Phân Biệt Công Đức Luận [分別功德論]

Thất dịch Phụ Hậu Hán Lục

Bản Việt dịch của Nguyên Huệ

***

Luận Phân Biệt Công Đức

Việt dịch: Nguyên Huệ

***

QUYỂN 1

Kệ thứ nhất được lập đã nói: “Tôn giả Ca-diếp đã tư duy về gốc của chánh pháp” (Ca-diếp tư duy chánh pháp bản): Nghĩa là tư duy về ngôn giáo của kinh pháp là hết sức nhiều. Lấy gì để nhận biết? Tôn giả Ca-diếp tức dùng sự đối chiếu để làm sáng rõ về chỗ nhiều ít. Pháp so sánh khởi đầu từ mười con lừa, nói: Sức của mười con lừa không bằng sức của một con lạc đà thường. Sức của mười con lạc đà thường không bằng sức của một con voi thường. Sức của mười con voi thường không bằng sức của con voi Tế cước. Sức của mười con voi Tế cước không bằng sức của một con voi Đạo thực. Sức của mười con voi Đạo thực không bằng sức của một con voi Liên hoa. Sức của mười con voi Liên hoa không bằng sức của một con voi Thanh liên hoa. Sức của mười con voi Thanh liên hoa không bằng sức của một con voi Hồng liên hoa. Sức của mười con voi Hồng liên hoa không bằng sức của một con voi Bạch liên hoa. Sức của mười con voi Bạch liên hoa không bằng sức của một con voi Tuyết sơn. Sức của mười con voi Tuyết sơn không bằng sức của một Hương tượng. Từ lừa đến Hương tượng là một phần. Tám vạn bốn ngàn Hương tượng như thế là để so sánh với phần bên ngoài, bên trong nơi kinh sách. Đầy đủ số lượng Hương tượng như vậy là để đối chiếu với các sự việc được ghi chép mà Tôn giả A-nan đã nghe, đã nhận biết. Về phần thô là có thể cùng so sánh để nhận biết về số lượng lớn. Còn muốn mỗi mỗi thứ được diễn đạt bằng văn tự thì trọn đời cũng không thể thông suốt. Tư duy về kinh pháp là hết sức rộng lớn. Làm sao sẽ khiến chúng được lưu hành rộng khắp thiên hạ để cho ngàn đời chúng sinh nhận được ân ích của chánh pháp? Xét sâu đạt lý. Ai có thể soạn thuật pháp? Chỉ có Tôn giả A-nan mới có thể kết tập được.

Tôn giả Ca-diếp tức thì đánh kiền chùy tập hợp chúng. Bấy giờ, liền có tám vạn bốn ngàn chư vị A-la-hán, vâng lệnh đến họp. Những vị nầy đều là bậc vô lậu, là câu giải thoát. Sở dĩ triệu tập các bậc Hiền Thánh ấy là để chư vị đều có thể nhập định diệt tận. Các vị nhập định diệt tận là có thể khiến cho chúng sinh hiện đời được phước, cứu độ mọi thứ khổ ách. Các bậc A-la-hán trong đại thiên thế giới, số lượng khó có thể nêu tính, trừ các vị ở ba đường, mỗi mỗi đều gấp bội. Nay chỉ chọn lấy hàng câu giải thoát lợi căn, có thể dùng định diệt tận độ thoát chúng sinh. Do đó xưng là phước điền.

Lấy gì để làm rõ? Ngày xưa, Thiên Đế-thích phước hết sắp mạng chung, năm điềm suy hiện ra, tâm liền sợ hãi, muốn cầu cứu giúp, đang muốn đi đến chỗ Phật để cầu cứu. Nhớ nghĩ về ân Phật vốn rộng lớn khoan hòa, sợ không kịp để hóa giải thọ mạng. Liền nghĩ tới Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, cũng sợ là không thể cứu mạng. Chỉ có Tôn giả Đại Ca-diếp, do diệu lực của định diệt tận, có thể tức thì cứu kịp nguy ách. Liền đi đến trụ xứ của Tôn giả Ca-diếp. Lúc nầy, Tôn giả Ca-diếp sắp sửa đi tới các nhà nghèo. Phước độ nhớ nghĩ kỹ, đang muốn hiện ra thân trời, nhưng e sợ Tôn giả không nhận vật thí của mình, nên ở giữa đường hiện làm túp lều cỏ, với người bệnh ốm yếu ở trong ấy. Tôn giả Ca-diếp đến khất thực. Người bệnh liền duỗi cánh tay để cho thức ăn. Tôn giả Ca-diếp dùng bát nhận lấy, biến thành cam lồ, Đế-thích bèn hiện trở lại thân trời, ở trong hư không, Tôn giả Ca-diếp bảo: Sao lại vọng ngữ, lừa dối ta chăng?

Trời đáp: Không vọng ngữ. Tôi chí thành dâng thí. Tôi là Thiên Đế, năm điềm suy hiện đến, mạng sắp chấm dứt, nên tới đây để cầu nguyện, xin cứu giúp mạng tôi.

Tôn giả Ca-diếp liền im lặng nhận lời.

Thiên Đế đến chỗ Phật nghe pháp, chốc lát liền ngủ, ngủ rồi liền thức, Phật bảo Thiên Đế: Vừa rồi ông đã chết, nay đã sống trở lại, không còn mạng chung nữa. Trở lại thân như cũ.

Đây tức là chỗ cảm ứng từ diệu lực nơi định diệt tận của Tôn giả Ca-diếp. Tôn giả Ca-diếp sở dĩ xem diệu lực của định diệt tận là tối thắng, vì Tôn giả vốn là Phật Bích-chi. Phàm là pháp của Phật Bích-chi thì không thuyết pháp để giáo hóa, chỉ chuyên dùng thần túc để cảm ứng, biến hiện từ Tam-muội. Tôn giả Đại Ca-diếp tuy đã thủ chứng A-la-hán, nhưng thức gốc vẫn còn, nên vừa chọn lấy tám vạn bốn ngàn chúng đức, công sức có thể tạo được cảm ứng ngang với mình.

Vấn nạn: Tôn giả Ca-diếp, do gốc là Phật Bích-chi nên nói diệu lực của định kia là thù thắng. Còn các vị A-la-hán nầy cũng đều là Phật Bích-chi chăng?

Đáp: Tuy không phải là Phật Bích-chi, nhưng đã hành tập khắp về định diệt tận, nên nơi diệu lực là đồng, nên nói Tôn giả Ca-diếp và chúng Tăng là ruộng phước của chúng sinh.

* Kệ viết: Đều đắc La-hán, tâm giải thoát: Là bậc Câu giải thoát.

* Kệ viết: Đã thoát buộc chấp, làm phước điền: Nghĩa là Tôn giả Ca-diếp đã triệu tập tám vạn bốn ngàn chúng, đều chứng đắc Câu giải thoát. Do định diệt tận có thể khiến chúng sinh nơi đời hiện tại thoát khổ, về sau đạt được Niết-bàn, nên viết là: Làm phước điền.

* Kệ viết: Tập bốn bộ: Là nói lược, lý hợp bốn bộ là tiêu biểu. Lại có tám bộ người trời: Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả, Sa-môn, Tứ Đại vương, Tam Thập Tam thiên, Ma vương, Phạm vương. Đó là tám bộ, cộng có mười hai bộ.

* Nói bốn bộ: Là bước đầu nêu phần chính yếu.

* Các pháp thâm diệu: Nghĩa là mười hai nhân duyên. Đức Phật vì Tôn giả A-nan nói mười hai nhân duyên là hết sức sâu xa vi diệu. Tôn giả A-nan thưa: Nhân duyên nầy có gì là thâm diệu? Phật bảo: Chớ nói là không thâm diệu. Chính ông, có lúc vào đời trước cũng nói là không thâm diệu.

Xưa có vua A-tu-luân thân cao tám vạn do-tuần, hai môi trên dưới cách nhau ngàn do-tuần. Vua có con trai nhỏ, luôn yêu quý đứa bé nầy, bế để ngồi trên đầu gối. Biển sâu ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, vua A-tu-luân đứng trong ấy nước chỉ ngang nơi rốn của bụng. Đứa bé thấy cha như thế nên cho biển là cạn, muốn được đi vào nước. Vua cha bảo: Không thể! Vì biển sâu khiến con bị chìm. Đứa bé cứ muốn được vào nước. Vua cha liền buông đứa con, chìm tận đáy biển, nên hoảng sợ kêu la. Người cha bèn đưa cánh tay nắm lấy trở lại kéo ra khỏi nước. Bảo: Ta đã nói là con không thể vào được, mà con không tin.

Hiện tại những gì là tương tợ? Vua A-tu-luân thời ấy nay là thân Ta. Đứa bé chính là ông (A-nan). Ngày trước không tin về biển sâu, nên nay không tin. Ông chỉ tư duy vô minh duyên hành, hãy còn không thể hiểu rõ, huống hồ là hiểu rõ về ba mươi bảy phẩm.

Đức Như Lai đã nói về bốn thứ không thể nghĩ bàn. Những gì là bốn? Đó là, chúng sinh không thể nghĩ bàn. Thế giới không thể nghĩ bàn. Loài rồng không thể nghĩ bàn. Phật không thể nghĩ bàn.

Sở dĩ thế giới không thể nghĩ bàn: Ngày trước, Tôn giả Mãn-nguyện-tử và một Phạm-chí cùng luận bàn. Phạm-chí tự nói: Tôi từng đi đến một ao nước, ngồi nơi bờ suy nghĩ, thấy có bốn thứ quân binh kéo tới, đi vào trong khoảng trống của đóa hoa sen. Liền tự kinh ngạc, không biết mình bị hoa mắt hay là thật có. Nói với người khác, họ đều không tin, tôi bèn đi tới trụ xứ của Phật thưa lại sự việc đã thấy như thế, Phật bảo: Đấy là sự thật không phải là hư vọng. A-tu-luân khởi bốn thứ binh đánh nhau với chư Thiên. A-tu-luân không thắng nổi nên thối chạy vào trong khoảng trống của hoa sen tự ẩn nấp. Đây không phải là chỗ suy lường có thể đạt tới, nên nói là thế giới không thể nghĩ bàn. Thế giới, hoặc cho là Phạm-thiên tạo ra, hoặc cho là do sáu trời tạo nên.

Phạm-chí lại nói: Phạm-thiên do ai tạo? Hoặc nói: Phạm-thiên có cha. Hoặc nói là tự tạo. Nói có cha: Tức cha là hoa sen. Có chỗ nói: Hoa sen từ đâu sinh ra? Đáp: Từ trong rốn của Ưu-đà-duyên sinh ra. Ưu-đà-duyên từ đâu sinh ra? Đáp: Từ nơi vua Tán-sa sinh ra. Lại nói: Vua Tán-sa sinh ra từ tộc họ nào? Đáp: Sinh ra từ chủng tộc Sát-đế-lợi. Lại nói: Phạm-thiên là chủng tộc Bà-la-môn, nay nói do Sát-đế-lợi sinh ra, có thể nói như thế được chăng? Lại nói: Thời gian kiếp thiêu đốt, phần thô có thể được riêng. Do đâu nói như thế? Đáp: Vào lúc kiếp thiêu đốt, từ biên giới của đất trở lên đến mười lăm cõi trời, hoàn toàn bị thiêu rụi hết. Điều tương tợ như thế có thể nhận biết. Nhưng lại có từ tầng trời mười sáu trở lên đến cõi trời Ba Mươi Ba thì còn. Khoảng nầy, tuy thế giới khác bị thiêu đốt, vẫn còn. Do đấy mà nói lại không thể nhận biết. Đó là thế giới không thể nghĩ bàn.

Hoặc nói: Sau kiếp thiêu đốt, nước bổ sung cho xứ lửa. Gió Tùy-lam thổi, tạo ra cung điện xong, dưới thấp có đất màu mỡ, đám chư Thiên trên cõi trời Quang Âm du hành vui chơi tới vùng đất kia, dần dần nếm thử thứ đất màu mỡ ấy, thân tướng bèn trở nên nặng nề, không thể quay lại trụ xứ. Ăn nhiều đất đó thì hóa làm người nữ, chuyển giảm trở thành mảnh mai, thích ăn bánh làm bằng bột gạo lấy từ đất. Mất thần túc, ánh sáng, đám chư Thiên kia trở lại làm người, hành thiện sinh cõi trời, hành ác bị đọa vào ba đường dữ, lưu chuyển nơi năm nẻo, không có thường định. Giả sử muốn biết cùng tận về nguyên do, cội rễ của một người hãy còn không thể nhận biết, huống chi là hết thảy chúng sinh mà có thể lường xét được? Đó là chúng sinh không thể nghĩ bàn.

Do đâu nói loài rồng là không thể nghĩ bàn? Phàm khởi mây, tuôn mưa đều do nơi rồng. Mưa là từ mắt tai mũi miệng của rồng phát ra, hay là từ nơi thân phát ra? Hoặc là từ nơi tâm xuất phát?

Dựa vào núi Tu-di để trụ có năm loại trời, cũng có thể tuôn mưa. Vì sao riêng rồng tuôn mưa trời? Mưa trời là sương mù mịn rơi xuống. Hạt to rơi xuống là “Mưa rồng”.

Những gì là năm loại trời? Thứ nhất là trời Khúc cước. Thứ hai là trời Đảnh thượng. Thứ ba là trời Phóng dật. Thứ tư là trời Nhiêu lực. Thứ năm là trời Tứ vương. Lúc A-tu-luân dấy binh lên đánh với trời, trước là cùng với trời Khúc cước đánh nhau, chẳng được, sau đấy mới đến trời Đảnh thượng. Tiếp theo tới trời Phóng dật cùng trời Tứ vương, cho đến trời Ba Mươi Ba. Bên dưới trời Tứ vương, lúc muốn chiến đấu thì dùng mưa để cự địch, lại không có binh khí. Có hai loại mưa: Có mưa hoan hỷ. Có mưa giận dữ. Mưa tuôn điều hòa là hoan hỷ. Sấm chớp, sét đánh liên hồi là giận dữ. A-tu-luân cũng tuôn mưa. Trời cũng tuôn mưa. Rồng cũng tuôn mưa. Mỗi mỗi thứ đều tạo ra mưa, lý không thể định, nên nói rồng tuôn mưa là không thể nghĩ bàn.

Phật là không thể nghĩ bàn: Thời trước, Phật ở tại tĩnh thất, các vị Phạm-thiên đông nhiều như Hằng hà sa, đi đến trụ xứ của Phật, muốn biết Phật đang an trú trong Tam-muội nào, nhưng không thể biết được. Thần túc như thế là đã biến hiện các sự việc bí mật. Hàng Nhị thừa đã không thể nghĩ bàn, huống chi là hàng phàm phu há có thể xét đoán được!

Tôn giả A-nan suy cử trước hết là Tôn giả Ca-diếp, nói: Bậc Niên trưởng có thể đảm nhận công việc vì chúng sinh diễn nói pháp. Sở dĩ như thế vì Đại đức là bậc Tôn trưởng cựu học, hiểu biết nhiều, được Đức Thế Tôn ủy thác, vì chúng sinh đời vị lai, nhằm khiến cho chánh pháp trụ lâu ở đời, do đấy Đức Như Lai đã dành cho nửa tòa ngồi. Tôn giả đã là vị Thượng tọa của chúng Tăng, trí tuệ lại gồm rộng. Xin Tôn giả rủ lòng từ bi tuyên thuyết Pháp bảo!

Các Sư nước ngoài nói: Tôn giả Ca-diếp sở dĩ không thuyết pháp là vì trong bốn biện tài, Tôn giả không có từ biện.

Lại nói: Tôn giả vốn là Phật Bích-chi, chỉ dùng thần túc hóa hiện. Lần đầu không diễn nói pháp, Tôn giả Ca-diếp đáp: Xin nhường. Tự bảo: Mình già yếu, các căn tối tăm, phần nhiều đều quên cả. Thưa: Pháp chân thật của bốn đế há có thể suy vong chăng? Ví như kim cương không thể hao tổn. Bốn đại sinh tử mới có tăng giảm thôi.

Các nhà thuộc Tát-bà-đa lại nói: Chín loại A-la-hán có thối chuyển. Do bao nhiêu sự nên thối chuyển? Có bốn sự:

1. Tuổi tác già cả.

2. Bệnh tật khổ bức.

3. Thích du hành phương xa.

4. Dùng thuốc không thuận hợp.

Do bốn sự nầy mới có việc nhầm, quên.

Bậc diệu tuệ của Chân đế há có thể quên sao? Tôn giả Ca-diếp khuyên Tôn giả A-nan: Ông nay đang lúc còn trẻ trung, khỏe mạnh, lại thêm có nhiều trí như văn trí v.v…, nắm giữ chung, ghi nhớ giỏi, Đức Phật mỗi lẫn thuyết giảng kinh thường giao phó dặn dò ông. Thế nên ông nên tuyên thuyết kinh pháp rộng khắp.

Do đâu biết Tôn giả A-nan có nhiều trí?

Thời trước, phía Đông thành Xá-vệ, có cây Ni-câu-loại to lớn, bóng mát che trùm năm trăm cỗ xe. Trong thành có Phạm-chí thông thạo về toán thuật, ở trong chín mươi lăm loại là bậc nhất. Một hôm, Phạm-chí gặp Tôn giả A-nan tại dưới bóng cây Ni-câu-loại ấy, nói với Tôn giả: Người ta nói: Trong số đệ tử của Cù-đàm, thầy là vị có trí tuệ bậc nhất, có việc ấy chăng? Tôn giả A-nan đáp: Cũng có hiểu biết ít nhiều. Phạm-chí nói: Xin được hỏi một việc: Cây to nầy, thân, đoạn, cành, lá mỗi thứ có bao nhiêu? Tôn giả A-nan ngẩng đầu nhìn lên cây, liền đáp: Cây nầy, thân, đoạn, cành, lá đều có từng ấy. Nói xong liền ra đi. Phạm-chí ở sau, suy nghĩ: Sa-môn nầy tất không biết về số lượng nên mới đáp như thế. Nay nên thử xem. Liền leo lên cây, ở mấy chỗ hái lá, tất cả có sáu mươi lá, đem giấu nơi mô đất. Tôn giả A-nan khất thực trở về. Phạm-chí lại hỏi: Tôi vừa quên mất số lượng thầy đã nói trước đây, Tôn giả A-nan ngẩng đầu nhìn lên cây, lại nhìn khắp, rồi nói: Cây nầy số lá vì sao bị thiếu? Phạm-chí hỏi: Thiếu bao nhiêu lá? Tôn giả A-nan bảo: Thiếu sáu mươi lá. Phạm-chí liền chấp tay bái tạ: Thật chưa từng có! Lại hỏi: Thầy là A-la-hán chăng? Đáp: Không phải. Là A-na-hàm, Tư-đà-hàm chăng? Đáp: Cũng không phải. Là Tu-đà-hoàn chăng? Đáp: Vì sao hỏi như thế? Phạm-chí lại hỏi: Thầy có Thầy dạy chăng? Tôn giả A-nan đáp: Có chứ. Thái tử con vua Chân Tịnh xuất gia tu thành Phật, tức là Thầy của tôi. Phạm-chí tâm niệm: Đây là nhờ trí của Thầy, không phải là chỗ nhận biết của chính mình. Bèn đi theo Tôn giả A-nan đến chỗ Phật, cầu làm Sa-môn, liền chứng đắc A-la-hán. Do đấy nên biết Tôn giả A-nan có nhiều trí.

Tôn giả A-nan sở dĩ suy tôn Tôn giả Ca-diếp trước tiên, vì Tôn giả Đại Ca-diếp đã là Thượng tọa, lại là chỗ tôn kính, thời xưa, trong năm trăm đời luôn là cha của mình. Túc mạng đã biết kính ngưỡng, gắn bó nên tình nghĩa càng sâu.

Tôn giả Đại Ca-diếp sở dĩ luôn ân cần đối với Tôn giả A-nan, là do từ xa xưa, duyên tích chứa sâu dày, ân còn chưa báo đáp hết. Lại thêm Tôn giả A-nan vốn đa văn, nhiều trí, ghi nhớ giỏi, đối với chúng là hơn hết, nối hợp các sách vở đến tám vạn loại chẳng ai hơn. Hai vị cùng cần nương dựa nhau đề cùng tạo lợi ích. Nếu hai vị bỗng dưng gặp được ngàn cân vàng thẻ, lúc ấy cùng bàn tạo thế, hợp sức để mang về thì được dụng lớn. Có thể cho hai Tôn giả Ca-diếp, A-nan, kết hợp trí là đúng với dụ kia. Hai người cùng hợp sức thì Pháp bảo trường tồn.

Lúc nầy, Tôn giả A-nan nói kinh là vô lượng, ai là người có thể gôm hợp lại đầy đủ làm một nhóm? (Kinh vô lượng là mười hai bộ kinh) Bèn gọi là mười sự. Hoặc nói mười sự, bèn luận hai sự. Hoặc nói ba sự, mới luận mười một sự. Trên dưới không thứ lớp, không tạo được một nhóm. Hoặc có người nói: Đức Như Lai thuyết pháp, hoặc nói về giáo pháp khuyên dạy. Hoặc nói về việc đoạn trừ kiết. Hoặc nói về việc sinh trong cõi trời, người. Theo đấy mà nói, lại không thể làm một nhóm. Tôn giả A-nan suy nghĩ: Một nên theo một. Hai theo hai. Ba, bốn, năm, sáu cho đến mười, đều khiến sự loại cùng bày rõ.

Hoặc có người bảo: Lý không thể như thế. Xét như lời Phật nói không thể theo thứ lớp đối chiếu. Tôn giả A-nan lại suy xét: Kinh pháp là vô cùng rộng lớn, nên phân làm ba nhóm. Tôn giả A-nan riêng khởi ý nghĩ nầy. Trời Thủ-đà-hội mật báo với Tôn giả A-nan: Đúng là nên tạo làm ba phần. Liền như lời trời đã báo cho biết, phân làm ba phần: Một phần là Khế kinh. Phần hai là Tỳ-ni. Phần ba là A-tỳ-đàm. Khế kinh là pháp do Phật thuyết giảng. Hoặc vì chư Thiên, Đế vương. Hoặc vì các đám ngoại đạo, dị học, theo sự mà phân biệt, đều được mở bày, lãnh hội.

Khế kinh cũng như sợi chỉ khâu nối kết nghĩa lý khiến thành pháp hành, nên gọi là Khế kinh.

Tỳ-ni là luật ngăn cấm. Vì hai bộ Tăng, nói về việc ngăn chận điều ác, thâu giữ điều sai trái. Hoặc có hai trăm năm mươi sự, hoặc có năm trăm sự. Dẫn pháp để phòng gian, như kho bí mật của nhà vua, không phải Sở ty của các quan bên ngoài, nên gọi là Nội tạng. Tạng Giới luật nầy cũng như thế, không phải là chỗ nghe thấy của các Sa-di, Thanh tín sĩ, Thanh tín nữ (Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di), nên xưng là Luật tạng.

A-tỳ-đàm là pháp lớn. Sở dĩ nói lớn vì đại tuệ của bốn đế, dấu hiệu của các pháp, đoạn trừ các thứ tà kiến, vô minh, si mê sâu dày, nên viết là pháp lớn. Cũng gọi là pháp không gì sánh bằng (vô tỷ). Tám trí, mười tuệ, chánh kiến vô lậu, vượt chướng ngại của ba cõi, không gì sánh kịp nên gọi là Pháp vô tỷ. Tôn giả Ca-chiên-diên-tử soạn tập các kinh, rút tóm tuệ chính yếu, trình lên Phật và được chấp thuận nên gọi là Pháp tạng lớn.

Tôn giả A-nan lại tư duy: Nghĩa của ba Tạng nầy cùng với ba giải thoát tương ưng. Thế nào là Khế kinh? Lý của diệu tuệ cùng với không thuận hợp. Tỳ-ni chế ngự ác, lẽ sâu xa ngang với vô tướng. Chánh kiến của pháp lớn, dấu vết đúng với vô nguyện. Nên gọi là ba Tạng, ba giải thoát, dấu nẻo sâu xa diệu hợp.

Tôn giả A-nan lại suy xét: Khế kinh là gốc lớn, nghĩa phân bốn đoạn, vì sao văn nghĩa lẫn lộn? Phải nên dùng sự, lý cùng đến, lớn nhỏ cùng theo thứ lớp. Thứ nhất là Tăng nhất, tiếp đến gọi là Trung, thứ ba gọi là Trường, Thứ tư gọi là Tạp.

Dùng một làm gốc, lần lượt đến mười. Một, hai, ba theo sự tăng lên nên gọi là Tăng nhất.

Trung là không lớn, không nhỏ, không dài, không ngắn, sự hợp ở trung nên gọi là Trung.

Trường là nói sự lâu xa, qua kiếp không dứt, gốc ngọn nguyên do, sự trải bảy Phật, Thánh vương bảy báu, nên gọi là Trường.

Tạp là các kinh đoạn, kết, khó tụng khó nhớ, sự nhiều chi li, vui thích khiến quên, nên gọi là Tạp.

Tôn giả A-nan soạn hợp ba Tạng xong, chọn lấy mười kinh làm một kệ. Sở dĩ như thế là vì người tụng tập của đời vị lai, e sẽ quên, nhầm, thấy tên gọi nhớ gốc, suy xét tự tỏ, nên dùng mười kinh làm một kệ. Gọi là Tạp tạng, vì không phải một người nói. Hoặc Đức Phật thuyết giảng, hoặc các đệ tử thuyết giảng, hoặc chư Thiên tán tụng. Hoặc nói về túc duyên đã sinh khởi của Bồ-tát trong ba A-tăng-kỳ, văn nghĩa chẳng phải là một mà nhiều hơn nơi ba Tạng, nên xưng là Tạp tạng.

Lúc Phật tại thế, vua A-xà-thế hỏi Phật về hành sự của Bồ-tát, Đức Như Lai đã vì nhà vua thuyết pháp đầy đủ. Ví như vua hỏi Phật: Sao gọi là pháp? Đáp: Pháp tức là Bồ-tát tạng. Các chánh kinh Phương Đẳng, đều là sự trong Bồ-tát tạng. Ngày trước, thời Phật tại thế đã gọi là Đại sĩ tạng. Tôn giả A-nan soạn tập tức nay là bốn Tạng, hợp lại mà nói là năm Tạng. Hoặc có nghĩa của một pháp, cũng sâu xa khó trì khó tụng, không thể nhớ nghĩ (một pháp tức là pháp không), vắng lặng không tiếng không vang, không tâm, không niệm, an nhiên không tưởng, là “tối đệ nhất không”, nghĩa không hai. Không dung nạp để có thể xét lường, nên viết là khó trì. Không ngôn từ để có thể đối đáp, nên gọi là khó tụng. Không ý để có thể tư duy nên nói là không thể nhớ. Gọi là nghĩa sâu xa, sự việc là như thế.

Lại nữa, một pháp là gốc của các số. Một là số đầu, mười là số sau cùng. Sau cùng nơi mười lại từ một khởi. Hiện đến ngàn vạn luôn bắt đầu nơi một. Như thế, các số một không thể cùng tận. Trong các kinh, hoặc một nghĩa một pháp một hành một sự, mỗi mỗi đều cùng hợp theo, không mất đầu mối, nên nói như vậy.

Hai pháp là theo hai: Hoặc nói thiện ác, hoặc nêu chỉ, quán, hoặc gọi danh, sắc. Chỉ là hư, quán là thật. Chỉ là định của Tam-muội, an nhiên diệt tưởng, mênh mông bặt nghĩa, nên gọi là hư. Quán sở dĩ nói là thật, là do phân biệt có hành, thị phi tốt xấu, thức riêng biết rõ, ý không lẫn lộn, nên gọi là thật.

Ba pháp là dựa theo ba. Ba là bố thí, công đức, tư duy. Ba hành nầy là pháp thế tục sinh thiên. Hành ba môn giải thoát là pháp đi đến Niết-bàn. Có ba pháp, ba hành, ba phước, ba phần pháp thân, ba, ba cùng hợp theo, dụ như những viên ngọc nối kết.

Bốn pháp căn cứ nơi bốn. Năm cũng thế. Năm pháp tiếp đến sáu. Sáu tiếp đến bảy, tám pháp nghĩa rộng, chín tiếp tới thứ mười. Pháp từ mười đến mười một. Các số như thế đều đồng hai, ba loại sự hợp theo. Tôn giả A-nan tức thì lên tòa. Tòa là tòa Sư tử. Trong kinh sở dĩ dùng dụ về tòa Sư tử, vì sư tử là vua trong loài thú, thường ở nơi vùng đất cao, không trú nơi chốn thấp trũng, nên dụ cho tòa cao. Lại chọn lấy tính chất vô úy. Tôn giả A-nan nghe biết rộng vô lượng, ở trong hàng Thanh-văn là một mình cất bước không sợ, nên nói là tòa vô úy. (Tôn giả A-nan lên tòa cao như thế). Bồ-tát Di-lặc khen: Lành thay! Vui thay! (Bồ-tát Di-lặc sở dĩ hiện xuống là sợ Tôn giả A-nan kết hợp pháp Bồ-tát tại ba Tạng, là Đại, Tiểu không riêng), nói vàng, thâu thạch cùng xâu kết, do đấy ân cần khuyến thỉnh phân bộ. Xưa, Thánh vương Đại thiên có đủ bốn Phạm đường, lần lượt được nối tiếp, cho đến tám vạn bốn ngàn vua, đều có Phạm đường, duy chỉ có một người Đại thiên là bậc Đại sĩ, số còn lại đều là “Tiểu tiết”. Theo đấy mà nói, Đại thừa khó thực hiện, phần nhiều là hướng về Thanh-văn. Bồ-tát Di-lặc cũng nhận biết Tôn giả A-nan phân làm ba Tạng, nhưng còn sợ hàng hậu học chuyên tập pháp không, đoạn kiết thủ chứng, do đấy đã hiển dương Đại thừa, phân làm Tạng riêng, nên giảng nói về các hành của sáu Độ, là đề mục chính yếu của hàng Đại sĩ. Giảng: Thí có hai loại: Có tín thí. Có khủng bố thí. Lập căn được nhẫn tức gọi tín thí. Uy lực bức bách, không do bản tâm gọi là khủng bố thí. Tín thì thành độ. Sợ tức cầu phước. Đạo tục khác nhau, không đợi ngôn từ mà tự riêng khác. Người kia bảo: Người thí đầu mắt là bảy trụ trở lên. Thí của cải vật dụng, là sáu trụ trở xuống. Từ đấy thối chuyển, không rơi vào sinh tử mà mong tới Niết-bàn. Lấy gì để làm rõ? Trong Đại Phẩm Bản Vô, nói: Sáu mươi Bồ-tát đắc đạo La-hán, chính là sự việc ấy.

Giới như kim cương là giới Đại thừa. Giới như gạch ngói là giới Tiểu thừa. Vì sao? Vì kim cương là không thể hủy hoại. Thời trước, có Bồ-tát là một Tỳ-kheo đoan nghiêm hơn người, ra đi khất thực, giữa đường gặp một cô gái xinh đẹp. Cô gái nhìn Bồ-tát liền khởi tâm dục, mong làm vợ chồng, lại tự suy nghĩ: Ở đây cùng nhau nêu bày thì không thể được, chỉ cùng ngồi gần, ta liền phát tâm vô thượng. Bồ-tát nhận biết tâm của người nữ, nên tiến đến trước, cùng ngồi. Chốc lát, người nữ như muốn xích gần tới trước. Tỳ-kheo im lặng không đáp. Lại xích gần lần nữa. Như cố ý thản nhiên, Tỳ-kheo tức vì người nữ thuyết giảng pháp không: Mắt vốn từ đâu tới, rồi đi về chốn nào? Muốn nói là từ cha mẹ đến chăng? Lúc chưa hội hợp, cũng không có mắt nầy, về sau đến khi tan hoại lại đi về nơi đâu? Theo đấy mà nói, mắt không thật có. Năm căn cũng thế. Cô gái hoát nhiên hiểu rõ không, đắc Tu-đà-hoàn. Đáng lẽ cùng nói có mới lại nêu giảng về không. Pháp của Bồ-tát là nên vào có mà nói về không, do đấy là không hoàn toàn hợp với bản ý.

Tôn giả A-nan lúc ấy thấy Tỳ-kheo nầy cùng ngồi với người nữ là phạm oai nghi của Tỳ-kheo, liền trở về bạch Phật: Con vừa thấy có Tỳ-kheo cùng ngồi với người nữ. Đức Phật do đã biết trước nên chỉ im lặng. Tỳ-kheo kia biết Tôn giả A-nan đã thưa với Đức Thế Tôn, nên nghĩ mình đúng ra là không đi đến, nhưng sợ có kẻ phỉ báng sẽ mắc tội, đang muốn hiện biến hóa, vì Phật vốn không cho phép, nên Tỳ-kheo ấy bèn bay thẳng tới chỗ Phật. Phật bảo Tôn giả A-nan: Vị Tỳ-kheo ông vừa thấy phạm luật, hiện là vị Tỳ-kheo đã bay đến đây. Ông từng thấy người phạm dục có thể bay được chăng? Tỳ-kheo nầy vừa rồi đã cùng với người nữ cùng ngồi một chỗ, vì lúc đó do người nữ tâm niệm: Nếu Tỳ-kheo nầy cùng ngồi với ta, ta sẽ phát tâm vô thượng! Tỳ-kheo ấy đã nhận biết tâm ý của người nữ, nên cùng ngồi, tức thì thuyết giảng về pháp không, phân biệt mắt không, năm căn còn lại cũng thế. Người nữ tức sợ hãi nên đắc quả Đạo tích (Tu-đà-hoàn). Do tâm sinh sợ hãi, sợ sinh tử nên chứng đắc Tiểu thừa. Nếu Tỳ-kheo kia, vừa rồi vì người nữ nói về hành có, hoàn thành bản tâm. Do sự việc nầy nên biết, Bồ-tát đó chưa thành nhưng không thối chuyển đối với việc quán xét người, tâm chưa hoàn toàn khéo léo. Đó gọi là giới kim cương. Gọi là người hành nhẫn độ là gặp mắng nhiếc, hủy báng đều im lặng thọ nhận, không đáp trả. Bồ-tát hành nhẫn, thường dùng từ v.v… bình đẳng với mình, người. Mình người đã bình đẳng thì oán thân không hai. Nên kinh nói: Từ của Tiểu thừa là từ ở ngoài da. Từ của Đại sĩ là thấu đến xương tủy. Lấy gì để làm rõ?

Như có người chặt đứt chân tay của Bồ-tát, máu tuôn ra kia liền biến thành sữa, tức là chứng cớ của tâm từ. Tỳ-kheo hành nhẫn nhục đạt được sự việc như vậy. Dụ như người mẹ sinh con, liền có sữa xuất hiện. Từ ấy do niệm đã cảm ứng, tự nhiên biến thành.

Đại sĩ như thế, nhập Tam-muội Từ, nên có thể cảm ứng thành sữa. Hành từ tột cùng, tuy cầm nắm cung tên, nhưng chúng sinh lại đến nương dựa nơi mình. Hành từ không thấu đáo, tuy không cầm đao gậy, nhưng kẻ trông thấy đều bỏ chạy. Do chứng cớ ấy, nên Đại, Tiểu có khác nhau đã tự tìm tới. Bồ-tát tạo hành thiện ác, nghĩa là tinh tấn làm các công đức thiện, còn hành ác, cũng như ngày xưa Đồng tử Hỏa Man phỉ báng Phật Ca-diếp, nói: Sa-môn đầu trọc có đạo gì. Đạo khó chứng đắc đã có thể đắc đạo. Do đấy, nên về sau phải thọ nhận sáu năm khổ nhọc rồi mới đắc đạo. Trong giáo pháp để lại, các Tỳ-kheo thường tranh luận về việc nầy. Cũng như miệng không thể nói mà phải nói để đáp lại. Sáu năm khổ hạnh là không thể hành mà hành báo. Đó là Bồ-tát thân miệng hành ác. Thiền định là đi vào nẻo tịch tĩnh, an nhiên bất động. Trí tuệ nhận biết số lượng như vi trần cùng Hằng hà sa số. Nhớ nghĩ, ghi chép là không thể tính kể. Tuệ sáng hiểu rõ là không thể cùng tận. Sự việc của sáu Độ vô cực (Ba-la-mật) nầy đều ở tại Bồ-tát tạng, không nên hợp với ba Tạng. Tôn giả A-nan muốn khiến Đại, Tiểu khác nhau là có nhân duyên. Những người kia không cùng biết, lý ấy tự không, khó có thể làm sáng rõ. Đại sĩ nghi về không: là không thủ chứng, nên gọi là hồ nghi.

***

QUYỂN 2

Bồ-tát Di-lặc khen ngợi: Lành thay! Là do việc tập hợp pháp lớn của sáu độ làm một phần. Đây tức là Bồ-tát tạng.

* Đoạn kiết: Là đoạn trừ các kiết sử của kiến chấp sai lầm. Là sự việc thành tựu đạo quả Đại thừa với Nhất thiết trí.

* Tôn giả A-nan chỉ nói là nghe, không nói là thấy: Tức há có thể không thấy Đức Như Lai thuyết pháp? Sở dĩ không nói thấy là vì tương lai nơi bốn bộ. Nếu như nói thấy thì bốn bộ chúng sau nầy lại vâng theo Tôn giả A-nan, nói thấy tức là hư vọng. Do đấy, nên chỉ xưng là nghe, không nói thấy.

Đầu tiên thuyết pháp, độ năm người như A-nhã-câu-lân v.v… Nơi nước Ma-kiệt hàng phục ba anh em Ca-diếp. Thích-sí tức là Ca-tỳ-la-vệ.

* Nếu không biết được xứ thuyết giảng kinh, chỉ xưng tại Xá-vệ: Là do Phật ở tại Xá-vệ trải qua hai mươi lăm năm, so với thời gian ở tại các nước khác là lâu hơn cả. Sở dĩ lâu là vì nước ấy cảnh quan tươi đẹp bậc nhất, có nhiều châu báu kỳ lạ, dân chúng đông đúc, hiểu biết nghĩa lý. Tinh xá nơi khu lâm viên Kỳ-đà – Cấp Cô Độc có dị thần chứng nghiệm, nên khi chúng Tăng tập hợp tại giảng đường, đám khỉ vượn hàng ngàn con kéo tới, lân la khắp chốn, xem xét, lắng nghe, hoàn toàn vắng lặng, không một tiếng ồn. Đám chim chóc thì hầu như từ khắp nơi bay về tụ tập. Chúng Tăng chính thức nghỉ ngơi thì các bầy chim kia đều trở về nơi trú ngụ. Kiền chùy vừa gióng lên thì chúng đã lại vân tập. Đây là do đất nước có nhiều bậc nhân từ, nên các loài khác cùng nương bóng. Đức Phật, hoặc có thể tạm thời hành hóa vì thọ thỉnh, hoặc có thể dùng thần lực, vừa giáo hóa xong liền trở lại bổn xứ. Do đấy chỉ xưng là Xá-vệ, đủ biết về chỗ chính yếu.

* Sở dĩ xưng riêng Kỳ-hoàn, Cô Độc, là tên của hai người: Là vì hai vị nầy qua đời trước đây, nay ở tại cõi trời, cũng tập hợp chư Thiên thuyết pháp giáo hóa. Lúc ấy, tâm niệm, nói: Chúng ta vốn là Đàn-việt của chúng Tăng, là hạng đầu tiên, lại không xưng tên họ của chúng ta sao? Nhằm thích ứng với tâm niệm kia, nên lại xưng riêng tên của hai vị.

* Nói: Nên tu một pháp: Là cũng không nói về thứ lớp. Nếu xét về thời gian mới thành đạo thuyết pháp, thì phải từ vườn Lộc-dã thành Ba-la-nại, thuyết giảng tứ đế là đầu tiên. Tiếp theo, đến nước Ma-kiệt hàng phục ba anh em ông Ca-diếp. Nhân việc gọi tên vị chủ Tinh xá, liền nói là: Nên tu một pháp. Do một pháp ấy so với bốn pháp, về vị của lý không khác. Một pháp cũng đoạn trừ kiết, bốn pháp cũng đoạn trừ kiết, cùng đạt đến Niết-bàn, tức “Thù đồ mà đồng quy”. Tóm hai mươi mốt kiết diễn làm ba mươi sáu, số tuy thừa thiếu, nhưng cùng là kiết. Sự thường có trăm lẻ một, mở ra lại là tám vạn bốn ngàn. Do đấy một pháp cùng với ngàn vạn đồng là con đường đến với đạo. Do về nghĩa lý sâu xa là không khác, nên khởi đầu từ một pháp.

* Không phóng dật: Là tông chỉ của một pháp. Hoặc hỏi: Giới nên ở trước. Trước phải trì giới, sau đấy mới niệm Tam Tôn. Hoặc nói: Đây là người mới học, trước niệm Tam Tôn, tức ba tự quy, nối kết ý tại Phật, Pháp, chúng Tăng, do tiếp đến là thọ giới. Theo đấy mà nói, giới nên ở thứ tư, niệm hơi thở ở sau cùng.

* Giải thích: Thân tĩnh lặng, niệm khổ: Nghĩa là quán thân có ba mươi sáu vật bất tịnh, hiện rõ sự xấu, ác, để tự giác ngộ, có thể do đấy mà thành tựu đạo. Lấy gì để làm rõ?

Xưa có vị Tỳ-kheo, tạo A-luyện-nhã, hành khất thực, gặp một nữ Trưởng giả, nên theo cô ta khất thực. Vị Tỳ-kheo và nữ Trưởng giả đều đoan nghiêm, xinh đẹp. Người nữ thấy Tỳ-kheo liền khởi tưởng dục. Tỳ-kheo thấy người nữ cũng dấy ý dục. Ý động khiến tay run, đưa cơm vào bát lại để rơi xuống đất. Người nữ tự cười lạ. Tỳ-kheo thấy răng của người nữ trắng, tức tự giác ngộ: Trong miệng của người nữ chỉ là xương thôi. Như Đức Phật đã dạy: Nơi thân người có ba trăm hai mươi xương, có sáu trăm đốt, bảy mươi vạn mạch máu, chín mươi vạn lỗ chân lông, một lỗ nhập, chín lỗ xuất, tiết ra chất bất tịnh, không một thứ gì đáng tham ái. Quán xét kỹ về thân người nữ với ba mươi sáu vật bất tịnh, thốt nhiên xót xa, lông tóc dựng đứng, chuyên tự nghĩ xét, liền hiểu rõ thân không, đắc đạo Tu-đà-hoàn. Lại tự niệm, nói: Ta nhân nơi người nữ nầy mà thấy pháp, tức người ấy là thiện tri thức của ta. Nay nên báo ân. Tức lại vì người nữ nói pháp quán thân vừa được tỏ ngộ, người nữ tâm mở, cũng chứng được đạo Tu-đà-hoàn. Do đấy mà nói, niệm thân là hơn hết.

* Niệm tử: Là niệm người lúc phước hết, mạng chung, hiện điềm thấy địa ngục kinh sợ hết mực. Hoặc thấy ngạ quỷ, hoặc thấy súc sinh, tùy theo hành nghiệp, gắn liền với chỗ thấy đều là sợ hãi, ý muốn bỏ đi, lại bị phía đối diện dẫn dắt.

Hoặc là người sẽ sinh, duyên nơi việc hội hợp của cha mẹ. Nếu mang thai là nam thì tham ái người nữ, nếu mang thai là nữ, thì lại tham ái người nam kia. Ngoại trừ tật nạn, ba sự không sai, liền được nhập thai. Đã thọ rồi, lại cho là vì mình nên có. Bảy ngày một lần biến đổi khéo léo, hơi gió như khắc, chạm, đến ba mươi tám thất mới thành hình. Nếu sinh nơi cõi trời thì có nhạc trời tiếp đón, vui thích không thù thắng tức mất tiện lợi nhỏ. Năm đường ấy hiện điềm, đều có chỗ thấy. Việc chết đó nên thuận theo, do đã nêu rõ nơi giới, suy xét sâu về vô thường, mạng sống mau chóng như ánh chớp, như bóng mây bay qua sân trước. Già, bệnh, chết ập tới, không gì là không dẫn đến thất tán. Nhớ nghĩ về sự biến đổi ấy để tự giác ngộ, nên gọi là Niệm tử. Mười niệm trước, Đức Phật tự thuyết giảng, chưa có người hỏi nên không giải thích. Mười niệm sau, Tỳ-kheo thưa hỏi, Phật lại vì họ diễn nói, nên mỗi mỗi niệm đều giải thích đầy đủ.

* Tôn đệ tử: Nghĩa là năm trăm vị A-la-hán, mỗi vị đều có sở trường: Hoặc trí tuệ bậc nhất. Hoặc thần túc. Hoặc biện tài. Hoặc phước đức. Hoặc giữ giới. Hoặc biết đủ. Hoặc thuyết pháp, đều đạt được bậc nhất.

* Muốn luận bàn anh trước, em sau: Là do A-nhã-câu-lân là lớn hơn hết, còn Tu-bạt là nhỏ nhất. Đây là chỗ chính yếu theo thứ bậc của pháp Phật. Nếu lấy trí thông tỏ, biết rộng làm đầu thì đấy chính là pháp của Bà-la-môn.

* Nói một ngàn hai trăm năm mươi: Là nêu số lượng thường theo hầu Đức Phật. Hoặc nói: Năm trăm người: Tức lúc Phật nhận lời thỉnh của Long vương A-nậu-đạt, chỉ chọn năm trăm vị có thể tức thì tháp tùng đến cung Long vương. Vì sao? Vì suối A-nậu-đạt ấy không phải là nơi chốn dành cho hàng hữu lậu, hình tướng bị vướng mắc, có thể tới lui thuận hợp được.

Thời gian Tôn giả A-nan “xuất kinh”, đã tập hợp tám vạn bốn ngàn vị A-la-hán, theo đấy mà nói, số lượng là không thể tính kể. Kinh nầy nay nêu ra bậc lớn nhất là một trăm người. Thứ nhất là thông tỏ về bốn bộ chúng. Hai trăm hai mươi vị, đều là bậc nhất. Số còn lại há lại có thể kể ra? Vị kia nói: Kinh nầy vốn có một trăm sự, Tôn giả A-nan phó chúc cho Tôn giả Ưu-đa-la, như Tăng-nhất A-hàm đã nêu, trải qua mười hai năm sau, Tôn giả A-nan Bát-Niết-bàn. Các vị Tỳ-kheo đều hành tập tọa thiền, không còn tụng tập, cho Phật có ba việc làm, tọa thiền là thứ nhất, bèn phế bỏ việc đọc tụng kinh trong mười hai năm, rồi Tỳ-kheo Ưu-đa-la lại Bát-Niết-bàn, do đấy kinh nầy bị mất chín mươi sự. Pháp nước ngoài, thầy trò truyền cho nhau, do khẩu truyền cùng giao phó, không cho phép chép thành văn. Bấy giờ, công việc truyền kinh nầy đều chỉ mười một sự mà thôi. Từ đấy nối tiếp truyền thừa chính là văn bản hiện có. Tuy nhiên, phái Tát-bà-đa không có phần Tự và sự mười một sau cùng. Kinh điển lưu truyền, trôi nổi, trải qua thời gian lâu dài, phần bị mất mát càng nhiều. Sở dĩ phải phó chúc riêng cho đệ tử nầy về Kinh Tăng Nhất: Là do vị kia được thấy từ bảy Phật trở đi, đã hợp tập riêng về Tăng-nhất A-hàm. Các vị Thánh trước, cũng đều phó chúc về kinh nầy. Do đấy, Đức Năng Nhân lúc chuyển pháp luân lại càng tinh tấn, và vị Tỳ-kheo ấy cũng thế.

Lúc nầy, đệ tử của Tôn giả Ưu-đa-la tên là Thiện Giác, theo thầy thọ học, tụng Tăng Nhất đúng là được mười một sự. Tôn giả Ưu-đa-la Bát-Niết-bàn, ba Tạng hiện nay của nước ngoài đều được truyền từ Tôn giả Thiện Giác. Thầy trò cùng trao cho nhau, đến nay là không thay thế.

Sở dĩ Tôn giả Ca-diếp thường gọi Tôn giả A-nan là “Đứa trẻ con”: Là do từ nhiều kiếp đến nay, ý của người cha cùng tăng thêm.

Khi ấy, em gái của Tôn giả A-nan là một Tỳ-kheo-ni, nghe Tôn giả Ca-diếp nói như thế thì rất tức giận, nói: A-nan là bậc thông tuệ, hiểu biết rộng, mọi người đều trông cậy, mà Tôn giả cho là “Đứa trẻ con” sao? Tôn giả Ca-diếp bảo Tỳ-kheo-ni: Đại muội! A-nan có hai sự việc đáng xấu hổ. Vậy cớ gì mà cô phải giận? Chánh tọa A-nan đã khuyên Phật độ cho người mẹ, khiến pháp Phật bị giảm mất ngàn năm, là việc thứ nhất. A-nan có sáu mươi đệ tử, gần đây, ba mươi Tỳ-kheo đã trở về làm bạch y. Phật dạy, pháp độ đệ tử, nếu là hàng tại gia có tín tâm, đến cầu đạo thì nên “thử việc” trong bảy ngày. Nếu là hàng ngoại học tới cầu đạo, thì thời gian “thử việc” là bốn tháng. Vì sao thời gian không như nhau? Là do nơi nhà ngoại đạo, hoặc vì tâm ác muốn tìm kiếm chỗ hơn kém. Vì thế, trước cần “thử việc” để biết có chí thành hay không. A-nan thì không như vậy, có người đến cầu đạo thì độ ngay, là điều đáng xấu hổ thứ hai. Ba mươi Tỳ-kheo nầy sở dĩ hoàn tục là vì vốn nghe Tôn giả A-nan ở trong chín mươi sáu thứ đạo, là vị “Đẳng trí” bậc nhất, nên theo Tôn giả cầu được xuất gia, muốn thưa hỏi về trí ấy. Nhưng A-nan đã đã không vì họ giảng nói, do đấy không hợp với bản tâm của họ, thế là hoàn tục. Hoàn tục tất chê bai A-nan, cho là không có Đẳng trí. Độ đệ tử dụ như cá sinh con hàng ngàn ức vạn, nếu tâm niệm, liền sinh, không niệm thì hủy hoại hết. Đệ tử cũng như vậy, nếu lưu tâm dạy bảo thì thành tựu, không lưu tâm tức thối lui. Đây há không phải là điều đáng xấu hổ sao? Tỳ-kheo-ni nầy, do tâm giận dữ hướng tới Tôn giả Ca-diếp nên hiện thân bị vào địa ngục.

Do Tôn giả A-nan có khuyết điểm ấy nên Tôn giả Ca-diếp gọi là “Đứa trẻ con”.

Tôn giả A-nan biện bạch với việc dẫn chuyện xa xưa từng là Chuyển luân Thánh vương tên là Trường Thọ, nhận “Di giáo” của vua cha nối ngôi vua cai trị, giáo hóa muôn dân. Vì nhằm xuất gia, nên lại phó chúc cho Thái tử Thiện Quán, ủy thác chánh sự. Lần lượt cùng trao truyền, chưa từng thay đổi. Xưa do cha con tương thừa, nay thì thầy trò cùng nối nghiệp. Ngày xưa, hãy còn không làm mất giáo pháp hữu lậu, huống hồ là nay lại để mất diệu pháp chí chân sao? Tức dẫn chuyện để tự chứng minh các vị đệ tử tất có thể thọ nhận kinh điển truyền lại.

* Đối với pháp nên nhớ nghĩ tôn kính: Là trong kệ trên đã nhận định về ba Tạng, bốn A-hàm, nơi phần văn xuôi lại nói: Trong một kệ mà có thể gồm thâu các pháp của ba Tạng, huống chi lại “Tăng Nhất” mà không gồm thâu các pháp sao? Sở dĩ lại nói có một đoạn kệ nầy, là do trong tâm của các Thiên tử khởi niệm: Tôn giả A-nan không thể làm kệ để thuyết pháp chăng? Vì sao lại tạo ra lời nói mơ hồ ấy? Tôn giả A-nan đã nhận biết tâm niệm của chư Thiên như vậy, nên nói với các vị Thiên tử: Giả sử số kinh được tám vạn bốn ngàn thớt voi chuyên chở đều viết bằng kệ tụng, tôi hoàn toàn có thể làm kệ tụng, huống hồ là một ít pháp mà không thể làm được sao!

Là nhằm thích ứng với tâm ý của chư Thiên, nên lại dùng kệ, tụng về các pháp, khuyến dụ chư Thiên cùng các chúng sinh lợi căn, nên nghe kệ để hiểu rõ. Pháp tức chương trên đã nêu:

Các ác chớ tạo

Các thiện phụng hành

Tự tịnh tâm ý

Là chư Phật dạy.

Nên nói pháp nầy có thể thành tựu ba thừa, dứt trừ ba nẻo ác, gồm thâu các quả thật, hai đời thọ nhận báo, do năng lực có hơn kém, nên dẫn khuyên để tiến tới. Tụng viết:

Bậc thượng trì ba Tạng

Thứ đến bốn A-hàm

Hoặc thọ trì Luật tạng

Tức là Như Lai bảo.

* Sở dĩ gọi là báu (bảo): Là dụ như vua có kho báu, không khiến kẻ ngoài biết. Chỉ có các quan nơi nội cung cùng nhà vua đồng tâm, thì mới giao cho việc trông coi. Giới luật cũng như thế. Nếu người có thể thọ trì hai trăm năm mươi cùng năm trăm sự, thì mới trao cho họ, không thể khiến hàng Thanh tín sĩ, Thanh tín nữ bên ngoài có thể xem xét, nên dụ cho kho báu của vua.

Nếu năng lực không đạt tới hai Tạng, chỉ thọ trì A-tỳ-đàm, cũng có thể hàng phục ngoại đạo, chín mươi sáu thứ đường hẹp không gì là không quy về gốc lớn. Vì sao? Vì đây là tuệ diệu không gì sánh bằng có thể quyết đoán những vướng mắc sâu xa nhất, khiến thông suốt cùng với nẻo thật. Tuy lại là năm thông trụ kiếp, nhưng chưa tránh khỏi sự chế ngự của bốn ngựa phóng nhanh. Thế nên hàng ngoại học không dám dòm ngó.

Tôn giả A-nan xướng: Lời khuyên tốt đẹp nhất của mười kệ nầy chính là vì ba vạn người, trời ở đây. Ngày trước, Đức Phật mới thành đạo, nơi vườn Lộc-dã, thành Ba-la-nại, đã vì năm người như A-nhã-câu-lân chuyển pháp luân thuyết giảng bốn đế. Phật nói: Câu-lân nên biết! Đây là khổ đế, khổ tập đế, khổ tận (diệt) đế, khổ xuất yếu (đạo) đế. Là nói thẳng về bốn đế ấy. Câu-lân từ lâu đã vướng mắc về hữu, nghe nói về trí tuệ, ý cũng không tỏ ngộ, Đức Phật liền vì ông giảng nói về không: Câu-lân nên biết! Chỗ vướng mắc của bốn tuệ, tất cả đều không, cũng lại vô thường, dụ như huyễn hóa, chẳng thật, chẳng có! Câu-lân liền lãnh hội, được thấy “Đạo tích”. Bốn người kia chưa hiểu, Đức Như Lai lại quán về gốc tâm: Hai người bệnh tại tưởng chấp nơi xúc, nghĩ nhớ về tại gia, năm dục tự vui thích, luyến chấp không xả. Nên theo bệnh cho thuốc, liền giảng nói về Tam-muội vô tưởng: Chỗ tưởng của ông đều quy về diệt tận. Tưởng chấp chưa bỏ, nên bị tâm là ngựa dong ruổi phóng nhanh nơi chốn hoan lạc. Chỗ tưởng liền mở, hai người lại đắc “Đạo tích”. Hai vị còn lại, tâm thường mong sinh cõi Phạm-thiên, nơi Phạm làm vua, chỗ vướng mắc không cởi bỏ, lại do đấy thêm trói buộc, Đức Như Lai thấy rõ tâm niệm đang có, nên vì họ thuyết giảng về vô nguyện: Chỗ nguyện của ông là cầu Phạm-thiên vương, tức không thể xuất yếu, đều quy về diệt tận, là không thường còn, có thể xả bỏ chỗ mong cầu, trước hết là chọn lấy nẻo xuất yếu. Lại liền được mở bày, thành tựu “Đạo tích”. Chỗ vướng mắc của năm người đều khác, nên cởi mở không đồng.

* Điều gọi là ba luân bốn đế: Là trong không, vô tướng, vô nguyện đều có bốn đế. Đế tức là quán. Định tức là chỉ. Chỉ, quán song hành là cùng đối trị bệnh si, ái trong ấm, trì, nhập.

Mười hai là phá trừ mười hai nhân duyên. Thời trước, lúc Phật tại thế, vì bốn bộ chúng thuyết pháp, hoặc thuyết giảng bốn đế, hoặc thuyết giảng về sáu độ, tùy theo chỗ có thể lãnh hội được của chúng sinh được hóa độ, Đức Phật đều vì họ giảng nói rộng về vô thường v.v… Hoặc có các Quốc vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Phạm-chí, cung thỉnh cúng dường, hoặc đến thỉnh vấn.

Các trường hợp có thể thuyết giảng, Tôn giả A-nan hỏi Phật: Vì sao gọi như thế? Nên nói về văn (nghe)? Nên nói về kiến?

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: Về sau nầy, lúc vì bốn bộ chúng thuyết pháp, nên nói về văn, không được nói về kiến. Nếu nói về kiến tức là hư vọng. Vì sao? Vì văn là quá khứ đã qua. Kiến là hiện tại. Như bảy Phật quá khứ, chính có thể nói là văn, không được nói là kiến. Ông đối với việc sau nầy cũng lại như vậy. Nên nói là “Nghe như vầy”.

* Ta sở dĩ ân cần phó chúc, dặn dò A-nan: Là chư Phật quá khứ tuy có thị giả, nhưng không có vị nào như Tôn giả A-nan biết rõ ý thú của Phật. Từ thời xa xưa, đã từng cúng dường hai mươi ức Phật, luôn làm thị giả, không cầu dứt hết các lậu, thường nguyện đạt được Đẳng trí, nhận biết ý thú của Phật, do đấy nên nay có được phước báo kia. Nhìn mắt thấu ý không mất phép tắc. Trong chư Phật, tinh tấn dũng mãnh, không vị nào vượt hơn Đức Thích-ca-văn. Trong số anh em, Di-lặc lẽ ra nên ở trước, nay lại đứng sau. Vì sao? Thời xa xưa, ba mươi kiếp về trước, lúc ấy có ba vị Bồ-tát cùng du hành nơi vùng núi rừng, trông thấy một con cọp đói muốn ăn thịt con nó. Một vị suy nghĩ: Cọp nầy đã là súc sinh, lại muốn ăn thịt con mình, chết tất thọ khổ, vì làm mẹ lại chẳng có lòng từ. Ta nay thân nầy, bốn đại hợp thành, rốt cuộc phải quy về nẻo chết. Phải nên dùng thân để cứu mạng các cọp con kia. Vị thứ hai không đồng ý, mới muốn đi đến chợ mua thịt dùng thay cho mạng đám cọp con. Vị còn lại suy nghĩ, nói: Nếu từ đây đến chợ, đi về thì mạng của các cọp con không vẹn toàn. Phải nên xả thân để cứu đám cọp con ấy. Liền từ nơi núi cao buông thân rơi xuống chỗ thấp, ngay vào miệng cọp mẹ. Thân vẫn an ổn, cọp mẹ không dám ăn. Sở dĩ như thế là vì, phàm nhập Tam-muội Từ, thì các vật không thể hại. Bồ-tát cố ý dùng gai tre tự chích vào thân, cọp quen mùi máu nên được ăn. Dũng mãnh như thế tức vượt qua chín kiếp, nên nay ở trước Di-lặc. Theo đấy mà nói, đạo không có trước sau, ý quyết là trước. Do đấy, Ta nay thành Phật, nên đem kinh điển để lại giao phó cho A-nan. Ông, nơi đời vị lai, xưng: Nghe như vầy. Vì sao lại nói Một thời? Là vì số lượng của ngày tháng hay là nói về tên người? Đáp: Cũng là số lượng của thời tiết. Cũng là ở nơi tên người. Hoặc nói: Lại có hai tên gọi: Hoặc Sát-đế-lợi, hoặc Bà-la-môn. Lại có hai tên gọi: Hoặc tộc họ Trưởng giả, hoặc tộc họ Cư sĩ. Hoặc tại cõi trời, hoặc tại nhân gian. Các hoặc như thế không phải là một xứ, nên cho là một thời.

* Bà-già-bà: Là xưng về Đức Thế Tôn. Kiết sử đều dứt hết, không ai có thể vượt hơn nên xưng là Tôn. Chư Thiên, ba cõi đều đến quy ngưỡng, tám bộ quỷ thần cũng đều kính chủ, nên xưng là Thế Tôn. Có thể hàng phục ma, tức lại là Tôn. Chỗ xưng tụng như vậy là không thể lường tính, nên hiệu là Thế Tôn.

* Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên: (Khu lâm viên Kỳ-đà – Cấp Cô Độc): Thái tử Kỳ-đà: Là con vợ cả của vua Ba-tư-nặc, có khu vườn lớn rộng tám mươi khoảnh, đất bằng phẳng, cây cối um tùm, nhiều loại chim thú, mặt trời hiện ra thì cùng tập hợp. Kỳ-đà, tâm luôn nhớ tới Phật, thường muốn dâng Phật để làm Tinh xá. Không bao lâu, Trưởng giả Tu-đạt (Cấp Cô Độc) lại tìm đến xin mua khu vườn ấy. Kỳ vốn ít có dịp thân thiện với Trưởng giả, mỗi khi vui vẻ hay đùa cợt, đùa bảo là đồng ý bán. Tu-đạt nghe được, ý quyết nên rất vui mừng, quay sang bảo người hầu mau chóng đóng ngựa vào xe, cả voi, để chở vàng tới trải kín khắp khu vườn. Kẻ hầu vâng lời, công việc được tiến hành, chỉ trong chốc lát đã đầy bốn mươi khoảnh. Thái tử Kỳ-đà nói: Thôi thôi! Tôi chỉ nói đùa mà làm thật. Không cần phải trải vàng nữa. Tu-đạt tức cùng với Thái tử đi tới chỗ vua, tâu lại sự việc. Vua bảo: Pháp không hai lời, hứa quyết đã định, lý không được hối. Kỳ-đà nói với Tu-đạt: Tôi lấy phần cây, ông thì lấy phần đất. Hai người hợp công có thể cùng lập Tinh xá. Tinh xá được dựng lên, có bảy mươi hai giảng đường, một ngàn hai trăm năm mươi phòng ốc. Xung quanh, lối đi phẳng lặng, cây trái xanh tươi, trĩu cành, suối chảy ao tắm, lạnh ấm luôn thích hợp, bốn tháng cùng bày rõ trong lành, hai mùa Đông Hạ đều không đổi. Mọi việc xong xuôi, cùng thỉnh Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đi đến, an trụ ở đấy, Đàn-việt cúng dường, bốn sự không thiếu. A-nan-bân-để do là quan của nước, nhường cao ở trước, thế nên các kinh thường xưng Kỳ đứng đầu. Do công đức cùng liên kết, nên tên gọi cũng không được lìa nhau, thường hợp dùng để xưng gọi.

* Phật bảo các Tỳ-kheo: Vì sao không bảo với các Cư sĩ nam, nữ, chỉ bảo với các Tỳ-kheo, là vì đối với bốn bộ chúng, Tỳ-kheo là đứng đầu. Lại là chủ của việc phá ác, dùng pháp vô lậu đoạn trừ các thứ hữu lậu. Do đấy, nên trước là nói với Tỳ-kheo. Cũng gọi là Sa-môn. Sa-môn là tâm được dừng dứt. Dứt chuyển hữu dục, vắng lặng, không vướng mắc. Cũng gọi là trừ cận. Người đời đói khát nơi sắc dục. Tỳ-kheo là dứt trừ tưởng đói khát của ái dục ấy. Đức Thế Tôn thuyết pháp, Tỳ-kheo có thể thọ nhận, nhằm đoạn dứt sinh tử, đi tới cửa Niết-bàn. Vì vậy nên bảo với các Tỳ-kheo.

* Nên tu hành một pháp: Nghĩa là niệm Phật. Niệm Phật là những sự việc gì? Thân Phật là kim cương không có các lậu. Nếu khi đi, bàn chân cách mặt đất bốn tấc, tướng “Thiên bức” dấu vết hiện rõ nơi đất. Dưới bàn chân, các loài trùng kiến được an ổn bảy ngày, nếu chúng mạng chung đều được sinh lên cõi trời.

Xưa có một Tỳ-kheo ác, gốc là ngoại đạo, muốn giả phục tùng để phỉ báng, nên theo đường Phật đi, giết nhiều loài trùng bay đặt nơi dấu chân Phật, bảo là đạp chết loài trùng. Nhưng loài trùng tuy chết gặp chỗ có dấu chân Phật, tức thì được sống trở lại. Nếu đi vào thành ấp, bàn chân vừa giẫm lên ngưỡng cửa, thì trời đất chấn động, trăm loại âm nhạc không tấu mà tự vang lên. Những kẻ điếc mù câm ngọng, trăm thứ bệnh tật tự nhiên dứt khỏi. Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, nếu có người trông thấy, theo bước đi được độ, công đức giáo hóa, cứu giúp không thể tính kể. Tuệ sáng tỏa chiếu, há có thể chê trách được sao!

Phật là chủ của các pháp, hợp chung của muôn hành, do chuyên chở là trước tiên. Gọi là niệm Phật, về nghĩa là như thế.

* Niệm Pháp là thế nào? Pháp là pháp vô lậu, pháp vô dục, pháp của đạo, pháp vô vi, là từ dục đến vô dục. Phật là chủ của các pháp. Pháp là chủ của các kiết sử. Hoặc có người hỏi: Pháp là trước hay Phật là trước? Đáp: Pháp ở trước. Làm sao nhận biết? Kinh viết: Pháp sinh ra chư Phật. Pháp sinh Phật đạo. Theo đấy mà nói thì pháp ở trước. Lại hỏi: Nếu như thế, vì sao không niệm Pháp trước, mà lại niệm Phật trước? Đáp: Pháp tuy vi diệu, nếu không người có thể nhận biết thì cũng như trong lòng đất có kho tàng chứa nhiều châu báu, không xứ nào là không có, mà bao người nghèo khổ vẫn thiếu thốn của cải, vật dụng. Như được người có thần thông chỉ rõ nơi chốn, có được châu báu mới tự cung cấp, cứu giúp kẻ nghèo thiếu.

Hoặc lại hỏi: Báu là hơn hay người là hơn? Đáp: Người là hơn. Do đâu nói là hơn? Kho tàng nơi lòng đất tuy nhiều nhưng nếu không có thần thông thì chẳng thể thấy. Do người nên có được của cải, há kho báu ở trong lòng đất tự cho là quý chăng? Pháp cũng như thế. Lý tuy huyền diệu, nhưng nếu không có Đức Như Lai thì không được biện giải, nếu không có Đức Thế Tôn thì không thể thông suốt. Thế nên niệm Phật ở trước, tiếp theo là niệm Pháp.

* Thế nào là niệm Tăng? Tăng là bốn hướng bốn quả, mười hai Hiền sĩ, xả bỏ mọi tham tranh của thế tục, mở phước dẫn đầu, thông đường trời, người, không gì là không do đấy, tức là ruộng phước tốt đẹp bậc nhất của chúng sinh. Lấy gì để làm sáng rõ chúng Tăng là ruộng phước tốt đẹp? Ngày trước, có một Tỳ-kheo phước mỏng tên là Phạm-ma-đạt, ở trong chúng một ngàn hai trăm năm mươi vị khiến chúng Tăng không được thọ thực, mà không biết ai có lỗi. Đức Phật liền phân chúng Tăng làm hai bộ, trong một bộ lại khiến một bộ phận không được ăn. Lại phân một bộ phận nầy làm đôi, một nửa khiến theo nửa kia, lại khiến nửa nầy không được ăn. Như vậy lần lượt phân nửa, cho đến hai người cũng không được ăn. Rốt cuộc, còn chỉ riêng một người mới nhận biết kẻ vô phước. Ở chỗ hành thì có thức ăn, tiếp đến nơi bát thì tự nhiên tiêu mất. Phật thương xót ách nạn nầy nên tự tay trao cho thức ăn, ngay trong bát, do thần lực chế ngự nên thức ăn không bị biến mất nữa. Phật muốn khiến cho Tỳ-kheo kia thân hiện tại có được phước, nên khiến hai Tỳ-kheo nhập định diệt tận ở hai bên Tỳ-kheo kia, dùng thức ăn thí cho hai Tỳ-kheo hành định diệt tận. Phàm hành Tam-muội diệt tận đều tức thì được phước. Tiếp theo, khiến hai Tỳ-kheo ở hai bên nhập Tam-muội Từ. Rồi khiến cả hai nhập Tam-muội Bi, Hỷ, Hộ (Xả), mỗi mỗi thứ đều thay khắp khiến thực hiện xong bốn tâm vô lượng. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, nghe Tỳ-kheo ấy phước mỏng, Phật đã thương xót ban cho thức ăn, nên nghĩ: Ta nay cũng nên vì vị ấy tạo phước. Liền sai kẻ hầu lo việc giã gạo cho trắng. Lúc ấy, có một con quạ bay tới tha một hạt gạo bay đi. Kẻ hầu vua trách cứ: Nhà vua đã vì Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt tạo phước, mày vì sao lại tha gạo đi? Quạ liền mang hạt gạo trả lại chỗ cũ. Sở dĩ như thế là vì Tỳ-kheo nầy đã nhờ phước lực của chúng Tăng, do đấy các thứ chim thú không thể xâm hại. Dùng sự việc ấy để chứng tỏ, biết chúng Tăng là phước điền tốt đẹp. Do đã tự độ, lại có thể độ người đến đạo ba thừa. Pháp niệm chúng Tăng, về nghĩa là như thế.

* Tiếp đến là niệm giới: Về nghĩa là thế nào?

Từ năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới, đến năm trăm giới, đều là để cấm chế thân miệng, ngăn chận các thứ tà vạy, sai trái, điều phục sáu căn, dứt các niệm dục, bên trong biểu hiện thanh tịnh là ứng hợp với giới tánh.

Xưa có hai Tỳ-kheo cùng đi đến trú xứ của Phật, trên đường phải đi qua vùng đầm rộng khô hạn, không có nước uống, chỉ còn một vũng nước nhỏ, trong nước ấy đầy những trùng. Một Tỳ-kheo suy nghĩ sâu xa về giới luật, lấy việc không phạm làm đầu, nếu uống nước nầy là giết hại rất nhiều mạng sống. Ta thà giữ toàn giới mà bỏ mạng, cũng không ân hận. Thế rồi mạng chung, liền được sinh lên cõi trời. Tỳ-kheo kia thì tự nghĩ: Phải nên uống nước để bảo toàn mạng sống mới có thể đi đến chỗ Phật. Đâu biết Tỳ-kheo bạn, sau khi qua đời, sinh nơi xứ nào. Tức uống nước có trùng, hại rất nhiều trùng, tuy được thấy Phật nhưng cách giáo pháp của Ngài rất xa. Tỳ-kheo nầy khóc lóc, hướng về Phật, tự thưa: Đồng bạn của con đã mạng chung. Phật chỉ tay lên trời, bảo: Ông biết vị trời nầy chăng? Đấy là bạn của ông. Do công đức giữ giới, nên sau khi mạng chung liền được sinh lên cõi trời, nay lại có mặt ở đây. Ông tuy được thấy Ta, nhưng lại cách Ta rất xa. Tỳ-kheo nầy tuy đã qua đời, nhưng luôn ở nơi chỗ Ta. Ông nay đến đây thấy Ta, nhưng thật sự là chỉ thấy nhục thân của Ta, đâu biết được diệu giới chí chân!

Do đấy mà nói, trì giới không phạm thì sở nguyện đạt được. Trong mười niệm, thì giới ở trước, còn theo sáu độ mà nói, thì thí đứng trước. Sở dĩ trước sau không đồng, vì trong mười niệm, giới là giới của hàng Thanh-văn, pháp của hàng Thanh-văn lấy việc kìm chế, điều phục thân là trước tiên, thế nên giới đứng trước. Pháp của hàng Đại sĩ lấy tuệ thí làm trọng. Vì sao? Vì phàm là hàng Đại sĩ sinh trong cõi trời người, tâm luôn nhớ nghĩ đến việc tế độ, tạo lợi ích. Chính yếu của việc tế độ, tạo lợi ích, nếu không thí thì chẳng cứu. Phàm là chúng sinh sinh sống, thì thức ăn, y phục là trước hết. Nên dùng tài thí để trước cứu giúp về thân xác, sau đấy dùng pháp để thâu phục, dẫn dắt về tinh thần. Do vậy hàng Đại sĩ lấy thí làm trước. Giới có hai: Có giới của tục, có giới của đạo. Năm giới, mười thiện là giới của tục (thế gian). Ba Tam-muội là giới của đạo (xuất thế gian). Hai trăm năm mươi giới, đến năm trăm giới cũng là giới của tục. Diệu tuệ của bốn đế là giới của đạo. Chỉ hành giới an, không ra ngoài ba cõi. Dùng tuệ dẫn dắt giới khiến thành vô lậu mới hợp giới của đạo. Giới của hàng Thanh-văn dụ như hoa để trên đầu gối, có động tức rơi ngay. Giới của hàng Đại sĩ dụ như hoa cài trên đầu, đi đứng chẳng động. Vì sao? Vì Tiểu thừa bó buộc về hình tướng, động tức vượt oai nghi. Đại sĩ thì thống lãnh tâm, không câu nệ phép tắc bên ngoài. Khuôn mẫu của Đại, Tiểu có dị biệt, do hình tướng, nội tâm làm khác. Ngoài, trong tuy khác nhưng cùng đi tới Niết-bàn, nên gọi là niệm giới.

* Niệm thí sở dĩ đạt được Niết-bàn: Là do thí có tài thí, pháp thí. Nhân nơi tài thí mà đạt được pháp thí, thành tựu Đàn độ vô cực (Thí Ba-la-mật) nên được đến Niết-bàn.

* Niệm thiên: Là thiên (trời) của ba cõi Dục, Sắc, Vô sắc. Thiên có hai loại: Thiên có thọ phước và thiên có đạo đức. Các thiên Tu-đà-hoàn của cõi Dục, vĩnh viễn lìa ba nẻo ác, tiến lên chốn đạo. Thiên của tám Tịnh cư thuộc sắc giới, không giới, tăng tu chỉ, quán, tiến thành vô lậu, tức Niết-bàn kia không trở lại thế gian. Thiên phàm phu: Là mười thiện, bốn thiền, bốn không, nơi cõi ấy thọ phước, phước hết, trở lại rơi vào nẻo lưu chuyển không dừng. Gọi là niệm thiên, là niệm các vị thiên đắc đạo kia, chuyên tâm học theo chư vị, kính ngưỡng nẻo hành, ý không dong ruổi phân tán, cũng đạt tới Niết-bàn. Nên gọi là niệm thiên.

* Niệm dừng dứt: Nghĩa là tưởng của tâm ý dứt, năm dục không khởi. Vắng lặng, hoàn toàn định, nên gọi là dứt. Dứt cũng có hai thứ: Phạm-chí của ngoại đạo trói buộc thân hình cầu phước, cũng cho là dứt. Bốn quả Sa-môn, các kiết vĩnh viễn tiêu trừ, mới là dứt chân thật. Do đâu nhận biết như thế?

Xưa có vị Tỳ-kheo tên Tu-la-đà, đi đến thành Xá-vệ, giáo hóa khắp chốn. Lúc đó, phía Tây thành Xá-vệ là xứ của Ương-quật-ma có thể giết hại người. Đất bằng phẳng, rộng rãi, có nhiều cây cối. Bấy giờ, có một Phạm-chí đang tọa thiền dưới một bóng cây không ăn năm thứ lúa thóc, chỉ ăn các thứ trái cây, cỏ, nếu không có trái cây thì ăn cỏ rau, để tinh khí được nối tiếp. Thân mặc áo lá cây, hình tướng ốm gầy, giảm thiểu để tự chống giữ. Khi ấy, Tu-la-đà đi ngang qua, từ xa trông thấy, cho là Đạo sĩ, bèn ngồi thiền, quán dò thử biết tâm của vị kia là định chăng? Thấy tâm của kẻ ấy vốn là cầu làm Quốc vương xứ nầy, nên nghĩ: Đây là tên giặc lớn chăng? Đang muốn bỏ đi, e về sau lại rơi vào tội lỗi. Đang muốn giáo hóa, nhưng ắt là không theo lời ta, nên tạo phương tiện để độ người nầy. Bèn đi tới bên một gốc cây tọa thiền, cách vị kia không xa, trải qua bảy ngày chẳng hề dao động. Sau bảy ngày, Tu-la-đà đứng dậy, đi đến trước Phạm-chí, búng ngón tay cho biết, nói: Đồng bạn thấy trong người thế nào? Hồi lâu, Phạm-chí mới từ từ ngẩng đầu, đáp: Kẻ nghèo thiếu đâu có gì để cùng trao cho nhau. Tỳ-kheo lại bảo: Tôi nay sẽ trao cho ông một vật. Liền hóa ra một con gà. Ông có thể giết con gà nầy để ăn. Phạm-chí kinh sợ nói: Đến loài chấy rận tôi hãy còn không giết hại, huống hồ là sẽ giết con gà nầy sao? Tỳ-kheo bảo: Bản tâm của ông chính là muốn giết hại vô số người, nay giết một con gà nầy thì đâu đủ để nói. Phạm-chí lại bảo: Tôi vì sao lại giết hại vô số người? Tỳ-kheo đáp: Ông vào lúc ngồi thiền, bản tâm chính là muốn cầu làm Quốc vương xứ nầy. Làm vua, cai trị, mỗi ngày có thể giết bao nhiêu người, sao bảo là không giết? Con gà nầy tức là phần thức trong tâm của ông. Gà mới có thể đắc đại đạo vô vi, chứ không phải làm vua mà đạt được. Phạm-chí liền tư duy: Tỳ-kheo nầy đã nhận biết tâm niệm ta, tất là Thánh nhân, nên đi theo giáo pháp của vị ấy. Tỳ-kheo lại vì Phạm-chí giảng nói pháp, liền chứng đắc quả Tu-đà-hoàn.

Phạm-chí nầy thân hình tuy tĩnh nhưng tâm không dừng dứt. Tự giết được con gà thức rồi mới có thể gọi là dừng dứt. Nên tiếp sau, giải thích, gọi là tưởng của tâm ý dứt.

* Niệm thân: Là quán thân có ba mươi sáu vật bất tịnh, bày rõ sự xấu ác. Niệm xét đúng đắn, không loạn, cũng chứng đắc Niết-bàn. Do đâu biết được?

Xưa có vị Tỳ-kheo tạo lập A-luyện-nhã, thường hành khất thực, thọ thực nơi bờ sông, xong thì rửa bát. Bấy giờ, bên bờ vùng thượng lưu sông là một nghĩa địa, có người nữ mới chết, gió thổi tóc trên đầu hốt nhiên rơi trong bát. Tỳ-kheo dùng tay cầm lấy mớ tóc ấy, xem kỹ là hết sức mượt mà, tâm miệng riêng nói: Nếu là đuôi ngựa thì đuôi nầy rất nhỏ. Nếu là tóc của người nam thì lại càng nhỏ mịn. Nếu buộc lại không bung ra thì tất là tóc người nữ. Tức liền buộc lại, không bung ra, nên sinh nghĩ tưởng: Người có tóc như thế ắt là xinh đẹp. Mặt như sắc hoa đào, mắt như hạt ngọc sáng, mũi như ống trúc chuốt gọn, miệng như ngậm son, mày ngài má phấn. Tạo sự phân biệt như vậy rồi, liền khởi tâm dục, theo dòng nước tìm cầu, tưởng sẽ thấy một nhan sắc cho bõ công sức, nhưng chỉ thấy một người nữ bị chồn sói ăn mất một nửa, thân hình thối rữa, riêng tóc vẫn còn. Cầm tóc so sánh thì ngắn dài tương tợ, tưởng dục vừa có tự dưng tiêu tan. Tỳ-kheo lại quán lần nữa, suy xét, phân biệt: Người nầy lúc còn sống hình dung đẹp đẽ, nay thì tan hoại, ai cũng thấy rõ. Ta vừa khởi tưởng chỉ muốn tham thân ái dục, nên sinh niệm ấy. Thân kia đã như vậy, thân ta khác gì? Xét kỹ về thân nầy là bốn đại hợp thành, phước hết duyên lìa, tự nhiên tiêu tán. Thấy chuyển, tâm ngộ, tức đắc Tu-đà-hoàn. Do đấy mà nói, niệm thân đạt quả Sa-môn.

* Niệm về chết: Là niệm về hành nhân, mạng sống trôi đi không dừng, các căn hư hoại, như cây gỗ mục, mạng căn đoạn dứt, nên nhớ nghĩ về vô thường để tự giác ngộ.

Xưa có Tỳ-kheo tên Bà-cát-lê, hành đạo tọa thiền, trải qua nhiều năm mà hữu lậu chẳng trừ. Tự lo về thân mình, cho là lụy lớn, mỗi khi tư duy, tự ghét bỏ: Sở dĩ con người không chứng đắc được đạo vô thượng chính là vì thân nầy lưu chuyển triền miên, biết lúc nào có thể dứt? Tức dùng tay cầm dao sắp sửa tự đâm vào cổ. Lại tư duy lần nữa: Đức Thế Tôn có dạy khuyên: Các đệ tử không được tự sát hại. Tuy vậy, ta nay muốn cầu Niết-bàn, trong Niết-bàn không có thân, do đó trước trừ bỏ thân, chính là chọn lấy giải thoát. Bèn đưa dao lên tự đâm vào cổ, đầu cũng rơi, tim cũng thủng, tức đắc A-la-hán. Đức Phật biết Tỳ-kheo kia đắc đạo, nên sai các Tỳ-kheo hỏa táng thi thể. Vì thế, niệm về chết cũng đạt Niết-bàn.

Mười niệm trước Đức Phật giảng nói chung, vì các chúng sinh lợi căn. Sau lại nói lần nữa, vì các chúng sinh độn căn, nên đã giải thích rõ về nghĩa.

* Danh dự: Là về sau được làm Chuyển luân Thánh vương.

* Được quả báo lớn: Là về sau được làm Thiên Đế-thích.

* Các thiện khắp nơi cùng đến: Là về sau được quả báo Phạm-thiên.

* Được vị cam lồ: Là về sau được quả Phật Bích-chi.

* Đến xứ vô vi: Là về sau đạt được quả A-la-hán.

Trên nói mười niệm không có năm câu nầy. Nay sở dĩ thêm các quả báo, là muốn làm rõ về lý thâm diệu của nghĩa niệm Phật.

Phật nói: Các đệ tử Bát-Niết-bàn đều do sự đền trả của túc duyên, đối nhân mà giữ lấy Niết-bàn. Tôn giả Mục-kiền-liên bị đánh đập. Tôn giả Xá-lợi-phất bị đau đường ruột. Như thế, năm trăm vị đệ tử của Đức Phật đều do túc duyên mà giữ lấy diệt độ, chỉ có Tôn giả A-nan nhập Niết-bàn là tốt đẹp hơn hết. Lúc Tôn giả A-nan sắp vào Niết-bàn, trước hiện điềm lành là ánh sáng. Có Phạm-chí theo Tôn giả A-nan học toán thuật, thấy sắc diện của Tôn giả phát sáng, liền báo với vua A-xà-thế: Tôn giả A-nan sắc diện khác thường, là sắp sửa Bát-Niết-bàn chăng? Vua liền sai người đi tìm Tôn giả A-nan. Tôn giả lúc nầy đã dẫn năm trăm đệ tử đi đến quãng giữa trên bờ sông Hằng, lên thuyền sắp qua sông, vừa ra giữa dòng, người của vua A-xà-thế cũng đã tới bờ. Tỳ-xá-ly biết Tôn giả A-nan tới cũng khiến năm trăm Đồng tử nghinh đón. Muốn vừa ý cả hai nước, nên Tôn giả A-nan dùng thần lực chế ngự thuyền khiến đứng yên giữa sông. Lúc nầy, đệ tử được độ, một người tên Ma-thiền-đề, người thứ hai tên Ma-thân-đề, Tôn giả A-nan bảo Ma-thiền-đề: Ông đi tới nước Yết-tân hưng khởi pháp Phật, đất ấy chưa có chánh pháp, khéo làm cho pháp Phật truyền bá rộng khắp. Lại bảo Ma-thân-đề: Ông đi đến nước Sư-tử-chử hoằng dương làm cho Phật pháp hưng thịnh. Dặn dò như vậy xong, Tôn giả hiện mười tám thần biến, phát ra lửa thiêu thân, ở giữa phân Xá-lợi, khiến hai nước đều được cúng dường. Đây là do diệu lực của niệm Phật, nên được tự tại.

***

QUYỂN 3

Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: Đức Phật là bậc Đại từ, muốn khiến cho các đệ tử nhận biết đầy đủ về nghĩa của niệm Phật. Cũng như người cha dựa theo lời khuyên răn để dạy bảo con cháu, nhằm khiến chúng thành tựu, không nhằm báo đáp cho mình. Đệ tử đã chuyên tinh niệm Phật, quán hình tướng của Như Lai mắt chưa từng rời. Cũng như Tôn giả A-nan quán Phật không chán, tâm niệm không dừng.

Lúc nầy, Tôn giả A-nan trên lưng sinh mụt nhọt, Đức Phật sai Kỳ-bà chữa trị. Kỳ-bà bạch Phật: Không dám chạm tay lên lưng Tôn giả A-nan. Đức Phật bảo Kỳ-bà: Chỉ chữa trị, chớ nghi. Tự Ta sẽ vì Tôn giả A-nan thuyết pháp, khiến không còn biết đau.

Đức Như Lai khiến Tôn giả A-nan luôn chiêm ngưỡng tướng hảo của Phật, Phật vì Tôn giả mà thuyết pháp.

Thân Như Lai là thuộc về kim cương không thể hủy hoại. Ba ngàn hai trăm công đức của phước báo tạo thành, Tôn giả A-nan mắt nhìn không biết mỏi, tai lắng nghe không biết chán, tâm nhớ nghĩ không buông. Bấy giờ, Kỳ-bà phá vỡ mụt nhọt trên lưng Tôn giả A-nan rồi bôi thuốc. Đức Phật hỏi Tôn giả A-nan: Ông có thấy đau trên lưng không? Tôn giả A-nan thưa: Không thấy đau.

Không thấy đau là do niệm Phật.

Mười lực tạo thành cùng bốn vô sở úy. Xưa, có vị Trưởng giả dẫn theo kẻ hầu nữ đi lễ Thâu-bà (Tháp), đọc: Nam-mô Đức Thế Tôn mười lực! Kẻ hầu nữ đứng sau lễ, đọc: Nam-mô Đức Như Lai mười một lực. Trưởng giả bảo: Như Lai chính là có mười lực, vì sao lại đọc mười một? Kẻ hầu nữ thưa: Mười một lực lại có trở ngại gì sao? Chỉ không nên nói chín lực. Nói mười một lực là thêm một lực, đâu có lỗi lầm gì. Ông Trưởng giả im lặng trở về nhà. Lại hỏi các vị Pháp sư: Đức Như Lai có bao nhiêu lực? Đáp: Hoặc có ba lực. Hoặc có mười lực. Hoặc nói là vô số. Theo đấy mà nói thì không hạn định nơi mười chăng? Trưởng giả liền xuất gia học đạo, cho kẻ hầu nữ khỏi hầu chủ nhà. Nói bốn chẳng phải là không đủ. Nói vô số chẳng phải là có thừa. Hợp thời, ứng vật, không có lượng cố định.

* Niệm Pháp: Từ dục đến không dục. Từ dục đến đạo. Từ lậu đến vô lậu. Từ hữu vi đến vô vi. Do đâu nhận biết như thế? Ngày trước, Đức Thế Tôn ở tại nước của vua Ưu-điền thuyết pháp, giáo hóa. Bấy giờ, Đức Thế Tôn lên cõi trời Ba Mươi Ba (Trời Đao-lợi) vì mẹ là Ma-da, thuyết pháp, chín mươi ngày mới trở về trần gian, từ nơi phía Bắc thành Ca-thi đi xuống. Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-liên-hoa tâm niệm muốn riêng mình được thấy Phật trước. Các vị Quốc vương không trông thấy Phật đã chín mươi ngày, đều có tình cảm khao khát, ngưỡng mộ, nên cùng tề tựu đông đủ. Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-liên-hoa suy nghĩ: Ta là Tỳ-kheo-ni, không nên ở trong chỗ đông đảo, ồn ào nầy. Cần tạo ra phương tiện thích hợp để được đón Phật trước. Liền hóa làm vị Chuyển luân Thánh vương, đám tùy tùng đều đúng theo pháp của Thánh vương. Các Tiểu vương quốc trông thấy Thánh vương thảy đều tự tránh xa. Tỳ-kheo-ni liền hiện trở lại hình tướng như trước, gặp Phật, lễ bái, vấn an. Các vị vua đều đến yết kiến Đức Phật, không còn thấy Chuyển luân vương, mới biết là do Tỳ-kheo-ni nầy hóa ra, bèn nói: Điều trông thấy vừa rồi là lừa dối như thế chăng? Lúc nầy, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-liên-hoa tâm niệm tự cho mình là người thấy Phật trước nhất. Đức Phật bảo Ưu-bát-liên-hoa: Cô tự cho mình là người thấy Phật trước tiên, nhưng lại có người thấy Phật trước cô đấy. Cô biết rõ là vị nào chăng? Đức Phật nói: Nơi mé núi phía Đông thành La-duyệt (Vương-xá), Tôn giả Tu-bồ-đề đang vá y ở đấy. Có vị trời báo cho biết: Đức Phật đã trở lại trần gian. Tu-bồ-đề nói: Tôi là đệ tử, theo pháp là phải đi đến lễ bái, thưa hỏi. Lại tự tư duy: Phật hiện ở tại chốn nào? Hoặc sắc vàng óng là Phật chăng? Vàng lại có hạn lượng nào? Đức Phật đã dạy: Tất cả các pháp là không, là vô sở hữu, nếu hiểu rõ mười hai nhân là không, không tạo, không tác, không người, không sĩ phu, không thọ mạng, không kẻ thọ mạng, tức là thấy pháp. Thấy pháp không mạng, chẳng phải là mạng là thấy ta. Liền chấp tay, đọc: Bà nam! Đúng là như thế! Liền ngồi trở lại để vá y. Theo đấy mà nói, Tu-bồ-đề là người thấy Phật trước cô!

Phật là chủ của các pháp. Hiểu rõ pháp không tức là niệm Pháp.

* Niệm Chúng (Tăng): Là chúng Hiền Thánh. Phàm là chúng, tức có từng ấy loại. Chín mươi lăm thứ ngoại đạo, mỗi thứ cũng đều có chúng. Hoặc có thứ hòa hợp. Hoặc có thứ chẳng đồng. Cũng dùng giới luật để tự ngăn cấm. Hoặc hành thiền định. Hoặc cho vô tưởng là vi diệu tột bậc. Đều tin nơi việc làm của mình, tự cho là chân thật. Song không đạt được bát Thánh đạo phẩm đích thực, do đấy không thể đạt đến Niết-bàn. Tuy lại có kẻ chứng đắc năm thông, sống lâu cùng nhập vô tưởng kéo dài hàng kiếp, đều không tránh khỏi sinh tử. Chỉ có Thánh chúng của Như Lai gồm các vị đã đắc bốn hướng bốn quả là không còn bị bốn thứ nhanh chóng (bốn Bộc lưu?) làm cho nổi trôi, chín thứ dứt dừng khiến cho tan tác. Nên kinh nói: Chín mươi sáu thứ Tăng, Tăng của Đức Phật là chân thật hơn hết. Bốn bộ chúng của Như Lai đều là đồng Thích chủng. Dụ như bốn dòng sông Hằng đều có riêng năm trăm nhánh, đều hợp nhập nơi biển cả để cùng một vị. Chúng cũng như thế. Có người là chủng tộc Sát-đế-lợi. Có người là chủng tộc Bà-la-môn. Có vị là chủng tộc Trưởng giả, Cư sĩ. Trong bốn chủng tánh, có người xuất gia học đạo đều đồng là Thích chủng, là một họ, không có các tên gọi riêng như thế. Do phạm vi bao quát càng xa, nên về nghĩa càng sâu rộng. Chúng Tăng chính là đều thọ nhận nơi ba thừa. Tăng A-la-hán cũng xuất sinh từ đấy. Hàng Duyên giác cũng ở trong đó. Tăng Đại thừa cũng vậy. Thế nên gọi là ruộng phước tốt đẹp bậc nhất. Cứu giúp chúng sinh trong ba cõi, không gì vượt hơn loại “Ruộng đất” tốt đẹp ấy. Đức Như Lai tuy đã thành Chánh giác, vẫn thường hướng trở lại đến chúng Tăng để sám hối. Là do “đất” của Tăng dày, nặng. Ba đời chư Phật, Duyên giác, Thanh-văn, không bậc nào là không do Tăng mà được diệt độ. Cũng như Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt, nhờ nơi Thánh chúng mà được cứu độ vẹn toàn.

* Niệm giới: Nghĩa là hành trì giới tịnh gồm thâu các luật nghi. Cũng như người thợ gốm sử dụng các thứ đất thó, bùn v.v… tạo thành những đồ chứa đựng lớn nhỏ, vuông tròn, đều thích hợp với sự mong muốn của người tiêu dùng. Giới cũng như vậy. Hoặc nguyện sinh thiên, thọ phước của ba cõi. Hoặc muốn đoạn trừ kiết cầu đạo, sở nguyện đều hợp ý. Giống như chiếc bình Cát tường, tùy theo ý muốn của người giữ lấy, tức được như ý. Dùng giới làm gốc, hành trì luôn ba mươi bảy phẩm và các Tam-muội, định, đoạn bảy sử, chín kiết, tiến đến thành Niết-bàn, dụ như đất thó thành đồ đựng, không thể bị hư hoại nữa.

* Niệm thí: Tức thí có hai sự: Hoặc có chủ thí, hoặc không chủ thí. Lại có hai thí: Một gọi là cho. Hai gọi là xả. Lại có hai thí: Một là của cải. Hai là giáo pháp. Cho tức là thí có chủ. Xả là thí không chủ. Xả tức là xả bỏ kiết. Cho tức người trước mặt thọ nhận của cải, giáo pháp.

Sở dĩ thí đạt đến Niết-bàn: Là nếu lúc cho người của cải, giáo pháp, tâm không mong cầu quả báo, không chấp mình, người, do ba sự vô ngại tức đồng với giải thoát. Hoặc có thể xả bỏ kiết, cũng là Niết-bàn. Xả, cho cùng đạt đến Niết-bàn. Cũng như chú voi tuân theo đứa trẻ mạnh mẽ, tiến tới cùng thối lui. Nếu cả hai được thịt, tiến tới thì phá trừ quân binh, thối lui thì mất việc ăn thịt, tất nhiên là thế.

* Niệm thiên: Có ba loại thiên (trời): Có Thiên cử, có Thiên sinh, có Thiên thanh tịnh.

Thế nào là Thiên cử? Nghĩa là Chuyển luân Thánh vương, được mọi người suy cử. Sở dĩ gọi là thiên: Là do Thánh vương có mười thiện giáo hóa ở đời, khiến người đều sinh thiên. Vì ở trên con người nên gọi là Thiên. Hoặc có người nói: Thánh vương hơn Phật. Do đâu mà nói như thế? Vì Thánh vương trị đời, người không bị đọa vào đường ác. Lúc Phật xuất hiện nơi thế gian, ba đường ác không dứt. Do đấy nên là hơn. Hoặc lại có thuyết nói: Phật hơn Thánh vương. Sở dĩ nói hơn là vì Thánh vương dùng mười thiện giáo hóa ở đời, không hơn người, trời. Phật xuất hiện, giáo hóa thế gian đạt đến Niết-bàn. Do đấy nên là hơn.

Thế nào là Thiên sinh? Là từ bốn Thiên vương cho đến hai mươi tám cõi trời, những người thọ nhận phước, đều là Thiên sinh, do đó nói Thiên sinh. Lưu chuyển không dứt, chẳng lìa sinh tử, nên gọi là Thiên sinh.

Thế nào là Thiên thanh tịnh? Là ba bậc Phật, Duyên giác, Thanh-văn, đều dứt hết kiết sử, ra khỏi ba cõi, thanh tịnh không dục, nên nói là Thiên thanh tịnh.

Tám Tịnh cư thiên: Là vượt hơn Thiên sinh, Thiên cử, không bằng xứ thanh tịnh, ở khoảng giữa ấy, là chỗ kính mộ của người niệm thiên. Nhân niệm về sinh, cử, cũng có lý đạt đến Niết-bàn. Vì sao? Chuyện kể trong thành Xá-vệ có đôi vợ chồng là Thanh tín sĩ (Ưu-bà-tắc) không có con cháu, cả hai đều tinh tấn, tâm luôn nhớ nghĩ đến Tam bảo. Bấy giờ, người vợ mất sớm, được sinh lên cõi trời Tam Thập Tam, làm thiên nữ, nhan sắc tuyệt trần, trong cõi trời ít ai sánh bằng. Thiên nữ nầy tự suy nghĩ: Chồng của ta đang làm gì? Bèn dùng thiên nhãn xem xét thế gian, thấy người chồng cũ của mình đã xuất gia học đạo, do tuổi cao trí kém, chỉ chuyên tin tưởng mà thôi, công việc thường làm là dùng chổi quét dọn tháp miếu. Thấy sự siêng năng ấy, lý nên sinh thiên, tất trở lại làm chồng mình. Lúc nầy, người chồng cũ đang ở tĩnh thất, ngồi một mình suy nghĩ, bất chợt có ánh sáng hiện ra, cho là điều lạ, nên ngẩng đầu lên nhìn, thấy có thiên nữ, liền hỏi nàng là ai, từ đâu đến? Thiên nữ đáp: Tôi từ nơi cõi trời Ba Mươi Ba tới đây, vốn là vợ của chàng, nay là thiên nữ. Trên cõi trời ấy, không ai nhận làm chồng tôi. Xem thấy chàng luôn tinh tấn với công việc, nên trở lại làm chồng tôi. Vì thế nên đến đây để nêu bày ý mình. Nói xong, hốt nhiên biến mất, quay trở về cõi trời.

Từ đấy trở về sau, người Tỳ-kheo già càng thêm siêng năng, lại gồm luôn việc tu bổ tháp miếu cũ, sớm chiều không biếng trễ. Do tích chứa công sức, khiến phước đức càng hơn, nên được sinh lên cõi trời thứ tư là Đâu-suất. Thiên nữ lại dùng thiên nhãn xem xét, thấy người chồng cũ được sinh nơi cõi trời Đâu-suất, lại đi tới, bảo: Chàng tích chứa tinh tấn, nên đã vượt qua cảnh giới của tôi. Tôi lại không có được chàng để làm chồng. Nói xong liền lui gót.

Tỳ-kheo nầy lại càng tinh tấn, hơn cả thời gian trước. Ngày thì kinh hành, đêm thì tọa thiền, tâm ý chuyển sáng, tư duy về bốn đế. Như vậy không lâu, bèn chứng đắc A-la-hán. Đó là nhân niệm thiên mà đạt đến Niết-bàn.

* Niệm dừng dứt: Nghĩa là đạt được định. Dừng dứt có hai: Có dừng dứt của thế tục. Có dừng dứt của đạo.

Dừng dứt của thế tục: Cũng như hành tác mệt nhọc để dứt bỏ biếng nhác, nhưng an trụ rất nhỏ.

Dừng dứt của đạo: Là người hành định. Do đâu nhận biết điều ấy?

Xưa có Tỳ-kheo tên là Đẳng Hội, tọa thiện nhập định gần mé đường lớn. Lúc ấy, có năm trăm cỗ xe chạy ngang qua, tiếng động rất dữ, nhưng người tọa thiền vẫn hoàn toàn không hay biết gì. Rồi trời lại nổi sấm sét liên hồi, phút chốc mặt đất rúng động, nhưng Tỳ-kheo nhập định thảy đều không nghe biết. Người đi qua, các thứ bụi đất càng nhiều phủ bám đầy nơi y. Có kẻ tới gần, thấy Tỳ-kheo nầy ngồi thẳng người, bất động, bụi đất bám đầy y, đều không hay biết. Tỳ-kheo xuất định, vui vẻ phủi đập bụi đất. Người qua đường hỏi: Vừa rồi thầy ngủ chăng? Đáp: Không. Lại hỏi: Nếu không ngủ, thì sao vừa rồi có đoàn xe chạy qua, trời lại sấm sét, mặt đất rúng động, mà thầy không hay biết, kinh hãi? Tỳ-kheo đáp: Khi đó tôi nhập Tam-muội dừng dứt, nên đều không nghe biết gì.

Do đấy mà nói, người đắc định dừng dứt, tuy trời đất có ụp xuống cũng không thay đổi ý chí. Nên gọi là định dừng dứt.

* Niệm hơi thở: Là dứt các thứ dong ruổi lúc tọa thiền. Con đường hướng tới đạo không phải chỉ một nẻo. Phương, hướng của sự tỏ ngộ đều có nơi chốn. Do đâu nhận biết như thế?

Chuyện kể Tôn giả Thân Tử (Xá-lợi-phất) thời xa xưa từng cúng dường mười bốn ức Đức Phật, theo Phật nghe pháp, nhưng chưa từng hành tập pháp niệm hơi thở. Đến đời Phật Thích-ca-văn, theo Tỳ-kheo Mã Sư, mới đạt pháp không, tức thấy “Dấu vết đạo”. Đức Phật diễn nói đủ, tuệ đầy, kiết hết, lãnh hội thông suốt, nay là trí tuệ bậc nhất, không do pháp niệm hơi thở mà đắc Niết-bàn.

Tôn giả Mục-kiền-liên, xưa, trong ba mươi kiếp cúng dường chư Phật, tu hạnh Đại thừa, không thể trọn vẹn, được gặp Đức Thế Tôn, lui giữ lấy bậc “Lậu dứt hết”. Từ xưa đến nay chưa từng hành tập pháp niệm hơi thở.

Tỳ-kheo Ca-diếp, xưa cũng từng cúng dường ba vạn Như Lai, cũng chưa từng tu tập pháp niệm hơi thở, nên đắc quả Phật Bích-chi, nay thối chuyển làm A-la-hán.

Tỳ-kheo Mã Sư, ngày xưa cũng cúng dường bảy Phật, cũng không tu tập pháp niệm hơi thở, nay cũng dứt hết các lậu.

Tôn giả A-nan xưa từng cúng dường hai vạn Đức Như Lai, đã theo chư Phật hỏi, nhận giáo pháp, cũng không hành tập sổ tức.

Chỉ có La Vân, Ma-kha-kiếp-thất-la, từ ngày xưa đến nay luôn hành tập pháp ấy, nay cũng đạt đạo.

Theo đấy mà nói, đường hướng tới đạo không phải chỉ một nẻo.

Niệm hơi thở: Là nhận biết hơi thở dài ngắn, lạnh nóng, chậm mau, từ thô đến tế, dần dần chế ngự tưởng loạn, đạt tới vi diệu. Hoặc nhân nơi hơi thở để tỏ ngộ. Hoặc phân biệt để hiểu rõ. Hoặc hành hạnh Đầu-đà để giữ khí tiết. Hoặc đa văn ghi nhớ giỏi. Hoặc thần túc nhận biết sâu xa. Hoặc tẩy tịnh, hoặc giáo huấn, để tỏ ngộ. Đó gọi là “Đường đi khác nhau” (Thù đồ) mà cùng quy về một chốn (đồng quy).

* Niệm thân: Nghĩa là phân biệt về bốn đại, hiểu rõ về năm ấm, đều đồng là huyễn mộng. Do đâu biết được niệm thân đạt đến Niết-bàn?

Xưa, sau thời Phật nhập Niết-bàn khoảng trăm năm, có vua A-dục, làm chủ cõi Diêm-phù-đề, quần thần, phu nhân, voi ngựa, mỗi thứ đều có tám vạn bốn ngàn. Bấy giờ, vua tuần hành khắp nước, thấy vua Diêm-la có mười tám địa ngục, cũng có quan chức làm công việc họp, hỏi tội nhân. Vua A-dục hỏi kẻ tả hữu: Đây là những người gì? Đáp: Đây là vua của những người chết, chủ việc phân biệt thiện ác. Vua bảo: Vua của người chết hãy còn có thể tạo địa ngục để xử trị tội nhân. Ta là vua của người sống, lại không thể tạo địa ngục sao? Liền hỏi các quan ai có thể làm được công việc ấy? Các quan tâu: Chỉ có người cực ác mới có thể tạo địa ngục. Vua lệnh cho các quan đi hỏi tìm người ác. Các quan vâng mệnh đi tìm khắp, thấy có một người ngồi trên đất dệt len, bên cạnh có cung tên, cùng các vật dụng câu bắt cá. Lại dùng cơm trộm độc để nhử chim sẻ. Vừa dệt len, vừa câu cá, bắn chim, bắt sẻ. Các quan trở về cung tâu vua hiện có kẻ ác như thế. Vua bảo: Người nầy cực ác, tất có thể thực hiện được các sự việc của địa ngục. Vua sai người đến nói với anh ta: Đại vương muốn gặp ông! Kẻ ác đáp: Ta là hàng tiểu nhân, không có hiểu biết. Vua dùng ta làm gì? Quan nói: Vua đang muốn được ông để xử trị công việc nơi địa ngục. Người ác liền trở về nhà có mẹ già, nói với mẹ: Vua cho người gọi con. Bà mẹ hỏi: Vua cho gọi con làm gì? Người con thưa: Vua muốn sai con xử trị việc ở địa ngục. Mẹ bảo: Con đi rồi, mẹ làm sao sống được? Nói xong bà mẹ liền ôm chặt lấy chân con không buông ra. Người con ý đã muốn đi, tức rút dao chém chết mẹ, rồi đi tới chỗ vua. Vua hỏi: Mẹ không buông tha ngươi, do đâu đến được đây? Tâu: Giết chết mẹ mà đến. Vua phán: Đúng là người ác, tất có thể làm tốt công việc ở địa ngục. Liền giao cho người nầy làm tường địa ngục, đặt vạc nước sôi, rừng kiếm, lạy tôn làm vua địa ngục, cùng lập quan phụ tá, đều đúng phép tắc như vua Diêm-la. Vua dặn kỹ: Nếu có người vào thành nầy, không cần hỏi sang hèn, được toàn quyền trị tội. Vua bảo tiếp: Giả sử ta có vào trong ấy, cũng chớ cho ra.

Lúc nầy, có Tỳ-kheo lớn tuổi, tên là Thiện Giác, thường đi khất thực, đến cửa thành nầy, đứng bên ngoài thấy hoa đẹp tỏa hương, cho là bên trong có người, liền đi vào, chỉ thấy tội nhân bị xử trị, kinh sợ muốn trở ra, nhưng ngục tốt không cho, lại dẫn tới chỗ vạc nước sôi. Đạo nhân cầu cứu, nói: Xin tha cho tôi đến giữa trưa. Trong chốc lát có hai người nam nữ vì phạm dâm dục nên bị dẫn vào đây trị tội. Cả hai bị đặt trong cối lớn, ngục tốt dùng chày đâm giã, phút chốc biến thành đống bọt. Đạo nhân trông thấy mới nghĩ tới lời Đức Phật dạy: Thân người như đống bọt tụ lại. Đúng thay lời dạy ấy! Khoảnh khắc lại biến làm sắc trắng. Đạo nhân lại niệm: Thân người như mớ tro trắng, biến đổi chẳng phải một, như huyễn như hóa, xét kỹ chẳng thật. Tức thì ý ngộ, lậu hết, kiết tận. Ngục tốt lại thôi thúc đưa vào vạc nước sôi. Tỳ-kheo già mỉm cười. Ngục tốt giận dữ sai bốn người xốc giữ chặt hai bên nách, đưa lộn ngược vào trong vạc, nước sôi tức thì thành nước lạnh. Tỳ-kheo liền hóa ra ngàn đóa hoa sen, ở trong hoa sen ngồi kiết già. Ngục tốt kinh hãi, tâu vua A-dục: Nay trong ngục có sự việc kỳ quái, cúi xin nhà vua phí chút thì giờ đến xem qua. Vua bảo: Ta trước đã dặn kỳ: Giả sử ta có vào trong ấy cũng không cho ra. Ta nay đâu được vào trong đó. Quan tâu: Chỉ vào thôi, không thọ khổ. Vua liền theo vào, thấy Đạo nhân ngồi yên trên hoa sen. Vua hỏi: Ông là ai? Đáp: Tôi là Đạo nhân. Đạo nhân nói với vua: Vua là kẻ si mê. Vua hỏi: Vì sao gọi ta là kẻ si mê? Đạo nhân nói: Ông vào thời xưa lúc làm Đồng tử, dùng một nắm đất lớn dâng lên Phật, Phật nhận và chú nguyện: Con về sau sẽ làm vua châu Diêm-phù-đề, là bậc Thiết luân vương, tên A-dục, trong một ngày sẽ dựng tám vạn bốn ngàn tháp Phật. Ngục nầy là tháp Phật chăng? Tâm ý vua liền tỏ ngộ, nên sám hối lỗi lầm trước, dùng Thiện Giác làm thầy, bãi bỏ ngục, hưng phước, dựng tám vạn bốn ngàn tháp miếu. Do đấy mà nói, niệm thân đạt được Niết-bàn, nghĩa ấy là như thế.

Thế nào là niệm tử đạt đến Niết-bàn?

Xưa, vua A-dục phụng pháp tinh tấn, thường cúng dường năm trăm chúng Tăng nơi cung nội, bốn sự không thiếu. Bên ngoài, gồm luôn việc cung cấp cho năm trăm vị khất thực, trụ nơi A-luyện-nhã. Lại biếu tặng vật dụng cho năm trăm người, theo đấy mà cúng dường. Ở trong bốn cửa thành đều lập nơi chốn cung cấp cho những người nghèo thiếu. Cúng dường, cung cấp nhiều và lâu dài như thế nên tài sản, châu báu giảm dần. Lúc ấy, người em vua tên Tu-già-đố-lộ không tin Tam bảo. Đại thần Da-xá, phu nhân Thiện Dung cũng cùng không tin. Ba người đồng tâm gây vạ cho vua, thường xuyên can gián: Cúng dường Đạo sĩ khiến tài sản của quốc gia khánh kiệt, sao lại làm công việc như thế. Vua bảo: Người nên khéo giữ lời. Phàm kẻ sĩ xử thế, sở dĩ thân bị chém là do lời nói ác. Tu-già-đố-lộ tâu vua: Những Đạo sĩ nầy đều là tuổi trẻ, ăn uống luôn ngon miệng, tình dục càng dấy mạnh, lại ở trong cung sâu, nơi có nhiều người nữ, há có thể tin được? Vua nói: Đạo sĩ luôn chế ngự hình tướng, dùng pháp tự ngăn giữ, giảm thân giữ giới, không bị sắc dục sai khiến. Sau đấy, Tu-già-đố-lộ đi săn, trông thấy bầy nai, ở giữa có một người giăng lưới vây bắt. Tu-già-đố-lộ gặp người ấy, hỏi: Ông là ai? Đáp: Tôi vào lúc được tám tuổi, mất hết cha mẹ, chạy trốn vào trong núi, được uống sữa nai, từ đấy tới giờ. Lại hỏi: Lúc nai không sữa thì lấy gì để ăn? Đáp: Tôi theo bầy nai ăn cỏ lá để tự nuôi sống. Lại hỏi: Từng có ý dục chăng? Đáp: Có.

Tu-già-đố-lộ trở về cung, đem sự việc tâu vua: Kẻ ấy ăn cỏ lá, thân hình gầy ốm, hãy còn có dục tình, huống chi là các Đạo sĩ ăn uống ngon miệng, thân thể khỏe mạnh, đâu lại không có dục tình? Vua tâm niệm: Nên tạo phương tiện gì để hóa độ người em nầy? Tức lập quyền mưu, dối bảo là sắp xuất du, tập hợp đông đảo quân binh, kẻ hầu, chỉnh đốn để lên đường. Vua lén trở về cung, ẩn mình không hiện. Nhà vua trước đã cùng với các quan bàn luận: Nếu ta xuất du, sau đấy nên suy cử người em mình làm vua. Các quan liền khuyên người em vua mặc thử vương phục. Người em dối giả vờ không chịu. Các quan nói: Chỉ mặc thử trước chúng tôi thôi. Người em liền mặc vương phục, đội mão vua, các quan cùng hô: Vạn tuế, tả hữu đứng hầu, như pháp của Thánh vương. Vua A-dục trông thấy sự việc đã rõ, liền từ bên ngoài đi vào, bảo: Ai như là đại vương? Người em thấy vua, hổ thẹn đỏ mặt, không biết phải làm gì. Vua A-dục nói: Ta vừa xuất du thì khanh vì sao liền làm sự việc nầy? Thiết luân của ta không còn chăng, nên chỉ mới như thế mà đã xem như không có ai? Chỉ trong chốc lát ta sẽ xử chém ngươi. Bèn lệnh cho các quan bắt giữ, tra vào gông cùm, ngầm sai kẻ thân tín thưa với Đạo nhân: Thiện Niệm có ý ấy, nên đến để giải cứu. Đang muốn giết ngươi, nhưng nghĩ ngươi làm vua quá ít, chưa được thỏa ý, nên nay ta lại nhờ ngươi làm vua bảy ngày, đúng như vương pháp của ta, quần thần theo hầu, cung nhân kỹ nữ, ăn uống tiến dâng. Thỏa ý trong bảy ngày sẽ chịu hình pháp. Tức như lời dạy thi hành, nhưng Tu-già-đố-lộ không còn tâm để tự vui. Đạo nhân tới thỉnh cầu, cầm bát, chống tích trượng, đi đến cửa cung vua. Vua hỏi: Thầy tới đây muốn thỉnh cầu điều gì? Đáp: Muốn xin người chết. Vua nói: Tội nhân nầy đáng chết, Đạo nhân không được xin. Đạo nhân lại thưa: Chỉ xin làm người tu hành, sẽ khiến học đạo. Vua nói: Hỏi kẻ ấy xem có thể học đạo được không? Đạo nhân liền đến chỗ tội nhân hỏi: Nay xin ông làm Sa-di, có thể được chăng? Đáp: Giả sử làm nô tỳ cũng chấp nhận, huống chi lại làm Sa-di. Vua phán: Làm Đạo nhân rất khó, phải xét kỹ xem mình có thể làm được hay không. Pháp của người tu hành là mặc áo thô, ăn uống kham khổ chỉ nhằm giữ lấy thân mạng mà hành đạo. Ngươi quen với vui nhiều, sao có thể kham nổi khổ hạnh ấy? Đáp: Nên đáng chết, được sống, há không kham nổi khổ hạnh. Vua bảo: Nếu kham nổi thì cho phép.

Khiến bảy ngày khất thực. Vua dặn những người trong cung: Lúc Tu-già-đố-lộ tới khất thực, thì chỉ cho các thức ăn rất dở, hoặc các thứ dư thừa, hôi thiu. Tu-già-đố-lộ mặc y cũ rách, tới các phòng khất thực, nơi nơi đều chỉ được thức ăn dở. Do tình nặng của việc thoát khỏi chết, nên cam tâm ăn những thức ăn dở? Đủ bảy ngày rồi, vua thấy người em không có hối hận, liền cho phép tu đạo, bảo: Ông thường nói: Đạo nhân nhàn lạc, có nhiều dục tình, khó tin. Chỗ khất thực của ông vừa qua tại cung nội của vua, cũng hãy còn tinh tế. Đạo nhân khất thực, còn tệ hơn nhiều so với đấy, việc ăn uống như thế, há có thể có tình dục chăng? Tức giao phó cho Thiện Niệm làm Sa-môn, sai khiến đến thành Thạch Thất. Ở trong thành ấy hành các thiền quán. Hoặc ở nơi nghĩa địa, hoặc ở bên gốc cây. Lúc đó, tại nơi nghĩa địa quán thây người chết, ban đêm thấy có ngạ quỷ đánh đập một thây người chết. Sa-môn Tu-già-đố-lộ hỏi: Vì sao lại đánh thây chết nầy? Đáp: Vì nó đã làm khốn khổ tôi như thế, do đấy nên đánh nó. Đạo nhân nói: Vì sao không đánh vào tâm ông? Đánh thây chết ấy thì có ích gì? Trong chốc lát lại có một vị trời, dùng hoa trời Văn-đà-la tung rải lên thây chết. Đạo nhân lại hỏi: Vì sao lại tung rải hoa nơi thân chết xú uế nầy? Đáp: Tôi do thây chết nầy mà được sinh lên cõi trời. Thây chết ấy tức là thiện hữu của tôi, nên đến đây rải hoa báo đáp ân ngày trước. Đạo nhân nói: Vì sao không rải hoa ở trong tâm của ông, mà lại rải hoa nơi thây chết xú uế ấy? Phàm gốc của thiện ác, đều ở nơi tâm, các ông lại bỏ gốc để chọn lấy ngọn chăng.

Bấy giờ, Tu-già-đố-lộ tự nghĩ: Ta từ chết được sống, do nhân duyên ấy nên được giải thoát. Đối với việc quán thân, niệm tử ấy, tư duy, phân biệt, hiểu rõ về vô thường, khổ, không, phi thân (vô ngã), tức đắc La-hán. Theo đấy mà nói, niệm tử cũng đạt đến Niết-bàn.

***

QUYỂN 4

Đức Như Lai sở dĩ đã rộng vì bốn bộ, mỗi mỗi bộ đều nói về bậc nhất, chính là vì trong pháp để lại cho đời cuối của thời vị lai, hoặc có bốn chủng tánh, Phạm-chí ngoại học và bốn chúng đệ tử, cùng nêu bày về thị phi, tự cho là tôn quý, người khác là thấp kém. Những hạng, loại như vậy là không thể tính kể. Thế nên, cần dự phòng cho việc chưa xảy đến ấy, phải mở ra con đường tự biết đủ.

* Nay gọi A-nhã-câu-lân là bậc nhất, vì vị ấy thuộc hàng hào tộc của giòng họ Thích, được vua chọn sai theo hầu Thái tử Tất-đạt-đa, công sức khó nhọc đã được báo đáp, nên xếp là bậc nhất. Lại, buổi đầu giáo hóa, việc thọ nhận chánh pháp, không ai có thể được chọn trước hơn mình, cũng là bậc nhất, vì khéo có thể khuyến khích, dẫn dắt, nuôi dưỡng Thánh chúng. Là người nhận lời khen “Thiện lai!” trước tiên, nên lại là bậc nhất. Vì chỗ quy ngưỡng trong loài người, Già-gia-việt là hơn hết. Trong ánh sáng thì ánh sáng của mặt trời là hơn hết. Trong hàng tinh tú thì trăng là hơn hết. Nơi vạn dòng sông thì biển là hơn hết. Trong bốn Thiên vương thì Thiên vương Đề-đầu-lại là hơn hết. Nơi cõi trời Tam Thập Tam, Thích-đề-hoàn-nhân là hơn hết. Trong sáu cõi trời thuộc Dục giới, Ba-tuần được xem là hơn hết. Nơi mười tám cõi trời thuộc Sắc giới, thì Tịnh Cư là hơn hết. Trong chín mươi sáu bộ Tăng, Tăng chúng của Đức Thích-ca là hơn hết. Nơi chín mươi sáu thứ đạo, Phật đạo là tối thượng. Trong số năm người như Tỳ-kheo A-nhã-câu-lân v.v…, thì Tỳ-kheo ấy là hơn hết. Do đấy nói A-nhã-câu-lân là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Ưu-đà-di, về việc khuyến khích, dẫn dắt là hơn hết. Tỳ-kheo đều làm công việc khuyến khích, dẫn dắt, sở dĩ gọi là hơn hết, vì Đức Phật sắp trở về hóa độ dân chúng ở quê hương, Tỳ-kheo Ưu-đà-di được Đức Thế Tôn sai hiện thần biến trước tiên, cùng với vua Tịnh Phạn đối đáp, mỗi mỗi đều giải thích, số người được độ trong lần nầy là vô số, nên nói về việc khuyên dẫn là hơn hết.

* Tỳ-kheo Ma-ha-đàm, là hạng lợi căn, mẫn tiệp. Các Tỳ-kheo khác đều lậu dứt hết, rồi thành tựu thần thông. Tỳ-kheo nầy thì lậu chưa dứt hết mà đã thành tựu thần thông, nên gọi là bậc nhất.

Phàm đi lại nơi hư không đều do thần túc. Tỳ-kheo nầy có thể đi trên không như đi nơi đất, đó là khả năng của Tỳ-kheo Thiện Chửu, nên xưng là bậc nhất.

* Thần túc của Tôn giả Mục-liên im lặng đi đến cõi khác. Thần túc của Tỳ-kheo Bà Phá vượt qua hư không, tiếng tăm chấn động xa gần, có thể thâu phục ngoại đạo, nên gọi là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Ngưu Cước, do hai việc, nên không được ở nơi thế gian. Vì sao? Vì Tỳ-kheo nầy có đôi chân giống như chân bò. Ăn no thì phải nhai lại. Nếu Phạm-chí của ngoại đạo trông thấy Tỳ-kheo đang nhai lại tức cho là Sa-môn ăn uống không có giờ giấc, sinh tâm phỉ báng. Do đấy, Phật sai lên cõi trời, tại giảng đường Thiện Pháp tọa thiền, nhập định. Tỳ-kheo Thiện Giác thường được chúng Tăng cử lên cõi trời. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả Ca-diếp đánh kiền chùy tập hợp toàn bộ chúng Tăng, sai Tôn giả A-na-luật quán khắp thế giới xem ai không vân tập tới. Tôn giả A-na-luật liền quán khắp, chư vị đều đến cả, chỉ có Tỳ-kheo Kiều-tu-hoàn hiện còn ở tại cõi trời. Tôn giả Ca-diếp bèn sai Tỳ-kheo Thiện Giác lên triệu về. Thiện Giác đến cõi trời Ba Mươi Ba, thấy Tỳ-kheo ấy đang nhập định diệt tận tại giảng đường Thiện Pháp, liền búng ngón tay đánh thức, bảo: Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn đã mười bốn ngày, Tôn giả Ca-diếp tập hợp đại chúng, sai tôi lên đây thỉnh thầy về lại thế gian, cùng đại chúng tập hội. Kiều-tu-hoàn nói: Thế gian đã là không, ngã pháp làm sao có? Không chịu trở về thế gian, muốn nhập Niết-bàn, tức đem y bát giao cho Thiện Giác, trở về với chúng Tăng, còn mình thì Bát-Niết-bàn. Do nhân duyên ấy là khéo ở nơi cõi trời, nên gọi là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Thiện Thắng vốn là con của gia đình quý tộc, lúc mới sinh, tự nhiên có giày vàng mang nơi chân mà sinh. Cha mẹ yêu quý vô cùng, vì con dựng lầu gác hợp ba mùa, kỹ nữ vui chơi không lúc nào rời. Bấy giờ, người vợ ngủ say, Thiện Thắng trông thấy hàm răng trắng, thân hình tuy đẹp nhưng chỉ là xương da. Quán đầy đủ về những thứ lộ rõ mọi xấu ác, thốt nhiên rợn người, quay nhìn lâu đài nhà cửa giống như chốn mộ địa. Kinh hãi chạy ra khỏi cửa, hai vị thần nghinh tiếp. Hỏi hai vị thần: Hiện tại, ai có thể cứu vớt để trừ bỏ ách nạn nầy? Hai vị thần đáp: Chỉ có Đức Thế Tôn là hoàn toàn có thể cứu độ ách nạn. Thiện Thắng hỏi: Đức Thế Tôn hiện đang ở đâu? Đáp: Ở tại Kỳ-hoàn, gần đây thôi, có thể tới đó thưa thỉnh. Cầu tìm ánh sáng nên đến chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ nơi chân Phật. Đức Thế Tôn nhân nơi bản tâm, vì Thiện Thắng diễn nói pháp diệu, tức thì tâm mở, lậu dứt, kiết tan. Do nhân duyên nầy, nên Tỳ-kheo Thiện Thắng là người quán xét về các chốn hiện rõ sự xấu ác, bậc nhất.

* Ưu-lưu-tỳ Ca-diếp sở dĩ được gọi là bậc nhất, vì từ nơi đời trước đến nay, anh em ba người luôn có một ngàn đệ tử cùng theo. Nay gặp Phật Thích-ca-văn xuất hiện ở đời, Đức Phật dùng mười tám thứ thần biến để độ Ca-diếp và ngàn người. Đại chúng của Phật được thành, bốn sự cúng dường cũng từ đây mà hưng thịnh. Theo đấy mà nói, Ưu-lưu-tỳ Ca-diếp có thể sắp xếp, hộ trì việc cúng dường Thánh chúng, là bậc nhất.

* Giang Ca-diếp sở dĩ được gọi là bậc nhất, vì khi Đức Phật thuyết pháp, ông luôn nhất tâm lắng nghe, thọ nhận, tinh nghĩa nhập thần, các kiết dứt hết, đức thật bên trong sung mãn, vì thấu triệt phần cốt lõi, nên sự tinh túy hiện ra bên ngoài, giống như đổ mồ hôi. Do đó mà nói, tâm ý vắng lặng, có thể hàng phục các kiết, nên gọi là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Mã Sư, theo Phật thọ học, mới trải qua bảy ngày liền đạt đủ oai nghi. Sắp vào thành Tỳ-xá-ly khất thực, nơi bên ngoài cửa thành gặp Ưu-ba-đề-xá. Từ xa, Ưu-ba-đề-xá trông thấy Tỳ-kheo Mã Sư oai nghi thư thái, ung dung, pháp phục chỉnh tề, trong tâm rất vui thích. Gặp nhau, Ưu-ba-đề-xá hỏi: Anh là người gì? Đáp: Tôi là Sa-môn. Hỏi: Anh là do tự mình nhận biết, hay có thầy dạy? Đáp: Có thầy dạy. Hỏi: Thầy anh tên là gì, giảng nói pháp như thế nào? Đáp: Thầy tôi tên là Thích-ca-văn, là bậc trời trong các trời, tôn quý bậc nhất trong ba cõi. Chỗ chỉ dạy của Thầy tôi lấy không, giải thoát làm chính. Dứt tâm đạt gốc, nên gọi là Sa-môn. Ưu-ba-đề-xá nghe những diệu ngữ, liền đạt “Dấu vết đạo” (Dự lưu). Đề-xá đồng học với Câu-luật-đà, cả hai vốn có thệ ước: Nếu người nào được pháp cam lồ trước thì cùng báo cho nhau. Đề-xá liền từ giã Mã Sư, đi đến chỗ Câu-luật-đà. Câu-luật-đà thấy bạn tới, sắc diện có vẻ khác thường, ngờ là đã được cam lồ, liền hỏi: Được pháp cam lồ chăng? Đáp: Được rồi. Hỏi: Cam lồ như thế nào? Đáp: Cam lồ là đạt được các pháp không, giải thoát. Câu-luật-đà tư duy, lại đắc “Dấu vết đạo”.

Tỳ-kheo Mã Sư sở dĩ có oai nghi bậc nhất, là do trong năm trăm đời trước làm khỉ, vượn, nay được làm người, tánh vẫn còn nóng nảy, vội vã. Xuất gia bảy ngày liền thay đổi tận gốc. Học tuy cạn, ít, nhưng khéo nêu bày giáo pháp tôn quý, khiến kẻ ở trước mình trông thấy thì mặt vui, hiểu đạo, dùng oai nghi để cảm hóa khiến tỏ ngộ, nên xưng là bậc nhất.

* Tôn giả Thân Tử (Xá-lợi-phất) sở dĩ xưng là trí tuệ bậc nhất: Vì như Đức Thế Tôn đã nói: Muốn nhận biết trí tuệ của Thân Tử nhiều ít, thì dùng núi Tu-di làm nghiên mài mực, nước của bốn biển lớn làm nước mực để biên chép, dùng gỗ tre trong bốn châu thiên hạ làm bút viết, toàn bộ số người có trong bốn thiên hạ ấy làm thầy viết, nhằm biên chép về trí tuệ của Thân Tử, cũng hãy còn không thể hết, huống chi là hàng phàm phu, hàng năm thông mà có thể lường tính.

* Tôn giả Mục-liên sở dĩ gọi là thần túc bậc nhất: Vì Đức Thế Tôn cũng nói có chứng: Ngày trước, vào lúc ba tại họa hoành hành khắp, dân chúng hầu hết bị đói, Tôn giả Mục-liên tâm niệm: Bên dưới mặt đất nầy, từ xưa đã có sẵn một lớp đất mầu mỡ ở giữa. Nay dân chúng đói kém, ý muốn lật ngược mặt đất nầy để lấy lớp đất béo bên dưới, dùng cung cấp nuôi sống cho dân chúng. Suy nghĩ như thế rồi, Tôn giả đến bạch Phật, thưa lại ý định của mình, xin Đức Phật cho phép. Đức Thế Tôn nói: Thôi thôi! Thần túc của Tôn giả tuy có thể lật ngược mặt đất nầy không khó, nhưng trong ấy còn có vô số chúng sinh bé nhỏ. Tôn giả Mục-liên thưa: Con có thể dùng một tay nắm giữ các loài trùng, một tay thì lật ngược mặt đất. Đức Phật bảo: Không thể. Sở dĩ như thế là vì Tỳ-kheo nơi đời sau phần nhiều không có thần túc. Giả như vào đời sau, khi có nạn đói, Quốc vương, các quan, dân chúng nhờ các Sa-môn lật ngược mặt đất, nếu họ không thể làm được, sẽ cho không phải là Sa-môn.

Dùng thần túc ấy làm chứng cớ, nên gọi Tôn giả Mục-liên là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Nhị Thập Ức Nhĩ sở dĩ xưng là khổ hạnh bậc nhất: Vì ngày trước, tại nước Chiêm-ba có vị Đại Trưởng giả sinh được một bé trai, khôi ngôi, tuấn tú, dưới bàn chân có lông dài bốn tấc, chân chưa từng đạp đất. Sở dĩ dưới bàn chân sinh lông như thế là vì về thời quá khứ xa xưa, lúc Đức Phật Ca-diếp xuất thế, đứa bè nầy là một Đại Trưởng giả, tài sản, châu báu vô số, đã vì chúng Tăng xây dựng Tinh xá, giảng đường, xong xuôi thì dùng vải dệt bằng lông mịn trải khắp các phòng, khiến chúng Tăng đi lên trên. Do nhân duyên ấy nên có được phước tướng dưới bàn chân sinh lông.

Sở dĩ có tên là Nhị Thập Ức Nhĩ: Là vì lúc sinh ra tự nhiên trong lỗ tai sinh ngọc báu, trị giá hai mươi ức, nên lấy đó đặt tên. Bấy giờ, vua Bình-sa nghe điều kỳ lạ, muốn được trông thấy nên sai sứ cho triệu Ức Nhĩ yết kiến vua. Đường dài, đi xe phải mất mười lăm ngày mới tới, sắp sửa xuống xe, liền có vải dệt bằng lông mịn trải khắp đất, sau đó, Ức Nhĩ đi lên trên. Đã đến cung vua, vua bảo an tọa, hỏa thăm về công việc đi đường, nghe có thể sử dụng đàn, tức lệnh cho Ức Nhĩ đánh đàn. Vui vẻ xong, vua và Ức Nhĩ cùng đến chỗ Đức Phật. Lúc nầy, Đức Thế Tôn đang vì đại chúng diễn nói pháp diệu. Ức Nhĩ thấy Phật, tâm ý hoan hỷ, đầu mặt đảnh lễ nơi chân Phật. Phật cho phép ngồi yên. Ức Nhĩ nghe pháp rất vui thích, liền cầu xuất gia. Phật chấp thuận theo chí hướng ấy, tức làm Sa-môn. Ức Nhĩ tinh tấn dũng mãnh, kinh hành không chút biếng trễ, da thịt như mềm nhũn, bên dưới bàn chân nứt nẻ, máu túa ra, nơi chỗ kinh hành máu đọng thành bùn. Tu tập đã lâu, nhưng lậu vẫn chưa trừ diệt. Tâm sinh biếng, mệt, nên muốn trở về đời sống bạch y. Suy nghĩ: Nhà mình tiền của mặc ý tiêu dùng, rộng làm phước đức cũng tránh khỏi ba đường ác. Đức Thế Tôn nhận biết tâm niệm của Ức Nhĩ, hốt nhiên từ nơi đất vọt lên, hiện ra trước mặt Ức Nhĩ, hỏi: Ông vốn biết đành đàn, vậy lúc chơi đàn các dây đàn thẳng quá hoặc chùng quá thì có thể tạo thành khúc nhạc hay chăng? Ưùc Nhĩ thưa: Không thành. Nếu các dây đàn không thẳng quá, không chùng quá, phím đàn tương hợp thì khúc nhạc hay được thành, âm thanh thánh thót chăng? Đáp: Dạ, đúng vậy. Đức Phật dạy: Hành đạo cũng như thế, không quá gấp vội, cũng không quá chậm chạp, hành xứ theo nẻo giữa, thích hợp, tương ưng thì mới có thể chứng đạo. Ức Nhĩ tư duy về lời Phật dạy, tâm chợt mở bày, tỏ ngộ, liền đắc A-la-hán. Do nhân duyên ấy, nên gọi là khổ hạnh bậc nhất.

* Tôn giả A-na-luật sở dĩ xưng là Thiên nhãn bậc nhất: Là do lúc Đức Thế Tôn vì đại hội thuyết pháp, A-na-luật ngồi nơi tòa ngủ say, Phật trông thấy, bảo: Nay, Như Lai giảng nói pháp, ông vì sao lại ngủ như thế? Phàm là người ham ngủ nghỉ, tâm ý bị bít lấp, so với kẻ chết đâu có khác gì!

A-na-luật xấu hổ, ghi sâu vào tâm, tự thệ: Từ nay về sau quyết không dám ngủ nghỉ nữa. Quá lâu không ngủ, nên mắt liền mất ánh sáng. Sở dĩ như thế là vì, gồm có sáu thức “ăn”, thì mắt đã có hai: Một là trông thấy sắc, hai là ngủ nghỉ. Năm căn còn lại cũng đều có hai thức ăn. Được ăn thì sáu căn mới bảo toàn. Do mắt mất thức ăn là ngủ nghỉ, nên mất nhãn căn. Phật sai Kỳ-vực chữa trị cho A-na-luật. Kỳ-vực nói với A-na-luật: Không ngủ thì không thể chữa trị. Đã mất nhục nhãn thì không còn có thể thấy trở lại được. Năm trăm đệ tử đều bỏ đi tứ tản. Phải nhờ người xỏ kim, sờ soạng, mò mẫn để vá y, chỉ hết, phải xỏ kim lần nữa, không người để nhờ, A-na-luật gọi lớn cho xa gần có thể nghe: Ai muốn cầu phước, nên giúp ta xỏ kim. Đức Thế Tôn bỗng dưng hiện đến trước A-na-luật, nói: Tôi xỏ kim giúp thầy. Hỏi: Thầy là ai? Đáp: Tôi là Phật. Hỏi: Phật, phước đức đã đủ, lại còn muốn cầu phước chăng? Đáp: Phước đức mà có thể chán sao? A-na-luật suy nghĩ: Phật hãy còn cầu phước, huống chi là đối với người thường. Trong tâm cảm kết, vội hướng về phía Phật để nhìn, do chí tâm nên hốt nhiên chứng đắc thiên nhãn. Do đắc thiên nhãn, lại tư duy thêm, liền đắc A-la-hán. Phàm là A-la-hán đều có ba thứ mắt: Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn. A-na-luật hiện có hai thứ mắt là Tuệ nhãn, Thiên nhãn. Ba mắt cùng trông, thì loạn giữa nhục nhãn, thiên nhãn, tạo sự tranh công. Loạn là tinh thô cùng quán lẫn lộn. A-na-luật chuyên dùng thiên nhãn, quán khắp đại thiên thế giới, tinh thô đều thấy, hình riêng trong chất, có thức, không thức, thảy đều nhận biết rõ. Đối tượng nhận biết là hàng trời, người, hoặc có tịnh, chẳng tịnh. Quán cực tịnh: Thấy trong thế giới, các loài hữu tình, có thức, không thức, thấy đều cử động, nghi cho là loài trùng, nhưng không phải là loài trùng. Quán chẳng tịnh: Thấy hạt cơm lay động, đều cho là loài trùng. Chỗ khác nhau của hơn kém đã có từ đấy. Do đó mà nói Tôn giả A-na-luật là thiên nhãn bậc nhất.

* Tỳ-kheo Ly-việt ngồi thiền nhập định, sở dĩ xưng là bậc nhất: Vì ngày trước, Tôn giả được vua Ba-tư-nặc cung thỉnh vào cung thọ thực, sau đấy thì Tôn giả tọa thiền dưới một bóng cây, trải qua sáu năm không dời đổi. Đang muốn dời sang bên cội cây khác, nhưng Thần cây không đồng ý. Lấy gì để chứng nghiệm? Lúc sắp sửa dời, Thần cây liền tung rải hoa cúng dường. Lấy đó làm chứng nghiệm để biết là Thần cây không đồng ý. Do đâu biết được ý của Tôn giả kia không có niệm khác? Bấy giờ, Tôn giả Câu-hy-la đi tới chỗ Tôn giả Ly-việt, nói: Sao thầy không ngồi bên cội cây tươi tốt, lại ngồi bên cội cây khô nầy? Đáp: Gọi là người đạt bốn biện tài bậc nhất, có thể phân biệt pháp nghĩa cùng do ứng từ. Không rõ phân biệt về cây khô là ở trong biện tài nào? Tôi từ tọa thiền ở đây đến nay vừa đúng sáu năm, không có phân biệt khô, tươi. Tôn giả mới tới mà liền phân biệt chăng? Vua thỉnh vào cung ngày ngày cúng dường, sai các phu nhân đều tự trông coi công việc ấy. Sáu năm đã đủ, liền thực hành bố thí, phân phát khắp. Lúc nhận được vật cúng dường, không biết tên của chủ nhân. Vua nói: Sáu năm thọ thỉnh, không biết tên người cúng dường, định gì mới như thế? Tôn giả đáp: Tôi tọa thiền bên cội cây, hãy còn không biết cây khô, tươi, huống hồ là biết tên người. Phước của sự cúng dường thiền định, đức ấy là hết sức tinh thuần. Tùy theo sở nguyện của vua, có thể đạt đến Niết-bàn, là phước điền tốt đẹp, do đó gọi là vui thích thiền bậc nhất.

* Tỳ-kheo Tha-la-bà-ma, khuyên nên thuận theo việc đã làm để lập Trai giảng. Phật giao trông coi công việc của chúng Tăng, đã phân bộ thích hợp. Người chuyên về Khế kinh với Khế kinh làm một xứ. Người chuyên về Tỳ-ni với Tỳ-ni làm một xứ. Đại pháp (Luận) với Đại pháp làm một xứ. Tọa thiền với tọa thiền làm một xứ. Cao tòa với cao tòa làm một xứ. Khất thực với khất thực làm một xứ. Giáo hóa với giáo hóa làm một xứ. Tùy việc nơi bộ phận đều khiến cùng theo. Nếu có Đàn-việt đến thỉnh thì theo thứ lớp sai đi, không hỏi cao thấp. Hoặc có thỉnh riêng thì không cho phép ở đây cử đi. Lúc nầy, Đàn-việt thỉnh hết, nhóm Tỳ-kheo “Lục quần” theo thứ lớp, gặp phải nhà nghèo, nên ôm giận trở về, hướng tới Phật tả oán: Ma-la xem thường mọi người, tự nhận nơi tốt, bỏ lại toàn nhà nghèo, há là bình đẳng chăng? Phật cho gọi Ma-la, hỏi: Thầy thật có như vậy không? Đáp: Dạ không. Khi ấy, Ma-la không ăn, chờ cho mặt trời qua khỏi giờ ngọ, liền hòa phân bò uống, xem như vừa thọ trai, nghe các vị “Lục quần” nói, không muốn tự biện bạch, liền tới trước Đức Thế Tôn, nôn ra hết thứ nước phân ấy. Đám Lục quần hổ thẹn, hai người cảm kết, lậu dứt sạch, hai người trở về làm bạch y, hai người từ các lỗ trên mặt túa ra máu nóng, mạng chung, bị đọa nơi A-tỳ.

Trai giảng: Là các bộ chúng tập hợp thọ trai gồm luôn việc hành tập thích ứng, khéo có thể khuyên thành, nên gọi là bậc nhất.

Tiểu-đà-la-bà: Là chủ lập phòng ốc, dấy khởi Tăng-chiêu-đề (Tăng bốn phương), công sức cùng thành, không nêu riêng ra nữa.

* Tỳ-kheo Lại-trá-bà-la, sở dĩ xưng là hào quý, vì thuộc chủng tộc vương giả, là người thông sáng, hiểu biết rộng, từ trẻ đã ham học hỏi, nghe Đức Phật xuất hiện ở đời giáo hóa kẻ ngu tối, liền đi đến Tinh xá Kỳ-hoàn, nghe nhận lời pháp, giáo nghĩa nhập thần, suy xét muốn xuất gia, trở về nhà thưa cha mẹ. Cha mẹ không đồng ý, tâm tự nghĩ ngợi: Hết thảy chúng sinh đều là cha mẹ, đâu chỉ riêng là hai vị nầy. Nghĩ rồi liền đến chỗ Phật, cầu làm Sa-môn. Đức Phật hỏi: Cha mẹ đã cho phép chưa? Đáp: Không cho phép. Anh làm Quốc vương, lại chỗ anh thưa xin tu đạo. Anh cũng không thuận. Tâm lại suy nghĩ: Nên tạo phương tiện để xuất gia học đạo. Cha mẹ hiện chỉ một người con, không muốn lìa con nửa bước. Trong chốt lát, Lại-trá-bà-la bảo người nhà đặt chiếc giường hẹp phía trước cha mẹ, rồi ngồi yên ở đấy, không uống chẳng ăn, trải qua sáu ngày. Cha mẹ hoảng sợ, e đứa con mình sẽ chết mất. Nếu đứa con nầy chết thì chẳng được việc gì cả! Nên cho phép nó xuất gia học đạo còn hơn. Lại dặn con: Xuất gia rồi, con nên thường xuyên trở về thăm cha mẹ. Cha mẹ đã đồng ý, Lại-trá-bà-la vội đi tới chỗ Phật. Hỏi: Cha mẹ đã cho phép chăng? Đáp: Đã chấp thuận. Đức Phật bảo: “Thiện lai Tỳ-kheo!” và đưa tay xoa lên đầu, râu tóc tự rụng, như người đã cạo tóc được bảy ngày. Cà-sa mặc vào thân, liền thành Sa-môn. Đức Thế Tôn vì Lại-trá-bà-la giảng nói về bốn Đế, liền thành A-la-hán. Do mong muốn của cha mẹ, nên liền trở về nhà, mặc y cầm bát, đứng phía trước cửa. Lúc ấy, người hầu nữ đang vo gạo, sắp sửa đổ nước đã vo xong, Lại-trá-bà-la đưa bát ra xin, người nữ ngước đầu lên nhìn, biết là gia chủ, liền vào nhà báo cho mọi người biết. Cha mẹ rất vui mừng, xem kỹ lại con mình, đúng là đã làm người tốt, liền ra đón vào nhà, bày biện mâm cỗ thịnh soạn. Lại-trá-bà-la nói: Giờ ăn đã quá, đúng pháp là không được ăn. Cha mẹ nói: Hôm nay đã thế rồi, ngày mai con nên đến sớm. Lại-trá-bà-la liền trở về trụ xứ.

Người con đi rồi, cha mẹ dặn kỹ mấy người nữ: Sáng mai, Lại-trá-bà-la sẽ đến, các chị phải tự trang điểm, mặc y phục đẹp đẽ, có thể khiến con trai ta trở về làm người bạch y, đối với các chị là phước lớn. Lại sai kẻ giữ kho xuất các thứ châu báu, bảy báu như vàng bạc v.v…, mỗi mỗi thứ đều để thành từng nhóm riêng, muốn cho tâm ý của người con động nhiễm trở lại nơi thế tục. Hôm sau, vào giờ ăn, Lại-trá-bà-la mặc y cầm bát trở về nhà cũ, an tọa nơi tòa ngồi, xong xuôi, các người nữ, kẻ hầu, ai cũng xinh tươi vui vẻ, hoặc tung rải hoa hương, hoặc rũ áo, khua giày. Bà-la bảo: Các em đâu đủ để thành phiền não! Những người nữ suy nghĩ: Xem chúng ta là em tức sẽ không có lý trở về. Bà-la nói với cha mẹ: Dùng các thứ vật báu nầy làm gì? Chúng chỉ khiến con người bị mê hoặc, do đấy dẫn tới tai họa, sao không đem vất bỏ nơi núi, đầm. Cha mẹ can ngăn: Đạo đức tại tâm, hà tất phải xuất gia. Trưởng giả Chất-đa, cũng là tại gia đắc đạo đấy thôi. Bà-la nói: Chưa hề nghe nói tại gia đạt được lậu tận. Chỗ chứng đắc của Trưởng giả Chất-đa chỉ do có một phần đời là tại gia, đâu đủ để cho là quý. Lại-trá-bà-la tuy ở nơi gia đình hào quý, châu báu đầy dẫy, nhưng đều từ bỏ, nên gọi là quyết chí xuất gia bậc nhất.

* Tôn giả Ca-chiên-diên, sở dĩ gọi là khéo phân biệt nghĩa: Vì thường khi chuẩn bị soạn tập giáo pháp, trong tâm luôn nghĩ: Nhân gian quen với sự ồn ào, không chuyên tinh tấn tư duy, nên ẩn thân trong lòng đất bảy ngày, soạn tập Đại pháp, xong thì trình lên Phật. Phật khen: Lành thay! Được bậc Thánh đồng ý cho làm một Tạng. Nghĩa ấy vi diệu, có thể hàng phục ngoại đạo, nên gọi là bậc nhất.

Lại nữa, xưng là bậc nhất: Vì Đức Thế Tôn lúc ấy đi tới nước Thích-sí, an tọa bên một cội cây. Phạm-chí Chấp Nhất Trượng cùng với các người họ Thích đến xem Phật. Phạm-chí nói: Trước đây, ông đã bỏ, không nhận con gái tôi, thuộc loại có nhan sắc hơn hết. Nay thì ý thế nào? Đức Phật đáp: Ý không vướng mắc thế gian, không nhiễm nơi tục. Phạm-chí nói: Lành thay! Ra vẻ nhận hiểu rồi trở về. Sau đấy, các Tỳ-kheo không hiểu lời Phật nói, nên hỏi Tôn giả Ca-chiên-diên: Đức Thế Tôn gọi thầy là biện tài nắm lý, hiểu nghĩa bậc nhất. Đức Thế Tôn đã đáp lại Phạm-chí, nói không nhiễm không vướng, nghĩa ấy là thế nào? Tôn giả Ca-chiên-diên giải thích: Các Tỳ-kheo nên biết! Mắt duyên nơi sắc khởi thọ, duyên nơi thọ khởi tưởng, duyên nơi tưởng qua lại, sinh thức phân biệt khởi tâm nhiễm vướng. Đức Thế Tôn đối với sự nhiễm vướng ấy đã vĩnh viễn lìa bỏ. Các Tỳ-kheo nghe giảng nói như thế, ý cũng vui vẻ. Tôn giả Ca-chiên-diên quán ý của các Tỳ-kheo, biết là chưa hiểu rõ, liền dẫn dụ nói: Có người đối với chỗ nhiễm vướng ấy, muốn cầu tìm được vật bền chắc, lại bỏ gốc rễ mà lấy lá cành, thì có được vật bền chắc chăng? Đáp: Không được. Tôn giả Ca-chiên-diên nói: Các thầy cũng như thế. Đức Phật ở gần đây, lại không đến thưa hỏi, há chẳng phải là bỏ gốc lấy ngọn sao? Các Tỳ-kheo liền đến thưa hỏi Phật, nói lại những lời giải thích của Tôn giả Ca-chiên-diên, như vậy là có xét kỹ, đúng lý chăng? Đức Phật nói: Đúng như những điều Tôn giả Ca-chiên-diên đã giải thích. Do nhân duyên ấy nên lại gọi là bậc nhất.

* Tôn giả Quân-đầu-ba-thán sở dĩ xưng là hành trù bậc nhất: Vì phàm là người hành trù phải ghi chép số lượng người, nhận biết họ là thành thật hay không. Thọ nhận “Trù” thì được phước, thọ nhận giả dối thì tội chứa càng lớn. Chữ Hán gọi là Trù, Thiên Trúc gọi là Xá-la. Xá-la cũng gọi là hoại tận. Phước tức tội hết. Tội tức phước hết. Lấy gì để nhận biết về điều ấy? Chuyện kể, Trưởng giả A-nan-bân-nậu gả con gái về làm dâu ở nước Ni-kiền, đã đến hỏi Đức Phật việc ấy nên chăng. Đức Phật bảo: Nên biết là đúng lúc. Về xứ ấy tất có ích. Người nữ đã về nhà chồng, từ xa vọng thỉnh Đức Thế Tôn. Đức Phật nhận biết ý nguyện ấy nên im lặng nhận lời, bảo Tôn giả A-nan: Sáng mai ông sẽ thọ thỉnh của Thích-ma-nam. Rồi sai người đánh kiền chùy, tập hợp chúng, hành thần thông. Xá-la luôn là Thượng tọa. Quân-đầu-ba-thán chưa được thần thông, nghe thỉnh hành trù, tự khinh chê mình chưa chứng đắc thần túc, ngắm nhìm, suy xét về hình ảnh đứng đầu các tòa, giống như loài chồn hoang già nơi núi Tử Kim, tiến lui lưỡng lự. Đang muốn nhận “Trù” không theo thông lệ. Đang muốn không nhận sự việc chiếm làm Thượng tọa. Sa-di tám tuổi hãy còn đắc thần thông, công sức tích lũy bao năm mà chẳng đạt được gì cả! Tính nghĩ như thế, thì nên làm những gì? Cảm kết việc nhận “Trù”, thời gian trở lại trao, hốt nhiên lậu dứt hết. Nếu do giả dối nhận “Trù”, thì nơi thân người có chín mươi vạn lỗ chân lông, dùng số ấy làm số lượng, cũng không nhận được số lượng như thế về thân người. Nếu do tinh thành thọ nhận, tức có thể chứng đắc lậu tận.

Do Thượng tọa nầy có thể là minh chứng. Sở dĩ lại làm Thượng tọa, là do khéo có thể thuyết pháp thích hợp với nhiều người, được đại chúng suy cử làm Thượng tọa. Do nhân duyên ấy, nên gọi là Thượng tọa thọ trù bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tôn giả Tân-đầu-lô là hay hàng phục ngoại đạo, vì như chuyện kể: Trong thành Tỳ-xá-ly có Trưởng giả Chất-đa thường hay lo lắng vì đám Lục sư cao ngạo, tự đại, nói: Sa-môn Cù-đàm tự xưng là tôn quý, nên cùng với chúng ta thi đấu về tài năng. Nếu ông ấy hiện ra một, ta sẽ hiện ra hai, như thế chuyển tăng đến ba mươi hai. Bấy giờ, Trưởng giả thỉnh khắp chúng Tăng trong ngoài để cúng dường xong, lại dựng một cột cờ lớn, cao bốn trượng chín thước, đặt bát Chiên-đàn trên ấy, sai người xướng: Ai có thể đưa tay lấy bát nầy, tức được tôn xưng là bậc nhất. Lúc nầy, Tôn giả Tân-đầu-lô tự suy niệm: Nay nên hiện thần túc, khiến cho đám Lục sư được hàng phục phải im miệng. Lại nghĩ: Đức Thế Tôn thường khuyên dạy các đệ tử không được hiện bày thần túc. Nếu hôm nay không hiện bày thì e là đám Lục sư kia vĩnh viễn chỉ mắc tội. Còn nếu hiện thì sợ trái với lời dạy của Đức Thế Tôn. Do dự một hồi, liền hiện thần túc, duỗi cánh tay lên cao lấy chiếc bát Chiên-đàn, rồi vụt lên hư không, bay quanh thành bảy vòng, trở lại nơi tòa ngồi, nói với các Phạm-chí: Xin các vị lại hiện ra gấp hai. Đám Lục sư im lặng. Khi đó, tướng quân Đại quỷ tên là Bán Sư bảo đám Lục sư: Hiện gấp đi! Đồ chúng của đám Lục sư hiện có không biết nên nhóm họp ở đâu. Theo đấy mà nói, nên biết Tôn giả Tân-đầu-lô hàng phục ngoại đạo là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Sấm là người hay thăm bệnh bậc nhất: Vì bấy giờ tại Tinh xá Kỳ-hoàn có một Tỳ-kheo bị bệnh nặng khổ sở. Do nằm dài trên giường nệm lâu ngày, nên bên dưới sống lưng của Tỳ-kheo bệnh thịt rữa, có giòi bọ, đau nhức khiến rên rỉ cả ngày. Đức Phật cùng các Tỳ-kheo lần lượt đi tới các phòng xá, thấy Tỳ-kheo nầy bệnh nặng như vậy. Đức Thế Tôn hỏi: Có người đến thăm bệnh ông chăng? Đáp: Không có. Lại hỏi: Ông lúc trước có thường đi thăm các Tỳ-kheo bị bệnh không? Đáp: Không. Phật bảo: Ông không đi thăm người khác bị bệnh, vì sao lại mong người khác tới thăm bệnh mình? Khi ấy, Đức Như Lai vén y Tăng-già-lê, tự tay xoa nắn trên người Tỳ-kheo bệnh, rồi lại rửa lau, giặt giũ. Thiên Đế-thích liền hiện đến trợ giúp. Đức Thế Tôn chăm sóc người bệnh, Tỳ-kheo bị bệnh nầy nhờ ân đức của Phật nên bệnh được dứt trừ. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Từ nay trở về sau, nếu có người bệnh, phải cùng thăm hỏi, chăm sóc lẫn nhau. Đức Thế Tôn lại nhìn khắp các Tỳ-kheo, nói: Ai là người thường có thể thăm hỏi, chăm sóc người bệnh? Chỉ có Tỳ-kheo Sấm là hay làm công việc ấy. Tỳ-kheo Sấm thường dùng năm sự để thăm hỏi chăm sóc người bệnh. Đó là: Phân biệt các loại thuốc hay, cũng không biếng trễ, trước đứng sau nằm, thường vui vẻ chuyện trò, ít khi ngủ nghỉ. Dùng pháp cúng dường, không tham ăn uống, có thể kham nhận việc giảng nói pháp cho người bệnh. Đấy gọi là Tỳ-kheo Sấm dùng năm pháp ấy để thăm viếng, chăm sóc những người bệnh, chưa từng có Tỳ-kheo bệnh nào không thuyên giảm. Sở dĩ như thế là vì Tỳ-kheo Sấm trong vô số đời trước, từng năm trăm đời làm thầy thuốc, thông hiểu về phương dược, nghe tiếng nói, xem sắc diện là nhận biết căn nguyên của bệnh, lại dùng bốn sự để hết lòng nuôi chữa kẻ bệnh. Do nhân duyên ấy, nên gọi Tỳ-kheo Sấm là người hết lòng với người bệnh bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bằng-kỳ-xa là người có khả năng tạo ra kệ tụng: Là vì Tỳ-kheo nầy, lúc trước là con của một Trưởng giả, thường được hàng người, trời tài ba, thông sáng dẫn dạy, tiếp xúc vật, tán tụng. Bấy giờ, xuất hành dạo chơi, gặp một cô gái nhiều tài năng, dung nhan đẹp đẽ, thế gian ít có. Bằng-kỳ-xa trông thấy, tâm ý vui thích liền muốn thâu nạp, bèn trở về nhà thưa với cha mẹ về ý định của mình. Cha mẹ không thuận, bảo: Tộc họ của con là thế nào, sao lại đổi chí hướng, hủy bỏ gia phong của người trước? Tâm ý của người con đã quyết nên thưa lần nữa: Nếu không vì con cưới cô ấy làm vợ thì con không thể sống ở đời. Cha mẹ thấy con nói như vậy thì lại không nhẫn tâm trách cứ, ngăn cản, liền bảo: Tùy ý của con, cha mẹ coi như không biết tới. Bằng-kỳ-xa liền tự sai người cùng báo cho phía cô gái biết. Cô gái thuộc chủng tánh nhiều tài nghệ nên chỉ chú trọng về khía cạnh nầy, liền đáp lại với người được sai tới, nói: Tôi không tham của cải của ông ấy, chỉ ưng thuận khi gồm đủ các thứ tài nghệ thôi. Bằng-kỳ-xa nghe thưa lại như thế, tức thì tìm đến chỗ thầy dạy để học. Không đầy mấy tuần, các nghề đã gồm đủ. Lại sai người báo tin: Việc học đã đầy đủ, nên có thể ban ơn cho nhau. Chủ nhân đáp: Nếu tài nghệ đã gồm đủ thì nên đi tới cung vua để thi thố hơn kém.

Lúc nầy, đang là chánh tiết, vua tập hợp đủ khắp các người tài nghệ để tỉ thí xem ai thắng, thua. Nếu hơn hết, thì được vua ban cho ngàn lượng vàng. Vua cũng nghe tiếng cô gái xinh đẹp, nhiều tài nghệ ấy, và muốn thâu nạp vào nội cung. Pháp tỉ thí về tài nghệ, thì leo lên cột cờ là hơn hết, nên cho dựng cột cờ cao bốn trượng chín thước, bên dưới đặt đao kiếm, mũi nhọn đều hướng lên trên, khoảng cách chỉ vừa đủ để chân vào. Khi đó, Bằng-kỳ-xa leo lên cột cờ đã tới đỉnh, quay bảy vòng, liền trở lui, lao người xuống khoảng đất trống. Vua sợ mất cô gái, nên giả vờ bảo là không thấy. Mọi người đều khen: Rất giỏi, nhưng vua vẫn bảo là không thấy. Nếu xét kỹ để được cho là giỏi, lại phải thực hiện lần nữa. Bằng-kỳ-xa suy nghĩ: Nếu lần nầy ta không thuận theo lệnh vua, tất sẽ mất người nữ ấy. Tình phải quyết đạt được. Bằng-kỳ-xa liều chết leo lên lần nữa, đã tới đầu cột cờ, ngắm nhìn thấy gương mặt người nữ, tâm tự suy nghĩ: Sao kẻ ấy có vẻ điềm nhiên đối với ta đang khốn khổ như vầy? Tâm sợ thân run, e chẳng tự bảo toàn. Người nữ giả dối đâu cần công việc nầy. Đức Phật nhận biết Bằng-kỳ-xa tất có thể tế độ, nếu không cứu giúp sẽ rơi vào ba đường dữ. Liền bảo Tôn giả Mục-liên: Tôn giả nên dùng thần túc cứu độ ách nạn kia. Tôn giả Mục-liên vâng theo lời dạy, tức thì đi đến nơi, hiện thần biến, ở trong hư không ngồi kiết già, lại tại bên dưới cột cờ, hiện ra bậc thang bằng bảy báu, người khác không thấy, chỉ riêng Bằng-kỳ-xa thấy rõ, nên thong thả theo bậc thang gồm bảy vòng đi xuống, được thần lực tiếp dẫn, trong an ngoài hiểu. Vua cùng với mọi người đều cho là kỳ lạ. Vua tự tay dẫn người nữ giao cho Bằng-kỳ-xa. Chàng nói: Không dùng vật dối trá nầy, vì chỉ lừa gạt người đời mê lầm cho là trong thật. Nước mất nhà tan không gì là không do đấy. Liền tìm Tôn giả Mục-liên và cùng đi đến chỗ Phật. Đức Thế Tôn nhìn Bằng-kỳ-xa, nói: Thiện lai, Tỳ-kheo! Thế là thành Sa-môn, lại vì Bằng-kỳ thuyết giảng về bốn đế, tức chứng đắc Ứng chân (A-la-hán). Trong lòng vui vẻ phát khởi mà hiện ra thành lời, bèn làm tụng kệ tán thán Đức Thế Tôn:

Ngày mười lăm thanh tịnh

Năm trăm Tỳ-kheo hợp

Đã đoạn các kiết sử

Tiên nhân không thọ tập.

Cũng như Chuyển luân vương

Trăm quan đều vây quanh

Bốn biển cùng đại địa

Nắm giữ không hiện bày

Hàng phục người như thế

Đạo sư không gì hơn

Dẫn giúp các Thanh-văn

Ba minh trừ tánh kiết.

Tất cả con Thế Tôn

Không có nhiễm trần cấu

Đã phá lưới ái dục

Nay lễ trăng trong sao.

Do nhân duyên ấy, nên gọi Bằng-kỳ-xa là người có thể tạo ra kệ tụng tán thán công đức của Như Lai, là bậc nhất.

* Sở dĩ xưng Tôn giả Câu-hy-la là bốn biện tài bậc nhất: Vì phàm là Thanh-văn bốn biện tài bất tất gồm đủ. Hoặc có pháp biện nhưng không có nghĩa biện. Hoặc có nghĩa biện mà không có pháp biện. Hoặc có ứng biện nhưng không có từ biện. Hoặc có từ biện mà không có ứng biện. Tôn giả Câu-hy-la đều có đủ bốn biện ấy. Tôn giả Xá-lợi-phất, Ca-chiên-diên cũng có đủ bốn biện, sở dĩ không xưng là hơn hết, vì Tôn giả Thân Tử đã lấy trí tuệ làm chính, Tôn giả Ca-chiên-diên đã lấy việc soạn tập làm chính, nên hai vị đều không xưng về bốn biện tài. Tuy có bốn biện tài, nhưng cũng không bằng Tôn giả Câu-hy-la. Tôn giả chỉ biện giải về nghĩa của một câu, bảy ngày không hết, huống chi là bốn biện, há có thể lường tính được sao! Do sự việc ấy, nên Tôn giả Câu-hy-la được xưng là bốn biện tài bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Nan-đề là khất thực bậc nhất: Vì các Tỳ-kheo khác tuy cũng khất thực, nhưng hoặc không đủ giới, hoặc có tâm tham, hoặc hay nhìn ngắm hai bên, tâm không chuyên nhất, hoặc tránh lạnh nóng, còn Tỳ-kheo Nan-đề thì lúc đang khất thực đều không có các sự việc ấy. Khất thực đã tinh, người dâng cúng được nhiều phước. Nay nên dẫn dụ để so sánh lớn nhỏ. Có người hỏi về phép bắn tên: Một người đứng cách trăm bước bắn vào sợi lông treo cao. Một người bắn vào đất khiến bụi bốc lên, trường hợp nào là khó? Đáp: Bắn vào sợi lông treo cao là khó, tuy bắn mà không đến nơi đất. Còn trường hợp sau thì không cần nói thêm. Hoặc thí cho khất thực, hoặc thí cho chúng Tăng, trường hợp nào là lớn? Hoặc là thí đích thực nơi A-luyện-nhã? Trong dụ, bắn vào sợi lông treo cao là chỉ cho thí không được thật, là dụ cho bắn vào hư không, sự việc tuy khó, nhưng có được có mất. Tên găm vào đất là dụ cho thí chúng Tăng. Bắn vào sợi lông treo cao tuy tinh, nhưng số bị mất là nhiều. Bắn vào đất tuy dễ nhưng chưa từng mất đất. Đất của phước điền dày nên không tăng giảm. A-luyện-nhã có tinh thô nên có được mất. Tôn giả Nan-đề được tinh nên gọi là bậc nhất.

* Sở dĩ xưng Tỳ-kheo Thí-la là “Một tọa một thực”, vì đây là một hạnh Đầu-đà. Phàm là pháp của A-luyện-nhã, tức hoặc khất thực, hoặc tọa thiền bên gốc cây, hoặc ở riêng một mình nơi vắng lặng. Nay “Một tọa một thực” nầy, là từ sáng sớm thức dậy đến giữa ngày, nếu Đàn-việt thí thực, thì không hỏi nhiều ít, chỉ ở nơi một xứ, tọa thực mà thôi. Nếu ăn chưa no, nhưng chỗ ngồi chưa dời thì có thể ăn lần nữa. Nếu đã đứng dậy, thì không được ăn trở lại. Luôn ở nơi một xứ thọ thực mà không lìa bỏ, nên gọi thí là là bậc nhất.

* Sở dĩ nói Tỳ-kheo Kim-tỳ-la thường đi đến bảy nhà để khất thực, không được quá bảy, nguyên do của sự việc ấy là vì đã lập thệ giới hạn nơi bảy. Lúc khất thực, muốn dùng phước để hóa độ chúng sinh, nên chuyên tâm niệm đạo, không có tưởng tham. Nếu được thức ăn ngon dở, không lấy đó để thêm, bớt. Theo thứ lớp khất thực không có lựa chọn nghèo giàu. Nếu khi ở một nhà, hai nhà được thức ăn, lại có người bố thí, đã đủ thì dừng, không đủ mới nhận. Nếu đến bảy nhà, không được thức ăn, thì nên trở về trụ xứ, tư duy hành đạo, không nghĩ ngày hôm sau nên đến nhà nầy, không nên đến nhà kia, đều không có tưởng phân biệt, nên gọi là Sa-môn bảy nhà. Trở về thì tĩnh tọa, thâu giữ tâm nơi đạo, nên xưng Kim-tỳ-la nơi bảy nhà khất thực là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Kiên Lao, do thường cư trú nơi chốn núi, đầm vắng lặng để hành đạo. Tỳ-kheo Nan-đề thường dùng việc khất thực, nhẫn nại để hành đạo. Tỳ-kheo Kim-tỳ-la dùng việc khất thực bảy nhà để hành đạo. Thí-la dùng một xứ thực để hành đạo, mười hai hạnh Đầu-đà đều chọn lấy một hạnh.

* Tỳ-kheo Phù-di nhận giữ ba y, ăn, ngủ không lìa. Hoặc nói: Tạo ra ba y, là do ba lượt chuyển pháp luân, hoặc cho là ba đời, hoặc nói là ba thời (mùa), nên đặt ra ba y. Mùa đông thì mặc dày, nặng, mùa hạ thì mặc nhẹ, mùa xuân thu thì mặc trung bình, đó là ba mùa, nên đủ ba y. Dày là năm điều, vừa là bảy điều, mỏng là mười lăm điều. Nếu là mùa lạnh dữ thì mặc ba y chồng lên nhau, có thể ngăn lạnh. Hoặc nói: Cũng do các thứ ruồi, muỗi v.v… nên chế ra ba y. Do duyên ấy, nên thường nhận giữ không quên. Vì thế gọi là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bà-sai là tọa thiền nơi khoảng đất trống bậc nhất: Vì lúc còn tại gia thường cho gia đình là mối lo. Xuất gia cầu đạo luôn an tọa nơi khoảng đất trống. Nếu vào phòng ốc thì luôn khổ vì hơi thở như bị chận lại, giống như bịt miệng. Do đấy luôn cầu được ngồi nơi khoảng đất trống, tư duy hành đạo. Sau đó thân thể điều hòa, hơi thở thông suốt, hành đạo không trở ngại. Do nhân duyên ấy, nên gọi Tỳ-kheo Bà Sai là tọa thiền nơi khoảng đất trống bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tôn giả Ly-việt thường ở bên cội cây: Là vì tại địa phàm phu muốn cầu thiền định, ở tại bên gốc cây, nương dựa nhằm buộc giữ tâm ý, để dứt trừ kiết phược. Các Tỳ-kheo khác cũng tọa thiền cạnh gốc cây, sở dĩ không gọi như thế là do họ không thể một lần nghe mà tự chuyên tâm tư duy. Tỳ-kheo nầy một lần nghe Phật chỉ dạy, liền có thể thực hành, chuyên ý không rời, sáu năm dứt hết kiết. Trước Tôn giả Ly-việt, nhiều vị thích thiền định du hành, đi dừng không khác, nhưng vui thích việc hành tập thì khác, nên đều gọi là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Đà-đa-sách là vui thích không: Vì Tỳ-kheo nầy vào phòng thì hiểu nội không, ra khỏi phòng thì hiểu ngoại không. Nội không dụ cho thức, ngoại không dụ cho thân. Vào phòng thấu tỏ thức không. Ra khỏi phòng hiểu rõ thân không. Đã hiểu rõ nội ngoại không thì các pháp cũng như thế. Tỳ-kheo nầy nghe nói về giáo pháp không, liền thâu giữ vào trong tâm. Vào phòng thấy không tức thấu đạt về thân thức. Các Tỳ-kheo khác, kiết dứt hết, sau đấy mới đạt không. Tâm không khó đạt, quý ở chỗ được trước, nên xưng là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ni-bà dùng y Ngũ nạp là hơn hết: Vì Tỳ-kheo nầy quán thân với ba mươi sáu vật uế lậu, không thể tham chuộng, chán ghét thân nầy nên cho là do vật hèn kém tự làm chướng ngại. Hoặc nói: Phàm là y, có thứ có thể gần gũi, có thứ không thể gần gũi. Thế nào là có thể gần gũi? Mặc y xấu cũ khiến người xấu hổ, tự thẹn, là có thể gần gũi. Mặc y tốt đẹp khiến người tự đại cho là đẹp, nhã, là không thể gần gũi. Y xấu hổ trợ việc hành đạo, do đấy mặc y Ngũ nạp. Tỳ-kheo nầy khéo có thể trong ngoài cùng đối chiếu, nên gọi là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ưu-đa-la thường vui thích tọa thiền nơi nghĩa địa: Vì Tỳ-kheo nầy là đệ tử của Tôn giả A-nan, đắc đạo trước thầy, tâm tự suy nghĩ: Thân nầy lưu chuyển, không chốn nào là không lui tới. Lúc tại cõi trời, ăn mặc, cỡi xe tự nhiên, nay nên xả bỏ. Hoặc ở nơi nhân gian làm Chuyển luân Thánh vương, bảy báu cùng theo, cũng lại là quá khứ. Hoặc ở nơi súc sinh luôn phải ăn cỏ gai, đây cũng là quá khứ. Hoặc ở chốn ngạ quỷ, nước đồng sôi là thức ăn. Hoặc ở nơi địa ngục, đao kiếm luôn đối diện. Các tội hình ấy đều do nghiệp tạo từ quá khứ. Nay được làm thân người, ngang với phần nầy là đủ hết. Xưa nay, chỗ đáng quý đều là từ bỏ hình tướng sắc huyễn của mọi vật, không một thứ gì đáng để tham luyến, đều nên dứt bỏ, tức nên trụ nơi nghĩa địa. Lại suy niệm: Đang muốn tọa thiền bên cội cây, nơi núi rừng, đầm rộng vắng, đều sinh khởi tham ái, chỉ có nơi nghĩa địa là chốn con người không vui thích, do đó nên trụ ở đấy. Vui thích nơi mộ địa chỉ có loài quỷ cùng đám chồn, sói, quạ, diều hâu v.v… nay nên nhập Tam-muội từ để cứu độ các loài ấy, vì thế nên lại trụ nơi mộ địa. Do nhân duyên nầy Tỳ-kheo Ưu-đa-la tức thường vui thích tọa thiền nơi nghĩa địa, không ở nơi chỗ có người, nên xưng là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Lô-hê-ninh luôn an tọa trên đệm cỏ bậc nhất: Vì Tỳ-kheo nầy thường ngồi trên đệm cỏ để trừ bỏ tâm tham ái. Thế nào là trừ bỏ tâm tham ái? Tức tuy có giường vàng gối ngọc, nhưng đều không tham ái, chấp trước. Hoặc lại nói: Nếu có người thí tòa ngồi tốt đẹp cũng như thí đệm cỏ, không khác. Tâm tham ái đã dứt, các kiết cũng hết. Liền đưa tay nắm lấy cỏ, hướng tới cỏ làm lễ. Có người hỏi: Vì sao hướng tới cỏ làm lễ? Đáp: Ta nhờ nơi cỏ ấy mà tâm ưa đẹp tươi đã dứt hết. Đắc đạo do đấy tức là thầy ta, nên hướng đến làm lễ. Năm trăm con khỉ được sinh lên cõi trời, cũng đã dùng hoa trời Văn-đà-la tung rải nơi tử thi, vì do tử thi mà sinh thiên, nên đến rải hoa. Phàm là sang tất do hèn làm gốc. Do nhân duyên nầy nên gọi Tỳ-kheo Lô-hê-ninh tọa thiền trên đệm cỏ là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ưu-kìm-ma không cùng nói chuyện với người khác, chỉ nhìn nơi đất mà đi là bậc nhất: Vì Tỳ-kheo nầy thường lo về lỗi lầm của miệng, nên muốn sửa đổi. Tự suy nghĩ: Chính là do nơi miệng nầy mà sinh trong cõi người, trời, hay nơi ba đường ác, như địa ngục có nhiều loại, khốn đủ nơi năm đường, khổ thật là vô lượng. Ta nay nên như Thái tử Mộ Phách kết thệ không nói. Bốn lỗi ba họa do đâu mà sinh, nên đã không nói, cứ nhìn thẳng mà đi. Đức Phật cho khả năng ấy là hiếm có, mỗi khi hướng về các Tỳ-kheo đều khen ngợi về đức ấy. Nói với Tôn giả A-nan: Tỳ-kheo như thế nên ghi chép để nhiều người được biết, noi theo. Do nhân duyên ấy, nên xưng là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Nhất Tâm là hành Tam-muội bậc nhất: Vì Tỳ-kheo nầy ngày trước từng tập định, cứu xét từ thô đến tinh, nay công năng của định đã lập, hành như dạo cảnh, ngồi mà quên tưởng. Quên tưởng lý đủ, về dụ thì như thế nào? Cũng như có người ăn trăm vị thức ăn, ý do quá no đủ, nên lại không còn tưởng ăn. Tuy lại bước đi, tiến dừng càng cảm, về sau nên thưa bày, hoạt động. Dựa nơi định lập tên, nên gọi ngồi, đứng, bước đi đều nhập Tam-muội là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Trưởng giả Đàm-ma-lưu-chi ưa thích viễn du bậc nhất: Tức sự việc ấy có nguyên do. Lúc Phật tại thế, có một Trưởng giả tên Đàm-ma-lưu-chi, đi đến chỗ Phật, lễ bái xong thì vấn an. Đức Phật nói: Đàm-ma-lưu-chi riêng đến đã rất lâu, mới có thể tương kiến. Có người hỏi Phật: Không rõ do đâu Đức Thế Tôn nói: Riêng đến đã rất lâu? Đức Phật đáp: Ông muốn biết chăng? Đáp: Muốn biết. Đức Phật nói: Vào thời A-tăng-kỳ kiếp xa xưa, thế gian có một vị Phật hiệu là Định Quang, Ta bấy giờ là Phạm-chí tên Siêu Thuật. Lúc ấy, Phật Định Quang sắp sửa vào thành, Ta nơi giữa đường được gặp, trông thấy tướng ánh sáng của Phật tỏa chiếu khắp, liền tán thán: Tướng ánh sáng của Đức Thế Tôn tỏa sáng hơn cả mặt trời mặt trăng. Công đức của Đức Thế Tôn thịnh dày như hai nghi. Tâm của Đức Thế Tôn nhân từ hơn cả mẹ hiền. Xem xét hình ảnh, không gì để cúng dường. Nay chính là đúng lúc, phước điền tốt đẹp, có thể gieo trồng căn lành. Thấy nơi đất có một ít bùn, sợ làm bẩn chân Đức Phật, Ta liền trải tóc phủ lên chỗ bùn ấy khiến Đức Phật Định Quang giẫm lên mà đi qua. Đức Phật liền thọ ký, nói: Ông đã dũng mãnh như thế, vào A-tăng-kỳ kiếp về sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca-văn. Khi đó, bên đường đi cũng có một Phạm-chí, tâm liền khởi giận dữ, nói: Kẻ nầy cùng với súc sinh không khác! Bèn đạp lên trên đầu tóc kẻ khác mà đi qua. Từ đấy trở về sau, trong vô lượng vô số kiếp luôn bị đọa trong loài súc sinh. Lại ở trong biển lớn làm cá Ma-kiệt, thân dài bảy ngàn do-tuần. Bấy giờ, có năm trăm khách buôn đi thuyền vào biển lớn để tìm kiếm châu báu, gặp phải cá Ma-kiệt nầy dùng miệng lật thuyền, sắp muốn nuốt vào miệng, năm trăm người kia hoảng sợ đều xưng niệm các bậc mình tôn thờ. Người chủ của đám khách buôn nói với mọi người: Nay thế gian có Phật hiệu là Thích-ca-văn, cứu độ người bị nguy ách, không ai hơn Ngài. Chúng ta nên xưng niệm danh hiệu Ngài cầu mong được thoát khỏi nạn. Tức thì đồng thanh xưng niệm. Cá Ma-kiệt nghe danh hiệu Phật, thức gốc vẫn còn, liền tự nghĩ xét: Phật Thích-ca-văn đã xuất hiện nơi thế gian, thân ta vì sao còn ở trong loài cá? Bèn lặn sâu xuống nước. Năm trăm khách buôn an ổn trở về. Lúc nầy, cá Ma-kiệt liền bày nửa thân hình lên bãi cát, không ăn uống, trải qua hai mươi bảy ngày thì chết, sinh làm con trai nhà Trưởng giả, tên là Đàm-ma-lưu-chi, nay mới đến được cùng ta tương kiến. Do đấy, nên gọi là “Lâu xa”. Đàm-ma-lưu-chi nghe đầu đuôi như thế, liền đi về bờ biển tìm xác chết cũ, thấy nơi bờ biển ấy có bộ xương cá lớn, da thịt đều hết, liền bước đi trên mảng xương sườn, suy nghĩ: Đây là thây chết cũ của ta. Bèn dùng hoa tung rải trên thây chết cũ ấy, lại xét về sự việc đã qua, hốt nhiên đạo thành. Do nhân duyên ấy, nên gọi Trưởng giả Đàm-ma-lưu-chi là viễn du bậc nhất.

* Sở dĩ xưng Tỳ-kheo Ca Cừ là tập hợp chúng thuyết pháp bậc nhất: Vì Tỳ-kheo nầy âm từ sáng rõ, tiếng vang rất xa, nghe âm thanh ấy, chúng tập hợp vô số, liền vì họ diễn nói pháp sâu xa. Các vị nên biết: Đức Như Lai xuất hiện ở đời, khó có thể được gặp, bốn đế là pháp cam lồ cũng khó được nghe. Các vị vào lúc thư thả, nên tư duy về chân đế, dứt trừ mười hai thứ trói buộc, dẫn dắt, có thể đạt được Niết-bàn. Tỳ-kheo nầy luôn trợ giúp Đức Phật hoằng dương giáo hóa, thường đem giáo pháp ấy truyền bá rộng khắp. Do nhân duyên ấy, nên xưng là tập hợp chúng thuyết pháp, âm thanh bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bà-câu-la thọ mạng rất lâu dài, là do thời xa xưa đã từng cúng dường sáu vạn Đức Phật, ở nơi trụ xứ của chư Phật luôn hành tâm từ. Đối với các loài vật có hình sắc, thọ mạng, dù là rất nhỏ bé, đều luôn gia tăng tâm thương xót, không hề có mảy may tưởng sát hại. Do phước của tâm từ ấy, nên nay có được báo kia. Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: Như Ta hôm nay, thân tướng thanh tịnh, không có ai hơn, cũng như hoa sen chẳng vướng nơi bùn nước, chính là thọ tám mươi, không như Bà-câu-la thọ một trăm sáu mươi tuổi. Như Lai tùy theo thế gian, muốn thích ứng với chúng sinh, không hiện điều dị biệt, nên thọ mạng tám mươi. Tỳ-kheo Bà-câu-la thọ phước của tâm từ nơi đời trước nên có được quả báo gia tăng về tuổi thọ. Hoặc có người hỏi: Chỉ do tâm từ nên đạt được thọ mạng như thế chăng, hay lại còn có nguyên do khác chăng? Đáp: Có. Vào thời xưa, Đức Như Lai Tỳ-bà-thi xuất hiện ở đời, bấy giờ có mười sáu vạn tám ngàn Tỳ-kheo du hành giáo hóa. Khi ấy, có Trưởng giả, sống theo nẻo sáng suốt, tu tập thuần thành, bẩm tánh lương thiện, khiêm tốn, không ưa rượu chè. Vào ngày hội hàng năm, do những người trẻ tuổi khuyên mời, nên đã uống ít nhiều. Liền do thế của rượu, nên đi đến chỗ Đức Thế Tôn, lễ bái, vấn an xong, bèn thỉnh Phật cùng các đệ tử thọ nhận sự cúng dường của ông và gia đình trong chín mươi ngày. Những Tỳ-kheo bị bệnh đều được mời đến nhà ông nhận các thứ thuốc men, vật dụng cần thiết đều xin cung cấp đầy đủ. Thưa thỉnh xong, ông trở về nhà, sai bảo mọi người trong gia đình: Ta đã thỉnh Đức Phật cùng các vị đệ tử cúng dường chín mươi ngày, vậy bốn sự đều phải lo liệu cho đầy đủ. Sai bảo, dặn dò xong liền đi ngủ. Ngủ rất lâu mới thức, người vợ nói: Trước đây ông có sai bảo sắm sửa đầy đủ các vật dụng cúng dường, sao bây giờ im lặng không thấy nhắc đến? Trưởng giả ngạc nhiên hỏi: Vừa rồi tôi đã nói năng, sai bảo những gì? Người vợ thưa lại: Lúc chưa ngủ, ông không nói gì sao? Trưởng giả bảo: Tôi không nhớ rõ là mình đã nói những gì. Bà vợ nói: Lúc ấy, ông bảo: Ta đã thỉnh Phật cùng các vị đệ tử cúng dường trong chín mươi ngày, mỗi thứ cần dùng đều không được thiếu. Ông chẳng đã nói như thế là gì? Trưởng giả suy nghĩ, nói: Là do rượu khiến con người nhầm lẫn mới dẫn đến sự việc như thế. Cảm thấy hổ thẹn nên quyết định thực hiện việc cung thỉnh ấy. Sáng sớm hôm sau, ở tại nhà mình, ông Trưởng giả đốt hương, từ xa đảnh lễ cung thỉnh Đức Thế Tôn và đại chúng. Có một Tỳ-kheo tới xin thuốc. Trưởng giả hỏi: Thầy bị đau gì? Đáp: Đau đầu. Trưởng giả nói: Đây tất là do phần trên của mạng ngực có nước, xông mạnh lên đầu. Do đấy nên đầu bị đau. Bèn cho một quả Ha-lê-lặc, nói: Chỉ uống thuốc nầy là đủ để dứt bệnh ấy. Tỳ-kheo uống thuốc, bệnh liền khỏi. Do phước báo ấy, nên trong chín mươi mốt kiếp chưa từng bị bệnh, sinh vào nhà Trưởng giả, đến tuổi tám mươi, xuất gia học đạo, trải qua tám mươi năm, đạo tục hợp lại là một trăm sáu mươi năm. Lúc còn tại gia, từng thi đấu sức, giây lát đầu bị đau, tức tìm cách trừ khỏi, từ đấy thường không bệnh tật. Do đó nên nói Bà-câu-la là trường thọ bậc nhất. Ở trong mức thọ mạng một trăm năm mà tăng thêm sáu mươi năm, người nầy, nơi đời năm trược mà thọ mạng như thế là rất đặc biệt. Dụ như trong chốn uế trược mà sinh ra hoa sen.

Tôn giả A-nan hỏi Bà-câu-la: Do đâu không vì người giảng nói pháp? Vì không có bốn biện tài hay là vì thiếu trí tuệ? Đáp: Tôi đối với bốn biện tài, trí đều mẫn tiệp, không phải là không đủ. Nhưng chính là tự vui thích tịch tĩnh, không ưa chốn đông đúc ồn ào, nên không thuyết pháp.

Vấn nạn: Tôn giả Bà-câu-la trường thọ, vì sao không sinh ba phương (ba châu)? Đáp: Chư Phật sở dĩ không sinh là do người của cõi ấy khó hóa độ. Nơi cõi nầy chúng sinh lợi căn, nhanh nhẹn, tuy rất xấu ác, nhưng dũng mãnh giữ đạo không ngại khó khăn. Thế nên, từ xa xưa chư Phật đều sinh trong cõi nầy. Tôn giả Bà-câu-la ứng hợp tại cõi nầy thành tựu đạo, nên không sinh nơi ba phương kia.

* Sở dĩ gọi Tôn giả Mãn-nguyện-tử là thuyết pháp bậc nhất: Vì có ba sự việc nên được gọi là bậc nhất. Các Tỳ-kheo khác cũng thuyết pháp, nhưng không có ba sự việc đáng ghi, nên không gọi là bậc nhất. Tôn giả Mãn-nguyện-tử lúc thuyết pháp, trước hết dùng biện tài xướng phát âm thanh vi diệu, khiến mọi người nghe đều cùng hoan hỷ hướng về mình. Tiếp theo, dùng ngôn từ “khổ sở” để trách cứ nơi tâm khiến cho phần không thông đạt bên trong kịp sợ hãi, phát khởi tưởng khó gặp. Sau cùng thì dùng tuệ sáng để chỉ dạy về vô thường, không, vô ngã. Người nghe kiết tan, sử lặng, trí kết hợp, phát triển. Đức Thế Tôn diễn nói pháp đầu giữa cuối đều thiện. Tôn giả Mãn-nguyện-tử cũng vậy, ba sự cùng thiện (hoàn hảo). Tự lìa Đức Như Lai để giảng nói pháp, không vị nào có thể hơn mình. Tôn giả Thân Tử tự thệ: Từ sáng sớm đến giữa ngày, phải độ một người khiến đạt đến Đạo tích. Tôn giả Mục-liên cũng thệ nguyện độ người, ở trong bốn hướng định tính tiến một bậc, sau đấy mới thọ thực. Các Tỳ-kheo khác đều cũng độ người, nhưng so với Tôn giả Mãn-nguyện-tử thì không bằng một phần trăm. Tôn giả nầy từ lúc thành đạo cho đến Niết-bàn, đã độ chín vạn chín ngàn người, trong hàng Thanh-văn là vị hóa độ chúng sinh nhiều hơn hết, nên gọi là thuyết pháp bậc nhất.

* Sở dĩ xưng Tôn giả Ưu-ba-ly là trì luật bậc nhất: Vì vào thời trước, Đức Thế Tôn trở về thăm quê hương, theo lời thỉnh của vua cha là Tịnh Phạn. Số lượng các Tỳ-kheo đi cùng với Đức Phật, tuy tâm đều tinh thuần, nhưng dung mạo thì chưa tiêu biểu. Khi ấy, vua Tịnh Phạn muốn khuyên con em thuộc hào tộc họ Thích xuất gia làm Tỳ-kheo, để theo hầu Đức Phật, liền tuyên lệnh: Những gia đình họ Thích, nếu có hai anh em thì đều phải cho một người xuất gia tu đạo. Nếu không tuân lệnh thì sẽ bị phạt nặng. Lúc nầy, có một nam tử thuộc họ Thích, tên Diện Vương, là người lớn tuổi nhất trong đám con em họ Thích được xuất gia, theo thứ tự thì được xuống tóc trước. Đức Phật bảo Ưu-ba-ly cạo tóc cho người nầy. Lại dặn: Các người họ Thích thường hay kiêu ngạo, thân thể vốn mềm mại, ông nên từ từ, nhẹ tay trong việc cạo tóc. Ưu-ba-ly vâng lời, cạo nhẹ tay, lại quá nhẹ tay, hầu như không chạm vào da. Ưu-ba-ly lại lật ngược lưỡi dao, dùng sống lưng dao để cạo tóc. Đức Phật bảo: Không thể dùng mãi phần bụng của dao để cạo như thế. Cũng nói: Không thể tức thì cạo từ trên đảnh trở xuống một lượt hết nhẵn, nên từ từ. Năm trăm nam tử họ Thích thảy đều được cạo như vậy. Đức Phật bảo Ưu-ba-ly: Thiện lai Tỳ-kheo! Liền thành Sa-môn. Phật bèn trao giới tức đắc A-la-hán. Tiếp theo, trao giới cho năm trăm con em họ Thích. Ưu-ba-ly làm Thượng tọa, dùng tay xoa lên đầu năm trăm người kia là đệ tử. Thọ giới xong, lần lượt phải lễ bái Ưu-ba-ly. Những nam tử họ Thích ngày trước vốn thường kiêu ngạo, cho là hơn người, không thể hạ mình, lại thêm Ưu-ba-ly là “con em” của họ, nên đều nói: Đây là kẻ giúp việc cho gia đình chúng tôi, duyên cớ gì phải lạy. Đức Phật bảo: Không phải thế. Pháp không có sang hèn, ai đạt trước là anh, sau là em. Do dự một lát, chế ngự tâm ý rồi lễ bái. Tức thì trời đất chấn động lớn. Chư Thiên nơi hư không tán thán: Lành thay! Lành thay! Hôm nay các người họ Thích đã hàng phục được tâm ý cao ngạo. Ý ấy khó thắng nên đại địa chấn động. Cùng lúc với năm trăm nam tử họ Thích xuất gia hành đạo, cũng có chín vạn chín ngàn người xuất gia tu đạo. Tôn giả Ưu-ba-ly từ lúc theo Phật thọ giới trở đi, chưa từng vi phạm dù là mảy may. Do nhân duyên ấy, nên gọi là trì giới bậc nhất.

Chỉ do như thế hay còn có sự việc khác?

Phía Bắc Tinh xá Kỳ-viên có một Tỳ-kheo mắc bệnh, trải qua sáu năm vẫn chưa khỏi. Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly đến thăm hỏi Tỳ-kheo ấy: Thầy đau ốm đã lâu, có điều gì cần, nên nói ra. Thưa: Điều tôi cần thì không thể nói được. Hỏi: Thầy muốn cần vật gì? Nếu ở đây không có, tôi sẽ cho người đi khắp nơi tìm. Giả như ở thế gian không tìm ra thì lên cõi trời tìm. Đáp: Thứ tôi cần, trong thành Xá-vệ có, do trái với lời Phật dạy nên không thể nói. Hỏi: Song nói ra thì không khổ. Đáp: Tôi chỉ nghĩ nhớ về rượu. Được năm thăng rượu thì bệnh liền hết ngay. Tôn giả Ưu-ba-ly bảo: Hãy chờ đấy. Tôi sẽ vì thầy nên thưa hỏi Đức Phật. Tôn giả trở về chỗ Đức Phật, thưa: Tỳ-kheo bị bệnh cần rượu làm thuốc, không rõ có thể được uống chăng? Đức Thế Tôn dạy: Pháp Ta chế ra là để trừ bệnh. Tôn giả Ưu-ba-ly bèn đi lấy rượu cho Tỳ-kheo bệnh uống, bệnh liền khỏi. Lại nói pháp cho Tỳ-kheo đó, khiến chứng đắc A-la-hán. Đức Thế Tôn khen ngợi Tôn giả Ưu-ba-ly: Tôn giả đã thưa hỏi Như Lai về việc ấy, khiến cho Tỳ-kheo bệnh nhờ đấy mà khỏi, lại khiến đắc đạo. Tỳ-kheo nầy nếu không được độ, về sau sẽ bị đọa nơi ba đường dữ, không có kỳ hạn ra khỏi. Tôn giả nên vì các Tỳ-kheo vị lai nói về giới cấm, khiến họ nhận biết chỗ khinh, trọng, để được cứu độ nguy ách. Tôn giả đích thực là có thể trì luật, nên đem Luật tạng giao phó cho Tôn giả, chớ khiến bị thất tán. Trong các Tạng, Tạng nầy là tối tôn, không nên để cho hàng Sa-di cùng bạch y xen vào. Do nhân duyên ấy, nên lại xưng là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bà-ca-lợi đạt được tín giải thoát, vị Tỳ-kheo nầy bị bệnh đã lâu, nằm mãi nơi giường trải qua sáu năm, những người chăm nuôi thảy đều bỏ đi. Tỳ-kheo bệnh tự nghĩ: Ta bị bệnh quá lâu, những người chăm nuôi đều mỏi mệt rất có thể chán nản, lại không được Đức Như Lai rủ lòng thương xót! Nên tự xử để dứt trừ bệnh khổ. Liền tìm lấy đao, hướng về đao, nói: Chỉ cần giết ta, là cũng sẽ đoạn trừ kiết chăng? Nói xong thì cầm dao tự đâm vào cổ, mũi dao vừa vào tới nửa yết hầu, đã được lậu tận, kịp khi đầu bị đứt, là chứng đắc Niết-bàn. Lúc ấy, đại địa chấn động, âm vang đến tận trú xứ của Ba-tuần. Ba-tuần nghĩ: Đây chắc là điềm gì ứng hiện nên đại địa mới chấn động như thế. Liền dùng “Thiên nhãn” xem khắp, thấy một Tỳ-kheo vừa tự hại, nhưng không biết thần túc của vị ấy đã đi về nẻo nào. Quán khắp các cõi trời, không thấy. Lại xem trong cõi người cũng không gặp. Lại xem nơi ba đường ác, cũng đều không thấy đâu. Bấy giờ, Đức Phật dẫn các Tỳ-kheo đến chỗ Tỳ-kheo vừa qua đời, chuẩn bị hỏa thiêu, thấy nơi tử thi có lửa hiện lên. Đây là do Ba-tuần phóng lửa để tìm thần thức của vị ấy, nhưng đều không biết hiện ở đâu. Sở dĩ Ba-tuần tìm kiếm là muốn biết nẻo thần thức tiến tới để hủy hoại, khiến không thành. Các Tỳ-kheo liền thực hiện việc hỏa thiêu. Đức Phật khen Tỳ-kheo nầy đã đạt được tín giải thoát. Hoặc nói: Phàm người tín tâm chí thành, mạng phó cho tự nhiên, hãy còn không cầm gậy để tự phòng hộ, huống chi là lại tự hại sao? Đáp: Tín, sở dĩ cầm đao, vì đao là tuệ kiếm, muốn dùng đấy để đoạn trừ các kiết. Thân tức là gốc của kiết. Căn phát triển tức là nhánh cành. Thân đoạn thì kiết trừ. Do đấy, người cầm đao không bị ngăn ngại. Cầm đao tín, chặt đứt cây nghi hoặc, nên câu tiếp theo viết: Ý không do dự. Từ tín giải thoát đến giải thoát không nghi, tức chuyển độn làm lợi. Do nghĩa ấy, nên gọi Tỳ-kheo Bà-ca-lợi là tín giải thoát bậc nhất.

***

QUYỂN 5

Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Nan-đà là đoan nghiêm bậc nhất: Vì các Tỳ-kheo mỗi mỗi vị đều có các tướng. Tôn giả Thân Tử có bảy. Tôn giả Mục-liên có năm. Tôn giả A-nan có hai mươi. Chỉ riêng Tôn giả Nan-đà có ba mươi tướng. Tôn giả Nan-đà sắc vàng. Tôn giả A-nan sắc bạc. Tôn giả Nan-đà mặc y phục sáng rỡ, giày dép viền tua vàng, cầm bát lưu ly, vào thành khất thực, những người trông thấy không ai là không vui thích. Tự lìa Đức Như Lai để giảng nói pháp, hành hóa, các vị đệ tử khác không vị nào có thể sánh kịp, nên gọi là đoan nghiêm bậc nhất.

Cũng gọi là các căn tịch tĩnh: Đức Phật dẫn các đệ tử đi đến Tinh xá của Nại-nữ ở thành Tỳ-xá-ly. Lúc ấy, Tôn giả Nan-đà kinh hành ở bên ngoài. Nại-nữ nghe Đức Phật đến, trong tâm vô cùng vui vẻ, muốn bày biện sự cúng dường, tức đi tới thỉnh Phật, thấy Tôn giả Nan-đà đang kinh hành bên ngoài Tinh xá, tình cảm yêu thích dấy mạnh, đảnh lễ tiếp giáp chân, lấy tay xoa lên chân Tôn giả. Tuy nhìn thấy người nữ xinh đẹp, dịu dàng, nhưng Tôn giả Nan-đà hoàn toàn không có tưởng dục. Do hai hình cùng cảm, nên liền xuất “bất tịnh”. Vị ngọt thấm nhuần nơi thân thể, thân thể đầy đủ thì dư thừa. Chỗ dư thừa của bất tịnh, há là do tâm? Nại-nữ không rõ, nghi là có tưởng dục. Đức Phật nhận biết ý ấy, nên nói với nàng: Chớ sinh tâm nghi! Bảy ngày sau đấy, Tôn giả Nan-đà sẽ chứng đắc A-la-hán. Theo đó mà nói, tức biết tâm của Tôn giả không biến đổi.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bà-đà khéo giải nghi vướng của người: Là vì chư Phật trong ba đời đều cùng lấy số lượng tám vạn bốn ngàn dùng làm pháp hành. Chúng sinh đạt đạo bất tất phải hành khắp. Các hành tùy theo xứ tỏ ngộ, dùng làm tông chỉ, vì sao kiết sử của chúng sinh chẳng đồng? Bệnh có nhiều, ít, cấu uế có dày mỏng, thế nên Đức Như Lai thiết lập giáo pháp có từng ấy. Hoặc có một loại thuốc trị nhiều bệnh. Hoặc có nhiều loại thuốc trị một bệnh. Cũng như sáu độ cùng hợp lại. Một hành làm chủ thì các hành đều theo. Một hành không chuyên, thường gọi là theo bệnh đã khởi, đối thuốc ứng hợp. Nếu khởi chấp thường thì dùng vô thường đối trừ. Nếu tâm chấp có khởi thì dùng tâm không đối trừ. Nên hiểu rõ về hành vô thường, vì muôn hành đều là vô thường. Cũng như thí tạo ra tám vạn thứ, tám vạn đều là thí, đó gọi là lược nói. Cũng như trong tám âm của Đức Như Lai, một âm hợp với tám tiếng vang, một tiếng vang hợp với trăm giáo pháp, một giáo pháp hợp với trăm nghĩa, mỗi mỗi cùng hợp lại đến ngàn vạn ức. Một âm báo đến vạn ức. Sự biến chuyển như vậy là lược nói về các hành hợp lại. Về dụ cũng thế. Tỳ-kheo nầy chuyên dùng lược nói làm chủ, nên gọi là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Tư-ni là có thể thuyết pháp rộng khắp: Vì Tỳ-kheo nầy, ba mươi năm, ở trong địa phàm phu đã rộng vì mọi người thuyết giảng pháp, phân biệt về nghĩa lý. Thế nào là thuyết giảng rộng? Hoặc nhân một hành mà làm tăng trưởng các hành, chi tiết càng dồi dào cho đến vô số. Cũng như bệnh có cùng nhân mà sinh, do đấy nên đặt các thứ thuốc cùng thuận mà thành. Tỳ-kheo nầy chuyên dùng phân tích, phán đoán làm chủ, không ưu tiên cho việc đoạn dứt lậu, vì thế phải trải qua ba mươi năm mới chứng đạo. Tĩnh lặng, quên lời, nên bỏ sót dấu vết từ trước. Sao chép từ gốc để nối tiếp, nên gọi là thuyết giảng rộng bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Thiên Tu-bồ-đề là người mặc y đẹp đẽ bậc nhất: Trong số năm trăm đệ tử của Phật có hai vị Tu-bồ-đề: Một vị thuộc chủng tánh vương giả, một vị thuộc chủng tánh Trưởng giả. Thiên Tu-bồ-đề xuất thân từ hàng vương giả. Sở dĩ gọi là Thiên vì trong năm trăm đời thường sinh nơi cõi trời Hóa ứng thanh, sau sinh vào nhà vương giả, hưởng phước tự nhiên chưa từng thiếu thốn. Thời gian Đức Thế Tôn trở về quê hương, vua Tịnh Phạn khuyến khích năm trăm nam tử họ Thích xuất gia học đạo, theo hầu Đức Phật, Tỳ-kheo nầy là một vị trong số ấy.

Bấy giờ, Đức Phật khuyên bảo các Tỳ-kheo: Phàm là người học đạo, đều phải bó buộc thân, giữ hạnh, y thô, ăn dở, nệm cỏ làm giường, thuốc thang dùng theo dân dã. Tỳ-kheo nầy nghe lời Phật dạy, tâm tự tư duy: Ta sinh trong gia đình giàu sang, y phục, thức ăn luôn dồi dào, lầu gác, phòng ốc đều cao rộng, giường nệm, giày dép, các thứ vật dụng quanh người đều quý giá, ít có, thế nhưng cũng còn không thỏa mãn ý ta, huống hồ là nay sẽ mặc y Ngũ nạp! Phải nên trở về nhà là hợp với bản ý của mình. Suy nghĩ rồi muốn trở về. Lúc nầy, Đức Thế Tôn đang ở tại Tinh xá Xá-vệ, thọ thỉnh của vua Ba-tư-nặc, Thiên Tu-bồ-đề liền đi tới chỗ Phật lễ bái, từ tạ mà trở về. Tôn giả A-nan nói: Xin hãy nán lại một đêm. Thiên Tu-bồ-đề bảo: Phòng ốc, giường nệm của Đạo nhân như thế, làm sao có thể ở lại được, chắc phải đến nhà bạch y ngủ nhờ một đêm, sáng hôm sau sẽ trở lại đây thôi. Tôn giả A-nan nói: Nên ở lại. Nay sẽ bày biện khéo đẹp và đủ cả. Tôn giả liền đi tới chỗ vua, các thứ tọa cụ, cờ lọng, hoa hương, bốn thứ đèn dầu, mỗi mỗi sự đều mang về đầy đủ, đẹp đẽ, sang trọng. Tỳ-kheo nầy bèn nghỉ đêm trong căn phòng như thế. Do hợp với bản tâm nên ý liền được định, tư duy về bốn đế, cho đến cuối đêm tức đắc A-la-hán, bay lên hư không. Tôn giả A-nan tâm niệm: Tỳ-kheo nầy chắc là đã bỏ phòng mà đi rồi, các thứ vật dụng mượn ở chỗ vua sợ có người lấy mất, nên vội tới xem thử. Trong phòng chẳng thấy, ngước nhìn lên cao, thấy Tỳ-kheo ấy đang bay nơi không trung. Tôn giả A-nan bạch Phật: Tỳ-kheo Thiên Tu-bồ-đề đã đắc A-la-hán, hiện đang bay nơi hư không. Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: Y có hai loại: Loại có thể gần gũi, loại không thể gần gũi. Thế nào là có thể gần gũi? Là lúc mặc y đẹp, làm tăng trưởng tâm đạo, đây là có thể gần gũi. Khi mặc y đẹp, làm tổn giảm tâm đạo, đấy là không thể gần gũi. Nầy A-nan! Vì thế, hoặc từ nơi y tốt đẹp đắc đạo, hoặc từ nơi y Ngũ nạp cũ rách mà đắc đạo. Chỗ tỏ ngộ là tại tâm, không câu nệ nơi y phục, hình tướng. Theo đó mà nói, Thiên Tu-bồ-đề là người mặc y đẹp đẽ bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Nan-đà-ca là giáo thọ bậc nhất: Vì như Tôn giả Xá-lợi-phất cũng giáo thọ, tức chỉ dạy trao truyền khắp bốn chúng đệ tử, từ sáng sớm đến giữa ngày, nên khiến một người đạt đến “Đạo tích”. Còn Tỳ-kheo nầy chuyên giáo thọ các Tỳ-kheo, khiến chứng đắc A-la-hán. Ví như người bắn tên giỏi, dùng một phát tên bắn trúng kẻ giặc kia, tức trúng nơi chính yếu nên khiến không còn dấy khởi. Dụ cho Tỳ-kheo nầy, khéo chỉ dạy về tuệ chính, người nghe kiết dứt trừ, đạt đến giải thoát. Người bắn tên không giỏi, tuy dùng nhiều mũi tên mà chỉ có thể một phát bắn trúng. Dụ như Thân Tử tuy diễn nói rộng về tuệ, chung cuộc chỉ thành một bậc. Hơn kém đã khác, xét kỹ dễ thấy. Thế nên nói giáo thọ hàng hậu học là bậc nhất.

* Tỳ-kheo Tu-ma-na sở dĩ gọi là người khéo khuyên dạy Tỳ-kheo ni: Vì Tỳ-kheo nầy thường dùng những lời khổ bức để khuyên bảo các Tỳ-kheo-ni: Phàm là người nữ thì có nhiều tình cảm, dáng dấp xinh đẹp được tô điểm luôn huyễn hoặc người đời. Thân hình uế lậu, chín chốn bất tịnh, ba mươi sáu vật, không một thứ nào đáng để tham ái. Sở dĩ gọi Tu-ma-na, tức là dùng tên của hoa. Do lúc sinh ra, trên tai tự nhiên có hoa nầy, nên dùng hoa làm tên người. Bấy giờ, vua Tần-bà-sa-la đi đến chỗ Phật, thấy Tỳ-kheo ấy trên tai có hoa, cho là lạ, liền hỏi Phật: Pháp của Tỳ-kheo được đeo hoa chăng? Đức Phật nói với vua: Nhà vua nên tự tay thâu lấy hoa ấy. Vua liền dùng tay rút nắm lấy hoa, hoa lại sinh ra như cũ, cứ như thế không dừng, bèn thành một đống hoa. Vua càng cho là lạ, nên hỏi nguyên do. Đức Phật nói: Về thời xa xưa, lúc Đức Phật Tỳ-bà-thi xuất hiện ở đời, Tỳ-kheo ấy là một Trưởng giả trẻ tuổi. Lúc nầy là lễ hội hàng năm, Trưởng giả tham dự, đánh đàn, ca hát vui chơi xong, liền đi tới chỗ Đức Phật. Trưởng giả trông thấy Phật hoan hỷ, bèn lấy hoa trên tai mình dâng đặt lên trên tai Đức Phật. Phật tức dùng thần túc, hóa ra hoa ấy, ở trong hư không biến làm đài có bốn trụ, hoa trên tai vẫn như cũ. Trưởng giả trông thấy những biến hóa như thế, liền phát thệ nguyện: Nguyện nơi đời vị lai của con đời đời được gặp Phật, thân tướng sinh ra được đoan nghiêm, trên tai sinh hoa. Do phước nguyện từ xưa, nên nay có được báo đó. Vua nghe Đức Phật giảng nói, tâm tức mở bày, hiểu rõ, nên đến trước đảnh lễ Phật rồi cáo lui, trở về hoàng cung.

Sở dĩ khéo khuyên dạy Tỳ-kheo-ni, vì các Tỳ-kheo-ni vốn là những người có nhiều tình cảm. Nhiều người trông thấy Tỳ-kheo Tu-ma-na đoan nghiêm, trên tai có hoa, tâm cũng còn yêu thích. Duyên nơi tình cảm yêu thích ấy để dẫn dạy, nhiếp phục, dùng lời nói khổ bức nên mọi tham ái liền tiêu tan, vì thế nên gọi Tỳ-kheo Tu-ma-na là khéo khuyên dạy Tỳ-kheo-ni về giới cấm là bậc nhất.

* Sở dĩ xưng Tỳ-kheo Thi-bà-la là phước đức bậc nhất: Vì lúc Thi-bà-la mới sinh, tay cầm ngọc báu Ma-ni vô giá. Thân vừa chạm đất liền nói: Thế gian có đủ bảy báu như vàng bạc v.v… để có thể đem bố thí chăng? Ta nay muốn hành bố thí lớn. Nói lời như vậy rồi, khiến cha mẹ, người nhà đều hoảng sợ, bỏ đấy mà chạy, hoặc nói là quỷ La-sát, hoặc cho là thiên thần. Phàm là trẻ con, lúc sinh cần phải đủ ngày tháng mới nói được. Nay vừa chạm đất liền nói, là điều rất kỳ lạ. Tình mẹ không nỡ bỏ con, nên trở lại để xem. Đứa con nói với mẹ: Chớ sợ! Con không phải là quỷ. Con đúng là con của mẹ. Người cha là Nguyệt Quang bảo vợ: Nay nên ẳm đứa bé tới chỗ các Sư Ni-kiền-tử, để hỏi về chỗ dữ, lành. Liền cùng vợ bế con đi đến trụ xứ của các thầy Ni-kiền, thưa lại mọi việc. Sư nói: Đứa bé nầy vô phước, về sau sẽ dẫn tới tai họa. Trưởng giả thưa: Trong tay đứa bé có ngọc báu Ma-ni, vì sao nói là không phước? Ni-kiền bảo: Đến năm đứa bé tám tuổi, tài sản, vật báu trong nhà ông đều hết sạch, chính là do trong tay đứa bé nầy hiện có ngọc báu sẽ tiêu diệt hết, cả nhà đều sẽ chết đói. Trưởng giả sợ hãi, nhưng nghĩ kỹ có chỗ nghi hoặc. Nghe đời có vị Đại Sa-môn, hẳn có thể biết được chuyện lành dữ, nên đi đến nơi ấy để hỏi về việc nầy chăng? Tức đi tới chỗ Đức Thế Tôn. Giữa đường lại nghĩ: Đại Sa-môn là chủng tộc Trưởng giả, sinh trưởng nơi thâm cung, lại không học vấn. Các Bà-la-môn, ngay từ lúc còn trẻ đã học rộng, hãy còn không thể biết về lành dữ, Đại Sa-môn há có thể biết được? Liền muốn trở về nhà. Chư Thiên nơi hư không nói với Trưởng giả: Chỉ nên đi tới trước, sao lại tính trở về? Như Lai là bậc Đại Thánh, không điều gì là không thông đạt, đi tới đó, mọi nghi ngờ sẽ được tỏ rõ, phải trái mau hiện ra. Vợ chồng Trưởng giả y lời, bèn đi đến trụ xứ của Đức Phật, lễ bái, vấn an xong, liền thưa về các sự việc như vừa nói, không tường dữ lành. Đức Phật dạy: Hoàn toàn lành và lợi mới sinh được người con phước đức ấy. Đứa bé nầy, năm hai mươi tuổi sẽ xuất gia tu đạo, thường có năm trăm Đồng tử cùng theo, sẽ chứng đắc A-la-hán, trở về độ cha mẹ. Trưởng giả nghe Đức Thế Tôn giảng nói như thế thì vô cùng vui mừng, không thể tự kìm chế, liền đảnh lễ Phật rồi trở về nhà, cho sắm sửa đủ các thức ăn uống ngon quý, thỉnh Phật cùng chúng đệ tử đến nhà thọ thực, xin Phật đặt tên cho con mình. Đức Phật nói với Trưởng giả: Nếu muốn mang tên là chư Thiên thì con người không hiểu. Nếu muốn mang tên Hiền Thánh thì hàng phàm phu không hiểu. Thời Đức Phật Ca-diếp gọi quỷ là Thi-bà-la, nay nên đặt tên là Thi-bà-la. Thi-bà-la là khai thông âm thanh, ngôn ngữ của quỷ thần, thế nên đặt tên là Thi-bà-la. Tôn giả A-nan, lúc sắp nhập Niết-bàn đã độ hai vị đệ tử, vị thứ nhất tên Ma-thiền-đề, vị thứ hai tên Ma-thân-đề-lợi. Ma-thân-đề-lợi là Địa vương, nếu không làm Đạo nhân, sẽ làm vua châu Diêm-phù-đề cùng ba thiên hạ, nên gọi là Ma-thân-đề-lợi. Tôn giả A-nan dạy vị đệ tử nầy: Con đi đến nước Sư Tử Chử để truyền bá, hiển dương pháp Phật. Người ở nước ấy cùng với La-sát chung nhau. Chính là cần có văn tự, sau đấy mới giao tiếp. Theo “Thị dịch” hiện có sáu mươi thứ sách, trong số ấy có sách của quỷ gọi là A-phù, sách của người gọi là A-la. Ma-thân-đề-lợi vâng theo lời dạy, đi tới nước ấy hiển dương Phật pháp, từ đó, dấu vết của sự giáo hóa ngày nay hiện còn. Thi-bà-la khai thông quỷ thần cũng như thế, nên gọi là Thi-bà-la.

* Sở dĩ xưng Thi-bà-la là phước đức bậc nhất, tức lúc mới sinh, trong hai tay tự nhiên cầm lấy ngọc Ma-ni. Chuyện kể về thời xa xưa, lúc Đức Như Lai Tỳ-bà-thi xuất thế, Tỳ-kheo nầy là khách buôn đi thuyền vào biển tìm châu báu, trải qua năm nạn mới đến được nơi có châu báu, tìm được một ngọc báu liền trở về, đem dâng lên Đức Phật, nguyện xứ xứ mình sinh ra đều đạt được phước báo tự nhiên. Do nhân duyên ấy, nên lúc sinh có tướng kỳ lạ. Tỳ-kheo Giá Nhị Thập Ức, lúc mới sinh, tự nhiên có ngọc báu hiện rõ nơi tai. Người cha tập hợp các người mua bán, hỏi về giá trị của ngọc báu kia. Cả đám cân nhắc rồi đáp: Giá trị hai mươi ức. Ngọc báu nơi tay của Thi-bà-la không có hạn lượng, nên gọi là vô giá. Báu ấy đã thấm nhuần đến những bảy đời. Trong bảy đời nầy, không hề đói khổ, thiếu thốn, nên gọi là phước đức bậc nhất.

Đến năm hai mươi tuổi, Thi-bà-la xuất gia học đạo, đến chỗ Đức Thế Tôn. Đức Phật bảo: “Thiện lai!”, tức thành Sa-môn, tư duy về bốn đế liền đắc A-la-hán. Lúc ấy, có năm trăm Đồng tử, cũng xuất gia tu đạo, thường theo hầu Thi-bà-la. Thi-bà-la cung cấp y phục, thức ăn uống cho năm trăm vị nầy. Nơi chốn vừa đến ngụ, cúng dường đầy đủ, nơi chốn du hành hóa độ, đều cúng dường kịp thời. Thi-bà-la và năm trăm vị ấy cùng đi tới thành Vương-xá. Phía Nam thành nầy có ngọn núi lớn, thuộc loại “thâm sơn”, trong núi có nhiều loài rắn độc, cọp, sói, La-sát. Thi-bà-la liền tự nghĩ: Muốn ở trong núi nầy ẩn dật một mùa. Khi đó, Thiên Đế-thích nhận biết tâm niệm của Thi-bà-la liền sai tả hữu đến núi ấy tạo dựng năm trăm phòng cùng Tăng-già-lam và đủ thứ vật cúng dường. Lại trải qua một mùa, kiết hạ đã xong, Thi-bà-la tâm niệm: Xa cách Đức Thế Tôn đã lâu, nên trở về lễ bái, hầu hạ. Thời tiết lúc đó rất nóng, Thi-bà-la nghĩ muốn được mát mẻ, Thiên Đế nhận biết, liền cho tuôn mây mưa. Vừa nghĩ về nước uống, tức mưa cam lồ. Mọi tâm niệm mong muốn, hợp ý liền đến, nên gọi là phước đức bậc nhất.

Thi-bà-la có người chú, thờ Phạm-chí ngoại đạo, vì người ấy vốn keo kiệt không thích bố thí. Có ông bạn thân khuyên nên tạo “của cải” cho đời sau, liền thỉnh Phạm-chí đến ngàn người, dâng thí trăm ngàn lượng vàng. Thi-bà-la nghĩ: Người chú tham lam bỏn sẻn, sống không tạo phước, giờ lại tuệ thí không gặp phước điền, ta không cứu độ thì vĩnh viễn là hạng vất bỏ. Liền đi tới nhà người chú, cầm bát khất thực. Chú nói: Cháu sao đến muộn thế. Ngày hôm qua ta hành thí lớn. Nếu ngày hôm qua cháu tới, có thể được Tăng-kiệt-chi. Thi-bà-la nói: Cháu tự có Kiệt chi, cũng không cần thứ ấy. Chú hỏi: Vậy cháu đến làm gì? Đáp: Cháu muốn khất thực. Người chú không cho. Thi-bà-la liền hiện thân ở trong hư không, tạo ra mười tám thứ biến hóa, thân phát ra nước, lửa. Trưởng giả nghĩ: Đây tất là giận dữ, chắc sẽ đốt cháy nhà ta. Bèn gọi khiến hạ xuống nơi tòa ngồi. Thi-bà-la an tọa, nói: Cháu muốn được ăn. Người chú sai đem các thứ thức ăn dở, thiu, hôi, Thi-bà-la nhận lấy, chú nguyện rồi ăn. Thức ăn vào trong bát, do phước đức cảm ứng nên biến thành cam lồ. Có vị trời nơi hư không tán thán: Lành thay, Trưởng giả! Nay đã tạo thí lớn ấy, phước đức của thí nầy, không ai có thể vượt hơn! Trưởng giả tâm niệm: Ta trước thí cho các Phạm-chí trăm ngàn lượng vàng, mà không ai khen ngợi ta. Nay thí cho người nầy một ít thức ăn dở, mà được khen là thiện, là không vọng ngữ chăng? Vị trời lại bảo: Chỗ bố thí tuy ít nhưng đúng nơi phước điền tốt đẹp, nên gọi là thí lớn. Trưởng giả lại nghĩ: Vị trời tất chân thật, vì đã hai lần báo cho ta biết. Liền đem trăm ngàn lượng vàng thí cho Thi-bà-la. Thi-bà-la nói: Cháu là Tỳ-kheo, pháp không được nhận vàng. Tức thì đi tới chỗ Đức Phật thưa hỏi về việc ấy. Đức Phật: Có thể nhận lấy rồi tùy ý chuyển thí cho người khác. Thi-bà-la bèn nhận số vàng đó và đem thí cho các đồng học, lại vì người chú thuyết pháp khiến chú liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Do có thể biến các thứ xú uế thành cam lồ, nên gọi là phước đức bậc nhất. Từ lúc sinh cho đến nhập Niết-bàn, chưa từng thiếu thốn. Lúc Bát-Niết-bàn, có vô số thức ăn uống ngon quý mưa xuống trên thân. Sở dĩ được như thế vì nơi tự thân đã đủ, lại muốn cho các chúng sinh cũng được dồi dào, do đấy nên lại gọi là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ưu-ba-tiên là người đầy đủ các hạnh bậc nhất: Vì Tỳ-kheo nầy, bên trong đức hạnh viên mãn, bên ngoài hình tướng đoan nghiêm, trong ngoài tương ưng, mọi sự ưa thích đều vui vẻ. Tôn giả Nan-đà có ba mươi tướng. Tôn giả A-nan có hai mươi tướng. Tướng biểu hiện tuy nhiều, nhưng đối với oai nghi của Sa-môn không thể đều hoàn bị. Tỳ-kheo nầy, tướng tuy chỉ có mười một, nhưng lễ nghi đều đủ. Do đủ nên tạo thích hợp, không nơi nào đi đến mà không ứng kết. Người lớn, trung niên, trẻ em trông thấy thảy đều hoan hỷ. Gọi là bên trong sung mãn, tức bốn đế như có tám chánh chân vi diệu. “Ngôi nhà tinh thần” (Tâm) thật sự sung mãn, chưa từng hao tổn. Thế nên xưng là đầy đủ các hạnh nơi pháp của đạo phẩm là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bà-đà-tiên thuyết giảng vui vẻ, không làm tổn thương ý người khác: Là vì Tỳ-kheo nầy luôn thận trọng nơi miệng, không phạm bốn lỗi lầm. Phàm kẻ sĩ xử thế, búa rìu ở trong miệng, sở dĩ chém thân là do nơi lời nói thô ác. Tỳ-kheo nầy đối với các lời nói xấu ác ấy đã vĩnh viễn dứt trừ, luôn chọn lời, từ từ, suy xét rồi sau mới bày tỏ. Ngôn từ phát ra hợp ý tất khiến hoan hỷ. Hoặc ở nơi người lớn tuổi, trung niên, trẻ con, theo chỗ ưa thích, đều có thể vừa ý. Sở dĩ gọi Tỳ-kheo ấy là có thể khéo nói năng, vì có Tỳ-kheo đã chứng đắc A-la-hán, tuy lậu đã dứt hết, vẫn còn có lỗi lầm của miệng. Nhân đi qua sông, nước dần dần thêm sâu, liền buông lời ác nói: Đúng là thứ nô tỳ xấu xa, thuộc giống dâm dật! Lúc ấy, thần sông là nữ nghe lời ác đó, tâm niệm: Tỳ-kheo nầy vừa buông lời ác như thế là muốn bước sâu vào trong nước. Do Tỳ-kheo ấy, ta nên thưa hỏi Đức Phật. Liền đi đến hỏi Phật: Có Tỳ-kheo đi qua sông, nước mới sâu một tí liền mạ lỵ, nói: Đúng là thứ nô tỳ xấu xa, thuộc giống dâm dật! Theo pháp của Tỳ-kheo có nên mạ lỵ không? Đức Thế Tôn bèn sai một Tỳ-kheo tới gọi Tỳ-kheo mạ lỵ kia đến chỗ Phật. Tỳ-kheo kia liền tới. Đức Phật bảo: Ông là Sa-môn, vì sao lại mạ lỵ như vậy. Thưa: Đệ tử không mạ lỵ, chỉ nói: Nô tỳ là loài dâm dật. Thần sông nữ nói: Thực sự là Tỳ-kheo đó đã mạ lỵ. Xin Đức Thế Tôn nói rõ về gốc ngọn của sự việc nầy: A-la-hán có còn giận dữ không? Vì sao lại mạ lỵ? Đức Thế Tôn nói: A-la-hán không còn giận dữ, chỉ do thói quen của miệng. Tỳ-kheo nầy từng là Bà-la-môn. Pháp của Bà-la-môn là thích mạ lỵ, như nói: Nô tỳ trong thai, không hẳn là giận dữ, mạ lỵ, chính là do tập quán của miệng mình. Thêm nữa, Tỳ-kheo ấy, trong năm trăm đời trước là chồng của cô, bấy giờ thường hay mắng cô là nô tỳ! Ở đây là do thức của đời trước chưa dứt trừ, nên lại mạ lỵ. Thần sông nữ thưa: Tuy đã là A-la-hán, mà còn có lỗi lầm của miệng, con không nhờ vào A-la-hán. Con nguyện về sau sẽ cầu đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, độ thoát tất cả chúng sinh, như Đức Phật, không khác. Đức Phật nói với Tỳ-kheo: Ông nên hướng tới thần sông nữ kia xin sám hối. Tỳ-kheo vâng lời. Thần sông nữ cũng nên hướng tới Tỳ-kheo để sám hối, lễ bái, xong xuôi thì đều ra đi. Tuy đã dứt hết lậu, nhưng vẫn còn có lời nói thô ác, huống chi là đối với phàm phu mà không thận trọng nơi lời nói sao! Do nhân duyên nầy nên biết Tỳ-kheo Bà-đà-tiên là người giữ gìn lời nói bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ma-ha Ca-diên-na là hành An ban (niệm hơi thở) bậc nhất: Vì trong số một ngàn hai trăm vị đệ tử, chỉ có Tỳ-kheo nầy cùng với La Vân (La-hầu-la) là có thể hành An ban bậc nhất. Do đâu nhận biết được? Chuyện kể ngày trước La Vân đi theo Đức Phật. Đức Phật dùng phương tiện khéo léo hiện bày phần bụng của cổ chân cho La Vân trông thấy. La Vân thấy rồi, liền nghĩ: Ông già nầy đã bỏ ngôi vị Chuyển luân vương để mang hình tướng như thế, tu đạo, hành khất thực, cớ sao không xấu hổ. Ta không thể lại hành khất thực, mà nên trở về. Ông nội ta là vua Tịnh Phạn vẫn còn ở ngôi, ta sao có thể làm công việc khổ nhọc nầy! Đức Phật nhận biết những ý nghĩ trong tâm của La Vân, nên bảo La Vân: Con nên biết! Trời đất hãy còn vô thường, huống chi là ngôi vị Chuyển luân vương của con, há có thể trường tồn! Nên hiểu rõ về vô thường, có hình tướng đều là khổ, thân vô ngã, đều sẽ hao mòn, hoại diệt, không thể trụ mãi. La Vân tư duy về bốn vô thường, ý cũng chưa tỏ ngộ. Đức Phật dạy hành An ban thủ ý (Quán sổ tức). An ban là hơi thở vào ra. Hơi thở dài cũng biết. Hơi thở ngắn cũng rõ. Hơi thở ngắn là từ tim trở lại. Hơi thở dài là từ giữa gót chân đến. Lại nhận biết về lạnh, ấm. Hơi thở vào là lạnh. Hơi thở ra là ấm. Sở dĩ nhận biết dài ngắn, lạnh ấm, là muốn biết chỗ hướng tới của năm ấm là sâu, cạn. Theo hơi thở ra vào để tìm biết gốc ngọn của nó, cũng biết nguyên do của bệnh. Nếu lúc hơi thở vào, không biết nó từ đâu tới, hoặc khi hơi thở ra, cũng không biết nó đi đến nơi nào, là hiểu rõ về không đến đi. Bệnh cũng lại như thế. La Vân tư duy như vậy bèn chứng đắc A-la-hán. Ma-ha Ca-diên-na hành An ban không giống với La Vân. Đối với hơi thở luôn tự tại, hoặc muốn từ mắt, từ tai, tùy ý ra vào. Lại nhắm mắt, ngăn tai, mũi, miệng, hơi thở liền theo chín mươi vạn lỗ chân lông mà ra. Do đâu nhận biết hơi thở đã theo lỗ chân lông ra ngoài? Tỳ-kheo nầy vốn là tộc họ của vua, anh em hai người, người em đoan nghiêm, đẹp đẽ. Lúc ấy, vua cha băng hà, người anh tức nên nối ngôi. Người em tự cho mình là hơn, nên ngầm mong các quan suy cử. Nhưng phép nước theo lệ không được vượt thứ bậc, liền tôn người anh lên ngôi. Người em tâm không phục, không chịu xưng thần, tự cầu ra khỏi nước. Vua tức đồng ý. Lại cầu xin quân binh, vua cũng cho tự ý. Bèn tuyển chọn tám vạn voi lớn, trang bị áo giáp, đao kiếm, xong xuôi thì nghĩ: Nước nào là hùng mạnh nhất, ta muốn tiến đánh nước ấy. Nước Tỳ-xá-ly là quốc gia mạnh nhất trong các nước, nên đem binh đánh lấy, nhằm làm chỗ dùng cho mình. Người em liền dẫn quân binh tiến tới. Được nửa đường, khi đó, có năm trăm khách buôn đi tìm châu báu trở về, muốn đến nước Ma-kiệt, giữa đường thì gặp đoàn quân binh kia. Người em hỏi đám khách buôn: Người trong thiên hạ, về hình tướng, dung mạo, đã từng có ai hơn ta chăng? Các khách buôn liền cười. Vua em hỏi: Vì sao mà cười? Đáp: Là chúng tôi tự cười mà thôi. Lại hỏi: Cười chính là có ý gì? Vì sao không nói ra? Đáp: Vua nếu không giận, thì mới dám nói. Vua em bảo: Nên nói ra, hoàn toàn không giận các ngươi. Khách buôn nói: Tôi nghe có vương tử của vua Bạch Tịnh, tên là Tất-đạt, thân cao một trượng sáu, sắc thuần là vàng ròng, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Bấy giờ, vua em – tức là Ca-diên-na – nghe đám khách buôn nói như thế, tâm ý kinh sợ: Tất-đạt nếu biết ta đến đây, ắt sẽ hưng binh đón đường về hiện ra mà đánh. Tức thì cho quân binh dừng lại giữa đường, không dám tiến lên trước nữa. Người nước Tỳ-xá-ly nghe vua kia hưng binh kéo tới đánh nước mình, không thể tự yên tâm, nên đến thưa hỏi Phật: Làm sao để tai ương nầy được qua khỏi? Đức Phật bảo: Không khổ. Ta tự hóa giải. Đêm ấy, Đức Thế Tôn liền đi đến chỗ có quân binh hiện thần biến, ở trong hư không ngồi kiết già, ánh sáng như núi vàng tỏa chiếu khắp đại chúng. Ca-diên-na ngẩng đầu nhìn thấy, hỏi: Ông là người gì? Đáp: Ta là người mà đám khách buôn đã nói với ông đấy. Liền nói: Khách buôn đã dối ta. Vừa rồi họ không nói ông có thể phi hành, mà nay hiện bày phi hành nơi hư không. Ca-diên-na càng lo sợ vì có thể bị hại, nên chấp tay hỏi: Không rõ đến đây là muốn dạy bảo điều gì? Đức Thế Tôn đáp: Chớ nên sợ hãi! Ta không hại ông đâu. Ta gọi là Phật, luôn cứu độ tất cả. Ta có pháp cam lồ vi diệu, ông muốn nghe chăng? Đáp: Xin được nghe. Phật quán xét về căn của Ca-diên-na, nên theo pháp An ban mà được độ, liền vì Ca-diên-na nói về pháp giữ hơi thở ra vào, nhận biết hơi thở dài ngắn, ấm lạnh. Ca-diên-na nghe Đức Phật thuyết giảng, tâm liền tỏ ngộ, đắc quả Tu-đà-hoàn, liền giải tán quân binh, cầu làm Đạo nhân, Phật liền thâu nhận, nói: “Thiện lai Tỳ-kheo!”, tức thành Sa-môn. Lại tư duy về An ban, phân biệt về thân bốn đại, có ba mươi sáu vật bày rõ xấu ác, bất tịnh, tức thì đạt được quả vô lậu cực diệu. Thế nên gọi trong các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ma-ha Ca-diên-na là người hành An ban bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn là người luôn suy xét về ngã, vô thường bậc nhất: Vì Tỳ-kheo nầy thường giữ hạnh cung kính. Nếu gặp các vị Trưởng lão, Sư phụ, thì thờ lạy. Hoặc gặp người trung niên thì kính xem như anh. Đối với người nhỏ tuổi thua mình thì yêu mến, xem như em. Luôn khiêm cung hết mực, nên thọ báo là thân tướng cao lớn, đẹp đẽ, được làm Tỳ-kheo hầu cận gần Phật. Tuy có hình tướng cao lớn nhưng không hề tự thị, luôn suy xét về thân vô ngã, vô thường, tuệ sáng thấu đạt, tâm dứt hết thị phi nên có thể bỏ hình tướng, diệt kiêu mạn, khiêm tốn đứng đầu. Do đâu nhận biết là hình thể cao lớn, đẹp đẽ? Thời gian Đức Phật mới thành đạo, hóa độ ba anh em ông Ca-diếp, có ngàn Tỳ-kheo. Du hóa đến nước Ma-kiệt, độ vua Bình-sa, sắp trở về bản quốc. Trước sai Ưu-đà-di báo cho vua Tịnh Phạn biết: Sau bảy ngày nữa, Đức Phật và đại chúng sẽ về thăm. Vua cha nghe tin ấy, vui mừng khôn xiết, liền ban lệnh chuẩn bị xe, ngựa, sửa sang đường sá bằng phẳng, quét dọn, rưới nước, đốt hương, để đợi Đức Như Lai. Đức Phật dẫn một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đi qua thành Ca-tỳ-la-vệ. Như Lai tâm niệm: Nay phụ vương tất sẽ tới nghênh đón, không thể khiến phụ vương vì tôn kính Phật mà thân phải cúi lạy. Nên hiện thần túc, bay lên không mà đi, cách mặt đất khoảng ngang đầu người, nhằm khiến tay của vua cha chạm vào chân Như Lai mà thôi. Sở dĩ như thế là vì Phật tuy đức quý, nhưng không muốn cha mẹ phải lễ lạy mình. Lúc nầy, Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn đứng bên phải Đức Như Lai, Lực sĩ Mật Tích đứng bên trái, thân Như Lai chỉ cao tới vai Tỳ-kheo nầy. Vua cha hỏi: Các vị hầu hai bên Phật là những người gì mà cao lớn như vậy? Đáp: Bên phải là Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn, bên trái là Kim cang Lực sĩ, quỷ Duyệt-xoa. Lại hỏi: Họ là người của những nước nào mà khác lạ như thế? Đáp: Là người nước Ma-kiệt. Lại hỏi: Đó là thân do thần túc hay là thân do cha mẹ sinh ra? Đáp: Là thân do cha mẹ sinh ra, không phải là thân thần túc. Những người họ Thích suy nghĩ: Thần đức của Đức Như Lai là không thể nghĩ bàn, mới khiến quỷ ác La-sát, người cao lớn hộ vệ hai bên. Do nhân duyên ấy, nên biết thân của Tỳ-kheo đó là cao thấp. Tỳ-kheo nầy hầu cận hai bên Đức Phật, luôn muốn ngăn che Như Lai. Chư Thiên, người đời do đấy đều lo. Như Lai có hai thứ thân: Một là Pháp thân. Hai là Nhục thân. Tỳ-kheo nầy chỉ yêu quý nhục thân sắc vàng ròng, không yêu quý Pháp thân vô lậu. Pháp của đệ tử thân cận là nên dặn dò, e bỏ mất Pháp thân, sẽ thiếu sót đối với vị lai. Do hai sự ấy nên Đức Như Lai đã mở bày để bằng Tôn giả A-nan.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Câu-ma-la Ca-diếp có thể luận bàn đủ loại: Vì Tỳ-kheo nầy thường vì mọi người diễn nói rộng về bốn đế. Lúc ấy, gồm luôn việc tán tụng, dẫn thí dụ để so sánh. Nêu một đế là một kệ tán rồi dẫn một dụ, cho đến bốn đế cũng đều như thế. Do đấy nên gọi là luận bàn xen lẫn bậc nhất. Câu-ma-la là trẻ thơ. Ca-diếp là họ. Câu-ma-la Ca-diếp tức là con trai của đồng nữ. Do đâu nhận biết như thế? Chuyện kể thời xưa có một Trưởng giả tên là Thiện Thí, giàu có vô lượng. Nhà có người con gái chưa xuất giá, một hôm ở nhà ngồi gần lửa, hơi nóng nhập vào thân bèn thành có thai. Cha mẹ kinh ngạc mới vặn hỏi về nguyên do. Cô gái thành thực thưa là không biết vì sao như vậy. Cha mẹ lại hỏi lần nữa và dùng gậy đánh đập, nhưng người con vẫn không đổi lời. Cha mẹ bèn tâu lên vua. Vua lại cật vấn, cô gái cũng thưa như đã thưa với cha mẹ không khác. Vua phán là sẽ giết chết, cô gái tức thì than oán: Thiên hạ đúng là đang có vua vô đạo, giết oan kẻ vô tội. Tôi nếu là bất lương thì tự có thể giữ lấy để tra xét lại. Thấy kẻ oan như thế, vua liền cho kiểm lại, trình lên như lời cô gái đã nói, không thêm bớt gì khác. Vua nói với cha mẹ cô gái: Ta muốn thâu nạp. Cha mẹ cô gái thưa: Tùy ý nhà vua thâu dụng đứa con gái đã chết ấy. Vua liền cho vào nội cung, tùy thời chăm sóc. Ngày tháng đã đủ, sinh được một bé trai, khôi ngô khác thường, theo thời gian khôn lớn, xuất gia học đạo, thông sáng rộng hiểu, tinh tấn không dừng, nên sau đấy đắc đạo A-la-hán trở về độ cha mẹ. Bấy giờ, có quốc vương tên là Ba Tiết, tin theo tà kiến điên đảo, không biết đời nầy đời sau, làm thiện được phước, làm ác nhận tai ương, cho chết thần thức diệt, không còn thọ sinh, không tin có Phật, không biết Niết-bàn. Vua dùng lá sắt lá đồng quấn quanh bụng, sợ trí tràn ra ngoài, khoe khoang, suy tính riêng tự cho là không ai bằng. Lúc nầy, Đồng Ca-diếp đi đến cửa hoàng cung. Vua thấy Ca-diếp y phục khác thường, bước đi ung dung, oai nghi chỉnh tề, bèn đến gần vấn an, bàn luận. Vua hỏi Đạo nhân: Đạo nhân thường nói: Làm thiện có phước, tạo ác phải nhận tai ương. Như nay trong tộc họ nhà tôi có một người hết lòng làm thiện, lúc lâm chung, tôi và nhiều người cùng đến đứng bên cạnh, nói với người kia: Như những việc ông đã làm thì sau khi qua đời phải được sinh thiên. Vậy nếu sinh lên cõi trời, ông phải trở về báo cho chúng tôi biết. Ông ấy chết đã lâu rồi, nhưng chẳng thấy trở về báo cho hay. Theo đấy tôi nhận biết làm thiện là không có phước. Đạo nhân đáp lời vua: Phàm là người trí thì nêu thí dụ tức tự hiểu. Ví như có một người bị rơi vào hầm nhà xí đầy phân dơ, được người kéo ra, tắm gội sạch sẽ xong, cho mặc y phục đẹp đẽ, dùng hương xông ướp thân, an tọa nơi giường cao. Có kẻ nói với người ấy: Ông nên trở lại trong hầm nhà xí ấy đi! Thế người đó có chịu vào chăng? Vua bảo: Không chịu. Đạo nhân nói: Người sinh lên cõi trời so với dụ cũng như vậy. Nơi cõi trời hoan lạc với năm dục tự mặc ý, dùng cam lồ làm thức ăn, ăn uống tự tiêu hóa không lo về đường bài tiết, thân thể thanh khiết, hơi miệng thơm tho, nhìn xuống thế gian cũng như chuồng trại nuôi heo, giả sử muốn đi đến, chỉ ngửi mùi hôi thối là liền quay trở về. Theo đấy mà nói thì sao có thể cùng báo cho biết? Thí dụ như thế đã so sánh nêu ra mười thứ sự, tâm ý của vua được mở bày, thông tỏ, tin nơi tam tôn. Do nhân duyên ấy, nên gọi Tỳ-kheo Đồng Ca-diếp có thể bàn luận nhiều loại bậc nhất.

* Sở dĩ xưng Tỳ-kheo Diện Vương mặc y xấu rách, không hề xấu hổ. Có thể gọi là đã hành mười một hạnh Đầu-đà chăng? Hoặc có người nói: Không phải. Vậy do đâu cho là bậc nhất?

Tỳ-kheo ấy mặc một thứ y, trọn đời không đổi. Làm sao nhận biết việc đó? Tỳ-kheo nầy vốn là con cái thuộc họ Thích, lúc mới sinh có thần đức dị thường. Người mẹ khi mới mang thai, đã thỉnh Phạm-chí đến xem tướng. Phạm-chí bảo: Đứa bé nầy trên đầu có tướng “mũ trời”. Bà mẹ nghe Phạm-chí nói như thế thì vui mừng, nhưng giả vờ không vui, suy nghĩ: Phàm là “mũ trời” là tướng của vương giả. Trong một nước không thể có hai vua, sợ nhà vua sẽ hại đứa bé, do đấy nên không vui. Sở dĩ trong lòng vui vẻ vì nếu thật là bậc vương giả thì tự nhiên sẽ có che chở, đâu còn lo không ai cứu giúp. Ngày tháng vừa đủ, sinh được một bé trai, trên đầu có bóng của “mũ trời”. Lại thỉnh Phạm-chí đến đặt tên. Phạm-chí nói: Trên đầu có tướng vua, lại không thể lìa tướng ấy, nên đặt tên là Diện Vương. Vua Tịnh Phạn nghe được, tâm mang sầu lo: Đứa bé nầy có tướng vương giả, về sau tất đoạt ngôi vị của ta, nên như thế nào đây? Nếu muốn giết ngay thì tội không đáng chết, còn như muốn bỏ qua thì sợ tất sẽ đoạt ngôi ta. Do dự, lo buồn không thể tự an. Thời gian Đức Thế Tôn trở về thành Ca-tỳ-la-vệ, vua tuyên lệnh cho các gia đình họ Thích, nếu có anh em hai người phải khiến một người xuất gia hành đạo theo hầu Đức Phật. Đứa trẻ nầy lại chỉ có một, nên không thể khiến xuất gia trong số năm trăm nam tử họ Thích. Thế nên vua càng sầu lo. Năm Diện Vương được mười tuổi, tâm tự suy niệm: Giả sử là Chuyển luân Thánh vương cũng lại vô thường, lại không bằng những nam tử họ Thích đã xuất gia hành đạo. Thân người khó được, Phật xuất hiện ở thế gian khó gặp. Thốt nhiên được gặp ra đời, phải nên xuất gia học đạo. Liền thưa với mẹ: Con muốn xuất gia hành đạo. Mẹ bảo: Mẹ chỉ có một mình con, nếu bỏ mẹ đi xuất gia thì mẹ sao sống nổi. Diện Vương bèn tâu với vua Tịnh Phạn: Con muốn xuất gia, vua sẽ cho phép chăng? Vua Tịnh Phạn hoan hỷ bảo: Rất nên như thế. Diện Vương thưa: Tự xét chỉ một mình, nếu xuất gia thì mẹ không ai nương cậy. Lấy đó làm buồn! Vua nói: Con nếu có thể xuất gia, ta sẽ xem mẹ của con như chị gái, phân nửa nước để cung cấp. Diện Vương hoan hỷ, liền trở về nhà thưa lại với mẹ mọi sự việc, mẹ tức đồng ý. Lúc sắp xuất gia, Diện Vương mặc một lớp y phục bằng dạ trắng, đi tới chỗ Đức Thế Tôn xin được xuất gia. Đức Phật bảo: “Thiện lai Tỳ-kheo!”, liền thành Sa-môn. Phật chế Tỳ-kheo có ba y. Tỳ-kheo Diện Vương nầy tự tay nhuộm y phục dạ trắng ấy, dùng làm cà-sa, ngoài ra đều không dùng y khác. Bạch Phật: Đệ tử chỉ muốn trọn đời mặc một y nầy, xin Đức Thế Tôn cho phép. Đức Phật im lặng chấp thuận. Từ đấy trở đi, luôn mặc một y ấy, nên Đức Thế Tôn nói: Trong số các đệ tử của Ta, người mặc y xấu, rách, không ai hơn Tỳ-kheo Diện Vương. Ở trong tám điều suy niệm của bậc Đại nhân, vị ấy là người thiểu dục, tri túc bậc nhất.

* Sở dĩ gọi La Vân là người trì giới, không hủy phạm. Hoặc có người nói: La Vân vui thích nói dối, vì sao bảo là trì giới. Hoặc có người nói: La Vân không nói dối, chỉ là tự giận Đức Phật. Do đâu giận Phật? Do Phật không làm Chuyển luân Thánh vương. Nếu làm Thánh vương sẽ có tám vạn bốn ngàn đại thần, tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, voi, ngựa, xe cộ, mỗi sự đều có tám vạn bốn ngàn. Bỏ ngôi vị như thế mà làm Sa-môn, hành khất khắp chốn đây đó, không đáng xấu hổ sao? Vì xét cái lợi của Thánh vương, nên La Vân giận trách Đức Như Lai, tạo nói dối.

Có người hỏi La Vân: Đức Như Lai hiện ở đâu? Như Lai thật sự đang ở tại Tinh xá Kỳ Thọ, nhưng La Vân đáp: Ở tại vườn Trú Ám. Thật sự đang ở tại vườn Trú Ám thì nói dối là ở tại Kỳ Viên. Vọng ngữ thường xuyên, lừa dối người lui tới. Tôn giả A-nan bạch Phật: La Vân vọng ngữ. Phật cho gọi La Vân tới, hỏi: Con thật có vọng ngữ chăng? La Vân thưa: Thật có. Đức Phật bảo: Nầy La Vân, vì sao con lại tạo vọng ngữ như thế? Ta sở dĩ bỏ ngôi vị Thánh vương là vì ngôi vị ấy không thể làm nơi chốn nương dựa, đều quy về vô thường, không trường tồn. Cho dù là Đế-thích, Phạm vương đều cũng không thể giữ lấy mãi, huống chi là Thánh vương mà có thể dựa cậy mãi được sao? Nầy La Vân! Ta trước sau đã xả bỏ ngôi vị ấy là không thể tính kể, mà con thì chỉ mới buồn giận! Đức Phật bảo La Vân: Con đi lấy nước đem lại đây. La Vân liền múc đầy bát nước trao cho Như Lai. Đức Phật bưng lấy bát nước, nói với La Vân: Con thấy nước nầy chăng? Thưa: Đã thấy. Đức Phật nói: Nước nầy hiện đầy nơi bát không thiếu, giảm, dụ cho việc trì giới đầy đủ, không giảm, mất. Đức Phật đổ bớt một nửa nước trong bát, nói với La Vân: Con thấy nước nầy chăng? Thưa: Đã thấy. Đức Phật bảo: Nước nầy đã mất một nửa, dụ cho giới không đầy đủ. Lại đổ hết nước trong bát ra ngoài, chỉ cho La Vân thấy và hỏi: Con thấy bát không chăng? Thưa: Đã thấy. Đức Phật bảo: Phạm giới hoàn toàn, dụ như bát không. Lại đem bát úp lên đất, chỉ cho thấy, bảo: Con thấy chăng? Thưa: Dạ thấy. Đức Phật dạy: Người đã phạm giới hoàn toàn sẽ bị đọa nơi địa ngục, dụ như miệng bát áp sát nơi đất. La Vân từ khi được Đức Phật khuyên dạy trở về sau, chưa từng phạm lần nữa, dù là mảy may, thế nên gọi là trì giới bậc nhất.

Hoặc nói: Lại còn có sự việc khác. Tôn giả Thân Tử (Xá-lợi-phất) dẫn La Vân vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy, có Bà-la-môn thấy La Vân đi sau, liền khởi ý ác đánh vào đầu La Vân, máu chảy ướt cả mặt. La Vân tức sinh niệm ác: Quyết phải tạo phương tiện để báo oán nầy. Tôn giả Thân Tử nhận biết tâm niệm vừa sinh của La Vân, liền lau sạch máu nơi đầu mặt của La Vân, rồi bảo: Nên nhớ nghĩ đến cha mình là Đức Thế Tôn, thời xưa, lúc làm vua Tu Niệm, có kẻ tới xin mắt, liền móc mắt thí cho, cũng không hối hận. Khi tọa thiền trong vườn, bị vua chặt đứt tay chân, cũng không khởi giận. Hoặc lúc làm voi, lấy ngà cho người, cũng không chán mệt. Nay con vì sao lại khởi niệm ác ấy? La Vân nghe thầy nói như thế, liền tự trách mình: Ta nay vì sao lại có tâm ác hướng tới kẻ kia? Tức hành nhẫn như đất, không hề khởi tâm hại, dù chỉ là mảy may. Bấy giờ, kẻ đánh vào đầu La Vân bị đọa vào địa ngục Vô Trạch. Do nhân duyên như trên, nên biết La Vân là trì giới bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bàn-tha có thể ẩn hình không hiện: Vì Bàn-tha nghĩa là đạo (đường đi). Có hai đứa bé song sinh đem bỏ nơi đường đi, được người nhận lấy đem về nuôi đến khôn lớn, đều xuất gia học đạo. Không có người đặt tên cho, nên mang tên là “Sinh nơi đường đi”, tiếng Ấn Độ gọi là Bàn-tha. Bấy giờ, nước Ma-kiệt thường hay có sấm sét, mưa dữ dội, năm thứ lúa thóc bị mất mùa. Vua tên là Tần-đầu-đồ-la, là tổ phụ của vua A-xà-thế, chiêu mộ khắp bốn phương, nói: Người nào có thể đẩy lùi được mưa dữ, vua sẽ ban tặng nhiều tài sản, châu báu. Lúc ấy, có Bà-la-môn tên Phạm-chí, giỏi về chú thuật, đến ứng mộ, thưa: Tôi có thể đẩy lùi mưa gió dữ. Vua liền chấp thuận, khiến hiện bày pháp thuật làm dứt mưa. Khi đó, thời tiết điều hòa, lúa thóc được mùa lớn, Phạm-chí tâu vua xin trả công cho việc đẩy lùi mưa gió dữ. Vua tuy miệng hứa nhưng rốt cuộc không ban tặng gì cả. Các quan, dân chúng thấy vua không giữ lời hứa, họ đều hứa báo đáp. Gia cảnh của Phạm-chí thiếu hụt, nên thường đến từng nhà để cầu xin. Nhiều nhà không cho nên cầu xin khắp đều không được. Phạm-chí rất tức giận, thề làm Rồng độc, để phá hoại lúa má, hoa màu của con người: Nếu có kẻ nào gieo trồng năm thứ lúa thóc, hoa màu, lúa má tươi tốt, thì sẽ hiện mưa đá giội xuống, tàn hại, khiến cho gốc, cành, thân, lá đều ngã rạp, tan tác. Thế rồi thì mạng chung liền sinh trong loài Rồng, tên là Vô Diệp. Bấy giờ, dân chúng nước Ma-kiệt gieo trồng lúa mạ vừa mọc, Rồng liền tuôn mưa đá làm hại. Như thế, trải qua mấy năm, dân chúng mất mùa, đói khổ, số người chết càng nhiều. Đức Phật thương xót, muốn hóa độ Rồng ấy, liền dẫn Mật Tích, A-nan, Bàn-tha, đi tới nước Câu Trì, tới thẳng chỗ trú của Rồng. Rồng độc thấy Phật tới, tâm ác dấy khởi, nói: Nay sẽ tuôn mưa đá sát hại Sa-môn nầy. Bèn mưa xuống toàn đá núi. Đức Phật quay sang bên trái nhìn Mật Tích. Mật Tích nhận biết ý Phật, tức dùng chày kim cang hướng tới đỡ lấy, khiến chúng rơi xuống thành núi đá lớn, lấp đầy vực sâu của Rồng. Rồng càng phẫn nộ, lửa từ trong mắt túa ra. Đức Phật quy sang bên phải nhìn Tỳ-kheo Bàn-tha, Tỳ-kheo Bàn-tha nhận biết ý Phật, muốn hàng phục Rồng, liền dùng thần túc ẩn hình, lấy nước dập tắt lửa từ mắt Rồng. Rồng lại từ trong tai, mũi, miệng tuôn ra lửa dữ, Bàn-tha cũng dùng nước dập tắt hết. Tỳ-kheo lại dùng thần lực, ở trong mắt tai mũi miệng của Rồng lần lượt ra vào, nhưng Rồng không thấy. Ẩn hình bên trong, lại hiện tay ra bên ngoài. Rồng thấy những biến hiện ấy, tức liền tâm phục. Đức Phật lại cùng với ba người kinh hành lui tới nơi phía trước. Trên đá có dấu vết của bốn người, nhưng chỉ có ba người hiện, Rồng liền thưa hỏi Phật còn một người hiện ở đâu. Đức Phật bảo: Là dấu vết của thầy ngươi. Lại hỏi: Thầy tên là gì, nay sao không hiện? Đáp: Tên là Bàn-tha. Phật muốn Bàn-tha hiện ra nơi xa. Tỳ-kheo nầy nhận biết ý Phật, liền hiện hình cách một trăm bước, Rồng từ xa trông thấy, hoan hỷ đảnh lễ. Phật bèn trao pháp Bát quan trai cho Rồng, từ đấy trở đi, gió mưa hòa thuận, mùa màng luôn được, muôn dân an ổn. Do nhân duyên như trên, nên biết Bàn-tha hiện thần túc ẩn hình là bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Chúc-lợi-bàn-tha có thể hóa hiện hình tướng, tạo từng ấy biến hóa: Vì Chúc-lợi nghĩa là rất tối tăm. Tỳ-kheo nầy tâm ý chậm, tối. Đức Phật dạy tụng hai chữ: Tảo chửu (Dùng chổi quét dọn) nhớ được chữ trước thì quên chữ sau, nhớ được chữ sau thì quên chữ trước. Trong sáu năm chuyên tâm tụng hai chữ ấy, ý bèn tỏ ngộ, tự lý giải: Chửu là cây chổi. Chửu là trừ bỏ. Cây chổi là dụ cho tám chánh đạo. Phân rác là cấu uế của ba độc. Dùng tám cây chổi chân chánh để quét trừ cấu uế của ba độc. Gọi là ý nghĩa của “Tảo chửu”, chính là như thế chăng? Nghĩ sâu về lý ấy, tâm tức mở bày, đắc quả A-la-hán.

Gọi là hóa hiện hình tướng: Là dùng diệu tuệ của bốn đế hóa hiện hình tướng năm ấm. Nếu như có hóa hiện nầy, lại còn có trường hợp khác. Chuyện kể, có một Bà-la-môn tên là Phạm-thiên, cũng gọi là Thế Điển. Sở dĩ gọi là Thế Điển, vì người ấy xem rộng khắp các thứ sách vỡ, đồ tượng, bí sấm. Thiên văn, địa lý, không gì là không tham cứu, hành tập. Vì vậy gọi là Thế Điển. Tự cho là đức cao, mạng ở trên, là chủ mà đi, ai có thể cùng ta bàn luận, tranh luận? Nghe trong số các Tỳ-kheo họ Thích, kém nhất có Chúc-lợi-bàn-tha, trong đám Ưu-bà-tắc, kém nhất có Cù-mật-đa-la, Thế Điển bảo: Ta sẽ cùng với hai người nầy cùng luận bàn. Liền đi tới chỗ Bàn-tha nhằm cùng bàn luận, nói với Tỳ-kheo kia: Có thể cùng với tôi tranh luận chăng? Bàn-tha nói: Ta hãy còn có thể cùng với tổ phụ của ông là Phạm-thiên cùng tranh luận, huống chi ông là kẻ mù không mắt. Phạm-chí liền dựa theo lời nói hỏi vặn: Người mù và không mắt có những gì khác nhau? Bàn-tha im lặng không đáp, tâm niệm: Không dùng ngôn từ để cùng đối đáp. Nên dùng thần túc để cùng đáp. Liền dùng thần túc bay vụt lên hư không, cách mặt đất bốn trượng chín thước, ngồi kiết già. Phạm-chí ngẩng đầu nhìn thấy Bàn-tha hiện thần biến, trong lòng phát khởi tình cung kính, mong được đối đáp giản lược. Lúc nầy, Tôn giả Xá-lợi-phất đang kinh hành bên ngoài Tinh xá Kỳ-hoàn, dùng thiên nhĩ nghe Phạm-chí cùng với Bàn-tha tranh luận, biết là Tỳ-kheo kia ngôn từ không đủ, nên đã hiện thần biến để đáp lại, liền nghĩ: Ta nếu không đến nơi, Tỳ-kheo kia phải chịu thua, Phạm-chí không được độ. Tức thì dùng thần túc hiện thành hình Bàn-tha, khiến hình gốc của Bàn-tha không hiện. Hình hóa hiện hỏi Phạm-chí: Ông là trời hay là người? Đáp: Là người. Lại hỏi: Người, là nam tử chăng? Đáp: Là nam tử. Lại hỏi: Nam tử cùng với người có những gì khác nhau? Đáp: Không khác. Lại hỏi: Người là tên gọi được hợp lại. Nam tử là căn cứ theo hình tướng mà nói, sao cho là không khác? Ông vừa nói người mù, tức là không thấy đời nay đời sau có báo của thiện ác. Còn người không mắt tức là không có mắt trí tuệ để đoạn trừ kiết sử. Phạm-chí nghe biện giải như thế, tâm ý thông tỏ, liền được pháp nhãn thanh tịnh. Do nhân duyên như trên, nên biết Chúc-lợi-bàn-tha là biến hình bậc nhất.

* Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Thích Vương thuộc tộc họ giàu sang, thiên tánh hòa nhã, dịu dàng: Vì chủng tánh gồm có bốn: Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ. Sở dĩ nói sang: Vì do làm Sa-môn, đồng một họ Thích, do đấy gọi là sang. Ví như bốn sông Hằng: Miệng bò, miệng sư tử, miệng ngựa, miệng voi, mỗi dòng đều có năm trăm nhánh, hội nhập vào biển lớn, cùng là một loại nước, không có từng ấy vị khác nhau, nên biển được gọi là lớn, là rất quý đối với trăm sông. Họ Thích cũng như thế, nên gọi là hào quý bậc nhất.

Vua Chân Tịnh (Tịnh Phạn) có ba người em trai: Người em nhỏ nhất tên là Ngộ Tịnh, có đứa bé trai được bốn tuổi. Bấy giờ, vua Chân Tịnh đang ngồi tại cung điện chánh, họp trăm quan, vua tự suy nghĩ, nói: Con trai ta nếu không xuất gia, ta phải nên làm Thánh vương. Con trai ta đã sinh, phải nên làm Thánh vương, nhưng lại xuất gia rồi, ta còn dùng mũ “Thiên quan” nầy làm gì. Liền cởi mũ Thiên quan ném xuống đất, bảo: Có người nào nên làm thì làm. Các quan buồn bã, áy náy, tâm đều không vui. Lúc nầy, đứa bé trai con của Ngộ Tịnh, là Thích Vương đang dạo bước ở phía trước, trông thấy mũ Thiên quan nơi đất, liền cầm lên đội vào đầu, ngồi yên trên đất, dùng tay trái đỡ vai, tay phải xoa vuốt các tua nơi mũ. Vua Chân Tịnh cùng các quan đều ngạc nhiên, cho là lạ. Vì thế vua nói: Đứa bé nầy đúng là thiên sứ, hoặc có thể làm Thánh vương. Tướng Thánh vương của con trai ta đều thuận có nơi đứa bé nầy, nên mới khiến như thế. Các quan đều cùng tâu: Hoặc có thể như đại vương đã nói. Vua nghĩ ngợi, bảo: Tất-đạt đã xuất gia, lại thấy tướng của đứa bé nầy. Tức tự phế bỏ ngôi vua. Trải qua tám năm, nghe Tất-đạt đã thành Phật, hóa độ ba anh em ông Ca-diếp, đám đệ tử của ba người nầy được một ngàn Tỳ-kheo. Lại độ Ưu-ba-đề-xá, Câu-luật-đà, môn đồ của hai vị nầy được hai trăm năm mươi người, hợp thành một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo, từ nước Ma-kiệt, muốn trở về Thích-sí-xá, trước sai Ưu-đà-di về thưa lại mọi tin tức. Vua Chân Tịnh nghe tin thì vô cùng hoan hỷ, liền đội mũ Thiên quan trở lại, cho người sửa sang đường sá thêm bằng phẳng, quét dọn, đốt hương để đón Đức Như Lai. Đức Phật đã về tới nơi, vua thấy các Tỳ-kheo, tuy tâm ý tinh thuần, nhưng dung mạo không được hiện rõ, nên đã cho tuyển chọn năm trăm người thuộc họ Thích, hình tướng đoan nghiêm, xuất gia làm Sa-môn, theo hầu Đức Thế Tôn, Tỳ-kheo Thích Vương là người có mặt trước nhất trong số ấy. Khi đó, Đức Phật ở tại Tinh xá, đại chúng vây quanh. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Luận khắp về chúng tánh, nên có ý tưởng về hào quý. Vua Chân Tịnh cũng đến đứng trong đại chúng hướng về Tỳ-kheo Thích Vương làm lễ. Các Tỳ-kheo đều ngạc nhiên về sự việc ấy. Đức Phật nhận biết ý của vua cha, muốn giải điều nghi của đại chúng, nên hỏi vua cha: Vì sao phụ vương lễ Tỳ-kheo nầy? Vua đáp: Sở dĩ lễ là do Tỳ-kheo nầy có hai việc hơn ta. Phàm là thiên (trời) có ba: Cử thiên, Sinh thiên và Thanh tịnh thiên. Ta chỉ có Cử thiên, Tỳ-kheo nầy còn có Sinh thiên, Thanh tịnh thiên. Sở dĩ nói Sinh thiên, là do lúc mới bốn tuổi, đã cầm mũ Thiên quan của ta đội lên đầu mình, ý tự nhiên sinh, không có người trao cho, nên gọi là Sinh thiên. Thanh tịnh thiên là nay đã lậu tận, kiết tận, không còn phiền não cấu nhiễm, nên gọi là Thanh tịnh thiên. Do hai việc nầy hơn ta, nên ta làm lễ. Do nhân duyên như thế, nên biết Tỳ-kheo Thích Vương thuộc tộc họ hào quý bậc nhất.

01 | QUYỂN 1
02 | 分別 功 德論卷第一
03 | 失譯人名附後漢錄
04 | 建初 偈所說曰。迦葉思惟正法本者。謂思惟
05 | 經法言教甚多。何 以 知之 。迦葉即以 比較明
06 | 其多少。較法從十驢始。云 十驢力 不如一 凡
07 | 駱駝力 。十凡駱駝力 不如一 凡象力 。十凡象
08 | 不如一 細腳象力 。十細腳象不如一 盜食象
09 | 力 。十盜食象不如一 蓮華象力 。十蓮華象不
10 | 如一 青蓮華象力 。十青蓮華象不如一 紅蓮
11 | 華象力 。十紅蓮華象不如一 白蓮華象力 。十
12 | 白蓮華象不如一 雪山象力 。十雪山象不如
13 | 一 香象力 。從驢至香象為一 分。如是八 萬四
14 | 千香象。以 較皮表裏書經滿如是數香象比
15 | 載。阿難所聞所知事 。粗可都較知大數。欲
16 | 一 一 演其文字者。畢壽不能暢也。思惟經法
17 | 甚為浩大。云 何 當使流布天下千載眾生得
18 | 蒙法澤耶。深思至理。誰能撰法。唯有阿難
19 | 乃能集耳。迦葉即時鳴揵槌集眾。于時尋有
20 | 八 萬四千諸羅漢等。承命來集。此等無漏皆
21 | 是俱 解脫人。所以 召此諸賢聖者。以 其盡能
22 | 入 滅盡定故也。諸有入 滅盡定者。能使眾生
23 | 現世 得福濟其苦厄。大千世 界諸無著等。其
24 | 數難算。除諸三道。各各一 倍。今但 錄利 根俱
25 | 解脫。能以 滅盡定度脫眾生。是故稱為福田。
26 | 何 以 明之 。昔日天帝釋福盡命終。時五 瑞應
27 | 至。心即恐懼。欲求救護。正欲至佛所求救。
28 | 念佛恩寬緩。懼不解命急。念舍利 弗目連等
29 | 亦恐不能濟命。唯有大迦葉。以 滅盡定力 。尋
30 | 濟危急。即往迦葉所。時迦葉適欲至貧家。福
31 | 度諦念正欲現天身。懼恐不受我施。便 於中
32 | 路現作草屋。羸病在中。迦葉從乞。病人即
33 | 申手施食。迦葉以 鉢受之 。變成甘露。還現
34 | 天身於虛空中。迦葉曰。何 以 妄語誑我耶。天
35 | 答曰。不妄語。我至誠施。我是天帝。五 瑞至命
36 | 欲終故來求願。願濟我命。迦葉即默然可之 。
37 | 天至佛所聽法。須臾便 睡睡即覺。佛語天帝。
38 | 汝向已死。今已還活。不復命終。還復本身。
39 | 此即是迦葉滅盡定力 之 所感也。迦葉所以
40 | 用滅盡定力 最勝者。以 迦葉本是辟支佛故
41 | 也。夫辟支佛法。不說法教化。專以 神足感
42 | 動 。三昧變現。大迦葉雖復羅漢取證。本識
43 | 猶存。向所錄八 萬四千眾德。能所感功 齊迦
44 | 葉。難曰。迦葉以 本是辟支佛故稱其勝。此
45 | 等羅漢復是辟支佛耶。答曰。雖非辟支佛。遍
46 | 習滅盡定。其力 是同。以 是故言。迦葉眾僧
47 | 眾生福田也。偈云 盡得羅漢心解脫者。俱 解
48 | 脫也。偈云 已脫縛著處福田者。謂迦葉所集
49 | 八 萬四千眾。皆得俱 解脫。以 滅盡定。能使
50 | 眾生現世 脫苦。後獲涅槃故曰處福田也。偈
51 | 云 集四部者。略也。理應四部表更有八 部。人
52 | 天。剎帝利 。婆羅門。長者。沙門。四天王。三十
53 | 三天。魔王。梵王。是為八 部。凡有十二 部。言
54 | 四部者。粗舉其要耳。諸法甚深者。謂十二 因
55 | 緣也。佛為阿難說十二 因緣甚深微妙。阿難
56 | 云 。此之 因緣有何 深妙耶。佛語阿難。勿 言
57 | 不深妙。汝乃前 世 時亦言不深。昔有阿須輪
58 | 王。身長八 千由旬。上下脣相去千由旬。
59 | 王有小兒。常愛此兒。抱在膝上。海深三百
60 | 三十六 萬里。阿須輪立中正齊腹臍。兒見父
61 | 謂海為淺。欲得入 水。父語不可。海深沒汝。
62 | 故欲得入 。父即放之 。沒於海底。惶怖[口*彊]嘅。父
63 | 即申手還執出水。語曰。語汝不可。而汝不信 。
64 | 今者何 似 。爾時王者我身是。兒者汝是。昔
65 | 日不信 深。今故不信 。汝但 思無明緣行尚不
66 | 能了 。況了 三十七品乎。
67 | 如來所說四不可思議。何 謂四。眾生不可思
68 | 議。世 界不可思議。龍不可思議。佛不可思議。
69 | 所以 世 界不可思議。昔滿願子與梵志共論。
70 | 梵志自云 。我曾至池水上思惟。見有四種兵
71 | 眾。來入 蓮華孔中。即自驚怪。不知我眼華為
72 | 實有。是向人說之 人皆不信 。遂至佛所云 所
73 | 見。如是佛語。此是實事 非為虛妄。阿須輪
74 | 興四種兵 與諸天鬪。阿須輪不如。退入 此蓮
75 | 華孔中自隱。此非思度所及。故曰世 界不可
76 | 思議。世 界或云 梵天所造。或云 六 天所造。梵
77 | 志又云 。梵天誰造。或云 梵天有父。或云 自造。
78 | 言有父者。父即蓮華也。有云 。蓮華者何 從
79 | 出。曰憂陀延齊中出也。憂陀延從何 出。曰
80 | 從散嵯王出。又曰。散嵯王出何 姓。曰剎帝
81 | 利 種也。又曰。梵天是婆羅門種。今言由剎帝
82 | 利 出。是何 言歟。又曰。劫 燒時粗可得別 。何
83 | 以 言之 。曰劫 。燒時從地際已上。至十五 天。蕩
84 | 然焦盡。如似 可知。然復有十六 已上三十三
85 | 天在。此間雖燒他世 界在。以 此言之 。復不可
86 | 知。是為世 界不可思議。
87 | 何 謂眾生不可思議。或云 劫 燒後。水補火處。
88 | 隨嵐吹造宮殿訖。下有地肥。光 音天上諸天
89 | 輩。遊戲至地漸甞地肥遂便 身重不能復還。
90 | 食多化為女。轉減至薄餅粳米。失神足光
91 | 明。還復為人。善行生天。惡行三塗。流轉五 道
92 | 無有常准。正使欲窮盡一 人根本所由。尚不
93 | 能知。況復一 切眾生而可思度也。是為眾生
94 | 不可思議也。
95 | 何 謂龍不可思議。凡興雲致雨者。皆由於龍。
96 | 雨之 從龍眼耳鼻口出。為從身出耶。為從心
97 | 出乎。依須彌山止有五 種天。亦能降雨。何 以
98 | 別 龍雨天雨。天雨者。細霧下者是。麁下是龍
99 | 雨。何 謂五 種天。第一 曲腳天。第二 頂上天。
100 | 第三放逸天。第四饒力 天。第五 四天王。阿
101 | 須輪興兵 上天鬪時。先與曲腳天鬪。得勝然
102 | 後次至頂上。次至放逸及與四天王乃至三
103 | 十三天。下四天欲鬪時。以 雨却敵。更無兵
104 | 仗。有二 種雨。有歡喜雨。有瞋恚雨。和調降雨
105 | 是歡喜也。雷雹霹靂是瞋恚也。阿須輪亦
106 | 降雨。天亦下雨。龍亦降雨。各各致雨理不可
107 | 定。故曰龍雨不可思議。
108 | 佛不可思議者。昔時佛在靜室。諸梵天如恒
109 | 邊沙。來至佛所。欲知佛在何 三昧。而不能
110 | 知在何 定中三昧。如是神足變現祕密之 事 。
111 | 二 乘所不能思議。豈況復凡庶。阿難推先迦
112 | 葉云 。耆年堪任為眾演法。所以 然者。尊長
113 | 舊學多識世 尊所委。為將來眾生故。欲使正
114 | 法久 存於世 。是以 如來半坐相命。仁尊既是
115 | 眾僧 上座。又復智慧包 博。唯垂慈愍時宣
116 | 法寶。外國師云 。迦葉所以 不說法者。於四辯
117 | 中無有辭辯。又云 。本是辟支佛。但 以 神足
118 | 現化。初 不演法。迦葉答讓自云 。朽邁情闇多
119 | 忘。答曰。四諦真法豈可衰亡耶。喻如金剛
120 | 不可虧損。生死四大乃有增減耳。薩婆多家
121 | 又云 。九種羅漢有退轉者。以 幾事 退。有四事 。
122 | 年在衰邁。疾病苦逼。好遠行遊。服藥不順。以
123 | 此四事 乃有誤忘耳。真諦妙慧豈可忘乎。迦
124 | 葉勸 阿難曰。汝今年在盛時。加 復有聞智等
125 | 智。總持強記。佛每說經常囑累汝。以 是故汝
126 | 當宣布經法。何 以 知阿難有等智。昔舍衛城
127 | 東。有尼拘類大樹。蔭五 百乘車。城中有梵志。
128 | 明於算術。於九十五 種中最為第一 。在此樹
129 | 下與阿難相遇。謂阿難曰。人云 。瞿曇弟子智
130 | 慧第一 。頗有此不。答曰。所知少耳。曰少欲
131 | 問一 事 。此樹莖節枝葉凡有幾枚。阿難舉頭
132 | 視樹。便 答之 曰。此樹莖節枝葉各有若干。即
133 | 便 捨去。梵志在後思惟。此沙門必不知數。其
134 | 於見答乃爾。今當試之 。即處處取葉六 十
135 | 枚。藏之 土中。阿難乞食還。復問曰。我向忘數
136 | 更與我說。阿難舉頭視之 再 遍。答曰。此樹
137 | 葉何 以 少耶。又曰。少幾枚。答曰。少六 十枚。
138 | 梵志即叉手謝曰。未曾有也。又問曰。君是
139 | 羅漢耶。答曰。非也。是阿那含斯陀含耶。曰非
140 | 也。是須陀洹耶。曰何 以 問耶。又曰。有師耶。
141 | 答曰有。真淨王子出家得佛。即是我師。心念
142 | 曰。此假師智非己所知。即隨至佛所。求為沙
143 | 門。即得羅漢。以 是知阿難有等智。
144 | 阿難所以 推先迦葉者。既是上座。又是所尊。
145 | 昔五 百世 常為其父。宿識尊仰憑仗情深也。
146 | 迦葉所以 慇懃於阿難者。以 其曩積厚緣遺
147 | 恩末嗣。加 復聞等智彊記。於眾為上。屬集
148 | 遺典 八 萬莫先。二 人相須猶盲跛相賴也。互
149 | 相為利 。若二 人卒遇千斤段金。正欲相并。
150 | 力 所不勝。正欲分割 。不可加 功 。於是共議
151 | 并勢 持歸。遂得大用。可謂俱 智迦葉阿難其
152 | 喻如是。二 人齊契法寶長存。
153 | 時阿難說經無量。誰能備 具 為一 聚。(經無量者十二
154 | 部經浩漫甚多適時而說不論次緒或說一 事 也)乃云 十事 。或說十事 乃
155 | 論二 事 。或說三事 乃說十一 事 。上下不次。
156 | 不得為一 聚。或有說者。如來說法。或說教
157 | 誡。或說斷結。或說生天人中。以 是言之 。復不
158 | 得為一 聚。阿難思惟。一 便 從一 。二 從二 。三四
159 | 五 六 乃至十。各令事 類相著。或有說者。理不
160 | 可爾。按如佛語不可次比也。阿難復思惟。經
161 | 法浩大當分作三聚。阿難獨生此念。首陀
162 | 會天密告阿難曰。正當作三分耳。即如天
163 | 所告。判 作三分。一 分契經。二 分毘尼。三分阿
164 | 毘曇。契經者佛所說法。或為諸天帝王。或為
165 | 外道異學。隨事 分別 。各得開解也。契者。猶
166 | 線連屬議理使成行法。故曰契也。毘尼者。
167 | 禁律也。為二 部僧 。說撿惡歛非。或二 百五
168 | 十。或五 百事 。引法防姦。猶王者祕藏非外官
169 | 所司。故曰內藏也。此戒律藏者亦如是。非沙
170 | 彌清信 士女所可聞見。故曰律藏也。阿毘曇
171 | 者。大法也。所以 言大者。四諦大慧諸法牙旗。
172 | 斷諸邪見無明洪癡。故曰大法也。亦名無比
173 | 法。八 智十慧無漏正見。越三界閡無與等
174 | 者。故曰無比法也。迦旃延子撰集眾經。抄撮
175 | 要慧呈佛印可。故名大法藏也。阿難復思惟。
176 | 此三藏義與三脫相應。何 者契經。妙慧理與
177 | 空合。毘尼制 惡。玄齊無相。大法正見。迹同無
178 | 願。故曰三藏三脫冥 迹玄會。阿難復思惟。契
179 | 經大本義分四段。何 者文義混雜。宜當以 事
180 | 理相從大小相次。第一 增一 。次名曰中。第
181 | 三名長。第四名曰雜。以 一 為本。次至十。一
182 | 二 三隨事 增上故曰增一 。中者。不大不小不
183 | 長不短。事 處中適。故曰中也。長者。說久 遠
184 | 事 歷劫 不絕本末源由事 經七佛聖王七寶。
185 | 故曰長也。雜者。諸經斷結。難誦難憶。事 多雜
186 | 碎憙令人忘。故曰雜也。阿難撰三藏訖。錄
187 | 十經為一 偈。所以 爾者。為將來誦習者懼其
188 | 忘誤。見名憶本思惟自寤故。以 十經為一 偈
189 | 也。
190 | 所謂雜藏者。非一 人說。或佛所說。或弟子說。
191 | 或諸天讚誦。或說宿緣三阿僧 祇菩薩所生。
192 | 文義非一 多於三藏。故曰雜藏也。佛在世 時。
193 | 阿闍世 王問佛菩薩行事 。如來具 為說法。設
194 | 王問佛。何 謂為法。答法即菩薩藏也。諸方等
195 | 正經。皆是菩薩藏中事 。先佛在時已名大士
196 | 藏阿難所撰者。即今四藏是也。合而言之 為
197 | 五 藏也。或有一 法義。亦深難持難誦不可憶。
198 | (一 法者即空法也無形無像 不可護持)寂無聲響。無心無念泊然無
199 | 想。最第一 空。義無二 故。無容可測故曰難
200 | 持。無言可詶故曰難誦。無意可思故言叵憶
201 | 也。所謂深義其事 如此。又復一 法者。眾數之
202 | 本。一 者數之 始十者數之 終。終於十復從一
203 | 起。正至千萬。常始於一 。如是諸一 不可窮
204 | 盡。諸經之 中或一 義一 法一 行一 事 。各各相
205 | 從。不失其緒也。故曰一 一 相從不失緒也。二
206 | 法就二 者。或云 善惡。或云 止觀。或云 名色。
207 | 止者虛也。觀者實也。止者三昧定。泊然滅想
208 | 冥 爾亡懷。故曰虛也。觀所以 言實。以 其分
209 | 別 有行。是非好惡。識別 明了 意不惑亂 。故曰
210 | 實也。三法就三。三者布施也。功 德也。思惟
211 | 也。此三行世 俗 生天法。三脫門行至涅槃法
212 | 也。諸有三法。三行三福三分法身。三三相
213 | 從。喻如連珠也。四法就四五 亦然。五 法次六 。
214 | 六 次七八 法義廣。九次第十。法從十至十一 。
215 | 如是諸數。皆同二 三事 類相從。阿難即時昇
216 | 于座。座者師子座也。經所以 喻師子座者。師
217 | 子獸中之 王。常居高地不處卑下。故喻高座
218 | 也。又取其無畏。阿難無量博聞。於聲聞中
219 | 獨步無畏。故曰無畏座也(阿難昇高座如此也)彌勒 稱善
220 | 快哉說(彌勒 所以 下者懼阿難合菩薩法在三藏大小不別 也)鍮金同貫。是以
221 | 慇懃。勸 請分部。昔大天聖王具 四梵堂。展
222 | 轉相紹。乃至八 萬四千王。皆有梵堂。唯大
223 | 天一 人是大士。其餘皆是小節。以 是言之 。大
224 | 乘難辯多趣聲聞。彌勒 亦知阿難部分三藏。
225 | 然猶懼後學專。習空法斷結取證。是以 顯揚
226 | 大乘。分為別 藏。故說六 度諸行。大士目要
227 | 也。云 施有二 種。有信 施。有恐怖施。立根得
228 | 忍。則 曰信 施。威力 逼迫不由本心。則 名恐怖
229 | 施。信 則 成度。畏則 求福。道俗 之 殊。不待言而
230 | 自別 也。其人云 頭目施者。七住 已上。財物施
231 | 者。六 住 已下。從此退者。不墮生死。要至涅槃
232 | 耳。何 以 明之 。大品本無說中云 。六 十菩薩
233 | 得羅漢道。此其事 。戒如金剛 者。大乘戒也。戒
234 | 如坏瓶者。小乘戒。何 者。金剛 者不可沮壞。昔
235 | 者菩薩比丘端正無比。出行乞食。路遇一 端
236 | 正女人。女視菩薩便 起欲意。願為夫婦。覆
237 | 自思惟。此同叵得。但 共坐者。我便 發無上意。
238 | 菩薩知女心便 前 共坐。有頃便 前 牽之 。比丘
239 | 默然不答。復重近之 。如故寂然。比丘即與
240 | 說空法。眼本從何 來去至何 所。欲言從父母
241 | 來耶。未會之 時亦無此眼。至後壞時復到 何
242 | 所。以 是言之 。眼無所有。五 情亦然。豁然解空
243 | 得須陀洹。應與說有乃更說空。菩薩法當入
244 | 有而說空。是以 不全 本意。阿難時見此比丘
245 | 與女坐犯比丘儀 。即還白佛。向見比丘與
246 | 女人共坐。佛以 先知便 默然。比丘知阿難白
247 | 世 尊曰。念我正不往。恐誹謗者墮罪。正欲
248 | 現變。佛所不許。直飛至佛所。佛語阿難。向所
249 | 見犯律比丘者。今此飛來比丘是。汝頗見犯
250 | 欲人能飛不也。此比丘向者與女人共坐。時
251 | 以 女人心念。是比丘與我共坐者。我當發無
252 | 上意。此比丘知女人意。便 與共坐。即與說
253 | 空法分別 眼空。五 情亦爾。女即恐畏便 得道
254 | 迹。以 其恐懼心生。畏生死故得小乘。若此
255 | 比丘向者與說有行者。還成本心。以 此事 知。
256 | 是菩薩未成不退。於觀人心未盡善也。所謂
257 | 金剛 戒也。所謂忍度者。見罵見毀默受不報。
258 | 菩薩行忍。常以 慈等等於彼我。彼我既齊怨
259 | 親不二 。故經曰。小乘之 慈慈猶肌膚。大士之
260 | 慈徹於骨髓。何 以 明之 。若人割 截菩薩手足。
261 | 變成為乳 者。即是慈證也。羼提比丘便 是
262 | 其事 也。喻若母人生子。便 有乳 出。此慈念所
263 | 感。自然變成也。大士如是。入 慈三昧故能
264 | 感乳 也。行慈之 至。雖執弓矢。眾生反來附己。
265 | 慈之 不徹。雖不執杖見皆捨走。以 是證故。大
266 | 小之 殊有自來矣。作善惡行者。謂精進作諸
267 | 善功 德。惡行者。猶昔火鬘童子誹迦葉佛言。
268 | 禿頭沙門何 有道。道難得能得道也。由是後
269 | 受六 年勤 苦。方乃得道。遺法之 中諸比丘常
270 | 諍此。猶口不可言而言報也。六 年苦行者。不
271 | 可行而行報也。是為菩薩身口惡行也。禪定
272 | 入 寂泊然不動 。智慧知塵數及江河沙數。億
273 | 載不可計。慧明所了 不可窮盡。此六 度無極
274 | 事 。盡在菩薩藏。不應與三藏合。阿難欲使大
275 | 小殊因緣。彼不相知。其理自空。難可明了 。大
276 | 士疑空者。不取證故。云 狐疑也。

***

277 | QUYỂN 2
278 | 分別 功 德論卷第二
279 | 失譯人名附後漢錄
280 | 彌勒 稱善者。以 其集此六 度大法為一 分。
281 | 此即菩薩藏也。斷結者。斷諸望見結使也。
282 | 成道果大乘薩云 然事 也。阿難但 云 聞不云
283 | 見者。豈可不見如來說法也。所以 言見為非
284 | 者。為將來四部故。不得言見也。設言見者。後
285 | 四部眾復承阿難。言見者則 為虛妄也。以 是
286 | 故但 稱聞不言見耳。初 說法度阿若拘隣等
287 | 五 人。摩竭國降三迦葉。釋翅即迦毘羅衛。若
288 | 不得說經處。但 稱在舍衛者。以 佛在舍衛經
289 | 二 十五 年。比在諸國最久 。所以 久 者。以 其國
290 | 最妙多諸珍奇。人民熾盛最有義理。祇樹精
291 | 舍有異神驗。當眾僧 在講集時。諸獼猴有數
292 | 千來。在左右觀聽。寂寞無聲。及諸飛鳥普皆
293 | 來集。眾僧 正罷各還所止。揵搥適鳴已復
294 | 來集。此由國多仁慈故。異類影附。佛或能
295 | 暫行受請。或能神力 適化尋還本所。是以 但
296 | 稱舍衛。足知其要也。所以 別 稱祇洹孤獨
297 | 二 人名者。此二 人先亡今在天上。亦集諸天
298 | 說法教化。時心念言。我等本是眾僧 檀越。初
299 | 不復稱我等名字耶。欲適彼所念故。復別 稱
300 | 二 人名耳。云 當修 一 法者。亦非次第說。若
301 | 按初 成說法。當從波羅奈鹿野苑。說四諦為
302 | 始。次至摩竭降三迦葉。因稱其精舍主 名。便
303 | 云 當修 一 法者。以 其一 法之 與四法其理味
304 | 不異故也。一 法亦斷結。四法亦斷結。俱 至涅
305 | 槃。殊途同歸耳。都結二 十一 演為三十六 。
306 | 數雖盈縮俱 為是結。凡事 有百一 舒。復為八
307 | 萬四千。是以 一 法之 與千萬。同是至道之 徑
308 | 耳。猶師子殺象之 殺兔 同是一 死耳。以 其
309 | 理趣不異故。便 從一 法始。無放逸者一 法之
310 | 宗也。或問曰。戒應在前 。先當持戒然後念
311 | 三尊。或曰。此為新學者。先念三尊。即三自
312 | 歸。運意在佛法眾以 次受戒。以 是言之 。戒應
313 | 第四息念後。解云 。閑靜身苦念者。謂觀身三
314 | 十六 物不淨惡露。以 自覺悟。可以 成道。何 以
315 | 明之 。昔有比丘。作阿練若行乞食。逢一 長
316 | 者女從乞食。比丘女人俱 端正。女見比丘便
317 | 起欲想。比丘見女亦起欲意。意動 手掉。投飯
318 | 於鉢錯注於地。女自怪笑。比丘見女齒白。即
319 | 自覺悟曰。女人口中鈍是骨耳。如佛語。人
320 | 身中有三百二 十骨。有六 百節。七十萬脈。九
321 | 十萬毛孔。一 孔入 九孔出。泄漏不淨。無一 可
322 | 貪。諦觀女身三十六 物。慘然毛竪。專自惟察
323 | 即解身空。得須陀洹道。復自念曰。我因女
324 | 見法則 是我善知識。今當報恩。即復為女說
325 | 向所解觀身法。女即心開亦得須陀洹道。以
326 | 是言之 。身念為勝也。死念者。念人福盡命
327 | 終時見地獄瑞驚恐失糞。若見餓鬼。若見畜
328 | 生。隨行所墮見。皆恐怖。意欲捨去。反為對
329 | 所牽。若當生人。緣父母會。若受男胎愛彼女
330 | 人。若受女胎愛彼男子。除其疾難三事 不差。
331 | 便 得入 胎。既受又認以 為己有。七日一 變巧
332 | 風刻割 。至三十八 七乃成其形。若生天上天
333 | 樂來迎。不勝喜悅即失小便 。此五 道瑞各有
334 | 所見。此之 死應行者已為明戒深惟無常。
335 | 命速若電若雲過庭。老病死來無不逝喪。常
336 | 念此變以 自覺悟。故曰死念也。前 十念佛自
337 | 說。未有問者故不解。後十念比丘問佛。更為
338 | 演說。一 一 析解。尊弟子者。謂五 百羅漢各
339 | 有所便 。或智慧第一 。或神足。或辯才。或福
340 | 德。或守戒。或知足。或說法。各據第一 。欲論
341 | 先兄 而後弟者。以 阿若拘隣最長。以 須跋為
342 | 最小。此佛法階次之 大要。若以 聰哲博達為
343 | 元 首者。此乃是婆羅門法也。云 千二 百五 十
344 | 者。舉其常侍 從者。或云 。五 百人者。佛受阿
345 | 耨達請時。簡五 百人可者。尋從至龍王宮。何
346 | 者。此阿耨達泉。非有漏閡形所可周旋也。
347 | 阿難出經時集八 萬四千羅漢。以 是言之 。數
348 | 不可計也。此經今正出百人。第一 通四部眾。
349 | 二 百二 十各第一 。其餘者。豈復可計耶。其人
350 | 云 。此經本有百事 。阿難囑優 多羅。增一 阿
351 | 鋡出。經後十二 年。阿難便 般涅槃時。諸比
352 | 丘各習坐禪。不復誦習。云 佛有三業坐禪第
353 | 一 。遂各廢諷誦經十二 年。優 多羅比丘復般
354 | 涅槃。由是此經失九十事 。外國法師徒相傳。
355 | 以 口授相付不聽載文。時所傳者盡十一 事
356 | 而已。自爾相承正有今現文耳。雖然薩婆
357 | 多家無序及後十一 事 。經流浪經久 所遺轉
358 | 多。所以 偏 囑累此弟子增一 者。以 其人乃從
359 | 七佛以 來偏 綜習增一 阿鋡。前 聖亦皆囑及
360 | 此經。是以 能仁時轉復勤 及此比丘。時優 多
361 | 羅弟子名善覺。從師受誦增一 。正得十一 事 。
362 | 優 多羅便 般涅槃。外國今現三藏者。盡善覺
363 | 所傳。師徒相授于今不替。所以 迦葉每謂阿
364 | 難為小兒者。故以 累世 已來父意相加 故也。
365 | 於時阿難妹為比丘尼。聞迦葉語大用嫌恨。
366 | 阿難者聰明博達。眾人所瞻望。而尊謂為小
367 | 兒耶。迦葉謂比丘尼曰。大妹。阿難有二 事
368 | 可恥。何 所為恨也。正坐阿難勸 佛度母人。使
369 | 佛法減千年。是一 也。阿難有六 十弟子。近
370 | 日三十比丘還為白衣。佛教度弟子法。若在
371 | 家有信 來求道者。當試之 七日。若外學來求
372 | 道者。當試之 四月。何 以 不等也。以 外道家
373 | 或以 惡心欲求長短。是以 先試知為至誠。不
374 | 然阿難來便 度之 。是可恥二 。此三十比丘所
375 | 以 還者。聞阿難於九十六 種道中等智第一 。
376 | 從阿難求度者。欲請等智。然阿難不與說等
377 | 智。是以 不合本心。於是而還。還必誹謗阿
378 | 難。謂無等智。度弟子喻若魚生子千億 萬。若
379 | 心念者便 生。不念者即爛壞。弟子亦如是。若
380 | 留心教詔者便 成就。不留心者即退還。此豈
381 | 非可恥耶。此比丘尼以 恚心向迦葉故。即現
382 | 身入 地獄。以 阿難有此闕故。迦葉謂為小兒
383 | 耳。阿難白引往昔為轉輪聖王。名曰長壽。
384 | 受父大王之 遺教。登位 治化。將欲出家。復囑
385 | 太子善觀。委以 國政。展轉相授未曾暫替。
386 | 昔以 父子相承。今以 師徒相紹。昔尚不失有
387 | 漏之 教。況今當失至真妙法耶。故引自證明
388 | 其必堪受遺典 也。於法當念敬者。上偈中已
389 | 判 三藏四阿鋡。長行中復云 。一 偈中乃可具
390 | 三藏諸法。況復增一 而不具 諸法乎。所以 復
391 | 有此一 段偈說者。以 諸天子心中生念。阿難
392 | 不能作偈說法乎。何 以 復作此謾說耶。阿難
393 | 知諸天子心中所念。語諸天子。正使八 萬四
394 | 千象所載經。皆作偈頌者。我盡能作偈頌。況
395 | 復阿難此少法而不能作耶。欲適諸天意故。
396 | 復以 偈頌諸法。勸 喻諸天及利 根眾生。應
397 | 聞偈得解者。法即上章。諸惡莫作諸善奉行
398 | 自淨其意是諸佛教法也。言此法能成三乘。
399 | 斷三惡趣。具 諸果實。二 世 受報。以 才有優 劣
400 | 故。設誘進之 。頌云 。上者持三藏。其次四阿
401 | 含。或能受律藏。即是如來寶。所以 云 寶者。喻
402 | 若王有寶藏不使外人知。唯有內臣與王同
403 | 心者。乃使典 掌耳。戒律亦如是。若能持二
404 | 百五 十及與五 百事 者。乃授其人。不可使外
405 | 部清信 士女所可瞻翫。故喻王寶也。設力 不
406 | 及二 藏。但 持阿毘曇者。便 可降伏外道。九十
407 | 六 逕靡不歸宗。何 者。此無比妙慧。能決上微
408 | 滯。使豁爾齊直。雖復五 通住 劫 。未免四駛
409 | 之 所制 。是故外學莫敢闚[門@俞 ]。阿難唱此十偈
410 | 之 妙勸 者。正為此三萬天人也。昔佛始成道
411 | 在波羅奈鹿野苑中。為阿若拘隣等五 人。轉
412 | 四諦法輪者。佛言。拘隣當知。苦諦苦習諦
413 | 苦盡諦苦出要諦。直說此四諦。拘隣滯有來
414 | 久 。聞說智慧意猶不悟。便 為說空。拘隣當
415 | 知。四慧所滯。一 切皆空。亦復無常。喻若幻化
416 | 非真非有。拘隣即解得見道迹。四人未解。如
417 | 來復觀心本。二 人病在想著更樂。思憶在家。
418 | 五 慾自恣。戀著不捨。應病投藥。便 說無想
419 | 三昧。卿所想者。皆歸滅盡。故為馳心放在
420 | 所樂也。所想即解二 復得道迹。餘二 人心常
421 | 願生梵天於梵作王。所滯不釋復以 為累。如
422 | 來見心所在。復為說無願。汝所願求梵天王
423 | 者。不能出要。皆歸磨滅。無常存者可捨所求。
424 | 出要為先。即復得解成於道迹。五 人所滯。各
425 | 異所解不同。所謂三轉四諦者。空無相願
426 | 中皆有四諦。諦即觀也。定則 止也。止觀雙
427 | 行共治陰持入 中癡愛病也。十二 者破十二
428 | 因緣也。昔佛在世 時。為四部說法。或說四
429 | 諦。或說六 度。隨前 眾生所應聞者。各為敷演
430 | 無有常量。或有國王長者梵志居士。或請供
431 | 養。或來請問。諸可所說者。阿難問曰。云 何 名
432 | 之 。當言聞耶。當言見耶。佛告阿難。後在將
433 | 來。四部說法時。當言聞不得言見。若言見者
434 | 則 為虛妄。何 以 故。聞已過去見者現在。如
435 | 過去七佛正可言聞。不得言見也。汝於將來
436 | 亦復如是。故曰聞如是也。我所以 慇懃囑累
437 | 阿難者。過去諸佛雖有侍 者。無如阿難知
438 | 佛意趣。曩昔已曾供 養。二 十億 佛常為侍
439 | 者不求盡漏。常願得等智知佛意趣。以 是
440 | 故今獲其報。覩目達意不失宜則 。諸佛之
441 | 中勇 猛精進。無過釋迦文者。兄 弟之 中彌勒
442 | 應在前 。今反在後何 者。昔三十劫 前 時有三
443 | 菩薩。共在山上遊行。時見有餓虎欲食其子。
444 | 一 人念曰。此虎既為畜生。復食其子死有
445 | 痛苦。母復不慈。我今身者。四大合成會當歸
446 | 死。便 當以 身救彼子命。二 人不肯。方欲詣
447 | 市買肉用代 子命。一 人思惟曰。若此往返子
448 | 命不全 。且當投身於山下濟其子命耳。即從
449 | 山上投身來下。趣彼虎口。身則 安隱虎不敢
450 | 食。所以 爾者。夫入 慈三昧者。物莫能害也。故
451 | 以 竹自刺使虎得食。曰是勇 猛即超九劫 。今
452 | 在彌勒 前 。以 是言之 。道無前 後意決為先。是
453 | 故我今成佛。故以 遺典 委付阿難。汝於當來
454 | 稱聞如是。何 以 復言一 時也。為是日月數。
455 | 為是人名耶。答亦是時節數。亦是在人名。或
456 | 曰。復有二 名。或剎帝利 。或婆羅門。復有二
457 | 名。或長者種。或居士種。或在天上。或在人
458 | 間。如是諸或非是一 處。故曰一 時也。婆伽 婆
459 | 者世 尊之 稱也。結使都盡無能過者。故稱為
460 | 尊。三界諸天皆來師仰。八 部鬼神亦所宗
461 | 敬。故稱世 尊。能降伏魔即復是尊。如是所稱
462 | 不可計量。故號世 尊也。祇樹給孤獨園。祇陀
463 | 太子者。波斯匿王之 嫡子也。有園田八 十頃。
464 | 地平木茂多諸禽獸。日來相集。祇心存佛。常
465 | 欲上佛作精舍。未周之 頃。須達長者復來請
466 | 買。祇少與長者親善。每喜調戲。戲言許可。須
467 | 達得決意甚欣悅。顧謂侍 者。速嚴駕象載金
468 | 布地。即負金出隨集布地。須臾滿四十頃。祇
469 | 曰。止止。我戲言相可。不須復布。須達即與
470 | 太子共至王所。啟白此意。王曰。法無二 言。許
471 | 決已定理無容悔。祇曰。吾取樹分。卿便 取
472 | 地。二 人會可共立精舍。有七十二 講堂。千二
473 | 百五 十房舍。其中平正果木豐茂。流泉浴池
474 | 寒溫調適。四望清顯冬夏不改。嚴治都訖共
475 | 請世 尊。世 尊即與千二 百五 十比丘。遊止其
476 | 中。檀越供 養四事 無乏 。阿難邠坘以 是國
477 | 臣故。高讓在先。是故諸經每稱祇為首。以
478 | 功 德相連故名。亦不得相離故。常合以 為稱
479 | 耳。
480 | 佛告諸比丘者。何 以 不告清信 士女。但 告比
481 | 丘者。於四部眾比丘為元 首。又復是破惡之
482 | 主 。以 無漏法斷諸有漏。以 是故先告比丘。亦
483 | 名沙門。沙門者。心得休息。息移有欲寂然無
484 | 著。亦名除饉。世 人飢饉於色欲。比丘者除
485 | 此愛饉之 飢想。世 尊說法比丘能受。斷除生
486 | 死至涅槃門。是故告比丘耳。當修 行一 法
487 | 者。謂念佛也。念佛何 等事 。佛身金剛 無有諸
488 | 漏。若行時足離地四寸。千輻相文跡現於
489 | 地。足下諸蟲蟻七日安隱。若其命終者。皆得
490 | 生天上。昔有一 惡比丘。本是外道。欲假服
491 | 誹謗。逐如來行多殺飛蟲著佛跡處。言蹈蟲
492 | 殺也。然蟲雖死遇佛跡處尋還得活。若入 城
493 | 邑足蹈門閾。天地大動 。百種音樂不鼓自鳴。
494 | 諸聾盲瘖瘂癃殘百疾自然除愈。三十二 相
495 | 八 十種好。其有覩者隨行得度。功 德所濟不
496 | 可稱計。慧明所照豈可訾哉。佛者諸法之 主 。
497 | 總會萬行。以 載運為先。所謂念佛。其義如
498 | 此。念法云 何 。法者謂無漏法無欲法道法無
499 | 為法也。從欲至無欲也。佛者諸法之 主 。法
500 | 者結使之 主 。或問曰。法為在先佛為在先。
501 | 答法在先。何 以 知之 。經曰。法出諸佛。法生
502 | 佛道。以 是言之 。法為在先。又曰。若然者。何
503 | 以 不先念法。而先念佛耶。答曰。法雖微妙無
504 | 能知者。猶若地中伏藏珍寶無處不有。而人
505 | 貧困乏 於資用。有神通人指示處所。得以 自
506 | 供 濟於窮乏 。或問曰。寶為勝耶。人為勝耶。曰
507 | 人勝也。何 以 言勝。伏藏雖多非神通不覩由
508 | 人得資生。豈寶藏自貴於地中耶。法亦如是。
509 | 理雖玄妙。非如來不辯。非世 尊不暢。是以
510 | 念佛在先。以 法為次。云 何 念僧 。僧 者謂四
511 | 雙八 輩。十二 賢士。捨世 貪諍開福導首。天人
512 | 路通莫不由之 則 是眾生良祐福田也。何 以
513 | 明眾僧 為良福田也。昔有薄福比丘。名梵摩
514 | 達。在千二 百五 十眾中。令眾僧 不得食。莫
515 | 知誰咎。佛便 分為二 部。在一 部中。復令一
516 | 部不得食。復分此一 部為半令從其半。復令
517 | 此半不得食。如是展轉分半。乃至二 人。亦
518 | 不得食。遂至獨身乃知無福。所在行食。次至
519 | 在鉢。自然消化。佛愍其厄。自手授食在於鉢
520 | 中。神力 所制 不復化去。佛欲令現身得福故。
521 | 令二 滅盡比丘在左右。以 食施此二 滅盡比
522 | 丘。凡滅盡三昧。皆即時得福。次復令入 慈
523 | 三昧比丘在左右。次以 二 悲。次以 二 喜。次以
524 | 二 護。各各遍代 令終四等。時波斯匿王。聞
525 | 此比丘薄福佛愍與食。我今亦當為其設福。
526 | 即遣使人[米*乍 ]米。時有一 烏飛來銜一 粒米去。
527 | 使人呵曰。王為梵摩達設福。汝何 以 持去耶。
528 | 烏即持還本處。所以 爾者。此比丘以 蒙眾僧
529 | 福力 。是以 鳥獸所不能侵 害也。用是證故。知
530 | 眾僧 為良福田也。已既自度復能度人至三
531 | 乘道。念眾之 法其義如此。
532 | 次念戒者。其義云 何 。從五 戒十戒二 百五 十。
533 | 至五 百戒。皆以 禁制 身口撿諸邪非。歛御
534 | 六 情斷諸欲念。中表清淨乃應戒性。昔有
535 | 二 比丘。共至佛所。路經廣澤頓乏 漿水。時
536 | 有小池汪水眾蟲滿中。一 比丘深思禁律。以
537 | 無犯為首。若飲此水殺生甚多。我寧全 戒殞
538 | 命沒無以 恨。於是命終即生天上。一 比丘自
539 | 念。宜當飲水全 命可至佛所。焉知死後當
540 | 生何 趣。即飲蟲水害蟲大多。雖得見佛去
541 | 教甚遠。啼泣向佛自云 。同伴 命終。佛指上天
542 | 曰。汝識此天不。此是汝伴 。以 全 戒功 即生天
543 | 上。今來在此。卿雖見我去我大遠。彼雖喪
544 | 命常在我所。卿今來見我者。正可覩我肉
545 | 形耳。豈識至真妙戒乎。以 是言之 。持戒不
546 | 犯所願者得。十念中戒在前 。六 度言之 施在
547 | 前 。所以 前 却不等者。十念戒者聲聞家戒也。
548 | 弟子法以 撿身為先。是以 在前 。大士法以 惠
549 | 施為重。何 者。夫大士者。生天人中心存濟
550 | 益。濟益之 要非施不救。夫眾生存命者。以 衣
551 | 食為先。故以 財施先救其形。然後以 法攝御
552 | 其神。故大士以 施為先。夫戒有二 。有俗 戒
553 | 有道戒。五 戒十善為俗 戒。三三昧為道戒。二
554 | 百五 十戒至五 百戒。亦是俗 戒。四諦妙慧為
555 | 道戒也。但 行安戒不出三界。以 慧御戒。使成
556 | 無漏乃合道戒。聲聞家戒。喻若膝上花動 則
557 | 解散。大士戒者。喻若頭插花行止不動 。何
558 | 者。小乘撿形動 則 越儀 。大士領心不拘外軌
559 | 也。大小範異故。以 形心為殊。內外雖殊俱
560 | 至涅槃。故曰念戒也。念施所以 得至涅槃者。
561 | 以 施有財施法施也。因財施得達法施。成檀
562 | 度無極故。得至涅槃也。念天者。欲界色界
563 | 至無色界天也。天有二 種。有受福天。有道德
564 | 天。欲界諸須陀洹天。永離三惡趣。進昇道
565 | 堂。色界空界八 淨居天。增修 止觀。進成無
566 | 漏。即彼涅槃不還世 間。凡夫天者。十善四
567 | 禪四空。於彼受福。福盡還墮。流轉不已。所謂
568 | 念天者。念彼諸得道者。專心効 彼慕其所
569 | 行。意不馳散亦至涅槃。故曰念天也。
570 | 念休息者。謂心意想息五 欲不起。寂然永定
571 | 故云 息也。凡息亦有二 種。外道梵志歛形求
572 | 福。亦云 息也。沙門四果眾結永消。乃是真息。
573 | 何 以 知其然。昔有比丘。名曰須羅陀。至舍
574 | 衛城周行教化。時舍衛城西鴦掘魔可殺人
575 | 處。其地平博多諸樹木。時有一 梵志。在樹下
576 | 坐禪。不食五 穀但 食果蓏。若無果便 噉草菜
577 | 以 續精氣。身著樹葉衣。形體羸瘦。裁自支拄。
578 | 時須羅陀行過逢見。謂是道士。坐禪試觀其
579 | 心知為定不。見其心本乃求作此國王。念曰。
580 | 此乃是大賊耶。正欲捨去。恐後墮罪。正欲教
581 | 化必不隨我語。當設方便 度此人耳。即便
582 | 就一 樹下坐禪。相去不遠。乃經七日不動 不
583 | 搖。過七日後起至梵志前 。彈指覺曰。同伴 體
584 | 中何 如也。梵志良久 。徐乃舉頭答曰。貧儉 無
585 | 以 相遺如何 。比丘又曰。我今當遺君一 物。
586 | 即化作一 雞。君可殺此雞噉。梵志驚曰。我尚
587 | 不殺蟣虱。況當殺鷄耶。比丘曰。汝本心乃欲
588 | 殺無數人。可殺此雞何 足言。梵志復曰。我
589 | 云 何 殺無數人耶。比丘曰。汝本在此坐禪時。
590 | 乃欲求作此國王。王者治化日可殺幾人。而
591 | 言不殺也。此雞即是汝心中識。雞乃可得無
592 | 為大道。何 用國王為。即便 思惟。此比丘乃
593 | 知我心中所念。必是聖人耶。當從其教。重為
594 | 說法即得道迹。此梵志身形雖靜。心不休息
595 | 也。自得殺識雞已。乃可名為休息耳。故後
596 | 解曰。心意想息也。念身者。觀身三十六
597 | 物惡露不淨。諦念不亂 。亦得涅槃。何 以 知之 。
598 | 昔有比丘作阿練若。常行乞食。於江水邊食。
599 | 食訖澡鉢。時上流岸邊塚間有新死女人風
600 | 吹頭髮忽然墮鉢中。比丘手執此髮。諦視之
601 | 甚妙好。心口獨語。若是馬尾此復太細。若
602 | 是男子髮。復太軟細。若繫不解者。必是女
603 | 人髮。即便 繫之 不解。便 生想念。此髮如是人
604 | 必妙好。面如桃花色。眼如明珠。鼻如截筒。口
605 | 如含丹 。眉如蚰蜓。作是分別 已。便 起欲心。順
606 | 水尋求。想見顏色追求不已。見一 女人狐狼
607 | 已噉其半。身形臭爛其髮猶存。執髮比之 長
608 | 短相似 。向者欲想釋然自解。復重觀之 分別
609 | 惟察。此人生時形容嚴好。今者壞敗令人得
610 | 見。我向所起想者。但 欲貪身愛欲。故而生斯
611 | 念耳。彼身如是。我復何 異。諦計我身四大
612 | 合成。福盡緣離自然解散。覩變心悟即達
613 | 道迹。以 是言之 。念身者獲沙門果也。念死
614 | 者。行人念。命逝不停 諸根散壞。如腐敗木。命
615 | 根斷絕。當念非常以 自覺悟。昔有比丘名婆
616 | 吉梨。坐禪行道經歷年歲。而有漏不除。自患
617 | 己身以 為大累。每思自害。人所以 不得至道
618 | 者。正坐此身纏綿流轉何 時可息。即以 手執
619 | 刀 將欲自刎 。復重思惟。世 尊有教誡。諸弟子
620 | 不得自殘。雖爾我今欲求涅槃。涅槃中無身。
621 | 是故先除身取無為正爾。便 舉刀 自刎 。頭亦
622 | 墮心亦徹。即得阿羅漢。佛知已得道。勅 諸
623 | 比丘闍維其屍。是故念死亦得涅槃也。前 十
624 | 念佛總說。為利 根眾生。後更說者。為鈍根
625 | 眾生。析解其義也。名譽者。後得轉輪聖王。得
626 | 大果報者。後得天帝釋。諸善普至者。後獲梵
627 | 天報。得甘露味者。後得辟支佛。至無為處者。
628 | 後獲阿羅漢果。上說十念無此五 句。今所以
629 | 益諸報者。欲明念佛之 義其理深妙。佛說。
630 | 諸弟子般涅槃。皆以 宿緣償 對因取涅槃。目
631 | 連被打。身子下腸。如是五 百弟子。各以 宿
632 | 緣取滅度。唯有阿難最善取涅槃。阿難將
633 | 欲涅槃時。先現光 瑞。有梵志從阿難學算術。
634 | 見阿難顏色發明。告阿闍世 王曰。阿難顏色
635 | 異常。將欲取涅槃耶。王即遣人追尋阿難。阿
636 | 難已將五 百弟子。至中路恒水岸上。上船欲
637 | 度。適至水半。王以 至岸。毘舍離承阿難來。
638 | 亦遣五 百童子迎。欲適二 國意故。以 神力 制
639 | 船令住 中流。時度弟子。一 名摩禪提。二 名摩
640 | 呻提。告摩禪提。汝至羯賓興顯佛法。彼土未
641 | 有佛法。好令流布。告摩呻提曰。汝至師子
642 | 渚國興隆佛法。囑累訖作十八 變。出火燒
643 | 身。中分舍利 。令二 家各得供 養。此由念佛之
644 | 力 。故得自在也。

***

645 | QUYỂN 3
646 | 分別 功 德論卷第三
647 | 失譯人名附後漢錄
648 | 佛告諸比丘者。佛大慈欲令弟子具 知念佛
649 | 之 義。猶父約誡語子孫欲令成就。無復已已
650 | 專精念佛。觀如來形目未曾離。猶如阿難觀
651 | 佛無厭。心念無已。時阿難背上生癰。佛命
652 | 耆婆治阿難所患。耆婆白佛。不敢以 手近阿
653 | 難背。佛告耆婆。但 治勿 疑。我自當與阿難
654 | 說法令其不覺痛。如來令阿難熟視佛相好。
655 | 佛為說。如來身者金剛 之 數。不可敗壞。三千
656 | 二 百福功 德所成。阿難目視不惓。耳聽不厭。
657 | 心念不散。時耆婆於阿難背上。潰癰傅膏。
658 | 佛問阿難。汝覺背上痛不。答曰。不覺。不覺痛
659 | 者。由念佛故也。十力 所成。四無所畏。昔有長
660 | 者將奴禮偷 婆云 。南無十力 世 尊。奴在後
661 | 禮云 。南無十一 力 如來。長者曰。如來正有
662 | 十力 。云 何 有十一 力 耶。奴曰。十一 力 復何 苦。
663 | 但 莫言九力 。言十一 力 更益一 力 。有何 過失。
664 | 大家默然而歸。問諸法師曰。如來為有幾力
665 | 耶。答曰。或有三力 。或有十力 。或云 無數。以
666 | 是言之 。不限於十耶。長者即出家學道。免奴
667 | 為家主 。言四非為不足。言無數非為有餘。適
668 | 時應物無有常量也。
669 | 念法者。從欲至無欲。從欲至道。從漏至無漏。
670 | 從有為至無為也。何 以 知其然。昔者世 尊。於
671 | 憂填王國說法教化。時三十三天上。為母摩
672 | 耶說法。九十日而還。於迦尸城北下。時優
673 | 鉢蓮華比丘尼。心念欲獨前 見佛。時諸國王
674 | 不見佛已九十日。皆有渴仰之 情。並 來雲集。
675 | 我為比丘尼。不宜在此眾閙之 中。當作方儀
676 | 令得在先。即化作轉輪聖王。將從如聖王法。
677 | 諸小國王見聖王。各自馳散。比丘尼即還服
678 | 本形。見佛禮拜問訊。諸王各來見佛。不復
679 | 見聖王。乃知比丘尼所化。謂比丘尼曰。向者
680 | 所見誑如此耶。時優 鉢蓮華心念自謂。最先
681 | 見佛。佛告優 鉢蓮華曰。汝自呼最先見佛。復
682 | 有先汝者。不審是誰。佛言。乃羅閱城東山
683 | 中須菩提。在彼補衣。天語曰。佛來下已。須菩
684 | 提曰。我為弟子。法當往禮問。覆自思惟。佛為
685 | 所在。若金色是佛耶。金復何 限。佛言。一 切諸
686 | 法空。無所有。若解十二 因空。非造非作非人
687 | 非士無命。非命者則 為見法。見法無命。非命
688 | 為見。我即叉手起喚曰。婆南正爾。還坐補
689 | 衣。以 是言之 。須菩提為先汝見佛也。佛者諸
690 | 法之 主 。解了 法空即是念法。念眾者。謂賢聖
691 | 眾也。凡眾有若干種。外道九十五 種。亦各
692 | 各有眾。或有和合者。或有不同者。亦以 戒
693 | 律自防。或行禪定。或以 無想為盡妙。各信 所
694 | 事 自以 為真。但 不得實聖八 品道。是以 不能
695 | 至涅槃耳。雖復有五 通住 壽及無想延劫 。皆
696 | 不免於生死。唯有如來聖眾四雙八 輩之 士。
697 | 不復為四駛所漂九止所索耳。故經云 。九十
698 | 六 種僧 。佛僧 最為真。如來四部眾皆同為釋
699 | 種。喻若四恒水各別 有五 百支。皆合入 大海
700 | 以 等一 味。眾亦如是。或有剎帝利 種。或婆羅
701 | 門種。或長者種。或居士種。四姓中有出家
702 | 學者。皆同釋種為一 姓。無有若干別 名。以 是
703 | 所包 彌遠。其義彌深。眾僧 者。乃含受於三
704 | 乘。羅漢僧 亦出於中。緣一 覺亦在其中。大
705 | 乘僧 亦在其中。是故名為良祐福田。三界之
706 | 中濟益眾生。無過此良美之 地。如來雖復成
707 | 正覺常還向眾僧 。懺悔者。以 僧 地厚重。三
708 | 世 諸佛緣覺弟子。無不由僧 而得滅度。猶梵
709 | 摩達比丘。賴聖眾以 全 濟。念戒者。謂行淨
710 | 戒具 諸律儀 。猶若陶家調繕埴泥。俟 諸求器
711 | 大小方圓。各適所欲。戒亦如是。若願生天。三
712 | 界受福。若欲斷結求道。所願應意。猶吉祥
713 | 瓶。隨人所欲取即得之 。以 戒為本。兼 行三十
714 | 七品及諸三昧定。斷七使九結。進成涅槃。喻
715 | 埴成器。不可復壞也。
716 | 念施者。謂施有二 事 。或有主 施。或無主 施。復
717 | 有二 施。一 名與。二 名捨。復有二 施。一 財。二
718 | 法。與者即有主 施也。捨即無主 施也。捨則
719 | 捨結也。與則 前 人受財法。所以 施至涅槃者。
720 | 若與人財法時。心不望報不計彼已。以 三事
721 | 無礙。即同無為也。若能捨結亦是涅槃。捨與
722 | 俱 至涅槃者。猶象逐健 兒進之 與退。其於
723 | 得肉進則 破軍。退則 自喪食肉必矣。念天者。
724 | 有三種天也。有舉天。有生天。有清淨天。云
725 | 何 舉天。謂轉輪聖王。為眾人所舉。所以 名為
726 | 天者。以 聖王有十善教世 。使人皆生天。在人
727 | 之 上故稱為天。或有說曰。聖王勝佛。何 以 言
728 | 之 。聖王治世 人。無墮三惡道者。佛出世 時三
729 | 惡不斷。以 是為勝也。或復說曰。佛勝聖王。所
730 | 以 言勝。聖王以 十善教世 。不過人天。佛出教
731 | 世 得至涅槃。以 是為勝也。云 何 生天。從四天
732 | 王至二 十八 天。諸受福者盡是生天。所以 言
733 | 生天。流轉不息不離生死。故曰生天也。云 何
734 | 清淨天。謂佛緣覺聲聞三人。皆盡結使出於
735 | 三界。清淨無欲。故曰清淨天也。八 淨居天者。
736 | 過於生舉。不及清淨處。其中間。念天者之
737 | 所慕也。因念生舉。亦有至涅槃理。何 者。舍
738 | 衛城中。有清信 士夫婦二 人。無有子姪。二 人
739 | 精進心存三寶。時婦早亡。即生三十三天為
740 | 天女。端政無雙天中少比。女自念言。誰任
741 | 我夫。以 天眼觀世 間。見本夫以 出家學道。
742 | 年高闇短專信 而已。常以 掃除塔廟為行。
743 | 見其精勤 理應生天。必還為我夫。時處靜
744 | 室。夜坐思惟霍然見明。怪其有異舉頭仰視。
745 | 見有天女問其所由。從何 而來。天女答曰。我
746 | 從三十三天上來。本是君婦。今為天女。天上
747 | 無任我夫者。觀君精進應還為我夫。是以 故
748 | 來白意。語訖忽然不見。還歸天上。時老比
749 | 丘自是以 後倍加 精進。兼 更補繕故廟。晨夕
750 | 不懈。積功 遂多福德轉勝。乃應生第四兜 率
751 | 天。天女復以 天眼觀之 。見其乃應生第四天。
752 | 復來語言。積精進已過我界。我不復得君為
753 | 夫。語訖還去。比丘倍更精進勝於前 時。晝
754 | 則 經行。夜則 禪思。心意轉明思惟四諦。如是
755 | 不久 遂得羅漢。所謂因念天得至涅槃者。念
756 | 休息者謂得定也。休息有二 。有俗 休息。有道
757 | 休息。俗 休息者。猶行作疲極小住 懈息。故名
758 | 為俗 休息。道休息者。謂定之 人。何 以 知其然。
759 | 昔有比丘。名曰等會。時近大道邊坐禪定意。
760 | 時有五 百乘車過。聲甚凶 凶 。寂然不聞。時復
761 | 天雷霹靂。又頃復地大動 。都無所聞。行過者
762 | 眾塵土坌衣。積有時節。有一 人來。見此比丘
763 | 端坐不動 。塵土坌衣都無所覺耶。比丘定覺
764 | 抖擻塵土。又問曰。向者眠耶。曰不也。又問。
765 | 若不眠者。向有車過。及天雷地動 。寂然不驚。
766 | 何 由如此。答曰。我時入 休息三昧。是以 都無
767 | 所聞耳。以 是言之 。得休息定者。雖復天地
768 | 覆墜不革其志。故名休息定也。念安般者。謂
769 | 息諸坐馳也。趣道之 徑非唯一 塗所悟之 方。
770 | 各有所在。何 以 知其然耶。身子昔曾供 養十
771 | 四億 佛。從佛聞法。未曾綜習安般。至釋迦文
772 | 世 。從馬師比丘。始達空法。即見道迹。佛具 演
773 | 慧漏盡結解。今為智慧第一 。不由安般得至
774 | 涅槃也。目揵連昔三十劫 中供 養諸佛。修 大
775 | 乘行不能終訖。遭遇世 尊退取盡漏。自昔暨
776 | 今未曾習安般。迦葉比丘。昔亦曾供 養三萬
777 | 如來。亦未曾習安般。應得辟支佛。今退為
778 | 羅漢。馬師比丘。昔日亦供 養七佛。亦不習安
779 | 般。今亦盡漏。阿難昔曾供 養二 萬如來。所從
780 | 諸佛諮受法教。亦不習安般。唯有羅云 摩呵
781 | 劫 匹羅。曩昔以 來常習安般。今亦至道。以
782 | 是言之 。趣道之 徑非唯一 塗。安般者。知息
783 | 長短。冷熱遲疾。從麁至細。漸御亂 想遂至微
784 | 妙。或因息以 悟。或分別 解了 。或頭陀守節。或
785 | 多聞彊記。或神足識微。或揩或訓悟。所謂殊
786 | 途而同歸也。念身者。謂分別 四大也。解了
787 | 五 陰一 同之 幻夢。何 以 知之 。念身得至涅槃
788 | 耶。昔佛去世 後。百歲時有阿育王。典 主 閻浮
789 | 提。群臣夫人象馬各有八 萬四千。時王巡行
790 | 國界見閻羅王。有十八 地獄。亦有臣吏。僻
791 | 問罪囚。王問左右曰。此何 等人。答曰。此死人
792 | 王也。主 分別 善惡。王曰。死人王尚能作地獄
793 | 治罪人。我是生人王。不能作地獄耶。問諸群
794 | 臣。誰能造地獄。諸臣對曰。唯有極惡人能造
795 | 地獄耳。王勅 諸臣訪覓惡人。臣即行覓。見有
796 | 一 人坐地織罽。旁有弓箭。兼 有釣魚鉤。復以
797 | 毒飯食雀。並 織罽並 釣魚射鳥捕雀。臣還以
798 | 狀白王。惡人如是。王曰。此人極惡。必能辦地
799 | 獄事 。王遣人喚曰。王欲見汝。惡人曰。我是小
800 | 人無有識知。王用我為。曰王正欲得汝治
801 | 地獄事 。其人即歸。家有老母。語母曰。王喚
802 | 我。母語兒曰。王喚汝為。兒曰。王欲使我治地
803 | 獄事 。母曰。汝去我云 何 活。母即抱兒腳不放。
804 | 兒意欲去。即拔刀 斫母。殺而去至王所。王問
805 | 曰。母不放汝。何 由得來。曰殺母而來。王曰。
806 | 真惡人也。必能辦地獄事 。即委此人作地獄
807 | 城。設鑊湯劍 樹。即拜此人為地獄王。與立臣
808 | 佐 。各有所典 。如閻羅王。王約勅 曰。若有人入
809 | 此城者。不問貴賤得便 治罪。王曰。正使我入
810 | 中者亦莫聽出。時有老比丘。名曰善覺。常行
811 | 乞食。至此城門。外見好華香。謂內有人。即
812 | 便 入 城。但 見治罪人。驚怖欲還出。時獄卒不
813 | 聽出。欲將至鑊湯。道人求曰。小寬我。至日
814 | 中。又語頃。有男女二 人坐犯婬。將來欲治罪。
815 | 置碓臼中擣之 。斯須變成為沫。道人見之 。
816 | 始念佛語。人身如聚沫。誠哉斯言。又頃復變
817 | 為白色。復念人身如白灰聚。變易不一 。如幻
818 | 如化。諦計非真。即時意悟漏盡結解。獄卒復
819 | 催 入 鑊湯。時比丘笑。獄卒瞋恚。使四人俠
820 | 兩腋倒著鑊中。即時湯冷。比丘即化作千葉
821 | 蓮華。於蓮華中結加 趺坐。獄卒驚怪。白阿
822 | 育王曰。今獄中有奇怪事 。願王暫屈臨視。王
823 | 曰。我先有要。正使我入 中。亦不聽出。我今那
824 | 得入 耶。吏白王曰。但 入 無苦。王即隨入 。見
825 | 道人在蓮華上坐。問曰。汝是何 人也。曰我是
826 | 道人。道人語王。汝是癡人。王曰。何 以 名我為
827 | 癡人也。道人曰。汝本作童子時。以 一 把土上
828 | 佛。佛受呪願言。汝後當王閻浮提作鐵輪王
829 | 名阿育。一 日之 中當起八 萬四千佛圖。此獄
830 | 是佛圖耶。王意即悟。便 前 悔過。以 善覺為
831 | 師。於是罷獄興福。起八 萬四千圖廟。以 是言
832 | 之 。念身得涅槃。此其義也。
833 | 云 何 念死得至涅槃。昔阿育王奉法精進。常
834 | 供 養五 百眾僧 。於宮內四事 無乏 。兼 外給五
835 | 百乞食。阿練若復送五 百人餉。就供 養之 。
836 | 復於四城門中給諸窮乏 。供 養遂久 財寶轉
837 | 減。時弟名修 伽 妬路。不信 三尊。大臣耶舍。夫
838 | 人善容。亦同不信 。三人同心患王。數數諫
839 | 曰。供 養道士空竭國財。何 用是為。王曰。汝
840 | 好護口。夫士處世 。所以 斬身。由其惡言也。
841 | 修 伽 妬路白王曰。此諸道士並 是年少。餚膳
842 | 恣口情欲熾盛。而處深宮婦女之 間。豈可信
843 | 乎。王答曰。道士制 刑 以 法自防。節身守禁。
844 | 不為色欲所屈也。修 伽 妬路。後出行獵。見
845 | 有鹿群。中有一 人張圍捕之 得人。問曰。汝
846 | 是何 人。曰我年八 歲時失父母。迸在山中為
847 | 鹿所乳 。遂至于今。復問曰。鹿無乳 時何 所噉
848 | 食。曰我隨鹿噉草葉以 自濟命。又問曰。頗有
849 | 欲意不。曰有。遂便 將歸。以 狀白王曰。此敢
850 | 草人身形羸瘦。尚有欲情。況諸道士飲食恣
851 | 口身體肥盛。豈無欲情乎。王心念曰。當何 方
852 | 便 化此弟乎。即設權謀詐欲出遊。大集人兵 。
853 | 嚴政出外。王盜還入 隱而不現。王先與諸臣
854 | 議。若我出後便 舉為王。諸臣即勸 試著王服。
855 | 詐佯 不肯。諸臣曰。但 作我等當著。即著天冠
856 | 王服。咸稱萬歲。左右侍 立。如聖王法。阿育
857 | 王見其已定。便 從外來。曰何 如大王。弟見王
858 | 慚赧莫知所如。阿育王曰。我暫出遊。卿等
859 | 云 何 便 作此事 。我鐵輪不在那。何 乃如此縱
860 | 橫耶。我殺汝斯須間耳。即命諸臣。收撿桎
861 | 梏。蜜遣信 白道人。善念此意。當來救請。
862 | 正欲殺汝。念汝作王日淺未得恣意。今且假
863 | 汝七日作王。如我王法群臣侍 從。宮人妓
864 | 女。飲食進御。恣意七日當就極法。即如教施
865 | 行。雖滿七日無心自歡。道人來請。持鉢執
866 | 錫詣王宮門。王問曰。道人何 所欲也。曰欲
867 | 乞死人。王曰。此罪人應死。不得乞道人。道
868 | 人重曰。但 乞道人。當使學道。王曰。問此人能
869 | 學道不。道人即問。今乞汝作沙彌。能不。答
870 | 曰。正使作奴猶當不却。況復沙彌。王曰。作道
871 | 人難為審能不。道人法當麁衣惡食趣支形
872 | 命行道而已。汝串優 樂。何 能堪此苦行耶。
873 | 答曰。尚當死豈不堪苦行耶。王曰。若堪者
874 | 聽。使七日乞食。王令宮內。修 伽 妬路來乞時。
875 | 與極惡食餘殘穢臭者。即使著弊衣造諸房
876 | 乞食。處處皆得惡食。以 免死之 情重。甘心食
877 | 惡食。滿七日已。王見其無悔恨。即聽為道。汝
878 | 常言。道人閑樂多情難信 。汝所乞食故在我
879 | 宮內。猶尚精細。道人乞食又甚於此。所食如
880 | 是。豈可有情欲乎。即付善念為沙門。王遣
881 | 使至石室城。於彼城中行諸禪觀。或在塚間。
882 | 或在樹下。時在塚間觀死屍。夜見有餓鬼打
883 | 一 死屍。問曰。何 以 打此死屍耶。曰坐此屍
884 | 困我如是。是以 打之 耳。道人曰。何 以 不打
885 | 汝心。打此死屍。當復何 益也。須臾頃復有一
886 | 天。以 天文陀羅花散於死屍。道人復問曰。何
887 | 以 散此臭屍為。答曰。我由此屍得生天上。此
888 | 屍即是我之 善友。故來散華報往昔恩耳。道
889 | 人曰。何 以 不散華於汝心中。乃散此臭屍花
890 | 為。夫善惡之 本。皆心所為。汝等乃復捨本取
891 | 其末耶。時修 伽 妬路自念。我從死得活。由是
892 | 因緣當得解脫。於是觀身念死。思惟分別 解
893 | 了 無常苦空非身。即得羅漢。以 是言之 。念死
894 | 者亦至涅槃。

***

895 | QUYỂN 4
896 | 分別 功 德論卷第四
897 | 失譯人名附後漢錄
898 | 如來所以 廣為四部各各說第一 者。乃為
899 | 將來末世 遺法之 中。或有四姓外學梵志。及
900 | 四部弟子。共相是非。自稱為尊。餘人為卑。
901 | 如是之 輩不可稱計。故豫防於未然。故開自
902 | 足之 路耳。今稱拘隣為第一 者。以 其釋種豪
903 | 族。王簡遣侍 從勞 苦功 報。應敘是第一 。又復
904 | 初 化受法。無能先者。亦是第一 。善能勸 導將
905 | 養聖眾。先受善來之 稱。復是第一 。人中所
906 | 歸仰。遮加 越為最。光 明之 中日為最。星宿
907 | 中月為最。萬川中海為最。四天王中提頭賴
908 | 為最。三十三天中釋提桓為最。欲界六 天中
909 | 波旬以 為最。色界十八 天淨居以 為最。九十
910 | 六 部僧 釋僧 以 為最。九十六 種道佛道為上
911 | 最。拘隣比丘等五 人中為最。以 是言之 。拘隣
912 | 為第一 。
913 | 優 陀夷比丘勸 導以 為最。比丘皆勸 導所以
914 | 稱最者。佛將還度本國。先遣現神變。與王相
915 | 酬酢。一 一 解釋。人所度不可計。故稱勸 導最
916 | 也。摩訶曇比丘。利 根捷疾。餘比丘皆漏盡成
917 | 神通。此比丘漏未盡以 成神通。故稱第一 。
918 | 凡乘虛者皆以 神足。此比丘能行空如履地。
919 | 是善肘比丘之 所能也。故稱第一 也。
920 | 目連神足默往異剎。婆破比丘神足陵虛。聲
921 | 振遐邇。能攝伏外道。故稱第一 。
922 | 牛腳比丘者。以 二 事 不得居世 間。何 者。此比
923 | 丘腳似 牛甲。食飽則 呞。以 是二 事 不得居世 。
924 | 若外道梵志見其呞者。謂沙門食無時節。生
925 | 誹謗心。是以 佛遣上天。在善法講堂坐禪定
926 | 意。善覺比丘常為眾僧 。使至天上。佛涅槃後。
927 | 迦葉鳴揵椎。大集眾僧 。命阿那律。遍觀世
928 | 界誰不來者。阿那律即觀世 界盡來。唯有橋
929 | 洹比丘今在天上。即遣善覺命召使來。善覺
930 | 到 三十三天。見在善法講堂入 滅盡定。彈指
931 | 覺之 曰。世 尊涅槃已十四日。迦葉集眾。遣我
932 | 相命。可下世 間至眾集所。橋洹答曰。世 間
933 | 已空。我去何 為。不忍還世 。欲取涅槃。即以 衣
934 | 鉢付於善覺。還歸眾僧 。便 取涅槃。以 是因緣。
935 | 善處天上。故稱第一 。
936 | 善勝比丘者。本是貴族之 子。初 生之 時。有自
937 | 然金屣著足而生。父母珍之 。為起三時殿。
938 | 妓女娛樂不去左右。時婦睡眠。覩其白齒。
939 | 身形雖妙但 是骨耳。具 觀惡露森然毛竪。顧
940 | 視宮宅猶似 塚墓。驚走出戶。二 神迎接。問二
941 | 神曰。今者委厄誰能為救。二 神答曰。唯有
942 | 世 尊善能救厄。曰今為所在。答曰。近在祇
943 | 洹。可從啟請。尋光 至佛頭面禮足。佛因本心
944 | 為演妙法。即時心開漏盡結解。以 是因緣。善
945 | 勝比丘惡露觀第一 。
946 | 優 留毘迦葉所以 稱第一 者。乃宿世 以 來弟
947 | 兄 三人。常有千弟子相隨。今遇釋迦文佛世 。
948 | 佛以 十八 變度迦葉千人。佛眾得成。四事 供
949 | 養猶此而興。以 是言之 。優 留毘迦葉。能將護
950 | 聖眾供 養第一 也。
951 | 江迦葉所以 稱第一 者。佛為說法。一 心聽受。
952 | 精誼入 神。諸結消盡。德實內充 。乃徹骨髓。
953 | 故脂髓外流。狀似 汗出。以 是言之 。心意寂
954 | 然能降諸結。故稱第一 。
955 | 馬師比丘者。從佛受學。方經七日。便 備 威儀 。
956 | 將入 毘舍離乞食。於城門外遇優 波坻舍。
957 | 遙見馬師威儀 庠序法服整齊。中心欣悅。問
958 | 曰。君是何 等人。曰吾是沙門。曰君為自知為
959 | 有師宗耶。曰有師。師名為誰。云 何 說法。答
960 | 曰。吾師名釋迦文。天中之 天三界極尊。其所
961 | 教誨以 空無為主 。息心達本。故號沙門。優 波
962 | 坻舍聞此妙語。即達道迹。坻舍同學本有要
963 | 誓。先得甘露者。當相告示。即辭馬師至拘律
964 | 陀所。拘律陀見來顏色異常。疑獲甘露。尋
965 | 問得甘露那。曰得也。甘露云 何 。甘露者達
966 | 諸法空無也。拘律尋思復得道迹。馬師所以
967 | 威儀 第一 者。以 宿五 百世 為獼猴。今得為人
968 | 性猶躁擾。出家七日即改本轍。學雖初 淺善
969 | 宣尊教。使前 覩者悅顏達教。以 威儀 感悟故
970 | 稱第一 。身子所以 稱智慧第一 者。世 尊又云 。
971 | 欲知身子智慧多少者。以 須彌為硯子。四大
972 | 海水為書水。以 四天下竹木為筆。滿中人為
973 | 書師。欲寫身子智慧者。猶尚不能盡。況凡夫
974 | 五 通而能測量耶。故稱智慧為第一 。
975 | 目連所以 稱神足第一 者。世 尊亦說有證。昔
976 | 日三災流行。人民大飢。目連心念。此地下故
977 | 有曩日地肥在中。今人民大飢。意欲反此地
978 | 取下地肥以 供 民命。念已白佛。今欲以 四神
979 | 足。反地取下地肥以 濟民命。不審可爾以 不。
980 | 佛言。止止。目連。汝神足雖能反此無難。那中
981 | 眾生。可以 一 手執蟲一 手反地。佛言。不可。
982 | 所以 然者。後世 比丘多無神足。設後有飢時。
983 | 國王臣民命沙門反地。若不能者。謂非沙門。
984 | 以 是神足證故稱目連為第一 。
985 | 二 十億 耳比丘。所以 稱苦行第一 者。昔占波
986 | 國有大長者。生一 子。端正姝妙。足下生毛長
987 | 四寸。未曾躡地。所以 足下生毛者。昔迦葉佛
988 | 時。為大長者。財寶無極。為眾僧 起精舍講堂
989 | 訖。以 白[疊*毛]布地。令眾僧 蹈上。由是因緣故。
990 | 得足下生毛。所以 字二 十億 耳者。生時自然
991 | 耳中生寶珠。價 直二 十億 。即以 為稱。時瓶沙
992 | 王聞其奇異。欲與相見。故命令來。計道里十
993 | 五 日行乘車而來。將欲下車。輒布[疊*毛]在地。然
994 | 後行上。既到 王所。王命令坐。勞 問訖。聞能彈
995 | 琴。即命使彈之 。相娛樂訖。共至佛所。時佛
996 | 與大眾廣說妙法。見佛歡喜頭面禮足。佛命
997 | 令坐。聞法欣悅即求出家。佛然其出家之 志。
998 | 即為沙門。勇 猛精進經行不懈。肌肉細軟
999 | 足下傷 破。經行之 處血流成泥。積行遂久 漏
1000 | 猶未除。疲懈心生欲還白衣。我家錢財自恣。
1001 | 廣為福德且免三惡。佛知其念。忽然於前 從
1002 | 地踊出。問比丘曰。汝本彈琴時。急緩眾絃得
1003 | 成妙曲不。答曰。不成。若眾絃盡緩復得成不。
1004 | 答曰。不成。若不緩不急絃柱相應得成妙音
1005 | 不。答曰。得成。佛言。行亦如是。不急不緩處
1006 | 其中適。和調得所。乃可成道耳。思惟佛語。
1007 | 心豁開解。便 成羅漢。以 是因緣故稱苦行第
1008 | 一 也。
1009 | 阿那律所以 稱天眼第一 者。時佛為大會說
1010 | 法。阿那律在坐上睡眠。佛見其眠謂曰。今
1011 | 如來說法。汝何 以 眠耶。夫眠者心意閉塞與
1012 | 死何 異。那律慚愧剋 心自誓。從今以 後不敢
1013 | 復眠。不眠遂久 眼便 失明。所以 然者。凡有六
1014 | 食。眼有二 食。一 視色。二 睡眠。五 情亦各有二
1015 | 食。得食者六 根乃全 。以 眼失眠食故喪眼根。
1016 | 佛命耆域治之 。曰不眠不可治。已失肉眼無
1017 | 所復覩。五 百弟子各棄馳散。倩人貫針。捫
1018 | 摸補衣。線盡重貫。無人可倩。左右唱曰。誰欲
1019 | 求福者與我貫針。世 尊忽然。到 前 取來。吾與
1020 | 汝貫。問曰。是誰。曰我是佛也。佛已福足。復
1021 | 欲求福耶。曰福德可厭耶。那律思惟。佛尚求
1022 | 福。況於凡人耶。心中感結。馳向佛視。以 至心
1023 | 故忽得天眼。以 得天眼。復重思惟便 得羅漢。
1024 | 凡羅漢皆有三眼。肉眼天眼慧眼。那律正有
1025 | 二 眼。慧眼天眼也。三眼視者亂 肉天爭功 。精
1026 | 麁雜觀故曰亂 也。那律專用天眼。觀大千世
1027 | 界。精麁悉覩。別 形質中。有識無識。皆悉別
1028 | 知。天人所見。有淨不淨。極淨觀者。見世 界中
1029 | 諸有形類。有識無識。見皆動 搖。疑謂是蟲而
1030 | 非蟲也。不淨觀者。見飯粒動 皆謂是蟲。優 劣
1031 | 之 殊有自來矣。以 是言之 。天眼第一 。
1032 | 離越比丘坐禪入 定。所以 稱第一 者。昔波斯
1033 | 匿王。請令坐禪在一 樹下。時王請入 宮食。經
1034 | 歷六 年不他周旋。正欲移在他樹。樹神不聽。
1035 | 以 何 為驗。將欲移時。樹神便 散華供 養。以 是
1036 | 為驗。知其不聽。何 以 知其意無他念。時拘絺
1037 | 羅來至離越所曰。何 不坐好樹下。坐此枯樹
1038 | 為。答曰。名仁四辯第一 。能分別 法義及以 應
1039 | 辭。不審分別 枯樹。是何 辯中耶。自我坐此已
1040 | 向六 年。不別 生枯。仁者方至而便 分別 耶。
1041 | 王請入 宮日日供 養。使諸夫人各自當直。六
1042 | 年以 滿布施發遣。當達嚫時不識主 人字。王
1043 | 曰。六 年受請不識人名。何 定乃爾。答曰。我
1044 | 樹下坐。尚不知樹枯生。況識人字耶。供 養禪
1045 | 福其德至淳。隨王所願可至涅槃。福田之 良
1046 | 也。故稱樂禪第一 也。
1047 | 他羅婆摩比丘。勸 率施立齋講者。佛委僧
1048 | 事 。分部所宜。契經契經一 處。毘尼毘尼一
1049 | 處。大法大法一 處。坐禪坐禪一 處。高座高座
1050 | 一 處。乞食乞食一 處。教化教化一 處。隨事 部
1051 | 分各使相從。若有檀越來請者。以 次差遣不
1052 | 問高下。若有私請者。不聽在此例 。時檀越請
1053 | 盡。六 群比丘。次值貧家懷恨而還。向佛怨
1054 | 言。摩羅見欺。自受好處。見遣貧家。豈是平等
1055 | 耶。佛命摩羅。卿實爾耶。答曰。不也。于時無
1056 | 食。日欲差中。便 和牛屎飲以 當齋。聞六 群
1057 | 語。無以 自明。即於佛前 吐此糞漿。六 群慚
1058 | 愧。二 人感結漏盡。二 人還為白衣。二 人面孔
1059 | 出沸血。命終墮阿鼻也。齋講者。齋集部眾綜
1060 | 習所宜。善能勸 成故。稱第一 也。
1061 | 小陀羅婆者。主 立房室。興招提僧 。共成其功 。
1062 | 不復別 稱也。
1063 | 賴吒婆羅比丘。所以 稱豪貴者。是王者種。為
1064 | 人聰明博達。少好追學。聞佛出世 開化愚蒙。
1065 | 即詣祇洹精舍。聽採法言。聞教入 神。思欲
1066 | 出家。歸白父母。父母不聽。心自惟曰。一 切眾
1067 | 生盡是父母。豈獨二 人是耶。念已便 至佛所。
1068 | 求為沙門。佛問。父母聽不。曰不聽也。兄 為國
1069 | 王。復白王求為道。王亦不聽。心中思惟。要作
1070 | 方便 出家為道。父母正有一 子。不欲離目前
1071 | 斯須之 間。索一 獨榻坐父母前 。不飲不食經
1072 | 六 日。父母惶怖。懼殺其子。若殺此兒者。用此
1073 | 死兒為。聽當放之 為道。與兒要曰。今放汝為
1074 | 道。當數還歸。父母已許。便 至佛所。問曰。聽
1075 | 汝耶。曰已聽。佛便 命曰。善來比丘。手摩其頭
1076 | 鬚髮自落。如剃 鬚髮七日者。袈裟著身便 成
1077 | 沙門。為說四諦便 成羅漢。以 本要故。尋還歸
1078 | 家。著衣持鉢在門而立。時婢淘米。將欲棄
1079 | 泔。舒鉢索飲。婢舉頭視知是大家。便 入 白曰
1080 | 郎君在外。父母欣悅。審是兒者。放汝為良人。
1081 | 即出迎入 為設餚饍。曰日時已過。法不應食。
1082 | 父母曰。今日已爾。明日早來。即還所止。還
1083 | 去之 後父母約勅 諸婦。兒明當來。汝等好自
1084 | 莊嚴。汝容服飾各盡妙技。能使我兒還為
1085 | 白衣者。於汝大佳 。復勅 藏吏出諸珍寶。金銀
1086 | 七寶各各別 聚。冀 兒意動 還染於俗 。明日食
1087 | 時執鉢而還。就座而坐訖。諸婦婇女各設姿
1088 | 態。或散華香。或拂衣捻草。婆羅曰。諸妹何
1089 | 足煩勞 耶。諸婦念曰。持我等作妹者將無還
1090 | 理。語父母曰。用此寶物為。此但 誤人耳。
1091 | 由是致災禍。何 不棄之 於山澤耶。父母諫曰。
1092 | 道德在心何 必出家。質多長者。亦在家得道。
1093 | 曰未聞在家得漏盡者。質多所得。由有一 生
1094 | 分在。何 足為貴耶。雖復豪珍美玉棄之 若遣。
1095 | 故稱出家第一 也。
1096 | 迦旃延所以 稱善分別 義者。將欲撰法。心中
1097 | 惟曰。人間憒閙精思不專。故隱地中七日。
1098 | 撰集大法。已訖呈佛。稱曰。善哉。聖所印可。
1099 | 以 為一 藏。此義微妙。降伏外道故稱第一 。
1100 | 又復稱第一 者。世 尊至釋翅國。坐一 樹下執
1101 | 一 杖。釋種咸來觀佛。往棄我女相好勝前 。今
1102 | 意復云 何 。答曰。意者不著世 間不染於俗 。梵
1103 | 志曰。善哉。受解還去。後諸比丘不解此語。問
1104 | 迦旃延。佛稱仁者。辯才折理。解義第一 。世
1105 | 尊所答。梵志不染不著者。其義云 何 。時迦旃
1106 | 延即為解說。比丘當知。眼緣色起痛。緣痛
1107 | 起想。緣想來往。生識分別 起染著心。於此染
1108 | 著永已捨離。諸比丘聞說此語。意猶快然。
1109 | 迦旃延觀諸比丘意不了 。即引喻曰。有人於
1110 | 此。欲求牢固之 物。反捨根本而取枝葉。為
1111 | 得牢固不。曰不得也君等亦如是。佛近住
1112 | 此。而反見問。豈非捨本取其末耶。諸比丘即
1113 | 往問佛。稱迦旃延所解。如是不審理應爾不。
1114 | 佛答曰。如迦旃延所說。等無有異。以 是因緣
1115 | 復稱第一 。君頭波歎所以 稱行籌第一 者。凡
1116 | 籌者記錄人數知為誠實以 不。答誠實。受籌
1117 | 則 得其福。虛妄受者罪積彌大。漢言曰
1118 | 籌。天竺為舍羅。舍羅者亦名壞盡。福則 罪盡。
1119 | 罪則 福盡也。何 以 知其然耶。昔阿難邠坻女。
1120 | 外適尼揵國。問佛可爾不。佛言。宜知是時。
1121 | 往必有益。女既到 遙請世 尊。佛知其意即默
1122 | 然受請。勅 阿難曰。明當受釋摩男請。鳴揵
1123 | 集眾行神通。舍羅時上座。君頭未得神通。聞
1124 | 行籌請自鄙未得神通。顧惟形影在眾座首。
1125 | 由老野狐在紫金山。進退惟慮。正欲受籌不
1126 | 在通例 。正欲不受居為上座。八 歲沙彌尚得
1127 | 神通。積年之 功 而無所獲。計惟如此。何 用
1128 | 存為。感結受籌。還授之 間霍然漏盡。若以
1129 | 虛妄受籌者。人身有九十萬毛孔。以 此為數。
1130 | 不得受如此之 數人身也。若以 精誠受者。即
1131 | 可得漏盡之 證。以 此上座可為明證。所以 復
1132 | 為上座者。以 善能說法適可眾人。眾所推舉
1133 | 故為上座。以 是因緣故。稱上座受籌第
1134 | 一 。
1135 | 所以 稱賓頭盧能降伏外道者。毘舍離城中。
1136 | 有質多長者。每患六 師貢高自大言。瞿曇沙
1137 | 門。自稱為尊。當與其捔技。若彼現一 我當現
1138 | 二 。如是轉倍至三十二 。時長者普請內外僧
1139 | 供 養訖。立大幢高四丈 九尺。置栴檀鉢於
1140 | 上。唱言。其能引手取此鉢者。便 得第一 。時賓
1141 | 頭盧心自念曰。今當現神足令六 師等默然
1142 | 降伏。又念曰。世 尊常誡諸弟子。不得現神
1143 | 足。若今不現者。懼彼永以 得罪。若現者懼違
1144 | 尊教。俛仰不已。便 現神足。伸 手取此旃檀鉢。
1145 | 昇在虛空。繞城七匝。還在座上。謂諸梵志
1146 | 曰。卿等復現其二 也。六 師默然。時大鬼將
1147 | 軍名曰半師。謂六 師曰。促 現其二 。時六 師
1148 | 徒眾莫知所湊。以 是言之 。知賓頭盧降伏外
1149 | 道最為第一 也。所以 稱讖比丘瞻病為第一
1150 | 者。時祇陀精舍有一 比丘。病疾困篤。久 寢
1151 | 床褥。脊下蟲出。呻號終日。佛與諸比丘按行
1152 | 房舍。見此比丘困篤如是。問曰。有人瞻視汝
1153 | 不。曰無也。又問曰汝先時頗瞻視他病不。答
1154 | 曰。不也。佛言。汝不視他病。云 何 欲望人看
1155 | 也。於是如來襞僧 伽 梨。自手摩捫。為其湔
1156 | 浣。時天帝釋亦來佐 助 。世 尊瞻視病人。於是
1157 | 病比丘蒙世 尊恩。即得除愈。佛告諸比丘。自
1158 | 今已後。若有病者。當相瞻視。時世 尊顧謂
1159 | 諸比丘。誰能常瞻視病者。唯有讖比丘耳。
1160 | 讖比丘常以 五 事 瞻視病者。云 何 為五 。分別
1161 | 良藥。亦不懈怠先起後。臥。恒憙言談少於睡
1162 | 眠。以 法供 養不貪飲食。堪任與病人說法。是
1163 | 謂讖比丘以 此五 法瞻視病人。未曾有不
1164 | 差者。所以 者何 。此比丘乃前 世 時。曾五 百
1165 | 世 為醫善解方藥。聽聲察色知病根源。兼 以
1166 | 四事 瞻養病者。以 是因緣。稱讖比丘瞻病
1167 | 第一 也。所以 稱朋耆奢比丘能造偈頌者。此
1168 | 比丘前 為長者子時。為人天才聰朗觸物讚
1169 | 頌。時出行遊。遇一 技家女。形容端正世 之 希
1170 | 有。覩之 情欣便 欲納之 。歸白父母。啟以 前
1171 | 見。願父母為我娉索不。父母不悅。卿族姓子。
1172 | 如何 改趣毀先人風。其子意猛。復重啟曰。
1173 | 若不為我納者。不能存世 。父母見子言。重不
1174 | 忍呵制 。便 言。隨汝非我所知。即自遣人與女
1175 | 家相聞。女家是技種唯技為先。便 荅來使曰。
1176 | 不貪君財。唯能眾技兼 備 者。便 持相與。朋
1177 | 耆聞之 。即詣技工學於諸技。不經數旬眾技
1178 | 兼 備 。復重遣信 。所學已備 便 可相惠。主 人
1179 | 答曰。若伎 備 者當詣王試。時在正節。王集
1180 | 眾技普試藝術。若最勝者賜金千兩。王亦聞
1181 | 此女妙。欲納之 宮裏。試之 技法緣幢為最。
1182 | 竪幢高四丈 九尺。下置刀 劍 。刃 皆上向。間
1183 | 趣容足。時朋耆緣幢於上空旋七匝便 下投
1184 | 之 空地。王懼失女。詐佯 不視。人皆言妙。王
1185 | 言。不見。若審妙者更復為之 。朋耆念曰。若不
1186 | 順王教者。必失此女。規一 果情。朋耆冒死
1187 | 復緣既至幢頭。顧視女面。心自惟曰。何 坐
1188 | 此人乃至斯困。心懼形慄恐不自全 。女人虛
1189 | 妄何 用此為。佛知此人。必可濟度。若不救者
1190 | 當墮三塗。告目連曰。汝以 神足救彼危厄。
1191 | 目連奉教即往現變。於虛空中結加 趺坐。復
1192 | 於幢下現七寶階。餘人不見朋耆獨覩。徐於
1193 | 梯間七匝而下。神力 所接內安外危。王與眾
1194 | 人甚為奇異。王手自牽女以 付朋耆。朋耆曰。
1195 | 不用此虛詐之 物。誑惑世 人迷誤清直。亡國
1196 | 破家莫不由之 。即尋目連往詣世 尊。世 尊告
1197 | 曰。善來比丘。便 成沙門。為說四諦。即得應
1198 | 真。喜情發中而形於言。便 作頌偈。讚於世 尊。
1199 |  清淨十五 日  五 百比丘集
1200 |  已斷諸結使  仙 人不受習
1201 |  猶如轉輪王  群臣普圍遶
1202 |  四海及與地  所典 無有表
1203 |  降伏人如是  導師無有上
1204 |  將護諸聲聞  三明壞結性
1205 |  一 切世 尊子  無有塵垢穢
1206 |  已破愛欲網  今禮星中月
1207 | 以 是因緣。稱朋耆奢能造偈頌讚如來德為
1208 | 最第一 。
1209 | 所以 稱拘絺羅為四辯第一 者。凡聲聞四辯
1210 | 不必具 足。或有法辯而無義辯。或有義辯而
1211 | 無法辯。或有應辯而無辭辯。或有辭辯而無
1212 | 應辯。拘絺羅盡具 此四辯。舍利 弗迦旃延亦
1213 | 有四辯。所以 不稱為最者。身子自以 智慧為
1214 | 主 。迦旃延自以 撰集為主 。故各不稱四辯
1215 | 耳。雖復四辯亦不及拘絺羅。拘絺羅但 辯一
1216 | 句之 義。七日不盡況復四辯。豈可計量乎。以
1217 | 此事 故為四辯第一 。
1218 | 所以 稱難提比丘乞食第一 者。餘比丘雖復
1219 | 乞食。或不具 戒。或有貪心。或左右顧視。心不
1220 | 專一 。或避寒暑。然此比丘當乞食時。都無此
1221 | 事 。乞食既精。施者福多。今故引喻。以 況大
1222 | 小。有人問射法。一 人射百步玄毛。一 人射
1223 | 地塵出。何 者為難。答曰。玄毛為難。雖射而
1224 | 不著地。此不足言也。若施乞食。若施眾僧 。何
1225 | 者為大施真阿練。喻中玄毛施不得真。喻其
1226 | 射空。其事 雖難有得有失。箭著地者。喻施眾
1227 | 僧 。射毛雖精有失者多。射地雖易未曾失地。
1228 | 福田地厚故無增減。阿練精麁故有得失。難
1229 | 提得精故稱第一 也。
1230 | 所以 稱施羅一 坐一 食者。此謂頭陀一 行也。
1231 | 夫阿練法。或乞食。或坐樹下。或閑居獨處。
1232 | 今此一 坐一 食者。從早起至日中。若檀越施
1233 | 食。不問多少。其於一 處坐食而已。若食未飽
1234 | 坐未移者。可得更食。若已起者不得復食。常
1235 | 一 處食而不捨離。故稱施羅為第一 。所以 言
1236 | 金毘羅比丘者。常行七家乞食。不得過七。所
1237 | 以 然者。立誓限七故也。乞食時欲福度眾
1238 | 生。專心念道無有貪想。若得好惡不以 增減。
1239 | 隨次乞食不擇貧富。若一 家二 家得食時。更
1240 | 有布施者。足則 止。不足便 受。若至七家不得
1241 | 食者。便 還所止思惟行道。不念明日當至某
1242 | 家不至某家。都無分別 之 想。故名七家沙門
1243 | 也。還則 靜坐斂心在道。故稱金毘羅於七家
1244 | 乞食為第一 也。
1245 | 堅牢比丘者。以 常居山澤閑靜之 處為行。難
1246 | 提比丘。常以 乞食耐辱為行。金毘羅比丘。以
1247 | 七家乞食為行。施羅以 一 處食為行。十二 頭
1248 | 陀各居一 行。浮彌比丘者。守持三衣不離食
1249 | 息。或曰。造三衣者。以 三轉法輪故。或云 為三
1250 | 世 。或云 為三時故。故設三衣。冬則 著重者。夏
1251 | 則 著輕者。春秋著中者。為是三時故。便 具 三
1252 | 衣。重者五 條。中者為七條。薄者十五 條。若大
1253 | 寒時。重著三衣可以 障之 。或曰。亦為蚊虻蟆
1254 | 子故設三衣。以 是緣故常持不忘。故云 第一 。
1255 | 所以 稱婆差比丘者。本在家時常以 家為患。
1256 | 出家求道常在露坐。若入 房室常苦氣閉。如
1257 | 似 掩口。是以 常求露坐思惟行道。然後身體
1258 | 調和氣息通暢。行道無閡。以 是因緣。稱婆
1259 | 差露坐第一 。
1260 | 所以 稱狐疑離越常處樹下者。在凡夫地。欲
1261 | 求禪定。處在樹下。依倚計意。以 除縛結。餘
1262 | 比丘亦在樹下坐禪。所以 不稱者。以 其不能
1263 | 一 聞而自專思。此比丘一 聞佛教。即能履行
1264 | 專意不捨。六 年盡結。前 離越者。樂遊禪定。行
1265 | 止不異。樂習事 殊故各稱第一 。
1266 | 所以 稱陀多索比丘樂空者。此比丘入 屋解
1267 | 內空。出屋解外空。內空喻識。外空喻身。入 屋
1268 | 達識空。出屋解身空。已了 內外空。諸法亦如
1269 | 是。此比丘聞說空教戢在心懷。入 屋見空即
1270 | 達身識。餘比丘者。結盡然後達空。空心難獲。
1271 | 貴其先得故稱第一 。
1272 | 所以 稱尼婆比丘五 納為上者。此比丘觀身
1273 | 穢漏三十六 物。無可貪貴。厭賤此身故。以 賤
1274 | 物自障。或說曰。夫衣有可親近者不可親近
1275 | 者。何 者可親近。著惡衣令人羞慚自愧。是
1276 | 可親近。著好衣令人自大奇雅。是不可親
1277 | 近。弊衣助 行。是以 著五 納。此比丘善能內外
1278 | 相況故稱第一 。
1279 | 所以 稱優 多羅比丘常樂塚間者。此比丘阿
1280 | 難弟子也。先師得道心自念曰。此身流轉無
1281 | 處不更。在天上時服御自然。今以 捨棄。若
1282 | 在人中為轉輪王。七寶導從。亦復過去。或在
1283 | 畜生恒食草棘。此亦過去若在餓鬼融銅為
1284 | 食。或在地獄。刀 劍 為對。諸此罪形。皆以 過
1285 | 去。今得人身。齊此分畢。古今所貴。皆是棄
1286 | 物幻危之 形。無一 可貪。俱 當棄捐。便 止塚
1287 | 間。復念曰。正欲在樹下山澤。皆生民所貪。唯
1288 | 有塚間人所不樂。是以 居之 。塚間所樂唯有
1289 | 鬼耳。兼 有狐狼烏鵄之 屬。今當入 慈三昧以
1290 | 濟彼類。以 是故復居塚間。以 是因緣常樂塚
1291 | 間不處人中。故稱第一 。
1292 | 所以 稱盧醯寗比丘恒坐草蓐第一 者。此比
1293 | 丘常坐草蓐除去愛心云 何 除愛。雖復金床
1294 | 玉机。都無愛著。或復說曰。若有人施妙座
1295 | 者。亦如施草座無異。愛心既盡諸結亦盡。便
1296 | 手執草向草作禮。有人問曰。何 以 向草作禮。
1297 | 答曰。我因此草榮飾心盡。得道由之 即是我
1298 | 師。故向作禮耳。五 百獼猴得生天上。亦以
1299 | 天文陀羅花散於故屍。由屍生天。故來散華。
1300 | 夫貴者必以 賤為本。以 是因緣稱坐草蓐為
1301 | 第一 。
1302 | 所以 稱優 鉗摩比丘不與人語視地而行第一
1303 | 者。此比丘常患口過。將欲改之 。自思惟曰。正
1304 | 坐此口。生天人中三塗。地獄啾吟喚呼。因
1305 | 備 五 道更苦無量。我今當如慕魄太子結誓
1306 | 不言。四過三殃何 由而生。既便 不言端視而
1307 | 行。佛奇其能。爾每向諸比丘稱美其德。語
1308 | 阿難曰。如此比丘。宜存識錄。以 率來薄。以 是
1309 | 因緣稱之 第一 。
1310 | 所以 稱一 心比丘三昧第一 者。此比丘昔曾
1311 | 習定。研麁至。精今定功 既立。行若遊塵。坐
1312 | 而忘想。忘想理足。其喻如何 。猶如有人食
1313 | 百味食。意以 飽滿更無食想。雖復行步進止
1314 | 蓋感。而後應白而後動 耳。依定立字。故曰
1315 | 坐起行步入 三昧第一 也。
1316 | 所以 稱曇摩留支好遠遊第一 者。其事 有由。
1317 | 佛在世 時有一 長者。字曇摩留支。來至佛所。
1318 | 禮訖問訊佛言。曇摩留支別 來大久 。乃能相
1319 | 見。有人問佛。不審。何 以 言別 來大久 。世 尊答
1320 | 曰。汝欲知之 耶。答曰。欲知。佛言。我昔阿僧
1321 | 祇劫 時。世 有一 佛。名曰定光 。我時為梵志。
1322 | 字曰超述。時定光 佛方欲入 城。我即中路
1323 | 相逢。見佛光 相暉布。即嘆曰。世 尊光 相明踰
1324 | 日月。世 尊德者乃隆二 儀 。世 尊心者仁過慈
1325 | 母。顧惟形影無以 供 之 。今正是時。福田良美
1326 | 可以 殖根。見地少泥恐污佛足。即解髮布泥
1327 | 上。令佛蹈而過。佛即記曰。汝勇 猛乃爾。却
1328 | 後阿僧 祇劫 。汝當作佛字釋迦文。時邊亦有
1329 | 一 梵志。却起恚心曰。此人與畜生無異。乃
1330 | 蹈他頭髮上過去也。從是以 來阿僧 祇劫 常
1331 | 墮畜生中。復在大海中為魔竭魚。身長七千
1332 | 由延時有五 百賈客。乘船入 海採寶。值此大
1333 | 魚[榻-木+口]船。垂欲入 口。五 百人惶怖各稱所事 。時
1334 | 賈客主 語眾人言。今世 有佛名釋迦文。濟人
1335 | 危厄無復是過。我等稱名冀 蒙得脫。即便 齊
1336 | 聲稱喚。魚聞佛名。本識由存。即自惟曰。釋
1337 | 迦文佛已出世 間。我身云 何 故在魚中。即還
1338 | 沒水。五 百賈客安隱而歸。時魚即半身出沙
1339 | 壇上。不飲不食經二 七日。命終生長者家作
1340 | 子。字曇摩留支。今方來得與吾相見。是以 稱
1341 | 之 久 遠耳。留支聞此。本末。即向海邊求故
1342 | 屍。見海邊有大魚骨皮肉已盡。便 行脇骨上。
1343 | 思惟言。此是我故屍。即以 華散故屍上。尋
1344 | 惟既往忽然道成。以 是因緣稱遠遊第一
1345 | 也。
1346 | 所以 稱迦渠比丘集眾說法第一 者。此比丘
1347 | 音辭朗達。聲震遐邇。其聞音聲。集眾無數。
1348 | 即為演說法奧美之 業。諸人當知。如來出世
1349 | 難可值遇。四諦甘露亦難得聞。諸人曼時。當
1350 | 思惟真諦。除去十二 牽連之 縛。可得涅槃。此
1351 | 比丘恒助 佛揚化。常以 此教未墜於地。以 是
1352 | 因緣稱集眾說法音聲第一 也。
1353 | 所以 稱婆拘羅壽命極長者。以 曩昔曾供
1354 | 養六 萬佛。於諸佛所常行慈心。蜎飛蠕動
1355 | 有形命類。恒加 慈愍。無有毫釐殺害之 想。由
1356 | 是慈福今獲其報。佛告阿難。如我今日。皮身
1357 | 清淨無過於我。猶如蓮華不著泥水。正壽八
1358 | 十。不如婆拘羅壽百六 十者。如來隨世 欲適
1359 | 眾生。不現其異故壽八 十。婆拘羅者受前 宿
1360 | 世 慈心之 福。故得年壽加 倍之 報。或問。但
1361 | 以 慈心便 獲如此之 壽耶。復更有。餘乎。曰有。
1362 | 昔毘婆尸如來出世 。時有十六 萬八 千比丘。
1363 | 遊行教化。時有長者。居明貞修 。稟性良謙不
1364 | 好飲酒。時歲節會少相勸 勉 。薄飲少多。輒以
1365 | 酒勢 行詣世 尊禮拜問訊訖。便 請佛及諸弟
1366 | 子。願受我九十日請。比丘疾病者。皆詣我
1367 | 家而取醫藥。所須之 物皆來取之 。語訖還家
1368 | 約勅 家內曰。我已請佛及諸弟子。四事 供
1369 | 養皆當辦具 。約勅 竟。便 睡眠。眠久 還覺。其
1370 | 婦白曰。君先約勅 嚴辦供 具 。而今默然所以
1371 | 得爾。長者驚曰。我向何 所言說耶。婦曰。君未
1372 | 眠時無所說耶。曰我不省有所說。婦曰。君先
1373 | 言。我已請佛及諸弟子。供 九十日所須短乏 。
1374 | 不作是語耶。長者思惟曰。酒之 誤人乃至於
1375 | 斯已爾。慚愧便 當即請。明日清旦於舍燒香。
1376 | 遙請世 尊。有一 比丘來索藥。長者問曰。何 所
1377 | 患苦。答曰。患頭痛。長者曰。此必膈上有水
1378 | 仰攻其頭。是以 頭痛耳。即施一 呵梨勒 果。
1379 | 但 服此藥足消此患。比丘服藥病即除愈。緣
1380 | 是福報。九十一 劫 未曾病患。生長者家至年
1381 | 八 十。出家學道經八 十年。道俗 之 紀合百六
1382 | 十。在家時曾捔牛。斯須頭痛尋即除愈。自
1383 | 爾常無疾患。以 是之 故。婆拘羅長壽第一 。
1384 | 於百年壽中而加 六 十者。此人五 濁壽命。最
1385 | 為奇特。其喻於臭穢之 中而生蓮花也。阿難
1386 | 問婆拘羅。何 以 不為人說法耶。為無四辯。為
1387 | 乏 智慧。而不說法乎。答曰。我於四辯捷疾之
1388 | 智。非為不足。直自樂靜不喜憒閙。故不說法
1389 | 耳。難曰。婆拘羅長壽者。何 以 不生三方耶。
1390 | 答曰。諸佛所以 不生者。以 其土人難化故。此
1391 | 土眾生利 根捷疾。極惡勇 猛取道不難。是故
1392 | 往古諸佛皆生此中。婆拘羅應在此成道。故
1393 | 不生三方耳。
1394 | 所以 稱滿願子說法第一 者。有三事 得稱第
1395 | 一 餘比丘亦說法。無有三事 可記。故不言第
1396 | 一 。滿願子說法時。先以 辯才唱發妙音。使眾
1397 | 座歡喜僉 然傾 仰。次以 苦楚之 言責切其心。
1398 | 使令內腐肅悚興難遭之 想。終以 明慧空無
1399 | 之 教。聞者結解使恬智交養。世 尊演法初
1400 | 中竟善。滿願子亦然。三事 俱 善。自捨如來莫
1401 | 能先者。身子自誓。從旦至中。要度一 人令至
1402 | 道迹。目連比丘亦誓度人。於四向之 中課進
1403 | 一 階。然後乃食。其餘比丘皆亦度人。比滿願
1404 | 子百不當一 。滿願子從成道至涅槃。度九萬
1405 | 九千人。於聲聞之 中度人最多。故稱說法第
1406 | 一 也。
1407 | 所以 稱優 波離持律第一 者。昔佛還本國。受
1408 | 父王請。所從比丘雖復心精。無表容貌。時王
1409 | 欲勸 釋種豪族子弟出家為比丘侍 從世 尊。
1410 | 即宣令諸釋。其有兄 弟二 人者。皆當一 人出
1411 | 家為道。若不從令者當重罰之 。時有一 釋種
1412 | 子。名曰面王。釋中最長。次應先下髮。時佛命
1413 | 優 波離。為其剃 頭。重告曰。此諸釋種憍樂
1414 | 體軟。汝好徐徐輕手與剃 。優 波離即輕手
1415 | 復太輕不著。時優 波離復反刀 刃 。以 脊用之 。
1416 | 佛言。不可復用刀 腹。亦曰。不可即以 刀 從頂
1417 | 上剃 泯然除盡。五 百釋子皆悉如是。佛命優
1418 | 波離曰。善來比丘。即成沙門。佛即授戒得
1419 | 阿羅漢。次授五 百釋子戒。優 波離為上座。以
1420 | 手摩五 百人頭為弟子。受戒訖。次當禮優 波
1421 | 離。諸釋先素憍豪。不能下屈。加 復是己之
1422 | 子弟。各言。此是我家僕 何 緣禮之 。佛言。不
1423 | 爾。法無貴賤。先達為兄 。後者為弟。俛仰不
1424 | 已。制 意為禮。即時天地大動 。諸天於上讚曰。
1425 | 善哉善哉。今日諸釋降伏貢高。此意難勝
1426 | 故地為動 耳。當五 百釋為道時。亦有九萬九
1427 | 千人出家為道。優 波離自從佛受戒已來。未
1428 | 曾犯如毫釐。以 是因緣故稱第一 。但 以 是更
1429 | 有餘事 耶。祇園精舍北有一 比丘。得病經六
1430 | 年不差。時優 波離往問比丘。何 所患苦。若
1431 | 所須者便 道。曰我所須者不可說。又問曰。汝
1432 | 欲須何 物。若此無者當從四方求之 。若世 間
1433 | 無者上天求之 。曰我所須者舍衛城中有。以
1434 | 違佛教故不可說耳。曰但 說無苦。曰我唯
1435 | 思酒耳。得五 升酒者病便 愈。優 波離曰。且
1436 | 住 。我為汝問佛。還即問佛。比丘病須酒為藥。
1437 | 不審。可得飲不。世 尊曰。我所制 法。除病者
1438 | 優 波離即還索酒與病即愈。重與說法得羅
1439 | 漢道。佛讚優 波離。汝乃問如來此事 。使病比
1440 | 丘得蒙除差。又使得道。此比丘若不得度
1441 | 者。後當墮三塗作識無有出期。汝乃為將來
1442 | 比丘說禁法。使知輕重得濟危厄。汝真能持
1443 | 律。以 律藏付汝。勿 令漏失。此藏諸藏之 中。最
1444 | 在其內不可示沙彌及以 白衣。以 是緣故復
1445 | 稱為第一 也。
1446 | 所以 稱婆迦利 比丘得信 解脫者。此比丘久
1447 | 病著床。乃經六 年。諸瞻視者皆悉捨去。比丘
1448 | 自念。疾病經久 。瞻視疲倦甚可患厭。又復如
1449 | 來不見垂愍。且當自害以 除患苦。即便 索刀
1450 | 向刀 說曰。但 當殺我亦當斷結耶。說訖以
1451 | 刀 自刎 。正至咽半已得漏盡。比至頭斷以 取
1452 | 涅槃于時大地震動 乃感波旬。波旬念曰。此
1453 | 何 瑞應乃爾震動 。即以 天眼觀見比丘自殘。
1454 | 其形神為所趣。遍觀諸天不見其神。復觀人
1455 | 中亦不見之 。復觀三惡道中。亦復不見。時佛
1456 | 將諸比丘欲耶旬之 。見屍火起。此波旬放火
1457 | 覓比丘神。都不知所在。所以 覓者。欲知進
1458 | 趣壞令不成。諸比丘便 耶旬之 。佛歎此比丘
1459 | 得信 解脫。或曰。夫至信 者委命自然。尚不執
1460 | 杖何 以 自防況復自害耶。答曰。信 所以 執
1461 | 刀 者。以 刀 為慧劍 。欲擬斷諸結。身即結本。根
1462 | 辟則 支從。身斷則 結除。是以 執刀 者。不為
1463 | 妨閡也。執信 刀 斷疑樹故。下句云 。意無猶
1464 | 豫。從信 解脫至無疑解脫者。即轉鈍為利 也。
1465 | 以 是義故。稱信 解脫為第一 也。

***

1466 | QUYỂN 5
1467 | 分別 功 德論卷第五
1468 | 失譯人名附後漢錄
1469 | 所以 稱難陀比丘端政第一 者。諸比丘各
1470 | 各有相。身子有七。目連有五 。阿難有二 十。獨
1471 | 難陀有三十相。難陀金色。阿難銀色。衣服光
1472 | 曜金鏤履屣。執琉璃鉢入 城乞食。其有見
1473 | 者無不欣悅。自捨如來。餘諸弟子無能及者。
1474 | 故稱端政第一 。亦云 諸根寂靜者。佛將諸弟
1475 | 子至毘舍離柰女精舍。時難陀在外經行。柰
1476 | 女聞佛來心中欣悅。欲設微供 即行請佛。於
1477 | 外見難陀經行。愛樂情深。接足為禮以 手摩
1478 | 足。雖覩美姿寂無情想。形形相感便 失不淨。
1479 | 甘味潤體。體滿則 盈。不淨之 溢豈由心哉。柰
1480 | 女不達疑有欲想。佛知其意。告柰女曰。勿 生
1481 | 疑心。難陀却後七日當得羅漢。以 是言之 。知
1482 | 心不變易也。所以 稱婆陀比丘解人疑滯者。
1483 | 三世 諸佛。皆共八 萬四千。以 為行法。眾生得
1484 | 道不必遍行。眾行隨其所寤處以 為宗。何 者
1485 | 眾生結使不同。病有多少。垢有厚薄。是故如
1486 | 來設教若干。或有一 藥治眾病。或有眾藥治
1487 | 一 病。猶六 度相統。一 行為主 眾行悉從。一 行
1488 | 者不專常名隨病所起對藥應之 。若計常起
1489 | 以 無常對之 。若計有心起以 空心對之 。當其
1490 | 無常領行。萬行皆無常也。猶施造八 萬。八 萬
1491 | 皆為施。所謂略說者也。猶如來八 音中。一 音
1492 | 統八 響。一 響統百教。一 教統百義。一 一 相
1493 | 領至千萬億 。一 音報萬億 。其變如是。略說
1494 | 統行。其喻亦爾。此比丘專以 略說為主 。故
1495 | 稱第一 也。所以 稱斯尼比丘能廣說法者。此
1496 | 比丘三十年。在凡夫地中。廣為人說法分別
1497 | 義理。云 何 廣說。或因一 行而長眾行。支流
1498 | 繁衍乃至無數。猶病有相因而生。是以 設
1499 | 藥相從而成。此比丘專以 剖判 為主 。不以 斷
1500 | 漏為先。是以 乃經三十年。方取道證。寂默忘
1501 | 言乃遺前 蹤。錄其本績故。稱廣說第一 也。
1502 | 所以 稱天須菩提著好衣第一 者。五 百弟子
1503 | 中。有兩須菩提。一 王者種。一 長者種。天須菩
1504 | 提出王者種。所以 言天者。五 百世 中常上生
1505 | 化應聲天。下生王者家。食福自然未曾匱乏 。
1506 | 佛還本國時。真淨王勸 五 百釋種子。出家學
1507 | 道侍 從世 尊。此比丘在其例 出家。時佛約勅
1508 | 諸比丘。夫為道者皆當約身守節。麁衣惡食
1509 | 草蓐為床。以 大小便 為藥。此比丘聞佛切
1510 | 教。心自思惟。吾生豪貴衣食自然。宮殿屋
1511 | 舍雕文刻鏤。金銀床榻七寶食器。身著金縷
1512 | 織成服飾。足履金薄妙屣。然則 猶不盡吾意。
1513 | 況當著五 納服耶。且當還家適我本意。念已
1514 | 欲還。時佛在舍衛精舍。受波斯匿王請。即往
1515 | 詣佛所辭退而還。時阿難語曰。君且住 一 宿。
1516 | 須菩提曰。道人屋舍床榻座席如何 可止。且
1517 | 至白衣家寄止一 宿。明當還歸。阿難曰。但 住 。
1518 | 今當嚴辦供 具 。即往至王所。種種坐具 幡蓋
1519 | 華香。及四燈油事 事 嚴飾。皆備 具 足。此比丘
1520 | 便 於中止宿。以 適本心意便 得定。思惟四諦
1521 | 至於後夜即得羅漢。便 飛騰虛空。阿難心念。
1522 | 此比丘儻 捨屋去。所借王物恐人持去。便 往
1523 | 看之 屋內不見。仰視空中見飛在上。阿難白
1524 | 佛。天須菩提已得羅漢。今飛在虛空。佛語阿
1525 | 難。夫衣有二 種。有可親近。有不可親近。何 者
1526 | 可親近。著好衣時益道心。此可親近。著好衣
1527 | 時損道心者。此不可親近也。是故阿難。或從
1528 | 好衣得道。或從五 納弊惡而得道者。所寤
1529 | 在心。不拘形服也。以 是言之 。天須菩提著好
1530 | 衣第一 也。所以 稱難陀迦比丘教授第一 者。
1531 | 舍利 弗亦教授。普教授四部弟子。從旦至中。
1532 | 要使一 人至於道迹。此比丘者專教授比丘。
1533 | 使得羅漢。譬如善射之 人。以 一 發箭射於彼
1534 | 賊。即中要處便 使不起。喻此比丘善誨要慧。
1535 | 聞者結除徑至無為。不善射者。雖用多箭正
1536 | 可一 發。喻於身子雖廣演慧終成一 階。優 劣
1537 | 之 殊格然易見。故言教授後學最為第一 也。
1538 | 須摩那比丘所以 善誨比丘尼僧 者。此比丘
1539 | 常以 苦切之 言。誡勅 諸尼僧 。夫女人者多諸
1540 | 情態。姿媚綺飾幻惑世 人。身形穢漏九孔不
1541 | 淨。三十六 物無一 可貪也。所以 名須摩那者。
1542 | 即華名也。以 其生時耳上自然有此華。即以
1543 | 華為稱。時頻婆娑羅王來至佛所。見此比丘
1544 | 耳上有華。怪而問佛。比丘法得著華耶。佛
1545 | 告王曰。王自挽却。時王即以 手捻去。續生
1546 | 如故。如是不止。遂成華聚。王怪益甚。問其
1547 | 所由。佛告王曰。乃昔毘婆尸如來出世 時。此
1548 | 比丘為長者子。時歲節會共彈琴作倡戲訖。
1549 | 便 至佛所。此長者見佛喜悅。即以 耳上華。舉
1550 | 著佛耳上。佛即以 神足化此花。於虛空中變
1551 | 為四柱臺。耳上如故。長者見變即發誓願。願
1552 | 使將來世 世 值佛。所生端政耳上生花。以 昔
1553 | 福願今獲其報。王聞所說心即開解。前 禮佛
1554 | 足辭退還宮。所以 善誨比丘尼者。比丘尼等
1555 | 本是多情。人見比丘。端政兼 耳上有花。心
1556 | 猶愛樂。緣此愛情誨約切教。由是苦言愛著
1557 | 即解。是故言善誨禁誡比丘尼僧 最為第一
1558 | 也。所以 稱尸婆羅比丘福德第一 者。尸婆羅
1559 | 初 生時。手把無價 摩尼珠出。墮地便 言。世 間
1560 | 頗有金銀七寶可持布施不。我今欲大布施。
1561 | 作是言已。父母諸家皆大驚懼棄捨而走。或
1562 | 呼是羅剎鬼。或謂天神。夫小兒生要須日月
1563 | 滿足乃當言。今墮地便 言。是大可怪。母情不
1564 | 然。復還看之 。語母曰。莫懼。我非鬼。我正是
1565 | 母兒耳。其父月光 曰。今當抱兒至尼揵子
1566 | 所問其吉凶 。即與婦抱兒至尼揵所。以 狀白
1567 | 師。師曰。此兒無福。後當致禍。長者曰。兒手
1568 | 中有摩尼珠。何 以 言無福耶。尼揵曰。至年八
1569 | 歲時。汝家財寶盡。當在此兒手中消滅[歹*斯]。由
1570 | 是皆當餓死。長者懼怖深惟疑惑。聞世 有大
1571 | 沙門。儻 能知吉凶 。當往至其所問此可否。
1572 | 即往世 尊所。中路復念。大沙門是王者種。生
1573 | 長深宮又不學問。婆羅門等少小博學。尚不
1574 | 能知吉凶 。沙門豈得能知耶。即欲還家。天
1575 | 於虛空告長者曰。但 當前 進。何 以 復還耶。如
1576 | 來大聖無所不達。往必決疑。是非速往。即
1577 | 前 至佛所。禮拜問訊訖。便 啟白。如向所說不
1578 | 審吉凶 。佛告長者。吉無不利 。乃生此福德之
1579 | 子。此兒年二 十當出為道。常有五 百童子共
1580 | 俱 。當得羅漢還度父母。長者聞佛所說。歡喜
1581 | 踊躍不能自勝。即還歸家。辦具 餚膳。請佛至
1582 | 舍。願世 尊賜小兒字。佛告長者。正欲為字為
1583 | 天。人所不解。正欲字為賢聖。凡夫所不解。迦
1584 | 葉佛時名鬼為尸婆羅。今正當字為尸婆羅。
1585 | 尸婆羅者。開通鬼神言語音聲。是故字尸婆
1586 | 羅。阿難臨般涅槃時。度二 弟子。一 名摩禪
1587 | 提。二 名摩呻提利 。摩呻提利 者地王也。若不
1588 | 作道人者。當王此閻浮提及三天下。故名摩
1589 | 呻提利 。阿難教此弟子。汝至師子渚國。興
1590 | 顯佛法。彼國人與羅剎通。要須文字然後交
1591 | 接。市易六 十種書。書中有鬼書。名阿浮。人書
1592 | 音名阿羅。摩呻承教至彼顯揚佛法。自是教
1593 | 迹今日現存。尸婆羅開通鬼神。其亦如是。
1594 | 故名尸婆羅。所以 稱尸婆羅福德者。生時兩
1595 | 手中自然把摩尼珠出。乃昔毘婆尸如來時。
1596 | 此比丘為賈客。入 海採寶。經過五 難乃至寶
1597 | 所。得一 寶珠還持上佛。願所生處獲報自然。
1598 | 以 是因緣生即奇異。價 二 十億 。初 生之 時自
1599 | 然寶珠著耳而生。父集賈人訪其價 直。眾
1600 | 賈銓曰。直二 十億 。尸婆羅手珠無有限量。故
1601 | 曰無價 計。其寶所潤乃及七世 。七世 之 中無
1602 | 所渴乏 。故稱福德第一 也。至年二 十出家學
1603 | 道。至世 尊所。佛命善來。即成沙門。思惟四
1604 | 諦。便 得羅漢。時有五 百童子。亦出家為道。
1605 | 常侍 從尸婆羅。尸婆羅供 給此五 百人衣食。
1606 | 所在適處供 養無乏 。所周旋處輒悉供 養。至
1607 | 羅悅祇。城南有大深山。山中饒諸毒虫虎狼
1608 | 羅剎。即自心念。欲於山中避隱一 時。時天帝
1609 | 釋以 知所念。即於山中作五 百房及僧 伽 藍。
1610 | 種種供 養復經一 時。夏坐已訖心念。違遠
1611 | 以 久 當還禮覲。天時大熱念欲得涼。天帝
1612 | 知之 即降雲雨。少思漿飲即降甘露。所欲念
1613 | 者應意即至。故曰福德第一 也。尸婆羅有叔
1614 | 父。事 外道梵志。為人素慳不好布施。時有親
1615 | 友。勸 令作後世 資。即請梵志數千。施百千
1616 | 兩金。尸婆羅念。叔慳貪生不造福。設復施
1617 | 慧不值良田。我不度者永為棄捐。便 往其家
1618 | 持鉢乞食。叔曰。卿來何 晚。我昨日大施。昨日
1619 | 來者可得僧 竭支。曰我自有竭支。亦不須之 。
1620 | 卿來何 為。曰我欲乞食。時叔不與。便 現身
1621 | 於虛空中。作十八 變。身出水火。長者心念。
1622 | 此必瞋恚。儻 燒我家。即呼使下來與座。坐
1623 | 曰。我欲得食。即與臭穢惡食。即便 受之 呪願
1624 | 而食。食入 鉢中。福德所感變成甘露。有天於
1625 | 上歎曰。善哉長者。乃作是大施也。福德之 施
1626 | 也。無能過者。長者心念。我先施梵志百千兩
1627 | 金。而無歎我者。今施此少惡食。乃歎為善。將
1628 | 無妄語耶。天復告曰。所施雖少福田良美。
1629 | 故曰大施也。長者復念。天必真實重來告我。
1630 | 即以 百千兩金與尸婆羅。尸婆羅曰。我比丘
1631 | 法不應取金。尋往詣佛問其所以 。答曰。可取
1632 | 隨意轉施。即受此金施諸同學。為叔父說法
1633 | 即得道迹。能變臭惡成為甘露。故稱福德第
1634 | 一 也。從生至涅槃未曾有乏 。般涅槃時身上
1635 | 雨種種甘饍飲食。所以 得爾己身足。復欲潤
1636 | 及眾生故也。以 是故復稱為第一 也。
1637 | 所以 稱優 波先比丘具 足眾行第一 者。此比
1638 | 丘德行充 足於內。形容端嚴於外表裏相應。
1639 | 所適皆悅。難陀三十相。阿難二 十相。表相雖
1640 | 多。於沙門威儀 不能悉備 。此比丘相雖十一 。
1641 | 禮儀 備 舉。以 備 造適無往不應。長中幼年覩
1642 | 莫不歡。所謂內充 者。謂四諦如有八 正真妙。
1643 | 充 實靈府未曾虛耗。故稱具 足眾行道品之
1644 | 法為最第一 也。
1645 | 所以 稱婆陀先比丘所說和悅不傷 人意者。
1646 | 此比丘常慎口。不犯四過。夫士處世 斧在口
1647 | 中。所以 斬身由其惡言。此比丘於是麁獷之
1648 | 言。永已除盡。常擇言徐語思而後露。發言
1649 | 投意必令歡喜。若在長老中年幼稚。隨其所
1650 | 好皆能可悅。所以 稱此比丘能善言者。有比
1651 | 丘已得羅漢。雖復漏盡。由有口過。因行渡
1652 | 江水漸欲深。便 發惡言曰。弊婢婬種物。時江
1653 | 神女聞此惡言心念曰。此比丘乃發惡聲如
1654 | 是。正欲推著水中。以 是比丘故。且當問佛。即
1655 | 行問佛。有比丘渡江水小深。便 罵詈言弊婢
1656 | 婬種。比丘法應罵耶。佛即遣一 比丘。呼此罵
1657 | 比丘來。比丘即來。佛告比丘。汝為沙門何 以
1658 | 罵耶。比丘對曰。弟子不罵。直言婢婬種耳。
1659 | 江神女曰。看此比丘已復罵歟。願世 尊說此
1660 | 本末。羅漢故有瞋恚在耶。何 以 罵耶。佛言。羅
1661 | 漢無復瞋恚。直以 口串故耳。此比丘曾為
1662 | 婆羅門。婆羅門法喜罵詈。曰胎中奴。不必瞋
1663 | 罵。直自口慣習耳。又復前 五 百世 為汝夫
1664 | 時常罵汝為婢。是以 宿識不除故復罵耳。江
1665 | 女曰。雖復羅漢故有口過。我不用羅漢。願我
1666 | 後求無上正真道。度脫一 切如佛無異。佛語
1667 | 比丘。汝向此女人懺悔。比丘即悔。女亦向比
1668 | 丘懺悔作禮已各別 去。雖復漏盡猶有麁言。
1669 | 況於凡夫而不慎言也。以 是因緣知是比丘
1670 | 護口第一 也。
1671 | 所以 稱摩訶迦延那比丘安般第一 者。千二 百
1672 | 弟子中。唯有此比丘及羅云 。能行安般第一 。
1673 | 何 以 知之 。昔羅云 從佛行。佛以 善權故。現腳
1674 | [跳-兆 +專]使羅云 見。羅云 見已。心念曰。此老公 持
1675 | 如此形貌。捨轉輪王位 。著道行乞耶。何 以 不
1676 | 羞。我不能復行乞且歸去。我祖父真淨王故
1677 | 在。何 能作是勤 苦為。佛即知羅云 心中所念。
1678 | 告羅云 曰。汝知不。天地尚無常。況汝轉輪聖
1679 | 王。豈可得久 。當解非常。有形皆苦。身非我
1680 | 有。皆當磨滅不得久 停 。羅云 思四非常。意猶
1681 | 未寤。佛教行安般守意。安般者入 出息也。
1682 | 息長亦知。息短亦知。短息者從心還。長息者
1683 | 謂從足跟中來。復知冷暖。入 息為冷。出息為
1684 | 暖。所以 知長短冷暖者。欲分別 五 陰所趣深
1685 | 淺。所從出入 尋息本末。知病源由。若息入 時
1686 | 不知所從來。若息出時不知去至何 所。解無
1687 | 來往。病亦復然。如是思惟遂得羅漢。摩訶迦
1688 | 延那行安般者不同羅云 也。於息自在。若欲
1689 | 從眼從耳。隨意出入 。復閉眼耳鼻口。便 從九
1690 | 十萬毛孔出。何 以 知其從毛孔出。此比丘本
1691 | 是王種。弟兄 二 人。其弟端政姝妙。時王崩亡。
1692 | 兄 應紹繼。弟自以 為勝。密望人舉。然國俗
1693 | 法不得越次。即舉兄 為王。弟心不伏。不肯稱
1694 | 臣。自求出國。王即聽之 。求索兵 眾。王恣與
1695 | 之 。即選八 萬牙象被鉀鼻劍 。嚴辦已訖。念
1696 | 曰。何 國最善。吾欲攻取。毘舍離國諸國最勝。
1697 | 當往攻取。以 為己用。即引兵 而趣。正至半道
1698 | 時。有五 百賈客採寶而還。欲詣摩竭中路相
1699 | 逢。問賈人曰。天下人中形容姿貌頗有勝我
1700 | 者不。賈人便 笑。王問。何 以 笑耶。答曰。我為
1701 | 自笑耳。復重問曰。笑要當有意。何 以 不說。
1702 | 答曰。王若不瞋者。便 當說之 。王曰。但 說終不
1703 | 瞋汝。賈人曰。我聞有白淨王子。名曰悉達。巨
1704 | 身丈 六 紫磨金色。有三十二 相八 十種好。時
1705 | 迦延那聞賈人語。心懷恐懼。悉達若知我來
1706 | 者。必當興軍逆來見伐 。頓止中路不敢復前 。
1707 | 時毘舍離人聞其興軍欲來攻伐 。不能自寧。
1708 | 即往問佛。如何 禳之 。佛言。無苦。吾自化之 。
1709 | 其夜世 尊即往現變。於虛空中結加 趺坐。晃
1710 | 若金山曜於大眾。舉頭視曰。是何 等人。答
1711 | 曰。我是賈客所道者。即曰。賈客誑我也。向
1712 | 者不道能飛。而今現飛。心中惶怖懼其為害。
1713 | 叉手問曰。不審至此。何 所約勅 。世 尊答曰。勿
1714 | 懷恐懼。吾不害汝。我名為佛。濟渡一 切。甘露
1715 | 妙法汝欲聞不。答曰。願欲聞。佛觀其根應
1716 | 從安般而得度。即為說守出入 息。知息長短。
1717 | 及知冷暖。聞佛所說。心即開解。得須陀洹道。
1718 | 便 捨軍眾求為道人。佛即受之 。善來比丘。
1719 | 便 成沙門。重思安般分別 四大三十六 物惡
1720 | 露不淨。尋達至妙逮無漏果。故稱諸比丘中
1721 | 安般第一 也。
1722 | 所以 稱優 頭槃比丘計我無常為第一 者。此
1723 | 比丘宿行恭恪。若見長老師父事 之 。若見中
1724 | 年敬之 如兄 。於己小者愛之 如弟。謙恪之 至
1725 | 故受姝大之 報。得為比丘侍 佛左右。雖有高
1726 | 大之 形。常不自恃。恒計非我身無常主 。解
1727 | 達明慧。心亡是非。故能遺形。喪憍謙遜為首。
1728 | 何 以 知形體姝大也。佛始成道。度迦葉兄 弟
1729 | 三人。有千比丘。遊摩竭國。度洴沙王將還
1730 | 本國。先遣優 陀夷告真淨王。却後七日當來
1731 | 入 化。時王聞之 喜踊無量。即勅 嚴駕。平治道
1732 | 路。掃灑燒香。以 待如來。如來將千二 百五 十
1733 | 比丘來過釋翅。如來心念。今父王必當來
1734 | 迎。不可使尊重屈體。當現神足。昇虛而行與
1735 | 人頭齊。欲使王手接如來足而已。所以 爾者。
1736 | 佛雖德尊。不欲使父母屈體故也。時優 頭槃
1737 | 比丘在如來右。密迹力 士在如來左。如來身
1738 | 正至此比丘肩。王問曰。佛左右者是何 等人。
1739 | 乃爾高大耶。答曰。右者是優 頭槃比丘。左
1740 | 者是閱叉鬼金剛 力 士也。又曰。是何 等國人。
1741 | 乃爾殊異。答曰。是摩竭國人。又問曰。為是
1742 | 神足身。為是遺體耶。答曰。是父母遺體身。非
1743 | 神足也。諸釋念曰。如來神德不可思議。乃令
1744 | 羅剎惡鬼高大之 人在其左右也。以 是因緣。
1745 | 知是比丘身為延短也。此比丘侍 佛左右。恒
1746 | 欲障曀如來。諸天世 人以 是為患。如來有二
1747 | 種身。一 法身。二 肉身。此比丘但 愛金色肉身。
1748 | 不愛無漏法身。親近弟子法當囑累。懼遺法
1749 | 身闕於將來。以 是二 事 故。如來發之 以 及阿
1750 | 難耳。
1751 | 所以 稱拘摩羅迦葉能雜種論者。此比丘常
1752 | 為人敷演四諦。時兼 有讚頌引譬況。喻一 諦
1753 | 一 偈讚引一 喻。乃至四諦亦皆如是。故稱雜
1754 | 論第一 也。拘摩羅者童也。迦葉者姓也。拘
1755 | 摩羅迦葉即是童女子。何 以 知其然。昔有長
1756 | 者。名曰善施。居富無量。家有未出門女。在家
1757 | 向火。暖氣入 身遂便 有軀。父母驚怪詰其由
1758 | 狀。其女實對不知所以 爾。父母重問。加 諸杖
1759 | 楚。其辭不改。遂上聞王。王復詰責。辭亦不
1760 | 異。許之 以 死。女即稱怨曰。天下乃當有無道
1761 | 之 王。抂殺無辜。我若不良自可保 試。見抂如
1762 | 是。王即撿程如女所言。無他增減。王即語
1763 | 其父母。我欲取之 。父母對曰。隨意取之 。用此
1764 | 死女為。王即內之 宮裏。隨時瞻養。日月遂滿
1765 | 產得一 男。端正姝妙。年遂長大。出家學道。聰
1766 | 明博達。精進不久 。得羅漢道。還度父母。時有
1767 | 國王。名曰波紲。信 邪倒見。不知今世 後世 作
1768 | 善得福為惡受殃。謂死神滅不復受生。不信
1769 | 有佛。不識涅槃。以 鐵鍱腹畏智溢出。誇王
1770 | 獨步自謂無比。時童迦葉往至其門。王見迦
1771 | 葉被服異常。行步庠序威儀 整齊。王即與論
1772 | 議。王問道人。道人言。作善有福為惡受殃。
1773 | 王言。今我宗家有一 人。為善至純。臨欲死
1774 | 時。我與諸人共至其邊。語其人言。如君所行
1775 | 死應生天。若上天者來還語我。死來于久 不
1776 | 來告我。我是以 知作善無福耳。道人答王曰。
1777 | 夫智者以 譬喻自解。譬如有一 人。墮百斛圊
1778 | 廁中。有人挽出。洗浴訖著好衣服。以 香熏身
1779 | 坐於高床。有人語此人曰。還入 廁中去爾。此
1780 | 人肯入 。以 不。王曰。不肯。道人曰。生天者其
1781 | 喻如是。天上快樂五 欲自恣。以 甘露為食。食
1782 | 自消化無便 利 患。身體香潔。口氣苾芬。下觀
1783 | 世 間猶猪處溷。正使欲來聞臭即還。以 是言
1784 | 之 。何 由得相告耶。如是比譬喻數十條事 。王
1785 | 意開解。信 向三尊。以 是因緣故。童迦葉能雜
1786 | 種論為第一 也。
1787 | 所以 稱面王比丘著弊惡衣無所羞恥者。可
1788 | 名作十一 頭陀耶。或曰。非也。何 以 謂為第一
1789 | 也。比丘著一 種衣。終身不改。何 以 知其然。此
1790 | 比丘本是釋種子。初 生之 時有異神德。母始
1791 | 懷妊時。請梵志占相。梵志策曰。此兒頭上有
1792 | 天冠相。其母聞之 歡喜佯 不樂。念曰。夫天冠
1793 | 者王者相。一 國之 中不可有兩王。恐王害之 。
1794 | 是以 不樂。所以 內喜者。若實是王者。自然當
1795 | 有護。何 憂不濟也。日月遂滿產一 男兒。頭上
1796 | 有天冠影。復請梵志為作字。梵志曰。頭上有
1797 | 王相。復不可離此相。當名為面王。即字為面
1798 | 王真淨王聞之 。心懷愁憂。此兒有王者相。
1799 | 後必奪我位 。當如之 何 。正欲輒殺罪不應死。
1800 | 正欲置之 懼必奪己。俯 仰憂悒不能自寧。佛
1801 | 來還國時。王宣令諸釋曰。若有兄 弟二 人
1802 | 者。遣一 人出家為道侍 從世 尊。此兒復一 已。
1803 | 不得使出家在五 百人例 。是以 益懷愁悴。時
1804 | 面王年十歲。心自念曰。正使轉輪聖王。亦
1805 | 復無常。又復不及諸釋出家。人身難得。佛世
1806 | 難值。曼值佛世 。宜當出家。即白其母。我欲出
1807 | 家學道。母曰。我正有汝一 人。捨我者我便 當
1808 | 死。面王即啟真淨曰。我欲出家。王當聽不。真
1809 | 淨歡喜曰。大可爾。面王曰。自惟一 已。母無所
1810 | 付囑。以 此為恨耳。王曰。卿若能出家者。我
1811 | 便 當以 卿母為姊分半國相給。面王歡喜。即
1812 | 還家以 狀白母。母即聽之 。當出家時。被一 張
1813 | 白[疊*毛]。至世 尊所欲求為道。世 尊曰。善來比
1814 | 丘。即成沙門。佛制 比丘有三衣。此面王比丘
1815 | 直更染此白[疊*毛]。以 為袈裟。都不用餘衣。白佛。
1816 | 弟子正欲終身被此一 衣。願世 尊聽之 。佛即
1817 | 默然可之 。自是已往常被此一 衣。故世 尊曰。
1818 | 我弟子中著弊惡衣者。無過面王比丘也。此
1819 | 於八 大人念中。少欲知足最為第一 也。
1820 | 所以 稱羅云 持戒不毀者。或曰。羅云 憙妄語。
1821 | 云 何 言持戒也。或曰。羅云 不妄語。直自瞋佛
1822 | 耳。何 以 瞋佛也。以 佛不作轉輪聖王故。若
1823 | 作聖王者。當有八 萬四千大臣。八 萬四千玉
1824 | 女。象馬車乘事 事 有八 萬四千。捨如此之 位
1825 | 而作沙門東西行乞。不可羞耶。計聖王之 利 。
1826 | 嫌如來故。作妄語耳。人問羅云 如來所在。
1827 | 如來實在祇樹精舍。而答云 在晝闇園。實在
1828 | 晝暗園。而詐言在祇園。反覆妄語誑於來人。
1829 | 阿難白佛。羅云 妄語。佛喚羅云 來。卿實妄
1830 | 語耶。對曰。實爾。羅云 。汝何 以 作妄語耶。我
1831 | 所以 捨聖王位 者。以 聖王位 不可恃怙。皆歸
1832 | 無常無長存者。正使帝釋梵王皆不可保 。況
1833 | 復聖王而可恃賴耶。羅云 。我前 後捨此不可
1834 | 稱計。而汝方恨也。佛語羅云 。汝取水來。羅
1835 | 云 即盛滿鉢水授如來。如來執鉢水。謂羅云
1836 | 曰。汝見此水不。對曰。已見。佛言。此水滿鉢
1837 | 無所缺減者。喻持戒完具 無所損落。復寫
1838 | 半棄。謂羅云 曰。汝見此水不。對曰。見之 。佛
1839 | 言。此水以 失半。喻戒不具 足。復寫水使盡。
1840 | 示羅云 曰。見此空鉢不。答曰。已見。佛言。犯
1841 | 戒都盡。喻如空鉢。復以 鉢覆地示曰。汝見不。
1842 | 答曰見。佛言。已犯戒盡當墮地獄。喻鉢口向
1843 | 地也。羅云 自被約勅 以 後。未曾復犯如毫釐。
1844 | 故稱第一 持戒也。或曰。復更有事 。身子將羅
1845 | 云 。入 舍衛城乞食。時有婆羅門。見羅云 在後
1846 | 行。即興惡意打羅云 頭。血流污面。羅云 即生
1847 | 惡念。要當方便 報此怨家耳。但 言婆羅門
1848 | 者。皆當破滅終不置也。身子已知羅云 心中
1849 | 所念。為其拭血。謂羅云 曰。當憶汝父。昔為須
1850 | 念王時。人來索眼。即挑眼與。亦不悔恨。在園
1851 | 中坐禪時。王截手足。亦不悔惋。若為象時。
1852 | 以 牙與人。亦不厭惓。汝今云 何 起此惡念。羅
1853 | 云 聞師所說。即自剋 責。我今云 何 惡心向彼。
1854 | 即忍如地。不起害心如毛髮許。時打羅云 首
1855 | 者。墮無擇地獄中。以 是因緣知羅云 持戒第
1856 | 一 也。
1857 | 所以 稱般咃比丘能隱形不現者。般咃者道
1858 | 也。有雙生兒棄之 於路。有人收取養長令大。
1859 | 各出家為道。無人與作字。即字為道生。胡
1860 | 言般咃也。時摩竭國數天雷暴雨。五 穀不
1861 | 登。王名頻頭[口*荼]羅。是阿闍世 王祖。募 四遠
1862 | 曰。有能却暴雨者。大與財寶。時有婆羅門。名
1863 | 曰梵志。善知呪術。來應募 曰。我能却雨。王
1864 | 即聽使現術止雨。時陰陽和調五 穀大熟。梵
1865 | 志白王索止雨功 報。王雖口許竟不報惠。諸
1866 | 臣人民見王不與。各復許之 。梵志家儉 每從
1867 | 索之 。其於不與遍索不得。梵志大恚誓作毒
1868 | 龍。滅人苗稼。若有種五 穀者。苗稼成好。大
1869 | 震雹殺。使根莖不立。何 況有葉耶。誓已命
1870 | 終。即生龍中。號名無葉。時摩竭國人民種作
1871 | 苗稼適生。龍即雹殺。如是經數年人民飢困
1872 | 死亡者眾。佛愍傷 之 。欲化此龍。即將密迹
1873 | 阿難般咃。至俱 持國詣龍所止。時龍見佛來
1874 | 惡心生。曰今當放雹殺此沙門。即雨山石佛
1875 | 右迴視密迹。密迹知佛意。即以 金剛 杵擬之
1876 | 墮大石山。塞其龍淵。龍大瞋怒。眼中火出。佛
1877 | 右迴視般咃比丘。般咃比丘即知佛意。欲使
1878 | 降龍。般咃即以 神足隱形。以 水滅龍眼火。龍
1879 | 復於耳鼻口出火。亦以 水滅此。比丘復以 神
1880 | 力 。於龍眼耳鼻口中反覆出入 。而龍不見。隱
1881 | 形在內現手於外。龍覩此變即便 心伏。佛復
1882 | 與三人等於前 往反經行。石上有四人跡。而
1883 | 三人現。龍即問佛一 人所在。答曰。是汝師跡。
1884 | 又曰。師名為誰。今何 不現。答曰。名曰般咃。
1885 | 佛欲使遠現。即知佛意。百步現形。龍遙見
1886 | 之 。歡喜為禮。佛即授之 八 關齋法。自是以 往
1887 | 風雨和調。五 穀豐熟人民安寧。以 是因緣。知
1888 | 般咃隱形第一 也。
1889 | 所以 稱祝利 。般咃能化形體作若干變者。祝
1890 | 利 者極闇也。此比丘精神疎鈍。佛教使誦掃
1891 | 箒。得箒忘掃得掃忘箒。六 年之 中專心誦此。
1892 | 意遂解悟。而自惟曰。箒者篲。箒者除。篲者
1893 | 即喻八 正道。糞者三毒垢也。以 八 正篲掃三
1894 | 毒垢。所謂掃箒義者。正謂此耶。深思此理心
1895 | 即開解得阿羅漢道。所謂化形體者。以 四諦
1896 | 妙慧化五 陰形也。正有此化。更復有餘。曰有
1897 | 婆羅門。名曰梵天。亦名世 典 。所以 名世 典 者。
1898 | 博覽群籍圖書祕讖。天文地理無不關練。故
1899 | 名世 典 也。自以 德高命敵而行。誰能與我論
1900 | 者。聞釋種比丘中最下者有祝利 般咃。憂
1901 | 婆塞中最下者。有瞿蜜多羅。吾當與此二 人
1902 | 共論。即來與般咃共論。謂般咃曰。能與我
1903 | 共論耶。般咃曰。我尚能與汝祖父梵天共
1904 | 論。何 況汝盲無目人乎。梵志尋言即詰曰。
1905 | 盲與無目有何 等異耶。般咃默然不對。心念
1906 | 曰。無以 相詶。當以 神足相答耳。即以 神足
1907 | 飛騰虛空去地四丈 九尺。結跏趺坐。梵志
1908 | 仰瞻見其神變。敬情內發冀 其清詶時舍利
1909 | 弗在祇桓經行。以 天耳聞梵志與般咃論。知
1910 | 其辭匱現變相答。我若不往比丘受屈。梵志
1911 | 不度。即以 神足作般咃形。使般咃本形不現。
1912 | 化形問梵志曰。汝為是天。是人乎。答曰。是
1913 | 人。又問。人為是男子不。曰是男子。又問。男
1914 | 子與人有何 等異。答曰。不異。又問。人者統
1915 | 名。男子者據形言之 。何 得不異耶。向言盲者。
1916 | 謂不見今世 後世 。善惡之 報無目者。謂無智
1917 | 慧之 眼以 斷結使也。梵志心解。即得法眼淨。
1918 | 以 是因緣知祝利 般咃變形第一 也。
1919 | 所以 稱釋王比丘豪族富貴天姓柔和者。凡
1920 | 姓有四。剎帝利 。婆羅門。長者。居士也。所以
1921 | 言貴者。以 作沙門同一 釋姓。是以 稱貴耳。
1922 | 喻如四恒水。牛口師子口馬口象口。各有五
1923 | 百支。合入 大海。共為一 水。無若干味。故海得
1924 | 稱大。致貴於百川也。釋姓亦如是。故稱為豪
1925 | 貴第一 也。
1926 | 真淨王有三弟。最小弟名誤淨。有小兒年四
1927 | 歲。時真淨王在正殿上坐。會諸群臣。王自惟
1928 | 曰。我兒不出家者。我應當作聖王。我兒。既
1929 | 生應當為聖王。然復出家去。我何 用是天冠
1930 | 為。即脫天冠著地。有應作者便 作。諸臣愁悒
1931 | 各無歡心。時釋王小兒在前 遊行。見地天
1932 | 冠。即舉著頭上坐地。以 左手拄肩。右手摩捋
1933 | 髭鬚。王與諸臣驚怪。所以 王曰。此小兒天使
1934 | 其然。或能作聖王。我兒聖王相盡在此兒許。
1935 | 故使其然耳。眾臣僉 然曰。或能如王所言。
1936 | 王念曰。悉達既出家。又見小兒之 相。即自廢
1937 | 王位 。乃經八 年。聞悉達以 成佛。度三迦葉師
1938 | 徒得千比丘。并優 波提舍。拘律陀。師徒二 百
1939 | 五 十人。合千二 百五 十比丘。從摩竭國。欲還
1940 | 至釋翅舍。先遣優 陀夷。白還消息。真淨聞之
1941 | 歡喜踊躍。即還著天冠。平治道路。掃灑燒香。
1942 | 以 待如來。如來既至。王見諸比丘。雖復心精
1943 | 無表容貌。當選諸釋五 百人姿容可者。出為
1944 | 沙門侍 從世 尊。釋王比丘最在其先。時佛在
1945 | 精舍大眾之 中。告諸比丘。普論種姓所以 豪
1946 | 貴意。時真淨王來至眾中。向釋王比丘禮。諸
1947 | 眾皆怪所以 。佛知此意。欲解眾疑。故問王
1948 | 曰。何 以 禮此比丘。答曰。所以 禮者。以 此比丘
1949 | 有二 事 勝我。夫天有三。一 日舉天。二 日生
1950 | 天。三日清淨天。我正有舉天。此比丘有生
1951 | 天。有清淨天。所以 言生天。以 年四歲時。舉吾
1952 | 天冠。著己頭上。自然生意。無有與者。故曰生
1953 | 天清淨天者。今已漏盡結解無復塵垢。故曰
1954 | 清淨天也。以 是二 事 勝我故。為作禮耳。以
1955 | 是因緣。知釋王比丘豪族第一 也。
1956 | 分別 功 德論卷第五
1957 |  按此論丹 藏為三卷。開元 錄云 四卷。而注
1958 |  云 或三卷或五 卷者。但 分卷有異耳。文無
1959 |  增減焉。錄有注敘云 。右此一 論。釋增一 阿
1960 |  含經義。從初 序品至弟子品過半。釋王比
1961 |  丘即止。法上錄云 。竺法護譯者不然。此中
1962 |  牒經。解釋文句。並 同本經。似 與增一 阿含
1963 |  同一 人譯。而餘錄並 云 失譯。且依此定。僧
1964 |  祐錄云 。迦葉阿難撰者。此亦不然。如論第
1965 |  一 卷中。引外國師及薩婆多說。故知非是
1966 |  二 尊所撰。

01 | Quyển 1

02 | Phân Biệt Công Đức Luận Quyển Đệ Nhất

03 | Thất Dịch Nhân Danh Phụ Hậu Hán Lục

04 | Kiến Sơ Kệ Sở Thuyết Viết Ca Diệp Tư Duy Chính Pháp Bản Giả Vị Tư Duy

05 | Kinh Pháp Ngôn Giáo Thậm Đa Hà Dĩ Tri Chi Ca Diệp Tức Dĩ Tỉ Giác Minh

06 | Kì Đa Thiểu Giác Pháp Tùng Thập Lư Thuỷ Vân Thập Lư Lực Bất Như Nhất Phàm

07 | Lạc Đà Lực Thập Phàm Lạc Đà Lực Bất Như Nhất Phàm Tượng Lực Thập Phàm Tượng

08 | Bất Như Nhất Tế Cước Tượng Lực Thập Tế Cước Tượng Bất Như Nhất Đạo Thực Tượng

09 | Lực Thập Đạo Thực Tượng Bất Như Nhất Liên Hoa Tượng Lực Thập Liên Hoa Tượng Bất

10 | Như Nhất Thanh Liên Hoa Tượng Lực Thập Thanh Liên Hoa Tượng Bất Như Nhất Hồng Liên

11 | Hoa Tượng Lực Thập Hồng Liên Hoa Tượng Bất Như Nhất Bạch Liên Hoa Tượng Lực Thập

12 | Bạch Liên Hoa Tượng Bất Như Nhất Tuyết Sơn Tượng Lực Thập Tuyết Sơn Tượng Bất Như

13 | Nhất Hương Tượng Lực Tùng Lư Chí Hương Tượng Vi Nhất Phân Như Thị Bát Vạn Tứ

14 | Thiên Hương Tượng Dĩ Giác Bì Biểu Lí Thư Kinh Mãn Như Thị Số Hương Tượng Tỉ

15 | Tái A Nan Sở Văn Sở Tri Sự Thố Khả Đô Giác Tri Đại Số Dục

16 | Nhất Nhất Diễn Kì Văn Tự Giả Tất Thọ Bất Năng Sướng Dã Tư Duy Kinh Pháp

17 | Thậm Vi Hạo Đại Vân Hà Đương Sứ Lưu Bố Thiên Hạ Thiên Tái Chúng Sinh Đắc

18 | Mông Pháp Dịch Da Thâm Tư Chí Lí Thùy Năng Soạn Pháp Duy Hữu A Nan

19 | Nãi Năng Tập Nhĩ Ca Diệp Tức Thời Minh Kiền Đôi Tập Chúng Vu Thời Tầm Hữu

20 | Bát Vạn Tứ Thiên Chư La Hán Đẳng Thừa Mệnh Lai Tập Thử Đẳng Vô Lậu Giai

21 | Thị Câu Giải Thoát Nhân Sở Dĩ Triệu Thử Chư Hiền Thánh Giả Dĩ Kì Tận Năng

22 | Nhập Diệt Tận Định Cố Dã Chư Hữu Nhập Diệt Tận Định Giả Năng Sứ Chúng Sinh

23 | Hiện Thế Đắc Phúc Tế Kì Khổ Ách Đại Thiên Thế Giới Chư Vô Trước Đẳng Kì

24 | Số Nan Toán Trừ Chư Tam Đạo Các Các Nhất Bội Kim Đãn Lục Lợi Căn Câu

25 | Giải Thoát Năng Dĩ Diệt Tận Định Độ Thoát Chúng Sinh Thị Cố Xưng Vi Phúc Điền

26 | Hà Dĩ Minh Chi Tích Nhật Thiên Đế Thích Phúc Tận Mệnh Chung Thời Ngũ Thụy Ưng

27 | Chí Tâm Tức Khủng Cụ Dục Cầu Cứu Hộ Chính Dục Chí Phật Sở Cầu Cứu

28 | Niệm Phật Ân Khoan Hoãn Cụ Bất Giải Mệnh Cấp Niệm Xá Lợi Phất Mục Liên Đẳng

29 | Diệc Khủng Bất Năng Tế Mệnh Duy Hữu Đại Ca Diệp Dĩ Diệt Tận Định Lực Tầm

30 | Tế Nguy Cấp Tức Vãng Ca Diệp Sở Thời Ca Diệp Đích Dục Chí Bần Gia Phúc

31 | Độ Đế Niệm Chính Dục Hiện Thiên Thân Cụ Khủng Bất Thụ Ngã Thí Tiện Ư Trung

32 | Lộ Hiện Tác Thảo Ốc Luy Bệnh Tại Trung Ca Diệp Tùng Khí Bệnh Nhân Tức

33 | Thân Thủ Thí Thực Ca Diệp Dĩ Bát Thụ Chi Biến Thành Cam Lộ Hoàn Hiện

34 | Thiên Thân Ư Hư Không Trung Ca Diệp Viết Hà Dĩ Vọng Ngữ Cuống Ngã Da Thiên

35 | Đáp Viết Bất Vọng Ngữ Ngã Chí Thành Thí Ngã Thị Thiên Đế Ngũ Thụy Chí Mệnh

36 | Dục Chung Cố Lai Cầu Nguyện Nguyện Tế Ngã Mệnh Ca Diệp Tức Mặc Nhiên Khả Chi

37 | Thiên Chí Phật Sở Thính Pháp Tu Du Tiện Thụy Thụy Tức Giác Phật Ngữ Thiên Đế

38 | Nhữ Hướng Dĩ Tử Kim Dĩ Hoàn Hoạt Bất Phục Mệnh Chung Hoàn Phục Bản Thân

39 | Thử Tức Thị Ca Diệp Diệt Tận Định Lực Chi Sở Cảm Dã Ca Diệp Sở Dĩ

40 | Dụng Diệt Tận Định Lực Tối Thắng Giả Dĩ Ca Diệp Bản Thị Tị Chi Phật Cố

41 | Dã Phu Tị Chi Phật Pháp Bất Thuyết Pháp Giáo Hoá Chuyên Dĩ Thần Túc Cảm

42 | Động Tam Muội Biến Hiện Đại Ca Diệp Tuy Phục La Hán Thủ Chứng Bản Thức

43 | Do Tồn Hướng Sở Lục Bát Vạn Tứ Thiên Chúng Đức Năng Sở Cảm Công Tề Ca

44 | Diệp Nan Viết Ca Diệp Dĩ Bản Thị Tị Chi Phật Cố Xưng Kì Thắng Thử

45 | Đẳng La Hán Phục Thị Tị Chi Phật Da Đáp Viết Tuy Phi Tị Chi Phật Biến

46 | Tập Diệt Tận Định Kì Lực Thị Đồng Dĩ Thị Cố Ngôn Ca Diệp Chúng Tăng

47 | Chúng Sinh Phúc Điền Dã Kệ Vân Tận Đắc La Hán Tâm Giải Thoát Giả Câu Giải

48 | Thoát Dã Kệ Vân Dĩ Thoát Phọc Trước Xứ Phúc Điền Giả Vị Ca Diệp Sở Tập

49 | Bát Vạn Tứ Thiên Chúng Giai Đắc Câu Giải Thoát Dĩ Diệt Tận Định Năng Sứ

50 | Chúng Sinh Hiện Thế Thoát Khổ Hậu Hoạch Niết Bàn Cố Viết Xứ Phúc Điền Dã Kệ

51 | Vân Tập Tứ Bộ Giả Lược Dã Lí Ưng Tứ Bộ Biểu Canh Hữu Bát Bộ Nhân

52 | Thiên Sa Đế Lợi Bà La Môn Trường Giả Sa Môn Tứ Thiên Vương Tam Thập

53 | Tam Thiên Ma Vương Phạm Vương Thị Vi Bát Bộ Phàm Hữu Thập Nhị Bộ Ngôn

54 | Tứ Bộ Giả Thố Cử Kì Yếu Nhĩ Chư Pháp Thậm Thâm Giả Vị Thập Nhị Nhân

55 | Duyên Dã Phật Vi A Nan Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên Thậm Thâm Vi Diệu A Nan

56 | Vân Thử Chi Nhân Duyên Hữu Hà Thâm Diệu Da Phật Ngữ A Nan Vật Ngôn

57 | Bất Thâm Diệu Nhữ Nãi Tiền Thế Thời Diệc Ngôn Bất Thâm Tích Hữu A Tu Luân

58 | Vương Thân Trường Bát Thiên Do Tuần Thượng Hạ Thần Tướng Khứ Thiên Do Tuần

59 | Vương Hữu Tiểu Nhi Thường Ái Thử Nhi Bão Tại Tất Thượng Hải Thâm Tam Bá

60 | Tam Thập Lục Vạn Lí A Tu Luân Lập Trung Chính Tề Phúc Tề Nhi Kiến Phụ

61 | Vị Hải Vi Tiên Dục Đắc Nhập Thuỷ Phụ Ngữ Bất Khả Hải Thâm Một Nhữ

62 | Cố Dục Đắc Nhập Phụ Tức Phóng Chi Một Ư Hải Để Hoàng Bố Khẩu Cương Khái Phụ

63 | Tức Thân Thủ Hoàn Chấp Xuất Thuỷ Ngữ Viết Ngữ Nhữ Bất Khả Nhi Nhữ Bất Tín

64 | Kim Giả Hà Tự Nhĩ Thời Vương Giả Ngã Thân Thị Nhi Giả Nhữ Thị Tích

65 | Nhật Bất Tín Thâm Kim Cố Bất Tín Nhữ Đãn Tư Vô Minh Duyên Hành Thượng Bất

66 | Năng Liễu Huống Liễu Tam Thập Thất Phẩm Hồ

67 | Như Lai Sở Thuyết Tứ Bất Khả Tư Nghị Hà Vị Tứ Chúng Sinh Bất Khả Tư

68 | Nghị Thế Giới Bất Khả Tư Nghị Long Bất Khả Tư Nghị Phật Bất Khả Tư Nghị

69 | Sở Dĩ Thế Giới Bất Khả Tư Nghị Tích Mãn Nguyện Tử Dữ Phạm Chí Cộng Luận

70 | Phạm Chí Tự Vân Ngã Tằng Chí Trì Thuỷ Thượng Tư Duy Kiến Hữu Tứ Chủng Binh

71 | Chúng Lai Nhập Liên Hoa Khổng Trung Tức Tự Kinh Quái Bất Tri Ngã Nhãn Hoa Vi

72 | Thật Hữu Thị Hướng Nhân Thuyết Chi Nhân Giai Bất Tín Toại Chí Phật Sở Vân Sở

73 | Kiến Như Thị Phật Ngữ Thử Thị Thật Sự Phi Vi Hư Vọng A Tu Luân

74 | Hưng Tứ Chủng Binh Dữ Chư Thiên Đấu A Tu Luân Bất Như Thối Nhập Thử Liên

75 | Hoa Khổng Trung Tự Ẩn Thử Phi Tư Độ Sở Cập Cố Viết Thế Giới Bất Khả

76 | Tư Nghị Thế Giới Hoặc Vân Phạm Thiên Sở Tạo Hoặc Vân Lục Thiên Sở Tạo Phạm

77 | Chí Hựu Vân Phạm Thiên Thùy Tạo Hoặc Vân Phạm Thiên Hữu Phụ Hoặc Vân Tự Tạo

78 | Ngôn Hữu Phụ Giả Phụ Tức Liên Hoa Dã Hữu Vân Liên Hoa Giả Hà Tùng

79 | Xuất Viết Ưu Đà Diên Tề Trung Xuất Dã Ưu Đà Diên Tùng Hà Xuất Viết

80 | Tùng Tán Tha Vương Xuất Hựu Viết Tán Tha Vương Xuất Hà Tính Viết Sa Đế

81 | Lợi Chủng Dã Hựu Viết Phạm Thiên Thị Bà La Môn Chủng Kim Ngôn Do Sa Đế

82 | Lợi Xuất Thị Hà Ngôn Dư Hựu Viết Kiếp Thiêu Thời Thố Khả Đắc Biệt Hà

83 | Dĩ Ngôn Chi Viết Kiếp Thiêu Thời Tùng Địa Tế Dĩ Thượng Chí Thập Ngũ Thiên Đãng

84 | Nhiên Tiêu Tận Như Tự Khả Tri Nhiên Phục Hữu Thập Lục Dĩ Thượng Tam Thập Tam

85 | Thiên Tại Thử Gian Tuy Thiêu Tha Thế Giới Tại Dĩ Thử Ngôn Chi Phục Bất Khả

86 | Tri Thị Vi Thế Giới Bất Khả Tư Nghị

87 | Hà Vị Chúng Sinh Bất Khả Tư Nghị Hoặc Vân Kiếp Thiêu Hậu Thuỷ Bổ Hoả Xứ

88 | Tùy Lam Xuy Tạo Cung Điện Ngật Hạ Hữu Địa Phì Quang Âm Thiên Thượng Chư Thiên

89 | Bối Du Hí Chí Địa Tiêm Thường Địa Phì Toại Tiện Thân Trùng Bất Năng Phục Hoàn

90 | Thực Đa Hoá Vi Nữ Chuyển Giảm Chí Bạc Bính Canh Mễ Thất Thần Túc Quang

91 | Minh Hoàn Phục Vi Nhân Thiện Hành Sinh Thiên Ác Hành Tam Đồ Lưu Chuyển Ngũ Đạo

92 | Vô Hữu Thường Chuẩn Chính Sứ Dục Cùng Tận Nhất Nhân Căn Bản Sở Do Thượng Bất

93 | Năng Tri Huống Phục Nhất Thiết Chúng Sinh Nhi Khả Tư Độ Dã Thị Vi Chúng Sinh

94 | Bất Khả Tư Nghị Dã

95 | Hà Vị Long Bất Khả Tư Nghị Phàm Hưng Vân Trí Vũ Giả Giai Do Ư Long

96 | Vũ Chi Tùng Long Nhãn Nhĩ Tị Khẩu Xuất Vi Tùng Thân Xuất Da Vi Tùng Tâm

97 | Xuất Hồ Y Tu Di Sơn Chỉ Hữu Ngũ Chủng Thiên Diệc Năng Giáng Vũ Hà Dĩ

98 | Biệt Long Vũ Thiên Vũ Thiên Vũ Giả Tế Vụ Hạ Giả Thị Thô Hạ Thị Long

99 | Vũ Hà Vị Ngũ Chủng Thiên Đệ Nhất Khúc Cước Thiên Đệ Nhị Đỉnh Thượng Thiên

100 | Đệ Tam Phóng Dật Thiên Đệ Tứ Nhiêu Lực Thiên Đệ Ngũ Tứ Thiên Vương A

101 | Tu Luân Hưng Binh Thượng Thiên Đấu Thời Tiên Dữ Khúc Cước Thiên Đấu Đắc Thắng Nhiên

102 | Hậu Thứ Chí Đỉnh Thượng Thứ Chí Phóng Dật Cập Dữ Tứ Thiên Vương Nãi Chí Tam

103 | Thập Tam Thiên Hạ Tứ Thiên Dục Đấu Thời Dĩ Vũ Khước Địch Canh Vô Binh

104 | Trượng Hữu Nhị Chủng Vũ Hữu Hoan Hỉ Vũ Hữu Sân Khuể Vũ Hòa Điều Giáng Vũ

105 | Thị Hoan Hỉ Dã Lôi Bạc Phích Lịch Thị Sân Khuể Dã A Tu Luân Diệc

106 | Giáng Vũ Thiên Diệc Hạ Vũ Long Diệc Giáng Vũ Các Các Trí Vũ Lí Bất Khả

107 | Định Cố Viết Long Vũ Bất Khả Tư Nghị

108 | Phật Bất Khả Tư Nghị Giả Tích Thời Phật Tại Tĩnh Thất Chư Phạm Thiên Như Hằng

109 | Biên Sa Lai Chí Phật Sở Dục Tri Phật Tại Hà Tam Muội Nhi Bất Năng

110 | Tri Tại Hà Định Trung Tam Muội Như Thị Thần Túc Biến Hiện Bí Mật Chi Sự

111 | Nhị Thừa Sở Bất Năng Tư Nghị Khởi Huống Phục Phàm Thứ A Nan Suy Tiên Ca

112 | Diệp Vân Kì Niên Kham Nhâm Vi Chúng Diễn Pháp Sở Dĩ Nhiên Giả Tôn Trường

113 | Cựu Học Đa Thức Thế Tôn Sở Uy Vi Tương Lai Chúng Sinh Cố Dục Sứ Chính

114 | Pháp Cửu Tồn Ư Thế Thị Dĩ Như Lai Bán Toạ Tướng Mệnh Nhân Tôn Kí Thị

115 | Chúng Tăng Thượng Tòa Hựu Phục Trí Tuệ Bao Bác Duy Thùy Từ Mẫn Thời Tuyên

116 | Pháp Bảo Ngoại Quốc Sư Vân Ca Diệp Sở Dĩ Bất Thuyết Pháp Giả Ư Tứ Biện

117 | Trung Vô Hữu Từ Biện Hựu Vân Bản Thị Tị Chi Phật Đãn Dĩ Thần Túc

118 | Hiện Hoá Sơ Bất Diễn Pháp Ca Diệp Đáp Nhượng Tự Vân Hủ Mại Tình Ám Đa

119 | Vô Đáp Viết Tứ Đế Chân Pháp Khởi Khả Suy Vong Da Dụ Như Kim Cương

120 | Bất Khả Khuy Tổn Sinh Tử Tứ Đại Nãi Hữu Tăng Giảm Nhĩ Tát Bà Đa Gia

121 | Hựu Vân Cửu Chủng La Hán Hữu Thối Chuyển Giả Dĩ Kỉ Sự Thối Hữu Tứ Sự

122 | Niên Tại Suy Mại Tật Bệnh Khổ Bức Hảo Viễn Hành Du Phục Dược Bất Thuận Dĩ

123 | Thử Tứ Sự Nãi Hữu Ngộ Vô Nhĩ Chân Đế Diệu Tuệ Khởi Khả Vô Hồ Ca

124 | Diệp Khuyến A Nan Viết Nhữ Kim Niên Tại Thịnh Thời Gia Phục Hữu Văn Trí Đẳng

125 | Trí Tổng Trì Cường Kí Phật Mỗi Thuyết Kinh Thường Chúc Luy Nhữ Dĩ Thị Cố Nhữ

126 | Đương Tuyên Bố Kinh Pháp Hà Dĩ Tri A Nan Hữu Đẳng Trí Tích Xá Vệ Thành

127 | Đông Hữu Ni Câu Loại Đại Thụ Ấm Ngũ Bá Thừa Xa Thành Trung Hữu Phạm Chí

128 | Minh Ư Toán Toại Ư Cửu Thập Ngũ Chủng Trung Tối Vi Đệ Nhất Tại Thử Thụ

129 | Hạ Dữ A Nan Tướng Ngộ Vị A Nan Viết Nhân Vân Cù Đàm Đệ Tử Trí

130 | Tuệ Đệ Nhất Phả Hữu Thử Bất Đáp Viết Sở Tri Thiểu Nhĩ Viết Thiểu Dục

131 | Vấn Nhất Sự Thử Thụ Hành Tiết Chi Diệp Phàm Hữu Kỉ Mai A Nan Cử Đầu

132 | Thị Thụ Tiện Đáp Chi Viết Thử Thụ Hành Tiết Chi Diệp Các Hữu Nhược Can Tức

133 | Tiện Xả Khứ Phạm Chí Tại Hậu Tư Duy Thử Sa Môn Tất Bất Tri Số Kì

134 | Ư Kiến Đáp Nãi Nhĩ Kim Đương Thí Chi Tức Xứ Xứ Thủ Diệp Lục Thập

135 | Mai Tạng Chi Độ Trung A Nan Khí Thực Hoàn Phục Vấn Viết Ngã Hướng Vô Số

136 | Canh Dữ Ngã Thuyết A Nan Cử Đầu Thị Chi Tái Biến Đáp Viết Thử Thụ

137 | Diệp Hà Dĩ Thiểu Da Hựu Viết Thiểu Kỉ Mai Đáp Viết Thiểu Lục Thập Mai

138 | Phạm Chí Tức Xoa Thủ Tạ Viết Vị Tằng Hữu Dã Hựu Vấn Viết Quân Thị

139 | La Hán Da Đáp Viết Phi Dã Thị A Na Hàm Tư Đà Hàm Da Viết Phi

140 | Dã Thị Tu Đà Hoàn Da Viết Hà Dĩ Vấn Da Hựu Viết Hữu Sư Da

141 | Đáp Viết Hữu Chân Tịnh Vương Tử Xuất Gia Đắc Phật Tức Thị Ngã Sư Tâm Niệm

142 | Viết Thử Giả Sư Trí Phi Kỉ Sở Tri Tức Tùy Chí Phật Sở Cầu Vi Sa

143 | Môn Tức Đắc La Hán Dĩ Thị Tri A Nan Hữu Đẳng Trí

144 | A Nan Sở Dĩ Suy Tiên Ca Diệp Giả Kí Thị Thượng Tòa Hựu Thị Sở Tôn

145 | Tích Ngũ Bá Thế Thường Vi Kì Phụ Tú Thức Tôn Ngưỡng Bằng Trượng Tình Thâm Dã

146 | Ca Diệp Sở Dĩ Ân Cần Ư A Nan Giả Dĩ Kì Nẵng Tích Hậu Duyên Di

147 | Ân Mạt Tự Gia Phục Văn Đẳng Trí Cương Kí Ư Chúng Vi Thượng Thuộc Tập

148 | Di Điển Bát Vạn Mạc Tiên Nhị Nhân Tướng Tu Do Manh Bả Tướng Lại Dã Hỗ

149 | Tướng Vi Lợi Nhược Nhị Nhân Tốt Ngộ Thiên Cân Đoạn Kim Chính Dục Tướng Tinh

150 | Lực Sở Bất Thắng Chính Dục Phân Cát Bất Khả Gia Công Ư Thị Cộng Nghị

151 | Tinh Thế Trì Quy Toại Đắc Đại Dụng Khả Vị Câu Trí Ca Diệp A Nan Kì

152 | Dụ Như Thị Nhị Nhân Tề Khế Pháp Bảo Trường Tồn

153 | Thời A Nan Thuyết Kinh Vô Lượng Thùy Năng Bị Cụ Vi Nhất Tụ Kinh Vô Lượng Giả Thập Nhị

154 | Bộ Kinh Hạo Mạn Thậm Đa Đích Thời Nhi Thuyết Bất Luận Thứ Tự Hoặc Thuyết Nhất Sự Dã Nãi Vân Thập Sự Hoặc Thuyết Thập Sự Nãi

155 | Luận Nhị Sự Hoặc Thuyết Tam Sự Nãi Thuyết Thập Nhất Sự Thượng Hạ Bất Thứ

156 | Bất Đắc Vi Nhất Tụ Hoặc Hữu Thuyết Giả Như Lai Thuyết Pháp Hoặc Thuyết Giáo

157 | Giới Hoặc Thuyết Đoán Kế Hoặc Thuyết Sinh Thiên Nhân Trung Dĩ Thị Ngôn Chi Phục Bất

158 | Đắc Vi Nhất Tụ A Nan Tư Duy Nhất Tiện Tùng Nhất Nhị Tùng Nhị Tam Tứ

159 | Ngũ Lục Nãi Chí Thập Các Linh Sự Loại Tướng Trước Hoặc Hữu Thuyết Giả Lí Bất

160 | Khả Nhĩ Án Như Phật Ngữ Bất Khả Thứ Tỉ Dã A Nan Phục Tư Duy Kinh

161 | Pháp Hạo Đại Đương Phân Tác Tam Tụ A Nan Độc Sinh Thử Niệm Thủ Đà

162 | Hội Thiên Mật Cáo A Nan Viết Chính Đương Tác Tam Phân Nhĩ Tức Như Thiên

163 | Sở Cáo Phán Tác Tam Phân Nhất Phân Khế Kinh Nhị Phân Tì Ni Tam Phân A

164 | Tì Đàm Khế Kinh Giả Phật Sở Thuyết Pháp Hoặc Vi Chư Thiên Đế Vương Hoặc Vi

165 | Ngoại Đạo Dị Học Tùy Sự Phân Biệt Các Đắc Khai Giải Dã Khế Giả Do

166 | Tuyến Liên Thuộc Nghị Lí Sứ Thành Hành Pháp Cố Viết Khế Dã Tì Ni Giả

167 | Cấm Luật Dã Vi Nhị Bộ Tăng Thuyết Kiểm Ác Phi Hoặc Nhị Bá Ngũ

168 | Thập Hoặc Ngũ Bá Sự Dẫn Pháp Phòng Gian Do Vương Giả Bí Tạng Phi Ngoại Quan

169 | Sở Ti Cố Viết Nội Tạng Dã Thử Giới Luật Tạng Giả Diệc Như Thị Phi Sa

170 | Di Thanh Tín Sĩ Nữ Sở Khả Văn Kiến Cố Viết Luật Tạng Dã A Tì Đàm

171 | Giả Đại Pháp Dã Sở Dĩ Ngôn Đại Giả Tứ Đế Đại Tuệ Chư Pháp Nha Kì

172 | Đoán Chư Tà Kiến Vô Minh Hồng Si Cố Viết Đại Pháp Dã Diệc Danh Vô Tỉ

173 | Pháp Bát Trí Thập Tuệ Vô Lậu Chính Kiến Việt Tam Giới Ngại Vô Dữ Đẳng

174 | Giả Cố Viết Vô Tỉ Pháp Dã Ca Chiên Diên Tử Soạn Tập Chúng Kinh Sao Toát

175 | Yếu Tuệ Trình Phật Ấn Khả Cố Danh Đại Pháp Tạng Dã A Nan Phục Tư Duy

176 | Thử Tam Tạng Nghĩa Dữ Tam Thoát Tướng Ưng Hà Giả Khế Kinh Diệu Tuệ Lí Dữ

177 | Không Hợp Tì Ni Chế Ác Huyền Tề Vô Tướng Đại Pháp Chính Kiến Tích Đồng Vô

178 | Nguyện Cố Viết Tam Tạng Tam Thoát Minh Tích Huyền Hội A Nan Phục Tư Duy Khế

179 | Kinh Đại Bản Nghĩa Phân Tứ Đoạn Hà Giả Văn Nghĩa Hồn Tạp Nghi Đương Dĩ Sự

180 | Lí Tướng Tùng Đại Tiểu Tướng Thứ Đệ Nhất Tăng Nhất Thứ Danh Viết Trung Đệ

181 | Tam Danh Trường Đệ Tứ Danh Viết Tạp Dĩ Nhất Vi Bản Thứ Chí Thập Nhất

182 | Nhị Tam Tùy Sự Tăng Thượng Cố Viết Tăng Nhất Trung Giả Bất Đại Bất Tiểu Bất

183 | Trường Bất Đoản Sự Xứ Trung Đích Cố Viết Trung Dã Trường Giả Thuyết Cửu Viễn

184 | Sự Lịch Kiếp Bất Tuyệt Bản Mạt Nguyên Do Sự Kinh Thất Phật Thánh Vương Thất Bảo

185 | Cố Viết Trường Dã Tạp Giả Chư Kinh Đoán Kế Nan Tụng Nan Ức Sự Đa Tạp

186 | Toái Hí Linh Nhân Vô Cố Viết Tạp Dã A Nan Soạn Tam Tạng Ngật Lục

187 | Thập Kinh Vi Nhất Kệ Sở Dĩ Nhĩ Giả Vi Tương Lai Tụng Tập Giả Cụ Kì

188 | Vô Ngộ Kiến Danh Ức Bản Tư Duy Tự Ngụ Cố Dĩ Thập Kinh Vi Nhất Kệ

189 | Dã

190 | Sở Vị Tạp Tạng Giả Phi Nhất Nhân Thuyết Hoặc Phật Sở Thuyết Hoặc Đệ Tử Thuyết

191 | Hoặc Chư Thiên Tán Tụng Hoặc Thuyết Tú Duyên Tam A Tăng Kì Bồ Tát Sở Sinh

192 | Văn Nghĩa Phi Nhất Đa Ư Tam Tạng Cố Viết Tạp Tạng Dã Phật Tại Thế Thời

193 | A Xà Thế Vương Vấn Phật Bồ Tát Hành Sự Như Lai Cụ Vi Thuyết Pháp Thiết

194 | Vương Vấn Phật Hà Vị Vi Pháp Đáp Pháp Tức Bồ Tát Tạng Dã Chư Phương Đẳng

195 | Chính Kinh Giai Thị Bồ Tát Tạng Trung Sự Tiên Phật Tại Thời Dĩ Danh Đại Sĩ

196 | Tạng A Nan Sở Soạn Giả Tức Kim Tứ Tạng Thị Dã Hợp Nhi Ngôn Chi Vi

197 | Ngũ Tạng Dã Hoặc Hữu Nhất Pháp Nghĩa Diệc Thâm Nan Trì Nan Tụng Bất Khả Ức

198 | Nhất Pháp Giả Tức Không Pháp Dã Vô Hình Vô Tượng Bất Khả Hộ Trì Tịch Vô Thanh Hưởng Vô Tâm Vô Niệm Bạc Nhiên Vô

199 | Tưởng Tối Đệ Nhất Không Nghĩa Vô Nhị Cố Vô Dong Khả Trắc Cố Viết Nan

200 | Trì Vô Ngôn Khả Chú Cố Viết Nan Tụng Vô Ý Khả Tư Cố Ngôn Phả Ức

201 | Dã Sở Vị Thâm Nghĩa Kì Sự Như Thử Hựu Phục Nhất Pháp Giả Chúng Số Chi

202 | Bản Nhất Giả Số Chi Thuỷ Thập Giả Số Chi Chung Chung Ư Thập Phục Tùng Nhất

203 | Khởi Chính Chí Thiên Vạn Thường Thuỷ Ư Nhất Như Thị Chư Nhất Bất Khả Cùng

204 | Tận Chư Kinh Chi Trung Hoặc Nhất Nghĩa Nhất Pháp Nhất Hành Nhất Sự Các Các Tướng

205 | Tùng Bất Thất Kì Tự Dã Cố Viết Nhất Nhất Tướng Tùng Bất Thất Tự Dã Nhị

206 | Pháp Tựu Nhị Giả Hoặc Vân Thiện Ác Hoặc Vân Chỉ Quan Hoặc Vân Danh Sắc

207 | Chỉ Giả Hư Dã Quan Giả Thật Dã Chỉ Giả Tam Muội Định Bạc Nhiên Diệt Tưởng

208 | Minh Nhĩ Vong Hoài Cố Viết Hư Dã Quan Sở Dĩ Ngôn Thật Dĩ Kì Phân

209 | Biệt Hữu Hành Thị Phi Hảo Ác Thức Biệt Minh Liễu Ý Bất Hoặc Loạn Cố Viết

210 | Thật Dã Tam Pháp Tựu Tam Tam Giả Bố Thí Dã Công Đức Dã Tư Duy

211 | Dã Thử Tam Hành Thế Tục Sinh Thiên Pháp Tam Thoát Môn Hành Chí Niết Bàn Pháp

212 | Dã Chư Hữu Tam Pháp Tam Hành Tam Phúc Tam Phân Pháp Thân Tam Tam Tướng

213 | Tùng Dụ Như Liên Châu Dã Tứ Pháp Tựu Tứ Ngũ Diệc Nhiên Ngũ Pháp Thứ Lục

214 | Lục Thứ Thất Bát Pháp Nghĩa Quảng Cửu Thứ Đệ Thập Pháp Tùng Thập Chí Thập Nhất

215 | Như Thị Chư Số Giai Đồng Nhị Tam Sự Loại Tướng Tùng A Nan Tức Thời Thăng

216 | Vu Tòa Tòa Giả Sư Tử Tòa Dã Kinh Sở Dĩ Dụ Sư Tử Tòa Giả Sư

217 | Tử Thú Trung Chi Vương Thường Cư Cao Địa Bất Xứ Ti Hạ Cố Dụ Cao Tòa

218 | Dã Hựu Thủ Kì Vô Úy A Nan Vô Lượng Bác Văn Ư Thanh Văn Trung

219 | Độc Bộ Vô Úy Cố Viết Vô Úy Tòa Dã A Nan Thăng Cao Tòa Như Thử Dã Di Lặc Xưng Thiện

220 | Khoái Tai Thuyết Di Lặc Sở Dĩ Hạ Giả Cụ A Nan Hợp Bồ Tát Pháp Tại Tam Tạng Đại Tiểu Bất Biệt Dã Thâu Kim Đồng Quán Thị Dĩ

221 | Ân Cần Khuyến Thỉnh Phân Bộ Tích Đại Thiên Thánh Vương Cụ Tứ Phạm Đường Triển

222 | Chuyển Tướng Thiệu Nãi Chí Bát Vạn Tứ Thiên Vương Giai Hữu Phạm Đường Duy Đại

223 | Thiên Nhất Nhân Thị Đại Sĩ Kì Dư Giai Thị Tiểu Tiết Dĩ Thị Ngôn Chi Đại

224 | Thừa Nan Biện Đa Thú Thanh Văn Di Lặc Diệc Tri A Nan Bộ Phân Tam Tạng

225 | Nhiên Do Cụ Hậu Học Chuyên Tập Không Pháp Đoán Kế Thủ Chứng Thị Dĩ Hiển Dương

226 | Đại Thừa Phân Vi Biệt Tạng Cố Thuyết Lục Độ Chư Hành Đại Sĩ Mục Yếu

227 | Dã Vân Thí Hữu Nhị Chủng Hữu Tín Thí Hữu Khủng Bố Thí Lập Căn Đắc

228 | Nhẫn Tắc Viết Tín Thí Uy Lực Bức Bách Bất Do Bản Tâm Tắc Danh Khủng Bố

229 | Thí Tín Tắc Thành Độ Úy Tắc Cầu Phúc Đạo Tục Chi Thù Bất Đãi Ngôn Nhi

230 | Tự Biệt Dã Kì Nhân Vân Đầu Mục Thí Giả Thất Trụ Dĩ Thượng Tài Vật Thí

231 | Giả Lục Trụ Dĩ Hạ Tùng Thử Thối Giả Bất Đoạ Sinh Tử Yếu Chí Niết Bàn

232 | Nhĩ Hà Dĩ Minh Chi Đại Phẩm Bản Vô Thuyết Trung Vân Lục Thập Bồ Tát

233 | Đắc La Hán Đạo Thử Kì Sự Giới Như Kim Cương Giả Đại Thừa Giới Dã Giới

234 | Như Hoại Bình Giả Tiểu Thừa Giới Hà Giả Kim Cương Giả Bất Khả Trở Hoại Tích

235 | Giả Bồ Tát Tỉ Khâu Đoan Chính Vô Tỉ Xuất Hành Khí Thực Lộ Ngộ Nhất Đoan

236 | Chính Nữ Nhân Nữ Thị Bồ Tát Tiện Khởi Dục Ý Nguyện Vi Phu Phụ Phú

237 | Tự Tư Duy Thử Đồng Phả Đắc Đãn Cộng Toạ Giả Ngã Tiện Phát Vô Thượng Ý

238 | Bồ Tát Tri Nữ Tâm Tiện Tiền Cộng Toạ Hữu Khuể Tiện Tiền Khiên Chi Tỉ Khâu

239 | Mặc Nhiên Bất Đáp Phục Trùng Cận Chi Như Cố Tịch Nhiên Tỉ Khâu Tức Dữ

240 | Thuyết Không Pháp Nhãn Bản Tùng Hà Lai Khứ Chí Hà Sở Dục Ngôn Tùng Phụ Mẫu

241 | Lai Da Vị Hội Chi Thời Diệc Vô Thử Nhãn Chí Hậu Hoại Thời Phục Đáo Hà

242 | Sở Dĩ Thị Ngôn Chi Nhãn Vô Sở Hữu Ngũ Tình Diệc Nhiên Hoát Nhiên Giải Không

243 | Đắc Tu Đà Hoàn Ưng Dữ Thuyết Hữu Nãi Canh Thuyết Không Bồ Tát Pháp Đương Nhập

244 | Hữu Nhi Thuyết Không Thị Dĩ Bất Toàn Bản Ý A Nan Thời Kiến Thử Tỉ Khâu

245 | Dữ Nữ Toạ Phạm Tỉ Khâu Nghi Tức Hoàn Bạch Phật Hướng Kiến Tỉ Khâu Dữ

246 | Nữ Nhân Cộng Toạ Phật Dĩ Tiên Tri Tiện Mặc Nhiên Tỉ Khâu Tri A Nan Bạch

247 | Thế Tôn Viết Niệm Ngã Chính Bất Vãng Khủng Phỉ Báng Giả Đoạ Tội Chính Dục

248 | Hiện Biến Phật Sở Bất Hứa Trực Phi Chí Phật Sở Phật Ngữ A Nan Hướng Sở

249 | Kiến Phạm Luật Tỉ Khâu Giả Kim Thử Phi Lai Tỉ Khâu Thị Nhữ Phả Kiến Phạm

250 | Dục Nhân Năng Phi Bất Dã Thử Tỉ Khâu Hướng Giả Dữ Nữ Nhân Cộng Toạ Thời

251 | Dĩ Nữ Nhân Tâm Niệm Thị Tỉ Khâu Dữ Ngã Cộng Toạ Giả Ngã Đương Phát Vô

252 | Thượng Ý Thử Tỉ Khâu Tri Nữ Nhân Ý Tiện Dữ Cộng Toạ Tức Dữ Thuyết

253 | Không Pháp Phân Biệt Nhãn Không Ngũ Tình Diệc Nhĩ Nữ Tức Khủng Úy Tiện Đắc Đạo

254 | Tích Dĩ Kì Khủng Cụ Tâm Sinh Úy Sinh Tử Cố Đắc Tiểu Thừa Nhược Thử

255 | Tỉ Khâu Hướng Giả Dữ Thuyết Hữu Hành Giả Hoàn Thành Bản Tâm Dĩ Thử Sự Tri

256 | Thị Bồ Tát Vị Thành Bất Thối Ư Quan Nhân Tâm Vị Tận Thiện Dã Sở Vị

257 | Kim Cương Giới Dã Sở Vị Nhẫn Độ Giả Kiến Mạ Kiến Huỷ Mặc Thụ Bất Báo

258 | Bồ Tát Hành Nhẫn Thường Dĩ Từ Đẳng Đẳng Ư Bỉ Ngã Bỉ Ngã Kí Tề Oán

259 | Thân Bất Nhị Cố Kinh Viết Tiểu Thừa Chi Từ Từ Do Cơ Phu Đại Sĩ Chi

260 | Từ Triệt Ư Cốt Tuỷ Hà Dĩ Minh Chi Nhược Nhân Cát Tiệt Bồ Tát Thủ Túc

261 | Biến Thành Vi Nhũ Giả Tức Thị Từ Chứng Dã Sạn Đề Tỉ Khâu Tiện Thị

262 | Kì Sự Dã Dụ Nhược Mẫu Nhân Sinh Tử Tiện Hữu Nhũ Xuất Thử Từ Niệm Sở

263 | Cảm Tự Nhiên Biến Thành Dã Đại Sĩ Như Thị Nhập Từ Tam Muội Cố Năng

264 | Cảm Nhũ Dã Hành Từ Chi Chí Tuy Chấp Cung Thỉ Chúng Sinh Phản Lai Phụ Kỉ

265 | Từ Chi Bất Triệt Tuy Bất Chấp Trượng Kiến Giai Xả Tẩu Dĩ Thị Chứng Cố Đại

266 | Tiểu Chi Thù Hữu Tự Lai Hĩ Tác Thiện Ác Hành Giả Vị Tinh Tấn Tác Chư

267 | Thiện Công Đức Ác Hành Giả Do Tích Hoả Man Đồng Tử Phỉ Ca Diệp Phật Ngôn

268 | Ngốc Đầu Sa Môn Hà Hữu Đạo Đạo Nan Đắc Năng Đắc Đạo Dã Do Thị Hậu

269 | Thụ Lục Niên Cần Khổ Phương Nãi Đắc Đạo Di Pháp Chi Trung Chư Tỉ Khâu Thường

270 | Tránh Thử Do Khẩu Bất Khả Ngôn Nhi Ngôn Báo Dã Lục Niên Khổ Hành Giả Bất

271 | Khả Hành Nhi Hành Báo Dã Thị Vi Bồ Tát Thân Khẩu Ác Hành Dã Thiền Định

272 | Nhập Tịch Bạc Nhiên Bất Động Trí Tuệ Tri Trần Số Cập Giang Hà Sa Số Ức

273 | Tái Bất Khả Kế Tuệ Minh Sở Liễu Bất Khả Cùng Tận Thử Lục Độ Vô Cực

274 | Sự Tận Tại Bồ Tát Tạng Bất Ưng Dữ Tam Tạng Hợp A Nan Dục Sứ Đại

275 | Tiểu Thù Nhân Duyên Bỉ Bất Tướng Tri Kì Lí Tự Không Nan Khả Minh Liễu Đại

276 | Sĩ Nghi Không Giả Bất Thủ Chứng Cố Vân Hồ Nghi Dã

***

277 | Quyển 2

278 | Phân Biệt Công Đức Luận Quyển Đệ Nhị

279 | Thất Dịch Nhân Danh Phụ Hậu Hán Lục

280 | Di Lặc Xưng Thiện Giả Dĩ Kì Tập Thử Lục Độ Đại Pháp Vi Nhất Phân

281 | Thử Tức Bồ Tát Tạng Dã Đoán Kế Giả Đoán Chư Vọng Kiến Kế Sứ Dã

282 | Thành Đạo Quả Đại Thừa Tát Vân Nhiên Sự Dã A Nan Đãn Vân Văn Bất Vân

283 | Kiến Giả Khởi Khả Bất Kiến Như Lai Thuyết Pháp Dã Sở Dĩ Ngôn Kiến Vi Phi

284 | Giả Vi Tương Lai Tứ Bộ Cố Bất Đắc Ngôn Kiến Dã Thiết Ngôn Kiến Giả Hậu

285 | Tứ Bộ Chúng Phục Thừa A Nan Ngôn Kiến Giả Tắc Vi Hư Vọng Dã Dĩ Thị

286 | Cố Đãn Xưng Văn Bất Ngôn Kiến Nhĩ Sơ Thuyết Pháp Độ A Nhược Câu Lân Đẳng

287 | Ngũ Nhân Ma Kiệt Quốc Giáng Tam Ca Diệp Thích Sí Tức Ca Tì La Vệ Nhược

288 | Bất Đắc Thuyết Kinh Xứ Đãn Xưng Tại Xá Vệ Giả Dĩ Phật Tại Xá Vệ Kinh

289 | Nhị Thập Ngũ Niên Tỉ Tại Chư Quốc Tối Cửu Sở Dĩ Cửu Giả Dĩ Kì Quốc

290 | Tối Diệu Đa Chư Trân Kì Nhân Dân Sí Thịnh Tối Hữu Nghĩa Lí Kì Thụ Tinh

291 | Xá Hữu Dị Thần Nghiệm Đương Chúng Tăng Tại Giảng Tập Thời Chư Mi Hầu Hữu Số

292 | Thiên Lai Tại Tả Hữu Quan Thính Tịch Mịch Vô Thanh Cập Chư Phi Điểu Phổ Giai

293 | Lai Tập Chúng Tăng Chính Bãi Các Hoàn Sở Chỉ Kiền Trùy Đích Minh Dĩ Phục

294 | Lai Tập Thử Do Quốc Đa Nhân Từ Cố Dị Loại Ảnh Phụ Phật Hoặc Năng

295 | Tạm Hành Thụ Thỉnh Hoặc Năng Thần Lực Đích Hoá Tầm Hoàn Bản Sở Thị Dĩ Đãn

296 | Xưng Xá Vệ Túc Tri Kì Yếu Dã Sở Dĩ Biệt Xưng Kì Hoàn Cô Độc

297 | Nhị Nhân Danh Giả Thử Nhị Nhân Tiên Vong Kim Tại Thiên Thượng Diệc Tập Chư Thiên

298 | Thuyết Pháp Giáo Hoá Thời Tâm Niệm Ngôn Ngã Đẳng Bản Thị Chúng Tăng Đàn Việt Sơ

299 | Bất Phục Xưng Ngã Đẳng Danh Tự Da Dục Đích Bỉ Sở Niệm Cố Phục Biệt Xưng

300 | Nhị Nhân Danh Nhĩ Vân Đương Tu Nhất Pháp Giả Diệc Phi Thứ Đệ Thuyết Nhược

301 | Án Sơ Thành Thuyết Pháp Đương Tùng Ba La Nại Lộc Dã Uyển Thuyết Tứ Đế Vi

302 | Thuỷ Thứ Chí Ma Kiệt Giáng Tam Ca Diệp Nhân Xưng Kì Tinh Xá Chủ Danh Tiện

303 | Vân Đương Tu Nhất Pháp Giả Dĩ Kì Nhất Pháp Chi Dữ Tứ Pháp Kì Lí Vị

304 | Bất Dị Cố Dã Nhất Pháp Diệc Đoán Kế Tứ Pháp Diệc Đoán Kế Câu Chí Niết

305 | Bàn Thù Đồ Đồng Quy Nhĩ Đô Kế Nhị Thập Nhất Diễn Vi Tam Thập Lục

306 | Số Tuy Doanh Súc Câu Vi Thị Kế Phàm Sự Hữu Bá Nhất Thư Phục Vi Bát

307 | Vạn Tứ Thiên Thị Dĩ Nhất Pháp Chi Dữ Thiên Vạn Đồng Thị Chí Đạo Chi Kính

308 | Nhĩ Do Sư Tử Sát Tượng Chi Sát Thỏ Đồng Thị Nhất Tử Nhĩ Dĩ Kì

309 | Lí Thú Bất Dị Cố Tiện Tùng Nhất Pháp Thuỷ Vô Phóng Dật Giả Nhất Pháp Chi

310 | Tôn Dã Hoặc Vấn Viết Giới Ưng Tại Tiền Tiên Đương Trì Giới Nhiên Hậu Niệm

311 | Tam Tôn Hoặc Viết Thử Vi Tân Học Giả Tiên Niệm Tam Tôn Tức Tam Tự

312 | Quy Vận Ý Tại Phật Pháp Chúng Dĩ Thứ Thụ Giới Dĩ Thị Ngôn Chi Giới Ưng

313 | Đệ Tứ Tức Niệm Hậu Giải Vân Nhàn Tĩnh Thân Khổ Niệm Giả Vị Quan Thân Tam

314 | Thập Lục Vật Bất Tịnh Ác Lộ Dĩ Tự Giác Ngộ Khả Dĩ Thành Đạo Hà Dĩ

315 | Minh Chi Tích Hữu Tỉ Khâu Tác A Luyện Nhược Hành Khí Thực Phùng Nhất Trường

316 | Giả Nữ Tùng Khí Thực Tỉ Khâu Nữ Nhân Câu Đoan Chính Nữ Kiến Tỉ Khâu Tiện

317 | Khởi Dục Tưởng Tỉ Khâu Kiến Nữ Diệc Khởi Dục Ý Ý Động Thủ Điệu Đầu Phạn

318 | Ư Bát Thác Chú Ư Địa Nữ Tự Quái Tiếu Tỉ Khâu Kiến Nữ Xỉ Bạch Tức

319 | Tự Giác Ngộ Viết Nữ Nhân Khẩu Trung Độn Thị Cốt Nhĩ Như Phật Ngữ Nhân

320 | Thân Trung Hữu Tam Bá Nhị Thập Cốt Hữu Lục Bá Tiết Thất Thập Vạn Mạch Cửu

321 | Thập Vạn Mao Khổng Nhất Khổng Nhập Cửu Khổng Xuất Duệ Lậu Bất Tịnh Vô Nhất Khả

322 | Tham Đế Quan Nữ Thân Tam Thập Lục Vật Thảm Nhiên Mao Thụ Chuyên Tự Duy Sát

323 | Tức Giải Thân Không Đắc Tu Đà Hoàn Đạo Phục Tự Niệm Viết Ngã Nhân Nữ

324 | Kiến Pháp Tắc Thị Ngã Thiện Tri Thức Kim Đương Báo Ân Tức Phục Vi Nữ Thuyết

325 | Hướng Sở Giải Quan Thân Pháp Nữ Tức Tâm Khai Diệc Đắc Tu Đà Hoàn Đạo Dĩ

326 | Thị Ngôn Chi Thân Niệm Vi Thắng Dã Tử Niệm Giả Niệm Nhân Phúc Tận Mệnh

327 | Chung Thời Kiến Địa Ngục Thụy Kinh Khủng Thất Phẩn Nhược Kiến Ngạ Quỷ Nhược Kiến Súc

328 | Sinh Tùy Hành Sở Đoạ Kiến Giai Khủng Bố Ý Dục Xả Khứ Phản Vi Đối

329 | Sở Khiên Nhược Đương Sinh Nhân Duyên Phụ Mẫu Hội Nhược Thụ Nam Thai Ái Bỉ Nữ

330 | Nhân Nhược Thụ Nữ Thai Ái Bỉ Nam Tử Trừ Kì Tật Nan Tam Sự Bất Sai

331 | Tiện Đắc Nhập Thai Kí Thụ Hựu Nhận Dĩ Vi Kỉ Hữu Thất Nhật Nhất Biến Xảo

332 | Phong Hặc Cát Chí Tam Thập Bát Thất Nãi Thành Kì Hình Nhược Sinh Thiên Thượng Thiên

333 | Lạc Lai Nghênh Bất Thắng Hỉ Duyệt Tức Thất Tiểu Tiện Thử Ngũ Đạo Thụy Các Hữu

334 | Sở Kiến Thử Chi Tử Ưng Hành Giả Dĩ Vi Minh Giới Thâm Duy Vô Thường

335 | Mệnh Tốc Nhược Điện Nhược Vân Quá Đình Lão Bệnh Tử Lai Vô Bất Thệ Tang Thường

336 | Niệm Thử Biến Dĩ Tự Giác Ngộ Cố Viết Tử Niệm Dã Tiền Thập Niệm Phật Tự

337 | Thuyết Vị Hữu Vấn Giả Cố Bất Giải Hậu Thập Niệm Tỉ Khâu Vấn Phật Canh Vi

338 | Diễn Thuyết Nhất Nhất Tích Giải Tôn Đệ Tử Giả Vị Ngũ Bá La Hán Các

339 | Hữu Sở Tiện Hoặc Trí Tuệ Đệ Nhất Hoặc Thần Túc Hoặc Biện Tài Hoặc Phúc

340 | Đức Hoặc Thủ Giới Hoặc Tri Túc Hoặc Thuyết Pháp Các Cứ Đệ Nhất Dục Luận

341 | Tiên Huynh Nhi Hậu Đệ Giả Dĩ A Nhược Câu Lân Tối Trường Dĩ Tu Bạt Vi

342 | Tối Tiểu Thử Phật Pháp Giai Thứ Chi Đại Yếu Nhược Dĩ Thông Triết Bác Đạt Vi

343 | Nguyên Thủ Giả Thử Nãi Thị Bà La Môn Pháp Dã Vân Thiên Nhị Bá Ngũ Thập

344 | Giả Cử Kì Thường Thị Tùng Giả Hoặc Vân Ngũ Bá Nhân Giả Phật Thụ A

345 | Nậu Đạt Thỉnh Thời Giản Ngũ Bá Nhân Khả Giả Tầm Tùng Chí Long Vương Cung Hà

346 | Giả Thử A Nậu Đạt Toàn Phi Hữu Lậu Ngại Hình Sở Khả Chu Toàn Dã

347 | A Nan Xuất Kinh Thời Tập Bát Vạn Tứ Thiên La Hán Dĩ Thị Ngôn Chi Số

348 | Bất Khả Kế Dã Thử Kinh Kim Chính Xuất Bá Nhân Đệ Nhất Thông Tứ Bộ Chúng

349 | Nhị Bá Nhị Thập Các Đệ Nhất Kì Dư Giả Khởi Phục Khả Kế Da Kì Nhân

350 | Vân Thử Kinh Bản Hữu Bá Sự A Nan Chúc Ưu Đa La Tăng Nhất A

351 | Hàm Xuất Kinh Hậu Thập Nhị Niên A Nan Tiện Ban Niết Bàn Thời Chư Tỉ

352 | Khâu Các Tập Toạ Thiền Bất Phục Tụng Tập Vân Phật Hữu Tam Nghiệp Toạ Thiền Đệ

353 | Nhất Toại Các Phế Phúng Tụng Kinh Thập Nhị Niên Ưu Đa La Tỉ Khâu Phục Ban

354 | Niết Bàn Do Thị Thử Kinh Thất Cửu Thập Sự Ngoại Quốc Pháp Sư Đồ Tướng Truyền

355 | Dĩ Khẩu Thụ Tướng Phó Bất Thính Tái Văn Thời Sở Truyền Giả Tận Thập Nhất Sự

356 | Nhi Dĩ Tự Nhĩ Tướng Thừa Chính Hữu Kim Hiện Văn Nhĩ Tuy Nhiên Tát Bà

357 | Đa Gia Vô Tự Cập Hậu Thập Nhất Sự Kinh Lưu Lang Kinh Cửu Sở Di Chuyển

358 | Đa Sở Dĩ Thiên Chúc Luy Thử Đệ Tử Tăng Nhất Giả Dĩ Kì Nhân Nãi Tùng

359 | Thất Phật Dĩ Lai Thiên Tống Tập Tăng Nhất A Hàm Tiền Thánh Diệc Giai Chúc Cập

360 | Thử Kinh Thị Dĩ Năng Nhân Thời Chuyển Phục Cần Cập Thử Tỉ Khâu Thời Ưu Đa

361 | La Đệ Tử Danh Thiện Giác Tùng Sư Thụ Tụng Tăng Nhất Chính Đắc Thập Nhất Sự

362 | Ưu Đa La Tiện Ban Niết Bàn Ngoại Quốc Kim Hiện Tam Tạng Giả Tận Thiện Giác

363 | Sở Truyền Sư Đồ Tướng Thụ Vu Kim Bất Thế Sở Dĩ Ca Diệp Mỗi Vị A

364 | Nan Vi Tiểu Nhi Giả Cố Dĩ Luy Thế Dĩ Lai Phụ Ý Tướng Gia Cố Dã

365 | Ư Thời A Nan Muội Vi Tỉ Khâu Ni Văn Ca Diệp Ngữ Đại Dụng Hiềm Hận

366 | A Nan Giả Thông Minh Bác Đạt Chúng Nhân Sở Chiêm Vọng Nhi Tôn Vị Vi Tiểu

367 | Nhi Da Ca Diệp Vị Tỉ Khâu Ni Viết Đại Muội A Nan Hữu Nhị Sự

368 | Khả Sỉ Hà Sở Vi Hận Dã Chính Toạ A Nan Khuyến Phật Độ Mẫu Nhân Sứ

369 | Phật Pháp Giảm Thiên Niên Thị Nhất Dã A Nan Hữu Lục Thập Đệ Tử Cận

370 | Nhật Tam Thập Tỉ Khâu Hoàn Vi Bạch Y Phật Giáo Độ Đệ Tử Pháp Nhược Tại

371 | Gia Hữu Tín Lai Cầu Đạo Giả Đương Thí Chi Thất Nhật Nhược Ngoại Học Lai Cầu

372 | Đạo Giả Đương Thí Chi Tứ Nguyệt Hà Dĩ Bất Đẳng Dã Dĩ Ngoại Đạo Gia

373 | Hoặc Dĩ Ác Tâm Dục Cầu Trường Đoản Thị Dĩ Tiên Thí Tri Vi Chí Thành Bất

374 | Nhiên A Nan Lai Tiện Độ Chi Thị Khả Sỉ Nhị Thử Tam Thập Tỉ Khâu Sở

375 | Dĩ Hoàn Giả Văn A Nan Ư Cửu Thập Lục Chủng Đạo Trung Đẳng Trí Đệ Nhất

376 | Tùng A Nan Cầu Độ Giả Dục Thỉnh Đẳng Trí Nhiên A Nan Bất Dữ Thuyết Đẳng

377 | Trí Thị Dĩ Bất Hợp Bản Tâm Ư Thị Nhi Hoàn Hoàn Tất Phỉ Báng A

378 | Nan Vị Vô Đẳng Trí Độ Đệ Tử Dụ Nhược Ngư Sinh Tử Thiên Ức Vạn Nhược

379 | Tâm Niệm Giả Tiện Sinh Bất Niệm Giả Tức Lạn Hoại Đệ Tử Diệc Như Thị Nhược

380 | Lưu Tâm Giáo Chiếu Giả Tiện Thành Tựu Bất Lưu Tâm Giả Tức Thối Hoàn Thử Khởi

381 | Phi Khả Sỉ Da Thử Tỉ Khâu Ni Dĩ Khuể Tâm Hướng Ca Diệp Cố Tức Hiện

382 | Thân Nhập Địa Ngục Dĩ A Nan Hữu Thử Quyết Cố Ca Diệp Vị Vi Tiểu Nhi

383 | Nhĩ A Nan Bạch Dẫn Vãng Tích Vi Chuyển Luân Thánh Vương Danh Viết Trường Thọ

384 | Thụ Phụ Đại Vương Chi Di Giáo Đăng Vị Trị Hoá Tương Dục Xuất Gia Phục Chúc

385 | Thái Tử Thiện Quan Uy Dĩ Quốc Chánh Triển Chuyển Tướng Thụ Vị Tằng Tạm Thế

386 | Tích Dĩ Phụ Tử Tướng Thừa Kim Dĩ Sư Đồ Tướng Thiệu Tích Thượng Bất Thất Hữu

387 | Lậu Chi Giáo Huống Kim Đương Thất Chí Chân Diệu Pháp Da Cố Dẫn Tự Chứng Minh

388 | Kì Tất Kham Thụ Di Điển Dã Ư Pháp Đương Niệm Kính Giả Thượng Kệ Trung Dĩ

389 | Phán Tam Tạng Tứ A Hàm Trường Hành Trung Phục Vân Nhất Kệ Trung Nãi Khả Cụ

390 | Tam Tạng Chư Pháp Huống Phục Tăng Nhất Nhi Bất Cụ Chư Pháp Hồ Sở Dĩ Phục

391 | Hữu Thử Nhất Đoạn Kệ Thuyết Giả Dĩ Chư Thiên Tử Tâm Trung Sinh Niệm A Nan

392 | Bất Năng Tác Kệ Thuyết Pháp Hồ Hà Dĩ Phục Tác Thử Man Thuyết Da A Nan

393 | Tri Chư Thiên Tử Tâm Trung Sở Niệm Ngữ Chư Thiên Tử Chính Sứ Bát Vạn Tứ

394 | Thiên Tượng Sở Tái Kinh Giai Tác Kệ Tụng Giả Ngã Tận Năng Tác Kệ Tụng Huống

395 | Phục A Nan Thử Thiểu Pháp Nhi Bất Năng Tác Da Dục Đích Chư Thiên Ý Cố

396 | Phục Dĩ Kệ Tụng Chư Pháp Khuyến Dụ Chư Thiên Cập Lợi Căn Chúng Sinh Ưng

397 | Văn Kệ Đắc Giải Giả Pháp Tức Thượng Chương Chư Ác Mạc Tác Chư Thiện Phụng Hành

398 | Tự Tịnh Kì Ý Thị Chư Phật Giáo Pháp Dã Ngôn Thử Pháp Năng Thành Tam Thừa

399 | Đoán Tam Ác Thú Cụ Chư Quả Thật Nhị Thế Thụ Báo Dĩ Tài Hữu Ưu Liệt

400 | Cố Thiết Dụ Tấn Chi Tụng Vân Thượng Giả Trì Tam Tạng Kì Thứ Tứ A

401 | Hàm Hoặc Năng Thụ Luật Tạng Tức Thị Như Lai Bảo Sở Dĩ Vân Bảo Giả Dụ

402 | Nhược Vương Hữu Bảo Tạng Bất Sứ Ngoại Nhân Tri Duy Hữu Nội Thần Dữ Vương Đồng

403 | Tâm Giả Nãi Sứ Điển Chưởng Nhĩ Giới Luật Diệc Như Thị Nhược Năng Trì Nhị

404 | Bá Ngũ Thập Cập Dữ Ngũ Bá Sự Giả Nãi Thụ Kì Nhân Bất Khả Sứ Ngoại

405 | Bộ Thanh Tín Sĩ Nữ Sở Khả Chiêm Ngoạn Cố Dụ Vương Bảo Dã Thiết Lực Bất

406 | Cập Nhị Tạng Đãn Trì A Tì Đàm Giả Tiện Khả Giáng Phục Ngoại Đạo Cửu Thập

407 | Lục Kính Mĩ Bất Quy Tôn Hà Giả Thử Vô Tỉ Diệu Tuệ Năng Quyết Thượng Vi

408 | Trệ Sứ Hoát Nhĩ Tề Trực Tuy Phục Ngũ Thông Trụ Kiếp Vị Miễn Tứ Sử

409 | Chi Sở Chế Thị Cố Ngoại Học Mạc Cảm Khuy Môn Du A Nan Xướng Thử Thập Kệ

410 | Chi Diệu Khuyến Giả Chính Vi Thử Tam Vạn Thiên Nhân Dã Tích Phật Thuỷ Thành Đạo

411 | Tại Ba La Nại Lộc Dã Uyển Trung Vi A Nhược Câu Lân Đẳng Ngũ Nhân Chuyển

412 | Tứ Đế Pháp Luân Giả Phật Ngôn Câu Lân Đương Tri Khổ Đế Khổ Tập Đế

413 | Khổ Tận Đế Khổ Xuất Yếu Đế Trực Thuyết Thử Tứ Đế Câu Lân Trệ Hữu Lai

414 | Cửu Văn Thuyết Trí Tuệ Ý Do Bất Ngộ Tiện Vi Thuyết Không Câu Lân Đương

415 | Tri Tứ Tuệ Sở Trệ Nhất Thiết Giai Không Diệc Phục Vô Thường Dụ Nhược Ảo Hoá

416 | Phi Chân Phi Hữu Câu Lân Tức Giải Đắc Kiến Đạo Tích Tứ Nhân Vị Giải Như

417 | Lai Phục Quan Tâm Bản Nhị Nhân Bệnh Tại Tưởng Trước Canh Lạc Tư Ức Tại Gia

418 | Ngũ Dục Tự Tứ Luyến Trước Bất Xả Ưng Bệnh Đầu Dược Tiện Thuyết Vô Tưởng

419 | Tam Muội Khanh Sở Tưởng Giả Giai Quy Diệt Tận Cố Vi Trì Tâm Phóng Tại

420 | Sở Lạc Dã Sở Tưởng Tức Giải Nhị Phục Đắc Đạo Tích Dư Nhị Nhân Tâm Thường

421 | Nguyện Sinh Phạm Thiên Ư Phạm Tác Vương Sở Trệ Bất Thích Phục Dĩ Vi Luy Như

422 | Lai Kiến Tâm Sở Tại Phục Vi Thuyết Vô Nguyện Nhữ Sở Nguyện Cầu Phạm Thiên Vương

423 | Giả Bất Năng Xuất Yếu Giai Quy Ma Diệt Vô Thường Tồn Giả Khả Xả Sở Cầu

424 | Xuất Yếu Vi Tiên Tức Phục Đắc Giải Thành Ư Đạo Tích Ngũ Nhân Sở Trệ Các

425 | Dị Sở Giải Bất Đồng Sở Vị Tam Chuyển Tứ Đế Giả Không Vô Tướng Nguyện

426 | Trung Giai Hữu Tứ Đế Đế Tức Quan Dã Định Tắc Chỉ Dã Chỉ Quan Song

427 | Hành Cộng Trị Âm Trì Nhập Trung Si Ái Bệnh Dã Thập Nhị Giả Phá Thập Nhị

428 | Nhân Duyên Dã Tích Phật Tại Thế Thời Vi Tứ Bộ Thuyết Pháp Hoặc Thuyết Tứ

429 | Đế Hoặc Thuyết Lục Độ Tùy Tiền Chúng Sinh Sở Ưng Văn Giả Các Vi Phu Diễn

430 | Vô Hữu Thường Lượng Hoặc Hữu Quốc Vương Trường Giả Phạm Chí Cư Sĩ Hoặc Thỉnh Cung

431 | Dưỡng Hoặc Lai Thỉnh Vấn Chư Khả Sở Thuyết Giả A Nan Vấn Viết Vân Hà Danh

432 | Chi Đương Ngôn Văn Da Đương Ngôn Kiến Da Phật Cáo A Nan Hậu Tại Tương

433 | Lai Tứ Bộ Thuyết Pháp Thời Đương Ngôn Văn Bất Đắc Ngôn Kiến Nhược Ngôn Kiến Giả

434 | Tắc Vi Hư Vọng Hà Dĩ Cố Văn Dĩ Quá Khứ Kiến Giả Hiện Tại Như

435 | Quá Khứ Thất Phật Chính Khả Ngôn Văn Bất Đắc Ngôn Kiến Dã Nhữ Ư Tương Lai

436 | Diệc Phục Như Thị Cố Viết Văn Như Thị Dã Ngã Sở Dĩ Ân Cần Chúc Luy

437 | A Nan Giả Quá Khứ Chư Phật Tuy Hữu Thị Giả Vô Như A Nan Tri

438 | Phật Ý Thú Nẵng Tích Dĩ Tằng Cung Dưỡng Nhị Thập Ức Phật Thường Vi Thị

439 | Giả Bất Cầu Tận Lậu Thường Nguyện Đắc Đẳng Trí Tri Phật Ý Thú Dĩ Thị

440 | Cố Kim Hoạch Kì Báo Đổ Mục Đạt Ý Bất Thất Nghi Tắc Chư Phật Chi

441 | Trung Dũng Mãnh Tinh Tấn Vô Quá Thích Ca Văn Giả Huynh Đệ Chi Trung Di Lặc

442 | Ưng Tại Tiền Kim Phản Tại Hậu Hà Giả Tích Tam Thập Kiếp Tiền Thời Hữu Tam

443 | Bồ Tát Cộng Tại Sơn Thượng Du Hành Thời Kiến Hữu Ngạ Hổ Dục Thực Kì Tử

444 | Nhất Nhân Niệm Viết Thử Hổ Kí Vi Súc Sinh Phục Thực Kì Tử Tử Hữu

445 | Thống Khổ Mẫu Phục Bất Từ Ngã Kim Thân Giả Tứ Đại Hợp Thành Hội Đương Quy

446 | Tử Tiện Đương Dĩ Thân Cứu Bỉ Tử Mệnh Nhị Nhân Bất Khẳng Phương Dục Nghệ

447 | Thị Mãi Nhục Dụng Đại Tử Mệnh Nhất Nhân Tư Duy Viết Nhược Thử Vãng Phản Tử

448 | Mệnh Bất Toàn Thả Đương Đầu Thân Ư Sơn Hạ Tế Kì Tử Mệnh Nhĩ Tức Tùng

449 | Sơn Thượng Đầu Thân Lai Hạ Thú Bỉ Hổ Khẩu Thân Tắc An Ẩn Hổ Bất Cảm

450 | Thực Sở Dĩ Nhĩ Giả Phu Nhập Từ Tam Muội Giả Vật Mạc Năng Hại Dã Cố

451 | Dĩ Trúc Tự Thứ Sứ Hổ Đắc Thực Viết Thị Dũng Mãnh Tức Siêu Cửu Kiếp Kim

452 | Tại Di Lặc Tiền Dĩ Thị Ngôn Chi Đạo Vô Tiền Hậu Ý Quyết Vi Tiên Thị

453 | Cố Ngã Kim Thành Phật Cố Dĩ Di Điển Uy Phó A Nan Nhữ Ư Đương Lai

454 | Xưng Văn Như Thị Hà Dĩ Phục Ngôn Nhất Thời Dã Vi Thị Nhật Nguyệt Số

455 | Vi Thị Nhân Danh Da Đáp Diệc Thị Thời Tiết Số Diệc Thị Tại Nhân Danh Hoặc

456 | Viết Phục Hữu Nhị Danh Hoặc Sa Đế Lợi Hoặc Bà La Môn Phục Hữu Nhị

457 | Danh Hoặc Trường Giả Chủng Hoặc Cư Sĩ Chủng Hoặc Tại Thiên Thượng Hoặc Tại Nhân

458 | Gian Như Thị Chư Hoặc Phi Thị Nhất Xứ Cố Viết Nhất Thời Dã Bà Già Bà

459 | Giả Thế Tôn Chi Xưng Dã Kế Sứ Đô Tận Vô Năng Quá Giả Cố Xưng Vi

460 | Tôn Tam Giới Chư Thiên Giai Lai Sư Ngưỡng Bát Bộ Quỷ Thần Diệc Sở Tôn

461 | Kính Cố Xưng Thế Tôn Năng Giáng Phục Ma Tức Phục Thị Tôn Như Thị Sở Xưng

462 | Bất Khả Kế Lượng Cố Hiệu Thế Tôn Dã Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên Kì Đà

463 | Thái Tử Giả Ba Tư Nặc Vương Chi Đích Tử Dã Hữu Viên Điền Bát Thập Khuể

464 | Địa Bình Mộc Mậu Đa Chư Cầm Thú Nhật Lai Tướng Tập Kì Tâm Tồn Phật Thường

465 | Dục Thượng Phật Tác Tinh Xá Vị Chu Chi Khuể Tu Đạt Trường Giả Phục Lai Thỉnh

466 | Mãi Kì Thiểu Dữ Trường Giả Thân Thiện Mỗi Hỉ Điều Hí Hí Ngôn Hứa Khả Tu

467 | Đạt Đắc Quyết Ý Thậm Hân Duyệt Cố Vị Thị Giả Tốc Nghiêm Giá Tượng Tái Kim

468 | Bố Địa Tức Phụ Kim Xuất Tùy Tập Bố Địa Tu Du Mãn Tứ Thập Khuể Kì

469 | Viết Chỉ Chỉ Ngã Hí Ngôn Tướng Khả Bất Tu Phục Bố Tu Đạt Tức Dữ

470 | Thái Tử Cộng Chí Vương Sở Khải Bạch Thử Ý Vương Viết Pháp Vô Nhị Ngôn Hứa

471 | Quyết Dĩ Định Lí Vô Dong Hối Kì Viết Ngô Thủ Thụ Phân Khanh Tiện Thủ

472 | Địa Nhị Nhân Hội Khả Cộng Lập Tinh Xá Hữu Thất Thập Nhị Giảng Đường Thiên Nhị

473 | Bá Ngũ Thập Phòng Xá Kì Trung Bình Chính Quả Mộc Phong Mậu Lưu Toàn Dục Trì

474 | Hàn Ôn Điều Đích Tứ Vọng Thanh Hiển Đông Hạ Bất Cải Nghiêm Trị Đô Ngật Cộng

475 | Thỉnh Thế Tôn Thế Tôn Tức Dữ Thiên Nhị Bá Ngũ Thập Tỉ Khâu Du Chỉ Kì

476 | Trung Đàn Việt Cung Dưỡng Tứ Sự Vô Phạp A Nan Bân Dĩ Thị Quốc

477 | Thần Cố Cao Nhượng Tại Tiên Thị Cố Chư Kinh Mỗi Xưng Kì Vi Thủ Dĩ

478 | Công Đức Tướng Liên Cố Danh Diệc Bất Đắc Tướng Li Cố Thường Hợp Dĩ Vi Xưng

479 | Nhĩ

480 | Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Giả Hà Dĩ Bất Cáo Thanh Tín Sĩ Nữ Đãn Cáo Tỉ

481 | Khâu Giả Ư Tứ Bộ Chúng Tỉ Khâu Vi Nguyên Thủ Hựu Phục Thị Phá Ác Chi

482 | Chủ Dĩ Vô Lậu Pháp Đoán Chư Hữu Lậu Dĩ Thị Cố Tiên Cáo Tỉ Khâu Diệc

483 | Danh Sa Môn Sa Môn Giả Tâm Đắc Hưu Tức Tức Di Hữu Dục Tịch Nhiên Vô

484 | Trước Diệc Danh Trừ Cận Thế Nhân Cơ Cận Ư Sắc Dục Tỉ Khâu Giả Trừ

485 | Thử Ái Cận Chi Cơ Tưởng Thế Tôn Thuyết Pháp Tỉ Khâu Năng Thụ Đoán Trừ Sinh

486 | Tử Chí Niết Bàn Môn Thị Cố Cáo Tỉ Khâu Nhĩ Đương Tu Hành Nhất Pháp

487 | Giả Vị Niệm Phật Dã Niệm Phật Hà Đẳng Sự Phật Thân Kim Cương Vô Hữu Chư

488 | Lậu Nhược Hành Thời Túc Li Địa Tứ Thốn Thiên Phúc Tướng Văn Tích Hiện Ư

489 | Địa Túc Hạ Chư Trùng Nghĩ Thất Nhật An Ẩn Nhược Kì Mệnh Chung Giả Giai Đắc

490 | Sinh Thiên Thượng Tích Hữu Nhất Ác Tỉ Khâu Bản Thị Ngoại Đạo Dục Giả Phục

491 | Phỉ Báng Trục Như Lai Hành Đa Sát Phi Trùng Trước Phật Tích Xứ Ngôn Đạo Trùng

492 | Sát Dã Nhiên Trùng Tuy Tử Ngộ Phật Tích Xứ Tầm Hoàn Đắc Hoạt Nhược Nhập Thành

493 | Ấp Túc Đạo Môn Vực Thiên Địa Đại Động Bá Chủng Âm Lạc Bất Cổ Tự Minh

494 | Chư Lung Manh Âm Á Lung Tàn Bá Tật Tự Nhiên Trừ Dũ Tam Thập Nhị Tướng

495 | Bát Thập Chủng Hảo Kì Hữu Đổ Giả Tùy Hành Đắc Độ Công Đức Sở Tế Bất

496 | Khả Xưng Kế Tuệ Minh Sở Chiếu Khởi Khả Ti Tai Phật Giả Chư Pháp Chi Chủ

497 | Tổng Hội Vạn Hành Dĩ Tái Vận Vi Tiên Sở Vị Niệm Phật Kì Nghĩa Như

498 | Thử Niệm Pháp Vân Hà Pháp Giả Vị Vô Lậu Pháp Vô Dục Pháp Đạo Pháp Vô

499 | Vi Pháp Dã Tùng Dục Chí Vô Dục Dã Phật Giả Chư Pháp Chi Chủ Pháp

500 | Giả Kế Sứ Chi Chủ Hoặc Vấn Viết Pháp Vi Tại Tiên Phật Vi Tại Tiên

501 | Đáp Pháp Tại Tiên Hà Dĩ Tri Chi Kinh Viết Pháp Xuất Chư Phật Pháp Sinh

502 | Phật Đạo Dĩ Thị Ngôn Chi Pháp Vi Tại Tiên Hựu Viết Nhược Nhiên Giả Hà

503 | Dĩ Bất Tiên Niệm Pháp Nhi Tiên Niệm Phật Da Đáp Viết Pháp Tuy Vi Diệu Vô

504 | Năng Tri Giả Do Nhược Địa Trung Phục Tạng Trân Bảo Vô Xứ Bất Hữu Nhi Nhân

505 | Bần Khốn Phạp Ư Tư Dụng Hữu Thần Thông Nhân Chỉ Kì Xứ Sở Đắc Dĩ Tự

506 | Cung Tế Ư Cùng Phạp Hoặc Vấn Viết Bảo Vi Thắng Da Nhân Vi Thắng Da Viết

507 | Nhân Thắng Dã Hà Dĩ Ngôn Thắng Phục Tạng Tuy Đa Phi Thần Thông Bất Đổ Do

508 | Nhân Đắc Tư Sinh Khởi Bảo Tạng Tự Quý Ư Địa Trung Da Pháp Diệc Như Thị

509 | Lí Tuy Huyền Diệu Phi Như Lai Bất Biện Phi Thế Tôn Bất Sướng Thị Dĩ

510 | Niệm Phật Tại Tiên Dĩ Pháp Vi Thứ Vân Hà Niệm Tăng Tăng Giả Vị Tứ

511 | Song Bát Bối Thập Nhị Hiền Sĩ Xả Thế Tham Tránh Khai Phúc Đạo Thủ Thiên Nhân

512 | Lộ Thông Mạc Bất Do Chi Tắc Thị Chúng Sinh Lương Hữu Phúc Điền Dã Hà Dĩ

513 | Minh Chúng Tăng Vi Lương Phúc Điền Dã Tích Hữu Bạc Phúc Tỉ Khâu Danh Phạm Ma

514 | Đạt Tại Thiên Nhị Bá Ngũ Thập Chúng Trung Linh Chúng Tăng Bất Đắc Thực Mạc

515 | Tri Thùy Cữu Phật Tiện Phân Vi Nhị Bộ Tại Nhất Bộ Trung Phục Linh Nhất

516 | Bộ Bất Đắc Thực Phục Phân Thử Nhất Bộ Vi Bán Linh Tùng Kì Bán Phục Linh

517 | Thử Bán Bất Đắc Thực Như Thị Triển Chuyển Phân Bán Nãi Chí Nhị Nhân Diệc

518 | Bất Đắc Thực Toại Chí Độc Thân Nãi Tri Vô Phúc Sở Tại Hành Thực Thứ Chí

519 | Tại Bát Tự Nhiên Tiêu Hoá Phật Mẫn Kì Ách Tự Thủ Thụ Thực Tại Ư Bát

520 | Trung Thần Lực Sở Chế Bất Phục Hoá Khứ Phật Dục Linh Hiện Thân Đắc Phúc Cố

521 | Linh Nhị Diệt Tận Tỉ Khâu Tại Tả Hữu Dĩ Thực Thí Thử Nhị Diệt Tận Tỉ

522 | Khâu Phàm Diệt Tận Tam Muội Giai Tức Thời Đắc Phúc Thứ Phục Linh Nhập Từ

523 | Tam Muội Tỉ Khâu Tại Tả Hữu Thứ Dĩ Nhị Bi Thứ Dĩ Nhị Hỉ Thứ Dĩ

524 | Nhị Hộ Các Các Biến Đại Linh Chung Tứ Đẳng Thời Ba Tư Nặc Vương Văn

525 | Thử Tỉ Khâu Bạc Phúc Phật Mẫn Dữ Thực Ngã Kim Diệc Đương Vi Kì Thiết Phúc

526 | Tức Khiển Sứ Nhân Mễ Sạ Mễ Thời Hữu Nhất Ô Phi Lai Hàm Nhất Lạp Mễ Khứ

527 | Sứ Nhân A Viết Vương Vi Phạm Ma Đạt Thiết Phúc Nhữ Hà Dĩ Trì Khứ Da

528 | Ô Tức Trì Hoàn Bản Xứ Sở Dĩ Nhĩ Giả Thử Tỉ Khâu Dĩ Mông Chúng Tăng

529 | Phúc Lực Thị Dĩ Điểu Thú Sở Bất Năng Xâm Hại Dã Dụng Thị Chứng Cố Tri

530 | Chúng Tăng Vi Lương Phúc Điền Dã Dĩ Kí Tự Độ Phục Năng Độ Nhân Chí Tam

531 | Thừa Đạo Niệm Chúng Chi Pháp Kì Nghĩa Như Thử

532 | Thứ Niệm Giới Giả Kì Nghĩa Vân Hà Tùng Ngũ Giới Thập Giới Nhị Bá Ngũ Thập

533 | Chí Ngũ Bá Giới Giai Dĩ Cấm Chế Thân Khẩu Kiểm Chư Tà Phi Ngữ

534 | Lục Tình Đoán Chư Dục Niệm Trung Biểu Thanh Tịnh Nãi Ưng Giới Tính Tích Hữu

535 | Nhị Tỉ Khâu Cộng Chí Phật Sở Lộ Kinh Quảng Dịch Đốn Phạp Tương Thuỷ Thời

536 | Hữu Tiểu Trì Uông Thuỷ Chúng Trùng Mãn Trung Nhất Tỉ Khâu Thâm Tư Cấm Luật Dĩ

537 | Vô Phạm Vi Thủ Nhược Ẩm Thử Thuỷ Sát Sinh Thậm Đa Ngã Ninh Toàn Giới Vẫn

538 | Mệnh Một Vô Dĩ Hận Ư Thị Mệnh Chung Tức Sinh Thiên Thượng Nhất Tỉ Khâu Tự

539 | Niệm Nghi Đương Ẩm Thuỷ Toàn Mệnh Khả Chí Phật Sở Yên Tri Tử Hậu Đương

540 | Sinh Hà Thú Tức Ẩm Trùng Thuỷ Hại Trùng Đại Đa Tuy Đắc Kiến Phật Khứ

541 | Giáo Thậm Viễn Đề Khấp Hướng Phật Tự Vân Đồng Bạn Mệnh Chung Phật Chỉ Thượng Thiên

542 | Viết Nhữ Thức Thử Thiên Bất Thử Thị Nhữ Bạn Dĩ Toàn Giới Công Tức Sinh Thiên

543 | Thượng Kim Lai Tại Thử Khanh Tuy Kiến Ngã Khứ Ngã Đại Viễn Bỉ Tuy Tang

544 | Mệnh Thường Tại Ngã Sở Khanh Kim Lai Kiến Ngã Giả Chính Khả Đổ Ngã Nhục

545 | Hình Nhĩ Khởi Thức Chí Chân Diệu Giới Hồ Dĩ Thị Ngôn Chi Trì Giới Bất

546 | Phạm Sở Nguyện Giả Đắc Thập Niệm Trung Giới Tại Tiền Lục Độ Ngôn Chi Thí Tại

547 | Tiền Sở Dĩ Tiền Khước Bất Đẳng Giả Thập Niệm Giới Giả Thanh Văn Gia Giới Dã

548 | Đệ Tử Pháp Dĩ Kiểm Thân Vi Tiên Thị Dĩ Tại Tiền Đại Sĩ Pháp Dĩ Huệ

549 | Thí Vi Trùng Hà Giả Phu Đại Sĩ Giả Sinh Thiên Nhân Trung Tâm Tồn Tế

550 | Ích Tế Ích Chi Yếu Phi Thí Bất Cứu Phu Chúng Sinh Tồn Mệnh Giả Dĩ Y

551 | Thực Vi Tiên Cố Dĩ Tài Thí Tiên Cứu Kì Hình Nhiên Hậu Dĩ Pháp Nhiếp Ngữ

552 | Kì Thần Cố Đại Sĩ Dĩ Thí Vi Tiên Phu Giới Hữu Nhị Hữu Tục Giới

553 | Hữu Đạo Giới Ngũ Giới Thập Thiện Vi Tục Giới Tam Tam Muội Vi Đạo Giới Nhị

554 | Bá Ngũ Thập Giới Chí Ngũ Bá Giới Diệc Thị Tục Giới Tứ Đế Diệu Tuệ Vi

555 | Đạo Giới Dã Đãn Hành An Giới Bất Xuất Tam Giới Dĩ Tuệ Ngữ Giới Sứ Thành

556 | Vô Lậu Nãi Hợp Đạo Giới Thanh Văn Gia Giới Dụ Nhược Tất Thượng Hoa Động Tắc

557 | Giải Tán Đại Sĩ Giới Giả Dụ Nhược Đầu Sáp Hoa Hành Chỉ Bất Động Hà

558 | Giả Tiểu Thừa Kiểm Hình Động Tắc Việt Nghi Đại Sĩ Lĩnh Tâm Bất Câu Ngoại Quỹ

559 | Dã Đại Tiểu Phạm Dị Cố Dĩ Hình Tâm Vi Thù Nội Ngoại Tuy Thù Câu

560 | Chí Niết Bàn Cố Viết Niệm Giới Dã Niệm Thí Sở Dĩ Đắc Chí Niết Bàn Giả

561 | Dĩ Thí Hữu Tài Thí Pháp Thí Dã Nhân Tài Thí Đắc Đạt Pháp Thí Thành Đàn

562 | Độ Vô Cực Cố Đắc Chí Niết Bàn Dã Niệm Thiên Giả Dục Giới Sắc Giới

563 | Chí Vô Sắc Giới Thiên Dã Thiên Hữu Nhị Chủng Hữu Thụ Phúc Thiên Hữu Đạo Đức

564 | Thiên Dục Giới Chư Tu Đà Hoàn Thiên Vĩnh Li Tam Ác Thú Tấn Thăng Đạo

565 | Đường Sắc Giới Không Giới Bát Tịnh Cư Thiên Tăng Tu Chỉ Quan Tấn Thành Vô

566 | Lậu Tức Bỉ Niết Bàn Bất Hoàn Thế Gian Phàm Phu Thiên Giả Thập Thiện Tứ

567 | Thiền Tứ Không Ư Bỉ Thụ Phúc Phúc Tận Hoàn Đoạ Lưu Chuyển Bất Dĩ Sở Vị

568 | Niệm Thiên Giả Niệm Bỉ Chư Đắc Đạo Giả Chuyên Tâm Hiệu Bỉ Mộ Kì Sở

569 | Hành Ý Bất Trì Tán Diệc Chí Niết Bàn Cố Viết Niệm Thiên Dã

570 | Niệm Hưu Tức Giả Vị Tâm Ý Tưởng Tức Ngũ Dục Bất Khởi Tịch Nhiên Vĩnh Định

571 | Cố Vân Tức Dã Phàm Tức Diệc Hữu Nhị Chủng Ngoại Đạo Phạm Chí Hình Cầu

572 | Phúc Diệc Vân Tức Dã Sa Môn Tứ Quả Chúng Kế Vĩnh Tiêu Nãi Thị Chân Tức

573 | Hà Dĩ Tri Kì Nhiên Tích Hữu Tỉ Khâu Danh Viết Tu La Đà Chí Xá

574 | Vệ Thành Chu Hành Giáo Hoá Thời Xá Vệ Thành Tây Ương Quật Ma Khả Sát Nhân

575 | Xứ Kì Địa Bình Bác Đa Chư Thụ Mộc Thời Hữu Nhất Phạm Chí Tại Thụ Hạ

576 | Toạ Thiền Bất Thực Ngũ Cốc Đãn Thực Quả Loả Nhược Vô Quả Tiện Đạm Thảo Thái

577 | Dĩ Tục Tinh Khí Thân Trước Thụ Diệp Y Hình Thể Luy Sấu Tài Tự Chi Trụ

578 | Thời Tu La Đà Hành Quá Phùng Kiến Vị Thị Đạo Sĩ Toạ Thiền Thí Quan Kì

579 | Tâm Tri Vi Định Bất Kiến Kì Tâm Bản Nãi Cầu Tác Thử Quốc Vương Niệm Viết

580 | Thử Nãi Thị Đại Tặc Da Chính Dục Xả Khứ Khủng Hậu Đoạ Tội Chính Dục Giáo

581 | Hoá Tất Bất Tùy Ngã Ngữ Đương Thiết Phương Tiện Độ Thử Nhân Nhĩ Tức Tiện

582 | Tựu Nhất Thụ Hạ Toạ Thiền Tướng Khứ Bất Viễn Nãi Kinh Thất Nhật Bất Động Bất

583 | Dao Quá Thất Nhật Hậu Khởi Chí Phạm Chí Tiền Đàn Chỉ Giác Viết Đồng Bạn Thể

584 | Trung Hà Như Dã Phạm Chí Lương Cửu Từ Nãi Cử Đầu Đáp Viết Bần Kiệm Vô

585 | Dĩ Tướng Di Như Hà Tỉ Khâu Hựu Viết Ngã Kim Đương Di Quân Nhất Vật

586 | Tức Hoá Tác Nhất Kê Quân Khả Sát Thử Kê Đạm Phạm Chí Kinh Viết Ngã Thượng

587 | Bất Sát Kì Sắt Huống Đương Sát Kê Da Tỉ Khâu Viết Nhữ Bản Tâm Nãi Dục

588 | Sát Vô Số Nhân Khả Sát Thử Kê Hà Túc Ngôn Phạm Chí Phục Viết Ngã

589 | Vân Hà Sát Vô Số Nhân Da Tỉ Khâu Viết Nhữ Bản Tại Thử Toạ Thiền Thời

590 | Nãi Dục Cầu Tác Thử Quốc Vương Vương Giả Trị Hoá Nhật Khả Sát Kỉ Nhân Nhi

591 | Ngôn Bất Sát Dã Thử Kê Tức Thị Nhữ Tâm Trung Thức Kê Nãi Khả Đắc Vô

592 | Vi Đại Đạo Hà Dụng Quốc Vương Vi Tức Tiện Tư Duy Thử Tỉ Khâu Nãi

593 | Tri Ngã Tâm Trung Sở Niệm Tất Thị Thánh Nhân Da Đương Tùng Kì Giáo Trùng Vi

594 | Thuyết Pháp Tức Đắc Đạo Tích Thử Phạm Chí Thân Hình Tuy Tĩnh Tâm Bất Hưu Tức

595 | Dã Tự Đắc Sát Thức Kê Dĩ Nãi Khả Danh Vi Hưu Tức Nhĩ Cố Hậu

596 | Giải Viết Tâm Ý Tưởng Tức Dã Niệm Thân Giả Quan Thân Tam Thập Lục

597 | Vật Ác Lộ Bất Tịnh Đế Niệm Bất Loạn Diệc Đắc Niết Bàn Hà Dĩ Tri Chi

598 | Tích Hữu Tỉ Khâu Tác A Luyện Nhược Thường Hành Khí Thực Ư Giang Thuỷ Biên Thực

599 | Thực Ngật Táo Bát Thời Thượng Lưu Ngạn Biên Trủng Gian Hữu Tân Tử Nữ Nhân Phong

600 | Xuy Đầu Phát Hốt Nhiên Đoạ Bát Trung Tỉ Khâu Thủ Chấp Thử Phát Đế Thị Chi

601 | Thậm Diệu Hảo Tâm Khẩu Độc Ngữ Nhược Thị Mã Vĩ Thử Phục Thái Tế Nhược

602 | Thị Nam Tử Phát Phục Thái Nhuyễn Tế Nhược Hệ Bất Giải Giả Tất Thị Nữ

603 | Nhân Phát Tức Tiện Hệ Chi Bất Giải Tiện Sinh Tưởng Niệm Thử Phát Như Thị Nhân

604 | Tất Diệu Hảo Diện Như Đào Hoa Sắc Nhãn Như Minh Châu Tị Như Tiệt Đồng Khẩu

605 | Như Hàm Đan Mi Như Du Đình Tác Thị Phân Biệt Dĩ Tiện Khởi Dục Tâm Thuận

606 | Thuỷ Tầm Cầu Tưởng Kiến Nhan Sắc Đôi Cầu Bất Dĩ Kiến Nhất Nữ Nhân Hồ Lang

607 | Dĩ Đạm Kì Bán Thân Hình Xú Lạn Kì Phát Do Tồn Chấp Phát Tỉ Chi Trường

608 | Đoản Tướng Tự Hướng Giả Dục Tưởng Thích Nhiên Tự Giải Phục Trùng Quan Chi Phân Biệt

609 | Duy Sát Thử Nhân Sinh Thời Hình Dong Nghiêm Hảo Kim Giả Hoại Bại Linh Nhân Đắc

610 | Kiến Ngã Hướng Sở Khởi Tưởng Giả Đãn Dục Tham Thân Ái Dục Cố Nhi Sinh Tư

611 | Niệm Nhĩ Bỉ Thân Như Thị Ngã Phục Hà Dị Đế Kế Ngã Thân Tứ Đại

612 | Hợp Thành Phúc Tận Duyên Li Tự Nhiên Giải Tán Đổ Biến Tâm Ngộ Tức Đạt

613 | Đạo Tích Dĩ Thị Ngôn Chi Niệm Thân Giả Hoạch Sa Môn Quả Dã Niệm Tử

614 | Giả Hành Nhân Niệm Mệnh Thệ Bất Đình Chư Căn Tán Hoại Như Hủ Bại Mộc Mệnh

615 | Căn Đoán Tuyệt Đương Niệm Phi Thường Dĩ Tự Giác Ngộ Tích Hữu Tỉ Khâu Danh Bà

616 | Cát Lê Toạ Thiền Hành Đạo Kinh Lịch Niên Tuế Nhi Hữu Lậu Bất Trừ Tự Hoạn

617 | Kỉ Thân Dĩ Vi Đại Luy Mỗi Tư Tự Hại Nhân Sở Dĩ Bất Đắc Chí Đạo

618 | Giả Chính Toạ Thử Thân Triền Miên Lưu Chuyển Hà Thời Khả Tức Tức Dĩ Thủ Chấp

619 | Đao Tương Dục Tự Vẫn Phục Trùng Tư Duy Thế Tôn Hữu Giáo Giới Chư Đệ Tử

620 | Bất Đắc Tự Tàn Tuy Nhĩ Ngã Kim Dục Cầu Niết Bàn Niết Bàn Trung Vô Thân

621 | Thị Cố Tiên Trừ Thân Thủ Vô Vi Chính Nhĩ Tiện Cử Đao Tự Vẫn Đầu Diệc

622 | Đoạ Tâm Diệc Triệt Tức Đắc A La Hán Phật Tri Dĩ Đắc Đạo Sắc Chư

623 | Tỉ Khâu Xà Duy Kì Thi Thị Cố Niệm Tử Diệc Đắc Niết Bàn Dã Tiền Thập

624 | Niệm Phật Tổng Thuyết Vi Lợi Căn Chúng Sinh Hậu Canh Thuyết Giả Vi Độn Căn

625 | Chúng Sinh Tích Giải Kì Nghĩa Dã Danh Dự Giả Hậu Đắc Chuyển Luân Thánh Vương Đắc

626 | Đại Quả Báo Giả Hậu Đắc Thiên Đế Thích Chư Thiện Phổ Chí Giả Hậu Hoạch Phạm

627 | Thiên Báo Đắc Cam Lộ Vị Giả Hậu Đắc Tị Chi Phật Chí Vô Vi Xứ Giả

628 | Hậu Hoạch A La Hán Quả Thượng Thuyết Thập Niệm Vô Thử Ngũ Cú Kim Sở Dĩ

629 | Ích Chư Báo Giả Dục Minh Niệm Phật Chi Nghĩa Kì Lí Thâm Diệu Phật Thuyết

630 | Chư Đệ Tử Ban Niết Bàn Giai Dĩ Tú Duyên Thường Đối Nhân Thủ Niết Bàn Mục

631 | Liên Bí Đả Thân Tử Hạ Trường Như Thị Ngũ Bá Đệ Tử Các Dĩ Tú

632 | Duyên Thủ Diệt Độ Duy Hữu A Nan Tối Thiện Thủ Niết Bàn A Nan Tương

633 | Dục Niết Bàn Thời Tiên Hiện Quang Thụy Hữu Phạm Chí Tùng A Nan Học Toán Toại

634 | Kiến A Nan Nhan Sắc Phát Minh Cáo A Xà Thế Vương Viết A Nan Nhan Sắc

635 | Dị Thường Tương Dục Thủ Niết Bàn Da Vương Tức Khiển Nhân Đôi Tầm A Nan A

636 | Nan Dĩ Tương Ngũ Bá Đệ Tử Chí Trung Lộ Hằng Thuỷ Ngạn Thượng Thượng Thuyền Dục

637 | Độ Đích Chí Thuỷ Bán Vương Dĩ Chí Ngạn Tì Xá Li Thừa A Nan Lai

638 | Diệc Khiển Ngũ Bá Đồng Tử Nghênh Dục Đích Nhị Quốc Ý Cố Dĩ Thần Lực Chế

639 | Thuyền Linh Trụ Trung Lưu Thời Độ Đệ Tử Nhất Danh Ma Thiền Đề Nhị Danh Ma

640 | Thân Đề Cáo Ma Thiền Đề Nhữ Chí Yết Tân Hưng Hiển Phật Pháp Bỉ Độ Vị

641 | Hữu Phật Pháp Hảo Linh Lưu Bố Cáo Ma Thân Đề Viết Nhữ Chí Sư Tử

642 | Hử Quốc Hưng Long Phật Pháp Chúc Luy Ngật Tác Thập Bát Biến Xuất Hoả Thiêu

643 | Thân Trung Phân Xá Lợi Linh Nhị Gia Các Đắc Cung Dưỡng Thử Do Niệm Phật Chi

644 | Lực Cố Đắc Tự Tại Dã

***

645 | Quyển 3

646 | Phân Biệt Công Đức Luận Quyển Đệ Tam

647 | Thất Dịch Nhân Danh Phụ Hậu Hán Lục

648 | Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Giả Phật Đại Từ Dục Linh Đệ Tử Cụ Tri Niệm Phật

649 | Chi Nghĩa Do Phụ Ước Giới Ngữ Tử Tôn Dục Linh Thành Tựu Vô Phục Dĩ Dĩ

650 | Chuyên Tinh Niệm Phật Quan Như Lai Hình Mục Vị Tằng Li Do Như A Nan Quan

651 | Phật Vô Áp Tâm Niệm Vô Dĩ Thời A Nan Bội Thượng Sinh Ung Phật Mệnh

652 | Kì Bà Trị A Nan Sở Hoạn Kì Bà Bạch Phật Bất Cảm Dĩ Thủ Cận A

653 | Nan Bội Phật Cáo Kì Bà Đãn Trị Vật Nghi Ngã Tự Đương Dữ A Nan

654 | Thuyết Pháp Linh Kì Bất Giác Thống Như Lai Linh A Nan Thục Thị Phật Tướng Hảo

655 | Phật Vi Thuyết Như Lai Thân Giả Kim Cương Chi Số Bất Khả Bại Hoại Tam Thiên

656 | Nhị Bá Phúc Công Đức Sở Thành A Nan Mục Thị Bất Quyền Nhĩ Thính Bất Áp

657 | Tâm Niệm Bất Tán Thời Kì Bà Ư A Nan Bội Thượng Hội Ung Phó Cao

658 | Phật Vấn A Nan Nhữ Giác Bội Thượng Thống Bất Đáp Viết Bất Giác Bất Giác Thống

659 | Giả Do Niệm Phật Cố Dã Thập Lực Sở Thành Tứ Vô Sở Úy Tích Hữu Trường

660 | Giả Tương Nô Lễ Thâu Bà Vân Nam Vô Thập Lực Thế Tôn Nô Tại Hậu

661 | Lễ Vân Nam Vô Thập Nhất Lực Như Lai Trường Giả Viết Như Lai Chính Hữu

662 | Thập Lực Vân Hà Hữu Thập Nhất Lực Da Nô Viết Thập Nhất Lực Phục Hà Khổ

663 | Đãn Mạc Ngôn Cửu Lực Ngôn Thập Nhất Lực Canh Ích Nhất Lực Hữu Hà Quá Thất

664 | Đại Gia Mặc Nhiên Nhi Quy Vấn Chư Pháp Sư Viết Như Lai Vi Hữu Kỉ Lực

665 | Da Đáp Viết Hoặc Hữu Tam Lực Hoặc Hữu Thập Lực Hoặc Vân Vô Số Dĩ

666 | Thị Ngôn Chi Bất Hạn Ư Thập Da Trường Giả Tức Xuất Gia Học Đạo Miễn Nô

667 | Vi Gia Chủ Ngôn Tứ Phi Vi Bất Túc Ngôn Vô Số Phi Vi Hữu Dư Đích

668 | Thời Ưng Vật Vô Hữu Thường Lượng Dã

669 | Niệm Pháp Giả Tùng Dục Chí Vô Dục Tùng Dục Chí Đạo Tùng Lậu Chí Vô Lậu

670 | Tùng Hữu Vi Chí Vô Vi Dã Hà Dĩ Tri Kì Nhiên Tích Giả Thế Tôn Ư

671 | Ưu Điền Vương Quốc Thuyết Pháp Giáo Hoá Thời Tam Thập Tam Thiên Thượng Vi Mẫu Ma

672 | Da Thuyết Pháp Cửu Thập Nhật Nhi Hoàn Ư Ca Thi Thành Bắc Hạ Thời Ưu

673 | Bát Liên Hoa Tỉ Khâu Ni Tâm Niệm Dục Độc Tiền Kiến Phật Thời Chư Quốc Vương

674 | Bất Kiến Phật Dĩ Cửu Thập Nhật Giai Hữu Hạt Ngưỡng Chi Tình Tịnh Lai Vân Tập

675 | Ngã Vi Tỉ Khâu Ni Bất Nghi Tại Thử Chúng Náo Chi Trung Đương Tác Phương Nghi

676 | Linh Đắc Tại Tiên Tức Hoá Tác Chuyển Luân Thánh Vương Tương Tùng Như Thánh Vương Pháp

677 | Chư Tiểu Quốc Vương Kiến Thánh Vương Các Tự Trì Tán Tỉ Khâu Ni Tức Hoàn Phục

678 | Bản Hình Kiến Phật Lễ Bái Vấn Tấn Chư Vương Các Lai Kiến Phật Bất Phục

679 | Kiến Thánh Vương Nãi Tri Tỉ Khâu Ni Sở Hoá Vị Tỉ Khâu Ni Viết Hướng Giả

680 | Sở Kiến Cuống Như Thử Da Thời Ưu Bát Liên Hoa Tâm Niệm Tự Vị Tối Tiên

681 | Kiến Phật Phật Cáo Ưu Bát Liên Hoa Viết Nhữ Tự Hô Tối Tiên Kiến Phật Phục

682 | Hữu Tiên Nhữ Giả Bất Thẩm Thị Thùy Phật Ngôn Nãi La Duyệt Thành Đông Sơn

683 | Trung Tu Bồ Đề Tại Bỉ Bổ Y Thiên Ngữ Viết Phật Lai Hạ Dĩ Tu Bồ

684 | Đề Viết Ngã Vi Đệ Tử Pháp Đương Vãng Lễ Vấn Phú Tự Tư Duy Phật Vi

685 | Sở Tại Nhược Kim Sắc Thị Phật Da Kim Phục Hà Hạn Phật Ngôn Nhất Thiết Chư

686 | Pháp Không Vô Sở Hữu Nhược Giải Thập Nhị Nhân Không Phi Tạo Phi Tác Phi Nhân

687 | Phi Sĩ Vô Mệnh Phi Mệnh Giả Tắc Vi Kiến Pháp Kiến Pháp Vô Mệnh Phi Mệnh

688 | Vi Kiến Ngã Tức Xoa Thủ Khởi Hoán Viết Bà Nam Chính Nhĩ Hoàn Toạ Bổ

689 | Y Dĩ Thị Ngôn Chi Tu Bồ Đề Vi Tiên Nhữ Kiến Phật Dã Phật Giả Chư

690 | Pháp Chi Chủ Giải Liễu Pháp Không Tức Thị Niệm Pháp Niệm Chúng Giả Vị Hiền Thánh

691 | Chúng Dã Phàm Chúng Hữu Nhược Can Chủng Ngoại Đạo Cửu Thập Ngũ Chủng Diệc Các

692 | Các Hữu Chúng Hoặc Hữu Hòa Hợp Giả Hoặc Hữu Bất Đồng Giả Diệc Dĩ Giới

693 | Luật Tự Phòng Hoặc Hành Thiền Định Hoặc Dĩ Vô Tưởng Vi Tận Diệu Các Tín Sở

694 | Sự Tự Dĩ Vi Chân Đãn Bất Đắc Thật Thánh Bát Phẩm Đạo Thị Dĩ Bất Năng

695 | Chí Niết Bàn Nhĩ Tuy Phục Hữu Ngũ Thông Trụ Thọ Cập Vô Tưởng Diên Kiếp Giai

696 | Bất Miễn Ư Sinh Tử Duy Hữu Như Lai Thánh Chúng Tứ Song Bát Bối Chi Sĩ

697 | Bất Phục Vi Tứ Sử Sở Phiêu Cửu Chỉ Sở Sách Nhĩ Cố Kinh Vân Cửu Thập

698 | Lục Chủng Tăng Phật Tăng Tối Vi Chân Như Lai Tứ Bộ Chúng Giai Đồng Vi Thích

699 | Chủng Dụ Nhược Tứ Hằng Thuỷ Các Biệt Hữu Ngũ Bá Chi Giai Hợp Nhập Đại Hải

700 | Dĩ Đẳng Nhất Vị Chúng Diệc Như Thị Hoặc Hữu Sa Đế Lợi Chủng Hoặc Bà La

701 | Môn Chủng Hoặc Trường Giả Chủng Hoặc Cư Sĩ Chủng Tứ Tính Trung Hữu Xuất Gia

702 | Học Giả Giai Đồng Thích Chủng Vi Nhất Tính Vô Hữu Nhược Can Biệt Danh Dĩ Thị

703 | Sở Bao Di Viễn Kì Nghĩa Di Thâm Chúng Tăng Giả Nãi Hàm Thụ Ư Tam

704 | Thừa La Hán Tăng Diệc Xuất Ư Trung Duyên Nhất Giác Diệc Tại Kì Trung Đại

705 | Thừa Tăng Diệc Tại Kì Trung Thị Cố Danh Vi Lương Hữu Phúc Điền Tam Giới Chi

706 | Trung Tế Ích Chúng Sinh Vô Quá Thử Lương Mĩ Chi Địa Như Lai Tuy Phục Thành

707 | Chính Giác Thường Hoàn Hướng Chúng Tăng Sám Hối Giả Dĩ Tăng Địa Hậu Trùng Tam

708 | Thế Chư Phật Duyên Giác Đệ Tử Vô Bất Do Tăng Nhi Đắc Diệt Độ Do Phạm

709 | Ma Đạt Tỉ Khâu Lại Thánh Chúng Dĩ Toàn Tế Niệm Giới Giả Vị Hành Tịnh

710 | Giới Cụ Chư Luật Nghi Do Nhược Đào Gia Điều Thiện Thực Nê Sĩ Chư Cầu Khí

711 | Đại Tiểu Phương Viên Các Đích Sở Dục Giới Diệc Như Thị Nhược Nguyện Sinh Thiên Tam

712 | Giới Thụ Phúc Nhược Dục Đoán Kế Cầu Đạo Sở Nguyện Ưng Ý Do Cát Tường

713 | Bình Tùy Nhân Sở Dục Thủ Tức Đắc Chi Dĩ Giới Vi Bản Kiêm Hành Tam Thập

714 | Thất Phẩm Cập Chư Tam Muội Định Đoán Thất Sứ Cửu Kế Tấn Thành Niết Bàn Dụ

715 | Thực Thành Khí Bất Khả Phục Hoại Dã

716 | Niệm Thí Giả Vị Thí Hữu Nhị Sự Hoặc Hữu Chủ Thí Hoặc Vô Chủ Thí Phục

717 | Hữu Nhị Thí Nhất Danh Dữ Nhị Danh Xả Phục Hữu Nhị Thí Nhất Tài Nhị

718 | Pháp Dữ Giả Tức Hữu Chủ Thí Dã Xả Tức Vô Chủ Thí Dã Xả Tắc

719 | Xả Kế Dã Dữ Tắc Tiền Nhân Thụ Tài Pháp Sở Dĩ Thí Chí Niết Bàn Giả

720 | Nhược Dữ Nhân Tài Pháp Thời Tâm Bất Vọng Báo Bất Kế Bỉ Dĩ Dĩ Tam Sự

721 | Vô Ngại Tức Đồng Vô Vi Dã Nhược Năng Xả Kế Diệc Thị Niết Bàn Xả Dữ

722 | Câu Chí Niết Bàn Giả Do Tượng Trục Kiện Nhi Tấn Chi Dữ Thối Kì Ư

723 | Đắc Nhục Tấn Tắc Phá Quân Thối Tắc Tự Tang Thực Nhục Tất Hĩ Niệm Thiên Giả

724 | Hữu Tam Chủng Thiên Dã Hữu Cử Thiên Hữu Sinh Thiên Hữu Thanh Tịnh Thiên Vân

725 | Hà Cử Thiên Vị Chuyển Luân Thánh Vương Vi Chúng Nhân Sở Cử Sở Dĩ Danh Vi

726 | Thiên Giả Dĩ Thánh Vương Hữu Thập Thiện Giáo Thế Sứ Nhân Giai Sinh Thiên Tại Nhân

727 | Chi Thượng Cố Xưng Vi Thiên Hoặc Hữu Thuyết Viết Thánh Vương Thắng Phật Hà Dĩ Ngôn

728 | Chi Thánh Vương Trị Thế Nhân Vô Đoạ Tam Ác Đạo Giả Phật Xuất Thế Thời Tam

729 | Ác Bất Đoán Dĩ Thị Vi Thắng Dã Hoặc Phục Thuyết Viết Phật Thắng Thánh Vương Sở

730 | Dĩ Ngôn Thắng Thánh Vương Dĩ Thập Thiện Giáo Thế Bất Quá Nhân Thiên Phật Xuất Giáo

731 | Thế Đắc Chí Niết Bàn Dĩ Thị Vi Thắng Dã Vân Hà Sinh Thiên Tùng Tứ Thiên

732 | Vương Chí Nhị Thập Bát Thiên Chư Thụ Phúc Giả Tận Thị Sinh Thiên Sở Dĩ Ngôn

733 | Sinh Thiên Lưu Chuyển Bất Tức Bất Li Sinh Tử Cố Viết Sinh Thiên Dã Vân Hà

734 | Thanh Tịnh Thiên Vị Phật Duyên Giác Thanh Văn Tam Nhân Giai Tận Kế Sứ Xuất Ư

735 | Tam Giới Thanh Tịnh Vô Dục Cố Viết Thanh Tịnh Thiên Dã Bát Tịnh Cư Thiên Giả

736 | Quá Ư Sinh Cử Bất Cập Thanh Tịnh Xứ Kì Trung Gian Niệm Thiên Giả Chi

737 | Sở Mộ Dã Nhân Niệm Sinh Cử Diệc Hữu Chí Niết Bàn Lí Hà Giả Xá

738 | Vệ Thành Trung Hữu Thanh Tín Sĩ Phu Phụ Nhị Nhân Vô Hữu Tử Điệt Nhị Nhân

739 | Tinh Tấn Tâm Tồn Tam Bảo Thời Phụ Tảo Vong Tức Sinh Tam Thập Tam Thiên Vi

740 | Thiên Nữ Đoan Chánh Vô Song Thiên Trung Thiểu Tỉ Nữ Tự Niệm Ngôn Thùy Nhâm

741 | Ngã Phu Dĩ Thiên Nhãn Quan Thế Gian Kiến Bản Phu Dĩ Xuất Gia Học Đạo

742 | Niên Cao Ám Đoản Chuyên Tín Nhi Dĩ Thường Dĩ Tảo Trừ Đáp Miếu Vi Hành

743 | Kiến Kì Tinh Cần Lí Ưng Sinh Thiên Tất Hoàn Vi Ngã Phu Thời Xứ Tĩnh

744 | Thất Dạ Toạ Tư Duy Hoắc Nhiên Kiến Minh Quái Kì Hữu Dị Cử Đầu Ngưỡng Thị

745 | Kiến Hữu Thiên Nữ Vấn Kì Sở Do Tùng Hà Nhi Lai Thiên Nữ Đáp Viết Ngã

746 | Tùng Tam Thập Tam Thiên Thượng Lai Bản Thị Quân Phụ Kim Vi Thiên Nữ Thiên Thượng

747 | Vô Nhâm Ngã Phu Giả Quan Quân Tinh Tấn Ưng Hoàn Vi Ngã Phu Thị Dĩ Cố

748 | Lai Bạch Ý Ngữ Ngật Hốt Nhiên Bất Kiến Hoàn Quy Thiên Thượng Thời Lão Tỉ

749 | Khâu Tự Thị Dĩ Hậu Bội Gia Tinh Tấn Kiêm Canh Bổ Thiện Cố Miếu Thần Tịch

750 | Bất Giải Tích Công Toại Đa Phúc Đức Chuyển Thắng Nãi Ưng Sinh Đệ Tứ Đâu Suất

751 | Thiên Thiên Nữ Phục Dĩ Thiên Nhãn Quan Chi Kiến Kì Nãi Ưng Sinh Đệ Tứ Thiên

752 | Phục Lai Ngữ Ngôn Tích Tinh Tấn Dĩ Quá Ngã Giới Ngã Bất Phục Đắc Quân Vi

753 | Phu Ngữ Ngật Hoàn Khứ Tỉ Khâu Bội Canh Tinh Tấn Thắng Ư Tiền Thời Trú

754 | Tắc Kinh Hành Dạ Tắc Thiền Tư Tâm Ý Chuyển Minh Tư Duy Tứ Đế Như Thị

755 | Bất Cửu Toại Đắc La Hán Sở Vị Nhân Niệm Thiên Đắc Chí Niết Bàn Giả Niệm

756 | Hưu Tức Giả Vị Đắc Định Dã Hưu Tức Hữu Nhị Hữu Tục Hưu Tức Hữu Đạo

757 | Hưu Tức Tục Hưu Tức Giả Do Hành Tác Bì Cực Tiểu Trụ Giải Tức Cố Danh

758 | Vi Tục Hưu Tức Đạo Hưu Tức Giả Vị Định Chi Nhân Hà Dĩ Tri Kì Nhiên

759 | Tích Hữu Tỉ Khâu Danh Viết Đẳng Hội Thời Cận Đại Đạo Biên Toạ Thiền Định Ý

760 | Thời Hữu Ngũ Bá Thừa Xa Quá Thanh Thậm Hung Hung Tịch Nhiên Bất Văn Thời Phục

761 | Thiên Lôi Phích Lịch Hựu Khuể Phục Địa Đại Động Đô Vô Sở Văn Hành Quá Giả

762 | Chúng Trần Độ Bộn Y Tích Hữu Thời Tiết Hữu Nhất Nhân Lai Kiến Thử Tỉ Khâu

763 | Đoan Toạ Bất Động Trần Độ Bộn Y Đô Vô Sở Giác Da Tỉ Khâu Định Giác

764 | Đẩu Tẩu Trần Độ Hựu Vấn Viết Hướng Giả Miên Da Viết Bất Dã Hựu Vấn

765 | Nhược Bất Miên Giả Hướng Hữu Xa Quá Cập Thiên Lôi Địa Động Tịch Nhiên Bất Kinh

766 | Hà Do Như Thử Đáp Viết Ngã Thời Nhập Hưu Tức Tam Muội Thị Dĩ Đô Vô

767 | Sở Văn Nhĩ Dĩ Thị Ngôn Chi Đắc Hưu Tức Định Giả Tuy Phục Thiên Địa

768 | Phú Trụy Bất Cức Kì Chí Cố Danh Hưu Tức Định Dã Niệm An Ban Giả Vị

769 | Tức Chư Toạ Trì Dã Thú Đạo Chi Kính Phi Duy Nhất Đồ Sở Ngộ Chi Phương

770 | Các Hữu Sở Tại Hà Dĩ Tri Kì Nhiên Da Thân Tử Tích Tằng Cung Dưỡng Thập

771 | Tứ Ức Phật Tùng Phật Văn Pháp Vị Tằng Tống Tập An Ban Chí Thích Ca Văn

772 | Thế Tùng Mã Sư Tỉ Khâu Thuỷ Đạt Không Pháp Tức Kiến Đạo Tích Phật Cụ Diễn

773 | Tuệ Lậu Tận Kế Giải Kim Vi Trí Tuệ Đệ Nhất Bất Do An Ban Đắc Chí

774 | Niết Bàn Dã Mục Kiền Liên Tích Tam Thập Kiếp Trung Cung Dưỡng Chư Phật Tu Đại

775 | Thừa Hành Bất Năng Chung Ngật Tao Ngộ Thế Tôn Thối Thủ Tận Lậu Tự Tích Kị

776 | Kim Vị Tằng Tập An Ban Ca Diệp Tỉ Khâu Tích Diệc Tằng Cung Dưỡng Tam Vạn

777 | Như Lai Diệc Vị Tằng Tập An Ban Ưng Đắc Tị Chi Phật Kim Thối Vi

778 | La Hán Mã Sư Tỉ Khâu Tích Nhật Diệc Cung Dưỡng Thất Phật Diệc Bất Tập An

779 | Ban Kim Diệc Tận Lậu A Nan Tích Tằng Cung Dưỡng Nhị Vạn Như Lai Sở Tùng

780 | Chư Phật Tư Thụ Pháp Giáo Diệc Bất Tập An Ban Duy Hữu La Vân Ma A

781 | Kiếp Mộc La Nẵng Tích Dĩ Lai Thường Tập An Ban Kim Diệc Chí Đạo Dĩ

782 | Thị Ngôn Chi Thú Đạo Chi Kính Phi Duy Nhất Đồ An Ban Giả Tri Tức

783 | Trường Đoản Lãnh Nhiệt Trì Tật Tùng Thô Chí Tế Tiêm Ngữ Loạn Tưởng Toại Chí Vi

784 | Diệu Hoặc Nhân Tức Dĩ Ngộ Hoặc Phân Biệt Giải Liễu Hoặc Đầu Đà Thủ Tiết Hoặc

785 | Đa Văn Cương Kí Hoặc Thần Túc Thức Vi Hoặc Khai Hoặc Huấn Ngộ Sở Vị Thù

786 | Đồ Nhi Đồng Quy Dã Niệm Thân Giả Vị Phân Biệt Tứ Đại Dã Giải Liễu

787 | Ngũ Âm Nhất Đồng Chi Ảo Mộng Hà Dĩ Tri Chi Niệm Thân Đắc Chí Niết Bàn

788 | Da Tích Phật Khứ Thế Hậu Bá Tuế Thời Hữu A Dục Vương Điển Chủ Diêm Phù

789 | Đề Quần Thần Phu Nhân Tượng Mã Các Hữu Bát Vạn Tứ Thiên Thời Vương Tuần Hành

790 | Quốc Giới Kiến Diêm La Vương Hữu Thập Bát Địa Ngục Diệc Hữu Thần Lại Tích

791 | Vấn Tội Tù Vương Vấn Tả Hữu Viết Thử Hà Đẳng Nhân Đáp Viết Thử Tử Nhân

792 | Vương Dã Chủ Phân Biệt Thiện Ác Vương Viết Tử Nhân Vương Thượng Năng Tác Địa Ngục

793 | Trị Tội Nhân Ngã Thị Sinh Nhân Vương Bất Năng Tác Địa Ngục Da Vấn Chư Quần

794 | Thần Thùy Năng Tạo Địa Ngục Chư Thần Đối Viết Duy Hữu Cực Ác Nhân Năng Tạo

795 | Địa Ngục Nhĩ Vương Sắc Chư Thần Phóng Mịch Ác Nhân Thần Tức Hành Mịch Kiến Hữu

796 | Nhất Nhân Toạ Địa Chí Kế Bàng Hữu Cung Tiến Kiêm Hữu Điếu Ngư Câu Phục Dĩ

797 | Độc Phạn Thực Tước Tịnh Chí Kế Tịnh Điếu Ngư Xạ Điểu Bộ Tước Thần Hoàn Dĩ

798 | Trạng Bạch Vương Ác Nhân Như Thị Vương Viết Thử Nhân Cực Ác Tất Năng Biện Địa

799 | Ngục Sự Vương Khiển Nhân Hoán Viết Vương Dục Kiến Nhữ Ác Nhân Viết Ngã Thị Tiểu

800 | Nhân Vô Hữu Thức Tri Vương Dụng Ngã Vi Viết Vương Chính Dục Đắc Nhữ Trị

801 | Địa Ngục Sự Kì Nhân Tức Quy Gia Hữu Lão Mẫu Ngữ Mẫu Viết Vương Hoán

802 | Ngã Mẫu Ngữ Nhi Viết Vương Hoán Nhữ Vi Nhi Viết Vương Dục Sứ Ngã Trị Địa

803 | Ngục Sự Mẫu Viết Nhữ Khứ Ngã Vân Hà Hoạt Mẫu Tức Bão Nhi Cước Bất Phóng

804 | Nhi Ý Dục Khứ Tức Bạt Đao Chước Mẫu Sát Nhi Khứ Chí Vương Sở Vương Vấn

805 | Viết Mẫu Bất Phóng Nhữ Hà Do Đắc Lai Viết Sát Mẫu Nhi Lai Vương Viết

806 | Chân Ác Nhân Dã Tất Năng Biện Địa Ngục Sự Tức Uy Thử Nhân Tác Địa Ngục

807 | Thành Thiết Hoạch Thang Kiếm Thụ Tức Bái Thử Nhân Vi Địa Ngục Vương Dữ Lập Thần

808 | Tá Các Hữu Sở Điển Như Diêm La Vương Vương Ước Sắc Viết Nhược Hữu Nhân Nhập

809 | Thử Thành Giả Bất Vấn Quý Tiện Đắc Tiện Trị Tội Vương Viết Chính Sứ Ngã Nhập

810 | Trung Giả Diệc Mạc Thính Xuất Thời Hữu Lão Tỉ Khâu Danh Viết Thiện Giác Thường Hành

811 | Khí Thực Chí Thử Thành Môn Ngoại Kiến Hảo Hoa Hương Vị Nội Hữu Nhân Tức

812 | Tiện Nhập Thành Đãn Kiến Trị Tội Nhân Kinh Bố Dục Hoàn Xuất Thời Ngục Tốt Bất

813 | Thính Xuất Dục Tương Chí Hoạch Thang Đạo Nhân Cầu Viết Tiểu Khoan Ngã Chí Nhật

814 | Trung Hựu Ngữ Khuể Hữu Nam Nữ Nhị Nhân Toạ Phạm Dâm Tương Lai Dục Trị Tội

815 | Trí Đối Cữu Trung Đảo Chi Tư Tu Biến Thành Vi Mạt Đạo Nhân Kiến Chi

816 | Thuỷ Niệm Phật Ngữ Nhân Thân Như Tụ Mạt Thành Tai Tư Ngôn Hựu Khuể Phục Biến

817 | Vi Bạch Sắc Phục Niệm Nhân Thân Như Bạch Hôi Tụ Biến Dị Bất Nhất Như Ảo

818 | Như Hoá Đế Kế Phi Chân Tức Thời Ý Ngộ Lậu Tận Kế Giải Ngục Tốt Phục

819 | Thôi Nhập Hoạch Thang Thời Tỉ Khâu Tiếu Ngục Tốt Sân Khuể Sứ Tứ Nhân Hiệp

820 | Lưỡng Dịch Đảo Trước Hoạch Trung Tức Thời Thang Lãnh Tỉ Khâu Tức Hoá Tác Thiên Diệp

821 | Liên Hoa Ư Liên Hoa Trung Kế Gia Phu Toạ Ngục Tốt Kinh Quái Bạch A

822 | Dục Vương Viết Kim Ngục Trung Hữu Kì Quái Sự Nguyện Vương Tạm Quật Lâm Thị Vương

823 | Viết Ngã Tiên Hữu Yếu Chính Sứ Ngã Nhập Trung Diệc Bất Thính Xuất Ngã Kim Na

824 | Đắc Nhập Da Lại Bạch Vương Viết Đãn Nhập Vô Khổ Vương Tức Tùy Nhập Kiến

825 | Đạo Nhân Tại Liên Hoa Thượng Toạ Vấn Viết Nhữ Thị Hà Nhân Dã Viết Ngã Thị

826 | Đạo Nhân Đạo Nhân Ngữ Vương Nhữ Thị Si Nhân Vương Viết Hà Dĩ Danh Ngã Vi

827 | Si Nhân Dã Đạo Nhân Viết Nhữ Bản Tác Đồng Tử Thời Dĩ Nhất Bả Độ Thượng

828 | Phật Phật Thụ Chú Nguyện Ngôn Nhữ Hậu Đương Vương Diêm Phù Đề Tác Thiết Luân Vương

829 | Danh A Dục Nhất Nhật Chi Trung Đương Khởi Bát Vạn Tứ Thiên Phật Đồ Thử Ngục

830 | Thị Phật Đồ Da Vương Ý Tức Ngộ Tiện Tiền Hối Quá Dĩ Thiện Giác Vi

831 | Sư Ư Thị Bãi Ngục Hưng Phúc Khởi Bát Vạn Tứ Thiên Đồ Miếu Dĩ Thị Ngôn

832 | Chi Niệm Thân Đắc Niết Bàn Thử Kì Nghĩa Dã

833 | Vân Hà Niệm Tử Đắc Chí Niết Bàn Tích A Dục Vương Phụng Pháp Tinh Tấn Thường

834 | Cung Dưỡng Ngũ Bá Chúng Tăng Ư Cung Nội Tứ Sự Vô Phạp Kiêm Ngoại Cấp Ngũ

835 | Bá Khí Thực A Luyện Nhược Phục Tống Ngũ Bá Nhân Hướng Tựu Cung Dưỡng Chi

836 | Phục Ư Tứ Thành Môn Trung Cấp Chư Cùng Phạp Cung Dưỡng Toại Cửu Tài Bảo Chuyển

837 | Giảm Thời Đệ Danh Tu Già Đố Lộ Bất Tín Tam Tôn Đại Thần Da Xá Phu

838 | Nhân Thiện Dong Diệc Đồng Bất Tín Tam Nhân Đồng Tâm Hoạn Vương Số Số Gián

839 | Viết Cung Dưỡng Đạo Sĩ Không Kiệt Quốc Tài Hà Dụng Thị Vi Vương Viết Nhữ

840 | Hảo Hộ Khẩu Phu Sĩ Xứ Thế Sở Dĩ Trảm Thân Do Kì Ác Ngôn Dã

841 | Tu Già Đố Lộ Bạch Vương Viết Thử Chư Đạo Sĩ Tịnh Thị Niên Thiểu Hào Thiện

842 | Tứ Khẩu Tình Dục Sí Thịnh Nhi Xứ Thâm Cung Phụ Nữ Chi Gian Khởi Khả Tín

843 | Hồ Vương Đáp Viết Đạo Sĩ Chế Hình Dĩ Pháp Tự Phòng Tiết Thân Thủ Cấm

844 | Bất Vi Sắc Dục Sở Quật Dã Tu Già Đố Lộ Hậu Xuất Hành Lạp Kiến

845 | Hữu Lộc Quần Trung Hữu Nhất Nhân Trương Vi Bộ Chi Đắc Nhân Vấn Viết Nhữ

846 | Thị Hà Nhân Viết Ngã Niên Bát Tuế Thời Thất Phụ Mẫu Bình Tại Sơn Trung Vi

847 | Lộc Sở Nhũ Toại Chí Vu Kim Phục Vấn Viết Lộc Vô Nhũ Thời Hà Sở Đạm

848 | Thực Viết Ngã Tùy Lộc Đạm Thảo Diệp Dĩ Tự Tế Mệnh Hựu Vấn Viết Phả Hữu

849 | Dục Ý Bất Viết Hữu Toại Tiện Tương Quy Dĩ Trạng Bạch Vương Viết Thử Cảm

850 | Thảo Nhân Thân Hình Luy Sấu Thượng Hữu Dục Tình Huống Chư Đạo Sĩ Ẩm Thực Tứ

851 | Khẩu Thân Thể Phì Thịnh Khởi Vô Dục Tình Hồ Vương Tâm Niệm Viết Đương Hà Phương

852 | Tiện Hoá Thử Đệ Hồ Tức Thiết Quyền Mưu Trá Dục Xuất Du Đại Tập Nhân Binh

853 | Nghiêm Chánh Xuất Ngoại Vương Đạo Hoàn Nhập Ẩn Nhi Bất Hiện Vương Tiên Dữ Chư Thần

854 | Nghị Nhược Ngã Xuất Hậu Tiện Cử Vi Vương Chư Thần Tức Khuyến Thí Trước Vương Phục

855 | Trá Dương Bất Khẳng Chư Thần Viết Đãn Tác Ngã Đẳng Đương Trước Tức Trước Thiên Quan

856 | Vương Phục Hàm Xưng Vạn Tuế Tả Hữu Thị Lập Như Thánh Vương Pháp A Dục

857 | Vương Kiến Kì Dĩ Định Tiện Tùng Ngoại Lai Viết Hà Như Đại Vương Đệ Kiến Vương

858 | Tàm Noản Mạc Tri Sở Như A Dục Vương Viết Ngã Tạm Xuất Du Khanh Đẳng

859 | Vân Hà Tiện Tác Thử Sự Ngã Thiết Luân Bất Tại Na Hà Nãi Như Thử Túng

860 | Hoành Da Ngã Sát Nhữ Tư Tu Gian Nhĩ Tức Mệnh Chư Thần Thu Kiểm Chất

861 | Cốc Mật Khiển Tín Bạch Đạo Nhân Thiện Niệm Thử Ý Đương Lai Cứu Thỉnh

862 | Chính Dục Sát Nhữ Niệm Nhữ Tác Vương Nhật Tiên Vị Đắc Tứ Ý Kim Thả Giả

863 | Nhữ Thất Nhật Tác Vương Như Ngã Vương Pháp Quần Thần Thị Tùng Cung Nhân Kĩ

864 | Nữ Ẩm Thực Tấn Ngữ Tứ Ý Thất Nhật Đương Tựu Cực Pháp Tức Như Giáo Thí

865 | Hành Tuy Mãn Thất Nhật Vô Tâm Tự Hoan Đạo Nhân Lai Thỉnh Trì Bát Chấp

866 | Tích Nghệ Vương Cung Môn Vương Vấn Viết Đạo Nhân Hà Sở Dục Dã Viết Dục

867 | Khí Tử Nhân Vương Viết Thử Tội Nhân Ưng Tử Bất Đắc Khí Đạo Nhân Đạo

868 | Nhân Trùng Viết Đãn Khí Đạo Nhân Đương Sứ Học Đạo Vương Viết Vấn Thử Nhân Năng

869 | Học Đạo Bất Đạo Nhân Tức Vấn Kim Khí Nhữ Tác Sa Di Năng Bất Đáp

870 | Viết Chính Sứ Tác Nô Do Đương Bất Khước Huống Phục Sa Di Vương Viết Tác Đạo

871 | Nhân Nan Vi Thẩm Năng Bất Đạo Nhân Pháp Đương Thô Y Ác Thực Thú Chi Hình

872 | Mệnh Hành Đạo Nhi Dĩ Nhữ Quán Ưu Lạc Hà Năng Kham Thử Khổ Hành Da

873 | Đáp Viết Thượng Đương Tử Khởi Bất Kham Khổ Hành Da Vương Viết Nhược Kham Giả

874 | Thính Sứ Thất Nhật Khí Thực Vương Linh Cung Nội Tu Già Đố Lộ Lai Khí Thời

875 | Dữ Cực Ác Thực Dư Tàn Uế Xú Giả Tức Sứ Trước Tế Y Tạo Chư Phòng

876 | Khí Thực Xứ Xứ Giai Đắc Ác Thực Dĩ Miễn Tử Chi Tình Trùng Cam Tâm Thực

877 | Ác Thực Mãn Thất Nhật Dĩ Vương Kiến Kì Vô Hối Hận Tức Thính Vi Đạo Nhữ

878 | Thường Ngôn Đạo Nhân Nhàn Lạc Đa Tình Nan Tín Nhữ Sở Khí Thực Cố Tại Ngã

879 | Cung Nội Do Thượng Tinh Tế Đạo Nhân Khí Thực Hựu Thậm Ư Thử Sở Thực Như

880 | Thị Khởi Khả Hữu Tình Dục Hồ Tức Phó Thiện Niệm Vi Sa Môn Vương Khiển

881 | Sứ Chí Thạch Thất Thành Ư Bỉ Thành Trung Hành Chư Thiền Quan Hoặc Tại Trủng Gian

882 | Hoặc Tại Thụ Hạ Thời Tại Trủng Gian Quan Tử Thi Dạ Kiến Hữu Ngạ Quỷ Đả

883 | Nhất Tử Thi Vấn Viết Hà Dĩ Đả Thử Tử Thi Da Viết Toạ Thử Thi

884 | Khốn Ngã Như Thị Thị Dĩ Đả Chi Nhĩ Đạo Nhân Viết Hà Dĩ Bất Đả

885 | Nhữ Tâm Đả Thử Tử Thi Đương Phục Hà Ích Dã Tu Du Khuể Phục Hữu Nhất

886 | Thiên Dĩ Thiên Văn Đà La Hoa Tán Ư Tử Thi Đạo Nhân Phục Vấn Viết Hà

887 | Dĩ Tán Thử Xú Thi Vi Đáp Viết Ngã Do Thử Thi Đắc Sinh Thiên Thượng Thử

888 | Thi Tức Thị Ngã Chi Thiện Hữu Cố Lai Tán Hoa Báo Vãng Tích Ân Nhĩ Đạo

889 | Nhân Viết Hà Dĩ Bất Tán Hoa Ư Nhữ Tâm Trung Nãi Tán Thử Xú Thi Hoa

890 | Vi Phu Thiện Ác Chi Bản Giai Tâm Sở Vi Nhữ Đẳng Nãi Phục Xả Bản Thủ

891 | Kì Mạt Da Thời Tu Già Đố Lộ Tự Niệm Ngã Tùng Tử Đắc Hoạt Do Thị

892 | Nhân Duyên Đương Đắc Giải Thoát Ư Thị Quan Thân Niệm Tử Tư Duy Phân Biệt Giải

893 | Liễu Vô Thường Khổ Không Phi Thân Tức Đắc La Hán Dĩ Thị Ngôn Chi Niệm Tử

894 | Giả Diệc Chí Niết Bàn

***

895 | Quyển 4

896 | Phân Biệt Công Đức Luận Quyển Đệ Tứ

897 | Thất Dịch Nhân Danh Phụ Hậu Hán Lục

898 | Như Lai Sở Dĩ Quảng Vi Tứ Bộ Các Các Thuyết Đệ Nhất Giả Nãi Vi

899 | Tương Lai Mạt Thế Di Pháp Chi Trung Hoặc Hữu Tứ Tính Ngoại Học Phạm Chí Cập

900 | Tứ Bộ Đệ Tử Cộng Tướng Thị Phi Tự Xưng Vi Tôn Dư Nhân Vi Ti

901 | Như Thị Chi Bối Bất Khả Xưng Kế Cố Dự Phòng Ư Vị Nhiên Cố Khai Tự

902 | Túc Chi Lộ Nhĩ Kim Xưng Câu Lân Vi Đệ Nhất Giả Dĩ Kì Thích Chủng Hào

903 | Tộc Vương Giản Khiển Thị Tùng Lao Khổ Công Báo Ưng Tự Thị Đệ Nhất Hựu Phục

904 | Sơ Hoá Thụ Pháp Vô Năng Tiên Giả Diệc Thị Đệ Nhất Thiện Năng Khuyến Đạo Tương

905 | Dưỡng Thánh Chúng Tiên Thụ Thiện Lai Chi Xưng Phục Thị Đệ Nhất Nhân Trung Sở

906 | Quy Ngưỡng Già Gia Việt Vi Tối Quang Minh Chi Trung Nhật Vi Tối Tinh Tú

907 | Trung Nguyệt Vi Tối Vạn Xuyên Trung Hải Vi Tối Tứ Thiên Vương Trung Đề Đầu Lại

908 | Vi Tối Tam Thập Tam Thiên Trung Thích Đề Hoàn Vi Tối Dục Giới Lục Thiên Trung

909 | Ba Tuần Dĩ Vi Tối Sắc Giới Thập Bát Thiên Tịnh Cư Dĩ Vi Tối Cửu Thập

910 | Lục Bộ Tăng Thích Tăng Dĩ Vi Tối Cửu Thập Lục Chủng Đạo Phật Đạo Vi Thượng

911 | Tối Câu Lân Tỉ Khâu Đẳng Ngũ Nhân Trung Vi Tối Dĩ Thị Ngôn Chi Câu Lân

912 | Vi Đệ Nhất

913 | Ưu Đà Di Tỉ Khâu Khuyến Đạo Dĩ Vi Tối Tỉ Khâu Giai Khuyến Đạo Sở Dĩ

914 | Xưng Tối Giả Phật Tương Hoàn Độ Bản Quốc Tiên Khiển Hiện Thần Biến Dữ Vương Tướng

915 | Thù Tạc Nhất Nhất Giải Thích Nhân Sở Độ Bất Khả Kế Cố Xưng Khuyến Đạo Tối

916 | Dã Ma Ha Đàm Tỉ Khâu Lợi Căn Tiệp Tật Dư Tỉ Khâu Giai Lậu Tận Thành

917 | Thần Thông Thử Tỉ Khâu Lậu Vị Tận Dĩ Thành Thần Thông Cố Xưng Đệ Nhất

918 | Phàm Thừa Hư Giả Giai Dĩ Thần Túc Thử Tỉ Khâu Năng Hành Không Như Lí Địa

919 | Thị Thiện Trửu Tỉ Khâu Chi Sở Năng Dã Cố Xưng Đệ Nhất Dã

920 | Mục Liên Thần Túc Mặc Vãng Dị Sa Bà Phá Tỉ Khâu Thần Túc Lăng Hư Thanh

921 | Chân Hà Nhĩ Năng Nhiếp Phục Ngoại Đạo Cố Xưng Đệ Nhất

922 | Ngưu Cước Tỉ Khâu Giả Dĩ Nhị Sự Bất Đắc Cư Thế Gian Hà Giả Thử Tỉ

923 | Khâu Cước Tự Ngưu Giáp Thực Bão Tắc Dĩ Thị Nhị Sự Bất Đắc Cư Thế

924 | Nhược Ngoại Đạo Phạm Chí Kiến Kì Giả Vị Sa Môn Thực Vô Thời Tiết Sinh

925 | Phỉ Báng Tâm Thị Dĩ Phật Khiển Thượng Thiên Tại Thiện Pháp Giảng Đường Toạ Thiền Định

926 | Ý Thiện Giác Tỉ Khâu Thường Vi Chúng Tăng Sứ Chí Thiên Thượng Phật Niết Bàn Hậu

927 | Ca Diệp Minh Kiền Chuy Đại Tập Chúng Tăng Mệnh A Na Luật Biến Quan Thế

928 | Giới Thùy Bất Lai Giả A Na Luật Tức Quan Thế Giới Tận Lai Duy Hữu Kiếu

929 | Hoàn Tỉ Khâu Kim Tại Thiên Thượng Tức Khiển Thiện Giác Mệnh Triệu Sứ Lai Thiện Giác

930 | Đáo Tam Thập Tam Thiên Kiến Tại Thiện Pháp Giảng Đường Nhập Diệt Tận Định Đàn Chỉ

931 | Giác Chi Viết Thế Tôn Niết Bàn Dĩ Thập Tứ Nhật Ca Diệp Tập Chúng Khiển Ngã

932 | Tướng Mệnh Khả Hạ Thế Gian Chí Chúng Tập Sở Kiếu Hoàn Đáp Viết Thế Gian

933 | Dĩ Không Ngã Khứ Hà Vi Bất Nhẫn Hoàn Thế Dục Thủ Niết Bàn Tức Dĩ Y

934 | Bát Phó Ư Thiện Giác Hoàn Quy Chúng Tăng Tiện Thủ Niết Bàn Dĩ Thị Nhân Duyên

935 | Thiện Xứ Thiên Thượng Cố Xưng Đệ Nhất

936 | Thiện Thắng Tỉ Khâu Giả Bản Thị Quý Tộc Chi Tử Sơ Sinh Chi Thời Hữu Tự

937 | Nhiên Kim Tỉ Trước Túc Nhi Sinh Phụ Mẫu Trân Chi Vi Khởi Tam Thời Điện

938 | Kĩ Nữ Ngu Lạc Bất Khứ Tả Hữu Thời Phụ Thụy Miên Đổ Kì Bạch Xỉ

939 | Thân Hình Tuy Diệu Đãn Thị Cốt Nhĩ Cụ Quan Ác Lộ Sâm Nhiên Mao Thụ Cố

940 | Thị Cung Trạch Do Tự Trủng Mộ Kinh Tẩu Xuất Hộ Nhị Thần Nghênh Tiếp Vấn Nhị

941 | Thần Viết Kim Giả Uy Ách Thùy Năng Vi Cứu Nhị Thần Đáp Viết Duy Hữu

942 | Thế Tôn Thiện Năng Cứu Ách Viết Kim Vi Sở Tại Đáp Viết Cận Tại Kì

943 | Hoàn Khả Tùng Khải Thỉnh Tầm Quang Chí Phật Đầu Diện Lễ Túc Phật Nhân Bản Tâm

944 | Vi Diễn Diệu Pháp Tức Thời Tâm Khai Lậu Tận Kế Giải Dĩ Thị Nhân Duyên Thiện

945 | Thắng Tỉ Khâu Ác Lộ Quan Đệ Nhất

946 | Ưu Lưu Tì Ca Diệp Sở Dĩ Xưng Đệ Nhất Giả Nãi Tú Thế Dĩ Lai Đệ

947 | Huynh Tam Nhân Thường Hữu Thiên Đệ Tử Tướng Tùy Kim Ngộ Thích Ca Văn Phật Thế

948 | Phật Dĩ Thập Bát Biến Độ Ca Diệp Thiên Nhân Phật Chúng Đắc Thành Tứ Sự Cung

949 | Dưỡng Do Thử Nhi Hưng Dĩ Thị Ngôn Chi Ưu Lưu Tì Ca Diệp Năng Tương Hộ

950 | Thánh Chúng Cung Dưỡng Đệ Nhất Dã

951 | Giang Ca Diệp Sở Dĩ Xưng Đệ Nhất Giả Phật Vi Thuyết Pháp Nhất Tâm Thính Thụ

952 | Tinh Nghị Nhập Thần Chư Kế Tiêu Tận Đức Thật Nội Sung Nãi Triệt Cốt Tuỷ

953 | Cố Chi Tuỷ Ngoại Lưu Trạng Tự Hàn Xuất Dĩ Thị Ngôn Chi Tâm Ý Tịch

954 | Nhiên Năng Giáng Chư Kế Cố Xưng Đệ Nhất

955 | Mã Sư Tỉ Khâu Giả Tùng Phật Thụ Học Phương Kinh Thất Nhật Tiện Bị Uy Nghi

956 | Tương Nhập Tì Xá Li Khí Thực Ư Thành Môn Ngoại Ngộ Ưu Ba Để Xá

957 | Dao Kiến Mã Sư Uy Nghi Tường Tự Pháp Phục Chỉnh Tề Trung Tâm Hân Duyệt Vấn

958 | Viết Quân Thị Hà Đẳng Nhân Viết Ngô Thị Sa Môn Viết Quân Vi Tự Tri Vi

959 | Hữu Sư Tôn Da Viết Hữu Sư Sư Danh Vi Thùy Vân Hà Thuyết Pháp Đáp

960 | Viết Ngô Sư Danh Thích Ca Văn Thiên Trung Chi Thiên Tam Giới Cực Tôn Kì Sở

961 | Giáo Hối Dĩ Không Vô Vi Chủ Tức Tâm Đạt Bản Cố Hiệu Sa Môn Ưu Ba

962 | Để Xá Văn Thử Diệu Ngữ Tức Đạt Đạo Tích Để Xá Đồng Học Bản Hữu Yếu

963 | Thệ Tiên Đắc Cam Lộ Giả Đương Tướng Cáo Kì Tức Từ Mã Sư Chí Câu Luật

964 | Đà Sở Câu Luật Đà Kiến Lai Nhan Sắc Dị Thường Nghi Hoạch Cam Lộ Tầm

965 | Vấn Đắc Cam Lộ Na Viết Đắc Dã Cam Lộ Vân Hà Cam Lộ Giả Đạt

966 | Chư Pháp Không Vô Dã Câu Luật Tầm Tư Phục Đắc Đạo Tích Mã Sư Sở Dĩ

967 | Uy Nghi Đệ Nhất Giả Dĩ Tú Ngũ Bá Thế Vi Mi Hầu Kim Đắc Vi Nhân

968 | Tính Do Táo Nhiễu Xuất Gia Thất Nhật Tức Cải Bản Triệt Học Tuy Sơ Tiên Thiện

969 | Tuyên Tôn Giáo Sứ Tiền Đổ Giả Duyệt Nhan Đạt Giáo Dĩ Uy Nghi Cảm Ngộ Cố

970 | Xưng Đệ Nhất Thân Tử Sở Dĩ Xưng Trí Tuệ Đệ Nhất Giả Thế Tôn Hựu Vân

971 | Dục Tri Thân Tử Trí Tuệ Đa Thiểu Giả Dĩ Tu Di Vi Nghiễn Tử Tứ Đại

972 | Hải Thuỷ Vi Thư Thuỷ Dĩ Tứ Thiên Hạ Trúc Mộc Vi Bút Mãn Trung Nhân Vi

973 | Thư Sư Dục Tả Thân Tử Trí Tuệ Giả Do Thượng Bất Năng Tận Huống Phàm Phu

974 | Ngũ Thông Nhi Năng Trắc Lượng Da Cố Xưng Trí Tuệ Vi Đệ Nhất

975 | Mục Liên Sở Dĩ Xưng Thần Túc Đệ Nhất Giả Thế Tôn Diệc Thuyết Hữu Chứng Tích

976 | Nhật Tam Tai Lưu Hành Nhân Dân Đại Cơ Mục Liên Tâm Niệm Thử Địa Hạ Cố

977 | Hữu Nẵng Nhật Địa Phì Tại Trung Kim Nhân Dân Đại Cơ Ý Dục Phản Thử Địa

978 | Thủ Hạ Địa Phì Dĩ Cung Dân Mệnh Niệm Dĩ Bạch Phật Kim Dục Dĩ Tứ Thần

979 | Túc Phản Địa Thủ Hạ Địa Phì Dĩ Tế Dân Mệnh Bất Thẩm Khả Nhĩ Dĩ Bất

980 | Phật Ngôn Chỉ Chỉ Mục Liên Nhữ Thần Túc Tuy Năng Phản Thử Vô Nan Na Trung

981 | Chúng Sinh Khả Dĩ Nhất Thủ Chấp Trùng Nhất Thủ Phản Địa Phật Ngôn Bất Khả

982 | Sở Dĩ Nhiên Giả Hậu Thế Tỉ Khâu Đa Vô Thần Túc Thiết Hậu Hữu Cơ Thời

983 | Quốc Vương Thần Dân Mệnh Sa Môn Phản Địa Nhược Bất Năng Giả Vị Phi Sa Môn

984 | Dĩ Thị Thần Túc Chứng Cố Xưng Mục Liên Vi Đệ Nhất

985 | Nhị Thập Ức Nhĩ Tỉ Khâu Sở Dĩ Xưng Khổ Hành Đệ Nhất Giả Tích Chiêm Ba

986 | Quốc Hữu Đại Trường Giả Sinh Nhất Tử Đoan Chính Xu Diệu Túc Hạ Sinh Mao Trường

987 | Tứ Thốn Vị Tằng Niếp Địa Sở Dĩ Túc Hạ Sinh Mao Giả Tích Ca Diệp Phật

988 | Thời Vi Đại Trường Giả Tài Bảo Vô Cực Vi Chúng Tăng Khởi Tinh Xá Giảng Đường

989 | Ngật Dĩ Bạch Điệp Mao Bố Địa Linh Chúng Tăng Đạo Thượng Do Thị Nhân Duyên Cố

990 | Đắc Túc Hạ Sinh Mao Sở Dĩ Tự Nhị Thập Ức Nhĩ Giả Sinh Thời Tự Nhiên

991 | Nhĩ Trung Sinh Bảo Châu Giá Trực Nhị Thập Ức Tức Dĩ Vi Xưng Thời Bình Sa

992 | Vương Văn Kì Kì Dị Dục Dữ Tướng Kiến Cố Mệnh Linh Lai Kế Đạo Lí Thập

993 | Ngũ Nhật Hành Thừa Xa Nhi Lai Tương Dục Hạ Xa Triếp Bố Điệp Mao Tại Địa Nhiên

994 | Hậu Hành Thượng Kí Đáo Vương Sở Vương Mệnh Linh Toạ Lao Vấn Ngật Văn Năng Đàn

995 | Cầm Tức Mệnh Sứ Đàn Chi Tướng Ngu Lạc Ngật Cộng Chí Phật Sở Thời Phật

996 | Dữ Đại Chúng Quảng Thuyết Diệu Pháp Kiến Phật Hoan Hỉ Đầu Diện Lễ Túc Phật Mệnh

997 | Linh Toạ Văn Pháp Hân Duyệt Tức Cầu Xuất Gia Phật Nhiên Kì Xuất Gia Chi Chí

998 | Tức Vi Sa Môn Dũng Mãnh Tinh Tấn Kinh Hành Bất Giải Cơ Nhục Tế Nhuyễn

999 | Túc Hạ Thương Phá Kinh Hành Chi Xứ Huyết Lưu Thành Nê Tích Hành Toại Cửu Lậu

1000 | Do Vị Trừ Bì Giải Tâm Sinh Dục Hoàn Bạch Y Ngã Gia Tiền Tài Tự Tứ

1001 | Quảng Vi Phúc Đức Thả Miễn Tam Ác Phật Tri Kì Niệm Hốt Nhiên Ư Tiền Tùng

1002 | Địa Dũng Xuất Vấn Tỉ Khâu Viết Nhữ Bản Đàn Cầm Thời Cấp Hoãn Chúng Huyền Đắc

1003 | Thành Diệu Khúc Bất Đáp Viết Bất Thành Nhược Chúng Huyền Tận Hoãn Phục Đắc Thành Bất

1004 | Đáp Viết Bất Thành Nhược Bất Hoãn Bất Cấp Huyền Trụ Tướng Ưng Đắc Thành Diệu Âm

1005 | Bất Đáp Viết Đắc Thành Phật Ngôn Hành Diệc Như Thị Bất Cấp Bất Hoãn Xứ

1006 | Kì Trung Đích Hòa Điều Đắc Sở Nãi Khả Thành Đạo Nhĩ Tư Duy Phật Ngữ

1007 | Tâm Hoát Khai Giải Tiện Thành La Hán Dĩ Thị Nhân Duyên Cố Xưng Khổ Hành Đệ

1008 | Nhất Dã

1009 | A Na Luật Sở Dĩ Xưng Thiên Nhãn Đệ Nhất Giả Thời Phật Vi Đại Hội Thuyết

1010 | Pháp A Na Luật Tại Toạ Thượng Thụy Miên Phật Kiến Kì Miên Vị Viết Kim

1011 | Như Lai Thuyết Pháp Nhữ Hà Dĩ Miên Da Phu Miên Giả Tâm Ý Bế Tắc Dữ

1012 | Tử Hà Dị Na Luật Tàm Quý Khắc Tâm Tự Thệ Tùng Kim Dĩ Hậu Bất Cảm

1013 | Phục Miên Bất Miên Toại Cửu Nhãn Tiện Thất Minh Sở Dĩ Nhiên Giả Phàm Hữu Lục

1014 | Thực Nhãn Hữu Nhị Thực Nhất Thị Sắc Nhị Thụy Miên Ngũ Tình Diệc Các Hữu Nhị

1015 | Thực Đắc Thực Giả Lục Căn Nãi Toàn Dĩ Nhãn Thất Miên Thực Cố Tang Nhãn Căn

1016 | Phật Mệnh Kì Vực Trị Chi Viết Bất Miên Bất Khả Trị Dĩ Thất Nhục Nhãn Vô

1017 | Sở Phục Đổ Ngũ Bá Đệ Tử Các Khí Trì Tán Sai Nhân Quán Châm Môn

1018 | Mô Bổ Y Tuyến Tận Trùng Quán Vô Nhân Khả Sai Tả Hữu Xướng Viết Thùy Dục

1019 | Cầu Phúc Giả Dữ Ngã Quán Châm Thế Tôn Hốt Nhiên Đáo Tiền Thủ Lai Ngô Dữ

1020 | Nhữ Quán Vấn Viết Thị Thùy Viết Ngã Thị Phật Dã Phật Dĩ Phúc Túc Phục

1021 | Dục Cầu Phúc Da Viết Phúc Đức Khả Áp Da Na Luật Tư Duy Phật Thượng Cầu

1022 | Phúc Huống Ư Phàm Nhân Da Tâm Trung Cảm Kế Trì Hướng Phật Thị Dĩ Chí Tâm

1023 | Cố Hốt Đắc Thiên Nhãn Dĩ Đắc Thiên Nhãn Phục Trùng Tư Duy Tiện Đắc La Hán

1024 | Phàm La Hán Giai Hữu Tam Nhãn Nhục Nhãn Thiên Nhãn Tuệ Nhãn Na Luật Chính Hữu

1025 | Nhị Nhãn Tuệ Nhãn Thiên Nhãn Dã Tam Nhãn Thị Giả Loạn Nhục Thiên Tranh Công Tinh

1026 | Thô Tạp Quan Cố Viết Loạn Dã Na Luật Chuyên Dụng Thiên Nhãn Quan Đại Thiên Thế

1027 | Giới Tinh Thô Tất Đổ Biệt Hình Chất Trung Hữu Thức Vô Thức Giai Tất Biệt

1028 | Tri Thiên Nhân Sở Kiến Hữu Tịnh Bất Tịnh Cực Tịnh Quan Giả Kiến Thế Giới Trung

1029 | Chư Hữu Hình Loại Hữu Thức Vô Thức Kiến Giai Động Dao Nghi Vị Thị Trùng Nhi

1030 | Phi Trùng Dã Bất Tịnh Quan Giả Kiến Phạn Lạp Động Giai Vị Thị Trùng Ưu Liệt

1031 | Chi Thù Hữu Tự Lai Hĩ Dĩ Thị Ngôn Chi Thiên Nhãn Đệ Nhất

1032 | Li Việt Tỉ Khâu Toạ Thiền Nhập Định Sở Dĩ Xưng Đệ Nhất Giả Tích Ba Tư

1033 | Nặc Vương Thỉnh Linh Toạ Thiền Tại Nhất Thụ Hạ Thời Vương Thỉnh Nhập Cung Thực Kinh

1034 | Lịch Lục Niên Bất Tha Chu Toàn Chính Dục Di Tại Tha Thụ Thụ Thần Bất Thính

1035 | Dĩ Hà Vi Nghiệm Tương Dục Di Thời Thụ Thần Tiện Tán Hoa Cung Dưỡng Dĩ Thị

1036 | Vi Nghiệm Tri Kì Bất Thính Hà Dĩ Tri Kì Ý Vô Tha Niệm Thời Câu Hi

1037 | La Lai Chí Li Việt Sở Viết Hà Bất Toạ Hảo Thụ Hạ Toạ Thử Khô Thụ

1038 | Vi Đáp Viết Danh Nhân Tứ Biện Đệ Nhất Năng Phân Biệt Pháp Nghĩa Cập Dĩ Ưng

1039 | Từ Bất Thẩm Phân Biệt Khô Thụ Thị Hà Biện Trung Da Tự Ngã Toạ Thử Dĩ

1040 | Hướng Lục Niên Bất Biệt Sinh Khô Nhân Giả Phương Chí Nhi Tiện Phân Biệt Da

1041 | Vương Thỉnh Nhập Cung Nhật Nhật Cung Dưỡng Sứ Chư Phu Nhân Các Tự Đương Trực Lục

1042 | Niên Dĩ Mãn Bố Thí Phát Khiển Đương Đạt Sấn Thời Bất Thức Chủ Nhân Tự Vương

1043 | Viết Lục Niên Thụ Thỉnh Bất Thức Nhân Danh Hà Định Nãi Nhĩ Đáp Viết Ngã

1044 | Thụ Hạ Toạ Thượng Bất Tri Thụ Khô Sinh Huống Thức Nhân Tự Da Cung Dưỡng Thiền

1045 | Phúc Kì Đức Chí Thuần Tùy Vương Sở Nguyện Khả Chí Niết Bàn Phúc Điền Chi Lương

1046 | Dã Cố Xưng Lạc Thiền Đệ Nhất Dã

1047 | Tha La Bà Ma Tỉ Khâu Khuyến Suất Thí Lập Trai Giảng Giả Phật Uy Tăng

1048 | Sự Phân Bộ Sở Nghi Khế Kinh Khế Kinh Nhất Xứ Tì Ni Tì Ni Nhất

1049 | Xứ Đại Pháp Đại Pháp Nhất Xứ Toạ Thiền Toạ Thiền Nhất Xứ Cao Tòa Cao Tòa

1050 | Nhất Xứ Khí Thực Khí Thực Nhất Xứ Giáo Hoá Giáo Hoá Nhất Xứ Tùy Sự Bộ

1051 | Phân Các Sứ Tướng Tùng Nhược Hữu Đàn Việt Lai Thỉnh Giả Dĩ Thứ Sai Khiển Bất

1052 | Vấn Cao Hạ Nhược Hữu Tư Thỉnh Giả Bất Thính Tại Thử Lệ Thời Đàn Việt Thỉnh

1053 | Tận Lục Quần Tỉ Khâu Thứ Trực Bần Gia Hoài Hận Nhi Hoàn Hướng Phật Oán

1054 | Ngôn Ma La Kiến Khi Tự Thụ Hảo Xứ Kiến Khiển Bần Gia Khởi Thị Bình Đẳng

1055 | Da Phật Mệnh Ma La Khanh Thật Nhĩ Da Đáp Viết Bất Dã Vu Thời Vô

1056 | Thực Nhật Dục Sai Trung Tiện Hòa Ngưu Thỉ Ẩm Dĩ Đương Trai Văn Lục Quần

1057 | Ngữ Vô Dĩ Tự Minh Tức Ư Phật Tiền Thổ Thử Phẩn Tương Lục Quần Tàm

1058 | Quý Nhị Nhân Cảm Kế Lậu Tận Nhị Nhân Hoàn Vi Bạch Y Nhị Nhân Diện Khổng

1059 | Xuất Phí Huyết Mệnh Chung Đoạ A Tị Dã Trai Giảng Giả Trai Tập Bộ Chúng Tống

1060 | Tập Sở Nghi Thiện Năng Khuyến Thành Cố Xưng Đệ Nhất Dã

1061 | Tiểu Đà La Bà Giả Chủ Lập Phòng Thất Hưng Kiều Đề Tăng Cộng Thành Kì Công

1062 | Bất Phục Biệt Xưng Dã

1063 | Lại Trá Bà La Tỉ Khâu Sở Dĩ Xưng Hào Quý Giả Thị Vương Giả Chủng Vi

1064 | Nhân Thông Minh Bác Đạt Thiểu Hảo Đôi Học Văn Phật Xuất Thế Khai Hoá Ngu Mông

1065 | Tức Nghệ Kì Hoàn Tinh Xá Thính Thái Pháp Ngôn Văn Giáo Nhập Thần Tư Dục

1066 | Xuất Gia Quy Bạch Phụ Mẫu Phụ Mẫu Bất Thính Tâm Tự Duy Viết Nhất Thiết Chúng

1067 | Sinh Tận Thị Phụ Mẫu Khởi Độc Nhị Nhân Thị Da Niệm Dĩ Tiện Chí Phật Sở

1068 | Cầu Vi Sa Môn Phật Vấn Phụ Mẫu Thính Bất Viết Bất Thính Dã Huynh Vi Quốc

1069 | Vương Phục Bạch Vương Cầu Vi Đạo Vương Diệc Bất Thính Tâm Trung Tư Duy Yếu Tác

1070 | Phương Tiện Xuất Gia Vi Đạo Phụ Mẫu Chính Hữu Nhất Tử Bất Dục Li Mục Tiền

1071 | Tư Tu Chi Gian Sách Nhất Độc Tháp Toạ Phụ Mẫu Tiền Bất Ẩm Bất Thực Kinh

1072 | Lục Nhật Phụ Mẫu Hoàng Bố Cụ Sát Kì Tử Nhược Sát Thử Nhi Giả Dụng Thử

1073 | Tử Nhi Vi Thính Đương Phóng Chi Vi Đạo Dữ Nhi Yếu Viết Kim Phóng Nhữ Vi

1074 | Đạo Đương Số Hoàn Quy Phụ Mẫu Dĩ Hứa Tiện Chí Phật Sở Vấn Viết Thính

1075 | Nhữ Da Viết Dĩ Thính Phật Tiện Mệnh Viết Thiện Lai Tỉ Khâu Thủ Ma Kì Đầu

1076 | Tu Phát Tự Lạc Như Thế Tu Phát Thất Nhật Giả Ca Sa Trước Thân Tiện Thành

1077 | Sa Môn Vi Thuyết Tứ Đế Tiện Thành La Hán Dĩ Bản Yếu Cố Tầm Hoàn Quy

1078 | Gia Trước Y Trì Bát Tại Môn Nhi Lập Thời Tì Đào Mễ Tương Dục Khí

1079 | Cam Thư Bát Sách Ẩm Tì Cử Đầu Thị Tri Thị Đại Gia Tiện Nhập Bạch Viết

1080 | Lang Quân Tại Ngoại Phụ Mẫu Hân Duyệt Thẩm Thị Nhi Giả Phóng Nhữ Vi Lương Nhân

1081 | Tức Xuất Nghênh Nhập Vi Thiết Hào Thiện Viết Nhật Thời Dĩ Quá Pháp Bất Ưng Thực

1082 | Phụ Mẫu Viết Kim Nhật Dĩ Nhĩ Minh Nhật Tảo Lai Tức Hoàn Sở Chỉ Hoàn

1083 | Khứ Chi Hậu Phụ Mẫu Ước Sắc Chư Phụ Nhi Minh Đương Lai Nhữ Đẳng Hảo Tự

1084 | Trang Nghiêm Nhữ Dong Phục Sức Các Tận Diệu Kĩ Năng Sứ Ngã Nhi Hoàn Vi

1085 | Bạch Y Giả Ư Nhữ Đại Giai Phục Sắc Tạng Lại Xuất Chư Trân Bảo Kim Ngân

1086 | Thất Bảo Các Các Biệt Tụ Kí Nhi Ý Động Hoàn Nhiễm Ư Tục Minh Nhật Thực

1087 | Thời Chấp Bát Nhi Hoàn Tựu Tòa Nhi Toạ Ngật Chư Phụ Thể Nữ Các Thiết Tư

1088 | Thái Hoặc Tán Hoa Hương Hoặc Bật Y Niêm Thảo Bà La Viết Chư Muội Hà

1089 | Túc Phiền Lao Da Chư Phụ Niệm Viết Trì Ngã Đẳng Tác Muội Giả Tương Vô Hoàn

1090 | Lí Ngữ Phụ Mẫu Viết Dụng Thử Bảo Vật Vi Thử Đãn Ngộ Nhân Nhĩ

1091 | Do Thị Trí Tai Hoạ Hà Bất Khí Chi Ư Sơn Dịch Da Phụ Mẫu Gián Viết

1092 | Đạo Đức Tại Tâm Hà Tất Xuất Gia Chất Đa Trường Giả Diệc Tại Gia Đắc Đạo

1093 | Viết Vị Văn Tại Gia Đắc Lậu Tận Giả Chất Đa Sở Đắc Do Hữu Nhất Sinh

1094 | Phân Tại Hà Túc Vi Quý Da Tuy Phục Hào Trân Mĩ Ngọc Khí Chi Nhược Khiển

1095 | Cố Xưng Xuất Gia Đệ Nhất Dã

1096 | Ca Chiên Diên Sở Dĩ Xưng Thiện Phân Biệt Nghĩa Giả Tương Dục Soạn Pháp Tâm Trung

1097 | Duy Viết Nhân Gian Hội Náo Tinh Tư Bất Chuyên Cố Ẩn Địa Trung Thất Nhật

1098 | Soạn Tập Đại Pháp Dĩ Ngật Trình Phật Xưng Viết Thiện Tai Thánh Sở Ấn Khả

1099 | Dĩ Vi Nhất Tạng Thử Nghĩa Vi Diệu Giáng Phục Ngoại Đạo Cố Xưng Đệ Nhất

1100 | Hựu Phục Xưng Đệ Nhất Giả Thế Tôn Chí Thích Sí Quốc Toạ Nhất Thụ Hạ Chấp

1101 | Nhất Trượng Thích Chủng Hàm Lai Quan Phật Vãng Khí Ngã Nữ Tướng Hảo Thắng Tiền Kim

1102 | Ý Phục Vân Hà Đáp Viết Ý Giả Bất Trước Thế Gian Bất Nhiễm Ư Tục Phạm

1103 | Chí Viết Thiện Tai Thụ Giải Hoàn Khứ Hậu Chư Tỉ Khâu Bất Giải Thử Ngữ Vấn

1104 | Ca Chiên Diên Phật Xưng Nhân Giả Biện Tài Chiết Lí Giải Nghĩa Đệ Nhất Thế

1105 | Tôn Sở Đáp Phạm Chí Bất Nhiễm Bất Trước Giả Kì Nghĩa Vân Hà Thời Ca Chiên

1106 | Diên Tức Vi Giải Thuyết Tỉ Khâu Đương Tri Nhãn Duyên Sắc Khởi Thống Duyên Thống

1107 | Khởi Tưởng Duyên Tưởng Lai Vãng Sinh Thức Phân Biệt Khởi Nhiễm Trước Tâm Ư Thử Nhiễm

1108 | Trước Vĩnh Dĩ Xả Li Chư Tỉ Khâu Văn Thuyết Thử Ngữ Ý Do Khoái Nhiên

1109 | Ca Chiên Diên Quan Chư Tỉ Khâu Ý Bất Liễu Tức Dẫn Dụ Viết Hữu Nhân Ư

1110 | Thử Dục Cầu Lao Cố Chi Vật Phản Xả Căn Bản Nhi Thủ Chi Diệp Vi

1111 | Đắc Lao Cố Bất Viết Bất Đắc Dã Quân Đẳng Diệc Như Thị Phật Cận Trụ

1112 | Thử Nhi Phản Kiến Vấn Khởi Phi Xả Bản Thủ Kì Mạt Da Chư Tỉ Khâu Tức

1113 | Vãng Vấn Phật Xưng Ca Chiên Diên Sở Giải Như Thị Bất Thẩm Lí Ưng Nhĩ Bất

1114 | Phật Đáp Viết Như Ca Chiên Diên Sở Thuyết Đẳng Vô Hữu Dị Dĩ Thị Nhân Duyên

1115 | Phục Xưng Đệ Nhất Quân Đầu Ba Thán Sở Dĩ Xưng Hành Trù Đệ Nhất Giả Phàm

1116 | Trù Giả Kí Lục Nhân Số Tri Vi Thành Thật Dĩ Bất Đáp Thành Thật Thụ Trù

1117 | Tắc Đắc Kì Phúc Hư Vọng Thụ Giả Tội Tích Di Đại Hán Ngôn Viết

1118 | Trù Thiên Trúc Vi Xá La Xá La Giả Diệc Danh Hoại Tận Phúc Tắc Tội Tận

1119 | Tội Tắc Phúc Tận Dã Hà Dĩ Tri Kì Nhiên Da Tích A Nan Bân Để Nữ

1120 | Ngoại Đích Ni Kiền Quốc Vấn Phật Khả Nhĩ Bất Phật Ngôn Nghi Tri Thị Thời

1121 | Vãng Tất Hữu Ích Nữ Kí Đáo Dao Thỉnh Thế Tôn Phật Tri Kì Ý Tức Mặc

1122 | Nhiên Thụ Thỉnh Sắc A Nan Viết Minh Đương Thụ Thích Ma Nam Thỉnh Minh Kiền

1123 | Tập Chúng Hành Thần Thông Xá La Thời Thượng Tòa Quân Đầu Vị Đắc Thần Thông Văn

1124 | Hành Trù Thỉnh Tự Bỉ Vị Đắc Thần Thông Cố Duy Hình Ảnh Tại Chúng Tòa Thủ

1125 | Do Lão Dã Hồ Tại Tử Kim Sơn Tấn Thối Duy Lự Chính Dục Thụ Trù Bất

1126 | Tại Thông Lệ Chính Dục Bất Thụ Cư Vi Thượng Tòa Bát Tuế Sa Di Thượng Đắc

1127 | Thần Thông Tích Niên Chi Công Nhi Vô Sở Hoạch Kế Duy Như Thử Hà Dụng

1128 | Tồn Vi Cảm Kế Thụ Trù Hoàn Thụ Chi Gian Hoắc Nhiên Lậu Tận Nhược Dĩ

1129 | Hư Vọng Thụ Trù Giả Nhân Thân Hữu Cửu Thập Vạn Mao Khổng Dĩ Thử Vi Số

1130 | Bất Đắc Thụ Như Thử Chi Số Nhân Thân Dã Nhược Dĩ Tinh Thành Thụ Giả Tức

1131 | Khả Đắc Lậu Tận Chi Chứng Dĩ Thử Thượng Tòa Khả Vi Minh Chứng Sở Dĩ Phục

1132 | Vi Thượng Tòa Giả Dĩ Thiện Năng Thuyết Pháp Đích Khả Chúng Nhân Chúng Sở Suy Cử

1133 | Cố Vi Thượng Tòa Dĩ Thị Nhân Duyên Cố Xưng Thượng Tòa Thụ Trù Đệ

1134 | Nhất

1135 | Sở Dĩ Xưng Tân Đầu Lô Năng Giáng Phục Ngoại Đạo Giả Tì Xá Li Thành Trung

1136 | Hữu Chất Đa Trường Giả Mỗi Hoạn Lục Sư Cống Cao Tự Đại Ngôn Cù Đàm Sa

1137 | Môn Tự Xưng Vi Tôn Đương Dữ Kì Giác Kĩ Nhược Bỉ Hiện Nhất Ngã Đương Hiện

1138 | Nhị Như Thị Chuyển Bội Chí Tam Thập Nhị Thời Trường Giả Phổ Thỉnh Nội Ngoại Tăng

1139 | Cung Dưỡng Ngật Lập Đại Tràng Cao Tứ Trượng Cửu Xích Trí Chiên Đàn Bát Ư

1140 | Thượng Xướng Ngôn Kì Năng Dẫn Thủ Thủ Thử Bát Giả Tiện Đắc Đệ Nhất Thời Tân

1141 | Đầu Lô Tâm Tự Niệm Viết Kim Đương Hiện Thần Túc Linh Lục Sư Đẳng Mặc Nhiên

1142 | Giáng Phục Hựu Niệm Viết Thế Tôn Thường Giới Chư Đệ Tử Bất Đắc Hiện Thần

1143 | Túc Nhược Kim Bất Hiện Giả Cụ Bỉ Vĩnh Dĩ Đắc Tội Nhược Hiện Giả Cụ Vi

1144 | Tôn Giáo Phủ Ngưỡng Bất Dĩ Tiện Hiện Thần Túc Thân Thủ Thủ Thử Chiên Đàn Bát

1145 | Thăng Tại Hư Không Nhiễu Thành Thất Táp Hoàn Tại Tòa Thượng Vị Chư Phạm Chí

1146 | Viết Khanh Đẳng Phục Hiện Kì Nhị Dã Lục Sư Mặc Nhiên Thời Đại Quỷ Tương

1147 | Quân Danh Viết Bán Sư Vị Lục Sư Viết Xúc Hiện Kì Nhị Thời Lục Sư

1148 | Đồ Chúng Mạc Tri Sở Thấu Dĩ Thị Ngôn Chi Tri Tân Đầu Lô Giáng Phục Ngoại

1149 | Đạo Tối Vi Đệ Nhất Dã Sở Dĩ Xưng Sấm Tỉ Khâu Chiêm Bệnh Vi Đệ Nhất

1150 | Giả Thời Kì Đà Tinh Xá Hữu Nhất Tỉ Khâu Bệnh Tật Khốn Đốc Cửu Tẩm

1151 | Sàng Nhục Tích Hạ Trùng Xuất Thân Hiệu Chung Nhật Phật Dữ Chư Tỉ Khâu Án Hành

1152 | Phòng Xá Kiến Thử Tỉ Khâu Khốn Đốc Như Thị Vấn Viết Hữu Nhân Chiêm Thị Nhữ

1153 | Bất Viết Vô Dã Hựu Vấn Viết Nhữ Tiên Thời Phả Chiêm Thị Tha Bệnh Bất Đáp

1154 | Viết Bất Dã Phật Ngôn Nhữ Bất Thị Tha Bệnh Vân Hà Dục Vọng Nhân Khán

1155 | Dã Ư Thị Như Lai Bích Tăng Già Lê Tự Thủ Ma Môn Vi Kì Tiên

1156 | Hoán Thời Thiên Đế Thích Diệc Lai Tá Trợ Thế Tôn Chiêm Thị Bệnh Nhân Ư Thị

1157 | Bệnh Tỉ Khâu Mông Thế Tôn Ân Tức Đắc Trừ Dũ Phật Cáo Chư Tỉ Khâu Tự

1158 | Kim Dĩ Hậu Nhược Hữu Bệnh Giả Đương Tướng Chiêm Thị Thời Thế Tôn Cố Vị

1159 | Chư Tỉ Khâu Thùy Năng Thường Chiêm Thị Bệnh Giả Duy Hữu Sấm Tỉ Khâu Nhĩ

1160 | Sấm Tỉ Khâu Thường Dĩ Ngũ Sự Chiêm Thị Bệnh Giả Vân Hà Vi Ngũ Phân Biệt

1161 | Lương Dược Diệc Bất Giải Đãi Tiên Khởi Hậu Ngoạ Hằng Hí Ngôn Đàm Thiểu Ư Thụy

1162 | Miên Dĩ Pháp Cung Dưỡng Bất Tham Ẩm Thực Kham Nhâm Dữ Bệnh Nhân Thuyết Pháp Thị

1163 | Vị Sấm Tỉ Khâu Dĩ Thử Ngũ Pháp Chiêm Thị Bệnh Nhân Vị Tằng Hữu Bất

1164 | Sai Giả Sở Dĩ Giả Hà Thử Tỉ Khâu Nãi Tiền Thế Thời Tằng Ngũ Bá

1165 | Thế Vi Y Thiện Giải Phương Dược Thính Thanh Sát Sắc Tri Bệnh Căn Nguyên Kiêm Dĩ

1166 | Tứ Sự Chiêm Dưỡng Bệnh Giả Dĩ Thị Nhân Duyên Xưng Sấm Tỉ Khâu Chiêm Bệnh

1167 | Đệ Nhất Dã Sở Dĩ Xưng Bằng Kì Xa Tỉ Khâu Năng Tạo Kệ Tụng Giả Thử

1168 | Tỉ Khâu Tiền Vi Trường Giả Tử Thời Vi Nhân Thiên Tài Thông Lãng Xúc Vật Tán

1169 | Tụng Thời Xuất Hành Du Ngộ Nhất Kĩ Gia Nữ Hình Dong Đoan Chính Thế Chi Hi

1170 | Hữu Đổ Chi Tình Hân Tiện Dục Nạp Chi Quy Bạch Phụ Mẫu Khải Dĩ Tiền

1171 | Kiến Nguyện Phụ Mẫu Vi Ngã Sính Sách Bất Phụ Mẫu Bất Duyệt Khanh Tộc Tính Tử

1172 | Như Hà Cải Thú Huỷ Tiên Nhân Phong Kì Tử Ý Mãnh Phục Trùng Khải Viết

1173 | Nhược Bất Vi Ngã Nạp Giả Bất Năng Tồn Thế Phụ Mẫu Kiến Tử Ngôn Trùng Bất

1174 | Nhẫn A Chế Tiện Ngôn Tùy Nhữ Phi Ngã Sở Tri Tức Tự Khiển Nhân Dữ Nữ

1175 | Gia Tướng Văn Nữ Gia Thị Kĩ Chủng Duy Kĩ Vi Tiên Tiện Đáp Lai Sứ Viết

1176 | Bất Tham Quân Tài Duy Năng Chúng Kĩ Kiêm Bị Giả Tiện Trì Tướng Dữ Bằng

1177 | Kì Văn Chi Tức Nghệ Kĩ Công Học Ư Chư Kĩ Bất Kinh Số Tuần Chúng Kĩ

1178 | Kiêm Bị Phục Trùng Khiển Tín Sở Học Dĩ Bị Tiện Khả Tướng Huệ Chủ Nhân

1179 | Đáp Viết Nhược Kĩ Bị Giả Đương Nghệ Vương Thí Thời Tại Chính Tiết Vương Tập

1180 | Chúng Kĩ Phổ Thí Nghệ Toại Nhược Tối Thắng Giả Tứ Kim Thiên Lưỡng Vương Diệc Văn

1181 | Thử Nữ Diệu Dục Nạp Chi Cung Lí Thí Chi Kĩ Pháp Duyên Tràng Vi Tối

1182 | Thụ Tràng Cao Tứ Trượng Cửu Xích Hạ Trí Đao Kiếm Nhận Giai Thượng Hướng Gian

1183 | Thú Dong Túc Thời Bằng Kì Duyên Tràng Ư Thượng Không Toàn Thất Táp Tiện Hạ Đầu

1184 | Chi Không Địa Vương Cụ Thất Nữ Trá Dương Bất Thị Nhân Giai Ngôn Diệu Vương

1185 | Ngôn Bất Kiến Nhược Thẩm Diệu Giả Canh Phục Vi Chi Bằng Kì Niệm Viết Nhược Bất

1186 | Thuận Vương Giáo Giả Tất Thất Thử Nữ Quy Nhất Quả Tình Bằng Kì Mạo Tử

1187 | Phục Duyên Kí Chí Tràng Đầu Cố Thị Nữ Diện Tâm Tự Duy Viết Hà Toạ

1188 | Thử Nhân Nãi Chí Tư Khốn Tâm Cụ Hình Lật Khủng Bất Tự Toàn Nữ Nhân Hư

1189 | Vọng Hà Dụng Thử Vi Phật Tri Thử Nhân Tất Khả Tế Độ Nhược Bất Cứu Giả

1190 | Đương Đoạ Tam Đồ Cáo Mục Liên Viết Nhữ Dĩ Thần Túc Cứu Bỉ Nguy Ách

1191 | Mục Liên Phụng Giáo Tức Vãng Hiện Biến Ư Hư Không Trung Kế Gia Phu Toạ Phục

1192 | Ư Tràng Hạ Hiện Thất Bảo Giai Dư Nhân Bất Kiến Bằng Kì Độc Đổ Từ Ư

1193 | Thê Gian Thất Táp Nhi Hạ Thần Lực Sở Tiếp Nội An Ngoại Nguy Vương Dữ Chúng

1194 | Nhân Thậm Vi Kì Dị Vương Thủ Tự Khiên Nữ Dĩ Phó Bằng Kì Bằng Kì Viết

1195 | Bất Dụng Thử Hư Trá Chi Vật Cuống Hoặc Thế Nhân Mê Ngộ Thanh Trực Vong Quốc

1196 | Phá Gia Mạc Bất Do Chi Tức Tầm Mục Liên Vãng Nghệ Thế Tôn Thế Tôn Cáo

1197 | Viết Thiện Lai Tỉ Khâu Tiện Thành Sa Môn Vi Thuyết Tứ Đế Tức Đắc Ưng

1198 | Chân Hỉ Tình Phát Trung Nhi Hình Ư Ngôn Tiện Tác Tụng Kệ Tán Ư Thế Tôn

1199 | Thanh Tịnh Thập Ngũ Nhật Ngũ Bá Tỉ Khâu Tập

1200 | Dĩ Đoán Chư Kế Sứ Tiên Nhân Bất Thụ Tập

1201 | Do Như Chuyển Luân Vương Quần Thần Phổ Vi Nhiễu

1202 | Tứ Hải Cập Dữ Địa Sở Điển Vô Hữu Biểu

1203 | Giáng Phục Nhân Như Thị Đạo Sư Vô Hữu Thượng

1204 | Tương Hộ Chư Thanh Văn Tam Minh Hoại Kế Tính

1205 | Nhất Thiết Thế Tôn Tử Vô Hữu Trần Cấu Uế

1206 | Dĩ Phá Ái Dục Võng Kim Lễ Tinh Trung Nguyệt

1207 | Dĩ Thị Nhân Duyên Xưng Bằng Kì Xa Năng Tạo Kệ Tụng Tán Như Lai Đức Vi

1208 | Tối Đệ Nhất

1209 | Sở Dĩ Xưng Câu Hi La Vi Tứ Biện Đệ Nhất Giả Phàm Thanh Văn Tứ Biện

1210 | Bất Tất Cụ Túc Hoặc Hữu Pháp Biện Nhi Vô Nghĩa Biện Hoặc Hữu Nghĩa Biện Nhi

1211 | Vô Pháp Biện Hoặc Hữu Ưng Biện Nhi Vô Từ Biện Hoặc Hữu Từ Biện Nhi Vô

1212 | Ưng Biện Câu Hi La Tận Cụ Thử Tứ Biện Xá Lợi Phất Ca Chiên Diên Diệc

1213 | Hữu Tứ Biện Sở Dĩ Bất Xưng Vi Tối Giả Thân Tử Tự Dĩ Trí Tuệ Vi

1214 | Chủ Ca Chiên Diên Tự Dĩ Soạn Tập Vi Chủ Cố Các Bất Xưng Tứ Biện

1215 | Nhĩ Tuy Phục Tứ Biện Diệc Bất Cập Câu Hi La Câu Hi La Đãn Biện Nhất

1216 | Cú Chi Nghĩa Thất Nhật Bất Tận Huống Phục Tứ Biện Khởi Khả Kế Lượng Hồ Dĩ

1217 | Thử Sự Cố Vi Tứ Biện Đệ Nhất

1218 | Sở Dĩ Xưng Nan Đề Tỉ Khâu Khí Thực Đệ Nhất Giả Dư Tỉ Khâu Tuy Phục

1219 | Khí Thực Hoặc Bất Cụ Giới Hoặc Hữu Tham Tâm Hoặc Tả Hữu Cố Thị Tâm Bất

1220 | Chuyên Nhất Hoặc Tị Hàn Thử Nhiên Thử Tỉ Khâu Đương Khí Thực Thời Đô Vô Thử

1221 | Sự Khí Thực Kí Tinh Thí Giả Phúc Đa Kim Cố Dẫn Dụ Dĩ Huống Đại

1222 | Tiểu Hữu Nhân Vấn Xạ Pháp Nhất Nhân Xạ Bá Bộ Huyền Mao Nhất Nhân Xạ

1223 | Địa Trần Xuất Hà Giả Vi Nan Đáp Viết Huyền Mao Vi Nan Tuy Xạ Nhi

1224 | Bất Trước Địa Thử Bất Túc Ngôn Dã Nhược Thí Khí Thực Nhược Thí Chúng Tăng Hà

1225 | Giả Vi Đại Thí Chân A Luyện Dụ Trung Huyền Mao Thí Bất Đắc Chân Dụ Kì

1226 | Xạ Không Kì Sự Tuy Nan Hữu Đắc Hữu Thất Tiến Trước Địa Giả Dụ Thí Chúng

1227 | Tăng Xạ Mao Tuy Tinh Hữu Thất Giả Đa Xạ Địa Tuy Dị Vị Tằng Thất Địa

1228 | Phúc Điền Địa Hậu Cố Vô Tăng Giảm A Luyện Tinh Thô Cố Hữu Đắc Thất Nan

1229 | Đề Đắc Tinh Cố Xưng Đệ Nhất Dã

1230 | Sở Dĩ Xưng Thí La Nhất Toạ Nhất Thực Giả Thử Vị Đầu Đà Nhất Hành Dã

1231 | Phu A Luyện Pháp Hoặc Khí Thực Hoặc Toạ Thụ Hạ Hoặc Nhàn Cư Độc Xứ

1232 | Kim Thử Nhất Toạ Nhất Thực Giả Tùng Tảo Khởi Chí Nhật Trung Nhược Đàn Việt Thí

1233 | Thực Bất Vấn Đa Thiểu Kì Ư Nhất Xứ Toạ Thực Nhi Dĩ Nhược Thực Vị Bão

1234 | Toạ Vị Di Giả Khả Đắc Canh Thực Nhược Dĩ Khởi Giả Bất Đắc Phục Thực Thường

1235 | Nhất Xứ Thực Nhi Bất Xả Li Cố Xưng Thí La Vi Đệ Nhất Sở Dĩ Ngôn

1236 | Kim Tì La Tỉ Khâu Giả Thường Hành Thất Gia Khí Thực Bất Đắc Quá Thất Sở

1237 | Dĩ Nhiên Giả Lập Thệ Hạn Thất Cố Dã Khí Thực Thời Dục Phúc Độ Chúng

1238 | Sinh Chuyên Tâm Niệm Đạo Vô Hữu Tham Tưởng Nhược Đắc Hảo Ác Bất Dĩ Tăng Giảm

1239 | Tùy Thứ Khí Thực Bất Trạch Bần Phú Nhược Nhất Gia Nhị Gia Đắc Thực Thời Canh

1240 | Hữu Bố Thí Giả Túc Tắc Chỉ Bất Túc Tiện Thụ Nhược Chí Thất Gia Bất Đắc

1241 | Thực Giả Tiện Hoàn Sở Chỉ Tư Duy Hành Đạo Bất Niệm Minh Nhật Đương Chí Mỗ

1242 | Gia Bất Chí Mỗ Gia Đô Vô Phân Biệt Chi Tưởng Cố Danh Thất Gia Sa Môn

1243 | Dã Hoàn Tắc Tĩnh Toạ Liễm Tâm Tại Đạo Cố Xưng Kim Tì La Ư Thất Gia

1244 | Khí Thực Vi Đệ Nhất Dã

1245 | Kiên Lao Tỉ Khâu Giả Dĩ Thường Cư Sơn Dịch Nhàn Tĩnh Chi Xứ Vi Hành Nan

1246 | Đề Tỉ Khâu Thường Dĩ Khí Thực Nại Nhục Vi Hành Kim Tì La Tỉ Khâu Dĩ

1247 | Thất Gia Khí Thực Vi Hành Thí La Dĩ Nhất Xứ Thực Vi Hành Thập Nhị Đầu

1248 | Đà Các Cư Nhất Hành Phù Di Tỉ Khâu Giả Thủ Trì Tam Y Bất Li Thực

1249 | Tức Hoặc Viết Tạo Tam Y Giả Dĩ Tam Chuyển Pháp Luân Cố Hoặc Vân Vi Tam

1250 | Thế Hoặc Vân Vi Tam Thời Cố Cố Thiết Tam Y Đông Tắc Trước Trùng Giả Hạ

1251 | Tắc Trước Khinh Giả Xuân Thu Trước Trung Giả Vi Thị Tam Thời Cố Tiện Cụ Tam

1252 | Y Trùng Giả Ngũ Điều Trung Giả Vi Thất Điều Bạc Giả Thập Ngũ Điều Nhược Đại

1253 | Hàn Thời Trùng Trước Tam Y Khả Dĩ Chướng Chi Hoặc Viết Diệc Vi Văn Manh Mô

1254 | Tử Cố Thiết Tam Y Dĩ Thị Duyên Cố Thường Trì Bất Vô Cố Vân Đệ Nhất

1255 | Sở Dĩ Xưng Bà Sai Tỉ Khâu Giả Bản Tại Gia Thời Thường Dĩ Gia Vi Hoạn

1256 | Xuất Gia Cầu Đạo Thường Tại Lộ Toạ Nhược Nhập Phòng Thất Thường Khổ Khí Bế Như

1257 | Tự Yểm Khẩu Thị Dĩ Thường Cầu Lộ Toạ Tư Duy Hành Đạo Nhiên Hậu Thân Thể

1258 | Điều Hòa Khí Tức Thông Sướng Hành Đạo Vô Ngại Dĩ Thị Nhân Duyên Xưng Bà

1259 | Sai Lộ Toạ Đệ Nhất

1260 | Sở Dĩ Xưng Hồ Nghi Li Việt Thường Xứ Thụ Hạ Giả Tại Phàm Phu Địa Dục

1261 | Cầu Thiền Định Xứ Tại Thụ Hạ Y Ỷ Kế Ý Dĩ Trừ Phọc Kế Dư

1262 | Tỉ Khâu Diệc Tại Thụ Hạ Toạ Thiền Sở Dĩ Bất Xưng Giả Dĩ Kì Bất Năng

1263 | Nhất Văn Nhi Tự Chuyên Tư Thử Tỉ Khâu Nhất Văn Phật Giáo Tức Năng Lí Hành

1264 | Chuyên Ý Bất Xả Lục Niên Tận Kế Tiền Li Việt Giả Lạc Du Thiền Định Hành

1265 | Chỉ Bất Dị Lạc Tập Sự Thù Cố Các Xưng Đệ Nhất

1266 | Sở Dĩ Xưng Đà Đa Sách Tỉ Khâu Lạc Không Giả Thử Tỉ Khâu Nhập Ốc Giải

1267 | Nội Không Xuất Ốc Giải Ngoại Không Nội Không Dụ Thức Ngoại Không Dụ Thân Nhập Ốc

1268 | Đạt Thức Không Xuất Ốc Giải Thân Không Dĩ Liễu Nội Ngoại Không Chư Pháp Diệc Như

1269 | Thị Thử Tỉ Khâu Văn Thuyết Không Giáo Tập Tại Tâm Hoài Nhập Ốc Kiến Không Tức

1270 | Đạt Thân Thức Dư Tỉ Khâu Giả Kế Tận Nhiên Hậu Đạt Không Không Tâm Nan Hoạch

1271 | Quý Kì Tiên Đắc Cố Xưng Đệ Nhất

1272 | Sở Dĩ Xưng Ni Bà Tỉ Khâu Ngũ Nạp Vi Thượng Giả Thử Tỉ Khâu Quan Thân

1273 | Uế Lậu Tam Thập Lục Vật Vô Khả Tham Quý Áp Tiện Thử Thân Cố Dĩ Tiện

1274 | Vật Tự Chướng Hoặc Thuyết Viết Phu Y Hữu Khả Thân Cận Giả Bất Khả Thân Cận

1275 | Giả Hà Giả Khả Thân Cận Trước Ác Y Linh Nhân Tu Tàm Tự Quý Thị

1276 | Khả Thân Cận Trước Hảo Y Linh Nhân Tự Đại Kì Nhã Thị Bất Khả Thân

1277 | Cận Tế Y Trợ Hành Thị Dĩ Trước Ngũ Nạp Thử Tỉ Khâu Thiện Năng Nội Ngoại

1278 | Tướng Huống Cố Xưng Đệ Nhất

1279 | Sở Dĩ Xưng Ưu Đa La Tỉ Khâu Thường Lạc Trủng Gian Giả Thử Tỉ Khâu A

1280 | Nan Đệ Tử Dã Tiên Sư Đắc Đạo Tâm Tự Niệm Viết Thử Thân Lưu Chuyển Vô

1281 | Xứ Bất Canh Tại Thiên Thượng Thời Phục Ngữ Tự Nhiên Kim Dĩ Xả Khí Nhược

1282 | Tại Nhân Trung Vi Chuyển Luân Vương Thất Bảo Đạo Tùng Diệc Phục Quá Khứ Hoặc Tại

1283 | Súc Sinh Hằng Thực Thảo Cức Thử Diệc Quá Khứ Nhược Tại Ngạ Quỷ Dung Đồng Vi

1284 | Thực Hoặc Tại Địa Ngục Đao Kiếm Vi Đối Chư Thử Tội Hình Giai Dĩ Quá

1285 | Khứ Kim Đắc Nhân Thân Tề Thử Phân Tất Cổ Kim Sở Quý Giai Thị Khí

1286 | Vật Ảo Nguy Chi Hình Vô Nhất Khả Tham Câu Đương Khí Quyên Tiện Chỉ Trủng

1287 | Gian Phục Niệm Viết Chính Dục Tại Thụ Hạ Sơn Dịch Giai Sinh Dân Sở Tham Duy

1288 | Hữu Trủng Gian Nhân Sở Bất Lạc Thị Dĩ Cư Chi Trủng Gian Sở Lạc Duy Hữu

1289 | Quỷ Nhĩ Kiêm Hữu Hồ Lang Ô Chi Thuộc Kim Đương Nhập Từ Tam Muội Dĩ

1290 | Tế Bỉ Loại Dĩ Thị Cố Phục Cư Trủng Gian Dĩ Thị Nhân Duyên Thường Lạc Trủng

1291 | Gian Bất Xứ Nhân Trung Cố Xưng Đệ Nhất

1292 | Sở Dĩ Xưng Lô Ê Tỉ Khâu Hằng Toạ Thảo Nhục Đệ Nhất Giả Thử Tỉ

1293 | Khâu Thường Toạ Thảo Nhục Trừ Khứ Ái Tâm Vân Hà Trừ Ái Tuy Phục Kim Sàng

1294 | Ngọc Cơ Đô Vô Ái Trước Hoặc Phục Thuyết Viết Nhược Hữu Nhân Thí Diệu Tòa

1295 | Giả Diệc Như Thí Thảo Tòa Vô Dị Ái Tâm Kí Tận Chư Kế Diệc Tận Tiện

1296 | Thủ Chấp Thảo Hướng Thảo Tác Lễ Hữu Nhân Vấn Viết Hà Dĩ Hướng Thảo Tác Lễ

1297 | Đáp Viết Ngã Nhân Thử Thảo Vinh Sức Tâm Tận Đắc Đạo Do Chi Tức Thị Ngã

1298 | Sư Cố Hướng Tác Lễ Nhĩ Ngũ Bá Mi Hầu Đắc Sinh Thiên Thượng Diệc Dĩ

1299 | Thiên Văn Đà La Hoa Tán Ư Cố Thi Do Thi Sinh Thiên Cố Lai Tán Hoa

1300 | Phu Quý Giả Tất Dĩ Tiện Vi Bản Dĩ Thị Nhân Duyên Xưng Toạ Thảo Nhục Vi

1301 | Đệ Nhất

1302 | Sở Dĩ Xưng Ưu Kiềm Ma Tỉ Khâu Bất Dữ Nhân Ngữ Thị Địa Nhi Hành Đệ Nhất

1303 | Giả Thử Tỉ Khâu Thường Hoạn Khẩu Quá Tương Dục Cải Chi Tự Tư Duy Viết Chính

1304 | Toạ Thử Khẩu Sinh Thiên Nhân Trung Tam Đồ Địa Ngục Thu Ngâm Hoán Hô Nhân

1305 | Bị Ngũ Đạo Canh Khổ Vô Lượng Ngã Kim Đương Như Mộ Bạc Thái Tử Kế Thệ

1306 | Bất Ngôn Tứ Quá Tam Ương Hà Do Nhi Sinh Kí Tiện Bất Ngôn Đoan Thị Nhi

1307 | Hành Phật Kì Kì Năng Nhĩ Mỗi Hướng Chư Tỉ Khâu Xưng Mĩ Kì Đức Ngữ

1308 | A Nan Viết Như Thử Tỉ Khâu Nghi Tồn Thức Lục Dĩ Suất Lai Bạc Dĩ Thị

1309 | Nhân Duyên Xưng Chi Đệ Nhất

1310 | Sở Dĩ Xưng Nhất Tâm Tỉ Khâu Tam Muội Đệ Nhất Giả Thử Tỉ Khâu Tích Tằng

1311 | Tập Định Nghiên Thô Chí Tinh Kim Định Công Kí Lập Hành Nhược Du Trần Toạ

1312 | Nhi Vô Tưởng Vô Tưởng Lí Túc Kì Dụ Như Hà Do Như Hữu Nhân Thực

1313 | Bá Vị Thực Ý Dĩ Bão Mãn Canh Vô Thực Tưởng Tuy Phục Hành Bộ Tấn Chỉ

1314 | Cái Cảm Nhi Hậu Ưng Bạch Nhi Hậu Động Nhĩ Y Định Lập Tự Cố Viết

1315 | Toạ Khởi Hành Bộ Nhập Tam Muội Đệ Nhất Dã

1316 | Sở Dĩ Xưng Đàm Ma Lưu Chi Hảo Viễn Du Đệ Nhất Giả Kì Sự Hữu Do

1317 | Phật Tại Thế Thời Hữu Nhất Trường Giả Tự Đàm Ma Lưu Chi Lai Chí Phật Sở

1318 | Lễ Ngật Vấn Tấn Phật Ngôn Đàm Ma Lưu Chi Biệt Lai Đại Cửu Nãi Năng Tướng

1319 | Kiến Hữu Nhân Vấn Phật Bất Thẩm Hà Dĩ Ngôn Biệt Lai Đại Cửu Thế Tôn Đáp

1320 | Viết Nhữ Dục Tri Chi Da Đáp Viết Dục Tri Phật Ngôn Ngã Tích A Tăng

1321 | Kì Kiếp Thời Thế Hữu Nhất Phật Danh Viết Định Quang Ngã Thời Vi Phạm Chí

1322 | Tự Viết Siêu Thuật Thời Định Quang Phật Phương Dục Nhập Thành Ngã Tức Trung Lộ

1323 | Tướng Phùng Kiến Phật Quang Tướng Huy Bố Tức Thán Viết Thế Tôn Quang Tướng Minh Du

1324 | Nhật Nguyệt Thế Tôn Đức Giả Nãi Long Nhị Nghi Thế Tôn Tâm Giả Nhân Quá Từ

1325 | Mẫu Cố Duy Hình Ảnh Vô Dĩ Cung Chi Kim Chính Thị Thời Phúc Điền Lương Mĩ

1326 | Khả Dĩ Thực Căn Kiến Địa Thiểu Nê Khủng Ô Phật Túc Tức Giải Phát Bố Nê

1327 | Thượng Linh Phật Đạo Nhi Quá Phật Tức Kí Viết Nhữ Dũng Mãnh Nãi Nhĩ Khước

1328 | Hậu A Tăng Kì Kiếp Nhữ Đương Tác Phật Tự Thích Ca Văn Thời Biên Diệc Hữu

1329 | Nhất Phạm Chí Khước Khởi Khuể Tâm Viết Thử Nhân Dữ Súc Sinh Vô Dị Nãi

1330 | Đạo Tha Đầu Phát Thượng Quá Khứ Dã Tùng Thị Dĩ Lai A Tăng Kì Kiếp Thường

1331 | Đoạ Súc Sinh Trung Phục Tại Đại Hải Trung Vi Ma Kiệt Ngư Thân Trường Thất Thiên

1332 | Do Diên Thời Hữu Ngũ Bá Cổ Khách Thừa Thuyền Nhập Hải Thái Bảo Trực Thử Đại

1333 | Ngư Tháp Mộc Khẩu Thuyền Thùy Dục Nhập Khẩu Ngũ Bá Nhân Hoàng Bố Các Xưng Sở Sự Thời

1334 | Cổ Khách Chủ Ngữ Chúng Nhân Ngôn Kim Thế Hữu Phật Danh Thích Ca Văn Tế Nhân

1335 | Nguy Ách Vô Phục Thị Quá Ngã Đẳng Xưng Danh Kí Mông Đắc Thoát Tức Tiện Tề

1336 | Thanh Xưng Hoán Ngư Văn Phật Danh Bản Thức Do Tồn Tức Tự Duy Viết Thích

1337 | Ca Văn Phật Dĩ Xuất Thế Gian Ngã Thân Vân Hà Cố Tại Ngư Trung Tức Hoàn

1338 | Một Thuỷ Ngũ Bá Cổ Khách An Ẩn Nhi Quy Thời Ngư Tức Bán Thân Xuất Sa

1339 | Đàn Thượng Bất Ẩm Bất Thực Kinh Nhị Thất Nhật Mệnh Chung Sinh Trường Giả Gia Tác

1340 | Tử Tự Đàm Ma Lưu Chi Kim Phương Lai Đắc Dữ Ngô Tướng Kiến Thị Dĩ Xưng

1341 | Chi Cửu Viễn Nhĩ Lưu Chi Văn Thử Bản Mạt Tức Hướng Hải Biên Cầu Cố

1342 | Thi Kiến Hải Biên Hữu Đại Ngư Cốt Bì Nhục Dĩ Tận Tiện Hành Hiếp Cốt Thượng

1343 | Tư Duy Ngôn Thử Thị Ngã Cố Thi Tức Dĩ Hoa Tán Cố Thi Thượng Tầm

1344 | Duy Kí Vãng Hốt Nhiên Đạo Thành Dĩ Thị Nhân Duyên Xưng Viễn Du Đệ Nhất

1345 | Dã

1346 | Sở Dĩ Xưng Ca Cừ Tỉ Khâu Tập Chúng Thuyết Pháp Đệ Nhất Giả Thử Tỉ Khâu

1347 | Âm Từ Lãng Đạt Thanh Chấn Hà Nhĩ Kì Văn Âm Thanh Tập Chúng Vô Số

1348 | Tức Vi Diễn Thuyết Pháp Áo Mĩ Chi Nghiệp Chư Nhân Đương Tri Như Lai Xuất Thế

1349 | Nan Khả Trực Ngộ Tứ Đế Cam Lộ Diệc Nan Đắc Văn Chư Nhân Mạn Thời Đương

1350 | Tư Duy Chân Đế Trừ Khứ Thập Nhị Khiên Liên Chi Phọc Khả Đắc Niết Bàn Thử

1351 | Tỉ Khâu Hằng Trợ Phật Dương Hoá Thường Dĩ Thử Giáo Vị Trụy Ư Địa Dĩ Thị

1352 | Nhân Duyên Xưng Tập Chúng Thuyết Pháp Âm Thanh Đệ Nhất Dã

1353 | Sở Dĩ Xưng Bà Câu La Thọ Mệnh Cực Trường Giả Dĩ Nẵng Tích Tằng Cung

1354 | Dưỡng Lục Vạn Phật Ư Chư Phật Sở Thường Hành Từ Tâm Quyên Phi Nhu Động

1355 | Hữu Hình Mệnh Loại Hằng Gia Từ Mẫn Vô Hữu Hào Hi Sát Hại Chi Tưởng Do

1356 | Thị Từ Phúc Kim Hoạch Kì Báo Phật Cáo A Nan Như Ngã Kim Nhật Bì Thân

1357 | Thanh Tịnh Vô Quá Ư Ngã Do Như Liên Hoa Bất Trước Nê Thuỷ Chính Thọ Bát

1358 | Thập Bất Như Bà Câu La Thọ Bá Lục Thập Giả Như Lai Tùy Thế Dục Đích

1359 | Chúng Sinh Bất Hiện Kì Dị Cố Thọ Bát Thập Bà Câu La Giả Thụ Tiền Tú

1360 | Thế Từ Tâm Chi Phúc Cố Đắc Niên Thọ Gia Bội Chi Báo Hoặc Vấn Đãn

1361 | Dĩ Từ Tâm Tiện Hoạch Như Thử Chi Thọ Da Phục Canh Hữu Dư Hồ Viết Hữu

1362 | Tích Tì Bà Thi Như Lai Xuất Thế Thời Hữu Thập Lục Vạn Bát Thiên Tỉ Khâu

1363 | Du Hành Giáo Hoá Thời Hữu Trường Giả Cư Minh Trinh Tu Bẩm Tính Lương Khiêm Bất

1364 | Hảo Ẩm Tửu Thời Tuế Tiết Hội Thiểu Tướng Khuyến Miễn Bạc Ẩm Thiểu Đa Triếp Dĩ

1365 | Tửu Thế Hành Nghệ Thế Tôn Lễ Bái Vấn Tấn Ngật Tiện Thỉnh Phật Cập Chư Đệ

1366 | Tử Nguyện Thụ Ngã Cửu Thập Nhật Thỉnh Tỉ Khâu Tật Bệnh Giả Giai Nghệ Ngã

1367 | Gia Nhi Thủ Y Dược Sở Tu Chi Vật Giai Lai Thủ Chi Ngữ Ngật Hoàn Gia

1368 | Ước Sắc Gia Nội Viết Ngã Dĩ Thỉnh Phật Cập Chư Đệ Tử Tứ Sự Cung

1369 | Dưỡng Giai Đương Biện Cụ Ước Sắc Cánh Tiện Thụy Miên Miên Cửu Hoàn Giác Kì

1370 | Phụ Bạch Viết Quân Tiên Ước Sắc Nghiêm Biện Cung Cụ Nhi Kim Mặc Nhiên Sở Dĩ

1371 | Đắc Nhĩ Trường Giả Kinh Viết Ngã Hướng Hà Sở Ngôn Thuyết Da Phụ Viết Quân Vị

1372 | Miên Thời Vô Sở Thuyết Da Viết Ngã Bất Tỉnh Hữu Sở Thuyết Phụ Viết Quân Tiên

1373 | Ngôn Ngã Dĩ Thỉnh Phật Cập Chư Đệ Tử Cung Cửu Thập Nhật Sở Tu Đoản Phạp

1374 | Bất Tác Thị Ngữ Da Trường Giả Tư Duy Viết Tửu Chi Ngộ Nhân Nãi Chí Ư

1375 | Tư Dĩ Nhĩ Tàm Quý Tiện Đương Tức Thỉnh Minh Nhật Thanh Đán Ư Xá Thiêu Hương

1376 | Dao Thỉnh Thế Tôn Hữu Nhất Tỉ Khâu Lai Sách Dược Trường Giả Vấn Viết Hà Sở

1377 | Hoạn Khổ Đáp Viết Hoạn Đầu Thống Trường Giả Viết Thử Tất Cách Thượng Hữu Thuỷ

1378 | Ngưỡng Công Kì Đầu Thị Dĩ Đầu Thống Nhĩ Tức Thí Nhất A Lê Lặc Quả

1379 | Đãn Phục Thử Dược Túc Tiêu Thử Hoạn Tỉ Khâu Phục Dược Bệnh Tức Trừ Dũ Duyên

1380 | Thị Phúc Báo Cửu Thập Nhất Kiếp Vị Tằng Bệnh Hoạn Sinh Trường Giả Gia Chí Niên

1381 | Bát Thập Xuất Gia Học Đạo Kinh Bát Thập Niên Đạo Tục Chi Kỉ Hợp Bá Lục

1382 | Thập Tại Gia Thời Tằng Giác Ngưu Tư Tu Đầu Thống Tầm Tức Trừ Dũ Tự

1383 | Nhĩ Thường Vô Tật Hoạn Dĩ Thị Chi Cố Bà Câu La Trường Thọ Đệ Nhất

1384 | Ư Bá Niên Thọ Trung Nhi Gia Lục Thập Giả Thử Nhân Ngũ Trược Thọ Mệnh Tối

1385 | Vi Kì Đặc Kì Dụ Ư Xú Uế Chi Trung Nhi Sinh Liên Hoa Dã A Nan

1386 | Vấn Bà Câu La Hà Dĩ Bất Vi Nhân Thuyết Pháp Da Vi Vô Tứ Biện Vi

1387 | Phạp Trí Tuệ Nhi Bất Thuyết Pháp Hồ Đáp Viết Ngã Ư Tứ Biện Tiệp Tật Chi

1388 | Trí Phi Vi Bất Túc Trực Tự Lạc Tĩnh Bất Hỉ Hội Náo Cố Bất Thuyết Pháp

1389 | Nhĩ Nan Viết Bà Câu La Trường Thọ Giả Hà Dĩ Bất Sinh Tam Phương Da

1390 | Đáp Viết Chư Phật Sở Dĩ Bất Sinh Giả Dĩ Kì Độ Nhân Nan Hoá Cố Thử

1391 | Độ Chúng Sinh Lợi Căn Tiệp Tật Cực Ác Dũng Mãnh Thủ Đạo Bất Nan Thị Cố

1392 | Vãng Cổ Chư Phật Giai Sinh Thử Trung Bà Câu La Ưng Tại Thử Thành Đạo Cố

1393 | Bất Sinh Tam Phương Nhĩ

1394 | Sở Dĩ Xưng Mãn Nguyện Tử Thuyết Pháp Đệ Nhất Giả Hữu Tam Sự Đắc Xưng Đệ

1395 | Nhất Dư Tỉ Khâu Diệc Thuyết Pháp Vô Hữu Tam Sự Khả Kí Cố Bất Ngôn Đệ

1396 | Nhất Mãn Nguyện Tử Thuyết Pháp Thời Tiên Dĩ Biện Tài Xướng Phát Diệu Âm Sứ Chúng

1397 | Tòa Hoan Hỉ Thiêm Nhiên Khuynh Ngưỡng Thứ Dĩ Khổ Sở Chi Ngôn Trái Thiết Kì Tâm

1398 | Sứ Linh Nội Hủ Túc Tủng Hưng Nan Tao Chi Tưởng Chung Dĩ Minh Tuệ Không Vô

1399 | Chi Giáo Văn Giả Kế Giải Sứ Điềm Trí Giao Dưỡng Thế Tôn Diễn Pháp Sơ

1400 | Trung Cánh Thiện Mãn Nguyện Tử Diệc Nhiên Tam Sự Câu Thiện Tự Xả Như Lai Mạc

1401 | Năng Tiên Giả Thân Tử Tự Thệ Tùng Đán Chí Trung Yếu Độ Nhất Nhân Linh Chí

1402 | Đạo Tích Mục Liên Tỉ Khâu Diệc Thệ Độ Nhân Ư Tứ Hướng Chi Trung Khoá Tấn

1403 | Nhất Giai Nhiên Hậu Nãi Thực Kì Dư Tỉ Khâu Giai Diệc Độ Nhân Tỉ Mãn Nguyện

1404 | Tử Bá Bất Đương Nhất Mãn Nguyện Tử Tùng Thành Đạo Chí Niết Bàn Độ Cửu Vạn

1405 | Cửu Thiên Nhân Ư Thanh Văn Chi Trung Độ Nhân Tối Đa Cố Xưng Thuyết Pháp Đệ

1406 | Nhất Dã

1407 | Sở Dĩ Xưng Ưu Ba Li Trì Luật Đệ Nhất Giả Tích Phật Hoàn Bản Quốc Thụ

1408 | Phụ Vương Thỉnh Sở Tùng Tỉ Khâu Tuy Phục Tâm Tinh Vô Biểu Dong Mạo Thời Vương

1409 | Dục Khuyến Thích Chủng Hào Tộc Tử Đệ Xuất Gia Vi Tỉ Khâu Thị Tùng Thế Tôn

1410 | Tức Tuyên Linh Chư Thích Kì Hữu Huynh Đệ Nhị Nhân Giả Giai Đương Nhất Nhân Xuất

1411 | Gia Vi Đạo Nhược Bất Tùng Linh Giả Đương Trùng Phạt Chi Thời Hữu Nhất Thích Chủng

1412 | Tử Danh Viết Diện Vương Thích Trung Tối Trường Thứ Ưng Tiên Hạ Phát Thời Phật Mệnh

1413 | Ưu Ba Li Vi Kì Thế Đầu Trùng Cáo Viết Thử Chư Thích Chủng Kiêu Lạc

1414 | Thể Nhuyễn Nhữ Hảo Từ Từ Khinh Thủ Dữ Thế Ưu Ba Li Tức Khinh Thủ

1415 | Phục Thái Khinh Bất Trước Thời Ưu Ba Li Phục Phản Đao Nhận Dĩ Tích Dụng Chi

1416 | Phật Ngôn Bất Khả Phục Dụng Đao Phúc Diệc Viết Bất Khả Tức Dĩ Đao Tùng Đỉnh

1417 | Thượng Thế Dân Nhiên Trừ Tận Ngũ Bá Thích Tử Giai Tất Như Thị Phật Mệnh Ưu

1418 | Ba Li Viết Thiện Lai Tỉ Khâu Tức Thành Sa Môn Phật Tức Thụ Giới Đắc

1419 | A La Hán Thứ Thụ Ngũ Bá Thích Tử Giới Ưu Ba Li Vi Thượng Tòa Dĩ

1420 | Thủ Ma Ngũ Bá Nhân Đầu Vi Đệ Tử Thụ Giới Ngật Thứ Đương Lễ Ưu Ba

1421 | Li Chư Thích Tiên Tố Kiêu Hào Bất Năng Hạ Quật Gia Phục Thị Kỉ Chi

1422 | Tử Đệ Các Ngôn Thử Thị Ngã Gia Bộc Hà Duyên Lễ Chi Phật Ngôn Bất

1423 | Nhĩ Pháp Vô Quý Tiện Tiên Đạt Vi Huynh Hậu Giả Vi Đệ Phủ Ngưỡng Bất

1424 | Dĩ Chế Ý Vi Lễ Tức Thời Thiên Địa Đại Động Chư Thiên Ư Thượng Tán Viết

1425 | Thiện Tai Thiện Tai Kim Nhật Chư Thích Giáng Phục Cống Cao Thử Ý Nan Thắng

1426 | Cố Địa Vi Động Nhĩ Đương Ngũ Bá Thích Vi Đạo Thời Diệc Hữu Cửu Vạn Cửu

1427 | Thiên Nhân Xuất Gia Vi Đạo Ưu Ba Li Tự Tùng Phật Thụ Giới Dĩ Lai Vị

1428 | Tằng Phạm Như Hào Hi Dĩ Thị Nhân Duyên Cố Xưng Đệ Nhất Đãn Dĩ Thị Canh

1429 | Hữu Dư Sự Da Kì Viên Tinh Xá Bắc Hữu Nhất Tỉ Khâu Đắc Bệnh Kinh Lục

1430 | Niên Bất Sai Thời Ưu Ba Li Vãng Vấn Tỉ Khâu Hà Sở Hoạn Khổ Nhược

1431 | Sở Tu Giả Tiện Đạo Viết Ngã Sở Tu Giả Bất Khả Thuyết Hựu Vấn Viết Nhữ

1432 | Dục Tu Hà Vật Nhược Thử Vô Giả Đương Tùng Tứ Phương Cầu Chi Nhược Thế Gian

1433 | Vô Giả Thượng Thiên Cầu Chi Viết Ngã Sở Tu Giả Xá Vệ Thành Trung Hữu Dĩ

1434 | Vi Phật Giáo Cố Bất Khả Thuyết Nhĩ Viết Đãn Thuyết Vô Khổ Viết Ngã Duy

1435 | Tư Tửu Nhĩ Đắc Ngũ Thăng Tửu Giả Bệnh Tiện Dũ Ưu Ba Li Viết Thả

1436 | Trụ Ngã Vi Nhữ Vấn Phật Hoàn Tức Vấn Phật Tỉ Khâu Bệnh Tu Tửu Vi Dược

1437 | Bất Thẩm Khả Đắc Ẩm Bất Thế Tôn Viết Ngã Sở Chế Pháp Trừ Bệnh Giả

1438 | Ưu Ba Li Tức Hoàn Sách Tửu Dữ Bệnh Tức Dũ Trùng Dữ Thuyết Pháp Đắc La

1439 | Hán Đạo Phật Tán Ưu Ba Li Nhữ Nãi Vấn Như Lai Thử Sự Sứ Bệnh Tỉ

1440 | Khâu Đắc Mông Trừ Sai Hựu Sứ Đắc Đạo Thử Tỉ Khâu Nhược Bất Đắc Độ

1441 | Giả Hậu Đương Đoạ Tam Đồ Tác Thức Vô Hữu Xuất Kì Nhữ Nãi Vi Tương Lai

1442 | Tỉ Khâu Thuyết Cấm Pháp Sứ Tri Khinh Trùng Đắc Tế Nguy Ách Nhữ Chân Năng Trì

1443 | Luật Dĩ Luật Tạng Phó Nhữ Vật Linh Lậu Thất Thử Tạng Chư Tạng Chi Trung Tối

1444 | Tại Kì Nội Bất Khả Kì Sa Di Cập Dĩ Bạch Y Dĩ Thị Duyên Cố Phục

1445 | Xưng Vi Đệ Nhất Dã

1446 | Sở Dĩ Xưng Bà Ca Lợi Tỉ Khâu Đắc Tín Giải Thoát Giả Thử Tỉ Khâu Cửu

1447 | Bệnh Trước Sàng Nãi Kinh Lục Niên Chư Chiêm Thị Giả Giai Tất Xả Khứ Tỉ Khâu

1448 | Tự Niệm Tật Bệnh Kinh Cửu Chiêm Thị Bì Quyện Thậm Khả Hoạn Áp Hựu Phục Như

1449 | Lai Bất Kiến Thùy Mẫn Thả Đương Tự Hại Dĩ Trừ Hoạn Khổ Tức Tiện Sách Đao

1450 | Hướng Đao Thuyết Viết Đãn Đương Sát Ngã Diệc Đương Đoán Kế Da Thuyết Ngật Dĩ

1451 | Đao Tự Vẫn Chính Chí Ân Bán Dĩ Đắc Lậu Tận Tỉ Chí Đầu Đoán Dĩ Thủ

1452 | Niết Bàn Vu Thời Đại Địa Chấn Động Nãi Cảm Ba Tuần Ba Tuần Niệm Viết Thử

1453 | Hà Thụy Ưng Nãi Nhĩ Chấn Động Tức Dĩ Thiên Nhãn Quan Kiến Tỉ Khâu Tự Tàn

1454 | Kì Hình Thần Vi Sở Thú Biến Quan Chư Thiên Bất Kiến Kì Thần Phục Quan Nhân

1455 | Trung Diệc Bất Kiến Chi Phục Quan Tam Ác Đạo Trung Diệc Phục Bất Kiến Thời Phật

1456 | Tương Chư Tỉ Khâu Dục Da Tuần Chi Kiến Thi Hoả Khởi Thử Ba Tuần Phóng Hoả

1457 | Mịch Tỉ Khâu Thần Đô Bất Tri Sở Tại Sở Dĩ Mịch Giả Dục Tri Tấn

1458 | Thú Hoại Linh Bất Thành Chư Tỉ Khâu Tiện Da Tuần Chi Phật Thán Thử Tỉ Khâu

1459 | Đắc Tín Giải Thoát Hoặc Viết Phu Chí Tín Giả Uy Mệnh Tự Nhiên Thượng Bất Chấp

1460 | Trượng Hà Dĩ Tự Phòng Huống Phục Tự Hại Da Đáp Viết Tín Sở Dĩ Chấp

1461 | Đao Giả Dĩ Đao Vi Tuệ Kiếm Dục Nghĩ Đoán Chư Kế Thân Tức Kế Bản Căn

1462 | Tị Tắc Chi Tùng Thân Đoán Tắc Kế Trừ Thị Dĩ Chấp Đao Giả Bất Vi

1463 | Phương Ngại Dã Chấp Tín Đao Đoán Nghi Thụ Cố Hạ Cú Vân Ý Vô Do

1464 | Dự Tùng Tín Giải Thoát Chí Vô Nghi Giải Thoát Giả Tức Chuyển Độn Vi Lợi Dã

1465 | Dĩ Thị Nghĩa Cố Xưng Tín Giải Thoát Vi Đệ Nhất Dã

***

1466 | Quyển 5

1467 | Phân Biệt Công Đức Luận Quyển Đệ Ngũ

1468 | Thất Dịch Nhân Danh Phụ Hậu Hán Lục

1469 | Sở Dĩ Xưng Nan Đà Tỉ Khâu Đoan Chánh Đệ Nhất Giả Chư Tỉ Khâu Các

1470 | Các Hữu Tướng Thân Tử Hữu Thất Mục Liên Hữu Ngũ A Nan Hữu Nhị Thập Độc

1471 | Nan Đà Hữu Tam Thập Tướng Nan Đà Kim Sắc A Nan Ngân Sắc Y Phục Quang

1472 | Diệu Kim Lũ Lí Tỉ Chấp Lưu Li Bát Nhập Thành Khí Thực Kì Hữu Kiến

1473 | Giả Vô Bất Hân Duyệt Tự Xả Như Lai Dư Chư Đệ Tử Vô Năng Cập Giả

1474 | Cố Xưng Đoan Chánh Đệ Nhất Diệc Vân Chư Căn Tịch Tĩnh Giả Phật Tương Chư Đệ

1475 | Tử Chí Tì Xá Li Nại Nữ Tinh Xá Thời Nan Đà Tại Ngoại Kinh Hành Nại

1476 | Nữ Văn Phật Lai Tâm Trung Hân Duyệt Dục Thiết Vi Cung Tức Hành Thỉnh Phật Ư

1477 | Ngoại Kiến Nan Đà Kinh Hành Ái Lạc Tình Thâm Tiếp Túc Vi Lễ Dĩ Thủ Ma

1478 | Túc Tuy Đổ Mĩ Tư Tịch Vô Tình Tưởng Hình Hình Tướng Cảm Tiện Thất Bất Tịnh

1479 | Cam Vị Nhuận Thể Thể Mãn Tắc Doanh Bất Tịnh Chi Dật Khởi Do Tâm Tai Nại

1480 | Nữ Bất Đạt Nghi Hữu Dục Tưởng Phật Tri Kì Ý Cáo Nại Nữ Viết Vật Sinh

1481 | Nghi Tâm Nan Đà Khước Hậu Thất Nhật Đương Đắc La Hán Dĩ Thị Ngôn Chi Tri

1482 | Tâm Bất Biến Dị Dã Sở Dĩ Xưng Bà Đà Tỉ Khâu Giải Nhân Nghi Trệ Giả

1483 | Tam Thế Chư Phật Giai Cộng Bát Vạn Tứ Thiên Dĩ Vi Hành Pháp Chúng Sinh Đắc

1484 | Đạo Bất Tất Biến Hành Chúng Hành Tùy Kì Sở Ngụ Xứ Dĩ Vi Tôn Hà Giả

1485 | Chúng Sinh Kế Sứ Bất Đồng Bệnh Hữu Đa Thiểu Cấu Hữu Hậu Bạc Thị Cố Như

1486 | Lai Thiết Giáo Nhược Can Hoặc Hữu Nhất Dược Trị Chúng Bệnh Hoặc Hữu Chúng Dược Trị

1487 | Nhất Bệnh Do Lục Độ Tướng Thống Nhất Hành Vi Chủ Chúng Hành Tất Tùng Nhất Hành

1488 | Giả Bất Chuyên Thường Danh Tùy Bệnh Sở Khởi Đối Dược Ưng Chi Nhược Kế Thường Khởi

1489 | Dĩ Vô Thường Đối Chi Nhược Kế Hữu Tâm Khởi Dĩ Không Tâm Đối Chi Đương Kì

1490 | Vô Thường Lĩnh Hành Vạn Hành Giai Vô Thường Dã Do Thí Tạo Bát Vạn Bát Vạn

1491 | Giai Vi Thí Sở Vị Lược Thuyết Giả Dã Do Như Lai Bát Âm Trung Nhất Âm

1492 | Thống Bát Hưởng Nhất Hưởng Thống Bá Giáo Nhất Giáo Thống Bá Nghĩa Nhất Nhất Tướng

1493 | Lĩnh Chí Thiên Vạn Ức Nhất Âm Báo Vạn Ức Kì Biến Như Thị Lược Thuyết

1494 | Thống Hành Kì Dụ Diệc Nhĩ Thử Tỉ Khâu Chuyên Dĩ Lược Thuyết Vi Chủ Cố

1495 | Xưng Đệ Nhất Dã Sở Dĩ Xưng Tư Ni Tỉ Khâu Năng Quảng Thuyết Pháp Giả Thử

1496 | Tỉ Khâu Tam Thập Niên Tại Phàm Phu Địa Trung Quảng Vi Nhân Thuyết Pháp Phân Biệt

1497 | Nghĩa Lí Vân Hà Quảng Thuyết Hoặc Nhân Nhất Hành Nhi Trường Chúng Hành Chi Lưu

1498 | Phồn Diễn Nãi Chí Vô Số Do Bệnh Hữu Tướng Nhân Nhi Sinh Thị Dĩ Thiết

1499 | Dược Tướng Tùng Nhi Thành Thử Tỉ Khâu Chuyên Dĩ Phẫu Phán Vi Chủ Bất Dĩ Đoán

1500 | Lậu Vi Tiên Thị Dĩ Nãi Kinh Tam Thập Niên Phương Thủ Đạo Chứng Tịch Mặc Vô

1501 | Ngôn Nãi Di Tiền Tung Lục Kì Bản Tích Cố Xưng Quảng Thuyết Đệ Nhất Dã

1502 | Sở Dĩ Xưng Thiên Tu Bồ Đề Trước Hảo Y Đệ Nhất Giả Ngũ Bá Đệ Tử

1503 | Trung Hữu Lưỡng Tu Bồ Đề Nhất Vương Giả Chủng Nhất Trường Giả Chủng Thiên Tu Bồ

1504 | Đề Xuất Vương Giả Chủng Sở Dĩ Ngôn Thiên Giả Ngũ Bá Thế Trung Thường Thượng Sinh

1505 | Hoá Ưng Thanh Thiên Hạ Sinh Vương Giả Gia Thực Phúc Tự Nhiên Vị Tằng Quỹ Phạp

1506 | Phật Hoàn Bản Quốc Thời Chân Tịnh Vương Khuyến Ngũ Bá Thích Chủng Tử Xuất Gia Học

1507 | Đạo Thị Tùng Thế Tôn Thử Tỉ Khâu Tại Kì Lệ Xuất Gia Thời Phật Ước Sắc

1508 | Chư Tỉ Khâu Phu Vi Đạo Giả Giai Đương Ước Thân Thủ Tiết Thô Y Ác Thực

1509 | Thảo Nhục Vi Sàng Dĩ Đại Tiểu Tiện Vi Dược Thử Tỉ Khâu Văn Phật Thiết

1510 | Giáo Tâm Tự Tư Duy Ngô Sinh Hào Quý Y Thực Tự Nhiên Cung Điện Ốc

1511 | Xá Điêu Văn Hặc Lũ Kim Ngân Sàng Tháp Thất Bảo Thực Khí Thân Trước Kim Lũ

1512 | Chí Thành Phục Sức Túc Lí Kim Bạc Diệu Tỉ Nhiên Tắc Do Bất Tận Ngô Ý

1513 | Huống Đương Trước Ngũ Nạp Phục Da Thả Đương Hoàn Gia Đích Ngã Bản Ý Niệm Dĩ

1514 | Dục Hoàn Thời Phật Tại Xá Vệ Tinh Xá Thụ Ba Tư Nặc Vương Thỉnh Tức Vãng

1515 | Nghệ Phật Sở Từ Thối Nhi Hoàn Thời A Nan Ngữ Viết Quân Thả Trụ Nhất Tú

1516 | Tu Bồ Đề Viết Đạo Nhân Ốc Xá Sàng Tháp Tòa Tịch Như Hà Khả Chỉ Thả

1517 | Chí Bạch Y Gia Kí Chỉ Nhất Tú Minh Đương Hoàn Quy A Nan Viết Đãn Trụ

1518 | Kim Đương Nghiêm Biện Cung Cụ Tức Vãng Chí Vương Sở Chủng Chủng Toạ Cụ Phan Cái

1519 | Hoa Hương Cập Tứ Đăng Du Sự Sự Nghiêm Sức Giai Bị Cụ Túc Thử Tỉ Khâu

1520 | Tiện Ư Trung Chỉ Tú Dĩ Đích Bản Tâm Ý Tiện Đắc Định Tư Duy Tứ Đế

1521 | Chí Ư Hậu Dạ Tức Đắc La Hán Tiện Phi Đằng Hư Không A Nan Tâm Niệm

1522 | Thử Tỉ Khâu Thảng Xả Ốc Khứ Sở Tá Vương Vật Khủng Nhân Trì Khứ Tiện Vãng

1523 | Khán Chi Ốc Nội Bất Kiến Ngưỡng Thị Không Trung Kiến Phi Tại Thượng A Nan Bạch

1524 | Phật Thiên Tu Bồ Đề Dĩ Đắc La Hán Kim Phi Tại Hư Không Phật Ngữ A

1525 | Nan Phu Y Hữu Nhị Chủng Hữu Khả Thân Cận Hữu Bất Khả Thân Cận Hà Giả

1526 | Khả Thân Cận Trước Hảo Y Thời Ích Đạo Tâm Thử Khả Thân Cận Trước Hảo Y

1527 | Thời Tổn Đạo Tâm Giả Thử Bất Khả Thân Cận Dã Thị Cố A Nan Hoặc Tùng

1528 | Hảo Y Đắc Đạo Hoặc Tùng Ngũ Nạp Tế Ác Nhi Đắc Đạo Giả Sở Ngụ

1529 | Tại Tâm Bất Câu Hình Phục Dã Dĩ Thị Ngôn Chi Thiên Tu Bồ Đề Trước Hảo

1530 | Y Đệ Nhất Dã Sở Dĩ Xưng Nan Đà Ca Tỉ Khâu Giáo Thụ Đệ Nhất Giả

1531 | Xá Lợi Phất Diệc Giáo Thụ Phổ Giáo Thụ Tứ Bộ Đệ Tử Tùng Đán Chí Trung

1532 | Yếu Sứ Nhất Nhân Chí Ư Đạo Tích Thử Tỉ Khâu Giả Chuyên Giáo Thụ Tỉ Khâu

1533 | Sứ Đắc La Hán Thí Như Thiện Xạ Chi Nhân Dĩ Nhất Phát Tiến Xạ Ư Bỉ

1534 | Tặc Tức Trung Yếu Xứ Tiện Sứ Bất Khởi Dụ Thử Tỉ Khâu Thiện Hối Yếu Tuệ

1535 | Văn Giả Kế Trừ Kính Chí Vô Vi Bất Thiện Xạ Giả Tuy Dụng Đa Tiến Chính

1536 | Khả Nhất Phát Dụ Ư Thân Tử Tuy Quảng Diễn Tuệ Chung Thành Nhất Giai Ưu Liệt

1537 | Chi Thù Cách Nhiên Dị Kiến Cố Ngôn Giáo Thụ Hậu Học Tối Vi Đệ Nhất Dã

1538 | Tu Ma Na Tỉ Khâu Sở Dĩ Thiện Hối Tỉ Khâu Ni Tăng Giả Thử Tỉ Khâu

1539 | Thường Dĩ Khổ Thiết Chi Ngôn Giới Sắc Chư Ni Tăng Phu Nữ Nhân Giả Đa Chư

1540 | Tình Thái Tư Mị Ỷ Sức Ảo Hoặc Thế Nhân Thân Hình Uế Lậu Cửu Khổng Bất

1541 | Tịnh Tam Thập Lục Vật Vô Nhất Khả Tham Dã Sở Dĩ Danh Tu Ma Na Giả

1542 | Tức Hoa Danh Dã Dĩ Kì Sinh Thời Nhĩ Thượng Tự Nhiên Hữu Thử Hoa Tức Dĩ

1543 | Hoa Vi Xưng Thời Tần Bà Sa La Vương Lai Chí Phật Sở Kiến Thử Tỉ Khâu

1544 | Nhĩ Thượng Hữu Hoa Quái Nhi Vấn Phật Tỉ Khâu Pháp Đắc Trước Hoa Da Phật

1545 | Cáo Vương Viết Vương Tự Vãn Khước Thời Vương Tức Dĩ Thủ Niêm Khứ Tục Sinh

1546 | Như Cố Như Thị Bất Chỉ Toại Thành Hoa Tụ Vương Quái Ích Thậm Vấn Kì

1547 | Sở Do Phật Cáo Vương Viết Nãi Tích Tì Bà Thi Như Lai Xuất Thế Thời Thử

1548 | Tỉ Khâu Vi Trường Giả Tử Thời Tuế Tiết Hội Cộng Đàn Cầm Tác Xương Hí Ngật

1549 | Tiện Chí Phật Sở Thử Trường Giả Kiến Phật Hỉ Duyệt Tức Dĩ Nhĩ Thượng Hoa Cử

1550 | Trước Phật Nhĩ Thượng Phật Tức Dĩ Thần Túc Hoá Thử Hoa Ư Hư Không Trung Biến

1551 | Vi Tứ Trụ Đài Nhĩ Thượng Như Cố Trường Giả Kiến Biến Tức Phát Thệ Nguyện Nguyện

1552 | Sứ Tương Lai Thế Thế Trực Phật Sở Sinh Đoan Chánh Nhĩ Thượng Sinh Hoa Dĩ Tích

1553 | Phúc Nguyện Kim Hoạch Kì Báo Vương Văn Sở Thuyết Tâm Tức Khai Giải Tiền Lễ Phật

1554 | Túc Từ Thối Hoàn Cung Sở Dĩ Thiện Hối Tỉ Khâu Ni Giả Tỉ Khâu Ni Đẳng

1555 | Bản Thị Đa Tình Nhân Kiến Tỉ Khâu Đoan Chánh Kiêm Nhĩ Thượng Hữu Hoa Tâm

1556 | Do Ái Lạc Duyên Thử Ái Tình Hối Ước Thiết Giáo Do Thị Khổ Ngôn Ái Trước

1557 | Tức Giải Thị Cố Ngôn Thiện Hối Cấm Giới Tỉ Khâu Ni Tăng Tối Vi Đệ Nhất

1558 | Dã Sở Dĩ Xưng Thi Bà La Tỉ Khâu Phúc Đức Đệ Nhất Giả Thi Bà La

1559 | Sơ Sinh Thời Thủ Bả Vô Giá Ma Ni Châu Xuất Đoạ Địa Tiện Ngôn Thế Gian

1560 | Phả Hữu Kim Ngân Thất Bảo Khả Trì Bố Thí Bất Ngã Kim Dục Đại Bố Thí

1561 | Tác Thị Ngôn Dĩ Phụ Mẫu Chư Gia Giai Đại Kinh Cụ Khí Xả Nhi Tẩu Hoặc

1562 | Hô Thị La Sa Quỷ Hoặc Vị Thiên Thần Phu Tiểu Nhi Sinh Yếu Tu Nhật Nguyệt

1563 | Mãn Túc Nãi Đương Ngôn Kim Đoạ Địa Tiện Ngôn Thị Đại Khả Quái Mẫu Tình Bất

1564 | Nhiên Phục Hoàn Khán Chi Ngữ Mẫu Viết Mạc Cụ Ngã Phi Quỷ Ngã Chính Thị

1565 | Mẫu Nhi Nhĩ Kì Phụ Nguyệt Quang Viết Kim Đương Bão Nhi Chí Ni Kiền Tử

1566 | Sở Vấn Kì Cát Hung Tức Dữ Phụ Bão Nhi Chí Ni Kiền Sở Dĩ Trạng Bạch

1567 | Sư Sư Viết Thử Nhi Vô Phúc Hậu Đương Trí Hoạ Trường Giả Viết Nhi Thủ

1568 | Trung Hữu Ma Ni Châu Hà Dĩ Ngôn Vô Phúc Da Ni Kiền Viết Chí Niên Bát

1569 | Tuế Thời Nhữ Gia Tài Bảo Tận Đương Tại Thử Nhi Thủ Trung Tiêu Diệt Đãi Tư Do

1570 | Thị Giai Đương Ngạ Tử Trường Giả Cụ Bố Thâm Duy Nghi Hoặc Văn Thế Hữu Đại

1571 | Sa Môn Thảng Năng Tri Cát Hung Đương Vãng Chí Kì Sở Vấn Thử Khả Phủ

1572 | Tức Vãng Thế Tôn Sở Trung Lộ Phục Niệm Đại Sa Môn Thị Vương Giả Chủng Sinh

1573 | Trường Thâm Cung Hựu Bất Học Vấn Bà La Môn Đẳng Thiểu Tiểu Bác Học Thượng Bất

1574 | Năng Tri Cát Hung Sa Môn Khởi Đắc Năng Tri Da Tức Dục Hoàn Gia Thiên

1575 | Ư Hư Không Cáo Trường Giả Viết Đãn Đương Tiền Tấn Hà Dĩ Phục Hoàn Da Như

1576 | Lai Đại Thánh Vô Sở Bất Đạt Vãng Tất Quyết Nghi Thị Phi Tốc Vãng Tức

1577 | Tiền Chí Phật Sở Lễ Bái Vấn Tấn Ngật Tiện Khải Bạch Như Hướng Sở Thuyết Bất

1578 | Thẩm Cát Hung Phật Cáo Trường Giả Cát Vô Bất Lợi Nãi Sinh Thử Phúc Đức Chi

1579 | Tử Thử Nhi Niên Nhị Thập Đương Xuất Vi Đạo Thường Hữu Ngũ Bá Đồng Tử Cộng

1580 | Câu Đương Đắc La Hán Hoàn Độ Phụ Mẫu Trường Giả Văn Phật Sở Thuyết Hoan Hỉ

1581 | Dũng Dược Bất Năng Tự Thắng Tức Hoàn Quy Gia Biện Cụ Hào Thiện Thỉnh Phật Chí

1582 | Xá Nguyện Thế Tôn Tứ Tiểu Nhi Tự Phật Cáo Trường Giả Chính Dục Vi Tự Vi

1583 | Thiên Nhân Sở Bất Giải Chính Dục Tự Vi Hiền Thánh Phàm Phu Sở Bất Giải Ca

1584 | Diệp Phật Thời Danh Quỷ Vi Thi Bà La Kim Chính Đương Tự Vi Thi Bà La

1585 | Thi Bà La Giả Khai Thông Quỷ Thần Ngôn Ngữ Âm Thanh Thị Cố Tự Thi Bà

1586 | La A Nan Lâm Ban Niết Bàn Thời Độ Nhị Đệ Tử Nhất Danh Ma Thiền

1587 | Đề Nhị Danh Ma Thân Đề Lợi Ma Thân Đề Lợi Giả Địa Vương Dã Nhược Bất

1588 | Tác Đạo Nhân Giả Đương Vương Thử Diêm Phù Đề Cập Tam Thiên Hạ Cố Danh Ma

1589 | Thân Đề Lợi A Nan Giáo Thử Đệ Tử Nhữ Chí Sư Tử Hử Quốc Hưng

1590 | Hiển Phật Pháp Bỉ Quốc Nhân Dữ La Sa Thông Yếu Tu Văn Tự Nhiên Hậu Giao

1591 | Tiếp Thị Dị Lục Thập Chủng Thư Thư Trung Hữu Quỷ Thư Danh A Phù Nhân Thư

1592 | Âm Danh A La Ma Thân Thừa Giáo Chí Bỉ Hiển Dương Phật Pháp Tự Thị Giáo

1593 | Tích Kim Nhật Hiện Tồn Thi Bà La Khai Thông Quỷ Thần Kì Diệc Như Thị

1594 | Cố Danh Thi Bà La Sở Dĩ Xưng Thi Bà La Phúc Đức Giả Sinh Thời Lưỡng

1595 | Thủ Trung Tự Nhiên Bả Ma Ni Châu Xuất Nãi Tích Tì Bà Thi Như Lai Thời

1596 | Thử Tỉ Khâu Vi Cổ Khách Nhập Hải Thái Bảo Kinh Quá Ngũ Nan Nãi Chí Bảo

1597 | Sở Đắc Nhất Bảo Châu Hoàn Trì Thượng Phật Nguyện Sở Sinh Xứ Hoạch Báo Tự Nhiên

1598 | Dĩ Thị Nhân Duyên Sinh Tức Kì Dị Giá Nhị Thập Ức Sơ Sinh Chi Thời Tự

1599 | Nhiên Bảo Châu Trước Nhĩ Nhi Sinh Phụ Tập Cổ Nhân Phóng Kì Giá Trực Chúng

1600 | Cổ Thuyên Viết Trực Nhị Thập Ức Thi Bà La Thủ Châu Vô Hữu Hạn Lượng Cố

1601 | Viết Vô Giá Kế Kì Bảo Sở Nhuận Nãi Cập Thất Thế Thất Thế Chi Trung Vô

1602 | Sở Hạt Phạp Cố Xưng Phúc Đức Đệ Nhất Dã Chí Niên Nhị Thập Xuất Gia Học

1603 | Đạo Chí Thế Tôn Sở Phật Mệnh Thiện Lai Tức Thành Sa Môn Tư Duy Tứ

1604 | Đế Tiện Đắc La Hán Thời Hữu Ngũ Bá Đồng Tử Diệc Xuất Gia Vi Đạo

1605 | Thường Thị Tùng Thi Bà La Thi Bà La Cung Cấp Thử Ngũ Bá Nhân Y Thực

1606 | Sở Tại Đích Xứ Cung Dưỡng Vô Phạp Sở Chu Toàn Xứ Triếp Tất Cung Dưỡng Chí

1607 | La Duyệt Kì Thành Nam Hữu Đại Thâm Sơn Sơn Trung Nhiêu Chư Độc Huỷ Hổ Lang

1608 | La Sa Tức Tự Tâm Niệm Dục Ư Sơn Trung Tị Ẩn Nhất Thời Thời Thiên Đế

1609 | Thích Dĩ Tri Sở Niệm Tức Ư Sơn Trung Tác Ngũ Bá Phòng Cập Tăng Già Lam

1610 | Chủng Chủng Cung Dưỡng Phục Kinh Nhất Thời Hạ Toạ Dĩ Ngật Tâm Niệm Vi Viễn

1611 | Dĩ Cửu Đương Hoàn Lễ Cận Thiên Thời Đại Nhiệt Niệm Dục Đắc Lương Thiên Đế

1612 | Tri Chi Tức Giáng Vân Vũ Thiểu Tư Tương Ẩm Tức Giáng Cam Lộ Sở Dục Niệm

1613 | Giả Ưng Ý Tức Chí Cố Viết Phúc Đức Đệ Nhất Dã Thi Bà La Hữu Thúc

1614 | Phụ Sự Ngoại Đạo Phạm Chí Vi Nhân Tố Khan Bất Hảo Bố Thí Thời Hữu Thân

1615 | Hữu Khuyến Linh Tác Hậu Thế Tư Tức Thỉnh Phạm Chí Số Thiên Thí Bá Thiên

1616 | Lưỡng Kim Thi Bà La Niệm Thúc Khan Tham Sinh Bất Tạo Phúc Thiết Phục Thí

1617 | Tuệ Bất Trực Lương Điền Ngã Bất Độ Giả Vĩnh Vi Khí Quyên Tiện Vãng Kì Gia

1618 | Trì Bát Khí Thực Thúc Viết Khanh Lai Hà Vãn Ngã Tạc Nhật Đại Thí Tạc Nhật

1619 | Lai Giả Khả Đắc Tăng Kiệt Chi Viết Ngã Tự Hữu Kiệt Chi Diệc Bất Tu Chi

1620 | Khanh Lai Hà Vi Viết Ngã Dục Khí Thực Thời Thúc Bất Dữ Tiện Hiện Thân

1621 | Ư Hư Không Trung Tác Thập Bát Biến Thân Xuất Thuỷ Hoả Trường Giả Tâm Niệm

1622 | Thử Tất Sân Khuể Thảng Thiêu Ngã Gia Tức Hô Sứ Hạ Lai Dữ Tòa Toạ

1623 | Viết Ngã Dục Đắc Thực Tức Dữ Xú Uế Ác Thực Tức Tiện Thụ Chi Chú Nguyện

1624 | Nhi Thực Thực Nhập Bát Trung Phúc Đức Sở Cảm Biến Thành Cam Lộ Hữu Thiên Ư

1625 | Thượng Thán Viết Thiện Tai Trường Giả Nãi Tác Thị Đại Thí Dã Phúc Đức Chi Thí

1626 | Dã Vô Năng Quá Giả Trường Giả Tâm Niệm Ngã Tiên Thí Phạm Chí Bá Thiên Lưỡng

1627 | Kim Nhi Vô Thán Ngã Giả Kim Thí Thử Thiểu Ác Thực Nãi Thán Vi Thiện Tương

1628 | Vô Vọng Ngữ Da Thiên Phục Cáo Viết Sở Thí Tuy Thiểu Phúc Điền Lương Mĩ

1629 | Cố Viết Đại Thí Dã Trường Giả Phục Niệm Thiên Tất Chân Thật Trùng Lai Cáo Ngã

1630 | Tức Dĩ Bá Thiên Lưỡng Kim Dữ Thi Bà La Thi Bà La Viết Ngã Tỉ Khâu

1631 | Pháp Bất Ưng Thủ Kim Tầm Vãng Nghệ Phật Vấn Kì Sở Dĩ Đáp Viết Khả Thủ

1632 | Tùy Ý Chuyển Thí Tức Thụ Thử Kim Thí Chư Đồng Học Vi Thúc Phụ Thuyết Pháp

1633 | Tức Đắc Đạo Tích Năng Biến Xú Ác Thành Vi Cam Lộ Cố Xưng Phúc Đức Đệ

1634 | Nhất Dã Tùng Sinh Chí Niết Bàn Vị Tằng Hữu Phạp Ban Niết Bàn Thời Thân Thượng

1635 | Vũ Chủng Chủng Cam Thiện Ẩm Thực Sở Dĩ Đắc Nhĩ Kỉ Thân Túc Phục Dục Nhuận

1636 | Cập Chúng Sinh Cố Dã Dĩ Thị Cố Phục Xưng Vi Đệ Nhất Dã

1637 | Sở Dĩ Xưng Ưu Ba Tiên Tỉ Khâu Cụ Túc Chúng Hành Đệ Nhất Giả Thử Tỉ

1638 | Khâu Đức Hành Sung Túc Ư Nội Hình Dong Đoan Nghiêm Ư Ngoại Biểu Lí Tướng Ưng

1639 | Sở Đích Giai Duyệt Nan Đà Tam Thập Tướng A Nan Nhị Thập Tướng Biểu Tướng Tuy

1640 | Đa Ư Sa Môn Uy Nghi Bất Năng Tất Bị Thử Tỉ Khâu Tướng Tuy Thập Nhất

1641 | Lễ Nghi Bị Cử Dĩ Bị Tạo Đích Vô Vãng Bất Ưng Trường Trung Ấu Niên Đổ

1642 | Mạc Bất Hoan Sở Vị Nội Sung Giả Vị Tứ Đế Như Hữu Bát Chính Chân Diệu

1643 | Sung Thật Linh Phủ Vị Tằng Hư Hao Cố Xưng Cụ Túc Chúng Hành Đạo Phẩm Chi

1644 | Pháp Vi Tối Đệ Nhất Dã

1645 | Sở Dĩ Xưng Bà Đà Tiên Tỉ Khâu Sở Thuyết Hòa Duyệt Bất Thương Nhân Ý Giả

1646 | Thử Tỉ Khâu Thường Thận Khẩu Bất Phạm Tứ Quá Phu Sĩ Xứ Thế Phủ Tại Khẩu

1647 | Trung Sở Dĩ Trảm Thân Do Kì Ác Ngôn Thử Tỉ Khâu Ư Thị Thô Quánh Chi

1648 | Ngôn Vĩnh Dĩ Trừ Tận Thường Trạch Ngôn Từ Ngữ Tư Nhi Hậu Lộ Phát Ngôn

1649 | Đầu Ý Tất Linh Hoan Hỉ Nhược Tại Trường Lão Trung Niên Ấu Trĩ Tùy Kì Sở

1650 | Hảo Giai Năng Khả Duyệt Sở Dĩ Xưng Thử Tỉ Khâu Năng Thiện Ngôn Giả Hữu Tỉ

1651 | Khâu Dĩ Đắc La Hán Tuy Phục Lậu Tận Do Hữu Khẩu Quá Nhân Hành Độ

1652 | Giang Thuỷ Tiêm Dục Thâm Tiện Phát Ác Ngôn Viết Tế Tì Dâm Chủng Vật Thời Giang

1653 | Thần Nữ Văn Thử Ác Ngôn Tâm Niệm Viết Thử Tỉ Khâu Nãi Phát Ác Thanh Như

1654 | Thị Chính Dục Suy Trước Thuỷ Trung Dĩ Thị Tỉ Khâu Cố Thả Đương Vấn Phật Tức

1655 | Hành Vấn Phật Hữu Tỉ Khâu Độ Giang Thuỷ Tiểu Thâm Tiện Mạ Lị Ngôn Tế Tì

1656 | Dâm Chủng Tỉ Khâu Pháp Ưng Mạ Da Phật Tức Khiển Nhất Tỉ Khâu Hô Thử Mạ

1657 | Tỉ Khâu Lai Tỉ Khâu Tức Lai Phật Cáo Tỉ Khâu Nhữ Vi Sa Môn Hà Dĩ

1658 | Mạ Da Tỉ Khâu Đối Viết Đệ Tử Bất Mạ Trực Ngôn Tì Dâm Chủng Nhĩ

1659 | Giang Thần Nữ Viết Khán Thử Tỉ Khâu Dĩ Phục Mạ Dư Nguyện Thế Tôn Thuyết Thử

1660 | Bản Mạt La Hán Cố Hữu Sân Khuể Tại Da Hà Dĩ Mạ Da Phật Ngôn La

1661 | Hán Vô Phục Sân Khuể Trực Dĩ Khẩu Quán Cố Nhĩ Thử Tỉ Khâu Tằng Vi

1662 | Bà La Môn Bà La Môn Pháp Hỉ Mạ Lị Viết Thai Trung Nô Bất Tất Sân

1663 | Mạ Trực Tự Khẩu Quán Tập Nhĩ Hựu Phục Tiền Ngũ Bá Thế Vi Nhữ Phu

1664 | Thời Thường Mạ Nhữ Vi Tì Thị Dĩ Tú Thức Bất Trừ Cố Phục Mạ Nhĩ Giang

1665 | Nữ Viết Tuy Phục La Hán Cố Hữu Khẩu Quá Ngã Bất Dụng La Hán Nguyện Ngã

1666 | Hậu Cầu Vô Thượng Chính Chân Đạo Độ Thoát Nhất Thiết Như Phật Vô Dị Phật Ngữ

1667 | Tỉ Khâu Nhữ Hướng Thử Nữ Nhân Sám Hối Tỉ Khâu Tức Hối Nữ Diệc Hướng Tỉ

1668 | Khâu Sám Hối Tác Lễ Dĩ Các Biệt Khứ Tuy Phục Lậu Tận Do Hữu Thô Ngôn

1669 | Huống Ư Phàm Phu Nhi Bất Thận Ngôn Dã Dĩ Thị Nhân Duyên Tri Thị Tỉ Khâu

1670 | Hộ Khẩu Đệ Nhất Dã

1671 | Sở Dĩ Xưng Ma Ha Ca Diên Na Tỉ Khâu An Ban Đệ Nhất Giả Thiên Nhị Bá

1672 | Đệ Tử Trung Duy Hữu Thử Tỉ Khâu Cập La Vân Năng Hành An Ban Đệ Nhất

1673 | Hà Dĩ Tri Chi Tích La Vân Tùng Phật Hành Phật Dĩ Thiện Quyền Cố Hiện Cước

1674 | Đào Triệu Chuyên Sứ La Vân Kiến La Vân Kiến Dĩ Tâm Niệm Viết Thử Lão Công Trì

1675 | Như Thử Hình Mạo Xả Chuyển Luân Vương Vị Trước Đạo Hành Khí Da Hà Dĩ Bất

1676 | Tu Ngã Bất Năng Phục Hành Khí Thả Quy Khứ Ngã Tổ Phụ Chân Tịnh Vương Cố

1677 | Tại Hà Năng Tác Thị Cần Khổ Vi Phật Tức Tri La Vân Tâm Trung Sở Niệm

1678 | Cáo La Vân Viết Nhữ Tri Bất Thiên Địa Thượng Vô Thường Huống Nhữ Chuyển Luân Thánh

1679 | Vương Khởi Khả Đắc Cửu Đương Giải Phi Thường Hữu Hình Giai Khổ Thân Phi Ngã

1680 | Hữu Giai Đương Ma Diệt Bất Đắc Cửu Đình La Vân Tư Tứ Phi Thường Ý Do

1681 | Vị Ngụ Phật Giáo Hành An Ban Thủ Ý An Ban Giả Nhập Xuất Tức Dã

1682 | Tức Trường Diệc Tri Tức Đoản Diệc Tri Đoản Tức Giả Tùng Tâm Hoàn Trường Tức Giả

1683 | Vị Tùng Túc Căn Trung Lai Phục Tri Lãnh Noãn Nhập Tức Vi Lãnh Xuất Tức Vi

1684 | Noãn Sở Dĩ Tri Trường Đoản Lãnh Noãn Giả Dục Phân Biệt Ngũ Âm Sở Thú Thâm

1685 | Tiên Sở Tùng Xuất Nhập Tầm Tức Bản Mạt Tri Bệnh Nguyên Do Nhược Tức Nhập Thời

1686 | Bất Tri Sở Tùng Lai Nhược Tức Xuất Thời Bất Tri Khứ Chí Hà Sở Giải Vô

1687 | Lai Vãng Bệnh Diệc Phục Nhiên Như Thị Tư Duy Toại Đắc La Hán Ma Ha Ca

1688 | Diên Na Hành An Ban Giả Bất Đồng La Vân Dã Ư Tức Tự Tại Nhược Dục

1689 | Tùng Nhãn Tùng Nhĩ Tùy Ý Xuất Nhập Phục Bế Nhãn Nhĩ Tị Khẩu Tiện Tùng Cửu

1690 | Thập Vạn Mao Khổng Xuất Hà Dĩ Tri Kì Tùng Mao Khổng Xuất Thử Tỉ Khâu Bản

1691 | Thị Vương Chủng Đệ Huynh Nhị Nhân Kì Đệ Đoan Chánh Xu Diệu Thời Vương Băng Vong

1692 | Huynh Ưng Thiệu Kế Đệ Tự Dĩ Vi Thắng Mật Vọng Nhân Cử Nhiên Quốc Tục

1693 | Pháp Bất Đắc Việt Thứ Tức Cử Huynh Vi Vương Đệ Tâm Bất Phục Bất Khẳng Xưng

1694 | Thần Tự Cầu Xuất Quốc Vương Tức Thính Chi Cầu Sách Binh Chúng Vương Tứ Dữ

1695 | Chi Tức Soát Bát Vạn Nha Tượng Bí Giáp Tị Kiếm Nghiêm Biện Dĩ Ngật Niệm

1696 | Viết Hà Quốc Tối Thiện Ngô Dục Công Thủ Tì Xá Li Quốc Chư Quốc Tối Thắng

1697 | Đương Vãng Công Thủ Dĩ Vi Kỉ Dụng Tức Dẫn Binh Nhi Thú Chính Chí Bán Đạo

1698 | Thời Hữu Ngũ Bá Cổ Khách Thái Bảo Nhi Hoàn Dục Nghệ Ma Kiệt Trung Lộ Tướng

1699 | Phùng Vấn Cổ Nhân Viết Thiên Hạ Nhân Trung Hình Dong Tư Mạo Phả Hữu Thắng Ngã

1700 | Giả Bất Cổ Nhân Tiện Tiếu Vương Vấn Hà Dĩ Tiếu Da Đáp Viết Ngã Vi

1701 | Tự Tiếu Nhĩ Phục Trùng Vấn Viết Tiếu Yếu Đương Hữu Ý Hà Dĩ Bất Thuyết

1702 | Đáp Viết Vương Nhược Bất Sân Giả Tiện Đương Thuyết Chi Vương Viết Đãn Thuyết Chung Bất

1703 | Sân Nhữ Cổ Nhân Viết Ngã Văn Hữu Bạch Tịnh Vương Tử Danh Viết Tất Đạt Cự

1704 | Thân Trượng Lục Tử Ma Kim Sắc Hữu Tam Thập Nhị Tướng Bát Thập Chủng Hảo Thời

1705 | Ca Diên Na Văn Cổ Nhân Ngữ Tâm Hoài Khủng Cụ Tất Đạt Nhược Tri Ngã Lai

1706 | Giả Tất Đương Hưng Quân Nghịch Lai Kiến Phạt Đốn Chỉ Trung Lộ Bất Cảm Phục Tiền

1707 | Thời Tì Xá Li Nhân Văn Kì Hưng Quân Dục Lai Công Phạt Bất Năng Tự Ninh

1708 | Tức Vãng Vấn Phật Như Hà Nhương Chi Phật Ngôn Vô Khổ Ngô Tự Hoá Chi

1709 | Kì Dạ Thế Tôn Tức Vãng Hiện Biến Ư Hư Không Trung Kế Gia Phu Toạ Hoảng

1710 | Nhược Kim Sơn Diệu Ư Đại Chúng Cử Đầu Thị Viết Thị Hà Đẳng Nhân Đáp

1711 | Viết Ngã Thị Cổ Khách Sở Đạo Giả Tức Viết Cổ Khách Cuống Ngã Dã Hướng

1712 | Giả Bất Đạo Năng Phi Nhi Kim Hiện Phi Tâm Trung Hoàng Bố Cụ Kì Vi Hại

1713 | Xoa Thủ Vấn Viết Bất Thẩm Chí Thử Hà Sở Ước Sắc Thế Tôn Đáp Viết Vật

1714 | Hoài Khủng Cụ Ngô Bất Hại Nhữ Ngã Danh Vi Phật Tế Độ Nhất Thiết Cam Lộ

1715 | Diệu Pháp Nhữ Dục Văn Bất Đáp Viết Nguyện Dục Văn Phật Quan Kì Căn Ưng

1716 | Tùng An Ban Nhi Đắc Độ Tức Vi Thuyết Thủ Xuất Nhập Tức Tri Tức Trường Đoản

1717 | Cập Tri Lãnh Noãn Văn Phật Sở Thuyết Tâm Tức Khai Giải Đắc Tu Đà Hoàn Đạo

1718 | Tiện Xả Quân Chúng Cầu Vi Đạo Nhân Phật Tức Thụ Chi Thiện Lai Tỉ Khâu

1719 | Tiện Thành Sa Môn Trùng Tư An Ban Phân Biệt Tứ Đại Tam Thập Lục Vật Ác

1720 | Lộ Bất Tịnh Tầm Đạt Chí Diệu Đãi Vô Lậu Quả Cố Xưng Chư Tỉ Khâu Trung

1721 | An Ban Đệ Nhất Dã

1722 | Sở Dĩ Xưng Ưu Đầu Bàn Tỉ Khâu Kế Ngã Vô Thường Vi Đệ Nhất Giả Thử

1723 | Tỉ Khâu Tú Hành Cung Khác Nhược Kiến Trường Lão Sư Phụ Sự Chi Nhược Kiến Trung

1724 | Niên Kính Chi Như Huynh Ư Kỉ Tiểu Giả Ái Chi Như Đệ Khiêm Khác Chi Chí

1725 | Cố Thụ Xu Đại Chi Báo Đắc Vi Tỉ Khâu Thị Phật Tả Hữu Tuy Hữu Cao

1726 | Đại Chi Hình Thường Bất Tự Thị Hằng Kế Phi Ngã Thân Vô Thường Chủ Giải

1727 | Đạt Minh Tuệ Tâm Vong Thị Phi Cố Năng Di Hình Tang Kiêu Khiêm Tốn Vi Thủ

1728 | Hà Dĩ Tri Hình Thể Xu Đại Dã Phật Thuỷ Thành Đạo Độ Ca Diệp Huynh Đệ

1729 | Tam Nhân Hữu Thiên Tỉ Khâu Du Ma Kiệt Quốc Độ Bình Sa Vương Tương Hoàn

1730 | Bản Quốc Tiên Khiển Ưu Đà Di Cáo Chân Tịnh Vương Khước Hậu Thất Nhật Đương Lai

1731 | Nhập Hoá Thời Vương Văn Chi Hỉ Dũng Vô Lượng Tức Sắc Nghiêm Giá Bình Trị Đạo

1732 | Lộ Tảo Sái Thiêu Hương Dĩ Đãi Như Lai Như Lai Tương Thiên Nhị Bá Ngũ Thập

1733 | Tỉ Khâu Lai Quá Thích Sí Như Lai Tâm Niệm Kim Phụ Vương Tất Đương Lai

1734 | Nghênh Bất Khả Sứ Tôn Trùng Quật Thể Đương Hiện Thần Túc Thăng Hư Nhi Hành Dữ

1735 | Nhân Đầu Tề Dục Sứ Vương Thủ Tiếp Như Lai Túc Nhi Dĩ Sở Dĩ Nhĩ Giả

1736 | Phật Tuy Đức Tôn Bất Dục Sứ Phụ Mẫu Quật Thể Cố Dã Thời Ưu Đầu Bàn

1737 | Tỉ Khâu Tại Như Lai Hữu Mật Tích Lực Sĩ Tại Như Lai Tả Như Lai Thân

1738 | Chính Chí Thử Tỉ Khâu Kiên Vương Vấn Viết Phật Tả Hữu Giả Thị Hà Đẳng Nhân

1739 | Nãi Nhĩ Cao Đại Da Đáp Viết Hữu Giả Thị Ưu Đầu Bàn Tỉ Khâu Tả

1740 | Giả Thị Duyệt Xoa Quỷ Kim Cương Lực Sĩ Dã Hựu Viết Thị Hà Đẳng Quốc Nhân

1741 | Nãi Nhĩ Thù Dị Đáp Viết Thị Ma Kiệt Quốc Nhân Hựu Vấn Viết Vi Thị

1742 | Thần Túc Thân Vi Thị Di Thể Da Đáp Viết Thị Phụ Mẫu Di Thể Thân Phi

1743 | Thần Túc Dã Chư Thích Niệm Viết Như Lai Thần Đức Bất Khả Tư Nghị Nãi Linh

1744 | La Sa Ác Quỷ Cao Đại Chi Nhân Tại Kì Tả Hữu Dã Dĩ Thị Nhân Duyên

1745 | Tri Thị Tỉ Khâu Thân Vi Diên Đoản Dã Thử Tỉ Khâu Thị Phật Tả Hữu Hằng

1746 | Dục Chướng Ê Như Lai Chư Thiên Thế Nhân Dĩ Thị Vi Hoạn Như Lai Hữu Nhị

1747 | Chủng Thân Nhất Pháp Thân Nhị Nhục Thân Thử Tỉ Khâu Đãn Ái Kim Sắc Nhục Thân

1748 | Bất Ái Vô Lậu Pháp Thân Thân Cận Đệ Tử Pháp Đương Chúc Luy Cụ Di Pháp

1749 | Thân Quyết Ư Tương Lai Dĩ Thị Nhị Sự Cố Như Lai Phát Chi Dĩ Cập A

1750 | Nan Nhĩ

1751 | Sở Dĩ Xưng Câu Ma La Ca Diệp Năng Tạp Chủng Luận Giả Thử Tỉ Khâu Thường

1752 | Vi Nhân Phu Diễn Tứ Đế Thời Kiêm Hữu Tán Tụng Dẫn Thí Huống Dụ Nhất Đế

1753 | Nhất Kệ Tán Dẫn Nhất Dụ Nãi Chí Tứ Đế Diệc Giai Như Thị Cố Xưng Tạp

1754 | Luận Đệ Nhất Dã Câu Ma La Giả Đồng Dã Ca Diệp Giả Tính Dã Câu

1755 | Ma La Ca Diệp Tức Thị Đồng Nữ Tử Hà Dĩ Tri Kì Nhiên Tích Hữu Trường

1756 | Giả Danh Viết Thiện Thí Cư Phú Vô Lượng Gia Hữu Vị Xuất Môn Nữ Tại Gia

1757 | Hướng Hoả Noãn Khí Nhập Thân Toại Tiện Hữu Khu Phụ Mẫu Kinh Quái Cật Kì Do

1758 | Trạng Kì Nữ Thật Đối Bất Tri Sở Dĩ Nhĩ Phụ Mẫu Trùng Vấn Gia Chư Trượng

1759 | Sở Kì Từ Bất Cải Toại Thượng Văn Vương Vương Phục Cật Trái Từ Diệc Bất

1760 | Dị Hứa Chi Dĩ Tử Nữ Tức Xưng Oán Viết Thiên Hạ Nãi Đương Hữu Vô Đạo

1761 | Chi Vương Uổng Sát Vô Cô Ngã Nhược Bất Lương Tự Khả Bảo Thí Kiến Uổng Như

1762 | Thị Vương Tức Kiểm Trình Như Nữ Sở Ngôn Vô Tha Tăng Giảm Vương Tức Ngữ

1763 | Kì Phụ Mẫu Ngã Dục Thủ Chi Phụ Mẫu Đối Viết Tùy Ý Thủ Chi Dụng Thử

1764 | Tử Nữ Vi Vương Tức Nội Chi Cung Lí Tùy Thời Chiêm Dưỡng Nhật Nguyệt Toại Mãn

1765 | Sản Đắc Nhất Nam Đoan Chính Xu Diệu Niên Toại Trường Đại Xuất Gia Học Đạo Thông

1766 | Minh Bác Đạt Tinh Tấn Bất Cửu Đắc La Hán Đạo Hoàn Độ Phụ Mẫu Thời Hữu

1767 | Quốc Vương Danh Viết Ba Sế Tín Tà Đảo Kiến Bất Tri Kim Thế Hậu Thế Tác

1768 | Thiện Đắc Phúc Vi Ác Thụ Ương Vị Tử Thần Diệt Bất Phục Thụ Sinh Bất Tín

1769 | Hữu Phật Bất Thức Niết Bàn Dĩ Thiết Diệp Phúc Úy Trí Dật Xuất Khoa Vương

1770 | Độc Bộ Tự Vị Vô Tỉ Thời Đồng Ca Diệp Vãng Chí Kì Môn Vương Kiến Ca

1771 | Diệp Bí Phục Dị Thường Hành Bộ Tường Tự Uy Nghi Chỉnh Tề Vương Tức Dữ Luận

1772 | Nghị Vương Vấn Đạo Nhân Đạo Nhân Ngôn Tác Thiện Hữu Phúc Vi Ác Thụ Ương

1773 | Vương Ngôn Kim Ngã Tôn Gia Hữu Nhất Nhân Vi Thiện Chí Thuần Lâm Dục Tử

1774 | Thời Ngã Dữ Chư Nhân Cộng Chí Kì Biên Ngữ Kì Nhân Ngôn Như Quân Sở Hành

1775 | Tử Ưng Sinh Thiên Nhược Thượng Thiên Giả Lai Hoàn Ngữ Ngã Tử Lai Vu Cửu Bất

1776 | Lai Cáo Ngã Ngã Thị Dĩ Tri Tác Thiện Vô Phúc Nhĩ Đạo Nhân Đáp Vương Viết

1777 | Phu Trí Giả Dĩ Thí Dụ Tự Giải Thí Như Hữu Nhất Nhân Đoạ Bá Hộc Thanh

1778 | Xí Trung Hữu Nhân Vãn Xuất Tẩy Dục Ngật Trước Hảo Y Phục Dĩ Hương Huân Thân

1779 | Toạ Ư Cao Sàng Hữu Nhân Ngữ Thử Nhân Viết Hoàn Nhập Xí Trung Khứ Nhĩ Thử

1780 | Nhân Khẳng Nhập Dĩ Bất Vương Viết Bất Khẳng Đạo Nhân Viết Sinh Thiên Giả Kì

1781 | Dụ Như Thị Thiên Thượng Khoái Lạc Ngũ Dục Tự Tứ Dĩ Cam Lộ Vi Thực Thực

1782 | Tự Tiêu Hoá Vô Tiện Lợi Hoạn Thân Thể Hương Khiết Khẩu Khí Bật Phân Hạ Quan

1783 | Thế Gian Do Trư Xứ Hỗn Chính Sứ Dục Lai Văn Xú Tức Hoàn Dĩ Thị Ngôn

1784 | Chi Hà Do Đắc Tướng Cáo Da Như Thị Tỉ Thí Dụ Số Thập Điều Sự Vương

1785 | Ý Khai Giải Tín Hướng Tam Tôn Dĩ Thị Nhân Duyên Cố Đồng Ca Diệp Năng Tạp

1786 | Chủng Luận Vi Đệ Nhất Dã

1787 | Sở Dĩ Xưng Diện Vương Tỉ Khâu Trước Tế Ác Y Vô Sở Tu Sỉ Giả Khả

1788 | Danh Tác Thập Nhất Đầu Đà Da Hoặc Viết Phi Dã Hà Dĩ Vị Vi Đệ Nhất

1789 | Dã Tỉ Khâu Trước Nhất Chủng Y Chung Thân Bất Cải Hà Dĩ Tri Kì Nhiên Thử

1790 | Tỉ Khâu Bản Thị Thích Chủng Tử Sơ Sinh Chi Thời Hữu Dị Thần Đức Mẫu Thuỷ

1791 | Hoài Nhâm Thời Thỉnh Phạm Chí Chiêm Tướng Phạm Chí Sách Viết Thử Nhi Đầu Thượng Hữu

1792 | Thiên Quan Tướng Kì Mẫu Văn Chi Hoan Hỉ Dương Bất Lạc Niệm Viết Phu Thiên Quan

1793 | Giả Vương Giả Tướng Nhất Quốc Chi Trung Bất Khả Hữu Lưỡng Vương Khủng Vương Hại Chi

1794 | Thị Dĩ Bất Lạc Sở Dĩ Nội Hỉ Giả Nhược Thật Thị Vương Giả Tự Nhiên Đương

1795 | Hữu Hộ Hà Ưu Bất Tế Dã Nhật Nguyệt Toại Mãn Sản Nhất Nam Nhi Đầu Thượng

1796 | Hữu Thiên Quan Ảnh Phục Thỉnh Phạm Chí Vi Tác Tự Phạm Chí Viết Đầu Thượng Hữu

1797 | Vương Tướng Phục Bất Khả Li Thử Tướng Đương Danh Vi Diện Vương Tức Tự Vi Diện

1798 | Vương Chân Tịnh Vương Văn Chi Tâm Hoài Sầu Ưu Thử Nhi Hữu Vương Giả Tướng

1799 | Hậu Tất Đoạt Ngã Vị Đương Như Chi Hà Chính Dục Triếp Sát Tội Bất Ưng Tử

1800 | Chính Dục Trí Chi Cụ Tất Đoạt Kỉ Phủ Ngưỡng Ưu Ấp Bất Năng Tự Ninh Phật

1801 | Lai Hoàn Quốc Thời Vương Tuyên Linh Chư Thích Viết Nhược Hữu Huynh Đệ Nhị Nhân

1802 | Giả Khiển Nhất Nhân Xuất Gia Vi Đạo Thị Tùng Thế Tôn Thử Nhi Phục Nhất Dĩ

1803 | Bất Đắc Sứ Xuất Gia Tại Ngũ Bá Nhân Lệ Thị Dĩ Ích Hoài Sầu Tụy Thời

1804 | Diện Vương Niên Thập Tuế Tâm Tự Niệm Viết Chính Sứ Chuyển Luân Thánh Vương Diệc

1805 | Phục Vô Thường Hựu Phục Bất Cập Chư Thích Xuất Gia Nhân Thân Nan Đắc Phật Thế

1806 | Nan Trực Mạn Trực Phật Thế Nghi Đương Xuất Gia Tức Bạch Kì Mẫu Ngã Dục Xuất

1807 | Gia Học Đạo Mẫu Viết Ngã Chính Hữu Nhữ Nhất Nhân Xả Ngã Giả Ngã Tiện Đương

1808 | Tử Diện Vương Tức Khải Chân Tịnh Viết Ngã Dục Xuất Gia Vương Đương Thính Bất Chân

1809 | Tịnh Hoan Hỉ Viết Đại Khả Nhĩ Diện Vương Viết Tự Duy Nhất Dĩ Mẫu Vô Sở

1810 | Phó Chúc Dĩ Thử Vi Hận Nhĩ Vương Viết Khanh Nhược Năng Xuất Gia Giả Ngã

1811 | Tiện Đương Dĩ Khanh Mẫu Vi Tỉ Phân Bán Quốc Tướng Cấp Diện Vương Hoan Hỉ Tức

1812 | Hoàn Gia Dĩ Trạng Bạch Mẫu Mẫu Tức Thính Chi Đương Xuất Gia Thời Bí Nhất Trương

1813 | Bạch Điệp Mao Chí Thế Tôn Sở Dục Cầu Vi Đạo Thế Tôn Viết Thiện Lai Tỉ

1814 | Khâu Tức Thành Sa Môn Phật Chế Tỉ Khâu Hữu Tam Y Thử Diện Vương Tỉ Khâu

1815 | Trực Canh Nhiễm Thử Bạch Điệp Mao Dĩ Vi Ca Sa Đô Bất Dụng Dư Y Bạch Phật

1816 | Đệ Tử Chính Dục Chung Thân Bí Thử Nhất Y Nguyện Thế Tôn Thính Chi Phật Tức

1817 | Mặc Nhiên Khả Chi Tự Thị Dĩ Vãng Thường Bí Thử Nhất Y Cố Thế Tôn Viết

1818 | Ngã Đệ Tử Trung Trước Tế Ác Y Giả Vô Quá Diện Vương Tỉ Khâu Dã Thử

1819 | Ư Bát Đại Nhân Niệm Trung Thiểu Dục Tri Túc Tối Vi Đệ Nhất Dã

1820 | Sở Dĩ Xưng La Vân Trì Giới Bất Huỷ Giả Hoặc Viết La Vân Hí Vọng Ngữ

1821 | Vân Hà Ngôn Trì Giới Dã Hoặc Viết La Vân Bất Vọng Ngữ Trực Tự Sân Phật

1822 | Nhĩ Hà Dĩ Sân Phật Dã Dĩ Phật Bất Tác Chuyển Luân Thánh Vương Cố Nhược

1823 | Tác Thánh Vương Giả Đương Hữu Bát Vạn Tứ Thiên Đại Thần Bát Vạn Tứ Thiên Ngọc

1824 | Nữ Tượng Mã Xa Thừa Sự Sự Hữu Bát Vạn Tứ Thiên Xả Như Thử Chi Vị

1825 | Nhi Tác Sa Môn Đông Tây Hành Khí Bất Khả Tu Da Kế Thánh Vương Chi Lợi

1826 | Hiềm Như Lai Cố Tác Vọng Ngữ Nhĩ Nhân Vấn La Vân Như Lai Sở Tại

1827 | Như Lai Thật Tại Kì Thụ Tinh Xá Nhi Đáp Vân Tại Trú Ám Viên Thật Tại

1828 | Trú Ám Viên Nhi Trá Ngôn Tại Kì Viên Phản Phú Vọng Ngữ Cuống Ư Lai Nhân

1829 | A Nan Bạch Phật La Vân Vọng Ngữ Phật Hoán La Vân Lai Khanh Thật Vọng

1830 | Ngữ Da Đối Viết Thật Nhĩ La Vân Nhữ Hà Dĩ Tác Vọng Ngữ Da Ngã

1831 | Sở Dĩ Xả Thánh Vương Vị Giả Dĩ Thánh Vương Vị Bất Khả Thị Hỗ Giai Quy

1832 | Vô Thường Vô Trường Tồn Giả Chính Sứ Đế Thích Phạm Vương Giai Bất Khả Bảo Huống

1833 | Phục Thánh Vương Nhi Khả Thị Lại Da La Vân Ngã Tiền Hậu Xả Thử Bất Khả

1834 | Xưng Kế Nhi Nhữ Phương Hận Dã Phật Ngữ La Vân Nhữ Thủ Thuỷ Lai La

1835 | Vân Tức Thịnh Mãn Bát Thuỷ Thụ Như Lai Như Lai Chấp Bát Thuỷ Vị La Vân

1836 | Viết Nhữ Kiến Thử Thuỷ Bất Đối Viết Dĩ Kiến Phật Ngôn Thử Thuỷ Mãn Bát

1837 | Vô Sở Khuyết Giảm Giả Dụ Trì Giới Hoàn Cụ Vô Sở Tổn Lạc Phục Tả

1838 | Bán Khí Vị La Vân Viết Nhữ Kiến Thử Thuỷ Bất Đối Viết Kiến Chi Phật

1839 | Ngôn Thử Thuỷ Dĩ Thất Bán Dụ Giới Bất Cụ Túc Phục Tả Thuỷ Sứ Tận

1840 | Kì La Vân Viết Kiến Thử Không Bát Bất Đáp Viết Dĩ Kiến Phật Ngôn Phạm

1841 | Giới Đô Tận Dụ Như Không Bát Phục Dĩ Bát Phú Địa Kì Viết Nhữ Kiến Bất

1842 | Đáp Viết Kiến Phật Ngôn Dĩ Phạm Giới Tận Đương Đoạ Địa Ngục Dụ Bát Khẩu Hướng

1843 | Địa Dã La Vân Tự Bí Ước Sắc Dĩ Hậu Vị Tằng Phục Phạm Như Hào Hi

1844 | Cố Xưng Đệ Nhất Trì Giới Dã Hoặc Viết Phục Canh Hữu Sự Thân Tử Tương La

1845 | Vân Nhập Xá Vệ Thành Khí Thực Thời Hữu Bà La Môn Kiến La Vân Tại Hậu

1846 | Hành Tức Hưng Ác Ý Đả La Vân Đầu Huyết Lưu Ô Diện La Vân Tức Sinh

1847 | Ác Niệm Yếu Đương Phương Tiện Báo Thử Oán Gia Nhĩ Đãn Ngôn Bà La Môn

1848 | Giả Giai Đương Phá Diệt Chung Bất Trí Dã Thân Tử Dĩ Tri La Vân Tâm Trung

1849 | Sở Niệm Vi Kì Thức Huyết Vị La Vân Viết Đương Ức Nhữ Phụ Tích Vi Tu

1850 | Niệm Vương Thời Nhân Lai Sách Nhãn Tức Thiêu Nhãn Dữ Diệc Bất Hối Hận Tại Viên

1851 | Trung Toạ Thiền Thời Vương Tiệt Thủ Túc Diệc Bất Hối Oản Nhược Vi Tượng Thời

1852 | Dĩ Nha Dữ Nhân Diệc Bất Áp Quyền Nhữ Kim Vân Hà Khởi Thử Ác Niệm La

1853 | Vân Văn Sư Sở Thuyết Tức Tự Khắc Trái Ngã Kim Vân Hà Ác Tâm Hướng Bỉ

1854 | Tức Nhẫn Như Địa Bất Khởi Hại Tâm Như Mao Phát Hứa Thời Đả La Vân Thủ

1855 | Giả Đoạ Vô Trạch Địa Ngục Trung Dĩ Thị Nhân Duyên Tri La Vân Trì Giới Đệ

1856 | Nhất Dã

1857 | Sở Dĩ Xưng Ban Tha Tỉ Khâu Năng Ẩn Hình Bất Hiện Giả Ban Tha Giả Đạo

1858 | Dã Hữu Song Sinh Nhi Khí Chi Ư Lộ Hữu Nhân Thu Thủ Dưỡng Trường Linh Đại

1859 | Các Xuất Gia Vi Đạo Vô Nhân Dữ Tác Tự Tức Tự Vi Đạo Sinh Hồ

1860 | Ngôn Ban Tha Dã Thời Ma Kiệt Quốc Số Thiên Lôi Bạo Vũ Ngũ Cốc Bất

1861 | Đăng Vương Danh Tần Đầu Khẩu Đồ La Thị A Xà Thế Vương Tổ Mộ Tứ Viễn

1862 | Viết Hữu Năng Khước Bạo Vũ Giả Đại Dữ Tài Bảo Thời Hữu Bà La Môn Danh

1863 | Viết Phạm Chí Thiện Tri Chú Toại Lai Ưng Mộ Viết Ngã Năng Khước Vũ Vương

1864 | Tức Thính Sứ Hiện Toại Chỉ Vũ Thời Âm Dương Hòa Điều Ngũ Cốc Đại Thục Phạm

1865 | Chí Bạch Vương Sách Chỉ Vũ Công Báo Vương Tuy Khẩu Hứa Cánh Bất Báo Huệ Chư

1866 | Thần Nhân Dân Kiến Vương Bất Dữ Các Phục Hứa Chi Phạm Chí Gia Kiệm Mỗi Tùng

1867 | Sách Chi Kì Ư Bất Dữ Biến Sách Bất Đắc Phạm Chí Đại Khuể Thệ Tác Độc

1868 | Long Diệt Nhân Miêu Giá Nhược Hữu Chủng Ngũ Cốc Giả Miêu Giá Thành Hảo Đại

1869 | Chấn Bạc Sát Sứ Căn Hành Bất Lập Hà Huống Hữu Diệp Da Thệ Dĩ Mệnh

1870 | Chung Tức Sinh Long Trung Hiệu Danh Vô Diệp Thời Ma Kiệt Quốc Nhân Dân Chủng Tác

1871 | Miêu Giá Đích Sinh Long Tức Bạc Sát Như Thị Kinh Số Niên Nhân Dân Cơ Khốn

1872 | Tử Vong Giả Chúng Phật Mẫn Thương Chi Dục Hoá Thử Long Tức Tương Mật Tích

1873 | A Nan Ban Tha Chí Câu Trì Quốc Nghệ Long Sở Chỉ Thời Long Kiến Phật Lai

1874 | Ác Tâm Sinh Viết Kim Đương Phóng Bạc Sát Thử Sa Môn Tức Vũ Sơn Thạch Phật

1875 | Hữu Hồi Thị Mật Tích Mật Tích Tri Phật Ý Tức Dĩ Kim Cương Xử Nghĩ Chi

1876 | Đoạ Đại Thạch Sơn Tắc Kì Long Uyên Long Đại Sân Nộ Nhãn Trung Hoả Xuất Phật

1877 | Hữu Hồi Thị Ban Tha Tỉ Khâu Ban Tha Tỉ Khâu Tức Tri Phật Ý Dục Sứ

1878 | Giáng Long Ban Tha Tức Dĩ Thần Túc Ẩn Hình Dĩ Thuỷ Diệt Long Nhãn Hoả Long

1879 | Phục Ư Nhĩ Tị Khẩu Xuất Hoả Diệc Dĩ Thuỷ Diệt Thử Tỉ Khâu Phục Dĩ Thần

1880 | Lực Ư Long Nhãn Nhĩ Tị Khẩu Trung Phản Phú Xuất Nhập Nhi Long Bất Kiến Ẩn

1881 | Hình Tại Nội Hiện Thủ Ư Ngoại Long Đổ Thử Biến Tức Tiện Tâm Phục Phật Phục

1882 | Dữ Tam Nhân Đẳng Ư Tiền Vãng Phản Kinh Hành Thạch Thượng Hữu Tứ Nhân Tích Nhi

1883 | Tam Nhân Hiện Long Tức Vấn Phật Nhất Nhân Sở Tại Đáp Viết Thị Nhữ Sư Tích

1884 | Hựu Viết Sư Danh Vi Thùy Kim Hà Bất Hiện Đáp Viết Danh Viết Ban Tha

1885 | Phật Dục Sứ Viễn Hiện Tức Tri Phật Ý Bá Bộ Hiện Hình Long Dao Kiến

1886 | Chi Hoan Hỉ Vi Lễ Phật Tức Thụ Chi Bát Quan Trai Pháp Tự Thị Dĩ Vãng

1887 | Phong Vũ Hòa Điều Ngũ Cốc Phong Thục Nhân Dân An Ninh Dĩ Thị Nhân Duyên Tri

1888 | Ban Tha Ẩn Hình Đệ Nhất Dã

1889 | Sở Dĩ Xưng Chú Lợi Ban Tha Năng Hoá Hình Thể Tác Nhược Can Biến Giả Chú

1890 | Lợi Giả Cực Ám Dã Thử Tỉ Khâu Tinh Thần Sơ Độn Phật Giáo Sứ Tụng Tảo

1891 | Trửu Đắc Trửu Vô Tảo Đắc Tảo Vô Trửu Lục Niên Chi Trung Chuyên Tâm Tụng Thử

1892 | Ý Toại Giải Ngộ Nhi Tự Duy Viết Trửu Giả Tuệ Trửu Giả Trừ Tuệ Giả

1893 | Tức Dụ Bát Chính Đạo Phẩn Giả Tam Độc Cấu Dã Dĩ Bát Chính Tuệ Tảo Tam

1894 | Độc Cấu Sở Vị Tảo Trửu Nghĩa Giả Chính Vị Thử Da Thâm Tư Thử Lí Tâm

1895 | Tức Khai Giải Đắc A La Hán Đạo Sở Vị Hoá Hình Thể Giả Dĩ Tứ Đế

1896 | Diệu Tuệ Hoá Ngũ Âm Hình Dã Chính Hữu Thử Hoá Canh Phục Hữu Dư Viết Hữu

1897 | Bà La Môn Danh Viết Phạm Thiên Diệc Danh Thế Điển Sở Dĩ Danh Thế Điển Giả

1898 | Bác Lãm Quần Tịch Đồ Thư Bí Sấm Thiên Văn Địa Lí Vô Bất Quan Luyện Cố

1899 | Danh Thế Điển Dã Tự Dĩ Đức Cao Mệnh Địch Nhi Hành Thùy Năng Dữ Ngã Luận

1900 | Giả Văn Thích Chủng Tỉ Khâu Trung Tối Hạ Giả Hữu Chú Lợi Ban Tha Ưu

1901 | Bà Tắc Trung Tối Hạ Giả Hữu Cù Mật Đa La Ngô Đương Dữ Thử Nhị Nhân

1902 | Cộng Luận Tức Lai Dữ Ban Tha Cộng Luận Vị Ban Tha Viết Năng Dữ Ngã

1903 | Cộng Luận Da Ban Tha Viết Ngã Thượng Năng Dữ Nhữ Tổ Phụ Phạm Thiên Cộng

1904 | Luận Hà Huống Nhữ Manh Vô Mục Nhân Hồ Phạm Chí Tầm Ngôn Tức Cật Viết

1905 | Manh Dữ Vô Mục Hữu Hà Đẳng Dị Da Ban Tha Mặc Nhiên Bất Đối Tâm Niệm

1906 | Viết Vô Dĩ Tướng Chú Đương Dĩ Thần Túc Tướng Đáp Nhĩ Tức Dĩ Thần Túc

1907 | Phi Đằng Hư Không Khứ Địa Tứ Trượng Cửu Xích Kế Già Phu Toạ Phạm Chí

1908 | Ngưỡng Chiêm Kiến Kì Thần Biến Kính Tình Nội Phát Kí Kì Thanh Chú Thời Xá Lợi

1909 | Phất Tại Kì Hoàn Kinh Hành Dĩ Thiên Nhĩ Văn Phạm Chí Dữ Ban Tha Luận Tri

1910 | Kì Từ Quỹ Hiện Biến Tướng Đáp Ngã Nhược Bất Vãng Tỉ Khâu Thụ Quật Phạm Chí

1911 | Bất Độ Tức Dĩ Thần Túc Tác Ban Tha Hình Sứ Ban Tha Bản Hình Bất Hiện

1912 | Hoá Hình Vấn Phạm Chí Viết Nhữ Vi Thị Thiên Thị Nhân Hồ Đáp Viết Thị

1913 | Nhân Hựu Vấn Nhân Vi Thị Nam Tử Bất Viết Thị Nam Tử Hựu Vấn Nam

1914 | Tử Dữ Nhân Hữu Hà Đẳng Dị Đáp Viết Bất Dị Hựu Vấn Nhân Giả Thống

1915 | Danh Nam Tử Giả Cứ Hình Ngôn Chi Hà Đắc Bất Dị Da Hướng Ngôn Manh Giả

1916 | Vị Bất Kiến Kim Thế Hậu Thế Thiện Ác Chi Báo Vô Mục Giả Vị Vô Trí

1917 | Tuệ Chi Nhãn Dĩ Đoán Kế Sứ Dã Phạm Chí Tâm Giải Tức Đắc Pháp Nhãn Tịnh

1918 | Dĩ Thị Nhân Duyên Tri Chú Lợi Ban Tha Biến Hình Đệ Nhất Dã

1919 | Sở Dĩ Xưng Thích Vương Tỉ Khâu Hào Tộc Phú Quý Thiên Tính Nhu Hòa Giả Phàm

1920 | Tính Hữu Tứ Sa Đế Lợi Bà La Môn Trường Giả Cư Sĩ Dã Sở Dĩ

1921 | Ngôn Quý Giả Dĩ Tác Sa Môn Đồng Nhất Thích Tính Thị Dĩ Xưng Quý Nhĩ

1922 | Dụ Như Tứ Hằng Thuỷ Ngưu Khẩu Sư Tử Khẩu Mã Khẩu Tượng Khẩu Các Hữu Ngũ

1923 | Bá Chi Hợp Nhập Đại Hải Cộng Vi Nhất Thuỷ Vô Nhược Can Vị Cố Hải Đắc

1924 | Xưng Đại Trí Quý Ư Bá Xuyên Dã Thích Tính Diệc Như Thị Cố Xưng Vi Hào

1925 | Quý Đệ Nhất Dã

1926 | Chân Tịnh Vương Hữu Tam Đệ Tối Tiểu Đệ Danh Ngộ Tịnh Hữu Tiểu Nhi Niên Tứ

1927 | Tuế Thời Chân Tịnh Vương Tại Chính Điện Thượng Toạ Hội Chư Quần Thần Vương Tự Duy

1928 | Viết Ngã Nhi Bất Xuất Gia Giả Ngã Ưng Đương Tác Thánh Vương Ngã Nhi Kí

1929 | Sinh Ưng Đương Vi Thánh Vương Nhiên Phục Xuất Gia Khứ Ngã Hà Dụng Thị Thiên Quan

1930 | Vi Tức Thoát Thiên Quan Trước Địa Hữu Ưng Tác Giả Tiện Tác Chư Thần Sầu Ấp

1931 | Các Vô Hoan Tâm Thời Thích Vương Tiểu Nhi Tại Tiền Du Hành Kiến Địa Thiên

1932 | Quan Tức Cử Trước Đầu Thượng Toạ Địa Dĩ Tả Thủ Trụ Kiên Hữu Thủ Ma Loát

1933 | Tì Tu Vương Dữ Chư Thần Kinh Quái Sở Dĩ Vương Viết Thử Tiểu Nhi Thiên Sứ

1934 | Kì Nhiên Hoặc Năng Tác Thánh Vương Ngã Nhi Thánh Vương Tướng Tận Tại Thử Nhi Hứa

1935 | Cố Sứ Kì Nhiên Nhĩ Chúng Thần Thiêm Nhiên Viết Hoặc Năng Như Vương Sở Ngôn

1936 | Vương Niệm Viết Tất Đạt Kí Xuất Gia Hựu Kiến Tiểu Nhi Chi Tướng Tức Tự Phế

1937 | Vương Vị Nãi Kinh Bát Niên Văn Tất Đạt Dĩ Thành Phật Độ Tam Ca Diệp Sư

1938 | Đồ Đắc Thiên Tỉ Khâu Tinh Ưu Ba Đề Xá Câu Luật Đà Sư Đồ Nhị Bá

1939 | Ngũ Thập Nhân Hợp Thiên Nhị Bá Ngũ Thập Tỉ Khâu Tùng Ma Kiệt Quốc Dục Hoàn

1940 | Chí Thích Sí Xá Tiên Khiển Ưu Đà Di Bạch Hoàn Tiêu Tức Chân Tịnh Văn Chi

1941 | Hoan Hỉ Dũng Dược Tức Hoàn Trước Thiên Quan Bình Trị Đạo Lộ Tảo Sái Thiêu Hương

1942 | Dĩ Đãi Như Lai Như Lai Kí Chí Vương Kiến Chư Tỉ Khâu Tuy Phục Tâm Tinh

1943 | Vô Biểu Dong Mạo Đương Soát Chư Thích Ngũ Bá Nhân Tư Dong Khả Giả Xuất Vi

1944 | Sa Môn Thị Tùng Thế Tôn Thích Vương Tỉ Khâu Tối Tại Kì Tiên Thời Phật Tại

1945 | Tinh Xá Đại Chúng Chi Trung Cáo Chư Tỉ Khâu Phổ Luận Chủng Tính Sở Dĩ Hào

1946 | Quý Ý Thời Chân Tịnh Vương Lai Chí Chúng Trung Hướng Thích Vương Tỉ Khâu Lễ Chư

1947 | Chúng Giai Quái Sở Dĩ Phật Tri Thử Ý Dục Giải Chúng Nghi Cố Vấn Vương

1948 | Viết Hà Dĩ Lễ Thử Tỉ Khâu Đáp Viết Sở Dĩ Lễ Giả Dĩ Thử Tỉ Khâu

1949 | Hữu Nhị Sự Thắng Ngã Phu Thiên Hữu Tam Nhất Nhật Cử Thiên Nhị Nhật Sinh

1950 | Thiên Tam Nhật Thanh Tịnh Thiên Ngã Chính Hữu Cử Thiên Thử Tỉ Khâu Hữu Sinh

1951 | Thiên Hữu Thanh Tịnh Thiên Sở Dĩ Ngôn Sinh Thiên Dĩ Niên Tứ Tuế Thời Cử Ngô

1952 | Thiên Quan Trước Kỉ Đầu Thượng Tự Nhiên Sinh Ý Vô Hữu Dữ Giả Cố Viết Sinh

1953 | Thiên Thanh Tịnh Thiên Giả Kim Dĩ Lậu Tận Kế Giải Vô Phục Trần Cấu Cố Viết

1954 | Thanh Tịnh Thiên Dã Dĩ Thị Nhị Sự Thắng Ngã Cố Vi Tác Lễ Nhĩ Dĩ

1955 | Thị Nhân Duyên Tri Thích Vương Tỉ Khâu Hào Tộc Đệ Nhất Dã

1956 | Phân Biệt Công Đức Luận Quyển Đệ Ngũ

1957 | Án Thử Luận Đan Tạng Vi Tam Quyển Khai Nguyên Lục Vân Tứ Quyển Nhi Chú

1958 | Vân Hoặc Tam Quyển Hoặc Ngũ Quyển Giả Đãn Phân Quyển Hữu Dị Nhĩ Văn Vô

1959 | Tăng Giảm Yên Lục Hữu Chú Tự Vân Hữu Thử Nhất Luận Thích Tăng Nhất A

1960 | Hàm Kinh Nghĩa Tùng Sơ Tự Phẩm Chí Đệ Tử Phẩm Quá Bán Thích Vương Tỉ

1961 | Khâu Tức Chỉ Pháp Thượng Lục Vân Trúc Pháp Hộ Dịch Giả Bất Nhiên Thử Trung

1962 | Điệp Kinh Giải Thích Văn Cú Tịnh Đồng Bản Kinh Tự Dữ Tăng Nhất A Hàm

1963 | Đồng Nhất Nhân Dịch Nhi Dư Lục Tịnh Vân Thất Dịch Thả Y Thử Định Tăng

1964 | Hữu Lục Vân Ca Diệp A Nan Soạn Giả Thử Diệc Bất Nhiên Như Luận Đệ

1965 | Nhất Quyển Trung Dẫn Ngoại Quốc Sư Cập Tát Bà Đa Thuyết Cố Tri Phi Thị

1966 | Nhị Tôn Sở Soạn

Đánh giá