Thiện Ác Nghiệp Báo

Chư Kinh Yếu Tập

Đường Đạo Thế tập

Bản Việt dịch của Thích Quảng An

***

XXIII. MƯỜI VIỆC ÁC

Gồm mười phần: Sát sinh, Trộm cướp, Tà dâm, Nói dối, Nói lời hung ác, Nói lưỡi đôi chiều, Nói thêu dệt, Tham lam, Giận dữ, Nhận thức sai lầm.

XXIII.1. Sát sinh

Thụ thân trong sáu nẻo[29], loài nào cũng tham sống; nhận hình của trời đất thì tất cả đều sợ chết. Mặc dù, chúng sinh sinh lên thác xuống trong muôn loài; trí, ngu đổi thay nghìn mối, nhưng cuối cùng cũng không ngoài hai việc lánh khổ cầu vui. [128b] Điều này có gì lạ!

Vì thế, con chim do sợ hãi lao xuống bàn, cầu xin vua Ngụy[30] tha mạng. Con thú cùng đường chạy vào nhà tranh mong được họ Âu cứu sống. Hán vương cung cấp thức ăn mà được đền đáp bằng minh châu[31]. Dương Bảo cúng hoa mà được báo đáp vòng ngọc[32]. Thậm chí, một vị sa-di cứu đàn kiến giữa dòng nước chảy mà được phúc báo tuổi thọ kéo dài. Người tạo dòng nước cứu đàn cá lại được đáp trả trời mưa trân bảo[33]… Những việc tương tự như vậy, đâu thể kể hết!

Như thế đâu thể buông lung giết hại chúng sinh để dưỡng thân mình, làm cho các loài phải chịu khổ, ôm hận mà chết? Đến nỗi, đất tuy rộng thênh thang, nhưng chúng không có chỗ để trốn tránh, trời dù cao lồng lộng mà chẳng biết cùng ai giải bày.

Thế nên, kinh ghi: “Tất cả chúng sinh đều sợ dao, gậy và tham tiếc sự sống. Do đó, tha thứ cho chúng sinh là như tha thứ chính mình, chớ giết, chớ đánh”. Kẻ phàm phu điên đảo, nhận thức sai lầm nên có người hoặc vì việc tốt, việc xấu, việc riêng, việc chung hay vì cúng tế, đãi khách mà phải nhóm bếp nổi lửa, cắt nấu các loài vật để làm thức ăn. Hoặc có người một tháng trọn năm công tư rảnh rỗi, buổi sáng mờ mịt sương rơi, đến ban trưa hừng hực nắng cháy; họ cưỡi con ngựa truy phong, thả con chim ưng bay nhanh như điện chớp; cầm cây kiếm cự khuyết[34], can tương[35]; mang cây cung ô hiệu[36], phồn nhược[37], bắt hết các loài nơi ao đầm, bắn trọn chim non nơi rừng núi, phá nát tổ chim, đào bới hang thú, giăng lưới đầy đồng khắp núi, rồi phía trước ngăn, phía sau chặn, bên trái đón, bên phải vây. Vó ngựa tung bụi mù che khuất mặt trời, hun khói lửa mù mịt bốc đến tận mây; làm cho chim lạc đàn bay tán loạn, thú rời bầy chạy thoát thân; chim nhạn đang bay nghe tiếng dây cung khiếp vía sa thân, đàn vượn ôm cây hú lên ai oán. Tất cả bị dồn vào hang hiểm mà kêu gào thảm thiết, trọn nhìn rừng xanh mà cất tiếng kêu tuyệt vọng.

Thế là, cung chẳng uổng buông, tên chẳng sai đích. Sau đó xỏ lưng, xâu ngực, chặt đầu khoét óc. Hoặc có kẻ buông câu nước đục, quăng mồi vào đầm lắng, hay câu cá chép ở bến sông, bắn cá diếc nơi ao giếng. Một khi, vảy hồng đã treo lên thì mãi mãi không còn khả năng truyền tín[38]; thịt trắng đã móc thì vĩnh viễn mất điềm lọt vào thuyền, bằm nát thịt xương đưa vào mâm mà phân tán. Hoặc vì bộ tộc Hiễm Duẫn[39] tà ác nên phải ra tay đánh dẹp; do quân giặc nhiễu loạn biên cương mà phải nhờ đến uy vũ. Dù là bậc vua hiền, nhưng vẫn khởi chiến tranh, là đấng minh quân mà còn phải chinh phạt. Vì thế, nhờ chiến dịch bay lên núi Nhi[40] mới được nổi tiếng, đại thắng nơi Mục Dã[41] mà được khen là đức cao. Trong những người đó, có kẻ mang trăm vạn quân binh tung hoành ngang dọc; có người đưa năm nghìn quân mà âm thầm tiến đánh phá quân Tào Tháo ở trận Xích Bích[42]; đánh bại Hạng đế tại Ô Giang[43], bêu đầu Vương Mãng[44] trên đài cao, ném thây Đổng Trác[45] nơi đô thị. Tất cả đều là bậc anh hùng, [128c] một thời uy vũ. Những người như thế nhiều không thể ghi chép hết, nhưng họ cùng tạo nghiệp xương chất thành núi, máu chảy thành sông.

Nay quân triều đình khí thế như sấm, ra uy quyết sạch phản nghịch, bày binh bố trận gìn giữ biên cương. Đã dự quân tiên phong, lại tham gia quân đoạn hậu. Dưới vân kỳ[46] đâu dám tự an, trước đao bén, thật lắm nguy hiểm. Vì thế, bao kẻ phải khấu đầu trước mũi gươm, xin tha mạng dưới ngọn giáo. Những tội như thế không thể nói hết. Chúng sinh xâm hại lẫn nhau, hoặc là do oán thù, hoặc là do hiềm khích, hoặc là vì tạo nhân yểu thọ, nên phải chuốc lấy quả báo bệnh nhiều… Xin nguyện từ nay, mãi mãi đoạn tuyệt, cho đến vị lai cùng là quyến thuộc bồ-đề, chẳng hoại duyên lành, tất cả trở thành bạn pháp.

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Thế nào là không giết hại? Nếu trong ngũ cốc như lúa, đậu, sinh côn trùng nhỏ nhít thì không được xay, không được giã. Biết trong đó có côn trùng, phải bảo vệ, không được giao cho người khác, cũng không được giết chúng. Hoặc trâu, ngựa, lừa, lạc đà vì chuyên chở nên trên cổ, lưng bị lở loét sinh trùng, lúc tẩy rửa vết thương không được dùng thuốc để giết chúng trùng ghẻ mà trước nên dùng lông chim bắt lấy rồi đặt chúng trong một miếng thịt thối khác, để chúng không bị chết. Như vậy, vừa bảo vệ cho trâu, lừa… mạnh khoẻ lại vừa giữ được sinh mạng các loài trùng kiến. Phải luôn luôn cẩn thận, chớ khởi tâm giết hại. Nếu chúng sinh muốn ăn thịt côn trùng, phải đem thức ăn của mình đổi mạng chúng, để chúng được toàn mạng”.

Kinh Tỳ-nại-da ghi: “Xưa Đức Phật còn tại thế, trong nước Xá-vệ có một bà-la-môn, thường cúng dường tì-kheo Ca-lưu-đà-di đã chứng A-la-hán. Bà-la-môn ấy chỉ có một người con và đã lập gia đình. Lúc sắp chết, bà-la-môn dặn con: ‘Sau khi ta chết, con phải kính trọng cúng dường tôn giả Ca-lưu-đà-di như ta ngày nay, chớ để ngài thiếu thốn’.

Cha mẹ qua đời, người con vâng theo lời cha mẹ dặn, cúng dường tôn giả Ca-lưu-đà-di như khi cha mẹ còn sống.

Một hôm, người con có việc đi xa nhà, ông dặn vợ ở nhà cúng dường cho Ca-lưu-đà-di. Ngày ấy lại có năm trăm tên cướp đến, trong số đó có một tên cướp tướng mạo khôi ngô, người vợ từ xa trông thấy tên cướp này, liền sai người gọi đến rồi tư thông với hắn. Tôn giả Ca-lưu-đà-di nhiều lần đến bắt gặp họ quan hệ bất chính. Sợ tôn giả tiết lộ việc này ra ngoài nên người vợ của con bà-là-môn cùng với tên cướp lập mưu giết tôn giả. Vì nhớ thương tôn giả, vua Ba-tư-nặc nghe tin Ca-lưu-đà-di bị giặc cướp giết, nên nổi giận, [129a] ra lệnh giết cả nhà bà-la-môn và hơn mười tám nhà xung quanh; bắt năm trăm tên cuớp, chặt đầu, chặt chân ném xuống rãnh.

Các vị tì-kheo thấy vậy trở về bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Ca-lưu-đà-di xưa đã tạo nghiệp ác gì mà nay bị vợ của bà-la-môn kia giết hại?

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Vào thuở xưa, Ca-lưu-đà-di là vị chủ miếu thờ trời. Bấy giờ, có năm trăm người khiên một con dê đã chặt bốn chân đến tế trời và cùng nhau khấn nguyện, vị chủ miếu liền giết con dê ấy. Vì ông ta giết dê nên đọa vào địa ngục, chịu khổ vô lượng. Vị chủ miếu thuở xưa, nay chính là Ca-lưu-đà-di, tuy tôn giả đã chứng quả A-la-hán nhưng do ác nghiệp đời trước chưa hết nên nay phải chịu quả báo này. Con dê lúc ấy, nay chính là người vợ của vị bà-la-môn; năm trăm người chặt chân dê khi xưa, nay là năm trăm tên cướp bị vua chặt chân.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Nếu người giết hại sẽ bị quả báo, không bao giờ mất”.

Kinh Hiền ngu ghi: “Xưa Phật còn tại thế, trong thành Xá-vệ có một trưởng giả tên là Lưu-kì-di. Ông có bảy người con, tất cả đều đã lập gia đình. Vợ của người con út tên Tì-xá-li, bà là người có đủ tài đức và thông thạo mọi việc. Lưu-kì-di đem cả gia nghiệp của mình giao phó cho con dâu. Do có tài đức nên Tì-xá-li được vua Ba-tư-nặc ái mộ và cùng nàng kết nghĩa anh em.

Sau đó, nàng mang thai, đến ngày khai hoa nở nhụy thì sinh ra ba mươi hai trứng, mỗi một trứng nở ra một người con trai. Lớn lên những người con của nàng tướng mạo xinh đẹp, sức mạnh phi thường, một mình có thể địch cả nghìn người. Khi đến tuổi lập gia thất, họ đều cưới con gái của gia đình hiền lương, giàu sang trong nước.

Một hôm, Tì-xá-li thỉnh Phật và chúng tăng về nhà cúng dường. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, cả nhà đều chứng quả Tu-đà-hoàn, chỉ còn người con út vẫn chưa chứng đắc.

Ngày nọ, người con út cưỡi voi dạo chơi, gặp con của thừa tướng đang đi trên cầu, nó liền bắt lấy người ấy ném xuống dưới cầu khiến toàn thân bị thương tích. Người con thừa tướng trở về báo với cha, thừa tướng nói với con: “Người này không những cường tráng, lại kết thân với vua, chúng ta khó dùng sức thắng được họ, phải dùng mưu để báo thù”.

Ông liền lấy bảy báu làm ba mươi hai cái roi ngựa, lại dùng thép rèn thành dao bén lồng vào trong roi rồi tặng cho ba mươi hai người con của Tì-xá-li mỗi người một chiếc roi. Con của nàng đều rất thích, vui vẻ đón nhận mà không chút nghi ngờ. Họ thường mang bên mình kể cả mỗi khi ra vào chầu vua.

Theo phép nước, người đến gặp vua, không được mang theo vũ khí. Vốn đã lập mưu, nay cơ hội đã đến, thừa tướng thấy họ cầm roi, liền sàm tấu với vua:

– Tâu bệ hạ! Những người con của Tỳ-xá-li, tuổi vừa thành niên, lại cường tráng, một người địch lại nghìn người. Nay họ lại mưu tính ám sát vua nên mỗi người đều cầm đao dấu trong roi ngựa, xin vua xác minh.

Vua liền sai người khám xét, quả đúng như lời khai báo. Tin là thật, vua ra lịnh giết tất cả người con của Tì-xá-li rồi [129b] sai đem ba mươi hai cái đầu đặt vào một trong thùng, niêm phong, đóng dấu của vua mang tặng cho người em kết nghĩa.

Cùng ngày hôm ấy, Tỳ-xá-li thỉnh Đức Phật và chúng tăng về nhà để cúng dường, thấy vua đem tặng một thùng, bà thầm nghĩ: ‘Có lẽ nhà vua ban cho đồ cúng dường Đức Phật và chúng tăng’. Nghĩ vậy, bà định mở xem nhưng Phật ngăn lại và bảo:

– Hãy đợi chúng tăng thọ thực xong rồi mở.

Thọ thực xong, Đức Phật thuyết pháp về khổ, vô thường v.v… cho Tỳ-xá-li khiến bà chứng quả A-na-hàm.

Sau khi Đức Phật ra về, Tỳ-xá-ly mở thùng ra xem thì thấy ba mươi hai cái đầu con của mình, nhưng nhờ đã đoạn ái dục, nên bà không còn sầu não mà chỉ than: ‘Đau đớn thay! Con người sinh ra rồi phải chết đâu được sống mãi, trôi nổi trong năm đường, khổ như thế sao?’.

Vợ của ba mươi hai chàng trai cùng họ hàng thân thích biết được việc này đều căm phẫn thét: ‘Vua vô đạo lầm giết người lương thiện’. Thế rồi, họ tập hợp binh mã kéo đến báo thù. Vua hay tin hoảng sợ chạy đến chỗ Phật, họ lại đem binh bao vây tinh xá Kì-hoàn.

A-nan thấy vua giết ba mươi hai người con của Tì-xá-li, khiến cho họ hàng thân thích của họ kéo đến báo thù liền chắp tay bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì, ba mươi hai người con của Tì-xá-li bị vua giết?

Đức Phật bảo A-nan:

– Vào thời quá khứ, có ba mươi hai người trộm một con trâu rồi dẫn đến nhà một bà lão cùng nhau giết ăn, bà lão vui vẻ mang dụng cụ ra để giết. Khi sắp hạ dao, con trâu quỳ xuống xin tha mạng, nhưng mọi người quyết định giết. Trâu liền thề: ‘Các ngươi nay giết ta, đời sau ta sẽ không tha cho các ngươi’.

Họ giết rồi cùng nhau nấu ăn. Bà lão ăn no nê, vui vẻ nói: ‘Từ trước tới nay ta đi ăn cỗ, chưa có khi nào ăn ngon như hôm nay’.

Đức Phật bảo A-nan:

– Con trâu lúc ấy, nay là vua Ba-tư-nặc. Những người trộm trâu, nay chính là ba mươi hai người con của Tì-xá-li. Bà lão thuở nọ nay là Tì-xá-li. Vì giết trâu nên những người này trong năm trăm đời thường bị người giết. Vì vui theo nên trong năm trăm đời bà lão thường làm mẹ của những người kia và khi con bị giết lòng mẹ đau buồn vô hạn. Nay người mẹ ấy nhờ gặp được Ta, nên chứng quả A-na-hàm.

Vợ và người thân của ba mươi hai người kia nghe Đức Phật nói như thế, trong lòng không còn oán hận, mỗi người tự nói: ‘Những người này, do đời trước gieo nhân, nay phải gặt quả. Vì giết một con trâu, mà nay phải chịu quả báo như thế, huống gì giết nhiều sinh mạng. Ba-tư-nặc là vua của chúng ta, vì sao chúng ta lại oán giận muốn giết ngài?’.

Thế rồi, họ liền quỳ trước vua xin ăn năn xin chịu tội. Qua câu chuyện vua cũng vui vẻ bỏ qua, không bắt tội.

A-nan bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Những người con của bà Tỳ-xá-li nhờ tu phúc lành gì mà nay được khoẻ mạnh giàu sang lại được gặp Phật và chứng quả?

Đức Phật dạy:

– Quá khứ, thời Phật Ca-diếp có một bà lão, dùng các loại hương hòa với dầu rồi đem đi sơn tháp. Trên đường đi, bà gặp ba mươi hai người, bà khuyên họ cùng đến sơn tháp. [129c] Sơn tháp xong, họ đồng phát nguyện: ‘Nguyện chúng tôi đời đời sinh ra nơi nào cũng được giàu sang quyền quí, thường làm mẹ con với nhau và được gặp Đức Phật đắc đạo’. Vì thế, từ đó đến nay trải qua năm trăm đời họ thường sinh vào dòng dõi tôn quý, luôn luôn làm mẹ con với nhau. Ngày nay gặp Đức Phật, họ đều chứng đắc đạo quả”.

Bài kệ về chính báo:

Giết vật lòng dạ vui,

Vào ngục sầu than khóc,

Nước dơ rưới xuống thân,

Đồng sôi rót vào miệng,

Núi dao hầm lửa lớn,

Phanh thây xương thịt tan,

Triệu năm vạn mối sầu,

Đau lòng không kể hết.

Bài kệ về tập báo:

Sát sinh đọa bốn đường[47],

Chịu khổ ba nẻo ác,

Rồi được sinh làm người,

Ốm đau lại yểu số,

Tật bịnh nhiều khốn khổ,

Mạng sống rất mong manh,

Nếu là người có trí,

Chớ buông lung giết hại.

XXIII.2. Trộm cướp tài vật.

Chúng sinh thụ thân trong sáu đường đều lấy tham dục làm nguồn; nhận khí chất âm dương thảy do luyến ái làm gốc. Tuy người và vật không đồng, nhưng sự tham tiếc chẳng khác. Thế nên, gặp của cải mà lấy một cách bất chính thì chẳng phải là hiền nhân; kẻ thấy lợi quên nghĩa chẳng thành người quân tử.

Vả lại, tiền tài, vàng ngọc, vải lụa, vật cần dùng của người đời; phan, lọng, hoa, quả là vật cúng cho tăng chúng. Mình dù nghèo cùng lẽ ra cũng nên vui theo sự giàu sang của người, đâu vì mình nghèo mà tham muốn đoạt lấy của người khác? Điều-đạt hái hoa, nhân đó mà đọa lạc. Kiều-phạm ngắt lúa trở lại làm thân trâu. Ca-diếp xin bánh bị người chê cười. Tì-kheo ngửi hương hoa, bị thần giữ hồ quở trách. Vì vậy ta nên biết tội trộm cướp rất nặng.

Thế nên, có người ban ngày không có chỗ ăn, ban đêm không có nơi ngủ; sống lây lất như chim đậu, nai dừng, thân hình lõa lồ co cuộn, ngủ bên lề đường, xin ăn từng nhà. Đến nỗi, mẹ phải theo chim giá cô đi về hướng nam; con thì theo ngựa hồ ngược lên phương bắc. Chồng như bóng mặt trời ngã về tây, vợ tợ dòng sông chảy xiết về đông. Họ đều nghĩ đến quê xưa mà lòng đau như đứt ruột, nhớ nơi sinh cất tiếng kêu gào; lệ chảy khiến thành lệ máu, tâm uất ức đọng nơi bờ mi.

Những khổ như thế đều do đời trước không biết bố thí, lại do trộm cướp mà ra. Cho nên kinh ghi: Muốn biết nhân quá khứ, nên xem quả hiện tại; muốn biết quả vị lai thì xét nhân hiện tại. [130a] Do đó, khuyên những người tu hành thường phải tự răn dè chớ khởi tâm trộm cướp, cho đến của rơi cũng không tham đắm, huống gì lấy vật của người khác. Trộm cướp có trường hợp:

XXIII.2.1. Trộm vật cúng Phật

Như kinh Niết-bàn ghi: “Xây chùa, thờ Phật, cúng dường tràng hoa, người chưa xin mà vội lấy, dù có người biết hay chẳng biết, người lấy đều mắc tội trộm cướp”.

Luận Tỳ-nại-da ghi: “Nếu trộm phướn, hoa trong tháp của thanh văn và Phật đều bị tội nặng, vì làm mất phúc của thí chủ”.

Luật Thập tụng ghi: “Nếu trộm vật trong tháp thờ Phật, đồ cúng dường trong tinh xá có người giữ thì phạm tội nặng”.

Như trong luật Thập tụng thuật chuyện một người trộm xá-lợi; luận Tát-bà-đa nói về việc có người trộm tượng Phật. Trong hai trường hợp, người trộm có lòng thành phụng thờ, cúng dường. Người ấy nghĩ: “Họ là đệ tử, ta cũng là đệ tử”. Người như vậy, tuy không xin mà lấy, nhưng chỉ vì muốn cúng dường nên không phạm tội (Trường hợp này thí chủ thông cảm cho người trộm thì không phạm tội, nếu không thông cảm thì phạm tội nặng).

Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “Nếu trộm xá-lợi, tượng Phật đem bán để sinh sống thì phạm tội rất nặng” (Pháp vật này, căn cứ theo Phật mới biết, nên văn sau của luật Tứ phần có dẫn câu chuyện: “Bấy giờ, có người trộm quyển kinh của người khác, Phật dạy: Lời của Phật là vô giá, nên căn cứ giấy mực, tính đủ năm tiền thì phạm tội nặng”)

XXIII.2.2. Trộm vật của tăng

Luật Ngũ phần ghi: “Mượn vật của tăng mà không trả lại, tính theo giá trị của vật ấy mà định tội”.

Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Trộm tăng man vật[48], tội còn nặng hơn giết hại tám vạn bốn nghìn cha mẹ”.

Kinh Bảo lương ghi: “Thà ăn thịt mình, nhất định không được dùng vật của tam bảo”.

Kinh Phương đẳng ghi: “Bồ-tát Hoa Tụ nói: ‘Năm tội nghịch[49] và bốn tội nặng[50] ta còn có thể cứu, tội trộm vật của tăng ta không thể cứu’”.

Phẩm Tế long kinh Đại tập ghi: “Khi ấy, có những con rồng đạt được túc mệnh thông, chúng nhớ lại nghiệp quá khứ của mình buồn khóc như mưa, đi đến trước Đức Phật, mỗi con tự thưa:

– Nhớ đời quá khứ, con làm người, có nhân duyên gần gũi Phật pháp, lại được nghe pháp, có lòng tin, phát tâm cúng dường nhiều hoa quả, thức ăn uống rồi cùng với các tì-kheo tuần tự ăn.

Con rồng khác nói:

– Con từng ăn những thức ăn uống và hoa quả của tăng bốn phương.

Lại có con rồng nói:

– Con đã đến chùa, cúng dường và lễ bái chúng tăng. Do cúng dường như thế từ thời bảy Đức Phật tới nay, con đã từng làm người có lòng tin, cúng dường tam bảo các thứ hoa quả, nhiều thức ăn uống. Các tì-kheo nhận rồi cho lại, con liền ăn. Do nghiệp duyên đó, con phải ở trong địa ngục trải qua vô lượng kiếp, bị thiêu đốt, nung nấu trên ngọn lửa dữ hoặc uống nước đồng sôi hay ngậm hoàn sắt nóng. Khi ra khỏi địa ngục, con lại sinh vào loài súc sinh; bỏ thân súc sinh sinh vào loài ngạ quỉ. Cứ như thế, chúng con chịu rất nhiều đắng cay.

[130b] Đức Phật bảo:

– Những nghiệp ác như thế giống với việc trộm vật cúng Phật. Tội của nghiệp ngũ nghịch chỉ bằng một nửa tội này. Quả báo của tội này rất khó thoát. Trong kiếp Hiền[51], kẻ ấy gặp vị Phật cuối cùng hiệu là Lâu-chí, mới hết tội này.

Hỏi: Vì sao trộm và dùng vật của tăng bị tội rất nặng?

Đáp: Trộm bất kỳ vật nào của tăng đều liên quan tới thánh, phàm mười phương, trên từ chư Phật, dưới đến phàm tăng. Vì cảnh giới vô biên nên tội cũng vô biên. Vi trần còn có thể đếm biết, quả báo của người mắc tội này không thể suy lường. Vì sao? Vì thí chủ kia đã bỏ ra một chút phẩm vật, dù nhỏ bằng sợi lông, một hột gạo để cúng dường các bậc phàm, thánh xuất gia trong mười phương để quí ngài thụ dụng, ngày đêm tu đạo, chứ không cung cấp cho người thế tục. Vì thế, khi nghe tiếng chuông vang lên chư tăng gần xa cùng thụ thực; phàm, thánh thụ dụng đều thành đạo nghiệp, thầm giúp cho thí chủ được lợi ích vô biên. Cảm phúc đã nhiều thì thụ tội cũng không ít. Nay thấy chúng sinh mê mờ lầm lạc không phân biệt sang hèn, đều không tin tam bảo. Có người tham vật cúng dường, đem làm vật của riêng mình, dùng thức ăn, hoa quả, cưỡi các súc vật, dụng nô bộc của tăng; mượn vật của tăng lâu ngày không trả, bị tăng đòi nhiều lần thì trở lại mắng chửi; ỷ quan quyền, cậy thế lực, xét tìm lỗi của chúng tăng… Các việc làm hại tăng như thế khó mà liệt kê cho hết. Tĩnh tâm nghĩ đến lỗi này, sao chẳng đau lòng!

Nay chư tăng chẳng cho người, không phải là keo kiệt, không có nhân ái mà vì từ bi thương xót hàng bạch y, lo sợ họ nhận lãnh rồi phải chịu khổ. Nếu đem vật của tăng cho người, chẳng những trực tiếp làm tổn hại người thế tục mà vị tri sự cũng mang tội; cả hai đều phải chịu quả khổ ở đời sau. Cho nên kinh Phật bản hạnh ghi là một niệm ác có thể đưa đến năm điều chẳng lành:

  1. Thiêu cháy căn lành của con người.
  2. Phát sinh niệm ác khác.
  3. Bị thánh nhân quở trách.
  4. Đạo quả bị lui sụt.
  5. Khi chết sinh vào nẻo ác.

Đã biết quả báo của tội trộm không thể nào thay đổi, nên tôi thành thật khuyên răn mọi người, sau này lấy dùng vật của chúng tăng cần phải xét mình.

XXIII.2.3. Trộm và sử dụng vật lẫn lộn

Kinh Bảo ấn ghi: “Vật thuộc về Phật và pháp không được sử dụng lẫn lộn. Vì không ai có thể làm chủ vật của Phật và pháp, cũng không có người để thưa hỏi. Vật của Phật và pháp không giống với vật của tăng, vật của tăng thường trụ và tăng chiêu-đề[52] đều có người để thưa hỏi.

Nếu dùng vật của tăng để tu sửa tháp Phật thì phải như pháp đã quy định, tăng đồng ý mới được lấy dụng. Nếu tăng không chấp nhận thì khuyến khích người tại gia tu sửa. Nếu tháp Phật có vật dụng, hoặc có từ một tiền trở lên do thí chủ thành tâm cúng dường, chư thiên và mọi người phải nghĩ những vật ấy thuộc về Phật và tháp,[130c] dù cho gió thổi, hư hoại cũng không được đem bán đổi lấy vật cúng dường. Vì vật thuộc về tháp Như-lai không ai có thể định giá”.

Luật Thập tụng ghi: “Đức Phật cho phép phạm vi sinh hoạt của tăng, trong chùa được nuôi người giúp việc, voi, ngựa, trâu, dê v.v… nhưng vì chúng đều có chủ nên không được sử dụng lẫn lộn”.

Luật Tăng -kì ghi: “Nếu vật cúng dường thuộc về Phật tồn dư nhiều thì cho phép đổi, bán mua hương, đèn. Sở dĩ được phép làm như vậy là vì số vật dụng tồn dư nhiều nên dù có đổi bán cũng vẫn còn để sử dụng”.

Ngũ bách vấn sự khẩu quyết ghi: “Trường hợp cờ phướn cúng Phật dư nhiều, muốn dùng làm vào việc Phật khác, nếu thí chủ bằng lòng thì được phép dùng; ngược lại, nếu thí chủ không chấp nhận thì không được dùng sai việc”.

Luật Tứ phần ghi: “Thức ăn cúng dường ở tháp Phật, người trông coi tháp được phép dùng”.

Luận Thiện kiến ghi: “Thức ăn dâng cúng Phật, tì-kheo hầu Phật được dùng. Nếu không có tì-kheo, người cư sĩ hầu Phật cũng được dùng”.

Kinh Tội phúc quyết nghi ghi: “Trước khi cư sĩ dâng cúng cho Phật, các bậc thượng, trung và hạ toạ phải dạy họ cúng Phật rồi mới cúng tăng. Dâng cúng thức ăn cho Phật rồi theo thứ tự cúng cho tăng thì không phạm. Nếu không thực hành đúng như vậy, dùng thức ăn của Phật sẽ bị đọa địa ngục A-tì trải qua nghìn ức năm. Đàn-việt không nghe lời chỉ dạy của tăng cũng chuốc lấy quả báo như trước. Nếu được làm người thì bị sinh vào nơi hạ tiện trải qua chín trăm vạn năm. Vì sao? Vì vật thuộc về Phật thì không ai có thể xác định được giá”.

(Hoặc nói rộng ra, trong hai bữa ăn thường ngày của cư sĩ và tăng, ngoài những thức ăn đã dâng cúng Phật và thánh tăng, những thứ không thuộc về Phật và tăng thì không cần phải mua lại; những thức ăn ấy sau khi xướng dư thực, tất cả mọi người đều được ăn. Nếu ý đã trình bày rõ chỉ cúng thức ăn cho Phật và tăng, không có phần của người tại gia thì phải mua lại mới được lấy dùng).

Nếu thí chủ đã dự định cúng dường để tạc tượng Phật Thích-ca mà đổi lại tạc tượng Phật A-di-đà; đã định cúng in Đại phẩm mà đổi lại sung vào in kinh Niết-bàn; đã cúng để xây dựng phòng cho tăng lại đổi thành cúng thức ăn cho tăng; đã cúng cho hai chúng nhưng đổi lại chỉ cúng cho một chúng; đã cúng cho thập phương tăng nhưng lại sung vào cúng hiện tiền tăng; đã cúng cho đại chúng nhưng lại chỉ cúng riêng cho một người; đã cúng cho chúng tăng nhưng lại đem cho cư sĩ … trái với ý muốn của người cúng. Những trường hợp như vậy nên quy giá trị thành tiền, nếu đủ năm tiền trở lên thì phạm tội nặng, nếu dưới năm tiền thì phạm tội nhẹ.

Luật Tứ phần ghi: “Nếu đã hứa cúng cho trú xứ này, nhưng lại đem cúng cho trú xứ kia thì phạm tội” ( Định tội nặng hay nhẹ thì trước phải thăm dò ý của người cúng).

Căn cứ vào ý trên: nếu tô sửa tượng Phật còn dư vật liệu cũng không được dùng làm hình tượng bồ-tát, thánh tăng v.v… vì địa vị thầy và trò khác nhau, nên không thể sử dụng lẫn lộn được. Nếu tô điểm các vật dụng khác rồi đem cúng dường Phật thì không phạm. Nếu thí chủ bằng lòng sau khi tô vẽ tượng Phật, tùy ý trang sức loại hình tượng tăng, tục, thánh, phàm cùng tô điểm các phẩm vật cúng dường khác như: danh hoa, cỏ cây, núi, hồ, chim, thú v.v…những vật ấy tuy không thuộc tượng Phật, nhưng sử dụng lẫn lộn mà không có tội.

Ngũ bách vấn sự ghi: “Dùng sơn để tô vẽ tượng Phật, mà đem vẽ hình chim, thú thì phạm tội. Trừ khi làm hình chim, thú để cúng dường Phật thì không phạm” (Từng nghe kẻ tăng, người tục sống ở vùng biên giới xa xôi không giữ giới luật, dù dốc lòng lo lắng tam bảo [131a] nhưng lại theo ý kiến riêng của mình sử dụng lẫn lộn vật của tam bảo. Cho đến tiền cúng dường thánh tăng, hoặc lấy dùng riêng cho mình, hoặc sung vào vật của thường trụ tăng, hoặc dùng làm tượng Phật, hoặc đắp, vẽ hình tượng tôn giả A-nan-da, Ca-diếp v.v… tất cả đều không được. Nếu sử dụng thì phạm tội. Những việc này như đã nói đầy đủ trong thiên Thụ thỉnh).

Hỏi: Thời nay trong các buổi thọ trai, thí chủ thường dâng tiền cúng, không biết tiền đó sử dụng vào việc gì?

Đáp: Nếu người cúng muốn dùng để tạo tượng thì theo ý nghĩa của đoạn văn trước đã trình bày mà thực hiện, chỉ được dùng để tạo tượng Phật chứ không được sử dụng vào các mục đích khác.

Thời nay, nếu có thí chủ sau khi cúng thức ăn cho tăng đem tiền cúng chung cho Phật và tăng. Nếu thí chủ không nói rõ từng phần thì nên mua hương, mua dầu, làm phan, tu sửa điện Phật, tất cả dùng để cúng dường Phật đều được, nhưng không được nhập vào của tăng hay cá nhân dùng.

Từ trước đến đây tuy là trình bày sơ lược, nhưng tất cả đều căn cứ theo kinh, luật mà xét chứ chẳng phải ý kiến của một người. Nếu không thực hành đúng theo luật, theo pháp thì kết tội chẳng học, không hiểu biết. Ngoài những việc này ra, còn nhiều việc khác không sao kể hết, trong bộ Luật Sao mười quyển của tăng ni đã trình bày đầy đủ. Cho nên, trông coi công việc tam bảo là một trọng trách, chẳng nên xem thường. Tự mình không hiểu rõ giới luật thì phải tin sâu nhân quả, dụng tâm cẩn thận, lo sợ nghiệp đạo, luôn cảnh giác, không chiều ý người. Như thế mới xứng đáng trở thành một vị tri sự gương mẫu. Không được như vậy thì không nên làm.

Kinh Bảo lương ghi: “Đức Phật bảo Ca-diếp:

– Ta cho phép hai hạng tì-kheo xứng đáng được trông coi việc của tăng. Đó là tì-kheo trì giới thanh tịnh và tì-kheo biết lo sợ quả báo đời sau. Vì hai hạng đó tâm kiên định giống như kim cương. Lại có hai hạng tì-kheo, một là biết được nghiệp báo, hai là biết hổ thẹn và sám hối. Có hai hạng khác là tì-kheo chứng A-la-hán và tì-kheo thường tu Bát bội xả[53]. Hai hạng tì-kheo như thế ta cho phép điều hành việc của tăng. Vì chính những vị ấy không lầm lỗi, có thể giúp đỡ cho những tì-kheo khác vào đạo.

Ý Đức Phật cho việc này là khó nên bảo ngài Ca-diếp như vậy.

Trong Phật pháp có nhiều hạng xuất gia. Họ thuộc dòng họ khác nhau, tâm nguyện sai khác, tu theo nhiều pháp môn và việc đoạn kết sử cũng khác nhau. Như có tì-kheo ở a-lan-nhã[54], có vị đi khất thực, có vị thích chốn núi rừng, hay có người ưa ở gần thôn xóm, nhưng trì giới thanh tịnh. Lại có vị lìa được tứ ách[55], có vị siêng tu đa văn, có người giỏi luận thuyết các pháp, hoặc có vị khéo trì giới luật, có vị khéo giữ oai nghi, lại có vị đi khắp đó đây để thuyết pháp. Có các hạng tì-kheo như thế, nên tì-kheo tri sự phải khéo biết được tâm hạnh của từng người.

Thế nên trong kinh có ghi: “Vị tì-kheo tri sự cần phải phân biệt rõ, vật của tăng thường trụ không được cho tăng chiêu-đề và ngược lại”. Vật của tăng thường trụ và vật của tăng chiêu-đề không được để lẫn lộn với vật của Phật (vật của Phật cũng không được để lẫn lộn với vật của hai hạng tăng trên). Nếu vật của tăng thường trụ nhiều mà tăng chiêu-đề cần dùng thì vị tri sự phải nhóm tăng, phát thẻ[56], yết-ma; tăng hòa hợp thì mới lấy vật của tăng thường trụ chia cho tăng chiêu-đề. Như tháp Phật cần tu sửa hay sắp bị hư, nếu vật của tăng thường trụ hay vật của tăng chiêu-đề có nhiều thì vị tri sự nên nhóm tăng, phát thẻ lấy ý kiến và bạch:

– Nay tháp Phật bị hư cần tu sửa, vật của tăng thường trụ và tăng chiêu-đề có nhiều, nên họp chúng yết-ma (bạch rằng) ‘Đại đức tăng lắng nghe! Nếu tăng đúng thời mà đến, xin nghe cho! [131b] Nay tăng không tiếc vật được cúng dường, hoặc là vật của tăng thường trụ hay vật của tăng chiêu-đề, tôi nay đem dùng để tu sửa tháp Phật’.

Nếu tăng không đồng ý thì vị tri sự nên khuyến hóa người tại gia cúng dường tài vật để tu sửa tháp Phật. Vật của Phật nhiều, không được chia cho tăng thường trụ và tăng chiêu-đề. Vì sao? Vì đối với vật đó nên nghĩ tưởng là của Đức Phật. Vật của Phật cho đến một sợi chỉ đều là vật của thí chủ tín tâm cúng Phật, nên trời, người đối với những vật đó phải nghĩ là của tháp Phật, huống là những vật báu. Vật ở trong tháp Phật, thà để gió táp, mưa chan làm rách nát, không nên dùng vật cúng Phật để trao đổi dù là vật báu. Vì sao ? Vì vật của Như Lai không ai có quyền định giá cả, hơn nữa Phật không cần phải dùng gì mà cần đến sự trao đổi.

Như thế, vị tri sự đối với vật của tam bảo không nên dùng lẫn lộn. Nếu tự ý dùng lẫn lộn bị mắc quả báo lớn, phải chịu khổ một kiếp hay nhiều kiếp.

Kinh Bảo lương ghi: “Đức Phật dạy:

– Tì-kheo tri sự nếu sinh tâm giận, tùy tiện sai bảo vị đại đức trì giới thanh tịnh chấp lao phục dịch, nhân việc làm này vị tri sự phải chịu khổ báo ở địa ngục. Nếu được làm người thì làm kẻ tôi tớ bị chủ đánh đập hành hạ khổ sở.

Lại nữa, nếu vị tri sự tự ý chế lại những điều lệ vượt ra ngoài phép tắc thông thường của tăng để trách phạt tì-kheo, sai làm việc không hợp thời, sau khi chết vị tri sự phải đọa vào địa ngục đóng đinh, bị trăm nghìn cây đinh đâm đóng vào thân, khiến thân bừng cháy như đống lửa lớn.

Lại nữa, vị tì-kheo tri sự vì tâm sân hận, nên đem những việc nặng giao cho đại đức trì giới thanh tịnh khiến vị ấy khiếp sợ. Vị tri sự ấy phải chịu tội đọa vào địa ngục. Nơi ấy lưỡi tự dài ra năm trăm do tuần rồi bị trăm nghìn đinh đóng lên trên lưỡi. Mỗi một cây đinh đều phát ra tia lửa dữ.

Lại nữa, vị tri sự nhiều lần nhận vật của tăng, nhưng vì bỏn sẻn nên cứ bo bo cất giữ, hoặc cho tăng không đúng lúc, hoặc cực chẳng đã mới cho, hoặc vì bắt buộc phải cho, nên cho, hoặc cho ít hay không cho, hoặc cho người này không cho người kia… Vì nghiệp bất thiện đó nên vị tri sự này sau khi chết sẽ sinh vào loài quỉ đói thường ăn phân hay trong trăm nghìn năm không được ăn hoặc khi ăn, thức ăn thường biến thành phân tiểu, máu mủ. Thế nên Ca-diếp! Vị tì-kheo tri sự thà tự ăn thịt thân mình, nhất định không dùng lẫn lộn vật của tam bảo như y, bát, thức ăn uống v.v…”

XXIII.2.4. Trộm vật của người

Luận Thiện kiến ghi: “Người cất giữ hộ tài sản cho người khác hoặc cho tam bảo, [131c] giữ gìn cẩn thận, khóa chặt kho lẫm, nhưng kẻ trộm theo lỗ hổng vào nhà lén lấy hết tài sản, hoặc chúng cưỡng bức để lấy tài sản mà người giữ không thể ngăn cản. Trường hợp này, nếu cứ y theo việc người chủ mất vật mà kết tội cất giữ thì hoàn toàn không hợp lý. Nhưng nếu người giữ lơ là, không giữ gìn cẩn thận để kẻ trộm lấy cắp thì người giữ phải bồi thường. Đây là căn cứ vào trách nhiệm người giữ mà kết tội”.

Luật Thập tụng ghi: “Nếu người nhận chuyển hộ vật dụng cho người ở xa, trên đường đi vật bị hư hỏng, như người chuyển có tâm tốt, song vì sơ ý bị hư thì không bồi thường. Nếu có tâm xấu khiến cho đồ vật bị hư hỏng thì người chuyển phải bồi thường. Mượn vật của người, bất luận là tâm tốt hay tâm xấu, nếu làm hư thì nhất định phải bồi thường”.

Luật Thập tụng ghi: “Có kẻ trộm vật mang đến, họ thật lòng cúng dường, hay vì bị người rượt đuổi lo sợ mà cúng thì tì-kheo được phép nhận. Bởi hiện tại chính kẻ trộm là chủ nhân của vật. Nếu kẻ trộm tự cúng dường thì được phép nhận, nhưng không được xin. Nếu những vật ấy đã được nhuộm màu khác mà người chủ trước kia nhận ra thì cũng nên trả lại cho họ”.

Luận Ma-đắc-lặc-già ghi: “Có người loạn trí mang vật đến cúng, nếu không biết cha mẹ hay người thân của người đó thì được phép nhận. Nếu biết người ấy có cha mẹ mà không được chính tay cha mẹ người ấy cúng thì không được nhận”.

Luật Thập tụng ghi: “Nếu lấy thịt ăn dư của hổ thì phạm tội nhỏ, vì hổ chưa bỏ thức ăn dư ấy. Nếu lấy thịt ăn dư của sư tử thì không phạm, vì sư tử đã bỏ thức ăn ấy”.

Luận Tát-bà-đa ghi: “Trộm thức ăn dư của tất cả loài chim, thú thì phạm tội nhẹ”. (Ngày nay gặp năm mất mùa, đói kém, nhiều người đào bới hang chuột để lấy những thứ hạt, trái mà chúng đã tha về trữ như: hạt giẻ, trái hồ đào v.v…, căn cứ theo văn trên đã nói thì phạm tội).

Luật Tứ phần ghi: “Hoặc có người vì nghĩ cho mình rồi lấy, hoặc nghĩ mình có phần rồi lấy, hoặc nghĩ vải cũ rách, xấu tệ rồi lấy, hoặc nghĩ mượn dùng tạm rồi lấy, hoặc nghĩ là của bạn thân rồi lấy v.v… Những trường hợp vừa nêu nếu lấy đều không phạm”.

Thế nào là bạn thân? Theo luật thì phải có đủ bảy điều kiện sau mới được gọi là bạn thân.

  1. Làm được việc khó làm.
  2. Cho được cái khó cho.
  3. Nhẫn được việc khó nhẫn.
  4. Nói cho nhau nghe chuyện riêng.
  5. Đùm bọc lẫn nhau.
  6. Không bỏ nhau lúc khó khăn.
  7. Không chê nghèo khổ.

Người nào có thể thực hiện đủ bảy điều kiện trên thì gọi là người thân. Lấy vật của bạn như thế thì không phạm”.

Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Phật dạy các tì-kheo:

– Kẻ trộm vật của người, bị chủ bắt được, trói đem giao cho vua trị tội. Vua liền sai người giam vào ngục; hoặc chặt tay chân; hoặc cắt tai, mũi; hoặc lột da; hoặc rút gân; hoặc treo ngược; hoặc cưa xẻ; hoặc dùng lửa đốt; hoặc nấu dầu; hoặc dùng da sống quấn quanh đầu người ấy; hoặc lấy nước đồng sôi xối lên thân thể; hoặc dùng chỉa ba đâm vào hông bụng; hoặc thả voi dữ giẫm đạp; hoặc mổ bụng, rút ruột rồi nhét cỏ vào; hoặc trói ngược; [132a] hoặc đánh trống chát chúa; hoặc đem treo giữa chợ chém đầu; hoặc cắt bỏ từng bộ phận trên cơ thể; hoặc dùng dao cắt; hoặc bắn tên… bị giết bằng nhiều cách tàn khốc như thế. Vì ác nghiệp trộm cướp này, nên sau khi chết liền đọa vào địa ngục, bị lửa dữ đốt thân, nước đồng sôi rót vào miệng, vạc nước sôi, lò lửa đỏ, núi dao, rừng kiếm, lò than, phân nhơ, xay giả… chịu đủ tất cả những nỗi khổ như thế. Người tội đau đớn, khổ sở thấu tim gan không sao kể xiết, trải qua trăm nghìn vạn năm không biết bao giờ thoát khỏi. Khi chịu tội ở địa ngục xong, họ lại sinh vào loài súc sinh làm thân voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, chó v.v… trải qua trăm nghìn năm để trả nợ cũ cho người. Sau khi chịu tội trong đường súc sinh xong, người tội lại sinh làm loài quỉ đói, chịu đói khát khổ sở không sao kể xiết, thậm chí không nghe đến tiếng cơm nước, trải qua trăm nghìn năm chịu đủ các sự khổ sở như thế. Khi tội khổ trong đường ác hết được sinh lại làm người, nhưng khi được làm người họ lại mắc hai loại quả báo là nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc và thường bị năm nạn như nạn vua, nạn giặc, nạn nước, nạn lửa và bị kẻ cướp”.

Kinh Chính niệm ghi:

Hỏi: Thế nào gọi là trộm?

Đáp : Như có người luôn khởi niệm ác: “Ta muốn tất cả các loại ngũ cốc như lúa, thóc v.v… chỉ thuộc về mình ta, còn mọi người đều bị mất mùa”. Một thời gian sau, do chúng sinh phúc mỏng nên đều bị mất mùa. Người ác ấy thấy mất mùa, mọi người bị đói khát thì lòng vui mừng nói: ‘Quả nhiên đúng như ta mong muốn!’, đem lúa thóc ra chợ rao bán với giá rẻ nhưng tâm gian dối, lòng lọc lừa, cân, đong lúa thóc dối gạt người, tạo thành nghiệp trộm” .

Nếu lòng suy nghĩ thì gọi là nghiệp tư duy. Khi dối gạt người gọi là nghiệp dối gạt. Sau khi lừa dối thì đã thành nghiệp trộm.

XXIII.2.5. Trộm vật rơi

Kinh Chính niệm ghi: “Nếu thấy vật rơi bên đường như vàng, bạc hay các loại vật báu khác, người nhặt được phải rao lớn : ‘Vật này của ai?’

Nếu có người nói : ‘Vật ấy của tôi’ thì phải hỏi họ hình dáng vật ấy thế nào; nếu nói đúng thì trả lại cho họ.

Nếu không có ai nhận lại thì trong bảy ngày, mỗi ngày phải mang vật ấy đi rao lớn lên cho mọi người biết. Nếu vẫn không ai nhận thì nên đem vật báu ấy giao cho vua, quan lớn hay người đứng đầu châu, quận ở đó. Nếu vua, quan lớn, người đứng đầu châu quận thấy người kia có phúc đức, không nhận lấy vật ấy thì nên đem vật ấy dùng vào việc của tam bảo. Như thế mới không gọi là trộm”.

Luật Tăng-kì ghi: “Nếu thấy y, vật rơi phải nói cho mọi người biết để người đánh rơi được nhận lại. Nếu không có ai nhận nên treo một nơi cao và trống trải để mọi người nhìn thấy. Nếu có người nhận đó là vật của tôi, thì phải hỏi: ‘Vật của anh mất ở đâu?’ Nếu người kia trả lời đúng thì trao cho họ. Nếu không có người nhận thì nên giữ. Qua ba tháng, nếu vật ấy trước kia nhặt được trong tháp thì dùng cho những việc thuộc về tháp. [132b] Nếu vật ấy nhặt được trong vườn của tăng thì chia cho bốn phương tăng.

Nếu là những vật quý giá như vàng, bạc, chuỗi ngọc thì không nên tùy tiện trưng bày, rao báo rộng rãi mà người nhặt được phải xem đi, xét lại cho thật kĩ hình dạng của nó như thế nào, rồi sau đó mới rao xướng. Nếu người đến nhận nói đúng thì trả lại cho họ, nhưng khi trả phải có nhiều người chứng kiến và không được trao trả ở nơi che khuất. Nhân đây, vị ấy cũng nên khuyên người được nhận lại của bị rơi thọ tam quy và nói : ‘Nếu Phật không chế giới thì ông không thể thấy lại được các vật này’.

Nếu không có người đến nhận thì giữ lại ba năm, rồi như trước mà giải quyết. Vật thuộc phạm vi nào thì sử dụng cho phạm vi đó. Nếu tu sửa tháp, nhặt được tài bảo thì dùng vào việc của tháp. Nếu nhặt được vật trong phạm vi sinh hoạt của tăng thì dùng vào việc của tăng”.

Luận Thành thật [57]ghi: “Nếu kho tàng trong lòng đất tự nhiên xuất hiện, lấy dùng thì không có tội. Khi Phật còn ở đời, trưởng giả Cấp Cô Độc là thánh nhân mà còn lấy những vật ấy, cho nên biết là không có tội. Nếu tình cờ nhặt được vật cũng không gọi là trộm”.

Luật Tăng-kì ghi: “Tì-kheo khi vào trong thôn làng thấy vật rơi, không được nhặt lấy nhưng có người nhặt cúng cho được phép nhận, vì người ấy chính là thí chủ. Y phục của người khác bị gió cuốn bay trong làng xóm, tì-kheo không được nghĩ đó là y phấn tảo[58] rồi nhặt lấy, nếu trên đường hoang vắng không có người thì được lấy”.

Luật Ngũ phần ghi: “Nếu cất hộ y cho người trải qua mười hai năm, người ấy không quay lại lấy thì nên nhóm tăng định giá, rồi chia cho tăng bốn phương sử dụng. Nếu sau đó người kia trở lại thì lấy vật của tăng bồi thường cho người đó. Nếu người đó không nhận thì tốt”.

Bài kệ tụng Chính báo:

Cướp vật cúng cho người,

Sẽ rơi vào địa ngục,

Bị chim mỏ cứng mổ,

Tan nát cả tim gan,

Đồng sôi rót vào miệng,

Gậy sắt đập vào thân,

Hoảng hốt chạy thất kinh,

Lạc vào rừng gươm, giáo.

Bài kệ tụng Tập báo:

Trộm cướp bị quả báo,

Địa ngục đốt thân hình,

Tội hết sinh làm người,

Đói khổ đến trọn kiếp,

Của tiền bị người giữ,

Khác chi kẻ nghèo hèn,

Mấy lời xin ghi nhớ,

Suy nghĩ nhân khốn cùng.

XXIII.3. Tà dâm

Tiếng dâm hại đức là điều mà người trí không làm; tướng dục mê tâm là chỗ mà bậc thánh xa lánh. Vì thế Châu U Vương mất nước bởi lỗi của Bao Tự[59]; Tấn Hiến Đế mất ngôi là tội của Lệ Cơ[60]. Độc Giác tiên[61] trên núi chẳng biết nỗi nhục bị cưỡi cổ; Thuật-già-bà[62] hẹn tại miếu đường nào hay cảnh đau đớn bị đốt thân.

Như thế, tất cả đều do chúng sinh trong Dục giới không tu quán giải[63], [132c] bị phiền não trói buộc chẳng thể phục, đoạn[64]. Vả lại, địa thủy hỏa phong, đâu là chủ tể? Thân, thụ, tâm, pháp bản tính vốn không. Da dày, da mỏng đều là bất tịnh; sinh tạng, thục tạng dơ thối khó bàn, luôn đưa đẩy con người rơi vào ba đường ác. Thế nên, bậc đại bồ-tát, thường tu quán hạnh[65], thấy toàn thân chảy đầy chất dơ uế. Lục trần[66] là sáu giặc thường xúc não; năm ấm như chiên-đà-la[67] khó thân cận.

Phàm phu điên đảo đam mê hình sắc, thấy dáng yêu kiều, đắm đuối dung nhan. Răng trắng, môi hồng, mi dài, tóc bối, lắc người, uốn thân càng tăng thêm vẻ mĩ miều. Thế nên, mĩ nữ cởi ngọc nơi Lạc Xuyên[68] khiến Trần Vương[69] phải hạ giá; người đẹp chơi cầu ở Hán Khúc[70] cảm Giao Phủ[71] phải lưu tình. Trên đỉnh Vu sơn mượn mây mưa để đến đi[72]; bên suối Thư Cô nương dòng nước mà qua lại. Còn có kẻ sai đốt hương mà nhớ tưởng áo ngắn của Hàn Thọ[73]; gảy khúc đàn cầm để thầm nhận tình ý của Tương Như[74]. Hoặc có người nhân dâng gối chợt thành thân; hoặc nhờ treo mũ trở nên gần. Họ đâu biết rằng hình hài như bọt nổi; thể chất tựa mây trôi, trong ngoài đều không, khoảnh khắc tan biến. Toàn thân bất tịnh, khắp thể vô thường, vừa mới quăng xuống ngòi rãnh đã thành mồi ngon cho trùng kiến.

Chúng sinh thường mang thói tà dâm, trái ngược với hạnh thanh tịnh, chướng ngăn tâm bồ-đề, gây nhân bốn thú, gặt quả ba đường. Nên biết, gốc của ba cõi chính do nghiệp dâm; quả báo sáu nẻo thật vì ái nhiễm, khiến cho nhuận nghiệp càng thêm sâu nặng. Vì thế Đức Phật chế giới không được tà dâm.

XXIII.3.1. Quở trách dục gây nhiều khổ

Kinh Niết-bàn ghi:

Nếu hay sầu muộn,

Thì khổ càng tăng.

Như người thích ngủ,

Thì ngủ càng mê,

Tham dâm thích rượu,

Cũng lại như thế.

Kinh Chính niệm ghi:

Như lửa thêm củi khô,

Thì lại càng cháy mạnh,

Cũng như người thích ái,

Lửa ái càng tăng thêm.

Củi khô tuy cháy dữ,

Nhưng người có thể ra,

Còn lửa ái thiêu đốt,

Mãi mãi không thoát được.

Luận Đại trí độ ghi:

Người đời ngu si,

Tham mê năm dục,

Đến chết không chừa,

Mãi đến đời sau,

Chịu vô lượng khổ.

Thí như người ngu,

Ham thích quả ngọt,

Trèo lên cây hái,

Mà không chịu xuống,

Chợt người đến đốn,

Cây liền đổ ra,

Thân đầy thương tích,

Chết trong đau đớn,

Được, có chút vui,

Mất, muôn vạn sầu.

Như dao thoa mật,

Người thích liếm vào,

Lưỡi liền bị đứt,

Đau khổ vô cùng.

Luận Thành thật ghi:

Tham dục là khổ,

Chúng sinh điên đảo,

Vọng là ý vui,

Người khôn thấy rõ,

Thì khổ không còn.

Ái dục không chừa,

Như uống nước mặn,

Khát càng thêm khát,

Vì làm tăng khát,

Thì có vui đâu.

Giống như con chó,

Gặm cục xương khô,

Chảy tràn nước dãi,

Tưởng được món ngon.

Tham dục cũng vậy,

Bên trong không vị,

Nhưng vì đảo điên,

Cho là vị ngon.

Nên biết sắc dục,

Là khổ không vui,

Nếu không tham cầu,

Mới thật là vui.

XXIII.3.2. Quán thấy người nữ nhơ uế

Ở đây chỉ đơn cử người nữ bên ngoài dáng vẻ yêu kiều, nhưng bên trong chứa toàn đồ hôi thối. Người mê muội thì say đắm hình tướng bên ngoài, không biết sự tạm bợ giả dối đó, chỉ có người trí mới biết được sự thật, đáng nhàm chán xa lìa .

Kinh Thiền bí yếu ghi: “Trưởng lão Mục-kiền-liên đã chứng quả A-la-hán, nhưng người vợ cũ cứ đeo đuổi, cô ta trang điểm lộng lẫy theo quấy phá ngài. Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên nói kệ cảnh tỉnh người vợ cũ:

Thân như đống xương khô,

Thịt da gá nương thành,

Trong toàn chất hôi tanh,

Không có gì tốt đẹp.

Chỉ là túi phân dơ,

Chín chỗ thường rỉ chảy,

Gướm ghê như loài quỉ,

Đâu có gì đáng quí.

Thân giống như hầm xí,

Lớp da mỏng bọc ngoài,

Người khôn đã nhàm lìa,

Như xa rời hố phẩn.

Nếu ngươi biết như vậy,

Thứ mà ta chán chường,

Thảy đều chẳng vấn vương,

Như người tránh hầm phẩn.

Còn ngươi cứ trau chuốt,

Hương hoa cùng chuỗi báu,

Thứ phàm phu tham đắm,

Người trí không bị mê.

Thân ngươi vốn không sạch,

Ô uế chất chồng thôi!

Trang điểm nhà xí rồi,

Người ngu cho là đẹp.

Xương sườn và xương sống,

Như kèo cột nương nhau,

Ngũ tạng ở trong đó,

Hôi dơ tợ hố phân.

Thân ngươi như hầm phẩn,

Ngu si cho là quí,

Trang sức chuỗi ngọc châu,

Ngoài đẹp như bình vẽ.

Nếu người không còn dục,

Trọn đời không dính mắc,

Nay ngươi đến nhiễu ta,

Khác gì con thiêu thân.

Tất cả các độc dục,

Nay ta đã diệt rồi,

Và xa lìa năm dục,

Lưới ma cũng xé rách,

Tâm ta như hư không,

Không còn gì nhiễm trước,

Dù dục cõi trời đến,

Cũng không động lòng ta.

Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thà đốt cho thanh sắt cháy đỏ rồi đâm vào mắt, chẳng nên vì nhìn sắc mà làm cho tư tưởng rối loạn”.

Kinh Chính niệm ghi: “Bản tính của người nữ là hay ganh ghét. Do đó nên sau khi chết phần nhiều sinh vào trong loài quỉ đói. Dù họ luôn nói lời ngọt ngào, dịu dàng, nhưng trong lòng thì thâm độc vô cùng. Đặc biệt, người nữ rất giỏi về các mánh khóe, những trò lừa dối, mê hoặc mọi người”.

XXIII.3.3. Người nữ khó gần đáng chán

Kinh Ưu-điền vương có bài kệ:

Người nữ thật là ác,

Khó kết giao trọn đời,

Dây ân ái trói buộc,

Đẩy người vào cửa tội.

Họ không chỉ kéo người,

Sa vào con đường ác,

Mà còn mê hoặc trời,

Khiến phải bị đọa lạc.

Kinh Chính pháp niệm có bài kệ:

Ràng buộc trong cõi trời,

Không gì qua nữ sắc,

Người nữ trói chư thiên,

Dẫn đến ba đường ác.

Luận Đại trí độ ghi: “Bồ-tát quán sát các dục thấy tất cả đều bất tịnh, trong tất cả các tai hại thì sự tai hại từ người nữ là nguy hiểm nhất. Các thứ như: lửa, dao, sấm sét, kẻ thù, rắn độc còn có thể tạm gần gũi, nhưng tuyệt đối không nên gần gũi người nữ. Vì người nữ có tính keo kiệt, ganh ghét, giận dữ, nịnh nọt, lẳng lơ, xấu xa, tranh cãi, tham lam.

[133c] Đức Phật nói bài kệ:

Thà dùng sắt nóng,

Đâm thẳng vào mắt,

Tâm chớ buông lung,

Đắm nhìn người nữ,

Mỉm cười làm dáng,

Kiêu mạn, thẹn thùng,

Quay mặt, liếc mắt,

Lời hay, ganh ghét,

Bước đi yểu điệu,

Mê hoặc lòng người.

Lưới dâm giăng bủa,

Khiến người sa vào,

Đi, đứng, nằm ngồi,

Liếc mắt làm duyên,

Kẻ ngu vô trí,

Say mê điên đảo.

Chiến đấu với địch,

Còn có thể thắng,

Giặc nữ hại người,

Đành phải chịu thua.

Rắn ngậm nọc độc,

Tay vẫn bắt được,

Người nữ mê hoặc,

Không thể chạm vào.

Kinh Tăng nhất A-hàm có bài kệ:

Chớ thân với người nữ,

Cũng không nên chuyện trò,

Nếu ai xa lìa được,

Sẽ dứt trừ tám nạn.

Kinh Tát-già Ni-kiền-tử ghi: Ni-kiền-tử có bài kệ:

Vợ mình chưa đủ sao?

Còn ham thích vợ người,

Người này không xấu hổ,

Nên thường khổ không vui,

Đời này và đời sau,

Bị nổi khổ đánh đập,

Chết rồi vào địa ngục,

Khổ đau mãi không thôi.

Kinh Tạp thí dụ ghi: “Khi Đức Phật còn ở đời, có một người thuộc dòng dõi Bà-la-môn sinh được hai người con gái, cả hai đều rất xinh đẹp. Ông ta treo một giải thưởng và nói: ‘Trong vòng chín mươi ngày, nếu có ai tìm và chỉ ra điểm xấu của hai con gái ta thì giải thưởng này thuộc về người đó’, nhưng cuối cùng không có người nào tìm ra điểm xấu của hai cô gái. Người bà-la-môn dẫn hai con mình đến chỗ Phật, Đức Phật vừa thấy liền quở :

– Hai cô gái này đều xấu xí, chẳng có gì xinh đẹp.

Tôn giả A-nan Bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Hai cô gái này rất đẹp, nhưng Ngài lại nói không, vậy có gì không đẹp?

Đức Phật nói:

– Mắt không nhìn sắc mới gọi là mắt đẹp. Tai, mũi và lưỡi cũng như thế. Thân không ham thích sự mịn màng, trơn láng, đó mới gọi là thân đẹp. Tay không lấy tài sản của người, đó mới gọi là bàn tay đẹp. Nay Ta xem xét biết hai người con gái này mắt nhìn sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, thân thích sự mềm mại, trơn láng, tay muốn lấy tài sản của người. Những người như thế đều không phải là người đẹp”.

Kinh Phật bát-nê-hoàn ghi: “Đức Phật bảo Nại nữ:

– Người ham thích quan hệ trai gái bất chính thì có năm điều tự hại:

  1. Tiếng tăm không tốt.
  2. Phạm vào pháp luật quốc gia.
  3. Lòng nhiều nghi ngờ.
  4. Chết rồi bị đọa vào địa ngục.
  5. Khi tội ở địa ngục hết tiếp tục sinh vào loài súc sinh.

Năm điều trên đây, đều do tội tham dâm mà dẫn đến kết quả như vậy”.

Người không quan hệ bất chính thì có năm điều làm tăng trưởng phúc thiện.

[134a] 1. Được nhiều người khen ngợi.

  1. Không sợ quan quyền.
  2. Thân được an ổn.
  3. Sau khi chết được sinh lên cõi trời.
  4. Tâm thanh tịnh nên đắc đạo Niết-hoàn”.
XXIII.3.4. Người nữ gian trá

Như kinh Cựu tạp dụ ghi: “Thuở xưa, có một thanh niên đẹp trai con của một gia đình giàu sang. Người ấy đúc một tượng người nữ bằng vàng rồi thưa với cha mẹ: ‘Nếu có người con gái nào giống như tượng này con mới cưới làm vợ’.

Bấy giờ, ở một nước khác cũng có một người con gái xinh đẹp không kém gì chàng thanh niên kia. Cô gái cũng đúc một tượng người nam bằng vàng rồi thưa với cha mẹ: ‘Nếu có người con trai nào giống như tượng này con mới chịu cưới làm chồng’.

Cha mẹ hai bên nghe tin như vậy mới tìm đến nhau và tác thành cho đôi trai gái này.

Bấy giờ, nhà vua cầm gương soi và hỏi các cận thần:

– Trong thiên hạ có ai đẹp như ta không?

Các cận thần tâu:

– Chúng thần nghe, ở nước kia có một người thanh niên rất đẹp không ai sánh bằng.

Vua nghe vậy liền sai sứ giả đến mời chàng trai ấy. Sứ giả tìm đến nhà chàng trai truyền lệnh:

– Nhà vua muốn gặp hiền giả.

Vâng lệnh vua, chàng thanh niên lập tức chuẩn bị xe ngựa để vào cung. Trên đường đi anh ta nghĩ: ‘Nhà vua cho ta là người hiểu biết, thông thạo mọi mặt nên mới cho người đến mời ta’. Nghĩ như vậy rồi, anh ta quay trở về nhà lấy sách, tình cờ bắt gặp người vợ đang tư thông với người ở. Anh ta vừa buồn vừa giận, vì thế trong lòng u uất, làm cho nhan sắc tiều tụy.

Sứ thần thấy thế liền nghĩ: ‘Chắc vì đi đường xa khiến anh ta bị gầy ốm’ nên đã để chàng trai tạm nghỉ lại trong tàu ngựa. Đêm đến, chàng trai bắt gặp đại phu nhân của vua tư thông với người đánh ngựa. Chứng kiến việc ấy, tâm chàng trai bừng tỉnh tự nhủ: ‘Đại phu nhân của nhà vua mà còn làm như vậy, huống chi người khác!’. Mọi ấm ức được giải tỏa, tinh thần nhẹ nhõm và cũng vì thế mà nhan sắc hồi phục như cũ.

Sau khi nhan sắc hồi phục, chàng trai vào cung yết kết vua.

Vua hỏi:

– Vì sao khanh ở lại ngoài cung ba ngày?

Chàng trai tâu:

– Trên đường thần vào cung bỗng sực nhớ để quên mấy cuốn sách, rồi quay về lấy thì tình cờ bắt gặp vợ thần đang tư thông với người ở. Thần nổi giận vì thế làm cho nhan sắc tiều tụy nên thần ở lại trong tàu ngựa ngoài cung ba ngày. Đêm qua, thần bắt gặp chính phu nhân của bệ hạ đến tư thông với người đánh ngựa. Thần cho rằng phu nhân còn như thế, huống gì người khác. Vì chứng kiến việc đó, lòng thần nhẹ nhõm, nhan sắc mới hồi phục như cũ.

Nhà vua thốt lên:

– Phu nhân của ta còn như thế, huống chi những người nữ bình thường khác?

Nói rồi, hai người bỏ tất cả cùng nhau đi vào rừng, cắt tóc làm sa-môn. Họ suy nghĩ người nữ không đáng để chúng ta kết thân rồi nỗ lực tinh tiến tu hành, cuối cùng cả hai đều chứng quả Bích-chi Phật”.

Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có một phụ nữ sinh được cô gái xinh đẹp không ai bằng. Năm lên ba tuổi, nhà vua tuyển chọn cô con gái ấy vào cung rồi gọi đạo nhân đến xem tướng.

Nhà vua hỏi:

– Sau này cô gái có thể làm phu nhân của ta không?

Người xem tướng tâu:

– Người con gái này có một người chồng rồi mới làm phu nhân của bệ hạ sau.

Vua suy nghĩ:

– Ta phải đem nó đến một nơi kín đáo, nuôi giữ cẩn mật, như thế lẽ nào lại đến sau?

Nghĩ như vậy rồi, vua liền gọi chim hạc đến và hỏi:

– Ngươi sống ở đâu?

Chim hạc tâu:

– Thần sống trên một cây lớn ở lưng chừng sườn núi Thái. Chỗ ấy, người và vật không qua lại được, bên dưới có dòng nước chảy, thuyền bè chẳng thể lưu thông.

Vua nói:

– Nay ta gởi cô gái này cho ngươi đem về nuôi.

[134b] Chim hạc liền mang cô gái về chỗ mình. Ngày ngày, nó đến cung vua lấy thức ăn về nuôi cô gái.

Trải qua một thời gian rất lâu, trên đỉnh núi Thái có một ngôi làng, bỗng nhiên một hôm bị nước lũ cuốn trôi. Trên dòng nước xuất hiện một cây lạ theo dòng trôi xuống. Một chàng trai bám được cây ấy nhưng do rơi vào dòng xoáy nên cứ bị xoay quanh. Có một cây bồ đào từ dòng suối mọc thẳng, cao vút tựa vào sườn núi, chàng trai bám theo cây bồ đào lần tìm đến được cây mà chim hạc ở rồi tư thông với cô gái ấy. Cô gái đem giấu chàng trai. Chim hạc biết thân thể của cô gái này ngày càng nặng hơn, nên đi khắp núi tìm kiếm và bắt giết chàng trai. Sau đó, chim hạc đem việc này tâu lên vua.

Vua nói:

– Trước đây đạo nhân đã xem tướng, người đoán thật đúng!”

Luận rằng: “Người có oán nghiệp đời trước, không thể dùng sức cưỡng lại, gặp lại liền thành. Loài súc sinh cũng giống như vậy”.

Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có một vị vua nọ giữ các phu nhân thể nữ rất nghiêm. Một hôm, chính phu nhân của vua nói với thái tử:

– Từ khi sinh con ra đến nay mẹ chưa được một lần nhìn ngắm giang sơn, mẹ muốn ra ngoài đi dạo một lần. Con có thể xin vua cha giúp mẹ không?

Phu nhân thúc giục thái tử nhiều lần như thế. Thái tử tâu với vua cha, nhà vua liền đồng ý. Thái tử đánh xe đưa mẹ đi. Quần thần hai bên đường nghinh đón, vái chào. Phu nhân đưa tay vén tấm màn, cố ý để mọi người nhìn thấy nhan sắc của mình. Thái tử thấy mẹ mình làm như thế, liền giả vờ đau bụng rồi đánh xe trở về. Phu nhân than:

– Còn nhiều người chưa biết vẻ đẹp của ta!

Thái tử thầm nghĩ: ‘Mẹ của ta còn như thế, huống gì những người khác!’

Nghĩ rồi, đêm đó thái tử rời hoàng cung, vào rừng ngao du sơn thủy. Trên đường đi, tình cờ thái tử thấy bên đường có một cây lớn, phía dưới có con suối. Thái tử trèo lên cây nhìn thấy một vị Phạm-chí lội xuống suối tắm rửa, rồi lên ăn cơm. Sau đó, Phạm chí lại làm phép nhả ra một bình hồ lô, trong bình ấy có một người nữ, rồi họ cùng nhau vui vẻ trong một phòng kín. Khi Phạm chí đi ngủ, người nữ kia cũng nhả ra một bình hồ lô giống như vậy, bên trong hồ lô lại có một chàng trai và người nữ lại ăn nằm với chàng trai đó. Nằm xong, cô ta nuốt bình hồ lô trở lại. Khi Phạm chí thức dậy, đem người phụ nữ đặt trong bình hồ lô rồi nuốt vào bụng, chống gậy đi.

Thái tử trở về nước xin vua cho mời Phạm chí và các vị cận thần đến. Lại sai người làm một bữa cơm cho ba người ăn, rồi để qua một bên. Phạm chí đi đến thấy mâm cơm có ba phần ăn liền nói:

– Tôi chỉ đến một mình.

Thái tử nói:

– Này Phạm chí! Ông hãy gọi vợ mình ra cùng ăn. Phạm chí bất đắc dĩ phải đem vợ ra.

Thái tử lại nói với người vợ của Phạm chí:

– Bà cũng nên gọi chồng mình ra để cùng ăn.

Thái tử bảo ba lần như thế, bất đắc dĩ bà ta mới mang chàng trai ra để ăn chung. Ba người ăn xong liền bỏ đi.

Vua hỏi thái tử:

– Vì sao con biết được chuyện này?

Thái tử tâu:

– Khi trước, con đánh xe đưa mẹ đi dạo trong nước, mẹ đã vén tấm màn, cố ý để cho mọi người nhìn thấy mẹ. Lúc ấy, con chợt nghĩ người nữ phần nhiều thích dâm dục. Vì thế, con đã giả vờ đau bụng và đánh xe về. Sau đó, vì chán nản con bỏ vào núi đi dạo thì tình cờ thấy được việc Phạm chí giấu người phụ nữ trong bụng. Người nữ là như thế đó, họ dâm dục không bao giờ dừng. Cúi xin đại vương trả tự do cho tất cả cung nữ để họ tùy ý muốn đi đâu thì đi.

Vua chấp nhận thỉnh cầu của thái tử, ra lệnh cho hậu cung:

– Người nào muốn đi thì cứ tùy ý!”

[134c] Luận nói: “Người không đáng tin trong thiên hạ chính là người nữ!”

Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có một người nhà giàu nọ, thường giữ kín vợ mình không cho bất cứ ai trông thấy. Người vợ mới sai người hầu đào một đường hầm rồi tư thông với người thợ bạc. Sau đó, bà bị người chồng phát hiện, người vợ nói:

– Đời thiếp chưa bao giờ quan hệ bất chính, chàng chớ đổ oan cho thiếp!

Người chồng nói:

– Ta không tin nàng, ta sẽ đưa nàng đến chỗ cây thần để nàng thề.

Người vợ nói:

– Được thôi!

Sau đó, người chồng trì trai bảy ngày. Khi chồng mới vào thất, người vợ liền lén nói với người thợ bạc: ‘Chàng hãy giả làm một người điên ra chợ xin ăn, khi gặp thiếp ở giữa đám đông chàng làm bộ ôm chầm, lôi kéo và vuốt ve, đùa giỡn’.

Người chồng trì trai bảy ngày xong, liền dẫn người vợ đi đến chỗ cây thần.

Người vợ nói:

– Từ hồi nào tới giờ thiếp chưa biết chợ, chàng có thể dẫn thiếp đi ngang qua chợ một lần không? Người chồng chiều ý vợ dẫn cô ta đi ngang qua chợ. Như kế hoạch đã định, vừa thấy cô ta người thợ bạc liền đến ôm chầm, vuốt ve và giả điên nằm lăn ra trên đất. Người vợ liền trách chồng:

– Tại sao chàng lại để người này ôm lấy thiếp?

Người chồng nói:

– Đó là người điên, nàng đừng để bụng!

Rồi hai vợ chồng dẫn nhau đến chỗ cây thần. Người vợ cúi đầu thề:

– Đời tôi chưa bao giờ làm chuyện gì xấu, nhưng nay lại bị người điên kia ôm.

Nhờ thế mà người vợ được thoát tội. Người chồng thì chỉ biết im lặng, lấy làm xấu hổ.

Đức Phật nói:

– Nên biết, tất cả người nữ gian trá như thế, thật không đáng tin”.

Luật Thập tụng ghi: “Đức Phật ở nước Xá-vệ, bấy giờ có người thuộc dòng dõi bà-la-môn sinh được một người con gái rất xinh đẹp, đặt tên là Diệu Quang.

Thầy tướng nói: ‘Đứa bé này về sau sẽ hành dâm với năm trăm người nam’. Chuyện này mọi người đều biết.

Năm đứa bé mười hai tuổi, nhưng vẫn chưa có ai xin hỏi cưới. Bấy giờ, có một người lái buôn gần nhà vị bà-la-môn kia, người lái buôn này thường ra biển tìm châu báu, ít khi ở nhà. Một hôm, ông đang ở trên lầu, từ xa trông thấy cô gái lập tức lòng dục nổi lên, ông hỏi những người xung quanh:

– Cô gái kia con ai ?

Mọi người đáp:

– Là con gái của người bà-là-môn đó.

Người lái buôn hỏi tiếp:

– Cô ấy có chồng chưa?

Đáp: Chưa.

Người lái buôn lại hỏi:

– Có ai cầu hôn chưa?

Đáp: Chưa có ai cầu hôn.

Người lái buôn ngạc nhiên hỏi:

– Vì sao không ai chịu cầu hôn?

Mọi người đồng thanh nói:

– Thầy tướng tiên đoán: ‘Cô gái này về sau thế nào cũng sẽ hành dâm với năm trăm người đàn ông’. Vì thế mãi cho đến nay vẫn không có ai dám cầu hôn với cô ta.

Lúc ấy, người lái buôn liền nghĩ: ‘Nhà ta ngoài hàng sa-môn Thích tử ra không có ai đến’. Nghĩ vậy rồi, ông liền đến nhà người bà-la-môn xin cưới cô gái ấy. Cô gái về nhà chồng chưa bao lâu thì người lái buôn lại cùng các thương buôn khác chuẩn bị đi biển. Trước khi đi, ông gọi người giữ cửa đến và dặn:

– Ta sắp đi biển, ngươi chớ để bất cứ người nam nào vào nhà tùy tiện, trừ hàng sa-môn Thích tử. Vì hàng sa-môn Thích tử không bao giờ làm điều sai trái.

Người giữ cửa thưa:

– Xin vâng!

Người lái buôn đi rồi, cũng như thường lệ các tì-kheo vẫn đến nhà ấy khất thực. Vợ của người lái buôn thấy các vị sa-môn liền nói:

– Hãy quan hệ với tôi!

Các tì-kheo không biết vì sao cô ta lại nói như vậy, mới đem việc ấy hỏi Phật.

Đức Phật dạy:

– Nhà ấy chắc chắn có người bất chính, các ông chớ đến đó nữa.

Vợ của người lái buôn về sau mắc bệnh và đã qua đời vào lúc nửa đêm. [135a] Người trong nhà đem tất cả đồ trang sức của cô bỏ cùng với tử thi rồi khiêng ra bãi tha ma.

Bấy giờ, có năm trăm tên cướp đi ngang qua nơi ấy, họ trông thấy thi thể cô gái chợt lòng dục nổi lên, rồi họ thay nhau hành lạc trên xác chết cô gái.

Do người nữ đó trước kia mời các sa-môn, bà-la-môn hành dâm với mình, nên nay bị đọa vào đường ác. Cô ta đã sinh đến phương bắc của nước ấy làm con rồng cái tên là Tì-ma-đạt-đa”.

Bài kệ Chính báo:

Tà dâm chịu ngục hình,

Lên núi đao, rừng kiếm,

Sắt nung đóng vào miệng,

Đồng sôi rót vào tim,

Rồng độc nghiền xương tủy,

Chuột sắt cắn thân hình,

Ôm cột đồng lên xuống,

Nằm giường sắt tối tăm.

Bài tụng về Tập báo:

Tham dâm loạn thân tâm,

Chịu khổ trong lẫn ngoài,

Nếu còn được làm người,

Thì vợ thường phản bội,

Luôn nghi ngờ lẫn nhau,

Không ai chịu nhường ai,

Người có chút tính linh,

Sao chẳng biết hổ thẹn.

XXIII.4. Nói lời giả dối

Người sinh ra trong cõi đời, gặp phải thời ô trược; đã mang thân giả tạm, còn ở trong thế giới phù hư. Vì thế, ý nghĩ không thật, đặt điều vu khống, lòng đầy dẫy mê hoặc, điên đảo nghịch lòng; trái lý, lời nói giả dối, mê hoặc mọi người, làm cho họ hiểu sai, dẫn đến muôn khổ bủa vây, trăm lo dằn vặt. Nếu người gieo nhân hư dối thì gặt quả hèn hạ, địa ngục đã quá khổ lại thêm nước sôi, tro nóng. Do nói dối phải gặp quả báo không hiểu chính pháp, chẳng biết giả-thật.

Bài kệ kinh Chính pháp niệm ghi:

Người nói năng dối trá,

Làm khổ não chúng sinh,

Họ là người ngu si,

Dù sống cũng như chết.

Dao lời tự cắt lưỡi,

Làm sao lưỡi khỏi rơi!

Luôn nói lời dối trá,

Thì mất hết công đức,

Người nói lời giả dối,

Trong miệng có rắn độc.

Dao ở ngay trong miệng,

Thêm lửa dữ cháy bừng,

Độc trong miệng thật độc,

Độc của rắn chẳng bằng.

Miệng độc, hại chúng sinh,

Chết rồi đọa địa ngục,

Người nói lời dối trá,

Trong miệng mủ tuôn hoài.

Lưỡi khác gì bùn dơ,

Cũng giống như lửa dữ,

Nếu ai nói xấu người,

Thì hay bị khinh chê,

Người tốt thường lánh xa,

Trời cũng không ủng hộ,

Thường ganh tị với người,

Cũng ghét bỏ chúng sinh,

Rồi tìm cách não loạn,

Nhân đó vào địa ngục.

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi:

Nếu lại có người,

Thường hay nói dối,

Sẽ bị quả báo,

Răng thưa miệng méo.

Dù có nói thật,

Người cũng không tin,

Ai cũng oán ghét,

Thấy mặt chẳng ưa,

Là quả hiện tại.

Đã gây nghiệp ác,

Sau khi chết rồi,

Rơi vào địa ngục,

Chịu vô lượng khổ,

Đói khát, nóng bức,

Là quả vị lai.

Đã gây nghiệp ác,

Nếu được làm người,

Miệng bị méo lệch,

Tuy có nói thật,

Người cũng không tin,

Người không thích nhìn.

Hoặc nói chính pháp,

Cũng không ai nghe,

Người làm việc ác,

Do sức nghiệp duyên,

Tất cả vật dụng,

Đều bị thiếu thốn.

Qua đây, chúng ta biết rằng người nói dối nhất định phải chịu quả khổ trong ba đời.

Kinh Thiền bí yếu ghi: “Bốn chúng đệ tử của Phật, người nào vì lợi dưỡng tham cầu không biết chán, vì thích tiếng tăm mà giả dối làm ác, thật chẳng tu hành, thân miệng phóng túng, hành động tùy tiện, vì tham cầu lợi dưỡng mà nói ta tọa thiền… thì người ấy phạm Thâu-lan-giá. Nếu tì-kheo có tội mà không chịu phát lồ, cũng không tự mình sửa đổi, dù chỉ che giấu chốc lát cũng đã phạm tội tăng tàn[75]. Nếu che dấu một ngày đến hai ngày, phải biết tì-kheo này chính là giặc, là la-sát trong loài người, sau này nhất định đọa vào đường ác và phạm tội nặng.

Nếu tì-kheo, tì-kheo ni thật chẳng thành tựu được phép quán xương trắng mà tự cho mình đã thành tựu, cho đến nói thành tựu được phép quán sổ tức thì người này đã dối gạt mê hoặc trời, rồng, quỉ thần v.v… Bọn người ác ấy là dòng họ ma Ba-tuần[76], vì đã nói dối. Nếu họ nói: ‘Ta chứng đắc được phép quán bất tịnh[77], cho đến phép quán đỉnh [78], [135c] thì sau khi chết, họ liền đọa vào địa ngục A-tỳ. Ở trong địa ngục trải qua một kiếp, ra khỏi địa ngục rơi vào ngạ quỉ, trải qua thời gian tám trăm năm phải nuốt hoàn sắt nóng. Chịu khổ trong ngạ quỉ xong, lại đọa vào súc sinh, thân thường mang nặng chở nhiều, khi chết bị lột da xẻ thịt, trải năm trăm đời rồi mới được sinh lại làm người. Khi làm người thân thường mắc bệnh đui mù, câm ngọng, tàn tật đủ điều, chịu tất cả khổ như thế không thể kể xiết”.

Kinh Chính pháp niệm ghi:

Cam lộ hay độc dược,

Đều từ lưỡi mà ra,

Cam lộ là lời thật,

Độc dược là lời gian.

Nếu người cầu cam lộ,

Thì nên nói lời thật.

Nếu ai muốn độc dược,

Thì cứ nói chua ngoa.

Thuốc độc không giết người,

Nói dối ắt sẽ chết,

Như người luôn nói dối,

Thì giống như người chết.

Nói dối không lợi mình,

Lại càng không lợi người,

Mình và người không vui,

Cớ sao phải gian dối.

Nếu thật là người ác,

Thích nói lời dối gian,

Sẽ rơi trên đao lửa,

Khổ não vô cùng tận.

Độc hại tuy rất ghê,

Nhưng chỉ hại một thân,

Nghiệp ác của vọng ngữ,

Sẽ hại trăm nghìn đời.

Kinh Phật thuyết Tu-lại[79] ghi: “Đức Phật dạy: Nói dối không những tự lừa dối chính mình mà còn dối người. Người nói dối mắc quả báo thân thể hôi hám, lời nói và tâm ý của họ trái ngược nhau, làm cho tâm luôn bất an. Người nói dối lại mắc quả báo miệng hôi hám, thân hình xấu xí, thiên thần xa lánh. Người nói dối là tự đánh mất tất cả các thiện căn, bản thân mê muội quên mất đường lành. Vì thế, người nói dối là gốc của tất cả các việc ác, đoạn dứt hạnh lành và cuộc sống tĩnh lặng”.

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vua Diêm-la nói kệ quở trách tội nhân:

Lời thật được an vui,

Lời thật được niết-bàn,

Lời dối sẽ khổ đau,

Đời này và đời sau.

Nếu không bỏ nói dối,

Thì sẽ bị khổ đau.

Lời thật không cần mua,

Thật dễ được, chẳng khó,

Cũng không từ đâu đến,

Lại chẳng cầu xin ai,

Cớ sao phải xa lìa,

Ưa thích lời dối trá.

Người nói lời không thật,

Ấy là nhân địa ngục.

Nhân xưa vốn đã làm,

Than van có ích chi.

Lửa vọng ngữ mạnh nhất,

Thiêu đốt cả biển khơi,

Huống là đốt kẻ dối,

Giống như đốt cỏ cây.

Nếu người không nói thật,

Mà luôn nói dối gian,

Người ngu si như thế,

Bỏ ngọc ngà, ôm đá.

Nếu người không thương mình,

Mà thích vào địa ngục,

Lửa vọng ngữ nơi thân,

Lập tức đốt cháy hình,

Lời thật rất dễ được,

Trang nghiêm cho mọi người,

Mà lại bỏ lời thật,

Vì ngu, đến chỗ này.

Luận Đại trí độ ghi:

Lời thật là bậc nhất,

Là nấc thang lên trời,

Lớn nhỏ đều như nhau,

Nói dối địa ngục vào.

Luận Tát-bà-đa ghi: “Người không nói dối, khi thuyết pháp, luận nghị, dẫn giải nếu gặp những vấn đề không phân định được là phải hay trái thì không được tự cho mình là đúng mà phải chí thành học người, như vậy mới không mắc lỗi. Còn không thì cũng giống như búa nằm trong miệng”.

Luật Thập tụng ghi: “Như người cao sang quý phái, mà cho là hạng bần cùng hèn hạ, như người hai mắt cho là một mắt… tất cả những cách nói như thế đều gọi là vọng ngữ. Hoặc nói với người một mắt: ‘Ngươi là kẻ mù’… đều mắc tội khinh thường xúc phạm người khác”.

Chính báo tụng ghi:

Nói dối gạt gẫm người,

Địa ngục chịu tội khổ,

Cưa nóng xé thân hình,

Sắt đỏ cày trên lưỡi,

Đồng sôi lại rưới vào,

Chùy sắt nghiến tan thây,

Xương cốt nát đớn đau,

Kêu rên mãi chẳng ngừng.

Tập báo tụng ghi:

Nói dối đọa ba đường,

Chịu tội nơi ấy rồi,

Nghiệp còn, sinh làm người,

Bị chê bai buồn khổ,

Lại còn bị dối gạt,

Nóng giận như lửa đốt,

Người trí chẳng trách ai,

Vì biết rõ nhân quả.

XXIII.5. Nói lời hung ác

Ngọn lửa giận hờn của hàng phàm phu lúc nào cũng hừng hực, hễ gặp điều kiện liền bùng cháy, vấp phải nghịch cảnh liền nổi giận. Vì thế, chúng sinh hễ buông lời liền giận dữ, mở miệng đốt cháy lòng, làm tổn thương người khác, đau đớn hơn dao cắt. Người nào nói ra những lời lẽ như thế thì trái với thiện tâm của bồ-tát, ngược với lời dạy từ ái của Đức Phật.

Kinh Nghiệp báo sai biệt[80] có bài kệ:

Lời nói xúc não người,

Bới móc chuyện riêng tư,

Ngang bướng khó điều phục,

Làm quỉ đói ngậm lửa.

Luận Đại trí độ ghi: “Có một con quỉ đói, đời trước nó làm người, thường nói năng thô lỗ và hay dùng lời ác mắng nhiếc chúng sinh. Chúng sinh oán ghét người này, xem như kẻ thù. Vì nghiệp nói lời thô ác ấy nên sau khi chết người ấy bị đọa vào trong loài quỉ đói này”.

Kinh Pháp cú[81] ghi: “Dù làm sa-môn nhưng nếu không giữ thân, miệng mà cứ nói lời thô lỗ, làm tổn thương nhiều người, người ấy chẳng những không được mọi người kính mến mà những bậc có trí tuệ cũng không thương xót. Sau khi chết thần thức người ấy quanh quẩn mãi trong ba đường, sinh rồi chết, chết rồi sinh, chịu khổ vô cùng. Lại cũng chẳng được Phật và các bậc hiền thánh thương xót. Nếu chúng sinh dù thân không có lỗi, nhưng do không giữ gìn cẩn thận khẩu nghiệp thì cũng bị đọa vào đường ác”.

Luận ghi: “Bấy giờ có một con quỉ, đầu của nó giống như đầu heo, dòi từ trong miệng bò ra nhưng toàn thân lại có ánh sáng sắc vàng rực rỡ. Con quỉ này đời trước là một tì-kheo, vì dùng lời lẽ thô ác mắng nhiếc tì-kheo khác nên mắc quả báo bị trùng từ trong miệng bò ra, lại nhờ giữ giới nên thân có ánh sáng sắc vàng rực rỡ”.

Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thà dùng kiếm bén cắt đứt lưỡi mình, chớ đừng bao giờ nói lời thô lỗ mắng chửi, để phải bị đọa vào ba đường”.

Kinh Hộ khẩu ghi: “Vào thời quá khứ, có Đức Phật Ca-diếp xuất hiện ở đời, giảng nói giáo pháp. Khi việc giáo hóa đã hoàn mãn, Ngài vào cảnh giới Vô dư Niết-bàn. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, có một vị tam tạng tì-kheo, tên là Hoàng Đầu. Chúng tăng nói với Hoàng Đầu: ‘Tất cả các việc vụn vặt thầy khỏi phải làm, chỉ xin thầy lo giảng dạy diệu pháp cho hàng hậu học’.

Bấy giờ, tì-kheo Tam Tạng trong lòng khinh miệt nhưng không thể làm trái mệnh lệnh của tăng, bất đắc dĩ Hoàng Đầu phải diễn giảng nghĩa kinh cho hàng hậu học, nhưng trong lúc giảng kinh, ông lại gọi người học: ‘Kẻ đầu voi kia hãy tiến nhanh về phía trước!’. Cứ như thế lần lượt ông gọi người khác là đầu ngựa, đầu lạc đà, đầu heo, đầu dê, đầu sư tử, đầu hổ. Ông gọi những người nghe pháp bằng tên các loài thú như thế nhiều không sao kể hết.

Tuy Hoàng Đầu giảng dạy kinh điển, nhưng ông cũng không khỏi tội ấy. Sau khi qua đời, ông bị đọa vào địa ngục, [136c] trải qua mấy nghìn vạn kiếp chịu khổ vô cùng. Tội báo chưa hết nên từ địa ngục sinh vào trong biển lớn mang thân của loài ở nước. Một thân có một trăm đầu, hình thể to lớn vô cùng. Các loài khác trông thấy nó đều tránh xa”.

Kinh Xuất diệu[82] ghi: “Thuở xưa khi Đức Phật còn ở đời, tôn giả Mãn Túc đi vào cảnh giới ngạ quỉ, gặp một con quỉ hình thù xấu xí, ai thấy cũng phải rợn người kinh hãi. Thân nó tự nhiên bốc cháy phừng phừng giống như một đống lửa lớn, dòi trong miệng bò ra, máu mủ chảy tràn ra ngoài, hôi thối không sao đến gần được. Hoặc miệng nó phát ra lửa phun xa mười mấy trượng hoặc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và các chi phóng ra lửa dữ xa mười mấy trượng. Môi miệng của nó lòng thòng giống như lợn rừng, thân lại dài rộng một do tuần. Nó lấy tay tát vào mặt rồi gào khóc thảm thiết, chạy rảo từ đông sang tây.

Tôn giả Mãn Túc thấy thế mới hỏi:

– Ngươi đã gây ra tội nghiệp gì mà nay phải chịu quả khổ này?

Quỉ đói thưa:

– Xưa kia tôi xuất gia, vì luyến tiếc phòng ốc, tham lam không xả bỏ; ỷ mình thuộc dòng dõi quý tộc nói năng thô lỗ, độc ác. Nếu thấy tì-kheo giữ giới, nỗ lực tu hành thì lại nhục mạ, hoặc trề môi, nheo mắt, hoặc nói ngược, nói xuôi, vì những nguyên nhân đó mà phải chịu quả báo khổ sở này.

Thế nên, thà lấy dao bén tự cắt đứt lưỡi mình trải qua nhiều kiếp chịu khổ, chớ đừng bao giờ mắng chửi, chê bai tì-kheo nỗ lực tu hành, giữ giới nghiêm mật.

Quỉ đói lại thưa với ngài Mãn Túc:

– Khi tôn giả trở về nhân gian nên đem hình ảnh của tôi mà răn nhắc các tì-kheo, khuyên mọi người nên giữ gìn lỗi lầm của miệng, chớ nói lời hư dối. Nếu thấy có người giữ giới thì nên khen ngợi công đức của người đó. Từ khi tôi mang thân quỉ đói này đến nay đã trải qua mấy nghìn vạn năm, luôn luôn chịu khổ sở như thế này. Vừa bỏ thân này thì ngay lập tức đọa vào địa ngục.

Quỉ đói nói như vậy rồi gào khóc thảm thiết và gieo mình xuống đất như núi Thái sụp đổ, như trời long đất lở”.

Những quả báo như thế đều do lỗi của miệng gây ra!

Kinh Bách duyên ghi: “Có người vợ của một ông trưởng giả, khi mang thai thân thể hôi hám không ai có thể đến gần. Đến kỳ khai hoa nở nhụy bà sinh ra một bé trai giống như bộ xương, gầy còm không ai dám nhìn; phân tiểu chảy ra khắp thân. Đứa bé mỗi ngày một lớn, nhưng nó không muốn ở nhà chỉ thích ăn phân nhơ, không cách nào bỏ được. Cha mẹ và những người thân đều chán ghét không muốn thấy nó nên cho nó ở riêng trong một ngôi nhà cách họ rất xa. Được tự do ở bên ngoài, đứa bé tha hồ mà ăn phân. Mọi người thấy vậy, gọi nó là Đạm-bà-la. Sau đó, đứa bé gặp được Phật xuất gia, tu hành chứng quả A-la-hán.

Nhân duyên là vào thời Phật Câu-lưu-tôn, đứa bé xuất gia, trụ trì một ngôi chùa. Bấy giờ, có Phật tử tại gia cúng dầu thơm để chúng tăng xoa thân sau khi tắm rửa. Trong chúng tăng có một vị đã chứng quả A-la-hán, vị trụ trì thấy vậy liền nổi giận mắng vị a-la-hán: ‘Ông là người xuất gia mà còn dùng dầu thơm xoa thân thể, [137a] thì chẳng khác gì dùng phân người bôi lên thân’.

A-la-hán cảm thương vị trụ trì nên thị hiện thần thông. Vị trụ trì thấy thế liền thành khẩn sám hối, mong trừ diệt được tội chướng.

Vì tạo nghiệp ác mắng chửi như thế nên vị trụ trì phải mắc quả báo trải qua năm trăm đời thân thường bị hôi thối, không ai dám gần gũi, nhưng nhờ thuở xưa xuất gia và đã tha thiết sám hối với vị a-la-hán nên nay được gặp Phật xuất gia chứng đắc đạo quả. Vì thế chúng sinh nên giữ gìn khẩu nghiệp, chớ có mắng chửi, nhục mạ người”.

Kinh Hiền ngu ghi: “Khi Phật còn tại thế, có lần Ngài cùng với các tì-kheo trên đường đi về thành Tì-xá-li, đến sông Lê-việt, Ngài thấy những ngư phủ bắt được một con cá có một trăm cái đầu và có tới năm trăm người cùng nhau kéo con cá lên bờ nhưng không sao kéo đựơc. Bấy giờ, có năm trăm người chăn bò bên bờ sông, họ đều thả bò và cùng nhau phụ kéo. Nhờ sức của một nghìn người hợp lại mới kéo được con cá lên bờ. Thấy con cá quái lạ, mọi người tranh nhau đến xem. Phật và các tì-kheo cũng đến. Đức Phật liền hỏi:

– Ngươi có phải là Ca-tì-lê không?

Con cá đáp:

– Thưa phải.

Ngài lại hỏi:

– Thầy của ngươi hiện đang ở đâu?

Con cá đáp:

– Thầy tôi đã bị đọa vào địa ngục A-tì rồi.

Lúc ấy, tôn giả A-nan chứng kiến và nghe qua câu chuyện, lấy làm lạ mới thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn! Chuyện này là thế nào?

Phật bảo A-nan:

– Thuở xưa khi Phật Ca-diếp ra đời, có một người dòng dõi bà-la-môn, người này sinh được một người con trai, đặt tên là Ca-tì-lê. Ca-tì-lê thông minh, học rộng, nghe nhiều bậc nhất. Sau khi cha Ca-tì-lê qua đời, người mẹ hỏi:

– Nay con đã là bậc cao minh, thế gian này có ai biện luận thắng con không?

Người con thưa:

– Hàng sa-môn rất giỏi, con có nghi ngờ gì đến hỏi họ, họ đều giải thích cho con hiểu rõ. Ngược lại, nếu họ hỏi con, con không sao trả lời được.

Người mẹ hỏi con:

– Làm thế nào con có thể học được pháp của họ?

Người con thưa:

– Nếu muốn học pháp của họ thì phải là sa-môn. Chúng ta là hàng bạch y làm sao có thể học được?

Người mẹ bảo con:

– Nay con tạm giả làm sa-môn để học pháp của họ, khi nào học thành sẽ trở về nhà.

Người con nghe theo lời mẹ dạy giả làm tì-kheo. Trải qua một thời gian ngắn, người con học thông cả tam tạng và hoàn tục trở về nhà.

Người mẹ lại hỏi:

– Bây giờ con biện luận thắng họ chưa?

Người con thưa:

– Vẫn chưa thắng được họ.

Người mẹ lại bảo con:

– Từ nay trở về sau, mỗi khi đàm luận với họ, nếu không thắng thì con quay sang chửi mắng, làm như thế con sẽ thắng được họ. Người con nghe theo lời mẹ dặn. Sau đó, người con đàm luận với các tì-kheo bị thua, nhớ lời mẹ dặn, liền quay sang mắng các tì-kheo: ‘Các ông là những sa-môn ngu đần, không hiểu biết, đầu các ông như đầu thú’. Thế rồi, người con dùng đến cả trăm đầu thú để so sánh mắng chửi các tì-kheo. Do trước kia người con mắng nhiếc các tì-kheo như vậy nên nay mắc quả báo phải mang thân cá, một thân có một trăm đầu, đủ tất cả các loại đầu của các loại cầm thú như: đầu lạc đà, đầu lừa, đầu bò, đầu ngựa, đầu heo, đầu dê, đầu chó v.v…

Tôn giả A-nan hỏi Phật:

– Đến khi nào người con kia mới thoát khỏi thân cá này?

[137b] Đức Phật bảo A-nan:

– Trong kiếp Hiền, khi một nghìn Đức Phật xuất hiện và nhập diệt hết rồi kẻ ấy vẫn không thoát khỏi thân cá này.

Thế nên, mọi người phải hết sức thận trọng đối với ba nghiệp thân, khẩu và ý”.

Truyện về hành trình của Vương Huyền Sách ghi: “Khi còn ở đời, có lần Đức Phật đi đến thành Tì-da-lê, Ngài quán sát thấy tất cả chúng sinh chịu nhiều khổ não nên muốn cứu độ. Ngài lại thấy trong nước kia có hai nhóm Kê-việt-trá[83], tổng cộng năm trăm người đánh được một con cá lớn Ma-kiệt ở sông Bà-la-câu-mạt-để. Con cá có một trăm linh tám đầu, ba mươi sáu con mắt. Nó có nhiều đầu, hình thù giống với đầu của nhiều loại thú khác nhau như đoạn trước đã mô tả. Đức Phật nói pháp cho con cá nghe, cá liền xả báo thân ngay lúc đó và được sinh lên trời làm thiên tử. Sau đó, cá quán sát biết thân trước mình là một con cá lớn, nhờ nghe Phật thuyết pháp mà được sinh lên trời, nó mang tất cả các thứ hoa, hương, chuỗi ngọc, châu báu cõi trời trở lại nhân gian, đến cúng dường Phật. Bấy giờ, hai nhóm Kê-việt-tra chứng kiến đều sám hối lỗi lầm. Họ cùng nhau tiến về hướng bắc cách sông Bà-la-câu-mạt-để hơn một trăm bước đốt lưới, thiêu cá, lại dùng bình bằng đồng đựng hết tro tàn và chôn cất kĩ lưỡng. Đồng thời, họ xây dựng một ngôi bảo tháp ngay trên chỗ đức Phật đã nói pháp và dựng một bức tượng cao lớn cho đến nay vẫn còn. Tháp ấy được xây dựng đúng như pháp cho nên ai thấy cũng hài lòng”.

Kinh Bách duyên ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, bấy giờ vợ của vua Ba-tư-nặc là hoàng hậu Mạt-lợi phu nhân sinh được một công chúa tên là Kim Cương. Kim Cương vô cùng xấu xí, da dẻ sần sùi như da rắn; đầu tóc thô cứng như đuôi ngựa. Vua thấy vậy không vui, ra lệnh giam ở thâm cung không cho ra ngoài. Công chúa ngày một lớn và đã đến tuổi lấy chồng. Vì thế, vua sai một đại thần: ‘Khanh hãy đi tìm một người trước đây vốn thuộc dòng họ giàu có nhưng nay bị nghèo thiếu rồi dẫn người đó đến gặp trẫm’. Vị đại thần vâng lệnh vua tìm được một người như thế liền dẫn đến gặp vua.

Vua đưa người ấy đến chỗ vắng rồi nói nhỏ:

– Trẫm nghe khanh sinh ra trong dòng họ giàu có nhưng nay lâm vào cảnh nghèo thiếu, trẫm có một đứa con gái rất xấu xí, nếu khanh bằng lòng cưới nó làm vợ trẫm sẽ cung cấp tiền bạc châu báu cho khanh.

Người nghèo khổ liền quỳ xuống tâu vua:

– Giả sử đại vương ban cho thần một con chó, thần còn không dám trái ý, huống chi được đại vương ban cho thần con gái cưng của phu nhân Mạt-lợi!

Vua liền cử hành lễ cưới cho anh ta. Đồng thời cho xây dựng ngôi nhà có bảy lớp cửa và dặn người con rể: ‘Con phải giữ khoá cửa, khi ra lúc vào nhớ khoá thật kĩ, chớ để người khác trông thấy con gái trẫm’. Nhà Vua lại xuất tiền tài, vật báu cung cấp cho con rể, không để cho nó thiếu thốn thứ gì và phong cho làm đại thần.

Một thời gian sau, các nhà giàu có trong nước cùng nhau tổ chức yến tiệc. Theo quy định khi tham dự đại hội mỗi người phải dắt vợ đi cùng, nên tất cả mọi người ai cũng dắt vợ theo, riêng vị đại thần kia chỉ đến một mình. Mọi người lấy làm lạ và cho rằng: ‘Vợ của anh ta, hoặc là rất đẹp, hoặc là quá xấu, nên không dám xuất hiện trước mọi người vì thế chẳng đến dự hội’.

Đại hội hoàn mãn, mọi người cùng nhau phục rượu vị đại thần kia đến say, lăn ra ngủ. Họ tìm lấy chìa khoá cửa trong người anh ta rồi cử năm người đến nhà vị ấy xem thực hư thế nào. Khi năm người đến mở cửa nhà vị đại thần, người vợ đoán biết không phải chồng mình, [137c] nàng tự trách, buồn bã thầm nghĩ: ‘Đời trước ta tạo tội gì mà bị chồng giam cầm không thấy mặt trời, mặt trăng thế này?’. Nghĩ như vậy rồi, cô ta liền vọng hướng về Phật chí tâm đỉnh lễ và nguyện: ‘Xin Phật từ bi đến chỗ con, cứu giúp khổ nạn cho con!’. Phật biết ý nguyện của công chúa, Ngài bỗng từ dưới đất hiện ra trước công chúa. Ngài hiện tóc xanh, công chúa ngẩng đầu nhìn thấy đầu tóc của Phật sinh lòng tôn kính, vui mừng, vì thế, tóc của công chúa tự nhiên xanh óng. Dần dần Phật cho công chúa thấy mặt, công chúa càng vui vẻ hơn, nhờ vậy mặt mũi của công chúa tự nhiên xinh đẹp lạ thường; làn da sần sùi cũng tự nhiên biến mất. Cuối cùng Phật hiện toàn thân, công chúa nhìn thấy vui mừng vô cùng, vì thế mà thân thể trở nên đẹp, không khác gì tiên nữ.

Bấy giờ, Đức Phật nói các pháp yếu cho công chúa nghe. Nghe xong, công chúa liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Sau khi Đức Phật đi, năm người kia mở cửa vào nhà trông thấy một cô gái xinh đẹp tuyệt trần. Xem xong họ khóa cửa lại, trở về và để chìa khoá vào chỗ cũ.

Sau khi tỉnh rượu, người chồng trở về nhà, trông thấy vợ mình tự nhiên đẹp đẽ lạ thường. Anh ta vô cùng vui vẻ và hỏi vợ:

– Nàng là ai?

Người vợ trả lời:

– Thiếp là vợ của chàng đây.

Người chồng nói:

– Trước kia nàng xấu xí, vì sao nay lại đẹp đẽ thế này?

Người vợ trình bày lại mọi việc đã xảy ra cho chồng biết, rồi nói với chồng:

– Thiếp muốn gặp vua cha. Chàng hãy giúp thiếp thưa với phụ vương.

Người chồng vào cung tâu với vua:

– Nay công chúa muốn đến ra mắt bệ hạ.

Vua nói với con rể:

– Đừng bao giờ đề cập đến việc này! Hãy mau mau giam vợ ngươi lại, chớ để nó ra ngoài.

Người con rể tâu với vua cha:

– Nương tử của con nhờ oai thần của Phật mà nay được đẹp đẽ chẳng khác gì tiên nữ.

Vua nghe như thế liền sai người đến đón con gái mình về cung. Thấy con xinh đẹp lạ thường, vua vui sướng vô cùng.

Sau đó, vua dẫn công chúa đến gặp Phật và bạch:

– Không biết công chúa đời trước gieo trồng phúc đức gì mà được sinh vào dòng họ giàu sang, nhưng lại xấu xí như thế?

Đức Phật nói:

– Vào thời quá khứ, ở nước Ba-la-nại có một trưởng giả thường cúng dường cho một vị bích-chi phật nhưng vị bích-chi phật này có thân hình rất xấu xí. Con gái của trưởng giả thấy vị bích-chi phật xấu xí, cô cười chê: ‘Người gì đâu mà da dẻ sần sùi xấu xí thế này!’. Vì khinh chê vị bích-chi phật nên nay công chúa mắc phải quả báo như vậy.

Khi sắp nhập niết-bàn, bích-chi phật liền hiện mười tám món thần biến. Người con gái thấy rồi tự trách mình, khẩn thiết cầu xin sám hối. Vì thuở xưa chê cười bích-chi phật nên cô gái thường bị quả báo thân hình xấu xí. Do biết ăn năn sám hối kịp thời nên nay thân hình đẹp đẽ trở lại. Do cô gái có tâm cúng dường nên dù sinh ở đâu cũng được làm người tôn quý, giàu có, vui sướng”.

Kinh Hưng khởi hạnh ghi: “Thuở quá khứ, Đức Thích-ca vì dùng lời ác mắng Đức Ca-diếp: ‘Sa-môn đầu trọc ngu đần ấy làm gì có Phật đạo’. Vì thế nên kiếp sau cùng, trong sáu năm, mỗi ngày Ngài chỉ ăn một hạt mè, hạt gạo hay hạt đậu lớn. Khổ hạnh như thế”.

[138a] Kinh Tu hành đạo địa[84] có bài kệ ghi:

Tính ngông hay nói càn,

Thô tháo không mềm mại,

Đến đây lại nói kia,

Chẳng nghĩ lợi cho người.

Lời nói không rõ ràng,

Trong tâm nghĩ kế độc,

Như lửa dưới tro tàn,

Người đạp sẽ phỏng chân.

Hay nói lời nhỏ nhẹ,

Thuận theo ý của người,

Nói, làm luôn đi đôi,

Không tổn hại người khác,

Như hoa đẹp trên cây,

Ắt sẽ cho trái ngọt.

Như lời dạy của Phật,

Tâm miệng thường hợp nhau.

Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật còn ở đời, bấy giờ trong thành Vương Xá có một trưởng giả giàu có, tiền tài của báu nhiều không sao tính kể. Vợ trưởng giả mang thai đủ mười tháng, đến ngày khai hoa nở nhụy, bà chuyển bụng, nhưng không sinh được.

Sau đó, vợ trưởng giả lại mang thai, đủ mười tháng, sinh được một người con nhưng thai nhi mang lần đầu tiên vẫn còn nằm bên hông phải. Theo thứ tự như thế, bà mang chín lần, lần nào cũng tròn mười tháng là sinh con. Chỉ riêng thai nhi đầu tiên cứ nằm hoài trong bụng mẹ.

Một hôm, vợ trưởng giả bị bệnh nặng, mặc dù đã dùng nhiều loại thuốc để chữa trị nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Biết là hết cách, bà dặn người nhà: ‘Đứa con trong bụng tôi vẫn còn sống. Nếu tôi qua đời, mọi người nhất định phải mổ bụng tôi để cứu lấy đứa con và nuôi dưỡng nó’.

Bấy giờ, người mẹ không thể vượt qua khỏi căn bệnh hiểm nghèo và đã qua đời. Thế là những người thân đem thi thể của bà bỏ ngoài bãi tha ma, và mời thầy thuốc Kỳ-bà mổ bụng ra xem. Quả nhiên họ thấy có một bé trai, thân hình rất nhỏ mà râu tóc bạc phơ. Nó lom khom bước đi, ngoái nhìn bốn phía và nói với những người thân: ‘Các người biết không! Vì đời trước tôi dùng lời độc ác mắng nhiếc, nhục mạ chúng tăng nên nay mắc quả báo ở trong bào thai, trải qua sáu mươi năm chịu khổ sở như thế, khó có thể nói cho hết được’.

Những người thân nghe đứa bé nói, tất cả đều khóc, nghẹn ngào không nói nên lời.

Bấy giờ, Đức Phật từ xa biết được đứa bé này thiện căn đã thuần thục. Ngài cùng các tì-kheo đi đến chỗ tử thi và hỏi đứa bé:

– Ngươi có phải là trưởng lão tì-kheo không?

Đứa bé thưa:

– Dạ phải.

Đức Phật hỏi lần thứ hai, thứ ba, đứa bé vẫn nói ‘Phải’.

Các tì-kheo đi theo Đức Phật, chứng kiến cuộc đối đáp như vậy, lấy làm lạ, liền bạch:

– Bạch Đức Thế Tôn! Đứa bé này đời trước tạo nghiệp gì mà nay phải chịu quả báo ở trong bụng mẹ, đầu tóc bạc phơ, lom khom bước đi, lại cùng với Như Lai đối đáp như thế?

Đức Phật nói với các tì-kheo:

– Trong kiếp Hiền, có Đức Phật ra đời hiệu là Ca-diếp.[138b] Bấy giờ vào mùa hạ, chúng tăng an cư. Mọi người đều nhất trí sai một vị tì-kheo già làm duy-na cho tăng. Đồng thời đặt ra quy định: ‘Trong mùa an cư, người nào đắc đạo mới cho phép cùng chúng tăng tự tứ; nếu ai chưa đắc đạo thì không cho phép tự tứ’. Lúc ấy, chỉ có một mình thầy duy-na kia không đắc đạo, nên tăng không cho phép bố-tát, tự tứ. Vì đó, lòng ông ta buồn bã, bực tức nói: ‘Tôi trông coi công việc của tăng để các ông an ổn tu hành, vậy mà nay trở mặt không cho tôi tham dự tự tứ, bố-tát, yết-ma’.

Thế là, vị duy-na nổi giận mắng chửi chúng tăng. Chúng tăng liền bắt ông giam vào trong phòng tối. Ông càng bực tức mắng: ‘Tôi sẽ làm cho bọn các ông ở trong chỗ tối tăm, mù mịt không thấy ánh sáng, giống như nay các ông giam tôi trong nhà tối!’.

Nói xong ông tự kết liễu đời mình. Sau khi chết liền bị đọa vào địa ngục, chịu khổ vô cùng, mãi đến nay mới thoát khỏi, nhưng vẫn phải mắc quả báo ở trong bào thai chịu khổ như thế.

Chúng tăng nghe Đức Phật dạy rồi, mọi người tự giữ gìn ba nghiệp, nhàm chán đường sinh tử. Có người chứng được bốn quả Sa-môn; có người phát tâm cầu chứng quả Bích-chi Phật; có người phát tâm cầu chứng quả Vô thượng bồ-đề.

Thế rồi, trưởng giả đem đứa bé về nhà nuôi dưỡng. Đứa bé ngày một lớn khôn, họ cho đứa bé theo Phật xuất gia, tu tập và chứng quả A-la-hán.

Phật bảo các tì-kheo:

– Vì trong quá khứ người ấy từng cúng dường chúng tăng và làm duy-na trông coi công việc của tăng nên nay mới được gặp Phật, xuất gia, chứng quả.

Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy rồi, vui vẻ làm theo”.

Bài kệ tụng về chính báo ghi:

Lời ác như tên độc,

Người trúng bị tổn thương,

Cửa ngục mở đang chờ,

Rơi vào chảo nước sôi,

Cắt lưỡi buộc phải ăn,

Đau khổ không kể xiết.

Nếu không có lợi ích,

Sao chẳng phòng lời nói?

Bài kệ tụng về Tập báo ghi:

Lời ác xúc phạm người,

Bị địa ngục thiêu đốt,

Nếu sinh lại làm người,

Thường nghe lời đay nghiến.

Giả như có luận bàn,

Bị người thêm hờn oán,

Cam tâm chịu quả báo,

Bỏ ác thiện tự nhiên.

Chú thích:

[29] Sáu nẻo (lục đạo 六道): theo đạo Phật, chúng sinh tùy theo nghiệp thiện hay ác của mình mà luân chuyển trong sáu đường như trời, người, a-tu-la, ngạ quỉ, súc sinh, địa ngục.

[30] Vua Ngụy (ngụy quân 魏君): tức Ngụy Văn Hầu, vị vua khai quốc vào thời Chiến quốc.

[31] Minh châu 明珠: viên ngọc sáng.

[32] Vòng ngọc (bạch hoàn 白環): vòng ngọc màu trắng.

[33] Trân bảo 珍寶: chỉ chung cho ngọc ngà, đá quí.

[34] Cự khuyết 巨闕: tên của một thanh kiếm thời xưa.

[35] Can tương 干將: tên một thanh kiếm. Vào thời Xuân Thu, thời nhà Ngô có người đúc kiếm rất giỏi, tên là Can Tương, nên người ta lấy tên ông đặt cho tên kiếm.

[36] Ô hiệu 烏號: cây cung. Thuở xưa có một loại cây tên là cây tang, cây chá rất cứng chắc, chim đậu trên đó, mỗi khi sắp bay, cành cây nhún xuống, nhưng không gãy, người ta thường chặt cành cây này để làm cung. Nhân đó gọi là cung ô hiệu.

[37] Phồn nhược 繁弱: tên của một cây cung tốt thời xưa.

[38] Truyền tín (nguyên âm: đãi tín 待信): chờ đợi tin tức một người nào, hay một việc gì.

[39] Hiễm Duẫn 獫狁: tên của một dân tộc ít người ở phương bắc thời cổ đại nước Trung Quốc.

[40] Nhi 陑: tên một ngọn núi thời cổ, nay thuộc huyện Vĩnh Tề, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

[41] Mục Dã 牧野: là nơi nhà Thương và đồng minh nhà Chu đánh nhau vào năm 1045 trước CN. Nhân lúc chính trị nhà Thương rối loạn, nhà Chu và một số đồng minh tiến đánh tiêu diệt. Họ đánh thắng và bắt giết vua nhà Thương ở trận Mục Dã.

5 Xích Bích 赤壁: là một trận đánh lịch sử thời Tam Quốc, một trận đấu có sự quyết định đến vận mệnh của cả hai nước Đông Ngô và Tây Thục.

[43] Ô Giang 烏江: tên một con sông ở phía đông bắc huyện Hòa, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Hạng Vũ đóng quân ở Cai Hạ, bị quân Hán bao vây, ông khẳng khái hát một bài ca, rồi nhảy xuống sông tự vận.

[44] Vương Mãng 王莽(45BC-23CN): Vương Mãng tự là Cự Quân, người thành Nguyên, là Đại tư mã, phò tá Bình đế nhà Hán. Đến năm Ất Sửu niên hiệu Khai Thỉ thứ 5, Bình đế băng, Mãng lập cháu bốn đời của Tuyên đế lên ngôi hiệu là Nhụ Tử, Mãng làm thừa tướng ba năm, đến năm thứ 17, Mãng bị cháu bảy đời của Cảnh đế tên là Lưu Huyền tự là Thánh Công giết.

[45] Đổng Trác 董卓: một vị quan nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, sống cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc. Đổng Trác tên chữ là Trọng Dĩnh, người huyện Lâm Thao, quận Lũng Tây (nay là huyện Mân, tỉnh Cam Túc).

[46] Vân kỳ 雲旗: lá cờ lớn có vẽ các đồ hình gấu và cọp.

[47] Bốn đường (tứ thú 四趣): bốn nơi khổ não mà chúng sinh tạo nghiệp ác phải sinh về. Đó là a-tu-la, súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục.

[48] Tăng-man vật 僧鬘物: chỉ cho vật cúng trực tiếp. Xưa cho “tăng-man vật” là hoa quả.

[49] Năm tội nghịch (ngũ nghịch 五逆): giết cha, giết mẹ, giết a-la-hán, làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp tăng.

[50] Bốn tội nặng (tứ trọng 四重): sát sinh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ.

[51] Kiếp Hiền (Hiền kiếp 賢刧): trong kì kiếp này, có rất nhiều vị thánh, hiền ra đời. Vì vậy nên gọi là kiếp Hiền.

[52] Chiêu-đề tăng 招提僧 (S: catur-diśa): những vị tăng nay đây mai đó, hoằng hóa bốn phương không ở một nơi cố định.

[53] Bát bội xả 八背捨 (S: aṣṭau vimokṣāḥ; Cg: bát giải thoát): tám pháp môn thực hành thiền quán từ cạn vào sâu, nương vào tám môn thiền định này có thể đoạn được phiền não trong tam giới, chứng quả giải thoát nên gọi là bát giải thoát. Gọi là bát bội xả vì nương vào tám môn thiền định này có thể xả bỏ cảnh ngũ dục và xa rời tâm chấp trước nên có tên này.

[54] A-lan-nhã 阿蘭若 (S: araṇya): nơi núi rừng u tịch, hay đồng ruộng hoang vắng; hoặc nơi sông đầm tĩnh mịch, cách li thôn ấp, thành thị một câu-lư-xá hay nửa câu-lư-xá.

[55] Tứ ách 四扼 (S: Catvāro yogāḥ): chỉ cho bốn thứ phiền não trói buộc chúng sinh trong ba cõi mà không thể thoát li. Một, dục ách: chỉ cho thứ phiền não khiến chúng sinh thường phải chịu khổ trong cõi dục; hai, hữu ách: chỉ cho phiền não thường khiến chúng hữu tình phải chịu khổ trong hai cõi Sắc và Vô sắc; ba, kiến ách: chỉ cho phiền não kiến, thường khiến cho chúng sinh phải chịu khổ trong ba cõi; bốn, vô minh ách: chỉ cho phiền não si, khiến cho chúng sinh phải chịu khổ trong ba cõi.

[56] Phát thẻ (hành trù 行籌): phát thẻ đếm số thứ tự để biết số lượng của chư tăng trong buổi họp.

[57] Luận Thành thật (Thành thật Luận 成實論; S: Satyasiddhi-śāstra): luận, mười sáu quyển hoặc hai mươi quyển, do ngài Ha-lê-bạt-ma soạn, ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào khoảng năm 411-412 đời Diêu Tần, được xếp vào Đại chính tạng, tập 32. Đây là kinh điển căn bản của tông Thành Thật.

[58] Y phấn tảo (phấn tảo y 糞掃衣; S: su-kūla): là loại áo rách, vải vụn mà người ta vứt bỏ ở bãi rác, nghĩa địa…, được đem về giặt sạch may thành.

[59] Bao Tự 褒姒: người đẹp Trung Quốc thời nhà Chu.

[60] Lệ Cơ 麗姬: mĩ nhân của Trung quốc, sắc đẹp của bà đã làm say đắm Tấn Hiến công đến nỗi phải bị mất nước.

[61] Độc giác 獨角: vị tiên một sừng có pháp thuật làm hạn hán, đã bị một kỹ nữ lập mưu cưỡi cổ dẫn về triều đình.

[62] Thuật-già-bà 述伽婆: câu chuyện về chàng trai đánh cá.

[63] Quán giải 觀解: quán sát tư duy về chân lí mà được tỏ ngộ. Đại thừa Nghĩa chương ghi: “Khởi sự thực tập quán giải có thể chế phục phiền não”

[64] Phục đoạn 伏 斷: chế phục hoặc nghiệp, khiến tạm thời không khởi gọi là phục hoặc; Đoạn tuyệt nhân hoặc khiến cho mãi mãi không sinh gọi là đoạn hoặc.

[65] Quán hạnh 觀行: thực hành theo sự quán chiếu của tâm gọi là quán hạnh. Tức tâm quán lý còn thân thì như lý ấy mà thực hành.

[66] Lục trần 六塵: chỉ cho sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sáu cảnh này thâm nhập vào tâm thông qua sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý làm cho ô nhiễm nên gọi là trần, nó thường cướp mất thiện tâm của chúng sinh nên còn gọi là giặc.

[67] Chiên-đà-la 旃陀羅 (S: caṇḍāla): giai cấp thấp hèn nhất trong bốn giai cấp của Ấn Độ. Ở đây ý nói thân ngũ ấm thật nhơ bẩn thấp hèn không nên thương yêu chiều chuộng mà nên phát tâm chán xa.

[68] Lạc Xuyên 洛川: tên một con sông, nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[69] Trần Vương 陳王 (Cđ: Trần Tư Vương): con thứ hai của Tào Tháo, rất giỏi về văn thơ. Khi đi qua sông Lạc, ông gặp mĩ nhân, nên phải dừng chân lại.

[70] Hán Khúc 漢曲: vùng có khúc quanh ở núi Hán Cao. Núi này ở Hồ Bắc, phía tây bắc Nhương Dương.

[71] Giao Phủ 交甫: Trịnh Giao Phủ, lúc dạo chơi dưới khúc quanh của núi Hán Cao, ông gặp hai mĩ nhân rồi cùng nhau du sơn ngoạn thủy và được hai mĩ nhân này tặng đồ trang sức.

[72] Trên đỉnh Vu sơn mượn mây mưa để đến đi (Vu sơn đài thượng thác vân vũ dĩ khứ lai 巫山臺託雲雨以去來): trong bài tựa “Cao đường phú” của Tống Ngọc thời Chiến Quốc ghi: ”Thưở xưa, tiên vương thường dạo chơi ở Cao Đường, đêm mộng thấy người con gái đẹp đến nói: ‘Thiếp là con gái của núi Vu, là khách của cao đường, nghe bệ hạ dạo chơi ở đây, nên đến cùng nhau chăn gối’. Tỉnh mộng, vua rất vui mừng, trở về ghi lại giấc mộng thành thơ”.

[73] Hàn Thọ 韓壽 (Cg: Lưu Nghĩa Khánh): người đời Tống, rất khôi ngô tuấn tú. Khi ông tư thông với người phụ nữ tên là Giả Sung, bà ta có mùi hương lạ, mùi hương này dính trên người ông, trải qua một tháng vẫn còn. Con gái của bà ta lén trộm mùi hương và đến với Hàn Thọ. Giả Sung ngửi được mùi hương ấy, liền tìm hiểu sự việc. Thế là Giả Sung gả con gái cho ông ta. Nhân đó người đời lấy từ “Giả Sung hương” để biểu hiện hương tình giữa nam và nữ.

[74] Tương Như 相如 (Gđ: Tư Mã Tương Như): một nhà văn nổi tiếng đời nhà Hán.

[75] Tăng tàn 僧殘 (S: saṃghāvaśeṣa): tội nặng thứ hai trong năm thiên bảy tụ. Vị tăng phạm tội này thì pháp mạng sắp hết, chỉ còn sót lại ít, như người bị chém sắp chết, chỉ còn hơi thở thoi thóp.

[76] Ma ba-tuần 魔波旬 (S: Màrapapiyan): tên gọi khác của Ma vương.

[77] Quán bất tịnh (bất tịnh quán 不淨觀; S: a-śubhā-smṛti): phép quán bất tịnh là một trong năm phép quán của “Ngũ đình tâm quán”. Bất tịnh quán có hai cách: quán sự bất tịnh ngay trên thân mình; quán sự bất tịnh trên thân người khác.

[78] Đỉnh pháp 頂法 (Cg: đỉnh vị; S: mūrdhāna): một trong bốn thiện căn. Hai thiện căn noãn và đỉnh trong bốn thiện căn gọi là động thiện. Hai thiện căn nhẫn và thế đệ nhất gọi là bất động thiện. Ngôi này cao nhất trong động thiện, ví như đỉnh đầu là cao nhất trong con người nên gọi là đỉnh pháp.

[79] kinh Phật Thuyết Tu-lại (Phật thuyết Tu-lại kinh 佛說須賴經; S: Sūrata-paripṛcchā): kinh, một quyển, do ngài Bạch Diên người nước Ngụy, sống vào đời Tam Quốc dịch; được xếp vào Đại Chính tạng, tập 12. Nội dung kinh này thuật chuyện trong thành Xá-vệ của Ấn Độ cổ có một người bần cùng tên Tu-lại, đức hạnh ưu việt, giữ gìn giới luật kiên cố và tu pháp Thập thiện.

[80] Kinh Nghiệp báo sai biệt (Nghiệp báo sai biệt kinh 業報差別經): kinh, một quyển, do ngài Cù Đàm Pháp Trí đời Tùy dịch. Nội dung nói về việc Đức Phật đã giảng cho trưởng giả Thủ-ca biết tất cả chúng sinh đều bị trói buộc vào nghiệp, đều nương theo nghiệp, tùytheo nghiệp mà chuyển vần .

[81] Kinh Pháp Cú (Pháp cú kinh 法句 經, S: Dhammapada): kinh, hai quyển, ba mươi chín phẩm, bảy trăm năm mươi hai bài tụng, do ngài Pháp Cứu, người Ấn Độ soạn, ngài Duy-kì-nan nước Ngô dịch vào thời Tam Quốc, được xếp vào Đại Chính tạng, tập 4. Nội dung gom góp những bài kệ do Đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành.

[82] Kinh Xuất diệu (Xuất diệu kinh 出曜經): kinh, ba mươi quyển, tôn giả Pháp Cứu soạn, Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.

[83] Kê-việt-trá 鷄越吒: (Cg: Li-xa-bì; S: Licchavi, Lecchavi): chủng tộc Sát-đế-lợi ở thành Tì-xá-li thuộc miền Trung Ấn Độ, là một bộ phận của chủng tộc Bạt-kì.

[84] Kinh Tu hành đạo địa (Tu hành đạo địa kinh 修行道地經): kinh, bảy quyển, ba mươi phẩm, do sa-môn Chúng Hộ soạn, Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. Nội dung nêu rõ pháp tướng của ngũ ấm và hành pháp tam thừa.

XXIII.6. Nói lưỡi đôi chiều

[138c] Nếu không tu thì đừng có mong ngày ra khỏi sinh, lão, bệnh, tử; nếu tu sẽ có lối vào bồ-đề, niết-bàn. Sở dĩ chư Phật đắc đạo là do thực hành tứ nhiếp pháp[1], cho nên người phàm, bậc thánh đều qui y. Bồ-tát thành thánh là do thực hành lục độ, nên người thiện kẻ ác đều kính ngưỡng.

Nay thấy bọn người thế tục thường dựng lên những lời không chân thật, nói xấu bên này bên kia, khiến cho quyến thuộc của người chia lìa, bạn bè tan rã. Do thích gieo các nghiệp bất hòa, nên họ chiêu lấy quả báo sinh li. Giả sử dùng lòng tốt dạy người xa lìa kẻ ác thì cũng là việc phá hoại, nhưng có lợi ích cho người, nên không bị tội. Do đó, luận Thành thật ghi: “Nếu dùng lòng tốt giáo hóa người, dù khiến họ xa lìa nhau, vẫn không phạm tội. Còn dùng lời ác xúi người khác đánh nhau thì gọi là lưỡng thiệt, tội này rất nặng, sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; nếu sinh vào loài người, thường bị kẻ khác chê bai, chửi mắng, chỉ gặp được quyến thuộc xấu ác phá hoại mình. Như trong phần lỗi vọng ngữ đã trình bày ở trên, nói dối để gây mâu thuẫn giữa bên này và bên kia, gọi là lưỡng thiệt. Người phạm tội này thì chịu quả báo khổ trong ba đời, như trên đã nói rõ, không cần trình bày lại”.

Luật Tứ phần[2] ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Các ông hãy lắng nghe! Ngày xưa, có hai con thú dữ kết bạn với nhau. Một con sư tử tên Thiện Nha, một con cọp tên Thiện Bác, ngày đêm cùng nhau săn bắt hươu, nai để ăn thịt.

Lúc ấy, có một con chồn thường theo sau hai con thú kia, ăn thịt thừa để sống. Bấy giờ, chú chồn suy nghĩ: ‘Nay ta không thể theo họ mãi như thế được, phải tìm cách gì khiến chúng cải vã, không còn đi chung với nhau nữa’. Nghĩ như thế rồi, nó liền đến chỗ sư tử Thiện Nha nói:

– Cọp Thiện Bác nói với tôi: ‘Ta sinh nơi tốt đẹp, dòng tộc cao quí, tướng mạo và sức mạnh cũng hơn Thiện Nha. Vì sao? Vì mỗi ngày ta đều ăn thịt tươi ngon, Thiện Nha theo sau, ăn những thức ăn thừa của ta để sống’. Thiện Bác còn nói kệ:

Tướng mạo và nơi sinh,

Sức mạnh đều hơn cả,

Thiện Nha không bằng ta,

Thiện Bác nói như thế!

[139a] Thiện Nha hỏi chồn:

– Làm sao ngươi biết được việc này?

Chồn đáp:

– Các anh gặp nhau sẽ tự biết.

Bấy giờ, chồn lén nói với Thiện Nha rồi, liền đến chỗ Thiện Bác nói:

– Anh biết chăng? Thiện Nha nói: ‘Hiện nay dòng tộc, nơi sinh và sức mạnh của ta đều trội hơn Thiện Bác. Vì sao? Vì ta thường ăn thịt tươi ngon, còn Thiện Bác theo sau, ăn thức ăn dư của ta để sống’. Thiện Nha còn nói kệ:

Tướng mạo và nơi sinh,

Sức mạnh đều hơn cả,

Thiện Bác không bằng ta,

Thiện Nha nói như thế!

Thiện Bác hỏi:

– Làm sao ngươi biết được việc này?

Chồn đáp:

– Hai anh gặp nhau sẽ tự biết.

Sau đó, hai con ác thú gặp mặt, nhìn nhau rất giận dữ. Sư tử Thiện Nha liền nghĩ: ‘Ta phải hỏi rõ việc này!’ Nghĩ thế rồi liền ra tay đánh Thiện Bác và nói kệ hỏi:

Tướng mạo và nơi sinh,

Sức mạnh đều hơn cả,

Thiện Nha không bằng ta,

Thiện Bác nói thế ư?

Thiện Bác nghĩ: ‘Chắc chắn là do chồn muốn chúng ta đánh nhau’. Nó liền nói kệ đáp:

Thiện Bác không hề nói,

Tướng mạo và nơi sinh,

Sức mạnh đều hơn cả,

Thiện Nha không bằng ta!

Nghe lời không lợi ích,

Tin lời kẻ đâm thọc,

Tự hủy hoại tình thân,

Khiến trở thành oan gia.

Nên dùng trí chân thật,

Để diệt trừ sân hận,

Nếu nói lời thành thật,

Khiến thân được lợi ích.

Nay phải khéo hàng phục,

Diệt trừ ác tri thức,

Nên phải giết chồn kia,

Làm chia rẽ chúng ta.

Nói xong, chúng liền đánh chết chồn kia.

Bấy giờ, Đức Phật dạy các tì-kheo:

– Hai con thú này bị chồn li gián, khiến chúng gặp nhau không vui. Huống gì con người bị kẻ khác li gián mà không phiền não sao?”

Trong kinh Chính pháp niệm, Diêm-la vương nói bài kệ trách các tội nhân:

[139b]Vui quá, nói nhiều lời,

Tham lam, khiến người sợ,

Lỗi miệng, nói không thật,

Lưỡng thiệt là đứng đầu.

Trong kinh Hoa thủ[3], Đức Phật nói kệ:

Ác khẩu và lưỡng thiệt,

Thích nói lỗi người khác,

Đó là người không tốt,

Việc ác nào cũng làm.

Luận Đại trí độ[4] ghi: “Không nhờ vào sự bố thí, trì giới, học rộng và nghe nhiều mà chỉ cần nói lời chân thật thì cũng được vô lượng phúc”.

Trong kinh Báo ân[5], Đức Phật nói kệ:

Đức Phật bảo A-nan,

Người sống ở thế gian,

Họa từ miệng mà ra,

Nên giữ gìn khẩu nghiệp,

Vì hại hơn lửa dữ.

Lửa dữ chỉ đốt cháy,

Tài vật ở thế gian,

Còn ác khẩu đốt cháy,

Hết thảy thất thánh tài[6].

Tất cả loài chúng sinh,

Họa từ miệng mà ra,

Khiến thân chịu búa chém,

Sẽ bị họa diệt thân.

Bài tụng Chính báo:

Lưỡng thiệt chia rẽ người,

Đọa địa ngục phân thây,

Lính ngục đánh vào miệng,

Dao nóng cắt đứt lưỡi,

Đau khổ đã như thế,

Lại thêm bị đói khát,

Nghiệp ác luôn trói buộc,

Lại phải uống máu mình.

Bài tụng Tập báo:

Thêu dệt hại người khác,

Đọa vào ba đường dữ,

Giả sử được thân người,

Dư báo[7] vẫn còn theo,

Gặp quyến thuộc xấu ác,

Trái nghịch, thù hận nhau,

Chỉ luôn nhớ làm ác,

Địa ngục không thời hạn.

XXIII.7. Nói lời nịnh hót

Lời nói trung thực thì lý lẽ rõ ràng, lời thêu dệt luôn trái với sự thật. Do trung thực nên có lẽ thật; vì chân thật nên phúc đức phát sinh; phúc đức sinh nên thành bậc thánh.

Vì ỷ ngữ nên giả dối, vì giả dối nên tội sinh, tội sinh nên phải chịu khổ. Vì vậy, đạt đến chân lý để cầu thánh quả, cần phải nói lời chân thật. Nếu nói lời giả dối thì trái với chân lý. Những lời nói không ngay thẳng đều gọi là ỷ ngữ. Những lời thêu dệt không lợi ích cho mình và người, chỉ làm tăng thêm tâm buông lung, nuôi lớn các điều bất thiện, [139c] khiến người rơi vào trong ba đường ác. Sau khi chịu tội xong, người đó được sinh lại làm người, dù nói ra lời chân thật thì mọi người vẫn không tin. Tất cả những lời nói không rõ ràng cũng gọi là ỷ ngữ.

Nên luận Thành thật ghi: “Tuy nói lời chân thật, nhưng không đúng lúc, cũng là ỷ ngữ”.

Trong luận Đại trí độ có bài kệ:

Đọa vào loài ngạ quỉ,

Miệng thường phun lửa dữ,

Kêu gào vang khắp nơi,

Là nghiệp báo của miệng.

Tuy học rộng hiểu nhiều,

Ở trong chúng nói pháp,

Do gieo nghiệp bất tín,

Nên mọi người không tin,

Muốn học rộng nghe nhiều,

Được mọi người tin tưởng,

Thì phải nên thành thật,

Không nói lời thêu dệt.

Luận Tát-bà-đa[8] ghi: “Bốn lỗi của miệng kết hợp qua lại, mỗi lỗi có bốn trường hợp:

  1. Lưỡng thiệt nhưng chẳng phải vọng ngữ, cũng chẳng phải ác khẩu. Như có người đem lời người này đến nói với người kia, vì truyền đạt đúng sự thật nên chẳng phải vọng ngữ, nói nhã nhặn nên chẳng phải ác khẩu. Nhưng do có tâm li gián, nên gọi là lưỡng thiệt.
  2. Lưỡng thiệt lại vọng ngữ, nhưng không ác khẩu. Như có người đem lời người này đến nói với người kia, với tâm muốn li gián người khác, nên gọi là lưỡng thiệt. Vì người ấy truyền đạt không thật nên gọi là vọng ngữ, nói lời nhã nhặn nên chẳng phải ác khẩu.
  3. Vừa lưỡng thiệt vừa ác khẩu, nhưng không vọng ngữ. Như có người đem lời người này đến nói với người kia, với tâm muốn li gián người khác, nên gọi là lưỡng thiệt. Do người ấy dùng lời thô tháo nên gọi là ác khẩu, song truyền đạt chân thật nên chẳng phải vọng ngữ.
  4. Gồm cả lưỡng thiệt, vọng ngữ và ác khẩu. Như có người đem lời người này đến nói với người kia, với tâm muốn li gián người khác, nên gọi là lưỡng thiệt. Vì người ấy truyền đạt không thật, nên gọi là vọng ngữ, nói lời thô tháo, nên gọi là ác khẩu.

Vọng ngữ và ác khẩu mỗi loại cũng có đủ bốn trường hợp như thế. Ỷ ngữ luôn có mặt trong các trường hợp, nên không trình bày riêng. Do đó, luận Thành thật ghi: “Ba nghiệp khác của miệng, hoặc có lúc kết với hợp nhau, hoặc không, nhưng ỷ ngữ nhất định có mặt trong cả bốn trường hợp”.

Bài tụng Chính báo:

Lời thêu dệt vô nghĩa,

Khiến lòng người mê loạn,

Đoạn thiện căn người khác,

Đồng sôi rót vào miệng,

Sắt nóng thiêu đốt lưỡi,

Ruột gan đều cháy tan,

[140a]Đau đớn không thể nhẫn,

Khổ sở thường kêu trời.

Bài tụng Tập báo:

Ỷ ngữ che chân lý,

Chết rơi vào đường ác,

Ra khỏi, được làm người,

Lời nói không rõ ràng,

Sống chẳng ai tin kính,

Thường bị người chê cười,

Làm người biết hổ thẹn,

Sao chẳng nói lời hay.

XXIII.8. Tham lam keo kiệt

Căn nguyên bệnh mê lầm của chúng sinh chính là chấp ngã; cội gốc bệnh tà mê của phàm phu là xan tham. Do đó, điều thiện nhẹ như lông hồng, còn điều ác thì nặng như núi Thái, phúc đức ít như băng mùa xuân, nghèo thiếu nhiều như mưa mùa thu, lưới lục tình chưa dễ thoát ra, bờ ba độc không sao vượt nổi. Thân nặng thường bị chìm đắm, như cá dưới sông dù vẫy đuôi muốn bay lên, nhưng không thể giống chim trên trời được. Vì thế, dẫn đến nỗi nghèo túng tranh nhau bức bách, sự khổ sở nối nhau gây tổn hại. Giống như con thiêu thân lao vào lửa, tự thiêu cháy mình, loài tằm làm kén tự trói buộc mình.

Bởi do nghiệp tham lam, bỏn xẻn nên phải chịu tội đói rét. Bố thí là nhân đưa đến giàu sang, vui vẻ.

Như kinh Phân biệt nghiệp báo[9] có bài kệ:

Thường ưa tu trí tuệ,

Mà không hành bố thí,

Kiếp sau được thông minh,

Nhưng nghèo không tài sản.

Chỉ thích làm bố thí,

Mà không tu trí tuệ,

Kiếp sau được giàu sang,

Nhưng ngu si vô trí.

Tu cả tuệ và thí,

Kiếp sau đủ tài, trí,

Nếu không tu tuệ, thí,

Mãi ngu si, nghèo hèn.

Nhiếp luận[10] ghi: “Bỏn xẻn làm trở ngại sự giàu sang; ghen ghét làm chướng ngại sự tôn quí. Lại nữa, chúng sinh khởi lòng tham không ngoài sắc dục và tiền tài. Lỗi thứ nhất, tham đắm sắc dục, như trước đã trình bày. Ở đây chỉ trình bày tóm tắt những ý khác”.

Như kinh Niết-bàn[11] ghi: “Thí như có người lấy nữ la-sát làm vợ. Nhưng sau khi sinh con ra, nữ la-sát kia ăn thịt con mình; ăn hết con, nó lại ăn luôn chồng. Nữ la-sát ái dục cũng như vậy, hễ chúng sinh có bao nhiêu hạt thiện căn thì nó ăn bấy nhiêu, đến khi hạt thiện căn hết thì lại ăn chúng sinh. Do đó, chúng sinh phải bị đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh”.

[140b] Lại có người ưa thích hoa đẹp mà không thấy mối họa rắn độc núp dưới hoa, vội đưa tay hái thì bị rắn độc cắn, nọc độc thấm vào thân, nên phải chết. Tất cả hàng phàm phu cũng lại như thế, tham đắm hoa năm dục mà không thấy họa rắn độc ái dục, vội đưa tay hái liền bị nọc độc ái dục hại, sau khi chết đọa vào ba đường ác.

Luận Đại trí độ ghi: “Tiền của là nguyên nhân gây ra các phiền não, nghiệp tội. Tất cả các pháp lành như trì giới, thiền định, trí tuệ là nhân duyên của niết-bàn. Thế nên, tài vật còn phải bỏ, huống gì trong ruộng phúc tốt mà không gieo trồng hạt giống bố thí sao!

Ví như có hai anh em, mỗi người mang mười cân vàng ra đi. Khi đến đoạn đường vắng, không người qua lại, người anh suy nghĩ: ‘Tại sao ta không giết em mình để lấy vàng? Ở đây vắng vẻ chẳng ai biết!’. Người em cũng suy nghĩ, muốn giết người anh để lấy vàng. Hai anh em đều khởi tâm ác, nên lời nói và ánh mắt nhìn nhau khác lạ.

Sau đó, hai anh em liền tỉnh ngộ, lòng vô cùng hối hận và nói: ‘Chúng ta chẳng khác gì loài cầm thú! Hai anh em ruột thịt, chỉ vì một ít vàng mà khởi tâm ác muốn giết hại nhau’. Hai anh em cùng đến bên bờ sông, người anh lấy vàng ném xuống nước. Người em nói:

– Hay thay! Hay thay!

Người em cũng ném vàng xuống sông. Người anh nói:

– Hay thay! Hay thay!

Hai anh em cùng hỏi nhau: Tại sao mà nói “Hay thay!”. Hai người đều đáp: “Ta vì số vàng này mà khởi tâm ác muốn giết hại lẫn nhau, nay bỏ được nó nên nói là “Hay thay!”.

Vì nhân duyên này, nên phải trừ diệt tham lam, bỏn xẻn.

Luận Đại trang nghiêm[12] ghi: “Ta từng nghe, có lần Đức Phật và A-nan đi qua một cánh đồng hoang ở nước Xá-vệ. Thấy bên bờ ruộng có một khối vàng, Đức Phật bảo A-nan:

– Đó là rắn độc.

A-nan bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Đúng là rắn độc!

Bấy giờ, có một người đang cày ruộng, nghe Đức Phật và A-nan nói có rắn độc, liền nghĩ: ‘Ta đến xem thử thế nào mà sa-môn nói là rắn độc’. Ông ta liền đến xem thì thấy một khối vàng ròng liền nghĩ: ‘Sa-môn nói rắn độc, nhưng đây chính là vàng ròng’. Thế là, ông liền gom lấy tất cả số vàng kia mang về nhà. Người này trước kia rất nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhưng từ khi nhặt được vàng thì trở nên giàu có, ăn mặc dư giả.

Vua và các quan rất kinh ngạc về sự giàu có của ông, bèn đến tra xét và bắt giam vào ngục. Cho dù ông ta giao nộp tất cả số vàng lấy được lúc trước, nhưng vẫn không khỏi tội. Khi sắp bị xử chém, ông ta thốt lên:

– Rắn độc, A-nan! Rắn độc, Thế Tôn!

Người đứng bên cạnh nghe nói như thế, liền tâu lên vua. Vua liền cho gọi ông ta đến hỏi:

– Tại sao ngươi nói: ‘Rắn độc, A-nan! Rắn độc, Thế Tôn!’

Ông ta tâu:

– Ngày trước, thần đang cày ruộng thì nghe Đức Phật và A-nan gọi vàng là rắn độc, nay thần mới hiểu.

[140c] Vua nghe nói thế liền thả cho ông ta về”.

Kinh Tăng nhất A-hàm[13] ghi: “Ngày xưa, Đức Phật còn tại thế, trong thành Xá-vệ có vị trưởng giả tên Bà-đề rất giàu có, tài sản vô số, vàng bạc không thể tính kể. Tuy giàu nhưng ông rất bỏn xẻn, không dám tiêu xài. Hàng ngày ông ăn uống đạm bạc, áo quần thô xấu, lại không dám cho vợ con, quyến thuộc, người giúp việc, bạn bè, bậc tri thức và các vị sa-môn, bà-la-môn v.v… lại thường khởi tà kiến, đoạn các căn lành. Vì ông không có con cháu nối dõi nên sau khi chết, của cải đều sung vào cửa quan. Vua Ba-tư-nặc đích thân đến tịch thu tất cả tài sản mang về, sau đó vua đến chỗ Đức Phật bạch:

– Bạch Đức Thế Tôn! Trưởng giả Bà-đề sau khi mạng chung sẽ sinh vào nơi nào?

Đức Phật bảo vua:

– Trưởng giả Bà-đề phúc đã hết mà không tạo phúc mới, còn khởi tà kiến đoạn mất căn lành, nên sau khi mạng chung sinh vào địa ngục Đề Khốc.

Vua Ba-tư-nặc nghe Đức Phật nói thế, thương cảm rơi lệ và thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn! Ngày xưa, trưởng giả Bà-đề tạo nghiệp thiện gì mà sinh vào nhà giàu có? Và ông tạo nghiệp ác gì mà không được hưởng sự giàu sang ấy?

Đức Phật đáp:

– Từ thời quá khứ lâu xa, sau khi Đức Phật Ca-diếp nhập niết-bàn, vị trưởng giả này làm con của một điền chủ ở nước Xá-vệ. Khi đó, có vị bích-chi phật đến nhà ông ta khất thực, trưởng giả mang thức ăn ra cúng dường. Vị bích-chi phật được thức ăn, liền bay lên hư không đi. Trưởng giả thấy như vậy liền phát nguyện: ‘Nhờ căn lành này khiến con đời đời sinh ra nơi nào cũng được giàu có, không đọa vào ba đường ác’. Nhưng sau khi cúng dường xong, ông lại hối tiếc và nghĩ: ‘Những thức ăn vừa rồi, lẽ ra ta nên đem cho người giúp việc, không nên cho vị sa-môn trọc đầu kia’

Đức Phật lại bảo vua:

– Trưởng giả Bà-đề, do công đức đời quá khứ cúng dường thức ăn cho bích-chi phật và lời phát nguyện, nên ông sinh vào nơi nào cũng được giàu có. Nhưng do sau khi cúng dường lại sinh lòng hối tiếc, nên dù ông sinh ra nơi nào cũng giàu sang, nhưng không hưởng được sự giàu sang ấy, lại còn tham lam, bỏn xẻn, chỉ lo cất giữ, bản thân không dám ăn mặc, chẳng cho vợ con, quyến thuộc, bạn bè, bậc tri thức và các vị sa-môn, bà-la-môn v.v…

Vì thế, người trí nghe được việc này, [141a] nếu có tiền của phải bố thí, chớ sinh lòng bỏn xẻn. Khi bố thí thì phải hết lòng tự tay mình đem cho, bố thí rồi thì sinh lòng vui vẻ, không nên khởi tâm hối tiếc. Nếu được như thế thì phúc báo lớn vô lượng vô biên”.

Kinh Xuất diệu[14] ghi: “Ngày xưa, Đức Phật còn tại thế, ở nước Xá-vệ có vị trưởng giả tên Nan-đà, rất giàu có, vàng bạc, châu báu, voi, ngựa, xe cộ, kẻ hầu, y phục, trang sức, ruộng vườn nhiều không thể tính kể. Tất cả những người giàu có trong nước không ai sánh bằng. Ông tuy rất giàu, nhưng không có lòng tin tam bảo, lại tham lam, bỏn xẻn. Nhà bảy lớp cửa mà còn dặn người canh giữ, nếu có người đến xin không được cho vào. Ông dùng lưới sắt phủ kín phía trên sân, vì sợ chim bay vào ăn lúa gạo; dùng vữa trét kín quanh chân tường, vì sợ chuột khoét lỗ chui vào làm hao tốn của cải.

Ông chỉ có một người con duy nhất tên là Chiên-đàn Hương. Lúc sắp chết, ông bảo người con: ‘Ta e rằng không sống được bao lâu nữa. Sau khi ta chết, số của cải này con không được tiêu xài phung phí, đừng cho sa-môn và bà-la-môn. Nếu có trẻ nhỏ đến xin cũng không cho một đồng. Số của cải này đủ để tiêu xài cho bảy đời.’ Dặn dò xong, ông liền qua đời và đầu thai lại làm con của một người mù, thuộc giai cấp Chiên-đà-la ở nước Xá-vệ. Sau khi sinh ra, đứa bé đã bị mù hai mắt. Bà mẹ nghĩ: ‘Nay ta mù lòa, nếu sinh con trai thì nó sẽ giúp đỡ ta!’

Nghe nói đứa con cũng bị mù bẩm sinh, bà vô cùng buồn khổ, khóc lóc và nói kệ:

Ta mù, con cũng mù,

Cả hai đều bị mù,

Gặp kẻ hao tài này,

Làm ta thêm sầu khổ.

Bấy giờ, người mẹ mù nuôi đứa bé lớn khoảng tám, chín tuổi, có thể tự đi lại được, bà trao cho nó một cây gậy, một cái bát và bảo đứa bé: ‘Con hãy tự đi xin ăn mà sống, không cần ở đây nữa. Ta cũng bị mù, phải xin ăn để nuôi cái mạng thừa này, không thể lo cho con được’.

Đứa bé đi từng nhà xin ăn, dần dần đến nhà Chiên-đàn Hương, đứng ngoài cửa gọi lớn: ‘Tôi là đứa trẻ mù, xin cho tôi thức ăn!’

Khi ấy, người canh cửa nổi giận, nắm tay nó ném xuống hầm sâu, làm nó gãy cánh tay trái và bị thương ở đầu, những thức ăn xin được đều vung vãi ra đất. Những người đi ngang qua thấy vậy, vô cùng thương xót, đến nói với bà mẹ mù. Nghe thế, bà liền chống gậy lần đến chỗ con mình, bế nó đặt lên nằm trên gối và than:

– Con tôi có tội gì mà phải chịu khổ thế này?

Đứa bé kể với mẹ:

– Con đến nhà Chiên-đàn Hương đứng ngoài cửa gọi xin thức ăn thì gặp người xấu ném ngã như thế này.

Đức Phật biết việc này liền bảo A-nan:

– Tai họa! Tai họa! Trưởng giả Nan-đà sau khi qua đời, đầu thai trở lại làm con một người phụ nữ mù thuộc giai cấp Chiên-đà-la, [141b] vừa sinh ra thì hai mắt bị mù.

Ngày xưa, nhà ông ta rất giàu có, tiền của vô số, voi, ngựa, xe cộ, bảy báu nhiều không thể tính hết mà nay không được hưởng. Do tham lam, bỏn xẻn nên phải chịu quả báo mù mắt như thế, sau khi mạng chung sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ.

Quá ngọ, Đức Phật cùng chúng tì-kheo và tất cả nhân dân trong thành vây quanh đến trước nhà Chiên-đàn Hương, nơi đứa bé mù đang nằm. Chiên-đàn Hương nghe Đức Phật ở ngoài cửa, liền ra đỉnh lễ, rồi đứng qua một bên. Đức Phật biết đại chúng đã nhóm họp, lại thấy Chiên-đàn Hương có mặt, liền giảng cho đại chúng nghe về tâm tham lam, bỏn xẻn, ghen ghét sẽ bị vô lượng tội, thực hành bố thí sẽ được phúc đức vô số. Đức Phật muốn họ xa lìa pháp hữu vi, theo đạo vô vi.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trừ nỗi khổ địa ngục cho Chiên-đàn Hương, nên Ngài hỏi đứa trẻ:

– Ngươi có phải là trưởng giả Nan-đà không?

Đứa trẻ đáp ba lần:

– Con đúng là trưởng giả Nan-đà.

Đại chúng nghe như thế, kinh ngạc bảo nhau: ‘Trưởng giả Nan-đà chính là đứa trẻ này!’

Bấy giờ, Chiên-đàn Hương chứng kiến việc này, thương cảm khóc lóc mãi không thôi, lại đỉnh lễ cầu xin Đức Phật giúp nhổ hết gốc tội, đồng thời thỉnh Phật và chúng tăng ngày hôm sau đến nhà thụ thực.

Hôm sau, thụ thực xong, Đức Phật thuyết pháp vi diệu, Chiên-đàn Hương nghe xong liền đắc quả Tu-đà-hoàn.

Đức Phật bảo A-nan:

– Nếu người nào cất chứa tiền của, không dám ăn tiêu, lại không bố thí, đó là người ngu si nhất. Thế nên, người trí phải thực hành bố thí để mong xa lìa sinh tử, chớ bỏn xẻn mà chịu khổ vô cùng”.

Luật Thập tụng[15] ghi: “Khi Đức Phật ở tại nước Xá-vệ, trưởng lão Ca-lưu-đà-di đã chứng quả A-la-hán. Một hôm, Ca-lưu-đà-di ôm bát vào thành khất thực, đến nhà một vị bà-la-môn, người chồng vắng nhà, người vợ đóng cửa làm bánh rán. Ngài liền nhập định, vận sức thần thông đi xuyên lòng đất vào trong sân, gảy móng tay làm tín hiệu, người vợ quay lại nhìn và suy nghĩ: ‘Vị sa-môn này vào đây bằng đường nào? Chắc chắn ông ta vì tham bánh mà đến, nhưng ta không cho’. Bà liền nói với Ca-lưu-đa-di: [141c]

– Dù ông nhìn lồi mắt, ta cũng không cho!

Ca-lưu-đà-di liền vận thần lực làm cho hai mắt lồi ra.

Bà lại nghĩ:

– Dù hai mắt ông lồi ra bằng cái bát ta cũng không cho.

Ca-lưu-đà-di liền biến hai mắt lồi ra lớn bằng cái bát.

Bà lại nghĩ:

– Dù ông đứng ngược đầu xuống đất trước mặt ta, ta cũng không cho.

Ca-lưu-đà-di liền đứng ngược đầu xuống đất.

Bà lại nghĩ:

– Dù ông có chết, ta vẫn không cho.

Ca-lưu-đà-di liền nhập định Diệt thụ tưởng[16], tâm ý không còn hoạt động.

Bấy giờ, vợ của bà-la-môn đến xô đẩy, kéo giật, nhưng ngài vẫn bất động, bà vô cùng hoảng sợ và suy nghĩ: ‘Vị sa-môn này thường đến cung vua Ba-tư-nặc thuyết pháp, là thầy của phu nhân Mạt-lợi. Nếu vua và phu nhân nghe sa-môn chết trong nhà ta, ắt ta sẽ mang họa lớn’. Bà nói với tì-kheo:

[141c] – Nếu ông sống lại, ta sẽ cho một chiếc bánh.

Ca-lưu-đà-di liền xuất định. Bà nhìn những chiếc bánh đã chiên xong, cái nào cũng rất ngon, có ý tiếc không muốn cho. Bà mới vét bột trong chậu được một ít bỏ vào chiên thì nó phồng lớn và ngon hơn những chiếc bánh trước. Bà liền lấy một cái bánh đã chiên trước đó đem cho, nhưng khi vừa cầm lên thì những chiếc bánh còn lại đều dính theo. Ca-lưu-đà-di hỏi:

– Bà cho tôi bao nhiêu chiếc bánh?

Bà liền cầm bốn chiếc bánh định cho, thì Ca-lưu-đà-di nói:

– Ta không cần bánh này, bà hãy đem đến tinh xá Kì-hoàn cúng dường cho chư tăng.

Do đời trước đã gieo trồng căn lành, nên bà ấy liền suy nghĩ: ‘Tì-kheo này thật ra không tham bánh, chỉ vì thương xót ta mà đến đây khất thực!’ Nghĩ thế rồi, bà liền mang một giỏ bánh đến tinh xá Kì-hoàn cúng dường chư tăng. Cúng dường xong, bà đến ngồi trước ngài. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di quán xét nhân duyên và thuyết pháp, bà liền đắc pháp nhãn tịnh, xin làm ưu-bà-di[17].

Khi trở về nhà, bà thuật lại, nghe xong chồng bà liền đến chỗ ngài Ca-lưu-đà-di và nghe thuyết pháp. Nghe xong, ông cũng đắc Pháp nhãn tịnh, làm ưu-bà-tắc[18]. Họ đem hết tiền tài và sức lực cúng dường, phụng sự chư tăng. Đến khi mạng chung họ còn dặn dò các con cúng dường mãi không dứt”.

Kinh Bách duyên[19] ghi: “Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà tại thành Vương Xá. Một hôm, Mục-kiền-liên đang ngồi bên gốc cây, thấy một con quỉ, thân như cây cột cháy, bụng lớn như quả núi, cổ nhỏ như cây kim, tóc như dao bén quấn cắt vào thân, các chi phần trên thân đều bốc cháy, khát nước sắp chết, môi miệng khô khan, muốn đến sông suối uống nước thì nước ở đó bỗng nhiên cạn khô. Giả sử trời mưa cam lồ, khi rơi trên thân nó, cam lồ đều biến thành lửa đỏ.

Mục-kiền-liên hỏi:

– Ngươi bị nghiệp gì mà chịu quả báo khổ như vậy?

Ngạ quỉ đáp:

– Tôi khát nước quá không thể giải thích được, Ngài đến hỏi Đức Phật sẽ rõ.

Mục-kiền-liên đến chỗ Đức Phật trình bày câu chuyện và bạch:

– Bạch Đức Thế Tôn! Con quỉ này kiếp trước do tạo nghiệp gì mà chịu quả báo khổ như vậy?

Đức Thế Tôn đáp:

– Hãy lắng nghe! Ta sẽ giải thích cho ông rõ. Vào kiếp Hiền, ở nước Ba-la-nại, có Đức Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Bấy giờ, có vị sa-môn trên đường đi giáo hóa, quá khát nước, gặp một người nữ tên là Ác Kiến đang múc nước bên giếng. Vị tăng kia đến xin nước uống, người nữ bảo:

– Dù ông có khát đến chết ta cũng không cho, nếu cho ông thì nước của tôi vơi đi, không thể gánh về.

Sa-môn xin không được nước bèn đi tiếp. Người nữ kia quá tham lam, bỏn xẻn, dù ai đến xin vẫn không cho. Sau khi mạng chung, cô ta bị đọa vào loài ngạ quỉ. Do nghiệp duyên này mà chịu quả báo đau khổ như thế.

Đức Phật bảo Mục-kiền-liên:

– Người nữ không cho nước lúc đó, nay chính là con quỉ này.

[142a] Lúc Đức Phật nói nhân duyên của Ác Kiến, các tì-kheo v.v… dứt bỏ tâm tham lam, bỏn xẻn, đắc bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề. Tất cả nghe Đức Phật nói đều hoan hỷ vâng giữ hành trì”.

Kinh Phó pháp tạng[20] ghi: “Bấy giờ, có vị a-la-hán tên là Tăng-già-da-xá, trí tuệ rộng lớn, giọng nói thanh nhã rõ ràng. Ngày xưa, lúc ngài đã xuất gia, nhưng chưa chứng đạo, một hôm trên đường giáo hóa, ngài đi đến vùng bờ biển, thấy một cung điện trang hoàng bảy báu, ánh sáng rực rỡ. Vào giờ thụ trai, ngài liền đến cung điện kia, nói kệ khất thực:

Đói là bệnh đệ nhất,

Hành là khổ đệ nhất,

Biết các pháp như thế,

Sẽ đắc quả Niết-bàn.

Lúc ấy, chủ nhà liền ra đón tiếp, trải chiếu mời ngài ngồi. Tăng-già-da-xá thấy trong nhà này có hai con quỉ, thân thể trần truồng gầy đen, đói khát yếu ớt, mỗi con đều bị xiềng xích vào chân giường, bên cạnh hai con quỉ đặt một bát đựng đầy cơm thơm và một bình nước.

Bấy giờ, chủ nhà lấy thức ăn đó cúng dường cho ngài Da-xá và nói:

– Đại đức! Ngài chớ đem thức ăn này cho hai con quỉ kia.

Da-xá thấy chúng quá đói khổ, liền lấy một ít cơm đem cho. Hai con quỉ vừa ăn cơm xong thì nôn ra máu mủ chảy khắp mặt đất, làm dơ cả cung điện. Da-xá kinh ngạc hỏi ông chủ:

– Hai con quỉ này vì nguyên nhân gì mà chịu quả báo khổ như vậy?

Chủ nhà đáp:

– Đời trước, hai con quỉ này, một đứa là con trai tôi, một đứa là con dâu tôi. Ngày xưa, thấy tôi bố thí để tạo các công đức, vợ chồng nó thường tức giận và tham tiếc. Tôi thường dạy bảo mà chúng không nghe lời. Nhân đó, tôi lập nguyện: ‘Tội như thế nhất định bị quả báo xấu, lúc chúng chịu tội, tôi sẽ trông coi’. Do nhân duyên đó mà chịu khổ như vậy.

Sau đó, Tăng-già-da-xá đi tiếp đến một nơi khác, thấy một tòa lầu gác được trang hoàng nhiều châu báu quí hiếm. Trong ấy chư tăng đi kinh hành, ngồi thiền rất đông. Đến giờ thụ thực, tiếng kiền chùy[21] vang lên, chúng tăng nhóm họp tại trai đường thụ thực. Khi sắp xong, các thức ăn ngon bỗng biến thành máu mủ, họ liền cầm bát ném nhau vỡ đầu, sưng mặt, máu chảy khắp thân, và tự than: ‘Sao chúng ta tham tiếc một chút thức ăn để nay phải chịu khổ thế này!’.

Tăng-già-da-xá đến hỏi nguyên nhân thì họ đáp:

– Trưởng lão! Vào thời Phật Ca-diếp, chúng tôi cùng ở chung với nhau. Một hôm, có khách tăng đến, chúng tôi tức giận, cất giấu thức ăn không chia cho vị ấy. Vì việc đó mà nay chúng tôi phải chịu khổ như vậy”.

Bài tụng nói về chính báo[22]:

[142b] Tham lam, giả đạo đức,

Sống bằng nghề sát sinh,

Lòng dối gạt muôn điều,

Tâm cầu lợi vạn thứ,

Chịu tội trong địa ngục,

Thói quen vẫn còn theo,

Bị dao bén lóc thịt,

Chỉ còn bộ xương trắng.

Bài tụng về Tập báo[23]:

Do lòng nhiều tham dục,

Chìm đắm trong đường ác,

Tội hết, sinh làm người,

Tập khí vẫn còn theo.

Thường ôm lòng lang sói,

Không ai thích gần gũi,

Suốt đời không tỉnh ngộ,

Đáng cười là người ngu.

XXIII.9. Giận dữ ghen ghét

Do bốn đại biến động, ba độc duổi rong, sáu giặc xâm hại, khiến phát sinh trăm mối lo dồn dập. Con người vốn đã nuôi lòng hiềm khích, nên luôn rình kiếm chỗ hay dở của nhau; hoặc luôn ôm mối hận thù, mà thường hãm hại nhau. Họ hoàn toàn mất hết nhân nghĩa, chẳng có lòng từ; tìm cách giết hại, tạo cớ giết, hoặc xúi người giết, hoặc khen sự giết, hoặc âm thầm đầu độc, hoặc bí mật dùng tà chú khiến vật độc đi vào lục phủ, ngũ tạng xé nát tâm can, làm cho người phải ngậm mối bi hận, mãi mãi ôm nỗi đau xuống cửu tuyền. Không biết dùng lời nào để nói hết nỗi oan khiên! Cho nên, kinh nói: “Trong nhà ông trưởng giả mọc nhiều cây độc, như người ôm phao qua biển mà la-sát theo xin”.

Cũng như một ngọn đèn có thể phá tan trăm năm tăm tối, một đốm lửa nhỏ cũng có thể thiêu rụi vạn bó củi khô. Thế mà, tâm sân hận còn hơn lửa dữ, cho nên người học đạo phải tự giữ gìn. Không có giặc cướp công đức nào ác hơn sân hận. Nếu một niệm lửa sân khởi lên, liền thiêu rụi tất cả các công đức lành. Do đó, người có tính ác thì tất cả mọi người và súc sinh đều kinh sợ. Không biết chọn người tốt để gần gũi thì lời nói trở thành ác độc; lòng luôn thích phá hoại người khác thì khiến người chán ghét. Người không có lòng từ ái, chúng sinh sẽ kinh sợ và ghét bỏ, lánh xa như tránh hổ sói; hiện tại bị người khinh miệt, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục. Cho nên, người trí thấy được lỗi này, phải dùng nhẫn nhục diệt trừ để chấm dứt đau khổ.

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu người nào khởi tâm sân hận là tự thiêu đốt thân mình. Tâm luôn sân hận thì dung mạo biến đổi, khiến mọi người đều kinh sợ, xa lánh, khinh miệt, ruồng bỏ, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Vì sân hận thì không việc ác nào mà không làm. Cho nên, người trí phải dứt bỏ tâm sân hận như tránh xa lửa dữ. Biết được lỗi của sân hận là tự làm lợi ích cho mình. Nếu muốn lợi ích cho mình và người thì phải thực hành hạnh nhẫn nhục.

[142c] Người dùng nước trí tuệ dập tắt lửa sân hận, cũng giống như người có sức mạnh dùng nước dập tắt lửa lớn đang thiêu đốt nhà cửa. Người hay nhẫn nhục thì tâm được thuần thiện. Nếu người bỏ được tâm sân hận thì ai cũng yêu mến, ưa gần gũi, tin tưởng, dung mạo luôn tươi sáng, tâm ý vắng lặng. Người khéo giữ tâm trong sạch thì thân miệng không lầm lỗi, hết sầu lo, không sợ đường dữ, dứt sự oán ghét, không mang tiếng xấu, không còn phiền não, oan gia chấm dứt, không bị người xấu chửi mắng, không còn các nỗi sợ hãi như hối tiếc, tiếng ác, điều bất lợi, bị khổ, tâm kiêu mạn. Nếu người không còn những nỗi sợ hãi như thế thì đầy đủ tất cả công đức, tiếng tốt đồn khắp, được niềm vui trong đời hiện tại và vị lai. Chúng sinh xem người nhẫn nhục ấy như cha mẹ, ưa thích gần gũi.

Thế nên, sân hận giống như rắn độc, dao bén, lửa dữ. Dùng nhẫn nhục diệt trừ thì mọi sân hận đều chấm dứt. Kiềm chế sự sân giận mới gọi là nhẫn.

Nếu người tu pháp lành thì nên suy nghĩ: “Nhẫn nhục giống như của báu cần phải khéo giữ gìn”. Nhưng chúng sinh, người thiện kẻ ác khác nhau; người ngu cho việc chửi mắng, vạch lỗi kẻ khác là hay, còn người trí thì cho hạ mình im lặng là trên hết. Người ngu, thường biến chuyện tranh cãi nhỏ thành oán thù lớn. Nếu mình hơn thì người kia oán hận càng sâu, ngược lại, thua người thì mình thêm buồn khổ. Vì thế, phải cẩn thận lời nói, không bàn lỗi của người. Người khác chửi mắng mình, đều là do nhân đời trước, chẳng phải vô cớ”.

Lục độ tập kinh[24]ghi: “Ngày xưa, có vị bồ-tát hóa làm một con voi chúa, tâm lượng rộng lớn, quán biết có Phật, pháp, tăng, nên qui y tam bảo, luôn dùng lòng từ cứu độ chúng sinh và phát nguyện: ‘Nếu thành Phật, ta sẽ độ tất cả chúng sinh’.

Voi chúa cai quản đàn voi năm trăm con, trong đó có hai con là vợ nó. Một hôm, voi chúa xuống ao hái được một hoa sen rất đẹp, liền cho vợ cả. Được hoa, vợ cả rất vui mừng nói:

– Tiết trời lạnh giá như thế, tại sao trong ao lại có hoa này?

Vợ nhỏ nổi lòng tham lam, ghen tức và thề:

– Ta sẽ dùng chất cực độc giết ngươi!

Vợ nhỏ do quá uất hận mà chết, thần thức đầu thai trở lại làm con gái một nhà giàu có, nhan sắc tuyệt trần, thông minh, hiểu thấu các việc xưa nay, có tài xem thiên văn, biết rõ thời vận thịnh suy.

Vua nghe tiếng, liền cưới cô ấy làm phu nhân. Vừa vào cung, phu nhân liền tâu trình chính sách cai trị đất nước, rất hợp với ý các trung thần, nên vua rất vui mừng và yêu quí, mỗi lời phu nhân nói ra vua đều nghe theo. Một hôm, phu nhân tâu:

– Thiếp nằm mộng thấy một con voi sáu ngà, nên muốn lấy ngà của nó để khảm lên ghế. Nếu bệ hạ không tìm được thì thiếp sẽ chết.

[143a] Vua nói:

– Nàng đừng nói những lời không hay như thế, mọi người nghe được sẽ chê cười!

Thấy phu nhân buồn rầu, vua liền cho gọi bốn vị đại thần đến bàn bạc, và nói đó là điềm mộng của mình rồi hỏi:

– Xưa nay có con voi như thế không?

Vị đại thần thứ nhất tâu:

– Tâu đại vương! Thần không nghe thấy!

Vị đại thần thứ hai tâu:

– Đại vương không mơ đấy chứ?

Vị đại thần thứ ba tâu:

– Thần nghe nói có con voi này, nhưng ở rất xa.

Vị đại thần thứ tư tâu:

– Nếu hỏi Đế Thích, sẽ biết rõ việc này.

Bốn vị đại thần cho gọi tất cả các thợ săn giỏi ở khắp nơi đến để hỏi việc đó.

Người thợ săn ở phương nam nói:

– Người cha quá cố của tôi nói có con voi đó, nhưng ở rất xa, khó đến được.

Bốn vị đại thần liền tâu lên vua:

– Tâu bệ hạ! Có một người biết!

Vua liền cho gọi người ấy đến. Phu nhân căn dặn:

– Ngươi đi thẳng về phía nam ba nghìn dặm, vào trong núi đi khoảng hai ngày thì đến chỗ con voi kia. Ngươi đào một cái hầm bên đường, cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa núp dưới hầm bắn nó, rồi cưa hai ngà mang về.

Thợ săn vâng lệnh, đi đến chỗ voi ở, núp bắn vào chân của nó trước, sau đó đắp pháp y, ôm bát đứng dưới hầm. Voi chúa thấy sa-môn, liền dập đầu nói:

– Kính lễ đạo sĩ! Vì cớ gì mà ngài muốn giết tôi?

Người thợ săn đáp:

– Ta muốn lấy ngà của ngươi.

Voi chúa nói:

– Tôi đau đớn khó chịu đựng nổi, ngài hãy cưa lấy ngà và đi nhanh, đừng để tâm tôi tán loạn khiến niệm ác khởi lên. Nếu khởi niệm ác, chết sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Phàm tu nhẫn nhục, thực hành hạnh từ bi, lấy thiện đáp ác, là hạnh cao thượng của bồ-tát.

Thợ săn liền cưa lấy ngà voi.

Voi chúa bảo:

– Đạo sĩ! Ngài hãy đi nhanh, chớ để đàn voi tìm thấy dấu vết.

Bảo thợ săn đi xa rồi, vì không chịu được sự đau đớn, voi quị hai chân xuống đất kêu lớn rồi an nhiên chết, thần thức liền sinh lên cõi trời.

Đàn voi khắp nơi kéo đến và hỏi:

– Ai giết vua của chúng tôi?

Chúng kéo nhau đi tìm, nhưng không thấy kẻ giết, liền trở về canh giữ xác của voi chúa, đau khổ gào khóc thống thiết.

Người thợ săn mang ngà voi về, vua vừa trông thấy vô cùng sợ hãi. Phu nhân cầm ngà voi trên tay vừa định xem thì bỗng nhiên bị sét đánh thổ huyết chết, thần thức đọa vào địa ngục.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Voi chúa lúc đó chính là Ta, người vợ cả là Cù-di, người thợ săn là Điều-đạt, phu nhân là Hảo Thủ. Bồ-tát tu nhẫn nhục ba-la-mật thì phải giữ giới như thế”.

Luận Đại trí độ ghi: “Thích-đề-hoàn-nhân nói kệ hỏi Đức Phật:

Giết vật nào an ổn,

Giết vật gì hết lo,

Vật gì gốc của độc,

Diệt mất tất cả thiện?

Đức Phật nói kệ đáp:

[143b] Giết sân được an ổn,

Giết sân không còn lo,

Sân là gốc của độc,

Sân diệt tất cả thiện”.

Kinh Tạp bảo tạng có bài kệ:

Thắng người, người càng oán,

Thua người, ta khổ sầu,

Người chẳng tranh hơn thua,

Là người vui tột bậc.

Nếu người thực hành hạnh nhẫn nhục thì có được năm đức:

  1. Không hận thù.
  2. Không trách mắng.
  3. Được mọi người thương yêu.
  4. Tiếng tốt vang xa.
  5. Đời sau sinh vào đường lành.

Năm đức này gọi là năm việc an lành.

Lại nữa, kinh Trường a-hàm[25] có bài kệ:

Ngu mắng, người trí im,

Tự cho mình đã thắng,

Người ngu không hiểu biết,

Bảo rằng ta sợ hãi,

Ta quán đệ nhất nghĩa,

Nhẫn nhục là tối thượng.

Những người tâm cực ác,

Giận hờn luôn chất chồng,

Không giận việc đáng giận,

Là chiến thắng tối thượng.

Làm người có hai việc,

Vì mình cũng vì người,

Mọi người có tranh cãi,

Không đáp lại mới hay.

Làm người có hai việc,

Vì mình cũng vì người,

Thấy người không tranh cãi,

Đừng cho là người ngu.

Nếu người có sức mạnh,

Mà nhịn kẻ yếu đuối,

Đấy mới là mạnh nhất,

Là hạnh nhẫn tối thượng.

Kẻ ngu cho mình mạnh,

Đây chẳng phải là mạnh,

Người nhẫn nhục như pháp,

Sức này không ai bằng.

Kinh Tu hành đạo địa[26] có bài kệ:

Miệng nói lời dịu dàng,

Nhưng lòng lại xấu xa,

Gặp người rất vui mừng,

Tỏ vẻ thích gần gũi.

Miệng nói lời hòa nhã,

Trong lòng lại độc ác,

Như cây hoa rất đẹp,

Quả lại đắng và độc.

Kinh Xích chủy ô dụ ghi: “Ngày xưa, có con quạ tên Câu-kỳ[27], làm tổ trên cây tại khu rừng rậm. Nó sinh con và kết bạn thân với một con khỉ. Lúc đó, trong rừng có con rắn độc luôn rình rập, đợi lúc Câu-kỳ đi vắng, [143c] liền đến bắt hết quạ con ăn thịt. Trở về thấy con bị mất, Câu-kỳ đau đớn khóc gào, không biết con mình ở đâu. Nó suy nghĩ mãi mới biết được rắn đã ăn con của mình. Khỉ trở về thấy Câu-kỳ buồn khóc, nên hỏi lý do.

Câu-kỳ đáp:

– Rắn bắt con của tôi ăn hết rồi!

Khỉ nói:

– Tôi sẽ trả thù cho bạn.

Bấy giờ, rắn độc đang bò đi thì khỉ đến vờn trước mặt. Rắn tức giận quấn lấy khỉ. Khỉ nắm được đầu của rắn, kéo đến chà xát vào một tảng đá cho chết, rồi ném bỏ xác rắn. Khỉ trở về báo tin, Câu-kỳ vô cùng vui mừng. Loài súc sinh còn báo thù như thế, huống gì loài người!”

Kinh Tạp thí dụ[28] ghi: “Ngày xưa, có một con rắn, đầu và đuôi tranh cãi nhau. Đầu nói:

– Ta lớn.

Đuôi nói:

– Ta lớn hơn.

Đầu nói:

– Ta có tai để nghe, mắt để thấy, miệng để ăn, lúc nào cũng đi trước, cho nên ta lớn hơn. Ngươi không có những khả năng đó thì làm sao gọi là lớn?

Đuôi nói:

– Ta cho đi thì ngươi mới đi được. Nếu ta không cho đi thì ngươi sẽ không đi được.

Nói rồi, nó liền dùng thân quấn vào cây ba vòng suốt ba ngày không buông ra. Đầu vì không tìm được thức ăn, đói khát sắp chết.

Đầu nói với đuôi:

– Ngươi hãy thả ra, ta chấp nhận ngươi lớn.

Đuôi nghe nói thế liền buông ra. Đầu nói với đuôi:

– Ngươi lớn hơn thì hãy đi trước.

Đuôi liền đi trước chưa được vài bước thì rơi xuống hố sâu chết”.

Truyện này Đức Phật dụ cho chúng sinh không có trí tuệ, mê chấp nhân ngã, cuối cùng phải đọa vào ba đường ác.

Luật Tăng-kỳ[29] ghi: “Vào đời quá khứ, có một đàn gà thường ở trong bụi rậm, bị chồn rình bắt ăn thịt, chỉ sót lại một con gà mái. Bấy giờ, có một con quạ đến sống chung và sinh được một con. Lúc nó tập kêu, quạ nói kệ:

Con không phải của ta,

Cha rừng, mẹ xóm thôn,

Sống chung sinh ra nó,

Không quạ, chẳng phải gà.

Nếu muốn học tiếng quạ,

Lại do gà sinh ra,

Nếu muốn học tiếng gà,

Cha nó lại là quạ.

Học quạ giống tiếng gà,

Học gà kêu tiếng quạ,

Học cả quạ và gà,

Cả hai đều không thành.

Ví dụ này là chỉ cho đạo sĩ tuy giữ giới cấm, nhưng chưa tinh thuần, còn tạp nhiễm, hình tướng tợ như thuần thiện, nhưng miệng nói ra lời ác. Muốn cho họ là người thiện, nhưng miệng họ lại nói ra những lời ác; muốn cho họ là người xấu, nhưng họ mang hình tướng xuất gia”.

Kinh Phạt độc thụ ghi: “Ngày xưa, trong khu vườn của một vị quan tại nước Xá-vệ, có mọc một loại cây độc. [144a] Người nào đi qua cây này đều bị đau đầu, hoặc bị đau lưng. Vị quan chặt bỏ, nhưng nó lại đâm chồi. Nó có vẻ đẹp khiến mọi người thích nhìn, nhưng họ không biết cây này rất độc. Người hiểu biết nói: ‘Phải đào tận gốc rễ’. Có người muốn đào, nhưng lại sợ chết, nên cứ lưỡng lự mãi. Người xuất gia học đạo cũng lại như thế.

Đức Phật liền nói kệ:

Đốn cây, không đào gốc,

Dù chặt, nó vẫn mọc,

Diệt ái không tận gốc,

Thì khổ lại phát sinh.

Vị tì-kheo tỉnh ngộ, lòng tự trách, liền đắc quả Tu-đà-hoàn”.

Lại trong kinh Bột[30] có bài kệ:

Điều ác từ tâm sinh,

Nó trở lại hại mình,

Như thanh sắt bị rỉ,

Hủy diệt hình tướng nó.

Cây trổ nhiều hoa, quả,

Ắt sẽ bị gãy cành,

Rắn hổ ngậm nọc độc,

Trở lại hại thân mình.

Luận Thiện kiến[31] có bài kệ:

Nếu người khởi tâm sân,

Giống như xe lao nhanh,

Người lái khéo điều khiển,

Cũng không có gì khó,

Người chế ngự tâm sân,

Việc ấy mới thật khó.

Kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:

Người khởi tâm sân hận,

Thường oán ghét người khác,

Đời sau đọa thân rắn,

Hoặc làm loài thú dữ.

Như tre bị đốn ngang,

Chuối trổ, la nghén chửa[32],

Trở lại tự hại mình,

Nên phải khởi lòng từ.

Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà tại thành Vương Xá. Bấy giờ, trong thành kia có một vị trưởng giả tên là Hiền Diện, rất giàu có, của báu vô số không thể tính hết, nhưng tính tình xấu xa, tham lam, ghen tị, nịnh hót, không có tâm bố thí. Ngay đến các loài chim, ông cũng đuổi không cho đến gần nhà mình.

Một hôm, có các vị sa-môn và bà-la-môn nghèo khổ đến nhà ông khất thực, ông dùng những lời độc ác chửi mắng. Do đó, sau khi mạng chung ông đọa làm thân rắn, trở lại giữ tài sản. Có ai đến gần nhà thì nó trợn mắt nhìn giận dữ và muốn cắn chết.

Vua Tần-bà-sa-la nghe việc này, lòng vô cùng kinh sợ, liền nghĩ: ‘Rắn độc này thấy người là muốn giết hại, nay chỉ có Đức Phật mới điều phục được nó thôi’. Vua nghĩ như thế, liền dẫn quần thần đến chỗ Đức Phật, [144b] đỉnh lễ dưới chân Ngài, ngồi sang một bên. Vua trình bày rõ sự việc trên và thỉnh Đức Thế Tôn hàng phục rắn độc này, không để nó hại người nữa. Đức Phật liền chấp nhận.

Ngày hôm sau, Đức Phật đắp y, ôm bát đến chỗ rắn độc. Vừa thấy Đức Phật, nó liền nổi cơn giận dữ muốn cắn. Đức Phật vận sức từ bi, từ năm đầu ngón tay phóng ra ánh sáng năm màu chiếu vào thân rắn độc kia, khiến toàn thân nó được mát mẻ, lửa độc tiêu trừ, lòng rất vui vẻ, ngoảnh đầu nhìn bốn phía và suy nghĩ: ‘Người này có phúc đức gì mà phóng ánh sáng chiếu vào thân thể khiến ta được mát mẻ thế này?’ Nó vui mừng không thể kể xiết.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn điều phục được rắn độc và nói nhân duyên đời trước của nó. Nghe xong, rắn độc tự trách, phiền não được tiêu trừ, tự nhớ biết đời trước mình là một trưởng giả, đã tạo các nghiệp ác, nên nay phải chịu quả báo này. Rắn độc liền ở trước Đức Phật, khởi lòng kính tin.

Đức Phật bảo:

– Đời trước ngươi không nghe lời Ta dạy nên phải chịu mang thân rắn này. Nay ngươi hãy lắng nghe.

Rắn độc thưa:

– Con sẽ nghe theo lời dạy của Đức Thế Tôn, không dám làm trái!

Đức Phật liền bảo:

– Nếu ngươi đã thuần phục thì hãy bò vào trong bát của Ta.

Đức Phật vừa nói xong, nó liền bò vào bát, Ngài mang về thả trong rừng. Vua và quần thần nghe Đức Phật đã điều phục được rắn độc và nhốt trong bình bát mang về, nhân dân cả nước kéo nhau đến xem. Khi thấy mọi người nhìn, rắn độc vô cùng hổ thẹn, chán ghét thân rắn, liền mạng chung, được sinh làm một vị trời lên cõi Đao-lợi. Bấy giờ, vị trời suy nghĩ: ‘Ta đã tạo phúc lành gì mà được sinh lên cõi trời?’. Vị trời liền quán sát, biết được lúc ở thế gian làm thân rắn, nhờ gặp Đức Phật mà sinh lòng kính tin và chán ghét thân rắn, nên đời sau được sinh lên cõi trời hưởng sự vui sướng. Vị trời nói: ‘Nay ta sẽ trở lại báo ân Đức Phật’. Vị trời hiện thân ánh sáng rực rỡ, mang hương hoa đến, đỉnh lễ dưới chân Đức Phật, cúng dường hoa hương xong, ngồi sang một bên, nghe Phật nói pháp, tâm ý khai thông, chứng quả Tu-đà-hoàn, liền nói kệ:

Bậc Đại Thánh cao tột,

Công đức đều đầy đủ,

Hay độ kẻ tối tăm,

Khiến chóng thành đạo quả.

Trừ cấu bẩn não phiền,

Vượt khỏi biển sinh tử,

Nay nhờ ơn Đức Phật,

Thoát khỏi ba đường ác.

Lúc bấy giờ, thiên tử khen ngợi Đức Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi trở về thiên cung. Vua Tần-bà-sa-la và hội chúng nghe Đức Phật nói về nhân duyên xan tham, có người đắc bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề, tất cả đều vui mừng, tin nhận, hành trì”.

[144c] Lại nữa, kinh Bách duyên ghi: “Lúc ở nước Kiều-tát-la, Đức Phật cùng các vị tì-kheo muốn đến bên cây lặc-na. Trên đường đi, ngang qua một đầm lầy có năm trăm người chăn năm trăm con trâu rất hung dữ. Từ xa, trông thấy Đức Phật cùng các tì-kheo đang đi đến, những mục đồng vội gọi lớn:

– Xin Đức Thế Tôn chớ đi con đường này! Vì trong đàn trâu kia có một con rất hung dữ, thường húc chết người, Ngài không thể qua được!

Bấy giờ, Đức Phật bảo năm trăm người chăn trâu:

– Các ngươi chớ lo sợ, giả sử trâu dữ kia đến húc, Ta sẽ tự biết cách đối phó!

Đức Phật vừa nói dứt lời, trâu dữ kia liền chạy đến, cong đuôi, cúi sừng, chân dậm xuống đất và rống lớn rồi lao thẳng về phía Đức Phật.

Lúc ấy, từ năm đầu ngón tay của Đức Như Lai hóa ra năm con sư tử đứng vây quanh Ngài, và có hầm lửa lớn bao bọc bốn phía. Trâu dữ kia thấy vậy vô cùng hoảng sợ, chạy quanh tìm lối thoát nhưng không có, chỉ thấy còn một khoảnh đất nhỏ trước chân Đức Phật là an ổn, mát mẻ. Nó liền chạy đến đó, bỗng nhiên lòng không còn lo sợ, quì xuống cúi đầu liếm chân Đức Phật, rồi ngẩng lên nhìn Ngài, vui mừng khôn xiết.

Bấy giờ, Đức Như Lai biết tâm của trâu dữ kia đã được điều phục, liền nói kệ:

Tâm ý khởi ác độc,

Muốn đến tổn hại Ta,

Mong sẽ được chiến thắng,

Trái lại, liếm chân Ta.

Khi trâu dữ nghe Đức Phật nói kệ xong, lòng vô cùng hổ thẹn, bỗng nhiên tỉnh ngộ, phiền não tiêu trừ. Nó liền biết được đời trước của mình làm người tạo nhiều nghiệp ác, lòng càng xấu hổ, không màng đến ăn uống. Sau đó nó mạng chung, được sinh làm thiên tử trên cõi trời Đao-lợi. Vừa sinh đến, vị trời bỗng thấy thân mình cao lớn như đứa trẻ tám tuổi, liền suy nghĩ: ‘Ta tu phúc lành gì mà được sinh lên cõi trời này?’. Thiên tử quán sát biết được lúc còn ở thế gian làm thân trâu, nhờ Đức Phật hóa độ mới được sinh lên cõi trời này, lại nghĩ: ‘Ta nay sẽ trở lại báo ân Đức Phật’. Nghĩ như vậy rồi, thiên tử liền mang hương hoa đến chỗ Đức Phật, ánh sáng rực rỡ chiếu rọi khắp nơi, đỉnh lễ dưới chân Đức Phật, ngồi sang một bên. Bấy giờ, Đức Phật nói pháp tứ đế. Thiên tử nghe xong, tâm ý thông suốt, đắc quả Tu-đà-hoàn, liền đứng dậy nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, rồi trở về thiên cung.

Sáng sớm hôm sau, năm trăm người chăn trâu kéo nhau đến chỗ Đức Phật. Nghe Phật giảng pháp vi diệu, tâm ý họ khai thông, mỗi người đều hiểu được lý đạo, cầu xin xuất gia. Đức Phật nói:

– Thiện lai tì-kheo!

Râu tóc của họ tự rụng, thân đắp ca-sa, liền thành sa-môn. Sau đó, họ siêng năng tu tập, đắc quả A-la-hán.

Các tì-kheo thấy việc này, liền bạch Đức Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Trâu dữ này và năm trăm người chăn trâu kia, kiếp trước tạo nghiệp gì mà chịu quả báo như thế? Lại tu phúc lành gì mà gặp được Đức Thế Tôn?

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Các ông muốn biết nghiệp báo của họ đã tạo ở kiếp trước, Ta sẽ nói cho các ông rõ. Đức Phật liền nói kệ:

Nghiệp thiện, ác đã tạo,

Năm kiếp vẫn không mất,

Nhờ nhân duyên thiện nghiệp,

Nay được phúc báo này.

[145a] Vào kiếp Hiền, tại nước Ba-la-nại, có Đức Phật Ca-diếp ra đời. Bấy giờ, trong pháp hội có vị tì-kheo Tam Tạng dẫn năm trăm đệ tử đến nước khác giáo hóa. Lúc ở trong chúng hội cùng nhau bàn luận, có người vặn hỏi, nhưng tì-kheo Tam Tạng trả lời không thông suốt, liền nổi giận, mắng nhiếc: ‘Các ngươi đã không hiểu biết, lại còn vặn hỏi ta, chẳng khác nào loài trâu muốn đến húc người’.

Lúc ấy, các vị đệ tử đều im lặng bỏ đi. Do miệng nói lời ác như thế, nên vị tì-kheo này năm trăm đời sinh làm trâu và năm trăm đệ tử làm người chăn trâu luôn đi theo canh giữ, đến hôm nay vẫn chưa được giải thoát.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Các ông nên biết, tì-kheo Tam Tạng lúc ấy, nay chính là con trâu hung dữ nhất trong đàn, các vị đệ tử lúc đó, nay là năm trăm người chăn trâu. Khi Đức Phật nói nhân duyên này, mỗi người tự giữ gìn ba nghiệp thân, miệng, ý, chán ghét sinh tử, đắc bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề. Nghe Đức Phật nói, tất cả đều vui mừng, vâng lời hành trì”.

Bài tụng Chính báo:

Người ngu nhiều sân hận,

Bị lửa địa ngục thiêu,

Lang, sói đứng vây quanh,

Rắn độc tranh nhau đến,

Giận dữ cắn xé ăn,

Bụng lưng bị xuyên thủng,

Mình làm mình phải chịu,

Lửa sân tranh nhau đốt.

Bài tụng Tập báo:

Tâm sân nhiều độc hại,

Chìm đắm trong đường ác,

Hết tội, sinh làm người,

Dư báo vẫn theo hại,

Thấy người, liền tìm lỗi,

Hiềm giận như cỏ độc,

Điều này không lợi ích,

Sân, ngu có quí gì!

XXIII.10. Nhận thức sai lầm

Người mới học đạo, cần phải lấy lòng tin làm đầu. Giống như người đến được núi báu, nếu không có đôi tay tín thì chẳng lấy được gì cả. Cho nên, trong kinh nói: Người ngu si không biết nhân quả, vọng khởi tà kiến, phỉ báng tam bảo và pháp tứ đế. Lại cho không có họa phúc, thiện ác, nghiệp báo thiện ác, cũng không có chúng sinh thụ sinh đời này, đời sau. Những người phá pháp thiện ác như thế, gọi là đoạn căn lành, nhất định sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ.

Như kinh Đại phẩm[33] ghi: “Nếu người không tin tam bảo, phỉ báng kinh Đại thừa bát-nhã, sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ chịu khổ trăm nghìn vạn ức năm, từ địa ngục này đến địa ngục khác. Nếu cõi này hư hoại thì sinh vào địa ngục ở cõi khác; địa ngục cõi ấy hư hoại thì sinh trở lại địa ngục cõi này, cứ xoay vần như thế, khắp cả mười phương thế giới. Các địa ngục cõi khác hư hoại thì sinh trở lại địa ngục ở thế gian này. Khi tội địa ngục hết, người ấy sinh vào loài súc sinh, cũng ở khắp cả mười phương thế giới. Khi chịu tội trong loài súc sinh xong, người ấy được sinh làm người, nhưng ở nơi không có Phật pháp, nghèo cùng, hèn hạ, không đủ các căn, thường ngu si, không hiểu biết, dẫu là người thông minh, nhưng cố chấp sai lầm cũng là tà kiến”.

Do đó, luận Thành thật ghi: “Ngu si có sai khác. Vì sao? Vì không phải tất cả người ngu si đều là bất thiện. Nếu ngu si tăng mạnh trở thành tà kiến thì gọi là bất thiện nghiệp đạo. Cho nên, do ngu si làm tăng trưởng tà kiến, nên mắc tội rất nặng, ắt sẽ đọa vào địa ngục A-tì. Xét về tà kiến, có nhẹ có nặng; nhẹ có thể chuyển, nặng không thể chuyển”.

Kinh Bồ-tát địa trì[34] ghi: “Tà kiến có hai loại:

1- Tà kiến có thể chuyển

2- Tà kiến không thể chuyển.

Như phỉ báng nhân quả, không tin có bậc thánh là loại tà kiến không thể chuyển. Không phải nhân mà chấp là nhân, không phải quả mà chấp là quả, là loại tà kiến có thể chuyển. Thế nên, nghiệp ác là tà kiến, nghiệp thiện là chính kiến”.

Không phỉ báng pháp tứ đế, nhưng không hiểu thánh đạo, không thông đạt chân lý từ tâm phát sinh, thường khổ thân để cầu giải thoát, giống như con chó đuổi theo viên đá mà không biết tìm người ném viên đá.

Cho nên, luận Đại trang nghiêm ghi: “Giống như loài sư tử, lúc bị người bắn, liền tìm theo đến chỗ người bắn. Còn loài chó ngu si kia, có người ném viên đá, liền đuổi theo viên đá mà không biết tìm người ném đá. Nói sư tử là dụ cho người có trí tuệ hiểu biết, xét thấu nguồn gốc của phiền não mà diệt trừ. Con chó ngu si là dụ cho ngoại đạo, dùng năm thứ lửa[35] thiêu đốt thân, không biết nguồn gốc của chơn tâm. Nhưng kẻ phàm ngu phần nhiều mê mờ chân lý, không biết quán xét thân, [145c] tâm vốn vô ngã, mà chỉ học tu khổ hạnh, cho đó là đạo, tức giống với bọn ngoại đạo tu theo tà pháp, chấp sai lầm, trái chân lý, cho nên thành pháp ác. Do đó, luận Đại trí độ ghi: “Tội tà kiến rất nặng, tuy giữ giới, hai nghiệp thân, miệng dù tốt, song cũng thuộc tà kiến, vì có tâm ác”.

Đức Phật nói thí dụ: “Nếu gieo hạt đắng, tuy nhờ bốn đại nuôi dưỡng, nhưng đến khi cây lớn lên trổ quả cũng có vị đắng”. Người tà kiến cũng thế, dù siêng năng trì giới, cũng thành pháp ác. Kẻ tà kiến không bằng người bố thí chút ít mà không chấp trước. Người không chấp thì dễ giáo hóa, kẻ cố chấp khó độ, không những tự hủy hoại mình mà còn làm tổn thương người khác”.

Nên luận Thành thật ghi: “Thà không tu, chứ không nên tu theo tà đạo. Nếu không, sau khi mạng chung sẽ đọa vào đường ác”.

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Diêm-la vương nói bài kệ trách các tội nhân:

Ngươi ngu si, tà kiến,

Bị dây si trói buộc,

Đọa vào địa ngục này,

Ở trong biển khổ lớn.

Ác kiến đốt hết phúc,

Làm người thấp hèn nhất,

Ngươi sợ đọa địa ngục,

Nhưng đó là nhà ngươi.

Nếu ai khởi tà kiến,

Người ấy không trí tuệ,

Tất cả nghiệp địa ngục,

Do tâm oán tạo ra.

Tâm oán là bậc nhất,

Oán này vô cùng ác,

Oán này hay trói người,

Dẫn xuống vua Diêm-la.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Si như cá di-nê,

Ở trong nhà tham ái,

Tạo nghiệp thì vui cười,

Chịu khổ lại gào khóc”.

Lại nữa, kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:

Miệng nói lời ngu si,

Người đó lòng mê muội,

Tâm không nghĩ điều ác,

Cũng không nhớ việc thiện.

Tâm hồn thường mờ mịt,

Không làm được việc gì,

Như chiên nấu ngoài gió,

Thức ăn không thể chín.

Huân tập ngu si nhiều,

Các căn không đầy đủ,

Sinh trong loài trâu, dê,

Sau đó đọa địa ngục.

Kinh Nguyệt Quang đồng tử[36], cũng gọi là kinh Phật thuyết Thân Nhật ghi: “Lúc bấy giờ, có trưởng giả tên Thân Nhật, nghe theo kế độc của bọn lục sư ngoại đạo[37], thỉnh Phật và chúng tăng đến nhà cúng dường. [146a] Họ bảo trưởng giả đào một cái hầm sâu khoảng năm trượng sáu ở ngay cửa ra vào, dùng than lửa đổ xuống hơn nửa hầm, bên trên gác những thanh sắt nhỏ, rồi phủ một lớp đất mỏng. Đồng thời, họ bày biện các thức ăn đã tẩm thuốc độc ở trong nhà. Họ bảo nhau: ‘Nếu hầm lửa không hại được thì thuốc độc trong thức ăn cũng đủ giết chết Phật và chúng tăng. Cứ theo kế hoạch này thì sợ gì Phật không chết’. Trưởng giả làm đúng như lời chỉ bảo, bọn ngoại đạo rất vui mừng.

Bấy giờ, Thân Nhật liền đến chỗ Đức Phật, ân cần thỉnh Ngài và thánh chúng. Đức Thế Tôn vì thương xót ông ta quá ngu si, cuồng loạn, muốn hóa độ ông, nên im lặng nhận lời. Thân Nhật vô cùng vui mừng và nghĩ: ‘Quả thật đúng như dự đoán của ta’.

Dù chất độc nhiều như núi Tu-di, kiếp hỏa có thể thiêu rụi nghìn cõi nước, và dao kiếm bén nhọn cũng đều không thể chạm đến một sợi lông của Đức Phật. Nay chỉ dùng một hầm lửa nhỏ và thức ăn tẩm độc mà muốn hại Đức Phật thì chẳng khác nào ruồi, muỗi muốn xô ngã núi Tu-di, hoặc như cánh mối, nhặng muốn che lấp mặt trời, mặt trăng. Như vậy, chỉ tự hủy hoại mình. Sao không sớm hối cải?

Bấy giờ, trưởng giả bị tội lỗi che mờ, tâm trí không thông. Đức Thế Tôn nghĩ: ‘Nay Ta nhận lời mời của Thân Nhật thì không nên đến một cách bình thường được’. Đức Phật liền vận sức thần thông, chấn động cả mười phương, rồi cùng với trăm nghìn thánh chúng và vô số các rồng, thần trên hư không hoặc dưới mặt đất, cùng lúc đến nhà làm lợi ích cho trưởng giả. Đức Phật dùng oai thần biến hầm lửa thành ao bảy báu đầy nước có đủ tám tính chất; cơm và thức ăn có tẩm độc đều biến thành món ăn cam lộ cõi trời. Mọi người đều rất vui mừng.

Thế là, lục sư ngoại đạo kinh sợ bỏ chạy, trưởng giả qui phục, cúi đầu đỉnh lễ dưới chân Đức Phật rồi thưa:

– Nay con mới biết nhờ Phật mà được giác ngộ!

Người đến dự hội nghe pháp âm của Đức Phật đều sinh phúc đức, được lợi ích không thể tính kể”.

Kinh Quán Phật tam-muội[38] ghi: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với phụ vương:

– Nhà của trưởng giả Tu-đạt ở thành Vương Xá, có một bà lão giúp việc rất siêng năng tên là Tỳ-đê-la, được trưởng giả giao chìa khóa kho và trông coi tất cả mọi việc thu chi trong nhà.

Một hôm, Tu-đạt thỉnh Phật và chúng tăng đến cúng dường những thứ cần dùng. Bấy giờ, các tì-kheo bệnh đến xin nhiều thứ, nên bà lão ấy khởi lòng tham tiếc, bỏn xẻn, sân hận, ghen ghét Phật, pháp, tăng nên nói:

– Trưởng giả tôi bị phép thuật của sa-môn mê hoặc trở nên ngu si. Họ chỉ là những người xin ăn, mong cầu mãi không biết chán, nào có đạo đức gì!

Nói thế rồi, bà liền phát nguyện xấu: ‘Ta nguyện đời đời không nghe đến tên Phật và tăng’. Lời nguyện xấu ấy lan dần đến thành Vương Xá. Phu nhân Mạt-lợi nghe được liền nói:

– Trưởng giả Tu-đạt đẹp như hoa sen, mọi người thích tiếp xúc, tại sao lại có người giúp việc ác như rắn độc vậy?

Phu nhân cho gọi vợ của Tu-đạt đến hỏi:

– Nhà ngươi có bà già giúp việc miệng mồm độc ác, [146b] chuyên phỉ báng Phật, pháp, tăng, tại sao không đuổi đi?

Vợ Tu-đạt quì xuống thưa:

– Người xấu ác như Ương-quật-ma-la v.v… mà Đức Phật còn hàng phục được, huống gì bà tớ già này!

Phu nhân Mạt-lợi nghe nói thế, lòng vô cùng vui mừng bảo:

– Ta thỉnh Phật ngày mai vào cung cúng dường. Ngươi hãy bảo bà giúp việc đến đúng vào giờ thụ trai.

Sáng hôm sau, trưởng giả Tu-đạt sai bà giúp việc đem một bình đựng đầy vàng đến giúp vua cúng dường. Phu nhân Mạt-lợi thấy bà đến, liền suy nghĩ: ‘Người tà kiến này, nếu Đức Phật hóa độ, ta cũng được lợi ích’.

Bấy giờ, Đức Phật từ cửa chính đi vào, Nan-đà hầu bên trái, A-nan hầu bên phải, La-hầu-la đi phía sau. Bà lão vừa thấy Phật liền run sợ và nói: ‘Người xấu này theo sau ta đến đây!’

Nói xong, bà bỏ chạy, định chui qua lỗ chó để thoát ra ngoài. Bỗng nhiên lỗ kia liền bít lại và các cửa xung quanh đều đóng kín, chỉ trừ cửa chính. Bà liền dùng quạt che mặt. Đức Phật đứng trước bà và khiến cho cây quạt trong suốt như tấm kiếng, không còn che mặt được. Bà quay nhìn về phía đông thì thấy phía đông có Phật; nhìn về phía nam, tây, bắc cũng đều thấy như thế. Nhìn lên trên thì thấy phía trên có Phật, nhìn xuống đất cũng thấy khắp mặt đất đều có Phật. Bà dùng tay che mặt lại, thì mười đầu ngón tay đều hóa thành Phật. Bà nhắm mắt lại, tâm nhãn liền khai mở, thấy Hóa Phật trên hư không khắp cả mười phương thế giới. Lúc ấy, trong thành có hai mươi lăm người nữ thuộc giai cấp Chiên-đà-la, năm mươi người nữ thuộc giai cấp Bà-la-môn và các giai cấp khác, cùng vào cung của phu nhân Mạt-lợi. Tất cả năm trăm người đó, trước kia không tin Phật, nhưng hôm nay thấy Đức Phật bay trên hư không, hiện vô số thân để giáo hóa bà giúp việc, họ liền dứt hết tà kiến, đỉnh lễ Đức Phật và niệm ‘Nam-mô Phật’. Vừa niệm xong, thấy hóa Phật nhiều vô số, họ liền phát tâm bồ-đề. Tuy thấy Đức Phật, bà lão tà kiến vẫn chưa khởi lòng kính tin, nhưng nhờ gặp Đức Phật, nên trừ được tội sinh tử trong tám mươi vạn ức kiếp. Sau khi gặp Phật rồi, bà chạy nhanh về nhà thưa với trưởng giả Tu-đạt:

– Hôm nay tôi gặp một việc rất xấu, thấy sa-môn Cù-đàm ở trong cung vua, làm các trò huyễn hóa, thân như núi vàng, mắt như hoa sen xanh, phóng ánh sáng rực rỡ.

Nói xong, bà lấy trăm tấm da trùm lên cái lồng gỗ, rồi chui vào đó, dùng miếng vải trắng trùm kín đầu, nằm trong bóng tối.

Khi Đức Phật sắp trở về tinh xá Kì-hoàn, phu nhân Mạt-lợi thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn! Xin Ngài ở lại giáo hóa bà lão tà kiến kia, đừng trở về tinh xá!

Đức Phật bảo phu nhân Mạt-lợi:

– Bà lão này tội rất nặng, không có duyên với Ta, nhưng có nhân duyên rất lớn với La-hầu-la.

Phật trở về tinh xá, liền sai La-hầu-la đến nhà Tu-đạt hóa độ bà lão kia.

Bấy giờ, La-hầu-la biến thành Chuyển luân thánh vương, một nghìn hai trăm năm mươi vị tì-kheo hóa làm thiên tử, cùng nhau đến nhà Tu-đạt, biến bà lão kia thành ngọc nữ. Lúc ấy, Chuyển luân thánh vương dùng ngọc như ý chiếu vào mặt bà lão, [146c] khiến bà tự thấy mình như ngọc nữ. Lòng vô cùng vui mừng, bà nói:

– Các vị sa-môn kia chỉ khoác lác, tự nói mình có đạo, nhưng chẳng có chút linh nghiệm gì. Bậc Chuyển luân thánh vương ra đời, làm lợi ích khắp nơi, khiến cho bà lão xấu xí như ta trở thành ngọc nữ!

Nói xong, bà ấy gieo năm vóc sát đất đỉnh lễ Chuyển luân thánh vương. Bấy giờ, vị quan coi về kinh điển diễn nói mười điều thiện cho bà nghe. Nghe xong, bà vô cùng vui mừng và suy nghĩ: ‘Lời của Chuyển luân thánh vương nói ra đều đúng!’. Bà liền đỉnh lễ, sám hối tội lỗi, tự trách, tâm hoàn toàn thuần phục.

Bấy giờ, La-hầu-la và các tì-kheo hóa lại hình tướng cũ. Bà lão trông thấy, liền nói: ‘Phật pháp thanh tịnh không bỏ chúng sinh. Người xấu ác như ta mà vẫn được hóa độ!’

Bà xin lãnh thụ năm giới, đắc quả Tu-đà-hoàn. La-hầu-la dẫn bà đến chỗ Đức Phật, đỉnh lễ sám hối tội lỗi. Sau đó, bà xin Phật xuất gia, rồi chứng quả A-la-hán, bay lên hư không hóa hiện mười tám thứ thần biến.

Vua Ba-tư-nặc và phu nhân Mạt-lợi thấy vậy, liền bạch Đức Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Bà lão này đời trước đã tạo tội gì mà nay làm thân tôi tớ? Lại tạo phúc lành gì mà được gặp Phật và đắc đạo?

Đức Phật đáp:

– Vào thời quá khứ lâu xa, có Đức Phật Nhất Bảo Cái Đăng Vương ra đời. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, vào thời tượng pháp có một vị vua tên là Tạp Bảo Hoa Quang. Vua có người con tên là Khoái Kiến xuất gia học đạo, cậy mình là vương tử, nên lòng thường kiêu mạn. Khi hòa thượng bổn sư nói nghĩa ‘Đại không’ sâu xa vi diệu của kinh Bát-nhã Ba-la-mật, vương tử nghe xong, hiểu sai, nói bậy. Sau khi bổn sư thị tịch, vương tử nói:

– Đại hòa thượng bổn sư của tôi không có trí tuệ, chỉ biết khen ngợi nghĩa ‘không’. Tôi nguyện đời sau không muốn gặp ông ta. Vị A-xà-lê của tôi có trí tuệ, biện tài, nguyện đời đời làm thiện tri thức của tôi.

Nói xong, ông còn dạy bảo đồ chúng làm theo tà kiến. Tuy ông ta giữ giới cấm, nhưng do phỉ báng kinh Bát-nhã, hiểu sai, nói bậy, nên sau khi mạng chung bị đọa vào địa ngục A-tỳ, chịu khổ vô lượng trải qua tám mươi ức kiếp. Khi tội địa ngục hết, sinh lại làm người nghèo cùng, hèn hạ, năm trăm đời chịu thân đui, điếc ngu si, một nghìn hai trăm năm thường làm kẻ tôi tớ.

Đức Phật bảo vua Ba-tư-nặc:

– Vị hòa thượng lúc ấy, nay chính là Ta; vị a-xà-lê nay là La-hầu-la; vương tử tì-kheo, nay là bà lão này; các chúng đệ tử, nay là những người nữ tà kiến phát tâm bồ-đề này”.

Kinh Tát-già Ni-kiền tử[39] ghi: “Ngày xưa, Đức Phật còn tại thế, ở thành Uất-xà-diên. Lúc ấy, vua Nghiêm Xí hỏi Tát-già Ni-kiền tử:

– Nếu có người ác, không tin tam bảo, thiêu đốt chùa tháp, kinh sách, tượng Phật, bồ-tát, dùng lời ác độc phỉ báng rằng: ‘Người xây chùa, in kinh, tạo tượng sẽ[147a] không có phúc đức; người cúng dường chùa tháp, kinh Phật hiện tại bị hao tổn tiền của mà tương lai không được lợi ích gì’; hoặc ghét chùa tháp tượng Phật, bồ-tát, ngăn trở hoặc phá hoại, hoặc bắt dời đi nơi khác; hoặc đập phá nhà cửa, hang động của sa-môn; hoặc chiếm đoạt vật của Phật, pháp, tăng như ruộng vườn, nhà cửa, voi ngựa, xe cộ, người công quả, súc vật, áo quần, ngọa cụ và châu báu; hoặc dùng roi vọt đánh đập bắt sa-môn làm sai dịch, buộc họ phải hoàn tục; hoặc có tâm khinh thường bày các trò đùa giỡn; hoặc chỉ trích, chửi mắng, phỉ báng; hoặc tự tay cầm cây đánh đập; hoặc dùng mọi cách làm sa-môn bị thương; những người ác như thế, thuộc loại chúng sinh nào?

Tát-già Ni-kiền tử đáp:

– Đại vương! Người ấy thuộc loại chúng sinh phạm tội ngũ nghịch. Đại vương nên dùng hình phạt nặng nhất để trị tội những người đó. Vì sao? Vì họ tạo tội căn bản cực nặng. Có năm tội nặng căn bản:

1- Phá hoại chùa tháp, thiêu đốt kinh tượng, lấy vật tam bảo, tự lấy, hoặc bảo người lấy, hay thấy người lấy mà vui mừng.

2- Phỉ báng pháp tam thừa, cản trở, che giấu không lưu truyền.

3- Nếu có sa-môn tín tâm xuất gia, cạo bỏ râu tóc, thân đắp ca-sa, dù giữ giới hoặc không giữ giới cũng đều bắt nhốt vào ngục, gông cùm xiềng xích, dùng roi vọt đánh đập, bắt lao động nặng nhọc, hoặc lột áo ca-sa, bức ép họ hoàn tục, hoặc giết chết.

4- Phạm một tội trong ngũ nghịch.

5- Không tin có tất cả nghiệp báo thiện ác, thường làm mười điều ác, không sợ quả báo đời sau, tự làm, hoặc bảo người khác làm, cố chấp không bỏ.

Nếu người phạm tội nặng căn bản như thế mà không tự sám hối, thì nhất định tất cả căn lành sẽ bị thiêu rụi, đọa vào địa ngục lớn, chịu khổ không ngừng, vĩnh viễn không có ngày ra.

Nếu đất nước có những người ác phá hoại tam bảo như thế, tất cả chư Phật và a-la-hán, thánh nhân đều bỏ đi, chư thiên buồn khóc, thiện thần không ủng hộ. Mọi người giết hại lẫn nhau, giặc cướp hoành hành khắp nơi, long vương ẩn mất, hạn hán xảy ra, mưa gió thất thường, ngũ cốc mất mùa, nhân dân đói khát, ăn nuốt lẫn nhau, xương trắng đầy đồng, bệnh tật gia tăng, chết chóc vô số. Tất cả nhân dân thấy thế mà không biết tự suy xét lỗi của mình, trái lại, oán trời, trách thiện thần”.

Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Có bảy loại tội nặng, mỗi một tội có thể khiến [147b] chúng sinh rơi vào địa ngục A-tỳ, trải qua tám vạn bốn nghìn đại kiếp:

  1. Không tin nhân quả
  2. Phỉ báng không tin có Phật ở mười phương
  3. Đoạn giống trí tuệ
  4. Phạm bốn tội trọng, luống uổng cơm tín thí
  5. Lạm dụng vật của chư tăng
  6. Bức hiếp, phá hạnh thanh tịnh của tì-kheo-ni
  7. Làm hạnh bất tịnh với lục thân.[40]”

Kinh Tiểu ngũ trược ghi: “Người phạm tội ngũ nghịch, có năm hạng:

  1. Khinh thường cha mẹ, thờ cúng quỉ thần
  2. Ganh ghét quốc vương
  3. Khinh mạn sư trưởng
  4. Coi nhẹ thân mạng, quí trọng tiền tài
  5. Không làm phúc, còn tạo tội lỗi”.

Kinh Trung a-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Nếu kẻ phàm phu ngu muội, ba nghiệp thân, miệng, ý tạo ác, sau khi mạng chung đọa vào địa ngục, chịu khổ vô cùng, không một chút vui vẻ.

Như có người phạm tội trộm bị bắt giao cho vua. Vua liền sai người, buổi sáng đâm một trăm mũi giáo vào mình người tội, nhưng người kia vẫn sống; đến trưa, vua lại sai đâm hai trăm mũi giáo, người kia vẫn còn sống; đến chiều, vua lại sai đâm ba trăm mũi giáo. Tuy toàn thân tan nát, nhưng người ấy vẫn còn sống.

Đức Phật hỏi các tì-kheo:

– Các ông nghĩ sao? Người này bị giáo đâm có đau khổ không?

Các tì-kheo đáp:

– Bạch Đức Thế Tôn! Một ngọn giáo đâm đã đau đớn rồi, huống gì ba trăm mũi!

Đức Phật liền đưa tay bốc một nắm đá vụn lớn bằng hạt đậu, rồi hỏi các tì-kheo:

– Đá trong tay ta so với đá ở núi Tuyết, đá nào nhiều hơn?

Các tì-kheo đáp:

– Bạch Đức Thế Tôn! Đá trong núi Tuyết nhiều hơn, không thể so sánh được.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Nỗi khổ bị ba trăm mũi giáo đâm ít như nắm đá vụn này. Còn nỗi khổ trong địa ngục gấp trăm nghìn vạn lần so với đá ở núi Tuyết. Các ông thấy sự đau khổ trong địa ngục như thế nào?

Có chúng sinh đọa vào địa ngục, ngục tốt dùng búa nung đỏ chém khắp thân thể. Trải qua trăm nghìn năm chịu đau khổ vô cùng mà tội nhân vẫn không chết. Khi nghiệp ác ở đây chấm dứt, tội nhân lại bị bắt ngồi trên giường sắt ngục tốt dùng kềm kẹp miệng, bắt nuốt hòn sắt nóng, trải qua trăm nghìn năm; lại bị bắt ngồi trên giường sắt, rót nước đồng sôi vào miệng, trải qua trăm nghìn năm. Kế đó tội nhân bị bắt nằm trên đất sắt, ngục tốt dùng đinh sắt nóng đóng khắp thân thể, trải qua trăm nghìn năm. Ngục tốt lại kéo lưỡi tội nhân ra bắt liếm vào đất sắt, dùng đinh đóng căng ra như căng da trâu, trải qua trăm nghìn năm. Ngục tốt lại kéo gân cổ tội nhân buộc vào xe kéo, trải qua trăm nghìn năm. Lại đốt đất sắt nóng, rồi bảo tội nhân đi trên đó, trải qua trăm nghìn năm. [147c] Núi lửa đang cháy, ngục tốt bắt tội nhân đi trên đó, vừa đặt chân xuống máu thịt tiêu tan, nhấc chân lên thì sống trở lại, trải qua trăm nghìn năm. Tội nhân lại bị chiên nấu trong vạc dầu sôi, trải qua trăm nghìn năm, chịu đau khổ vô cùng, nhưng vẫn không chết. Đến khi tội hết mới ra khỏi. Chịu tội trong địa ngục xong, họ lại vào loài súc sinh, thường ở nơi tối tăm ăn nuốt lẫn nhau, chịu khổ vô cùng không thể nói hết. Chịu tội trong loài súc sinh xong, họ có thể được sinh làm người. Nhưng từ loài súc sinh đến được làm người rất khó, giống như con rùa mù gặp bộng cây nổi. Giả sử được sinh làm người, cũng nghèo cùng, hèn hạ, bị người khác sai khiến, dung mạo xấu xí, không đủ các căn, hoặc bị chết yểu. Nếu người tạo nghiệp ác thì cứ chết đi sống lại, luân chuyển mãi trong địa ngục, không thể nói hết.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Kẻ phàm phu ngu muội, thân, miệng, ý tạo nghiệp ác nên phải chịu tội như thế.

Đức Phật lại bảo:

– Người có trí tuệ, ba nghiệp thân, miệng, ý tạo nghiệp thiện, sau khi mạng chung được sinh lên cõi trời, hưởng thụ vui sướng, như vua Chuyển luân có đầy đủ bảy báu[41] và bốn diệu[42] của nhân gian.

Đức Phật lại hỏi các tì-kheo:

– Các ông nghĩ sao? Việc này có vui không?

Các tì-kheo thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn! Được một vật báu và một món diệu cũng rất vui rồi, huống gì được bảy báu và bốn diệu!

Đức Phật lại đưa tay bốc một nắm đá vụn lớn bằng hạt đậu, rồi hỏi các tì-kheo:

– Đá trong tay ta so với đá ở núi Tuyết, đá nào nhiều hơn?

Các tì-kheo thưa:

– Bạch đức Thế Tôn! Đá trong núi Tuyết nhiều không thể ví dụ được.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Niềm vui của Chuyển luân thánh vương so với niềm vui ở cõi trời giống như nắm đá vụn này với đá trong núi Tuyết. Các ông thấy niềm vui của cõi trời thế nào? Nếu người được sinh lên cõi trời, tùy ý hưởng thụ sáu trần, vui vẻ vô cùng không thể kể xiết. Nếu từ cõi trời sinh xuống nhân gian, lại sẽ sinh vào cung vua, hoặc dòng tộc cao quí, rất giàu sang, nhiều tiền của, vật báu, tiếng tăm vang xa, tướng mạo đoan chính, nhan sắc xinh đẹp, được mọi người yêu mến. Người có trí tuệ, ba nghiệp thân, miệng, ý tạo điều lành thì được phúc như vậy. Đây là niềm vui hữu lậu của thế gian. Nếu người tu tập căn lành, hồi hướng đạo Bồ-đề, cho dù ở trong sinh tử vẫn hưởng thụ phúc báo ấy. Mãi đến khi chứng Niết-bàn phúc báo ấy cũng không hết”.

Bài tụng Chính báo:

Sáu giặc gian tà, ngụy,

Bảy thức loạn, trái chân,

Luôn phỉ báng chính pháp,

Vọng ngữ, lại tham, sân,

[148a] Tha hồ tạo nghiệp ác,

Lời đúng không thích nghe,

Đọa vào ngục Vô gián,

Muôn khổ trói buộc thân.

Bài tụng Tập báo:

Người tà kiến, ngu si,

Chịu khổ ngục A-tỳ,

Tội hết, sinh làm người,

Lại tiếp tục tà kiến,

Tà, chính vốn trái nhau,

Tự tạo thành dối trá,

Tâm này nếu không đổi,

Chìm mãi trong địa ngục.

***

Chú thích:

[1] Tứ nhiếp pháp 四攝法 (S: catvāri saṃgraha-vastūni): bốn phương pháp bồ-tát dùng để nhiếp thụ chúng sinh, khiến họ sinh khởi tâm thân ái mà dẫn dắt họ vào Phật đạo để đạt ngộ. Đó là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.

[2] Luật Tứ phần (Tứ phần luật 四分律; S: Dharmagupta-vinaya): luật, sáu mươi quyển, do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch ở Trường An vào đời Diêu Tần, Trung Quốc, khoảng 410-412, được xếp vào Đại chính tạng, tập 22.

[3] Kinh Hoa thủ (Hoa thủ kinh 華首經; S: Kuśala-mūla-saṃgraha): kinh, mười quyển, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Diêu Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại chính tạng, tập 16. Nội dung kinh này thuật lại việc Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà thành Vương Xá, giảng nói cho các bồ-tát ở mười phương nghe về quá trình đắc đạo của Đại thừa bồ-tát, quả báo khổ đau của việc hủy báng hành giả Đại thừa và công đức hộ trì Phật pháp, tạo tượng v.v.

[4] Luận Đại trí độ (Đại trí độ luận 大智度論; S: Mahāprajñāpāramitaśastra): luận, một trăm quyển, do bồ-tát Long Thụ soạn, ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Hậu Tấn, Trung Quốc, được xếp vào Đại chính tạng, tập 25. Nội dung luận này giải thích kinh Đại phẩm bát-nhã.

[4] Kinh Báo Ân (Báo ân kinh 報恩經; Cg: kinh Đại phương tiện Phật báo ân): kinh, bảy quyển, chín phẩm, mất tên người dịch. Nội dung kinh này nói lúc Đức Phật ở núi Linh Thứu, A-nan nghe ngoại đạo chê trách Đức Phật không có hiếu, nên bạch Phật. Đức Phật liền phóng ánh sáng nhóm họp chư bồ-tát khắp mười phương, Ngài nói về nhân duyên thái tử Tu-xà-đề lấy thịt của mình để cứu cha mẹ, hoặc lên cõi trời Đao-lợi thuyết pháp cho mẹ nghe.

[4] Thất thánh tài 七聖財: bảy thánh pháp để thành tựu Phật đạo. Đó là tín, giới, tàm, quí, văn, thí, tuệ. Vì bảy pháp được giữ gìn này có công năng trợ giúp cho việc thành Phật, nên gọi là tài.

[7] Dư báo 餘報: nghiệp báo đời trước còn sót lại.

[8] Luận Tát-bà-đa (Tát-bà-đa luận 薩婆多論): luận, chín quyển, mất tên người dịch, được xếp vào kinh sách đời Tần.

[9] Kinh Phân biệt nghiệp báo (Phân biệt nghiệp báo kinh 分別業報經): kinh, một quyển, bồ-tát Đại Dũng soạn, ngài Tăng-già-bạt-ma đời Tống dịch. Kinh này đều là kệ tụng; nội dung giải thích nghiệp báo của năm đường.

[10] Nhiếp Luận 攝論 (S: Mahãyãmã-Samparigraha-Sastra): luận, ba quyển, do ngài Vô Trước người Ấn Độ soạn, ngài Huyền Trang dịch, được xếp vào Đại chính tạng, tập 31. Nội dung luận này bao gồm tất cả yếu nghĩa pháp môn thánh giáo của Phật giáo Đại thừa.

[11] Kinh Niết-bàn (Niết-bàn kinh 涅槃經; Gđ: kinh Đại bát Niết-bàn; S: Mahã-parinirvãna-Sũtra): kinh, ba quyển, do ngài Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn, Trung Quốc, Được xếp vào Đại chính tạng, tập 1. Nội dung kinh này giảng thuyết về giáo nghĩa Như Lai thường trụ, chúng sinh đều có Phật tính, hạng xiển-đề thành Phật.

[12] Luận Đại trang nghiêm (Đại trang nghiêm luận 大莊嚴論. Gđ: Đại trang nghiêm kinh luận): luận, mười lăm quyển, do ngài Mã Minh sáng tác; ngài Cưu-ma-la-thập dịch. Nội dung ghi chép rộng rãi những câu chuyện về tiền thân, hiện đời của Đức Phật, cho đến những chuyện liên quan đến việc thiện ác, nhân duyên, thí dụ vào thời đại của người biên soạn, với mục đích đưa con người vào chính tín.

[13] Kinh Tăng nhất A-hàm (Tăng nhất A-hàm kinh 僧一阿含經; S: Ekottari kãgama): kinh, năm mươi mốt quyển. Do ngài Tăng-già-đề-bà thời Đông Tấn dịch. Gồm nhiều bài kinh ngắn do Đức Phật tùy thời nói cho chư thiên và người nghe. Kinh này mang đậm tư tưởng Đại thừa.

[14] Kinh Xuất diệu (Xuất diệu kinh 出曜經; S: Dharmatrāta): kinh hoặc luận , ba mươi quyển, do tôn giả Pháp Cứu soạn, ngài Trúc Phật Niệm đời Diêu Tần, Trung Quốc dịch vào khoảng năm 351-417 đời Đông Tấn, được xếp vào Đại chính tạng, tập 4. Nội dung kinh này gồm 34 phẩm, được hình thành bởi những bài kệ tụng theo hình thức giáo huấn của Phật giáo và tập hợp các sự tích theo lối chú thích.

[15] Luật Thập tụng (Thập tụng luật 十誦律): luật, sáu mươi mốt quyển, do hai ngài Phất-nhã-đa-la và Cưu-ma-la-thập cùng dịch vào đời Diêu Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại chính tạng, tập 23. Nội dung bộ luật này chia giới luật thành mười phần để giải thích.

[16] Diệt thụ tưởng định 滅受想定 (Cg: diệt tận định; S: nirodha-samāpatti): định diệt trừ tâm và tâm sở để trụ ở vô vi tâm, cùng với Vô tưởng định, gọi là nhị vô tâm định. Nhưng vô tưởng định là quả vị chứng đắc của hàng dị sinh phàm phu. Còn định này là quả vị chứng đắc của Phật và các vị a-la-hán, bậc đã xa lìa định chướng, đầy đủ sự giải thoát.

[17] Ưu-bà-di 優婆夷 (S: upāsikā): người nữ tôn kính tam bảo, thụ tam qui, giữ năm giới, thực hành thiện pháp, là một trong hai chúng đệ tử tại gia của Phật.

[18] Ưu-bà-tắc 優婆塞 (S: upāsaka): người nam phụng thờ tam bảo, thụ trì năm giới, là một trong hai chúng đệ tử tại gia của Phật.

[19] Kinh Bách duyên: tức kinh Soạn tập bách duyên (Soạn tập bách duyên kinh 撰集百緣經; S: Avadāna-śataka), mười quyển, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô, được xếp vào Đại chính tạng, quyển 4. Nội dung bộ kinh này gồm mười phẩm, nói về nhân duyên nghiệp báo thiện ác của chúng sinh.

[20] Kinh Phó pháp tạng (Phó pháp tạng kinh 付法藏經; Cg: Phó pháp tạng nhân duyên truyện): kinh hoặc truyện, sáu quyển, do ngài Cát-ca-dạ và Đàm Diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy, Trung Quốc, được xếp vào Đại chính tạng, tập 50. Nội dung nói về sự tích truyền pháp và thế hệ truyền thừa của hai mươi ba vị tổ Ấn Độ.

[21] Kiền chùy 犍椎 (Cg: kiền trĩ): khí cụ để đánh báo giờ trong tự viện. Theo luật Ngũ phần 18 và đại tì-kheo tam thiên uy nghi, quyển hạ, khi bố-tát hoặc tụng kinh, để tập hợp chúng tăng thụ trai.., các chùa đều có đánh kiền chùy, giống như đánh bảng trong tự viện ngày nay.

[22] Chính báo 正報: quả báo chính thể của hữu tình do nghiệp nhân quá khứ mà cảm được. Tức thân tâm của hữu tình hiện tại.

[23] Tập báo 集報: quả báo do tập khí ác quá khứ còn sót lại.

[24] Lục độ tập kinh 六度集經: kinh, tám quyển, do ngài Khương Tăng Hội dịch vào đời Ngô, Trung Quốc, được xếp vào Đại chính tạng, tập 3. Nội dung kinh này gồm chín mươi mốt câu chuyện bản sinh của Đức Phật, phối hợp với lục độ mà thành.

[25] Kinh Trường A-hàm (Trường A-hàm kinh 長阿鋡經; S: Dīrghāgama): kinh, hai mươi quyển, do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào năm 413 đời Hậu Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại chính tạng, tập 1; là một trong bốn bộ A-hàm Bắc truyền.

[26] Kinh Tu hành đạo địa (Tu hành đạo địa kinh 修行道地經; S: Yoga-cārya-bhūmi-sūtra): kinh, bảy quyển, ba mươi phẩm, do sa-môn Chúng Hộ soạn, Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. Nội dung luận này nêu rõ pháp tướng của ngũ ấm và hành pháp tam thừa.

[27] Câu-kỳ 拘耆: tên loài quạ mỏ đỏ.

[28] Kinh Tạp thí dụ (Tạp thí dụ kinh 雜譬喻經): kinh, một quyển, ba mươi chín dụ, ngài Cưu-ma-la-thập dịch. Nội dung chủ yếu là nêu các nhân duyên thí dụ để thuyết minh, lí luận về thiện ác nghiệp báo.

[29] Luật Tăng-kỳ (Tăng-kỳ luật 僧祈律; S: Mahāsaṅghavinaya): luật nói về hai trăm năm mươi giới tì-kheo và ba trăm bốn mươi tám giới tì-kheo-ni.

[30] Kinh Bột (Bột kinh 孛經): kinh, do cư sĩ Chi Khiêm dịch ở nước Nhục-chi vào đời Ngô. Bột là tên vị quốc sư nước Lam-đạt, tiền thân Đức Phật.

[31] Luật Thiện kiến (Thiện kíên luật 善見律; S: Samantapăsădikă.): luật, nói về sự kết tập kinh điển lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba và việc truyền trì luật tạng và việc con vua A-dục tên Ma-thẩn-đà đến Tích Lan truyền giáo. Từ quyển 4 trở về sau chủ yếu chú thích luật Tứ phần.

[32] La nghén chửa (la hoài nhâm 騾懷妊): con la sinh sản một lần rồi chết.

[33] Kinh Đại phẩm tức kinh Đại phẩm bát-nhã (Đại phẩm bát-nhã kinh 大品般若經; S: Pañcaviṃśati-sāhasrikā-prajñāpāramitā): kinh, hai mươi bảy quyển, chín mươi phẩm, ngài Cưu-ma-la-thập dịch (402-412). Nội dung nói về bát-nhã không quán thuộc thời kì đầu của Phật giáo Đại thừa.

[34] Kinh Bồ-tát Địa trì (Bồ-tát Địa trì kinh 菩薩地持經): kinh, hai mươi bảy phẩm, nêu rõ phương tiện tu hành của bồ-tát Đại thừa, chia làm ba phần: sơ phương tiện xứ, thứ pháp phương tiện xứ và tất cánh phương tiện xứ .

[35] Năm thứ lửa (ngũ hỏa 五火): lửa bốn phía và ánh nắng mặt trời.

[36] Kinh Nguyệt Quang đồng tử (Nguyệt Quang đồng tử kinh 月光童子經): kinh, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn. Nội dung kinh này nói về ông Thân Nhật và lục sư ngoại đạo mưu hại Đức Phật, dù cho con ông khuyên can mà ông vẫn không nghe. Ông Được Đức Phật dùng thần lực giáo hoá, cuối cùng ăn năn sám hối và qui y Phật.

[37] Lục sư ngoại đạo 六師外道: sáu phái ngoại đạo có thế lực lớn ở Trung Ấn Độ vào thời Đức Phật còn tại thế.

[38] Kinh Quán Phật tam-muội (Quán Phật tam-muội kinh 觀佛三昧經; S: Buddha-dhyāna-samādhisāgara-sūtra): kinh, nói về việc Đức Phật thuyết pháp để độ cho phụ vương là Duyệt-đầu-đàn và di mẫu là Kiều-đàm-di tại rừng Ni-câu-lâu-đà, thành Ca-tỳ-la-vệ.

[39] Kinh Tát-già ni-kiền tử (Tát-già ni-kiền tử kinh 薩遮尼乾子經; S: Bodhisattva-gocaropāya-viṣaya-vikurvaṇa-nirdeśa): kinh thuật lại việc lục sư ngoại đạo Đại Tát-già Ni-kiền-tử trả lời câu hỏi của bồ-tát Văn-thù về pháp Đại thừa thâm diệu, được Phật khen ngợi và thụ kí.

[40] Lục thân 六親: sáu loại người gần nhất với mình. Đó là cha, mẹ, anh, em, vợ, con.

[41] Bảy báu (Thất bảo 七寶; S: sapta ratnāni): bảy thứ đồ quý. Theo phẩm Thụ ký trong kinh Hoa nghiêm ghi: “vàng, bạc, lưu li, xa cừ, mã não, trân châu, mai khôi”. Theo kinh Vô lượng thọ: “Vàng, bạc, lưu li, pha lê, san hô, mã não, xa cừ”.

[42] Bốn diệu (tứ diệu 四妙; Cg: tứ đức): bốn đức của Chuyển luân thánh vương. Đó là trường thọ, không bệnh, dung mạo xinh đẹp và nhiều của báu.