phải nhạy cảm với nội dung và các tham biến của một phương thức truy cứu đặc thù. Chẳng hạn, ngài cho rằng sự bác bỏ các đặc trưng, nhân quả, và nguồn gốc riêng biệt trong thế giới thường ngày, như một số luận giả về triết họctính Không đã nêu lên, sẽ thiết lập nên một sai lầm có tính phương pháp.

Trên mức độ thông thường, ta luôn nhìn thấy nguyên nhân và hậu quả. Khi cố tìm xem ai có lỗi trong một tai nạn, thì ta lại không đào sâu nghiên cứu vào bản chất của thực tại, nơi mà dòng tương tục vô tận của các sự kiện khiến cho tai nạn đó không thể nào có chỗ để quy lỗi. Khi ta chấp thuận những đặc tính như thế như là các nhân và quả trong thế giới thực nghiệm, ta đã không làm việc trên cơ sở của một phân tích siêu hình điều tra đến tận trạng thái bản thể tối hậu của các sự vật và các tính chất của chúng. Ta chỉ làm nội trong giới hạn của tập quán, ngôn ngữ, và lập luận thường ngày. Ngược lại, Nguyệt Xứng luận rằng các định đề siêu hình của các trường phái triết học, như là khái niệm về Thượng Đế hay linh hồn vĩnh cửu có thể bị bác bỏ thông qua phân tích về trạng thái bản thể tối hậu của chúng. Điều này có được là vì những thực thể này được đặt trên cơ sở của một sự tìm hiểu vào cơ chế tối hậu về sự có mặt của sự vật.

Một cách tinh yếu, Long Thụ và Nguyệt Xứng đề xuất rằng: Khi liên hệ đến thế giới thực nghiệm của kinh nghiệm, chừng nào chúng ta vẫn không khoác lên các sự vật tính tồn tại tự tính độc lập, thì cácquan điểm về nhân quả, đặc trưng, và phân biệt cũng như là các nguyên lý của lô-gíc sẽ vẫn còn đứng vững. Dẫu sao thì hiệu lực của chúng bị giới hạn trong một khuôn khổ tương đối của tục đế[56]. Việc tìm kiếm đến các ý niệm nền tảng như là đặc trưng, sự tồn tại, và nhân quả trong một sự tồn tại độc lậpkhách quan thì sẽ vượt quá biên giới của lô-gíc, ngôn ngữ, và thường tục. Ta không nhất thiết phải mặc nhiên chấp nhận sự tồn tại độc lập khách quan của sự vật, bởi vì chúng ta có thể nhận thức được thực tại không xác định riêng lẻ, thiết thực của các sự vật và hiện tượng – thực tại đó không chỉ xác lập các chức năng thường ngày mà ngay cả cung cấp một cơ sở vững chắc cho các hành vi tinh thần và đạo đức. Thế giới theo triết học tính Không, được cấu hình bởi một mạng lưới của những thực tại có nguồn gốc phụ thuộc và liên hệ lẫn nhau, trong đó, nguồn gốc phụ thuộc tạo nên sự hình thành các hậu quả có nguồn gốc phụ thuộc tương ứng theo luật duyên khởi về nhân quả. Những gì ta làm và suy nghĩ trong các kiếp sống, sau đó, trở nên cực kỳ quan trọng khi nó ảnh hưởng đến mọi thứ mà ta kết nối tới.

Bản chất nghịch lý của thực tại biểu lộ trong cả triết học Phật giáo về tính Không và vật lý hiện đại điển hình cho một thách thức đối với các giới hạn hiểu biết của con người. Cốt lõi của vấn đề là ở tri thức luận: Làm thế nào ta định danh hoá và hiểu biết thực tại một cách mạch lạc? Các luận sư Phật giáo về tính Không không những đã phát triển một hiểu biết toàn vẹn về thế giới dựa trên việc loại bỏ sự cuốn hút tận thâm căn xem thực tại như là sự kết thành của các thực thể khách quan chân thật một cách tự tính, mà họ cũng phấn đấu để nuôi sống các tuệ giác này trong đời sống thường nhật của mình. Giải pháp Phật giáo cho điều có vẻ như là mâu thuẫn về tri thức luận này bao gồm việc hiểu biết thực tạitrong các nội dung về thuyết lý của Nhị Đế. Khoa vật lý cần phát triển một ngành tri thức học nhằm giúp giải quyết hố sâu ngăn cách có vẻ như không thể bắt được nhịp cầu nối giữa bản vẽ của thực tại trong thế giới vật lý cổ điển và kinh nghiệm thường ngày với bản vẽ đối chiếu của họ trong vật lý lượng tử. Điều áp dụng của nhị đế trong vật lý ra sao, thì tôi thật không có ý kiến. Ở tận gốc rễ, vấn đề triết họcmà vật lý đang đối đầu do sự đánh thức của vật lý lượng tử chính là quan điểm về thực tại – được định nghĩa trong nội dung của các cấu trúc thực một cách cốt lõi – liệu [quan điểm đó] có đứng vững được hay không? Điều mà triết học Phật giáo về tính Không có thể dâng hiến là một mô hình chặt chẽ của việc hiểu biết về thực tại, đó là đặc tính phi bản thể. Điều này có thể chứng tỏ lợi ích hay không thì chỉ có thời gian mới trả lời được.

[1] Tadrak Rinpoche Ngawang Sungrab (wyl. stag brag rin po che ngag dbang gsung rab) (1875 – ??) là người thái sư của đức Dalai Lama. Ông làm nhiếp chánh tại Tây Tạng năm 1941, rời chức vụ năm 1950.

Kyabje Ling Rinpoche (1903-1983) là người thái sư thứ nhì cho đức Dalai Lama 14. Ngài là người giữ ngôi truyền thừa thứ 97 kể từ sơ tổ Tsongkhapa (Tông-khách-ba) của phái Gelug (Cụ Duyên) Phật giáo Tây Tạng. “HH Ling Rinpoche’s Biography”. Lama Yeshe Wisdom Archive. Truy cập 17/02/2009.

<http://www.lamayeshe.com/otherteachers/ling/bio.shtml>
Chữ Rinpoche trong Tạng ngữ có nghĩa là “một người cao quý”. Đây là một danh hiệu thường chỉ dành cho những lạt-ma (đại sư) tái sinh và những người được công nhận bởi một quyền chính chức trong một dòng truyền thừa Phật giáo TâyTạng.)

[2] Kyabje Trjang Rinpoche (1900-1981) là một vị lạt-ma của dòng Gelug người từng giữ nhiều vai tròquan trọng trong trường phái Gelug và là người chịu trách nhiệm soạn thảo pháp môn tiệm tu Lamrim cổ điển “Giải Thoát trong Lòng Bàn Tay”. “Trijang Rinpoche”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Trijang_Rinpoche>

[3] Thái sư: là một chức vụ thầy giáo riêng của vua hay quốc trưởng. Đức Dalai Lama lúc bấy giờ được tấn phong lãnh đạo nước Tây Tạng (ngài lên ngai năm 1940)

[4] Nhiều sách dịch chữ “logic” theo lối phiên âm là lô-gíc. Ở đây nghĩa Việt hóa có thể dịch là luận lý, lập luận, (hay hợp lý nếu là tính từ). Bộ môn toán học nghiên cứu các lập luận hợp lý gọi là luận lý học hay lô-gíc học.

[5] Chiết trung là một quan điểm nhằm pha trộn nhiều khía cạnh tích cực khác nhau của các triết lý.

[6] Samkhya (sa. Sāṃkhya) Ra đời vào khoảng thế kỉ thứ 3 do công của triết gia Maharishi Kapila. Có tác giả dịch là phái số luận có chủ trương hữu thần và “tâm (Purusha ) vật (Prakriti ) nhị nguyên” tức là công nhận có một bản ngã độc lập với thế giới vật chất và chúng thường hằng; tuy nhiên, họ cũng chấp nhận ý tưởng về luật nhân quả. “Samkhya”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Samkhya>

Xin nhắc thêm triết học cổ Ấn độ ngoài Phật giáo ra, còn có sáu nguồn triết lý chính là: Upanishad, Vedanta, Mimansa, Nyaya, Vaisesika và Samkhya. Xem thêm <http://doanket.multiply.com/journal/item/687> phần 5.3 Các triết thuyết Vệ Đà chính thống.

[7] Vaisheshika (sa. Vaiśeṣika) Có tác giả dịch là phái Thắng Luận, xuất phát từ triết gia Kaṇāda vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên. Là một trong 6 trường phái triết học quan trọng cổ Ấn Độ ngoài Phật giáo. Phái này theo chủ trương nguyên tử cho rằng tất cả các vật thể trong vũ trụ vật lý đều có thể quy giảm về một số hữu hạn các nguyên tử. Ngoài ra, theo phái này thì mọi vật tồn tại đều có thể nhận biết được và là đối tượng của nhận thức. Tất cả các đối tượng của nhận thức đều có thể chia thành 6 lớp: dravya (thực chất), guṇa (phẩm chất), karma (hành vi), sāmānya (tính tổng quát), viśeṣa (tính đặc thù) “Vaisheshika”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Vaisheshika>

[8] Geshe (Tib. dge shes, “virtuous friend”; cognate of Skt. kalyanamitra) là học vị của Phật giáo Tây Tạng dành cho các tăng sĩ. Học vị này được nhấn mạnh chủ yếu trong truyền thừa Gelug. Học vị này được nhiều tác giả Tây Phương cho là tương đương với học vị tiến sĩ. Chương trình đào tạo sẽ bao gồm 6 bộ môn chính trải rộng hầu hết các thuyết lý cơ bản của Phật học: Trí huệ Ba-la-mật (Prajraparamita), Trung Quán (Madhyamika), Nhân Minh Luận (Pramana), Giới Luật (Vinaya) và Vi Diệu Pháp luận (Abhidharma). Chương trình học có thể kéo dài nhiều trong thập niên. Sau khi hoàn tất thí sinh sẽ phải đợi đến kỳ khảo hạch geshe. Trong thời gian chờ đợi thí sinh sẽ có thể tiếp tục rèn luyện về khả năng biện luận Phật giáo. “Geshe”. Central Tibet Administrator. Truy cập 2009

<http://www.tibet.com/buddhism/geshe.html>.

[9] Tuệ giác: là trực giác đặc biệt thấu suốt. Trong Phật giáo thì tuệ có thể có được thông qua luyện tập thiền định đúng đắn.

[10] Tính Không (sa. śūnya, tính từ, sa. śūnyatā, danh từ, bo. stong pa nyid) có nghĩa là thiếu vắng. Đây là khái niệm tối quan trọng và rất trừu tượng trong Phật giáo. Tính Không đã được nhắc đến trong các kinh điển thời đạo Phật nguyên thủy cho rằng mọi sự vật là tạm hợp trống rỗng vô thường và vô ngã. Sau này tính Không đuợc khai triển rộng trong các bộ kinh Bát Nhã của Đại thừa và được Thánh giả Long Thụ và các đệ tử nhấn mạnh diễn giải chi tiết hơn làm nền tảng cho giáo thuyết Trung Quán. Tuỳ theo truyền thống tu học, cách hiểu về tính Không có thể sai biệt ít nhiều cũng như phương pháp để tu chứng và thể nghiệm tính Không này cũng rất khác nhau. Ở đây có thể hiểu tính Không là đặc tínhphổ quát mà mọi sự vật kể cả tâm thức hay vật chất đều thiếu vắng đi một bản chất (hay đặc tính) tự tồn, vĩnh cữu. Vạn vật đều tồn tại một cách phụ thuộc vào nhân duyên và đều tồn tại chỉ do danh định. Xin xem thêm định nghiã và giảng giải sâu hơn về tính Không trong quyển “Tứ Diệu Đế” của cùng tác giả.

[11] Từ chữ “entirely self-contained”: Có nghĩa là sự vật hay hiện tượng mà tất cả các tương tác và hoạt động của nó sẽ tự đóng khung bên trong chính bản thân nó và không chuyển bất kỳ thông tin nào ra ngoài, tự tồn tại mà không tương tác với bên ngoài. Do đó, ngược lại, tất cả các sự vật bên ngoài không thể nào tương tác hay trao đổi thông tin với hiện tượng hay sự vật như thế và do đó không thể phát hiện được và cũng không thể bị/chịu các hiện tượng và vật thể này tác động ngược lại. (đọc thêm chi tiết bài giảng Anh và Tạng ngữ “Praise of Depended Origination” (Xưng Tụng Duyên Khởi) tại San Francisco Hoa Kỳ tháng 4 năm 2007 của đức Dalai Lama , tải về máy tại trang

<http://www.dalailamabay2007.com/>). Dalai Lama in the Bay area 2007. Truy cập 15/01/2010)

Một số điểm có thể liên hệ đến đề tài gần tương tự khi xem xét vấn đề nóng bỏng của vật lý thiên vănhiện đại là “liệu thông tin từ bên trong hố đen sẽ có thể phát hiện hay thoát ra để có thể thu được bằng các đo đạc vật lý hay không?”

[12] Nhân (nguyên nhân) và quả (hậu quả) là hai phạm trù thành phần quan trọng trong thuyết duyên khởi Phật giáo, một chủ thuyết được xem là định luật bao trùm của toàn thể thế giới hiện tượng và là nền tảng của triết lý Phật giáo. Một cách ngắn gọn thì thuyết này cho rằng mọi sự kiện và hiện tượng(hậu quả) khởi lên (hình thành) đều là do sự tổng hợp của các nguyên nhân và các điều kiện thích hợp(duyên) với hậu quả đó. Xem thêm “Tứ Diệu Đế” của cùng tác giả và “Pháp Duyên Khởi”. BuddhaSasana. Mahàsi Sayadaw. Thích Minh Huệ dịch.

<http://buddhanet.net/budsas/uni/u-phapduyenkhoi/duyenkhoi-00.htm> .

[13] Thuật ngữ Tự tính được dịch từ các chữ có gốc inherent hay intrinsic — tức là bản chất thực hay bẩm tính cốt lõi sẵn có từ bên trong.

[14] Đây ý chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni: Siddhārtha Gautama (Sa, Siddhattha Gotama) còn gọi là Phật Cồ-đàm tức là người đầu tiên giác ngộ và truyền bá tư tưởng Phật giáo cho nhân loại. Nhiều người cho rằng Ngài sinh ra vào 563 và mất 483 trước Tây lịch. “Gautama_Buddha”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Gautama_Buddha>.

[15] Long Thụ (sa. nāgārjuna, bo. klu sgrub), dịch âm là Na-già-át-thụ-na, thế kỷ 1-2, là một trong những luận sư vỹ đại nhất của lịch sử Phật giáo -sau đức Phật. Người ta xem sự xuất hiện của Sư là lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật giáo (lần thứ nhất do Phật Thích-ca Mâu-ni, lần thứ ba là sự xuất hiện của giáo pháp Đát-đặc-la). Đại thừa Ấn Độ xếp Sư vào “Sáu Bảo Trang của Ấn Độ” – năm vị khác là Thánh Thiên (sa. āryadeva), Vô Trước (sa. asaṅga), Thế Thân (sa. vasubandhu), Trần-na (sa. diṅnāga, dignāga), Pháp Xứng (sa. dharmakīrti). Sư là người sáng lập Trung quán tông (sa. mādhyamika), sống trong thế kỉ thứ 1–2. Ngài viết nhiều tác phẩm trong đó quan trọng nhất là Căn BảnTrung Quán Luận và Bảo Hành Vương Chính Luận. Sư cũng được xem là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ. “Long thụ”. Wikipedia. 17/02/2009

<http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_Th%E1%BB%A5>.

[16] Madhyamaka (Madhyamaka, còn gọi là Śunyavada) là một truyền thống Đại thừa Phật giáo được hệ thống hoá bởi thánh giả Long thụ theo đó quan điểm về tính Không được nhấn mạnh. Được gọi là Trung Đạo vì nó tránh được chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thường hằng về cả vật chất và tâm thức. “Madhyamaka“. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Madhyamaka>

[17] Tulku Nyima Gyaltsen Rinpoche (1942 -) tại địa phận Tromtha vùng Kham Tây Tạng. Ngài được xem là vị lạt ma tái sinh của vị đại sư vỹ đại thuộc dòng truyền thừa Sakya và Nyingma. Ngài là người lãnh đạo tối cao của nhiều tự viện ở Tây Tạng kể từ năm 1985 và giảng dạy tại nhiều đại học Tây Tạngvà Hoa Kỳ. “Tulku Nyima’s Biography”. Sakya Dokho Choling. Truy cập 14/01/2010.

<http://www.sakyadokhocholing.org/Tulku_Nyima_s_Biography.html>.

[18] Nguyên lý bất định do nhà vật lý người Đức là Werner Heisenberg (1901-1976 — Nobel vật lý1932) đề xuất trong lúc nỗ lực đặt nền móng toán học cho cơ học lượng tử tại học viện Niels Bohr Copenhagen (Đan Mạch) vào năm 1925. Ở đây nên hiểu trạng thái chuyển động có nghĩa là momentum. Xem bài viết GS Trịnh Xuân Thuận “Nguyên lý bất định trong cơ học lượng tử”. Vietsciences. Truy cập 17/02/2009

<http://vietsciences.free.fr/giaokhoa/vatly/thienvan/gstrinhxuanthuan/nguyenlybatdinhheisenberg.htm>.

[19] Chồng chập lượng tử hay còn gọi là chồng chất lượng tử, xếp lớp lượng tử (quantum superposition) là cách dùng lý thuyết xác suất thống kê trên trường số phức để mô tả mọi trạng thái có thể của hiện tượng vật lý và có thể hiểu một cách sơ lược như sau: nếu một thế giới có thể ở trong một cấu hình bất kỳ, ở trong một sự sắp xếp khả dĩ của các hạt và các trường vật lý bất kỳ, và nếu thế giới này cũng có thể ở trong một cấu hình khác thì thế giới đó có thể ở trong một trạng thái là tổ hợp tuyến tính của cả hai cấu hình trong đó thành lượng (hệ số) của mỗi cấu hình được xác định là một số phức. Thí dụ, một hạt vật lý có thể có hai vị trí A và B, thì nó có thể ở trong một trạng thái C có dạng tổ hợp C = αA + βB; trong đó, α và β là hai số phức bất kỳ. “Quantum_superposition”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_superposition>.

[20] Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger (1887 – 1961 — Nobel Vật lý 1933) là một nhà vật lý lượng tử người Áo, đóng góp đặc biệt của ông là phương trình mang tên ông mô tả trạng thái lượng tử về sự thay đổi của một hệ thống vật lý theo thời gian. Thí nghiệm suy tưởng về chú mèo mà ông mô tảcòn được gọi là nghịch lý chú mèo Schrödinger. Tuy nhiên, điều nên lưu ý là các ý tưởng lượng tử hiện chỉ áp dụng cho thế giới vi mô ở mức lượng tử chứ không phải cho sinh giới hay vỹ mô. “Schrödinger’s cat”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Schr%C3%B6dinger’s_cat>.

[21] Tên viết thông dụng là Raja Ramanna  (1925 -), GS vật lý hạt nhân và nhạc sĩ dương cầm người Ấn. Ông được xem là cha đẻ của vật lý hạt nhân Ấn. Ông cũng từng là bộ trưởng quốc phòng cũng như là nghị viên quốc hội Ấn. “Raja Ramanna – India’s Most Eminent Nuclear Physicist”. Vigyan Prasar Science Portal. Subodh Mahanti. Truy cập 15/01/2010

<http://www.vigyanprasar.gov.in/scientists/RRamanna.htm>.

[22] Andrei Dmitrievich Sakharov (Russian:Андре́й Дми́триевич Са́харов) (1921 -1989 — Nobel hoà bình 1975) nhà vật lý hạt nhân xuất sắc người Nga và sau đó là nhà hoạt động cho nhân quyền, viện sĩ viện hàn lâm Sô Viết đã có đóng góp lớn trong việc chế tạo bom tổng hợp hạch nhân từ Hydrogen. “Andrei Sakharov”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Andrei_Dmitrievich_Sakharov>

[23] Nicolaus Copernicus (1473 – 1543) là một nhà thiên văn học đã đầu tiên nêu ra ý tưởng của thuyết nhật tâm (Mặt Trời ở trung tâm) trong cuốn sách “De revolutionibus orbium coelestium” (Về sự chuyển động quay của các thiên thể ). Việc ra đời của thuyết nhật tâm đã cho thấy các quan sát biểu kiến suông không thể được xem là chân lý và chính thuyết này đã đi ngược lại tin tưởng của truyền thống tôn giáo lúc bấy giờ (thiên chúa giáo) cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. “Nicolaus Copernicus”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

< http://en.wikipedia.org/wiki/Nicolaus_Copernicus>

[24] James Clerk Maxwell (1831 – 18790 là nhà toán học và vật lý lý thuyết. Ông là người đã phát triểnlý thuyết điện từ trường tổng hợp các quan sát thí nghiệm rời rạc về điện từ và ngay cả ánh sáng vào trong một lý thuyết trường điện từ. “James Clerk Maxwell” Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/James_Clerk_Maxwell>

[25] Sắc hương vị xúc tương ứng lần lượt là các cơ quan cảm thụ mắt, mũi, lưỡi, và thân thể.

[26] Thuật ngữ chính xác hơn trong Phật giáo gọi là Uẩn: Có 5 uẩn (ngũ uẩn) cũng gọi là Ngũ ấm, là năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không thể tìm thấy cái gọi là “ta”. Ngũ uẩn bao gồm:

1. Sắc (sa., pi. rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn), do Tứ đại chủng (sa., pi. mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng.

2. Thụ (sa., pi. vedanā), tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

3. Tưởng (sa. saṃjñā, pi. saññā), là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…, kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.

4. Hành (sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác…

5. Thức (sa. vijñāna, pi. viññāṇa), bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

[27] Tì-bà-sa Luận (Vaibhashika) là một trong những trường phái Phật giáo cổ nhất . Tôn chỉ chính của phái này cho rằng “một niệm” (mental concept — ý tưởng) chỉ có thể được tạo thành bởi tương tác giữa tâm, thông qua các các cơ quan nhận thức gọi là các uẩn (bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, và thức) và các đối tượng bên ngoài. “Vaibhashika”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

 <http://en.wikipedia.org/wiki/Vaibhashika>.

[28] Nyāya (sa. nyāya (ni-āyá)) nghĩa là “hồi quy”, được dùng trong ý nghĩa “tam đoạn luận, suy diễn”. Còn được phiên âm là phái Ni-dạ-da. Đây một trong 6 trường phái triết học chính thời cổ Ấn, trường phái này đặc biệt về lập luận. Kinh điển chính của trường phái này dựa trên các bản kinh cùng tên được viết bởi triết gia Akṣapāda Gautama vào thế kỉ thứ 2 trước Tây lịch. “Nyaya”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Nyaya>
Xin nhắc thêm ở đây, tam đọan luận là phương pháp lập luận cơ bản được sử dụng rộng rãi trong cả Phật học lẫn khoa học, dạng đơn giản nhất của nó có thể được hiểu qua thí dụ: (1) Mọi phần tử của A đều có chất X, b là phần tử của A, kết luận b có tính chất X.

[29] Mīmāṃsā còn được phiên âm là Di-mạn-sai, có nghiã là “truy cứu” là một trong 6 trường phái triết học cổ Ấn chủ yếu dùng phương pháp thẩm tra để tìm đến bản chất của Pháp dựa trên chủ trương diễn dịch hay chú giải hệ thống Vệ-đà. Các tôn chỉ chính là việc cầu kinh, chống chủ trương khổ hạnh, và chủ trương thần bí. “Mimamsa”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Mimamsa>.

Aidvaidavadanta Trong Anh ngữ thường được viết tách ra là Advaita Vedanta (Advaita Vedānta) là bộ phận của trường phái mang tên Vedānta (có nghĩa là cứu cánh của Vệ Đà) Đây được xem là triết lý độc thần xác định cá nhân là một tiểu ngã và Phạm thiên tức là đại ngã. Các kinh điển chính là Upanishad, Bhagavad Gita và Brahma Sutra. Người đầu tiên hệ thống hóa rõ rệt các nguyên lý của phái Advaita Vedanta là Adi Shankara. “Advaita Vedanta”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://vi.wikipedia.org/wiki/Advaita_Vedanta>.

[30] Dharmaśrī còn được dịch là Pháp Thắng hay phiên âm thành Đạt-ma-thi-la , một đại sư Phật giáoẤn một trong hai tác phẩm của ngài đã được dịch sang Hán ngữ là bộ 4 quyển là A-ti-đàm Tâm Luậncòn bộ kia nguyên văn Anh ngữ là “Greate Treaties on Instantiation” được dịch thành Đại-tì-bà-sa luận(từ chữ Abhidharma-mahāvibhāṣā-śāstra). Bộ luận này theo nhiều nhà nghiên cứu thì nó được soạn ra tại Hội Nghị Kết Tập Phật giáo lần thứ tư ở Kashmir

(Xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Trang).
Trong lịch sử Phật giáo còn có người cùng tên là ngài Lochen Dharmaśrī (1654-1717) tuy nhiên đây là một đại sư thuộc Phái Ninh Mã Tây Tạng, không phải là tác giả của bộ A-tì-đàm.

[31] Thế Thân (sa. vasubandhu, bo. dbyig gnyen), ~316-396, cũng được dịch là Thiên Thân, gọi theo Hán âm là Bà-tu-bàn-đầu, Bà-tẩu-bàn-đậu, là một Luận sư xuất sắc của Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. sarvāstivādin) và Duy thức tông (sa. vijñānavādin), được xem là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ. Người ta cho rằng Sư sinh tại Peshāwar (địa danh ngày nay), sống tại Kashmir và chết tại A-du-đà (ayodhyā). Sư vừa là em vừa là đệ tử của Vô Trước (sa. asaṅga), người sáng lập phái Duy thức. Vô Trước là người đã khuyến khích Thế Thân theo Đại thừa. “Thế Thân”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_Th%C3%A2n
Về bản luận giải A-tì-đàm-câu-xá (sa. abhidharmakośa-śāstra), thường được gọi tắt là Câu-xá luận, nghĩa là “Báu vật của Vi Diệu Pháp”, tên khác là Thông minh luận, là bộ luận quan trọng nhất của Thuyết nhất thiết hữu bộ, được Thế Thân (sa. vasubandhu) soạn vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên tại Kashmir. Luận gồm có hai phần: sưu tập khoảng 600 kệ Vi Diệu Pháp câu-xá luận bản tụng (sa. abhidharmakośakārikā) và Vi Diệu Pháp câu-xá luận thích (sa. abhidharmakośa-bhāṣya), bình giải về những câu kệ đó. Ngày nay người ta còn giữ bản tiếng Hán và tiếng Tây Tạng của luận này, đó là những tác phẩm đầy đủ nhất để trả lời các câu hỏi về kinh điển. Toàn văn bài luận này đã được Thích Tuệ Sĩ dịch Việt từ Phạn ngữ. “Câu Xá Luận”. Phật Việt”. Truy cập 17/02/2009

 <http://www.phatviet.com/dichtht/luan/ln01/cxl.htm>.

[32] Theo Vật lý hạt sơ cấp thì Quark và lepton là hai loại hạt cơ bản Fermi, cả hai là cơ sở cấu tạo nênvật chất. Trong khi Quark có thể tương tác qua tương tác mạnh của vũ trụ thì lepton không có đặc tínhnày. Có 6 loại quark và tổ hợp của các quark lập thành các thành phần hạt nhân của nguyên tử như proton và neutron. Có 6 loại lepton trong đó điện tử và các neutrino là những lepton trong sáu loại này.

“Quark” và “Lepton”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Quark> và <http://en.wikipedia.org/wiki/Lepton>.

[33] Anton Zeilinger (1945 – ) nhà vật lý lượng tử người Áo hiện là trưởng phân khoa Quang học Lượng tử và Thông tin Lượng tử tại đại học Vienna. Ông được xem là tiên phong trong ngành Thông tin Lượng tử. “Anton_Zeilinger”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009.

<http://en.wikipedia.org/wiki/Anton_Zeilinger>

Đại học Innsbruck là đại học có cơ sở hạ tầng lớn nhất nước Áo và có chỉ số sinh viên theo học đông hàng thứ ba của nước này. Trường được thành lập từ năm 1669. “University of Innsbruck”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010.

<http://en.wikipedia.org/wiki/Innsbruck_University>

[34] Tức là Hội nghị Tâm thức và Đời sống được tổ chứ vài năm một lần giữa các nhà khoa học quốc tế và Phật giáo mà đứng đầu là đức Dalai Lama. Lần đầu tiên tổ chức vào năm 1987. Hội nghị gần đâynhất (lần thứ 18) diễn ra vào tháng 10 năm 2008 tại Berlin. Mind & Life Institue. Truy cập 14/01/2010.

<http://www.mindandlife.org/index.html>.

[35] Arthur Guy Zajonc (1949 – ) hiện là giáo sư trưởng khoa vật lý tại đại học Amherst Hoa kỳ. Arthur Zajonc. Truy cập 17/02/2009.

<http://www.arthurzajonc.org/ >

[36] Niels Henrik David Bohr (1885-1962 — Nobel Vật lý 1922) là nhà vật lý Đan Mạch đã đóng góp cho nền tảng hiểu biết về cấu trúc nguyên tử và cơ học lượng tử. Ông được xem là một trong những nhà vật lý có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế ki 20. “Niels_Bohr”. Wikipedia. Truy Cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Niels_Bohr>
Học viện Niels Bohr là một bộ phận của viện vật lý thiên văn và địa vật lý cùng tên. Niels Bohr đã làm việc tại đây từ 1914. Nhân sinh nhật lần thứ 80 của Niels Bohr, trường được đổi sang tên ông (7 tháng 10 năm 1965). Trong suốt các thập niên 1910 cho đến 1930, nơi đây đã là trung tâm nghiên cứu phát triển vật lý nguyên tử xuyên suốt châu Âu. “Niels Bohr Institute”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010.

<http://en.wikipedia.org/wiki/Niels_Bohr_Institute>

[37] Ernest Rutherford, 1st Baron Rutherford of Nelson (1871-1937 — Nobel hóa học 1908) nhà vật lýngười Tân-tây-lan [New Zealand] được xem là cha đẻ của vật lý hạt nhân. Người đã thành công trong lý thuyết quỹ đạo của nguyên tử thông qua phát hiện của ông về thí nghiệm bắn phá nguyên tử của một lá vàng mỏng. “Ernest Rutherford“. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010

<http://en.wikipedia.org/wiki/Ernest_Rutherford>

[38] Sir Joseph John “J.J.” Thomson, (1856-1940 — Nobel Vật lý 1906) là nhà Vật lý Anh. có công trong việc phát hiện điện tử và nguyên tố đồng vị và là người phát minh của quang phổ khối lượng. “J.J._Thomson”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010

<http://en.wikipedia.org/wiki/J.J._Thomson>.

[39] Kính viễn vọng không gian này mang tên nhà thiên văn Edwin P. Hubble (1889-1953) đây là đài quan sát nằm ngoài không gian khổng lồ được xem là cuộc cách mạng do việc cung cấp được các ảnh rõ và sâu của vũ trụ, trong khoảng từ hệ Mặt trời cho đến các thiên hà xa xăm được hình thành không lâu sau vụ nổ lớn 13.7 tỉ năm trước.

HubbleSite <http://hubblesite.org/>

và “Hubble Fact”. NASA. <http://hubble.nasa.gov/>. Truy cập 14/01/2010

[40] Vô Trước (sa. asaṅga, nghĩa là “không bị ô nhiễm, vướng mắc”), cũng được dịch âm là A-tăng-già, khoảng thế kỷ 4, là một đại luận sư của Phật giáo Ấn Độ, người sáng lập Duy thức tông (sa. vijñānavādin). Sư khước từ quan điểm của Long Thụ (sa. nāgārjuna) về tính Không và thiết lập giáo pháp của mình dưới ảnh hưởng của Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. sarvāstivādin). Tương truyền Sư được Bồ Tát Di-lặc trực tiếp giáo hoá. “Vô Trước”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010

<http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B4_Tr%C6%B0%E1%BB%9Bc>.

[41] Di-lặc (sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), “người có lòng từ”, cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất. Trong Phật giáo Tây Tạng, Bồ Tát Di-lặc được thờ cúngrất rộng rãi. Cõi giáo hóa của Bồ Tát hiện nay là trời Đâu-suất (sa. tuṣita). Theo kinh điển, Bồ Tát Di-lặcsẽ giáng sinh trong khoảng 30.000 năm nữa. “Maitreya”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010

<http://en.wikipedia.org/wiki/Maitreya>.

[42] Xem thêm chi tiết tính toán: <http://en.wikipedia.org/wiki/Twins_paradox>.

[43] Kinh lượng bộ (sa. sautrāntika), là một nhánh của Tiểu thừa xuất phát từ Thuyết nhất thiết hữu bộ(sa. sarvāstivādin) khoảng 150 năm trước Công nguyên. Như tên gọi cho thấy (sautrāntika xuất phát từ sūtrānta, có nghĩa là Kinh phần, chỉ Kinh tạng của Tam tạng), bộ này chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng (sa. sūtrapiṭaka) và phản bác Luận tạng (sa. abhidharmapiṭaka) cũng như quan điểm “Nhất thiết hữu” (tất cả đều hiện hữu, đều có) của Thuyết nhất thiết hữu bộ. “Sautrantika”.Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Sautrantika>.

[44] Richard Phillips Feynman (1918 – 1988 — Nobel vật lý 1965) là nhà Vật lý Hoa Kỳ, giáo sư đại họcCaltech. Ông được biết đến bởi công thức tích phân đường của cơ học lượng tử, lý thuyết về điện động học lượng tử, vật lý siêu lỏng của helium lỏng siêu lạnh, và vật lý hạt. Ông cũng đã đưa ra mô hình toán học mô tả ứng xử của các hạt cấp nhỏ hơn nguyên tử được mang tên “giản đồ Feynman”. “Richard Feynman”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Feynman>.

[45] Sir George Paget Thomson (1892 – 1975 — Nobel Vật lý 1937) nhà vật lý người Anh có công phát hiện (cùng với Clinton Davission) các đặc tính sóng của điện tử. “George Paget Thonmpson”. Nobelprize.org. Truy cập 15/01/2010

<http://nobelprize.org/nobel_prizes/physics/laureates/1937/thomson-bio.html>.

[46] Diễn dịch Copenhagen (Copenhagen interpretation) là một cách giải thích cơ học lượng tử trong đó ý tưởng chính cho rằng trạng thái của mỗi hạt sơ cấp được mô tả bởi một phương trình sóng được dùng để tính xác suất tìm thấy hạt đó tại một địa phương. Một cách hệ quả thì hành vi đo đạc khiến cho tập hợp các tính toán về xác xuất bị “sụp đổ” vào trong giá trị được định nghĩa bởi phép đo đạc. Tính năng biểu thị toán học này đưọc gọi là hàm sóng sụp đổ. “Copenhagen_interpretation”. Wikipedia. Truy cập 15/01/2010

<http://en.wikipedia.org/wiki/Copenhagen_interpretation>.

[47] Đây là hai tiền đề quan trọng nhất của lô-gíc toán học. Luật [loại trừ] mâu thuẫn cho rằng một mệnh đề chỉ có thể có đúng một giá chân lý. Trong khi luật loại trừ trạng thái trung gian cho rằng ngoài hai trạng thái đúng và sai thì không có mệnh đề nào có giá trị nằm giữa hai mức này hay có cả hai giá trị.

[48] Có lẽ đức Dalai Lama ám chỉ những người ủng hộ chủ trương của phái Tì-bà-sa.

[49] Duy thức (sa. vijñāptimātratā), đồng nghĩa với danh từ Duy tâm (sa. cittamātra, cittamātratā), nghĩa là “chỉ có thức”, các pháp đều từ Thức mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức. Giáo lí này chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, và vì vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm. Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Duy thức tông. Các học giả Duy thức giải thích quy luật và sự liên kết của các giác quan nhờ vào tàng thức hay A-lại-da thức (sa. ālaya-vijñāna), Mạt-na thức và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức). “Duy Thức”. Wikipedia. Truy cập 14/02/2009

<http://vi.wikipedia.org/wiki/Duy_th%E1%BB%A9c>.

[50] Trung Quán Cụ Duyên (sa. Prasaṅgika) là các quan điểm chủ yếu theo các luận giải của ngài Nguyệt Xứng và cũng như của ngài Phật Hộ về các pháp giảng của thánh giả Long Thụ. Ngài Long thụsử dụng các hệ quả lập luận để bác bỏ các quan điểm sai lầm chủ yếu là phương pháp Quy mậu biện chứng (tức là mượn chính lập luận của đối phương dẫn đến các hậu quả mâu thuẫn) nhằm xác lậpchân đế bên trong vòng hiểu biết của học thuyết nhị đế. “Prasangika”. Wikipedia. Truy cập 14/02/2009.
<http://en.wikipedia.org/wiki/Prasangika>.

[51] Chữ nguyên văn là “identity” ở đây có tức là một bộ các đặc tính và ứng xử hay hành vi mà qua đó một sự vật có thể được nhận biết.

[52] Xem thêm chi tiết <http://en.wikipedia.org/wiki/EPR_paradox>.

Boris Podolsky (1896 – 1966) (Борис Подольский) là nhà vật lý Nga gốc Do Thái. “Boris_Podolsky”. Wikipedia. Truy cập 14/02/2009.

<http://en.wikipedia.org/wiki/Boris_Podolsky >.
Nathan Rosen (1909-1995) là nhà vật lý Do Thái. Năm 1935 ông là người phụ giảng của Albert Einstein tại Institute for Advanced Study (Học viện Nghiên cứu Cao cấp) thành phố Princeton bang New-Jersey cho đến 1945. Ông là đồng tác giả với Einstein và Boris Podolsky về nghịch lý EPR trong vật lý lượng tử về mối quan hệ giữa các giá trị vật lý quan sát được của các đại lượng vật lý và các giá trị mà có thể được tính đến bởi một lý thuyết vật lý. Ông là nhà sáng lập Học viện Vật lý ở Technion, Hailfa Do Thái. Ông cũng là Hiệu trưởng Đại Học Ben-Gurion tại Negrev trong thập niên 1970. “Nathan_Rosen”. Wikipedia. Truy cập 14/02/2009

<http://en.wikipedia.org/wiki/Nathan_Rosen>.
Nghịch lý EPR là tên viết tắt của 3 người tìm ra nó có nội dung nói về quan hệ giữa các giá trị quan sátcủa các đại lượng vật lý và các giá trị mà có thể tính được cho bởi một lý thuyết vật lý:

1. Kết qủa của sự đo đạc tiến hành trên một bộ phận A của một hệ thống lượng tử sẽ có một hiệu ứng “phi địa phương” lên thực tại vật lý một bộ phận cách xa B khác, trong ý nghĩa cơ học lượng tử về việc khả dĩ dự đoán những kết qủa logic của các đo đạc nào đó từ B; hay là …

2. Cơ học lượng tử thì không hoàn thiện trong ý nghĩa rằng một phần tử vật lý thực tại nào đó tương ứng với B sẽ không thể tính được bởi cơ học lượng tử (nghĩa là, cần có thêm những biến số nào khác để tính toán nó).

[53] Trong cơ học lượng tử, spin là thuộc tính nền tảng của hạt nhân nguyên tử, của các hạt hadron, và các hạt cơ bản (tức là đặc tính quay). Đối với các hạt có spin khác không, thì chiều quay là một độ tự dobản chất. “Spin (physics)”. Wikipeida. Truy cập 14/02/2009.

<http://en.wikipedia.org/wiki/Spin_(physics)>.

[54] Trong triết học thì chủ trương thực tính là quan điểm cho rằng với mọi loại thực thể đặc thù, tồn tại một tập hợp các đặc trưng hay thuộc tính mà với thực thể bất kỳ của loại đó phải có đủ. Quan điểmnày trái ngược với quan điểm phi thực tính cho rằng với một loại thực thể bất kỳ cho trước thì không tồn tại dấu vết nào để các thực thể thuộc loại đó phải có. “Essentialism”. Wikipedia. Truy cập 14/02/2009. <http://en.wikipedia.org/wiki/Essentialism>.

[55] Nguyệt Xứng (sa. candrakīrti, bo. zla ba grags pa), (thế kỉ k. 6/7), được xem là luận sư quan trọng nhất trong tông Trung quán sau Long Thụ. Sư quê ở Nam Ấn, xuất gia từ lúc nhỏ tuổi. Nhân lúc đọc trước tác của Long Thụ, sư bỗng liễu ngộ. Sau, sư trở thành viện trưởng của Nalanda và viết nhiều bài luận chú giải về các tác phẩm của Long Thụ. Các tác phẩm quan trọng của Sư là Minh cú luận, còn nguyên bản Phạn ngữ), Nhập trung quán luận . “Nguyệt Xứng”. Wikipedia. Truy cập 14/02/2009.

<http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%87t_X%E1%BB%A9ng>.

[56] Theo Bát Nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh, một trong những bản kinh rất quan trọng của Đại thừa Trung Quán Tông thì ở mức tối hậu các khái niệm như sắc tướng, cảm xúc, tư duy, hành động, ý thức, …thậm chí đến Tứ Diệu Đế và cả sự chứng đắc đều không thể xác lập. Xem thêm “Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh”. Wikipedia. Truy cập 15/01/2009

<http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1t-nh%C3%A3-ba-la-m%E1%BA%ADt-%C4%91a_t%C3%A2m_kinh>

(Còn tiếp)

Nguyên tác: The Universe in a Single Atom của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Dịch Việt: Làng Đậu Võ Quang Nhân

Đánh giá