1
2
3
4
5
6

7. PHÁP HỘI  MẶC GIÁP TRANG NGHIÊM THỨ BẢY

 (Hán Bộ từ quyển 21 đến quyển 25)

Như vậy tôi nghe một lúc đức Phật ở thành Vương Xá tại Trúc Lâm Ca Lan Đà cùng chúng đại Tỳ Kheo và chư đại Bồ Tát câu hội. Chư Bồ Tát nầy đều từ các Phật đến họp.

 Lúc bấy giở đức Thế Tôn được vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh cung kính cúng dường.

 Trong chúng hội có vị đại Bồ Tát tên là Vô Biên Huệ, từ chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất cúi đầu kính lạy, rồi chắp tay hướng lên đức Phật mà bạch rằng: “ Bạch đức Thế Tôn! Tôi có chút nghi ngờ xin hỏi đức Như Lai, mong đức Như Lai chuẩn cho”.

 Ngài Vô Biên Huệ Bồ Tát nói kệ rằng:

 “Đấng Đại Hùng rượng Phu

 Thế gian chẳng ai bằng

 Có chút nghi xin hỏi

 Chẳng rời tòa sư tử

 Hiện thân khắp mười phương

 Trong tất cả dị luận

 Không ai khuynh động được

 Tạng trí không ngằn mé

 Trí lực cũng vô lượng

 Mỗi lực của Thế Tôn

 Độ khắp được thế gian

 An trụ nhứt thiết trí

 Khéo trụ ở thập lực

 Đại sư tử vô úy

 Đấng tối thắng vô thượng

 Đức Như Lai có đủ

 Mười tám pháp bất cộng

 Chiếu sáng khắp thế gian

 Xô dẹp các ngoại đạo

 Biết rõ tất cả pháp

 Vì thế không ai trên

 Đại Đạo Sư trọn lành

 Tôi có nghi xin hỏi

 Trí ly cấu vô biên

 Trí đại hải bất động

 Trí cảnh giới vô ngại

 Tôi có nghi xin hỏi

 Thế Tôn khéo tu tập

 Nơi đạo không còn lầm

 Đại đạo sư an ổn

 Tôi có nghi xin hỏi

 Đã qua khỏi dòng dữ

 Dã dứt hết trói buộc

 Nhỗ được các tên độc

 Tôi có nghi xin hỏi

 Đã phá vỏ vô minh

 Đã hết nóng phiền não

 Hay ở an mát mẻ

 Tôi có nghi xin hỏi

 Trí vô úy vô thượng

 Trí vô ngại vô trước

 Pháp hải nhứt thiết trí

 Như Lai đã chứng được

 Phật vô lượng công đức

 Chứng trí đều viên mãn

 Hết tất cả phiền não

 Phá tất cả kiến chấp

 Thế Tôn chứa nhóm nhiều

 Vô lượng công đức lớn

 Pháp Vvương bất tư nghì

 Tôi có nghi xin hỏi

 Phật trí huệ thù thắng

 Chiếu khắp các thế gian

 Diễn rộng ánh sáng pháp

 Biển công đức vô biên

 Pháp quang của Đạo Sư

 Chiếu khắp các thế gian

 Vì thế trong thế gian

 Ánh sáng Phật pháp hiện

 Biển pháp nhứt thiết trí

 Biện tài không gì trên

 Tinh tiến chẳng nghĩ bàn

 Thanh tịnh rời kiến chấp

 Vì Phật nhãn vô biên

 Trí cảnh cũng vô biên

 Đấng thế gian vô đẳng

 Tôi có nghi xin hỏi

 Đại Mưu Ni Pháp Vương

 Dứt được chúng sanh nghi

 Bạch Phật tôi sẽ hỏi

 Trông mong được hứa cho

 Tôi xem tất cả chỗ

 Trên trời và nhơn gian

 Không ai bằng Như Lai

 Đấng soi sáng cùng khắp

 Đầy đủ các công đức

 Đại trượng phu trang nghiêm

 Pháp Vương chẳng nghĩ bàn

 Sáng rực trong các thánh

 Vi như núi Tuyết lớn

 Chỗ các báu đoan nghiêm

 Thế Tôn ngồi pháp tọa

 Đoan nghiêm cũng như vậy

 Diệu âm đại tinh tấn

 Hay tuyên lời đẹp dạ

 Nếu chúng sanh được nghe

 Căn lành đều thanh tịnh

 Phật thù thắng trong người

 Thường diễn ánh sáng pháp

 Nhờ vậy mà chúng sanh

 Tùy ý liền khai ngộ

 Biết thời biết chúng hội

 Đấng Đạo Sư biết người

 Diễn bày ánh sáng pháp

 Dùng trì huệ đúng thời

 Đấng phạm âm tinh tiến

 Xin ban lời thanh tịnh

 Như trời mưa ướt đất

 Chánh pháp khắp nhuần mát

 Thế Tôn ở trong chúng

 Khắp tuyên pháp vũ rồi

 Hy vọng ở pháp nầy

 Chúng sanh đều đầy đủ

 An trụ trên tất cả

 Như Vương ở Diệu Cao

 Ban pháp cho chúng sanh

 Khiến đại chúng hoan hỉ

 Đại Hùng Lưỡng Túc Tôn

 Cảnh giời bất tư nghì

 Tất cả các chúng sanh

 Không ai có thể biết

 Vô lượng đại trượng phu

 Chúng hội đã hòa hiệp

 Nương nhờ đại Mâu Ni

 Chí cầu cảnh giới Phật

 Tôi xu hướng cảnh Phật

 Nên đến họp tại đây

 Đạo Sư trí vô ngại

 Thế nào sớm khai ngộ

 Tôi theo ý mình thích

 Chiêm ngưỡng muốn thỉnh hỏi

 Xin Thế Tôn khai thị

 Để dứt hết nghi hoặc

 Nếu nghe pháp vô thượng

 Thì được lòng hoan hỉ

 Hớn hở khắp cả thân

 Dứt được các lưới nghi

 Pháp Vương Vô Thượng Tôn

 Nhứt thiết trí vô úy

 Bực thấy biết tất cả

 Tôi nghi xin được hỏi

 Đối với tất cả pháp

 Phật không chút nghi hoặc

 Đại Đạo Sư tinh thuần

 Tôi nghi xin được hỏi

 Đấng dứt nghi vô thượng

 Với pháp chẳng nghi hoặc

 Biển công đức vô biên

 Tôi nghi xin được hỏi

 Ánh sáng lớn vô biên

 Công đức lớn vô biên

 Trí thanh tịnh vô biên

 Tôi nghi xin được hỏi

 Trí tinh tiến vô biên

 Trí cảnh giới vô biên

 Trí lợi ích vô biên

 Tôi nghi xin được hỏi

 Thế Tôn trí vô biên

 Rời biên và vô biên

 Dứt được tất cả nghi

 Tôi nghi xin được hỏi

 Pháp Vương bất tư nghị

 Thương xót nghe tôi hỏi

 Cho phép tôi sẽ hỏi

 Đức Phật tuyên dạy cho

 Xin hỏi nhứt thiết trí

 Đức Thích Ca Mâu Ni

 Nếu thương cho phép tôi

 Xin giải những điều nghi”.

 Đức Thế Tôn bảo Vô Biên Huệ đại Bồ Tát rằng: “Nầy Vô Biên Huệ! Nay đối với ta, ông

 khát ngưỡng khẩn cầu muốn hỏi Như Lai bao nhiêu điều. Nếu ông có điều gì muốn hỏi, ta sẽ giải đáp cho”.

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 “Nầy ông Vô Biên Huệ

 Muốn hỏi những điều gì

 Ông đều nên hỏi đi

 Như Lai sẽ giải đáp

 Như mừng điều được hỏi

 Mỗi mỗi việc nên hỏi

 Tùy ý thích muốn hỏi

 Phật sẽ mau khai ngộ

 Ta vì ông diễn nói

 Tất cả không còn nghi

 Như ông chí nguyện cầu

 Xứng theo chỗ ông hỏi

 Nay ông bạch hỏi Phật

 Đúng lúc và đúng nghĩa

 Vì phải thời bạch hỏi

 Nên ta quyết định nói

 Cứ như ý ông thích

 Bạch hỏi điều nên hỏi

 Như Lai đều tùy thuận

 Ví ông mà diễn nói

 Nay ông hỏi đúng lúc

 Ta cũng nói đúng lúc

 Dứt lời nghi cho ông

 Sẽ được không còn nghi

 Như Lai là Pháp Vương

 Thấu tỏ nghĩa rốt ráo

 Đối với tất cả pháp

 Được không còn nghi hoặc

 Ta ở nơi các pháp

 Chánh giác ngộ khó suy

 Theo như ý chúng sanh

 Đem hỏi sẽ giải đáp

 Phật ở nơi các pháp

 Đều không còn nghi hoặc

 Đúng lúc mà bạch hỏi

 Phật sẽ mau diễn nói

 Không còn có nghi hoặc

 Ta thường vì người nói

 Theo như ý kia thích

 Giải thích điều họ nghi

 Như Lai thường biết rõ

 Thời gian và chúng hội

 Các loài chúng sanh thảy

 Ý hướng họ chẳng đồng

 Phật cũng thường quán sát

 Tất cả tâm chúng sanh

 Có dục hay không dục

 Đều thấy rõ tất cả

 Nếu có hàng trí giả

 Có thể khéo tu hành

 Ta đều lấy đúng lúc

 Đem chánh pháp khai ngộ

 Nếu là người vô trí

 Ngu si và mê loạn

 Họ không trí huệ sáng

 Chẳng tôn trọng chánh pháp

 Nếu không tôn trọng pháp

 Chẳng mong cầu chánh pháp

 Dầu có nghe pháp nầy

 Không có trí sáng lớn

 Người khéo giỏi nơi pháp

 Nơi pháp hy vọng cầu

 Nếu được nghe pháp nầy

 Sẽ được trí sáng lớn

 Người thích pháp Đại thừa

 Cầu thỉnh đấng Thế Tôn

 Được nghe pháp nầy rồi

 Sẽ được trí sáng lớn

 Phật đấng trí vô thượng

 Phật trì bất tư nghì

 Nên những người nguyện cầu

 Được nghe đều thỏa mãn

 Người thích trí vô ngại

 Cầu đấng Tối Thượng Tôn

 Họ được nghe pháp nầy

 Sẽ được lợi ích lớn

 Nếu người có trí tánh

 Cầu đấng bất tư nghì

 Họ được nghe pháp nầy

 Sẽ được trí vô thượng

 Nếu có những chúng sanh

 Cầu được thành Phật đạo

 Chuyển pháp luân vô thượng

 Nghe pháp đều hoan hỷ

 Người ưa thích tinh tiến

 Tôn sùng nơi chánh pháp

 Được nghe pháp ly cấu

 Mừng rỡ càng hớn hở

 Nếu có các chúng sanh

 Thích tu tập pháp lành

 Ta dùng ánh sáng pháp

 Dạy họ pháp vô thượng

 Gánh vác những gánh nặng

 Sách tiến tu vô biên

 Họ nghe pháp nầy rồi

 Vui mừng được đầy đủ

 Nếu có người mong cầu

 Pháp lành để tư duy

 Ta vì thương mến họ

 Khai thị pháp vô thượng

 Ta thường mến các ông

 Tùy các ông bạch hỏi

 Ta có thể giải quyết

 Dứt nghi cho các ông

 Từ nhiều ngàn ức năm

 Ta đã khéo tu hành

 Đã trừ hẳn nghi lầm

 Biết rõ ý ông thích

 Nếu có điều gì nghi

 Cho phép ông bạch hỏi

 Sẽ giải đáp cho ông

 Dứt hết các nghi hoặc

 Nếu có điều gì nghi

 Cho phép ông bạch hỏi

 Như ý ông thích muốn

 Ta sẽ diễn nói cho

 Nếu có điều gì nghi

 Cho phép ông bạch hỏi

 Phật an trụ chánh pháp

 Không bao giờ động lay”.

 Lúc ấy Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát bạch rằng: “ Bạch đức Thế Tôn! Tôi đối Bồ Tát thừa có chút nghi, nay sẽ xin hỏi.

 Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là bực trượng phu xa rời sự bố úy, nhứt tâm chánh niệm vì chúng sanh mà mặc giáp trụ lớn. Nơi giáp trụ lớn mà trang nghiêm đó. Phát lòng rất mến thích mà tôn trọng đó. Dùng chẳng phóng dật mà ngồi Đại thừa ấy. Dùng con đường sạch sẽ bằng phẳng lớn, không có những gò nổng ngói đá gai góc dơ dáy lùm cây kiến chấp. Cũng không có gai độc hầm hố khổ não. Cũng không có sự trói buộc sợ sệt gian nan. Con đường bằng phằng đúng lý ngay ngắn không cong queo. Con đường không chướng ngại Đốn sạch lùm rừng. Xé nát tất cả lưới. Rời xa tối tăm. Trừ bỏ ái trước, vì xả bỏ hòa hiệp để hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Bạch đức Thế Tôn! Tôi đối với nghĩa nầy mà bạch hỏi. Thế nào thiện trượng phu. Thế nào giáp trụ lớn. Mâc giáp trụ ấy ngồi nơi Đại thừa, do con đường lớn ấy mà sẽ hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Đức Thế Tôn nên diễn nói chư đại Bồ Tát giáp trụ trang nghiêm, an trụ nơi đạo, an trụ nơi các pháp lý thú thiện xảo. Vì ở nơi pháp lý thú an trụ thiện xảo nên có thể phát khởi ánh sáng thiện xảo của các pháp lý thú. Vì có ánh sáng pháp nên chẳng bỏ giáp trụ ngồi nơi Đại thừa, dùng sức tinh tiến bất thối chuyển, gốc không vọng niệm và sức trí huệ tương tục có thể mau thành tựu pháp giới lý thú rành rẽ khéo giỏi, qua ngồi đạo tràng chuyển chánh pháp luân để vì chúng sanh mà diễn thuyết chánh pháp. Tất cả chúng sanh đúng như sở nguyện của họ, đúng như chỗ hướng đến của họ mà giải thoát sanh tử.

 Bạch đức Thề Tôn! Tôi muốn làm lợi ích an vui chúng sanh nên hỏi nghĩa Đại thừa ấy.

 Đức Thế Tôn Như Lai là bực biết tất cả, thấy tất cả, xin chỉ dạy dùng những pháp gì để thành tựu nhứt thiết chư pháp hải ấn tam muội của chư đại Bồ Tát, do tam muội nầy khiến chư đại Bồ Tát được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

 Đức Thế Tôn Như Lai biết thấy trọn vẹn các pháp chưa từng có, giỏi về phương thuốc làm nên trí huệ cho chúng sanh. Vì thế nên tôi bạch hỏi”.

 Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát lại nói kệ rằng:

 “ Vì chư đại Bồ Tát

 Tôi hỏi đức Thế Tôn

 Đấng nhứt thiết tri kiến

 Nghĩa Phật pháp thậm thâm

 Chỗ tu hành Đại thừa

 Định nào hướng đến được

 Nay tôi đều thỉnh hỏi

 Lợi ích các chúng sanh

 Thế nào thiện trượng phu

 Mặc được pháp vô biên

 Mặc giáp như vậy rồi

 Sẽ hướng đến thế nào

 Khởi thích muốn thế nào

 Thế nào mến pháp ấy

 Thế nào đại tinh tiến

 Thế nào chẳng phóng dật

 Thế nào chư Bồ Tát

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 Ngồi rồi lại thế nào

 Việc ấy xin được nói

 Thế nào ngồi Đại thừa

 Hướng đến đạo Bồ Tát

 Cúi xin đấng Đạo Sư

 Mau tuyên nói cho tôi

 Thế nào là đường bằng

 Bình đẳng để hướng đến

 Với rừng bụi kiến chấp

 Luôn chặt đốn chẳng mệt

 Ở trong các cảnh giới

 Thế nào được siêu việt

 Thế nào dùng bình đẳng

 Phá rách lưới tham ái

 Thế nào trừ hắc ám

 Được ánh sáng đại trí

 Chư đại Bồ Tát ấy

 Sẽ hướng đến thế nào

 Hay quan sát thế nào

 Rời xa những trói buộc

 Thế nào chư Bồ Tát

 Rời trói khéo ở an

 Thế nào chư Bồ Tát

 Vượt qua bố úy lớn

 Giỏi khéo các pháp nghĩa

 Hướng đến nơi vô thượng

 Bồ Tát mặc những gì

 Vô biên giáp trụ lớn

 Mặc giáp trụ ấy rồi

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 Thế nào chư Bồ Tát

 Hướng đến đường bằng phằng

 Nay tôi kính bạch hỏi

 Thế Tôn nên giải đáp

 Bồ Tát làm sao được

 Trang nghiêm giáp trụ lớn

 Thế Tôn nên diễn nói

 An trụ nơi đạo nầy

 Và trang nghiêm đạo ấy

 Nghĩa thiện xảo các pháp

 Thế Tôn nên diễn nói

 Thế nào biết rõ được

 Lý thú của pháp giới

 Ánh sáng pháp thiện xảo

 Thế Tôn nên diễn nói

 Thế nào chư Bồ Tát

 Được ánh sáng pháp ấy

 Rốt ráo tất cả pháp

 Thế Tôn nên diễn nói

 Thế nào chư Bồ Tát

 Được ánh sáng pháp rồi

 Chẳng bỏ giáp trụ lớn

 Do đây mà hướng đến

 Thế nào chư Bồ Tát

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 Tinh tiến chẳng thối chuyển

 Do đây mà hướng đến

 Thế nào chư Bồ Tát

 Chí niệm thường kiên cố

 Hay dùng sức trí lớn

 Mà khéo điều phục được

 Thế nào được pháp giới

 Nghĩa lý thú thiện xảo

 Pháp Vương bất tư nghì

 Xin Thế Tôn tuyên nói

 Thế nào được mau chóng

 Đến đạo tràng Bồ đề

 Chuyển pháp luân thanh tịnh

 Thế gian chẵng chuyển được

 Thế nào chẳng động tay

 Để diễn nói các pháp

 Vì tất cả chúng sanh

 Như ngày xưa đã nguyện

 Do diễn nói các pháp

 Giải thoát hẳn sanh tử

 Làm sao cho chúng sanh

 Rốt ráo được an lạc

 Vì lợi ích chúng sanh

 Tôi hỏi đức Thế Tôn

 Bực thấy biết tất cả

 Xin vì tôi diễn nói

 Nên dùng những pháp gì

 Làm cho chư Bồ Tát

 Thành tựu tất cả pháp

 Hải ấn đại tam muội

 Người ham cầu Phật pháp

 Khát ngưỡng đại Bồ đề

 Nếu nghe được pháp này

 Toàn thân đều hớn hở ”

 Đức Phật phán dậy: ” Lành thay, lành thay! Nầy Vô Biên Huệ đại Bồ Tát! Thuở quá khứ ông đã cúng dường vô lượng chư Phật, trồng những cội lành, họp các công đức chẳng thể tính lường được. Ở nơi pháp thậm thâm nầy ông ham cầu khát ngưỡng. Dùng đại nguyện để thành tựu chúng sanh mà ông phát khởi đại bi bạch hỏi nơi đức Phật.

 Ông nên lắng nghe khéo suy gẫm, nay ta sẽ vì ông diễn nói chư đại Bồ Tát do thành tựu công đức mà hướng đến Vô thượng Bồ đề”.

 Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát bạch:”Bạch đức Thế Tôn! Tôi xinđược nghe”.

 Đức Phật phán:” Nầy Vô Biên Huệ! Đại Bồ Tát vì Vô thượng Bồ đề mà mặc giáp trụ, vì muốn nhiếp lấy chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, vì thanh tịnh bố thí cho chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, vì các chúng sanh nên trì giới thanh tịnh ma mặc đại giáp trụ, vì các chúng sanh nên nhẫn nhục thanh tịnh mà mặc giáp trụ, vì các chúng sanh nên tinh tiến thanh tịnh mà mặc đại giáp trụ, vì các chúng sanh nên thiền định thanh tịnh mà mặc đại giáp trụ, vi các chúng sanh nên trí huệ thanh tịnh mà mặc đại giáp trụ, vì làm cho các chúng sanh được an lạc mà mặc đại giáp trụ, vì phát khởi tâm làm lợi ích cho các chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, vì làm đối trị tham sân si cho các chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, vì làm phương tiện cho đại công đức mà mặc đại giáp trụ, vì khéo viên mãn trí vô thượng mà mặc đại giáp trụ, vì cứu hộ sanh tử bố uý cho các chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, vì muốn hiển hiện viên mãn trí vô đẳng đẳng mà mặc đại giáp trụ, vì giao chiến với các ma, quyến thuộc ma và ma nghiệp, cũng vì giao chiến với tất cả ngoại đạo, những hạng người đi trong đường hiểm rừng rậm kiến chấp trong cõi Đại Thiên naỳ mà mặc đại giáp trụ.

 Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ như vậy rồi chẳng rời bỏ giáp trụ mà phát khởi đại tinh tiến, có thể vào được trong tất cả loài chúng sanh lấy hạnh nhẫn nhục để an trụ, xa rời bố uý chẳng kinh chẳng sợ chẳng động chẳng loạn mà còn mặc vô biên giáp trụ. Những là giáp trụ cứu hộ tất cả chúng sanh, giáp trụ cắt đứt tất cả lùm rừng kiến chấp, giáp trụ phá các quân ma, giáp trụ có thể tuye72n trao trí huệ, giáp trụ làm vô biên cầu đò, giáp trụ thoát khỏi các gánh nặng, giáp trụ tăng trưởng tín tâm thanh tịnh, giáp trụ ở vững nơi giới luật, giáp trụ trừ sạch nghiệp chướng, giáp trụ tất cả trí lực thanh tịnh, giáp trụ sức phương tiện thiện xảo, giáp trụ có thể dứt tất cả chấp trước, giáp trụ trí huệ chẳng thối chuyển chẳng hối hận.

 Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ như vậy rồi cũng chẳ bỏ rời nhẫ đến sức tinh tiến kiên cố vô biên chẳng bao giờ động lay mà hướng đến Vô thượng Bồ đề”.

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 “Bồ Tát mặc giáp trụ

 Để nhiếp^các chúng sanh

 Vì chúng sanh vô biên

 Mặc giáp cũng vô biên

 Vì bố thí thanh tịnh

 Khiến tất cả đầy vui

 Vì lợi ích chúng sanh

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Vì trì giới thanh tịnh

 Lợi ích cho thế gian

 Vì lợi ích chúng sanh

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Vì nhẫn nhục thanh tịnh

 Dũng mãnh khéo an trụ

 Vì làm lợi chúng sanh

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Vì tinh tiến thanh tịnh

 Thành tựu bất thối chuyển

 VÌ làm lợi chúng sanh

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Vì thiền định thanh tịnh

 Cảnh sở hành cũng vậy

 Vì làm lợi chúng sanh

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Vì trí huệ thanh tịnh

 Vô lậu và vô thượng

 Vì làm lợi chúng sanh

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Tất cả các chúng sanh

 Thích gì sẽ cho đủ

 Khèo biết ý nghĩa ấy

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Bồ Tát nơi chúng sanh

 Hay làm sự lợi ích

 Dùng tứ nhiếp thanh tịnh

 Ban khắp trong các cõi

 Nếu làm người đối trí

 Trừ bịnh tham sân si

 Trao thuốc cho chúng sanh

 Tật bịnh đều tiêu trừ

 Do đây các Bồ Tát

 Hay khéo mặc giáp trụ

 Nơi công đức tư lương

 Được vô biên phương tiện

 Chúng sanh khổ sanh tử

 Bức ngặt chẳng an ổn

 Tôi thường làm cứu hộ

 Mặc giáp trụ vô biên

 Vô biên khổ sanh tử

 Tôi làm giải thoát được

 lưới ái kiến trói buộc

 Tất cả đều sẽ đứt

 Với lưới phiền não nầy

 Làm đứt được tất cả

 Sức tinh tiến kiên cố

 Dũng mãnh mà mặc giáp

 Tất cả các chúng sanh

 Cho ở đường an lạc

 Do đây đến Niết bàn

 An ổn mà vô thượng

 Do sức đại tinh tiến

 Mà mặc giáp trụ nầy

 Sẽ cùng tất cả ma

 Chiến đấu thường chẳng mệt

 Với những nhà ngoại đạo

 Nắm chặt các kiến chấp

 Đi trong rừng rậm hiểm

 Mặc giáp làm lợi họ

 Và vô lượng chúng khác

 Đi ở trong phi đạo

 Với họ đều lợi ích

 Nên mặc giáp vô biên

 Mặc giáp trụ ấy rồi

 Chẳng rời bỏ giáp trụ

 Khởi sức đại tinh tiến

 Mặc giáp trụ kiên cố

 Vào trong cõi chúng sanh

 Do nhẫn nhục được an

 Thành tựu kiên cố nhẫn

 Mặc giáp trụ vô thượng

 Rời xa các bố uý

 Cũng không có kinh sợ

 Mặc vô biên giáp trụ

 Tất cả siêng tu tập

 Khéo mặc đại giáp trụ

 Thường hay chánh giác ngộ

 Tịch diệt chẳng động lay

 Chẳng loạn chẳng thối chuyển

 Mặc giáp như vậy rồi

 Trí giả lại nên mặc

 Giáp cứu hộ chúng sanh

 Giáp phá hoại quân ma

 Giáp cầu đò vô biên

 Tất cả giáp đều mặc

 Người trí huệ dũng mãnh

 Mặc giáp được ở an

 Vì bỏ gánh rất nặng

 Mà mặc giáp vô thượng

 Độ tất cả chúng sanh

 Đều khiến thoát gánh khổ

 Thêm lớn tin thanh tịnh

 Khéo đều nhiếp sáu căn

 Tương ưng với tịnh giới

 Mặc giáp trụ vô thượng

 Thành tựu trí dũng mãnh

 Bồ Tát hay an trụ

 Oai nghi đúng giới luật

 Mặc giáp không bị động

 Xưa ở trong chúng thánh

 Tu các hạnh thanh tịnh

 Thế nên mặc giáp trụ

 Mà thường chẳng khiếp nhược

 Dùng trí yêu chúng sanh

 Lợi ích các thế gian

 Thông đạt các phương tiện

 Mặc giáp khéo an trụ

 Với trí phương tiện khéo

 Bồ Tát thông đạt được

 Mặc giáp như vậy rồi

 Dứt trừ các khiếp phược

 Rời xa tất cả chấp

 Chánh tín chẳng sai trái

 Người trí mặc giáp trụ

 Hướng đến đạo vô thượng

 Bồ Tát hay quyết định

 Tư lợi và lợi tha

 Do sức đại tinh tiến

 Kiên cố chẳng thối chuyển”.

 Đức Pật phán tiếp:” Lại nầy Vô Biên Huệ! Trong vô lượng kiếp, đại Bồ Tát mang những gánh nặng, mặc giáp trụ lớn. Giáp trụ như vậy, hoặc là ma hoặc là quyến thuộc ma hoặc là sứ giả của ma, và những chúng sanh đi nơi

 Lùm rừng rậm rợp xấu hiểm tà kiến đều chẳng thấy được. Tại sao vậy?Vì giáp trụ ấy không có hình sắc hiển bày, không tướng không đối, bỏ tướng rời tướng, không có danh tự vậy.

 Nầy Vô Biên Huệ! Gỉa sử có cây phi tiễn lượng như núi Tu Di, bén nhọn bắn đến không thể trúng được. Gỉa sử tất cả chúng sanh trong cõi Đại Thiên đều làm ma, mỗi chúng sanh ma đều riêng có ngần ấy quyến thuộc quân ma, tất cả đồng thời buông tên lượng như núi Tu Di, họ cũng chẳng thể làm hư hoại giáp trụ của chư đại Bồ Tát, dầu là làm hư chừng bằng sợi lông.

 Đối với chư Đại Bồ Tát, còn chẳng thể làm cho các Ngài có ý niệm khác huống là làm động tới thân.

 Chư đại Bồ Tát nầy nếu có một tâm niệm dẹp trừ họ, thì có thể làm cho quân ma ấy tan nát tiêu diệt.

 Khéo an trụ giáp trụ như vậy mà chẳng động lay thì tất cả chúng sanh không có ai phá hoại được. Tại sao vậy? Vì là vô tướng, vì là chẳng phải chỗ đi chỗ thấy của chúng sanh. Tất cả chúng sanh chẳng thấy biết được chư đại Bồ Tát, mà Bồ Tát có thể biết rõ tất cả pháp vậy. Vì thấy biết đúng thiệt mặc giáp trụ lớn để cứu hộ tất cả chúng sanh vậy. Với tất cả pháp không có chấp trước, vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh vậy. Với tất cả pháp cũng vô sở đắc thế nên chúng sanh chẳng thấy biết được giáp trụ như vậy, vì giáp trụ ấy không có hình tướng, không có lộ bày, không có ngôn thuyết vậy. Giáp trụ ấy chẳng tương ưng với sắc, với thọ, tưởng, hành thức, chẳng tương ưng với nội, ngoại và trung gian, cũng chẳng tương ưng với chẳng phải nội ngoại trung gian, chẳng tương ưng với thập nhị xứ, thập bát giới, chẳng tương ưng với địa thủy hỏa phong và không đại chủng, chẳng tương ưng với cõi Dụcncõi ắc và cõi Vô Sắc, chẳng tương ưng với hữu tác, vô tác, diệc hữu tác vô tác và phi hữu tác vô tác, chẳng tương ưng với Thanh Văn địa, Bích Chi Phật địa và Phật địa, chẳng tương ưng với đường ngữ ngôn, chẳng tương ưng với sắc nhơ và sắc tướng, chẳng tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức, nhơn và thọ, tưởng, hành, thức tướng, chẳng tương ưng với tướng và phi tướng, với tất cả pháp chẳng tương ưng cũng chẳng phải chẳng tương ưng, không có trói buộc, không có giải thoát, cũng chẳng phải toán số hay thí dụ mà biết được, vì tất cả pháp quá các số vậy.

 Giáp trụ như vậy, tất cả pháp kiến đếu bất khả đắc cả. Những là sắc kiến bất khả đắc, thọ kiến bất khả đắc nhẫn đến thức kiến bất khả đắc, cho đến không có chút pháp kiến nào khả đắc cả.

 Giáp trụ như vậy, chẳng cùng tất cả pháp tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, chẳng cùng sắc, thọ, tưởng hành, thức tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Với tất cả pháp hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng kia đều rời xa.

 Giáp trụ như vậy không có tạo tác vì không có tác giả vậy, không có tướng vì chẳng ohải tướng vậy, không có tướng xứ sở, không có tướng hòa hiệp, không có phân biệt, không có động lay, không có phan duyên, không có tánh để thấy được.

 Người mặc giáp trụ cũng bất khả đắc.

 Mặc giáp như vậy cũng chẳng thể thấy được. Tại sao vậy? Vì lúc chư đại Bồ Tát mặc giáp trụ mà chẳng thấy có ai là người mặc giáp, mặc giáp chỗ nào, tù đâu mặc giáp, cũng chẳng thấy tôi có thể mặc giáp, chẳng thấy áo giáp được tôi mặc, cũng chẳng thấy có chỗ nầy mặc giáp, chỗ kia mặc giáp, cũng chẳng thấy có mặc giáp vậy.

 Vì các chúng sanh nơi tất cả pháp không chỗ hành, không chỗ kiến nên chư đải Bồ Tát mặc giáp trụ như vậy, cũng là mặc giáp trụ của đức Như Lai mặc, thân bất khả đắc, tâm bất khả đắc, ý bất khả đắc, vì bất khả đắc nên xa rời phân biệt.

 Nếu chư Bồ Tát còn chút pháp, hay là được chút pháp mà hiện tại mặc giáp trụ hay là sẽ mặc giáp trụ, thì chẳng nên gọi rằng mặc đại giáp trụ. Nếu tâm Bồ Tát vượt quá các pháp mới gọi là mặc đại giáp trụ tư nghị.

 Chư đại Bồ Tát chẳng vì thiểu số chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, cũng chẳng vì một kiếp chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, cũng chẳng vì trăm kiép, ngàn kiếp cho đến trăm ngàn na do tha câu chi kiếp chúng sanh mà mặc đại giáp trụ, chánh là vì vô lượng vô số kiếp chúng sanh mà đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ, vì thế nên gọi rằng vô lượng đại giáp trụ vậy.

 Lúc mặc đại giáp trụ, đại Bồ Tát mặc giáp trụ chẳng sanh tưởng là chúng sanh, mặc giáp trụ chẳng khởi tưởng là ngã, mặc giáp trụ rời lìa tưởng có chúng sanh, mặc giáp trụ diệt trừ tưởng có ngã, mặc giáp trụ biết rõ tánh chúng sanh, mặc giáp trụ biết rõ tánh ngã, mặc giáp trụ vượt quá thọ và tưởng, mặc giáp trụ biết rõ tất cả pháp không có tướng tạo tác, là tướng rỗng không, là tướng vô tướng, là tướng vô nguyện, là tướng vô sanh, là tướng vô diệt, mặc giáp trụ biết rõ tánh tướng sai biệt của tất cả pháp và tánh tướng vô sai biệt của tất cả pháp, mặc giáp trụ biết rõ sự tướng của tất cả pháp và vô sự tướng của tất cả pháp.

 Nầy Vô Biên Huệ! Nếu còn ở nơi sự tướng mà mặc giáp trụ, thì trọn chẳng gọi rằng mặc đại giáp trụ, vì chư đại Bồ Tát chẳng ở nơi sự tướng mà cầu đại trí tuệ nên gọi là mặc đại giáp trụ”.

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 “Trong vô lượng kiếp

 Mặc giáp lớn vô biên

 Vì muốn cho chúng sanh

 Giải thoát các khổ não

 Giáp trụ lớn như vậy

 Hoặc ma hay ma sứ

 Và kẻ tạo ngiệp ma

 Mắt họ chẳng thấy được

 Cùng với những chúng sanh

 Đi nơi rừng chấp kiến

 Họ cũng chẳng thấy được

 Giáp trụ bất tư nghị

 Giáp trụ nầy không sắc

 Không hình không đối đãi

 Giáp trụ chẳng nghĩ bàn

 mắt thường chẳng thấy được

 Không danh cũng không tướng

 Rời xa tất cả tướng

 Giáp trụ nầy vô biên

 Nên không tướng thấy được

 Gỉa sử tên như núi

 Đồng loạt nhắm bắn vào

 Giáp trụ bất tư nghị

 Khiến tên tự gãy nát

 Tất cả ma trong đời

 Cũng mang tên như núi

 Nhắm ngay đại giáp trụ

 Đồng loạt bắn thẳng vào

 Nhưng đại giáp trụ nầy

 Chẳng tổn chừng đầu lông

 Giáp trụ bất tư nghị

 Chẳng gì phá hư được

 Vì thế nên Bồ Tát

 Thân Tân chẳng biến đổi

 Giáp trụ bất tư nghị

 Ai làm khuynh đọng được

 Bồ Tát bất tư nghị

 Nếu dùng một tâm niệm

 Muốn dẹp trừ chúng ma

 Quân ma liền lui tan

 Đại giáp trụ như vậy

 Chưa từng có động lay

 Tất cả các chúng sanh

 Không ai có thể thấy

 Tất cả các chúng sanh

 Chẳng biết tướng giáp trụ

 Vì thế các chúng sanh

 Mắt họ chẳng thấy được

 Bồ Tát làm chỗ dựa

 Biết được tất cả pháp

 Dường như thắng kim cương

 Đây là người khéo mặc

 Chẳng thọ tất cả pháp

 Cứu hộ các chúng sanh

 Thuận theo pháp của Phật

 Đây là người khéo mặc

 Giáp trụ không chổ lấyTuỳ thuận tất cả pháp

 Giáp trụ chẳng nghĩ bàn

 Đây là người khéo mặc

 Giáp trụ không thị hiện

 Trị sạch tất cả pháp

 Các pháp rời ngôn thuyết

 Không ai Thị hiện được

 Chẳng tương ưng với sắc

 Thọ, tưởng, hành và thức

 Cũng đều chẳng tương ưng

 Cũng đều chẳng hòa hiệp

 Chẳng tương ưng với nội

 Chẳng tương ưng với ngoại

 Chẳng tương ưng nội ngoại

 Cũng đều chẳng hòa hiệp

 Chẳng tương ưng với xứ

 Chẳng tương ưng với giới

 Hoặc trong xứ, trong giới

 Cũng đều chẳng hòa hiệp

 Chẳng tương ưng với địa

 Chẳng tương ưng thủy, hỏa

 Phong và không cũng vậy

 CHẳng tương ưng chẳnh hiệp

 Chẳng tương ưng Dục giới

 Sắc giới, Vô Sắc giới

 Cũng đều chẳng tương ưng

 Cũng đều chẳng hòa hiệp

 Tất cả vô sở đắc

 Chẳng cùng các hữu tác

 Chẳng cùng các vô tác

 Tương ưng và hòa hiẽp

 Giáp trụ bất tư nghị

 Không ở không hòa hiệp

 Không buộc không giải thóat

 Cũng không chẳng tương ưng

 Giáp trụ không biên tế

 Chẳng cùng Thanh Văn địa

 Chẳng cùng Độc Giác địa

 Tương ưng và hòa hiệp

 Nhẫn đến chư Phật địa

 Và cùng tất cả pháp

 Tất cả chẳng tương ưng

 Tất cả chẳng hòa hiệp

 Tất cả đường ngôn ngữ

 Không có thể đến được

 Vì giáp trụ vô biên

 Không thể, khó nghĩ bàn

 Nên chẳng cùng tất cả

 Tương ưng chẳng tương ưng

 Giáp trụ bất tư nghị

 Vượt quá tất cả số

 Giáp trụ nầy vô thượng

 Không buộc không chẳng buộc

 Cũng không có tướng sắc

 Tướng thọ, tưởng, hành, thức

 Chẳng cùng các tướng ấy

 Tương ưng và hòa hiệp

 Chẳng cùng các pháp tướng

 Tương ưng chẳng tương ưng

 Cũng chẳng cùng vô tướng

 Tương ưng và hòa hiệp

 Giáp trụ nầy vô thượng

 Không buộc không giải thoát

 Trong tất cả các pháp

 Chẳng vào một pháp nào

 Trong tất cả các pháp

 Giáp trụ bất khả đắc

 Vì thế nên vô thượng

 Gọi là bất tư nghị

 Giáp trụ không có sắc

 Không thọ cũng không tưởng

 Không hành cũng không thức

 Chẳng nhiếp trong các uẩn

 Bực dũng mãnh như vậy

 Mặc đại giáp trụ nầy

 Thân tâm vô sở đắc

 Chẳng thấy chút pháp nhỏ

 Vì vượt quá nghĩ suy

 Tâm thanh tịnh an trụ

 Mà thường không khiếp nhược

 Gọi là bất tư nghị

 Mặc giáp trụ kiên cố

 Tâm mình không lay động

 Chẳng kể số lương kiếp

 Gọi là bất tư nghị

 Giáp trụ không số luợng

 Chẳng lấy pháp phi pháp

 Vì không có thời lượng

 Nên gọi bất khả lượng

 Chẳng khởi chúng sanh tưởng

 Cũng không có ngã tưởng

 Vì biết được tưởng nầy

 Tất cả tưởng chăng sanh

 Cũng biết tất cả pháp

 Pháp ấy đều vô tướng

 Mặc giáp trụ như vậy

 Gọi là bất tư nghị”.

 Đức Phật phán tiếp: Lại nầy Vô biên Huệ! Đại giáp trụ ấy có tên là diệu pháp nghiêm cụ trang nghiêm, cũng tên là tối thượng bất khả hoại, cũng tên là nhứt thiết pháp vô sai biệt, vì chẳng làm sai biệt chút pháp nào.

 Chư đại Bồ Tát mặc giáp trụ ấy, giữ sức đại trí huệ ngồi nơi Đại thừa, tối thượng thừa, vô đẳng đẳng thừa, đại nhiếp thọ thừa, vô biên nhiếp thọ thừa.

 Tất cả chúng sanh ngồi nơi thừa nầy, thì trong thừa nầy đều dung thọ tất cả, mà thừa nầy chẳng hề tăng giảm, có thể làm cho chúng sanh đều an vui mà ở, cũng làm cho chúng sanh an vui mà ra.

 Nếu có chúng sanh nào ngồi nơi thừa quyết định an vui nầy thì thân tâm họ không có nhọc mệt lao khổ.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đại thừa nầy chói che tất cả thế gian Thiên, Nhơn, A Tu La, Thanh Văn, Duyên Giác và các thừa khác mà sẽ xuất ly.

 Đại thừa nầy không đến, không đi, không ở, không thấy, không biết, lúc trước bất khả đắc, lúc sau bất khả đắc, lúc giữa bất khả đắc, ba đời bình đẳng, dường như hư không chẳng nhiễm tạp bụi trần, không có chối đãi, không có chướng ngại, cũng không chấp trước. Vì do thừa nầy mà sẽ xuất ly.

 Đại thừa nầy vô lượng vì chẳng lường được.

 Đại thừa nầy vốn không tướng chướng ngại vì chẳng ở nơi tướng.

 Đại thừa nầy tối thượng đệ nhứt. Người ngồi thừa nầy không có tâm khiếp nhược mà hướng đến Vô thượng Chánh giác.

 Nầy Vô Biên Huệ! Thừa nầy như ngọn đèn, như mặt nhựt mặt nguyệt làm ánh sáng lớn cho các chúng sanh

 Đại thừa nầy cũng vậy, ánh sáng của nó chiếu khắp cõi Đại Thiên không gì che không gì chướng ngại được, có thể dùng biển lớn công đức vô biên mà hướng đến Vô thượng Bồ Đề.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đại thừa nầy không tối trừ được bịnh của tất cả thế gian, vượt quá tất cả pháp thế gian nhiếp lấy chúng sanh lớn, chẳng phải các chúng sanh hạ liệt mà có thể ngồi được, chỉ trừ người có thể mặc đại giáp trụ, như ta đã nói người ở trong vô lượng kiếp cứu hộ chúng sanh cúng dường chư Phật trồng các cội lành tư lương thanh tịnh thì có thể ngồi được. Những hàng Tanh Văn, Duyên Giác và các hạng hạ liệt bị ràng buộc ở thế gian tương ưng với thế gian, hoặc hạng tăng thượng mạn, những ngoại đạo bất tín, họ còn chẳng muốn nghe tên của Đại thừa nầy huống là có thể ngồi nơi Đại thừa nầy.

 Nếu có chúng sanh nào dạo đi trong cảnh giới bất tư nghị, ngồi ở Đại thừa nầy rồi như nguyện thù thắng của mình mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đại thừa nầy không thời gian biên tế, sơ tế, trung tế và hậu tế chẳng thể biết rõ được. Đại thừa nầy tế đoạn bất khả đắc. Vô biên tế là thừa tế nầy, vô lượng tế là thừa tế nầy.

 Nầy Vô Biên Huệ! Thừa nầy vô biên tế, cũng không có trung tế, không có chút ít tế mà có thể đoạn dứt được.

 Nói là tế đoạn dứt, bởi vì không có chút ít tế nên nói là tế đoạn, vì chẳng phân biệt tế nên nói là tế đoạn, như thế gọi là tế đoạn của Đại thừa nầy.

 Tế vô số hữu mà nói là trung tế, tế vô sở hữu mà nói là biên tế, tế vô sở hữu mà dùng tế để nói. Ở trong tế ấy, tế bất khả đắc. Vì là bất khả đắc nên biên tế, trung tế không có tế không có đoạn mà nhập vào tế môn. Vì nhập vào tế môn nên thừa nầy vượt quá nơi đó. Vượt quá nầy cũng vô sở đắc.

 Nầy vô biên Huệ! Những gì là tế? Đó là đoạn thường tế, vì vào trong ngôn ngữ vậy, nên tế là chẳng phải tế. Đoạn thường tế ấy chẳng có biên tế, bởi tướng của tế ấy là tướng vô biên vậy.

 Nói là tế không có phân biệt, vì dứt phân biệt, nên vượt quá nơi tế rời xa đoạn thường.

 Nầy Vô Biên Huệ! Người có thân kiến thì ở nơi tế môn có chỗ y chỉ. Nếu là người không có thân kiến thì ở nơi tế môn không có cha trước. Vì không có chấp trước nên có thể vượt quá đoạn thường tế.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đoạn thường tế ấy không có thiệt, chỉ là lời nói phỉnh phờ ở trong ba cõi phân biệt có hai tế đoạn và thường. Đối với hai tế ấy, nếu chẳng nắm lấy, nếu chẳng tương ưng mới có thể vượt quá chấp kiến đoạn thường ở nơi hai tế môn mà không chỗ chấp trước.

 Nầy Vô Biên Huệ! Nếu đại Bồ Tát chưa rời thân kiến thì chẳng gọi là mặc giáp trụ ngoi nơi Đại thừa, với tế môn kia là có chấp trước. Dầu có muốn dứt tế lại khởi tưởng niệm dứt tế, lại là có phân biệt tiền tế hậu tế.

 Nếu đại Bồ Tát đã rời thân kiến thì gọi là mặc đại giáp trụ ngồi nơi Đại thừa, với tế môn ấy chẳng có chỗ chấp đã vượt quá hai tế dùng thừa an lạc mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát dùng sức đại trí huệ, ở nơi tất cả pháp trụ tế, có thể chẳng đoạn chẳng phá mà phương tiện khôn khéo nhiếp lấy chỉ quán tu tập vô tướng, được chứng vô tướng thì được chư Phật trao cho ánh sáng pháp. Do ánh sáng pháp mà tất cả tế đoạn dứt. Đối với tế đoạn ấy cũng không nắm lấy, không có chút ít tế nào ở môn kia hoặc là tương ưng hay chẳng tương ưng, hoặc ghi nhớ hay chẳng ghi nhớ. Với tất cả pháp, phương tiện khôn khéo an trụ ở chỉ quán bèn được vô biên ánh sáng đại pháp. Vì ánh sáng đại pháp nên rời xa tói tăm bố úy mà dụng đại pháp tràng, phát đại phạm âm, rống đại sư tử mà bảo chúng sanh rằng: Mọi người mau đến nơi Đại thừa nầy, đại an lạc thừa nầy, đại điều ngự thừa nầy, đại phát thu thừa nầy để hướng đến Vô thượng Bồ đề. Đại Bồ Tát vì chúng sanh mà diễn ánh sáng pháp. Vì ánh sáng pháp có thể làm cho chúng sanh mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa nầy.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đa(i Bồ Tát ở nơi Đại thừa nầy, ở nơi đại giáp trụ nầy chớ có lòng lẫn tiếc, nên nguyện cầu cho chúng sanh phát tâm Bồ đề mặc giáp trụ nầy và ngồi Đại thừa nầy.

 Các chúng sanh ấy ở nơi Đại thừa và đại giáp^trụ nầy cũng chớ lẫn tiếc mà phải luân chuyển khuyến cáo chúng sanh khác, lại cũng nguyện cầu các chúng sanh mặc giáp trụ và ngồi Đại thừa nầy để được xuất ly.

 Lúc chư đại Bồ Tát an trụ trong hạnh nguyện ấy, các Ngài nhiếp thủ Phật quốc, thanh tịnh Phật quốc, nhiếp thủ Thanh Văn và chư Bồ Tát để được viên mãn công đức. Do biển đại công đức vô biên nầy mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đại thừa nầy đồng với pháp giới, bờ nầy hay bờ kia đều không có gì để được, nhưng có thể vận tải tất cả chúng sanh từ đây đến ở trong pháp giới, tương ưng với pháp giới, tương ưng với giáp trụ không có chỗ tương ưng.

 Nếu ở nơi Đại thừa đồng pháp giới nầy mà chuyên cần tu tập thi hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Nầy Vô Biên Huệ! Như Pháp giới không có nhiễm bụi trần, không ai phá hoại được, không gì nhiễm được.

 Cũng vậy, Đại thừa nầy không bị hoại, không bị nhiễm. Vì không hoại không nhiễm nên sẽ đến nhứt thiết chủng trí. Vì thế nên thừa nầy tên là Đại thừa. Thừa nầy vô ngại, tất cả Thiên, Nhơn, A Tu La ở thế gian chẳng làm thối chuyển được.

 Do vì thừa nầy không chấp trước nên sẽ đến nhứt thiết chủng trí, vì thế nên thừa nầy tên là Đại thừa.

 Gọi là Đại thừa có nghĩa là đại trang nghiêm. Tất cả trang nghiêm đều vào trong Đại thừa nầy”.

 Vô Biên Huệ Bồ Tát bạch rằng:” Bạch đức Thế Tôn! Trong Đại thừa nầy há lại có những trang nghiêm hữu vi ư?”.

 Đức Phật phán:” Nầy Vô Biên Huệ! Đúng như vậy. Ta tùy thuận thế tục nên ở trong Đại thừa nầy cũng nói tất cả trang nghiêm hửu vi.

 Nầy Vô Biên Huệ! Như Chuyển Luân Vương, Đế Thích và Phạm Vương đều từ Đại thừa nầy xuất sanh, hoặc đã xuất sanh, hoặc sẽ xuất sanh, dầu ở ngôi tôn quý mà chẳng bị lỗi lầm sanh tử phiền não làm nhiễm trước, có thể ở nơi ngũ dục mỗi mỗi đều vừa chừng.

 Đã vừa chừng rồi thì nhàm bỏ mà có thể biết rõ được đạo xuất ly.

 Nếu chư đại Bồ Tát ngồi Đại thừa nầy dầu thọ lãnh sanh tử nhưng ở đâu cũng chẳng bị ô nhiễm mà thấy được sự lỗi lầm có thể biết xuất ly. Nếu ở nơi đây ta chưa nói các pháp và các trang nghiêm, do tướng của thừa nầy, chư đại Bồ Tát ấy cũng có thể biết được các pháp và các trang nghiêm kia mà hướng đếnVô thượng Bồ đề”.

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 “Đại thừ vô thượng thừa

 Thừa nầy bất tư nghị

 Nếu ai ngồi thừa nầy

 Đều sẽ được xuất ly

 Thừa nầy bất tư nghị

 Vô lượng vô biên tế

 Là chỗ y chỉ lớn

 Nên gọi là Đại thừa

 Tất cả các chúng sanh

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 Thừa nầy vẫn không giảm

 Cũng lại không có tăng

 Tất cả các chúng sanh

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 An lạc mà hướng đến

 Trong ấy không khổ não

 Nếu chư đại Bồ Tát

 Từ thừa nầy hướng đến

 Thẳng tiến không làm khác

 Thân tâm chẳng mỏi nhọc

 Soi sáng khắp thế gian

 Trời, Người, A Tu La

 Sẽ ở Đại thừa nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Chói che các Duyên Giác

 Và các Thanh Văn thừa

 Ở nơi Đại thừa nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Không lai cũng không khứ

 Không trụ không tiền tế

 Không hậu tế trung tế

 Không được không chỗ thấy

 Ba đời đều bình đẳng

 Dường như trong hư không

 Thừa nầy cũng như vậy

 Rời xa các phiền não

 Thừa nầy không đối đãi

 Không chướng cũng không ngại

 Hay cứu tất cả loài

 Chỗ hướng không chấp trước

 Thừa nầy không có lượng

 Cũng không tất cả tướng

 Tự tánh bất khả đắc

 Vô úy chẳng nghĩ bàn

 Có ai ngồi thừa nầy

 Thì được vô sở úy

 Ở trong chư Phật pháp

 Không chướng cũng không ngại.

 Dùng thừa nầy hướng đến

 Chiếu sáng khắp thế gian

 Như mặt nhựt sáng lớn

 Không lúc nào chẳng chiếu

 Thừa nầy chẳng hoại được

 Không gì che chói được

 Vô lượng đức tư lương

 Mà hướng đến vô thượng

 Thừa nấy siêu thế gian

 Ra khỏi hẳn ba cõi

 Rời xa các tối tăm

 Thẳng đến quả vô lậu

 Thừa nầy chỉ nhiếp lấy

 Tất cả chư Bồ Tát

 Còn các chúng sanh khác

 Trong ấy chẳng dung thọ

 Nếu có người trí huệ

 Trong vô lượng ngàn kiếp

 Siêng to tân phương tiện

 Mới ngồi được thừa nầy

 Thanh Văn và Duyên Giác

 Tất cả hàng ngoại đạo

 Tiểu trí và tà kiến

 Chẳng ngòi được thừa nầy

 Nếu có các chúng sanh

 Hướng đến nơi phi đạo

 Hạng nầy kém phước đức

 Chẳng kham nghe thừa nầy

 Nếu có các chúng sanh

 Với pháp bất tư nghị

 Khôn khéo mà do hí

 Ngồi được Đại thừa nầy

 Tùy theo họ kiến lập

 Những thệ nguyện thù thắng

 Ở trong chánh đạo nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Thừa nầy không biên tế

 Cũng không có trung tế

 Biên tế và trung tế

 Thảy đều bất khả đắc

 Bởi tế bất khả đắc

 Nên thừa nầy không tế

 Vì tất cả tế đoạn

 Nên an lạc hướng đến

 Thừa nầy vô biên tế

 Vô biên là thừa tế

 Thừa nầy vô lượng tế

 Vô lượng là thừa nầy

 Thừa nầy vô tế đoạn

 Vô tế là tế đoạn

 Chẳng phân biệt nơi tế

 Đoạn cũng chẳng thể được

 Thừa tế không biên tế

 Cũng không có trung tế

 Cũng không tế không tế

 Tế tánh vô sở hữu

 Nơi tế không tế tướng

 Chẳng phải tế làm tướng

 Ở trong các tế ấy

 Tế tướng vô sở hữu

 Chẳng phải tế nói môn

 Thừa nầy đã vượt quá

 Ở chỗ quá lượng kia

 Tương ưng bất khả đắc

 Ta nói đoạn thường tế

 Hữu biên vô biên tế

 Tất cả tế như vậy

 Tế kia chẳng phải tế

 Tất cả tế vô biên

 Tế tướng vô sở hữu

 Tự tánh tất cả tế

 Trong ấy chẳng phân biệt

 Trong các tế như vậy

 Vì dứt nơi phân biệt

 Nên biên cùng vô biên

 Tất cả đều được dứt

 Nếu còn có thân kiến

 Thì nói các tế môn

 Chấp trước các tế ấy

 Là người không chỗ dựa

 Nếu không có thân kiến

 Chẳng chấp các tế môn

 Là bực đại trí huệ

 Có thể nơi các tế

 Đều vượt quá tất cả

 Do đây trong Phật pháp

 An lạc mà hướng đến

 Bồ Tát khéo quán sát

 Hay dùng sức trí tuệ

 Chẳng có được chút pháp

 Dứt được trừ diệt được

 Thường dùng phương tiện khéo

 Khéo nhiếp lấy chỉ quán

 Vì biết rõ một tướng

 Các tướng đều biết rõ

 An trụ ở chánh pháp

 Được ánh sáng đại pháp

 Do pháp quang minh nầy

 Quyết xong các tế kia

 Chẳng thấy có chút tế

 Là tế hay phi tế

 Chỗ tương ưng được kia

 Không chấp trước tất cả

 Nếu thấy chúng sanh khổ

 Khuyến dụ mà bảo rằng

 Ngươi đến nơi thừa nầy

 An vui mà xuất ly

 Thọ sanh ở chốn nào

 Hay làm ánh sáng pháp

 Mặc giáp ngồi Đại thừa

 Cũng đem đây khai thị

 Thừa nầy giáp trụ nầy

 Chớ có lòng lẫ tiếc

 Cũng khiến các chúng sanh

 Mặc giáp ngồi Đại thừa

 Ngồi thừa an lạc nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Chư Bồ Tát như vậy

 An trụ đây tu hành

 Hay ở trong Phật pháp

 Mau hướng đến vô thượng

 Thanh tịnh chư Phật quốc

 Nhiếp thọ chư Thanh Văn

 Và các chúng Bồ Tát

 Sự công đức trang nghiêm”.

 Đức Phật phán tiếp:” Nầy Vô Biên Huệ! Ta nhớ thuở xưa lúc ta tu Bồ Tát hạnh, ta mặc giáp trụ như vậy và ngồi Đại thừa như vậy, vượt quá các tế, diệt được tối tăm, trừ được bố úy, ở nơi chỗ vô lượng trăm ngàn câu chi na do tha chư Phật, dùng sức đại tinh tiến nghe giáp trụ trang nghiêm và Đại thừa trang nghiêm nầy của đại Bồ Tát, ta vui mừng hớn hở. Lúc ta quan sát pháp ấy, đối với đức Phật Thế Tôn ta cung kính tôn trọng, chẳng nghĩ tưởng rằng ta mặc giáp trụ như vậy, ta có giáp trụ như vậy, ta được pháp như vậy, ta có pháp như vậy, ta có các loại pháp như vậy. Lúc ấy ta không có quan niệm có ngã, ta rời xa thân kiến, rời xa ngã mạn, lòng không có cao hạ, không có phân biệt. Vì muốn nhiếp thọ tất cả chúng sanh, hộ trì pháp tạng của chư Phật Như Lai, thành thực vô lượng trăm ngàn câu chi na do tha chúng sanh, ta không hề có một tâm niệm mỏi nhọc. Lúc ấy ta chẳng bỏ giáp trụ, ngồi vô biên thừa. Trong nhiều đời ta có thể phá quân ma. Các quyến thuộc ma đều thối bại tiêu diệt. Các sứ giả ma kinh sợ bỏ chạy. Tất cả hàng ngoại đạo và những phái tương ưng với dị đạo đều bị ta hàng phục, đặt họ vào chỗ an ổ. Tất cả dị luận ta đều dẹp trừ. Tất cả ngoại đạo đều hàng phục ta. Những chúng sanh xu hướng đường tà, ta làm cho họ ở nơi thừa nầy trồng các cội lành. Ta vì các chúng sanh mà khai thị giáp trụ và giáp trụ trang nghiêm. Ta cũng vì các chúng sanh mà diễn thuyết các loại pháp Đại thừa an lạc như vậy. An trụ trong thừa nầy thì được tất cả đồ dùng an vui, đó là đồ dùng an vui hữu vi: Chuyển Luân Vương, Đế Thích và Phạm Vương. Cũng được đồ dùng an vui vô vi.

 Lúc ta vì các chúng sanh nói pháp nầy, ta làm cho các chúng sanh vào trong pháp ấy phát sanh chủng tánh chư thánh, dựng tràng đại pháp, rống tiếng sư tử mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Nầy vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát phải mặc đại giáp trụ như vậy rồi đúng như lý mà quan sát tuyển trạch.

 Đại Bồ Tát phải ở nơi pháp nào để hướng đến? Đối với tất cả pháp, đại Bồ Tát có thể thấy biết rõ hết không có phân biệt. Tại sao vậy?Chư đại Bồ Tát an trụ chánh đạo vì biết đúng lý vậy. Chư đại Bồ Tát hướng đến chánh đạo, vì thấy đúng lý vậy. Thanh tịnh đúng lý thì chẳng phân biệt chẳng phải chẳng phân biệt, mà ở trong phân biệt và chẳng phân biệt thấy biết bình đẳng. Nếu còn thấy có pháp cầu được tìm được thì chẳng bình đẳng, thì chẳng an trụ trong sự thấy biết thanh tịnh đúng lý. Do vì không phân biệt không chẳng phân biệt nên ở trong phân biệt chẳng phân biệt kia được chẳng chấp thủ. Do vì chẳng chấp thủ nên rời xa phân biệt và chẳng phân biệt.

 Ở trong đạo nầy không có thương xót, không có thi vi, không có tăng ích, cũng không thủ xả, đứng nơi đạo bình chánh, cũng chẳng phân biệt quá khứ hiện tại vị lai, có thể biết rõ khắp tập chủng của tất cả phân biệt, đối với tất cả pháp được an trụ bình đẳng, không có nghĩa điên đảo mới được gọi là an trụ ở đạo nầy vậy.

 Nầy Vô Biên Huệ! Những gì là đạo và đạo thanh tịnh?

 Đó là tám chi thánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm và chánh định.

 Chánh kiến dứt trừ được thân kiến, vượt quá cảnh sở hành của tất cả kiến chấp và tất cả các kiến chấp, đối với tất cả chỗ đều được thanh tịnh, mà biết rõ được tất cả phân biệt, hoặc là thắng phân biệt hoặc là khắp phân biệt thì là không phân biệt không thắng phân biệt không khắp phân biệt, chẳng an trụ tà tư, dứt tà tư duy. Thấy được chánh mạng, thấy được tưởng chánh mạng, thấy được mạng thanh tịnh, an trụ mạng thanh tịnh, đúng như lý thấy đơực thân nghiệp thanh tịnh, ngữ nghiệp thanh tịnh và ý nghiệp thanh tịnh an trụ nơi chánh nghiê(p.

 Chánh kiến ngữ nghiệp, đối với ngữ nghiệp đều có thể thấy biết, an trụ nơi chánh ngữ có thể đối trị thanh tịnh.

 Chánh kiến tinh tiến, khéo nhiếp tinh kiến, an trụ chánh tinh tiến.

 Chánh kiến ức niệm mà không có niệm cũng không có tác ý không chỗ chấp thủ, dùng niệm thanh tịnh an trụ nơi chánh niệm.

 Chánh kiến tam muội, ở trong tam muội không chỗ y chỉ mà có thể thanh tịnh tri kiến tam muội an trụ ở chánh định.

 Nầy Vô Biên Huệ! Lúc thấy như vậy, chư đại Bồ Tát được chánh kiến thanh tịnh đối với tất cả chỗ và an trụ nơi đạo thanh tịnh.

 Đạo thanh tịnh ấy là chỗ tu hành của thiện trượng phu, là chỗ mà trí giả tôn trọng, chúng Thánh hài lòng, chư Phật khen ngợi. Chẳng phải là chỗ đi của tất cả ma, ma dân, ma sứ, ma thiên. Cũng chẳng phải là chỗ đi cuả những hàng ngoại đạo, những người y chỉ tranh luận đang đi trong rừng rậm kiến chấp hướng đến phi đạo. Cũng chẳng phải chỗ đi của tất cả hàng ái trước Niết Bàn. Tại sao vậy?Vì người an trụ vô vi thì đối với Niết Bàn có chỗ phân biệt. Nếu phân biệt Niết Bàn thì phân biệt các hành pháp. Tại sao vậy? Vì ở trong Niết Bàn giới vượt quá tất cả động niệm phân biệt, còn không có vô vi huống là có hữu vi.

 Đạo nầy có thể sạch hết tất cả phân biệt, còn không có chút vô vi phân biệt há lại có tất cả hữu vi phân biệt. Nếu ở nơi Thánh đạo mà có phân biệt thì chẳng gọi là an trụ nơi Thánh đạo. Nếu dứt tất cả động niệm phân biệt thì gọi là an trụ Thánh đạo, là an trụ đạo vô úy, là an trụ đạo an ổn, là an trụ đạo an lạc.

 Đạo nầy có thể đến chỗ không gìa bịnh chết lo khổ. Đạo nầy có thể đến chỗ không có tự tánh vượt quá các tánh. Đạo nầy có thể đến chỗ rời xa tất cả tánh và phi tánh. Đạo nầy có thể đến chỗ không hiện bày tướng sắc và tướng phi sắc. Đạo nầy như hư không khắp tất cả chỗ có thể đến trong đại cung điện vô thượng. Đi như thế không còn lui trở lại thì được bao nhiêu là an ổn khoái lạc.

 Đại cung điện ấy chẵng hiện bày được, không có các sự tướng, không có chút hữuvi, không có chút vô vi, đã diệt hữu vi, đã bỏ vô vi, chẳng cho chúng sanh sự an trụ sự an lạc hữu vi, an lạc vô vi

 Nầy Vô Biên Huệ! Những người ưa thích hữu vi Niết Bàn, họ còn chẳng cầu sự an lạc hữu vi huống là có thể cầu đại cung điện ấy.

 Trong đại cung điện ấy không có thi thiết, mát mẻ tịch tịnh nên gọi là Niết Bàn. Vì diệt tham, sân, si, dứt các tập chủng, phá lưới ái kiến, cạn dòng vô minh, nhổ những tên độc, hết pháp bất thiện nên gọi là Niết Bàn. Vì rời xa tất cả kiêu mạn tật bịnh khổ sở bức não nên gọi là Niết Bàn. Vì chẳng phải chỗ sở hành của tâm ý thức và tâm sở nên gọi là Niết Bàn. Vì dứt hết các tranh luận, các kiết sử nhẫn đến pháp tưởng nên gọi là Niết Bàn. Vì tuyệt các ý ưa thích, và chỗ sở cầu của ý ưa thích cũng không có phân biệt và tường bị phân biệt nên cũng gọi là Niết Bàn.

 Nầy Vô Biên Huệ! Đó là thể tánh của Đại Bát Niết Bàn.

Niết Bàn vô biên chẳng thể tuyên nói được. Nếu có chỗ hướng đến thì chẳng phải đạo nầy. Đạo cũng là không có ngôn thuyết, chẳng thể tuyên nói được.

Nếu lúc dùng đạo nầy hướng đến đại Niết Bàn đại cung điện, chư đại Bồ Tát cũng làm cho vô lượng bá thiên chúng sanh an trụ nơi đạo nầy.

Nầ Vô Biên Huệ! Lúc ở trong đạo nầy mà hướng đến, chư đại Bồ Tát không có mệt mỏi, cũng không có lo buồn, tùy nguyện mà cầu, tùy nguyện mà trang nghiêm, tùy chỗ trang nghiêm đều trang nghiêm cả, tùy chúng sanh được nhiếp độ mà thuyết pháp cho họ, khiến các chúng sanh đều được hoan hỉ.

Tại sao vậy? Vì đạo nầy không gì bằng, hay đói trị sạch, chỗ là đã rốt ráo. Chư Phật Thế Tôn cùng hàng Thanh Văn và Duyên Giác đều ở nơi đạo nầy mà hướng đến, chẳng hề trái với đạo nầy. Chưa đến địa kia, chưa đúng như sở nguyện thì trọn chẳng rời lìa đạo nầy.

Địa kia là gì?Là đại Niết Bàn địa, là đại cung điện địa.

Ví như hư không chẳng có gì để ví dụ ngoại trừ đem hư không để ví dụ hư không. Rộng lớn trống rỗng vắng lặng gọi là hư không.

Niết Bàn cung điện cũng như vậy, là rộng lớn rỗng không vắng lặng không có chủ tể cũng không có ngã sở. Tất cả chúng sanh dầu vào trong ấy không ai có thể nhiếp lấy chừng bằng đầu lông. Là rộng lớn không tịch, là rộng lớn vô lượng gọi là đại Niết Bàn, gọi là đại cung điê(n.

Nầy Vô Biên Huệ! Đa§y là đạo thù thắng của chư đại Bồ Tát, chẳng phải hàng Thanh Văn, Duyên Giác có đưọc.

Lúc an trụ nơi đạo nầy, chư đại Bồ Tát hoặc làm Luân Vương không chút đoái tiếc, có oai đức lớn và thần thông biến hiện, biết rõ được thế gian và xuất thế gian.

Các Ngài hoặc làm Đế Thích hay Đại Phạm Thiên Vương không hề tham luyến, xa rời kiêu mạn, thìch thấy chư Phật, thích nghe chánh pháp, thành thục vô lượng trăm ngàn chư Thiên hướng đến Vô thượng Bồ Đề”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

” Đạo Bồ Tát thù thắng

Trong đời không có trên

Chư Thánh và Nhị thừa

Đều hướng đến đạo nầy

Tất cả chư Bồ Tát

Hướng đến đại Bồ Đề

Vì được đạo trang nghiêm

Đem đạo nầy khai thị

Nếu ở trong đạo nầy

Đã đến hay đang đến

Họ đều dùng chánh kiến

An trụ ở đạo nầy

Tất cả chư Bồ Tát

Nếu dùng bình đẳng kiến

Ma đi trong đạo nầy

Thì an lạc hướng đến

Đạo nầy rất thù thắng

Đạo nầy là vô thường

Hay dạy bảo như thiệt

Trong ấy không chấp trước

Nếu trụ ở đạo nầy

Đi ở trong đạo nầy

Tất cả người có trí

Ý họ chẳng khuynh động

Chẳng nói nơi đạo nầy

Có chút ít khuynh động

Thường rời xa lay động

Ta nói nơi đạo nầy

Không động không thi vi

Cũng không có tăng ích

Nên đạo nầy vô thượng

Tất cả chư Bồ Tát

Khéo ở nơi đạo nầy

Đạo nầy không có yêu

Lại cũng không có ghét

Đạo chẳng phải quá khứ

Chẳng hiện tại vị lai

Chẳng phân biệt thời gian

Nên tu tập như vậy

Đạo nầy không phiền não

Đạo nầy không phân biệt

Chẳng trái với thiệt nghĩa

Nên an trụ như vậy

Trụ nơi đạo tối thắng

Không trụ là an trụ

Người an trụ đạo nầy

Hay được tánh thanh tịnh

Ta nói bát chi đạo

Chỗ đi của chư Thánh

Người an trụ đạo nầy

Bồ Đề chẳng khó được

Chỗ Bồ Tát dựa nhờ

An trụ đạo như vậy

Hay được đạo thanh tịnh

Mỗi mỗi mà hướng đến

Đạo nầy là tối thượng

Của thiện sĩ tu hành

Chỗ Như Lai khen ngợi

Trí nầy là vô thượng

Ma và chúng quân ma

Cùng quyến thuộc của ma

 Ngoại đạo chúng sanh khác

Chẳng phải chỗ họ đi

Người phân biệt Niết Bàn

Chẳng ở thắng đạo nầy

Ngu bị phân biệt hại

Chẳng biết được Niết Bàn

Người vượt quá phân biệt

Không tưởng không phân biệt

Ở trong đại đạo nầy

Do đây mà hướng đến

Thắng đạo của chư Thánh

Người ngu đều rời xa

Nếu người hành pháp nầy

Đạo nầy là vô thượng

Đại đạo thối thắng nầy

Hay đến chỗ vô thượng

Trong ấy không ưu não

Không sợ không tai nạn

Đạo đạo vô thượng nầy

Không sắc không hình tướng

Chẳng thể dùng sắc tướng

Mà có thể hiện bày

Đạo đạo an ổn nầy

Chánh trực vô sở úy

Do đạo nầy hướng đến

Đại Niết Bàn rốt ráo

Đại đạo thanh tịnh nầy

Dường như thái hư không

Tất cả không chướng ngại

Hướng đến đại Niết Bàn

Nếu đến được Niết Bàn

Đến rồi không còn lui

Đại Niết Bàn như đây

Tối thượng thắng an lạc

Niết Bàn đại cung điện

Không tịch chẳng lường được

Nên gọi đại Niết Bàn

Cũng gọi đại cung điện

Trong đại Niết Bàn nầy

Diệt tam độc phiền não

Nếu ai đến trong ấy

Không lui không thọ sanh

Niết Bàn đại không tịch

Dường như thái hư không

Vì rộng lớn không tịch

Trong đó kjhông chướng ngại

Niết Bàn đại cung điện

Liàa hẳn khổ ưu não

Chỗ cảnh giới vô biên

Gọi đó là Niết Bàn

Niết Bàn không số luợng

Số lượng chẳng thể được

Tánh trong mát tịch diệt

Gọi đó là Niết Bàn

Niết Bàn không thi thiết

Đạo về cũng vô thuợng

Vô lượng vô phân biệt

Phân biệt chẳng thể được

Ta vì chư Bồ Tát

Khai thị đại đạo nầy

Nếu ai ở đạo nầy

Thì gần đến Niết Bàn

Nếu an trụ đạo nầy

Thắng an lạc trong đời

Tất cả đều sẽ được

Gọi là bực vô úy

Khéo an trụ đạo nầy

Lòng họ không ô nhiễm

Do đạo nầy thanh tịnh

Gọi là bực vô úy

Vì thấy đạo bình chánh

Hay giác ngộ tất cả

Trong tất cả tư cụ

Chẳng tham trước tất cả

Chỗ Bồ Tát dựa nhờ

Đạo chơn thiệt thù thắng

Lợi ích các chúng sanh

Dũng mãnh mà hướng đến

Nếu được đạo vô thượng

Đạo trang nghiêm tối thượng

Khiến chúng đều hoan hỉ

Do đạo nầy hướng đến

Đạo nầy rất thù thắng

Hay khiến ý thanh tịnh

Tùy theo chỗ ưa cầu

Tất cả sẽ hướng đến

Nếu được ngôi Thánh Vương

Chuyễn luân oai đúc lớn

Hay bỏ ngôi vua lớn

Xuất gia đi học đạo

Nếu được ngôi Đế Thích

Ngôi Đại Phạm Thiên Vương

Không ham những ngôi ấy

Người nầy khéo thuận đạo

Các chỗ học th61 gian

Hay biết rõ tất cả

An trụ trong đạo nầy

Mới là người thiệt ngữ”.

Đức Phật phán tiếp:” Nầy Vô Biên Huệ! Lúc ở trong đạo nầy mà hướng đến, đại Bồ Tát vì muốn nhiếp thủ bát chánh đạo nên tu hành một pháp, đó là chẳng làm các bất thiện. Lại tu hành hai pháp, một là nơi trong theo pháp lành tư duy đúng lý, hai là nơi ngoài theo pháp lành thỉnh hỏi đúng lý. Lại tu hành hai pháp, một là biết rõ các pháp đúng sự, hai là biết rõ không có sự, không có trụ, không có phân biệt. Laị tu hành hai pháp, một ở trong tùy thuận trí huệ, hai là ở ngoài không chỗ chấp trứơc. Laị tu hành hai pháp, một là tự tin không chỗ phân biệt, hai là nếu chúng sanh chưa có lòng tin thì tôi làm cho họ an trụ trong đạo nầy. Lại tu hành hai pháp, một là ở nơi việc đã làm có thể thấy biết như thiệt, hai là ở nơi việc được làm không cháp trước. Lại tu hành ba pháp, một là nơi khổ thủ uẩn biết rõ từng uẩn một, hai là nơi thủ uẩn không khổ thì siêng cầu và rất thích, ba là ở nơi các pháp hòa hiệp thì chuyên tu rời xa. Lại tu hành ba pháp, một là tuyên nói pháp tối thượng, lời chẳng sai trái, tùy nói pháp nghĩa lòng không có niệm tranh luận, hai là chẳng chấp trước tất cả văn tự, ba là nhiếp lấy tất cả các pháp. Lại tu hành bốn pháp, một là dùng chánh phương tiện ở nơi nghĩa, hai là dùng chánh phương tiện tùy theo nghĩa mà làm tương ưng, ba là dùng chánh phương tiện thuận theo pháp để quan sát, bốn là dùng chánh phương tiện chẳng khởi tất cả chấp trước. Lại tu hành bốn pháp, một là có thể dùng thệ nguyện kiên cố để tự giữ gìn tu hành đúng như lời, hai là có thể dùng sáu căn khôn khéo hướng đến nơi đạo, ba là có thể làm cho ý lạc thanh tịnh, bốn là có thể an trụ hạnh chẳng phóng dật. Vì nhiếp thủ bát chánh đạo mà chư đại Bồ Tát tu hành những pháp như vậy.

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát dùng pháp hành nầy để nhiếp thủ chánh đạo mới được gọi là người tùy thuận đạo, vì quán tất cả pháp tánh rỗng không, vì không tên, vì không tướng, vì không nguyện, vì không sanh, vì không tác, vì nàm chán, vì rời lià, vì tịch diệt, vì xuất ly. Lúc được ánh sáng pháp quán sát sanh được đứt hết thì chẳng ở nơi vô sanh mà khởi cảm tưởng sanh, liền ở lúc ấy siêu thăng ly sanh ra khỏi phi pháp mà được đạo thanh tịnh và vô sanh nhẫn. Vì đạo thanh tịnh nên vượt quá tất cả tưởng niệm, chẳng còn có phi tưởng, diệt đạo tưởng, rời pháp tưởng, ra khỏi lưới vô minh, dùng minh để tu tập. Những pháp đáng được đều có thể được cả.

Dùng minh để tu tập thì được những pháp gì?Dùng minh tu tập thì được thọ tưởng diệt, được tất cả pháp quyết định thiện xảo, được tùy bí mật thuận với pháp tánh.

Lúc hành đạo nầy, chư đại Bồ Tát chẳng trụ ở xứ, chẳng bị tướng làm hại, biết tất cả pháp đồng với hư không, sanh như hư không sanh, tánh như tánh hư không, không có chút tướng làm chướng ngại.

Đạo nầy thanh tịnh chẳng sợ tai hoạ.

Mặc đại giáp trụ chẳng bị bắt trói.

Ngồi nơi Đại thừa không chỗ mê lầm.

Rời các chướng nạn dường như hư không.

Ở trong đạo nầy, đại Bồ Tát hướng đến Vô thượng Bồ Đề, vì các chúng sanh mà làm ánh sáng lớn.

Nầy Vô Biên Huệ! Đây là đạo thù thắng của đại Bồ Tát, chẳng phải chỗ sở hành của hàng Thanh Văn và Duyên Giác”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Vì nhiếp bát chánh đạo

Diễn nói các pháp hành

Nếu trụ trong đạo nầy

Đây là đại tinh tiến

Người tu hành pháp lành

Được tất cả thời gian

Chẳng làm pháp bất thiện

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người tu tập

Trong thì suy đúng lý

Ngoài thì cầu thỉnh hỏi

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người quan sát

Như sự chánh liễu tri

Như lý trụ đúng pháp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người dựa nhờ

Ở trong thì biết rõ

Ở ngoài thì chẳng chấp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người vô úy

Tự tin không phân biệt

Khiến người phát lòng tin

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người tư duy

Sạch các nghiệp đã làm

Với nghiệp không chỗ chấp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người không trói

Thường biết khổ thủ uẩn

Cầu thủ uẩn không khổ

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người thiện trí

Tu hạnh rời hòa hiệp

Rời được các hòa hiệp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người tư nghị

Tùy nghĩa hay biết rõ

Diễn thuyết không trái cãi

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người đủ huệ

Chẳng chấp ở văn tự

Nhiếp trì tất cả pháp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người hành pháp

Hay tương ưng với pháp

Cũng tương ưng với nghĩa

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người thuận đạo

Thị kiên cố giữ vững

Tu hành đúng như lời

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát đạo thanh tịnh

Khéo sạch các ý lạc

Trụ pháp chẳng phóng dật

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát tất cả thời

Siêng tu các hạnh ấy

Thân tâm được an lạc

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người chánh niệm

Trụ ở đạo thanh tịnh

Biết rõ tất cả pháp

Rỗng không chẳng có tướng

Bồ Tát người quan sát

Hay khiến nguyện thanh tịnh

Cũng chẳng trụ vô nguyện

Rời xa tất cả tướng

Bồ Tát quán đúng lý

Lý thú đều bình đẳng

Với các pháp vô sanh

Không có chút nghi hoặc

Bồ Tát người diệu trí

Hay quán sát các pháp

Nhàm lìa và tịch diệt

Thấy rõ mà hướng đến

Bồ Tát người quan sát

Như lý thấy pháp sanh

Chẳng ở sanh thấy sanh

Chẳng ở diệt thấy diệt

Bồ Tát người tinh tiến

Lúc quán sát như vậy

Do rời nơi phi pháp

Siêu thăng trong chánh vị

Bồ Tát người diệu trí

Đạo nầy là thanh tịnh

Mau đến an ổn lớn

Thành tựu nhẫn vô thượng

Bồ Tát người diệu trí

Tùy thuận quán các pháp

Vượt quá tất cả tưởng

Thường trụ ở vô tưởng

Bồ Tát người diệu trí

Đạo nầy hay trị sạch

Rời xa cảm tưởng đạo

Cũng chẵng trụ pháp tưởng

Bồ Tát người diệu trí

Vì đạo này trị sạch

Ra khỏi lưới vô minh

Mà được ánh sáng pháp

Bồ tát người diệu trí

Hay tu tập nơi minh

Truyền dạy các chúng sanh

Do đây mà hướng đến

Bồ Tát người tu minh

Vì được tất cả pháp

Quyết định nghĩa thậm thâm

Đại phương tiện thiện xảo

Bồ Tát người tu minh

Phương tiện rời các tưởng

Tùy thuận pháp bí mật

Hay biết nghĩa quyết định

Bồ Tát người diệu trí

Dùng ánh sáng pháp lớn

Diệt được các thọ tưởng

Do đây mà hướng đến

Bồ Tát người diệu trí

Chẳng trụ ở đạo ấy

Vì chẳng trụ đạo ấy

Nơi đạo mà hướng đến

Bồ Tát người vô úy

Hay biết tất cả pháp

Dường như tịnh hư không

Không bị tướng chi phối

Bồ Tát biết các pháp

Tánh nó đồng hư không

Vì các pháp như không

Thanh tịnh mà không nhơ

Bồ Tát trụ như vậy

Chẳng bị tướng làm ngại

Mau vì các chúng sanh

Diễn thuyết để truyền dạy

Bồ Tát người diệu trí

Tất cả đạo thanh tịnh

Nơi đạo không tai hoạn

Vô ngại mà hướng đến

Đạo thanh tịnh như vậy

Chóng đến đại Bồ Đề

Có thể chứng vô vi

Bình đẳng mà hướng đến

Bồ Tát đại giáp trụ

Đại thừa vì đại đạo

Như hư không vô ngại

Thanh tịnh mà hướng đến

Đến thừa nầy đạo nầy

Như đến thái hư không

Rời xa tất cả tướng

Vô tướng mà hướng đến

Đại thừa bình đẳng thừa

Rộng lớn dường hư không

Nơi đạo thanh tịnh này

Thừa ấy sẽ hướng đến

Tất cả các Bồ Tát

Tôn trọng nơi pháp nầy

Vì tất cả chúng sanh

Dũng mãnh mà hướng đến

Nếu đến đại Bồ Đề

Trụ đạo thù thắng nầy

Chẳng phải hàng Nhị thừa

Ở đây hướng đến được

Bồ Tát chánh ức niệm

Hay khiến đạo thanh tịnh

Dùng đạo thanh tịnh nầy

Mà hướng đến vô thượng”.

Đức Phật phán tiếp:”Nầy Vô Biên Huệ! Lúc hướng đến như vậy, chư đại Bồ Tát hay dùng phương tiện khéo để chánh liễu tri vô lượng niệm xứ, chánh cần, căn, lực, giác chi giải thoát, đẳng trì đẳng chí, thần túc chỉ quán, vô lượng công đức thù thắng trang nghiêm.

Vì muốn hàng phục các thế gian nên đại Bồ Tát mặc giáp trụ. Vì siêu xuất tam giới nên đại Bồ Tát ngồi nơi Đại thừa. Vì nhiếp thọ Trời, Người, A Tu La nên đại Bồ Tát an trụ đạo ấy mà hướng đến Vô thượng Bồ Đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ, ngồi nơi Đại thừa, an trụ nơi đạo ấy nếu chẳng dùng từ bi hỉ xả soi khắp chúng sanh, chẳng yêu chúng sanh như mình, thì giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy cả đại địa chẳng kham chịu được, tất cả chúng sanh thân cận được.

Nếu đại Bồ Tát dùng từ bi lợi ích chúng sanh mà mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa an trụ đạo ấy, thì giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La chẳng thể làm được. Tất cả hàng ngu phu tham luyến thế gian ở mãi thế gian cũng chẳng thấy được.

Vì thương xót tất cả chúng sanh mà chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ, có thể dùng giáp trụ gia trì địa giới và thủy hỏa phong giới, làm cho địa giới nầy chẳng nghiêm úp, tất cả chúng sanh khỏi kinh sợ, lại có thể làm cho thủy giới hỏa giới và phong giới tùy theo chỗ thích ứng mà phát khời hiệu năng.

Chư đại Bồ Tát từ lúc sơ tâm hướng đến giáp trụ tới nay mặc đại giáp trụ ấy ngồi Đại thừa ấy dùng đạo thanh tịnh mà hướng đến nhứt sanh bổ xứ.

Lúc đại Bồ Tát đến cội Bồ Đề ngồi đạo tràng, trong cõi Đại Thiên nầy, chỗ đạo tràng kiên cố do kim cương làm thành, nếu chẳng gia trì thì tất sẽ rúng động nghiêng úp. Dầu là làm thành bằng kim cương kiên cố nhưng không kham chịu đựng được đại giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy.

Thuở xưa, vì chư đại Bồ Tát thệ nguyện khởi tâm từ bi đối với chúng sanh, vì mười phương chư Phật chư đại Bồ Tát đồng khen ngợi, nên dầu là núi Kim Cương, núi Tu Di, các bửu sơn cùng các núi lớn nhất, nếu chẳng gia trì, thì đều cũng chẳng kham chịu đựng được đại giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy.

Lại vì bổn nguyện lực của chư đại Bồ Tát, bổn nguyện lực của chư Phật, đối với tất cả chúng sanh chẳng làm não, chẳng làm hại, chẳng làm tổn, chẳng làm oán, chẳng làm thù, chẳng lấn hiếp, chẳng bức ngặt, vì muốn cho chúng sanh được an lạc, nên mặc đại giáo trụ ngồi Đại thưà an trụ trong đạo ấy mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc mặc giáp trụ, chư đại Bồ Tát mặc giáp trụ trí huệ, cầm dao gậy trí huệ, hồi hướng đại trí huệ, ngồi hồi hướng thừa, hướng ánh sáng trí huệ, an trụ đạo quang minh, dùng con mắt trí huệ sáng suốt quan sát các pháp mà hướng đến nhứt thiết chủng trí. Vì muốn nhiếp thủ nhứt thiết chủng trí, vì tất cả chúng sanh mà tu hành Bát Nhã Ba la mật, Bố thí Ba la mật, Trì giới Ba la mật, Nhẫn nhục Ba la mật, Tinh tiến Ba la mật và Thiền Ba la mật.

Tất cả đều dùng huệ làm tiên đạo, dùng huệ làm tu tập, dùng huệ làm nhiếp trì, mà hồi hướng Vô thượng Bồ đề”.

Ngài Vô Biên Huệ bạch rằng: ” Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát có bao nhiêu là trí huệ đều có thể nhiếp trì khắp tất cả chỗ thành tựu vô lượng chư Phật pháp”.

Đức Phật phán:” Đúng như vậy. Nầy Vô Biên Huệ! Đúng như lời ông vừa nói. Chư đại Bồ Tát có bao nhiêu là trí huệ khắp tất cả chỗ nhiếp tất cả pháp, mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa an trụ đại đạo ấy, mỗi mỗi đều dùng huệ làm tiên đạo mà hướng đến.

Nầy Vô Biên Huệ! Dầu có trí huẽ mà không dùng huệ làm tiên đạo thì ở trong đạo ấy chẳng thể hướng đến được. Nếu có trí huệ dùng huệ làm tiên đạo, khắp tất cả chỗ tùy đi tùy làm, dùng huệ để nhiếp trì, dùng huệ để phòng ngự, mới được gọi là mặc đại giáp trụ ngồi ở Đại thừa an trụ đại đạo ấy, dùng pháp an ổn làm lợi ích cho thế gian, có thể khai huệ nhãn, dùng huệ nhãn quan sát, huệ thân chiếu sáng phóng ánh sáng lớn mà hướng đến Vô thượng Bồ Đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Đó là chư đại Bồ Tát mặc giáp trụ thì giáp trụ trang nghiêm, ngồi Đại thừa thì Đại thừa trang nghiêm, thật hành đại đạo thì đại đạo trang nghiêm mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát giáp trụ trang nghiêm, Đại thừa trang nghiêm và đại đạo trang nghiêm, tất cả công đức nhiều thứ trang nghiêm, nếu ta nói cho đủ, dầu đến vô lượng kiếp cũng nói không hết được.

Nay vì làm cho các ông được biết rõ, cũng vì chư Bồ Tát vị lai, giáp trụ trang nghiêm, Đại thừa trang nghiêm, đại đạo trang nghiêm, vô lượng công đức tư lương trang nghiêm, mà ta lược nói một phần ít.

Chư Bồ Tát ấy nếu nghe pháp của ta cũng nên mặc đại giáp trụ, ngời ở Đại thừa, an trụ đại đạo ấy, dùng công đức trang nghiêm mà hướng đến Vô thượng Bồ đề”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Ta nói tứ chánh cần

Cũng nói tứ niệm trụ

Tất cả thiện phương tiện

Do nơi chẳng phóng dật

Đầy đủ chánh ức niệm

Khéo tương ưng với pháp

Dũng tiến để xuất ly

Do nơi chẳng phóng dật

Căn, lực, Bồ đề phần

Mặc giáp ngồi Đại thừa

Dùng đây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Thiền định chánh giải thóat

Đẳng trì và đẳng chí

Dùng dây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Đại từ bi hỉ xả

Mặc giáp ngồi Đại thừa

Dùng dây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Thành tựu các chỉ quán

Thần túc và thần biến

Dùng dây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Vô lượng các công đức

Mặc giáp ngồi Đại thừa

Nơi đạo không mỏi nhọc

Bồ Tát sẽ hướng đến

Tinh tiến chẳng phóng dật

Mặc giáp ngòi Đại thừa

Biết rõ các niệm xứ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Ánh sáng đại giáp trụ

Hàng phục các thế gian

Mặc giáp trụ nầy rồi

Mới gọi là trí giả

Hướng đến nhứt thiết trí

Ra khỏi hẳn tam giới

Ngồi Đại thừa nầy rồi

Mới gọi là trí giả

Đại đạo thanh tịnh đạo

Chói che các thế gian

Trời, Người, A Tu La

Mới gọi là rtí giả

Chư Bồ Tát như vậy

Khắp vì các chúng sanh

Trong tất cả thời gian

Tinh tiến mặc giáp trụ

Bồ Tát chẳng tu tập

Đại từ và đại bi

Đại hỉ và đại xả

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng to tập

Sự lợi ích đúng lúc

Cho các chúng sanh kia

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng tu tập

Thương yêu các chúng sanh

Như thương yêu chính mình

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng tu tập

Từ bi ngồi Đại thừa

Các núi và biển cả

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng tu tập

Từ bi với chúng sanh

Ngồi nơi Đại thừa này

Chúng sanh chẳng thân cận

Nếu mặc giáp trụ nầy

Từ quang chẳng chiếu sáng

Với đại giáp trụ ấy

Chúng sanh chẳng thân cận

Nếu mặc giáp trụ nầy

Biển công đức vô biên

Gia trì bốn đại chủng

Nó mới kham chịu nổi

Vì nhiếp thủ chúng sanh

Dùng từ quang chiếu khắp

Gia trì bốn đại chủng

Nó mới kham chịu nổi

Vì nhiếp thủ chúng sanh

Thành tựu đại Bồ Đề

Gia trì bốn đại chủng

Nó mới kham chịu nổi

Chẳng khinh hại chúng sanh

Mặc giáp đại trụ nầy

Đại thừa mà xuất ly

Đây gọi là trí giả

Đại phương tiện khôn khéo

Tất cả đều gia rtì

Vô thượng mà xuất ly

Đây gọi là trí giả

Do đây nên đại địa

Chẳng úp cũng chẳng nghiêng

Thủy hỏa phong đại chủng

Phát hiệu năng thích ứng

Nhưng chư đại Bồ Tát

Mặc giáp lại vô biên

Ngồi nơi Đại thừa nầy

Dùng đạo mà hướng đến

Thành nhứt sanh bổ xứ

Đến bực tối hậu thân

Trải tòa dưới thọ vương

Ngồi trên đất kiên cố

Ở chỗ đạo tràng nầy

An trụ như kim cương

Thân tâm chẳng mỏi nhọc

Hiện chứng nhứt thiết rtí

Bồ Tát người vô úy

Nếu người chẳng gia trì

Đất ấy sẽ nghiêng úp

Hư hoại chẳng còn thành

Tất cả cõi đại địa

Nếu chẳng được gia trì

Dầu bằng chất kim cương

Đều phải nghiêng úp cả

Thuở xưa đại Bồ tát

Thệ nguyện lớn trang nghiêm

Đối với các chúng sanh

Đã khởi niệm đại từ

Hiện tại mười phương cõi

Trong quốc độ chư Phật

Đấng Lưỡng Túc Biến Tri

Đều hộ niệm tất cả

Gỉa sử các núi đá

Núi Tu Di núi báu

Núi Kim Cương luân vi

Kiên cố đứng sừng sững

Bồ Tát người trí huệ

Nếu người chẳng gia trì

Đối với đại giáp trụ

Các núi chẳng chịu nổi

Chư Phật chư Bồ Tát

Dùng thần lực gia trì

Chúng sanh và đại địa

Kham gần kham chịu nổi

Mặc đại giáp trụ nầy

Chẳng làm não chúng sanh

Giáp trụ nầy vô thượng

Dùng nương sẽ hướng đến

Mặc đại giáp trụ nầy

Chẳng làm hại chúng sanh

Giáp trụ bất tư nghị

Dùng nương sẽ hướng đến

Mặc đại giáp trụ nầy

Chẳng làm thù chúng sanh

Để trị bịnh chúng sanh

Dùng nương sẽ hướng đến

Đầy đủ đạo thù thắng

Tối thanh tịnh vô thượng

Chẳng não hại oán thù

Chơn chánh mà an trụ

Mặc giáp trụ trí huệ

Ngồi thừa huệ hồi hướng

Giáp trụ chẳng bị hư

Hồi hường đạo vô thượng

Bồ Tát người dựa nhờ

An trụ ánh sáng huệ

Dùng huệ xem các pháp

Mà hướng đến vô thượng

Bồ Tát đạo thù thắng

Giáp trụ và Đại thừa

Đây do huệ quang khởi

Thế nên tâm thanh tịnh

Nương các Ba la mật

Hướng đến đại Bồ đề

Huệ nhiếp huệ thanh tịnh

Dùng huệ làm tiên đạo

Tất cả Ba la mật

Dùng huệ nầy làm trước

Huệ nhiếp huệ thanh tịnh

Hay truyền trí vô thượng

Bồ tát chẳng nghĩ bàn

Hay phát ánh sáng huệ

Hay thắp đèn trí huệ

An lạc mà hướng đến

Vì phát ánh sáng huệ

Do đó huệ nhãn khai

Nơi Phật vô thượng trí

Thấy rõ mà hướng đến

Bồ Tát người dũng mãnh

Giáp trụ lại vô biên

Vì vô biên trang nghiêm

Gọi là đại giáp trụ

Bồ Tát người đại trí

Đại thừa đại trang nghiêm

Nơi Phật nhứt thiết trí

Vô nhiễm mà hướng đến

Bồ Tát người đại trí

Đại đạo đại trang nghiêm

Thù thắng chẳng nghĩ bàn

Thanh tịnh mà hướng đến”.

Đức Phật phán tiếp:” Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát ở nơi cảnh giới vô biên giáp trụ, cảnh giới vô biên Đại thừa và cảnh giới vô biên đại đạo mà hướng đến.

Tại sao vậy?Vì có thể tùy nhập tất cả xứ vậy. Vì chư đại Bồ Tát muốn tùy nhập tất cả pháp vậy. Vì mặc đại giáp trụ là muốn tùy nhập tất cả pháp vậy. Vì ngồi nơi Đại thừa là muốn tùy nhập tất cả pháp vậy. Vì an trụ đại đạo nầy ở nơi tất cả pháp đươc bình đẳng mà hướng đến vậy.

Nhưng ở giáp trụ nầy chẳng có được chút ít pháp nào hoặc trong hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc xa hợc gần, hoặc quá khứ hiện tại vị lai, hoặc hữu vi vô vi, hoặc tru. hoặc chẳng trụ.

Nơi tất cả pháp, nếu giáp trụ nầy chẳng tuyển trạch được, chẳng quyết liễu được chẳng biết khắp được, chẳng tùy nhập được, chẳng tác chứng được, chẳng siêu quá được, thì chẳng thể gọi là mặc đại giáp trụ.

Nơi tất cả ppháp, nếu giáp trụ nầy tuyển trạch được, quyết liễu được, biết khắp được, tùy nhập được, tác chứng được, siêu quá được thì mới được gọi là mặc đại giáp trụ.

Lại Đại thừa nầy không có chút pháp nào hoặc trong hoặc ngoài, nhẫn đến hồi hướng nhứt thiết chủng trí, biết khắp, tùy nhập tác chứng và siêu quá được nên gọi thừa nầy là Đại thừa, là Pháp thiện xảo thừa, là Niết Bàn thừa, la Vô thượng thượng thừa, la Vô đẳng đẳng thừa.

Lại đại đạo nầy cũng không có chút pháp nào hoặc trong hoặc ngoài, nhẫn đến có thể ở nơi tất cả pháp hình chánh đại đạo mà hướng đến.

Đạo bình chánh nầy không có chút pháp nào mà chẳng biết khắp, thế nên đạo nầy gọi là vô thượng đạo, vô số lượng đạo, vô đẳng đẳng đạo.

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ, các Ngài có thể khắp tùy nhập trong hiện hành tâm và tâm sở của tất cả chúng sanh, có thể khắp làm sạch hết tạp nhiễm phiền não của tất cả chúng sanh.

Các Ngài ngồi nơi Đại thừa làm thêm lớn căn lành cho tất cả chúng sanh.

Các Ngài an trụ đại đạo nầy khuyến hóa chúng sanh với tất cả pháp lành.

Nầy Vô Biên Huệ! Vì mỗi mỗi chúng sanh mỗi mỗi tâm hành cùng tận mé sanh tử mãi mãi lưu chuyển, nên chư đại Bồ Tát cầu thuốc trí huệ, chẳng rời bỏ giáp trụ mà có thể kiên cố mặc đại giáp trụ, mặc vô lượng giáp trụ, mặc nan tư giáp trụ, mặc thanh tinh giáp trụ, mặc vô biên giáp trụ, mặc vô thủ giáp trụ, mặc giáp trụ biết tâm tưởng của chúng sanh, mặc giáp trụ biết không có chúng sanh, mặc giáp trụ biết không có ngã, mặc giáp trụ biết tự tánh của chúng sanh, mặc giáp trụ tùy giác tự tánh của chúng sanh, mặc giáp trụ biết tự tánh của ngã, mặc giáp trụ tùy giác tự tánh của ngã, mặc giáp trụ biết tự tánh bên trong, mặc giáp trụ tùy giác tự tánh bên trong, mặc giáp trụ biết tự tánh bên ngoài, mặc giáp trụ tùy giác tự tánh bên ngoài, mặc giáp trụ biết tự tánh trong ngoài, mặc giáp trụ tùy giác tự tánh rtong ngoài, mặc giáp trụ biết tự tánh các pháp, mặc giáp trụ tùy giác tự tánh các pháp, mặc giáp trụ biết tất cả pháp vô sở đắc, mặc giáp trụ biết tự tánh các pháp vô sở đắc, mặc giáp trụ biết rõ tất cã pháp, mặc giáp trụ vô biên, mặc giáp trụ vô trung, mặc giáp trụ vô trung biên, mặc giáp trụ chẳng quá khứ, mặc giáp trụ chẳng vị lai, mặc giáp trụ chẳng hiện tại, mặc giáp trụ vô tác, mặc giáp trụ không tác giả.

Nầy Vô Biên Huệ! Với giáp trụ ấy, chư đại Bồ Tát cũng không có mặc, cũng chẳng tùy giác, cũng chẳng quyết liễu, cũng chẳng xuất ly, cũng chẳng hiện chứng. Vì không giáp trụ mà mặc giáp trụ. Vì chẳng tùy giác mà hay tùy giác. Vì chẳng quyết liễu mà hay qưyết liễu. Vì chẳng xuất ly mà hay xuất ly. Vì chẳng hiện chứng mà hay hiện chứng.

Vì không có thừa mà ngồi Đại thừa. Chẳng ở nơi Đại thừa mà có thi thiết. Không có chỗ thithiết mà làm thi thiết. Nhưng ở nơi Đại thừa không có chút thi thiết.

Nếu có thi thiết thì là chẳng phải thi thiết vì nơi thi thiết kia bất khả đắc vậy.

Vì bất khả đắc nên cũng không có thừa. dùng thừa để an trụ, dùng vô sở đắc mà an trụ Đại thừa, rời xa hướng đến, chẳng tới cứu cánh, chẳng tới Niết Bàn.

Vì bất khả đắc nên chẳng phải đạo làm đạo, hướng đến nơi đạo do vì bình chánh. Đạo bình chánh ấy không chỗ thi thiết, ai làm thi thiết, chỗ nào thi thiết, từ đâu thi thiết. Cũng không có tác, không có tác giả. Cững chẳng phải hòa hiệp, chẳng phải chẳng hòa hiệp. Tất cả đều nhàm rời, tất cả đều chẳng cầu.

Tại sao vậy? Đạo bình chánh ấy với tất cả pháp chẳng dị chẳng đồng. Vì chẳng tương ưng nên chẳng sanh khởi cảm tưởng pháp, rời tất cả pháp, không cấu không tịnh. Pháp tánh cũng vậy không cấu không tịnh.

Vì thế nên đạo ấy gọi là đạo vô nhiễm. Dùng bất khả tiến mà làm tiến lên, dùng bất khả nhiếp mà làm nhiếp thủ.

Đạo ấy thậm thâm: không sanh không khởi, không xuất không tác, không đắc không hành, không xứ không trụ, không chướng không sự. Nơi tất cả sự mà có thể hiển hiện rõ ràng. Nơi tất cả sự m2 không sai biệt. Chẳng xoay chuyển theo sự. Do vì vô sự mà đến chỗ vô thượng.

Nầy Vô Biên Huệ! Nơi giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy, chư đại Bồ Tát phải biết như vậy. Nhưng giáp trụ ấy, thừa ấy và đạo ấy không chỗ thấy được, không chỗ biết được. Vì bất khả đắc vậy. Ai mặc giáp trụ, ai ngồi thừa ấy, ai làm đạo ấy, cũng chẳng thấy được, cũng chẳng biết được, cũng chẳng thể được.

Nầy Vô Biên Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát nghe pháp ấy rồi mà chẳng kinh chẳng sợ, đọc tụng tuyên nói, nơi pháp lý thú không có sai trái, tùy thuận tu hành mà sanh lòng ưa thích, nhập vào thắng giải. Vì pháp ấy mà phải siêng năng tinh tiến.

Nếu ở nơi pháp ấy mà quyết định lý thú phương tiện khôn khéo có kham năng, thì là mặc giáp trụ ấy, ngồi nơi thùa ấy, hành ở đạo ấy.

Vì ở nơi thâm pháp vô sở đắc ấy mà hướng đến, nên hết bờ sanh tử, là bực chánh giác, có thể dùng vô biên công đức trang nghiêm để xuất hiện ở thế gian.

Nầy Vô Biên Huệ! Ở trong pháp ấy, chư đại Bồ Tát phải sanh lòng ưa thích phát khởi đại tinh tiến mà không phóng dật.

Ở nơi pháp sâu xa nầy, nếu có chúng sanh nào vừa sanh lòng ưa thích, ta bảo người ấy được lợi, ích rất lớn. Huống là người có thể siêng năng tinh tiến chẳng phóng dật giới hạnh thanh tịnh mà hướng đến.

Nầy Vô Biên Huệ! Ông xem pháp ấy bao nhiêu là rộng lớn, bao nhiêu là thù thắng, bao nhiêu là thanh tịnh!

Ta ở nơi pháp ấy ân cần khen ngợi muốn khiến chúng sanh phát lòng ưa thích, họ sẽ được mãi mãi an ổn khoái lạc lợi ích. Vì là nhàm lìa, vì là tịch diệt, vì là biết khắp vậy.

Nầy Vô Biên Huệ! Ông lại nên xem pháp ấy có thể trao cho đầy đủ sự an lạc thế gian và xuất thế gian.

Có bao nhiêu chúng sanh thiếu thốn, vì họ ở nơi thâm pháp ấy mà thối thất, nên họ rời xa tất cả sự đầy đủ an vui thế gian và xuất thế gian vậy.

Nầy Vô Biên Huệ! Ông lại xem nơi đức Như Lai hiện tiền pháp bửu thậm thâm ấy, bao nhiêu là đầy đủ lợi ích, bao nhiêu là dễ được!

Nay ở nơi pháp thậm thâm ấy ông phải siêng tu tập.

Lúc ta diễn nói pháp bửu ấy, có những hạng ngu phu còn chẳng muốn nghe huống là có thể thọ trì.

Đức Như Lai hiện tiền pháp bửu đầy đủ lợi ích, họ chẳng thích lắng nghe, chẳng muốn thưa hỏi.

Nếu ở thời kỳ mạt thế năm trăm năm sau, lúc chánh pháp diệt, đức Phật và pháp bửu cùng người trì pháp cả ba ngôi báu đều chẳng còn, họ làm sao có thể thích nghe muốn hỏi được.

Nầy Vô Biên Huệ! Mặc dầu vậy nhưng lúc sau ấy, nếu người được đức Như Lai khéo gia trì, cũng làm cho họ được pháp bửu thậm thâm ấy.

Nầy Vô Biên Huệ! Thời kỳ bố úy kia, pháp bửu thậm thâm ấy thiệt không có tổn giảm cũng không diệt tận, chỉ vì ở nơi pháp ấy không có ai lắng nghe, không có ai thọ trì. Ngoại trừ những người ở trước đức Phật khát ngưỡng lắng nghe mặc giáp trụ, đến thời kỳ ấy họ sẽ có thể ưa thích lắng nghe thọ trì pháp bửu ấy.

Thời kỳ sau ấy, chúng sanh nào nghe pháp ấy rồi có thể sanh lòng tin thanh tịnh, ta bảo người ấy sẽ được thành tựu pháp bửu quảng đại ấy. Huống là những người hiê(n nay ở trong pháp bửu ấy mà có thể sanh lòng tin thanh tịnh siêng tu hành.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc mặc giáp trụ vô thượng vô lượng tối đại, chư đại Bồ Tát phải nghĩ rằng: Tôi vì tất cả chúng sanh thiếu thốn, đó là những kẻ thiếu giới, thiếu nghe, thiếu huệ, thiếu giải thoát, thiếu giải thoát tri kiến, nên đem pháp bửu lớn nầy để làm cho họ được đầy đủ.

Do vì pháp bửu lớn nầy làm cho đầy đủ, nên tất cả chỗ thiếu thốn của họ đều được rời bỏ. Làm cho họ được đầy đủ những tài sản giới, văn, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Làm tắt hết những lửa tham sân si. Làm lành tất cả bịnh tật. Thuốc hay vô thượng làm cho họ được uống. nhờ uống thuốc ấy mà các bịnh đều tiêu trừ được đại an lạc, rời hẳn hữu dư mà chứng thanh lương tánh vô thượng Niết Bàn. Không còn thừa những tư duy quán sát, chẳng cầu tất cả hữu vi vô vi.

Tại sao vậy?

Bởi Niết Bàn nầy là tối thượng an lạc, tất cả chỗ đáng cầu đều không còn thừa vậy. Chỗ cầu đã thôi hẳn đã dứt hết vậy.

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ như vậy rồi lại vì thương xót nhiếp thủ tất cả các chúng sanh mà ngồi Đại thừa ấy.

Với Đại thừa ấy, chư Phật quá khứ đã ngồi mà xuất ly, chư Phật vị lai sẽ ngồi mà xuất ly, chư Phật hiện tại hiện đang ngồi mà xuất ly, không có người đi, cũng không có thừa, cũng không có xuất ly.

Tại sao vậy?

Vì là không, là vô tướng, là vô nguyện, là vô sanh, là không tác giả vậy.

Chẳng phải đã xuất ly, chẳng phải nay xuất ly, chẳng phải sẽ xuất ly.

Người ngồi thừa ấy xuất ly như thế, là khéo xuất ly mà không chấp trước, với tất cả pháp chẳng phải có hòa hiệp, chẳng phải không hòa hiệp, không lai không khứ.

Lúc thừa ấy ở nơi đạo mà xuất ly cũng chẳng phải hòa hiệp chẳng phải chẳng hòa hiệp, không lai không khứ.

Lúc thừa ấy, đạo ấy ở nơi đại giáp trụ mà xuất ly, cũng chẳng phải hoà hiệp chẳng phải chẳng hòa hiệp, không lai không khứ, vì bất khả đắc vậy.

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát dùng giáp trụ ấy, thừa ấy và đạo ấy mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Lại lúc dùng giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy mà hướng đến, đại Bồ Tát chẳng nghĩ hoặc pháp phàm phu, hoặc pháp Thanh Văn, hoặc pháp Duyên Giác, hoặc pháp chư Phật, những pháp ấy đối với tôi hoặc xa hoặc gần. Đại Bồ Tát cũng chẳng nghĩ hoặc pháp không, hoặc pháp vô tướng, hoặc pháp vô nguyện, hoặc pháp vô sanh, hoặc pháp vo tác, những pháp ấy đối với tôi hoặc xa hoặc gần. Đại Bồ Tát cũng chẳng nghĩ hoặc pháp yểm, hoặc pháp ly, hoặc pháp diệt, nhẫn đến Đại bát Niết Bàn, những pháp ấy đối với tôi hoặc xa hoặc gần.

Nầy Vô Biên Huệ! Đại giáp trụ ấy, thừa ấy và đạo ấy, tất cả Bồ Tát, tất cả Duyên giác, tất cả Thanh Văn và tất cả chúng sanh chẳng làm động được mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Nầy Vô biên Huệ! Chư Phật Thế Tôn ở nơi giáp trụ ấy, thừa ấy và đạo ấy được bất động rồi các Ngài bát Niết Bàn.

Tại sao vậy?

Vì tất cả các pháp chẳng thể động được. Vì tất cả pháp tánh, tướng của pháp tánh, tướng của viễn ly vậy, tướng thanh tịnh vậy, khắp thanh tịnh vậy.

Chẳng thể dùng tướng mà làm quan sát, làm thắng quan sát, làm khắp quan sát.

Tất cả pháp tướng, tánh của pháp tướng, chẳng thể dùng tánh mà làm quan sát, làm thắng quan sát, làm khắp quan sát.

Tất cả các pháp không tánh không tướng chẳng hiển bày được, chẳng nói phô được. Đây là tánh tướng chơn thiệt của các pháp.

Nầy Vô Biên Huệ! Cũng vậy, giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy, tướng chơn thiệt của nó chẳng thể hiện bày chẳng thể nói phô được.

Vì khiến chúng sanh sẽ biết rõ để tăng trưởng ánh sáng tất cả pháp, nên ở nơi giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy, ta giả thi thiết mà nói lược.

Nay nếu ông muốn ở nơi giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy theo nghĩa mà thật hành, ông chớ dùng thi thiết, chớ dùng hiển bày, chớ dùng nói phô, mà phải tùy theo nghĩa để thật hành.

Theo nghĩa để thật hành ấy không có chút gì phải thật hành cũng không có chút gì tùy theo thật hành.

Nếu là phi nghĩa thì chẳng nên tùy theo thật hành. Nếu là thị nghĩa thì phải tùy theo thật hành.

Lúc tùy theo nghĩa thâ(t hành, chẳng theo tiếng sẽ thật hành, chẳng theo chữ để thật hành, chẳng theo lời để thật hành, chẳng theo hành giả, cũng chẳng theo nó mà chuyển.

Những gì là nghĩa?

Đó là bí mật thuyết vậy.

Ở nơi bí mật thuyết phải theo đó mà tỏ ngộ, phải dùng lòng tin mà thật hành.

Dùng lòng tin thật hành thì ở trong thị nghĩa không có phân biệt. Nơi vô phân biệt mới nên tùy theo thật hành.

Nên tùy theo thật hành đây chính là chẳng thật hành cũng chẳng tùy theo thật hành.

Tại sao vậy?

Ờ trong thị nghĩa không có chút thật hành, không có chút tùy theo thật hành, không có chút khắp thật hành. Vì rời xa thật hành nên chẳng nên tùy theo thật hành:

Chẳng tùy theo chỗ tương ưng với Bồ Đề mà thật hành, chẳng tùy theo chỗ tương ưng với lưu chuyển mà thật hành.

Ở nơi tương ưng và chẳng tương ưng ấy đều chẳng phải tác ý, đều chẳng phải chánh niệm, vi niệm thanh tịnh vậy.

Vì thế nên chẳng nên tùy theo thật hành.

Nầy Vô Biên Huệ! Ở trong thị nghĩa, ông nên tùy hành chớ có tùy hành khác.

Nếu tùy hành khác thì la quên mất mà theo dõi âm thanh, theo dõi văn tự, theo dõi ngôn ngữ. Nơi ngôn ngữ ấy chẳng rời bỏ được.

Biết khắp âm thanh, siêu quá văn tự, giác ngộ ngôn ngữ thì chẳng theo nó mà hành, thì chẳng lưu chuyển.

Ở trong thị nghĩa, tùy hành như vậy, tùy nhập như vậy thì không có chút hành, vì hành đã dứt hết vậy.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc ở nơi thị nghĩa mà hành thì chớ có lấy hành mà hành nơi nghĩa.

Nếu chẳng lấy hành mà hành nơi nghĩa thì là chẳng đến cũng chẳng lui về.

Nếu được chẳng đến chẳng lui thì ở nơi giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy được tùy thuận hướng đến Vô thượng Bồ đề mà làm lợi ích lớn cho chúng sanh.

Nầy Vô Biên Huệ! Nếu ở nơi pháp ấy nói như vậy, tùy theo nghĩa mà hành, có thể tùy nhập được thì tâm chẳng điên đảo không có nghi hoặc, thành tựu thắng giải. Ở nơi giáp trụ ấy, thừa ấy, đạo ấy, nếu chưa nhiếp thủ thì được nhiếp thủ chóng sẽ hưóng đến. Nếu có ai chưa mặc giáp trụ ấy thì sẽ chóng đuợc mặc. Nếu có ai chưa ngồi nơi thừa ấy thì sẽ chóng được ngồi. Nếu có ai chưa an trụ nơi đạo ấy thì se chóng được an trụ.

Vô Biên Huệ! Những chúng sanh ấy sẽ nhiếp lấy phước đức tư lương rộng lớn, được chư Phật Thế Tôn hộ niệm, với Pháp không sai trái, đồng hàng với chư Tăng.

Nầy Vô Biên Huệ! Ông đã nhiếp thủ vô lượng thiện căn, ở thuở mạt thế sau, ông sẽ dùng pháp ấy nhiếp lấy chúng sanh, ông sẽ vì chúng sanh mà gánh vác lấy gánh nặng, được phước đức vô lượng, khó nói kể được”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Bồ Tát người vô úy

Lúc mặc giáp trụ ấy

Vì lợi ích chúng sanh

Mà mặc vô biên giáp

Chúng sanh nếu nghèo thiếu

Khổ sở không pháp tài

Không giới không đa văn

Không huệ không giải thoát

Mặc giáp vô biên ấy

Khiến pháp được đầy đủ

Vì pháp đươc đầy đủ

Tất cả được an lạc

Vì bỏ những nghèo khổ

Diễn thuyết pháp vô thượng

Người nghe đều sạch trần

Được ở đạo an lạc

Giới tụ được sung túc

Đa văn như biển cả

Bèn được huệ tối thượng

Do đây dứt được trói

Giải thoát khắp chiếu sáng

Giải thoát chánh tri kiến

Nếu người hiện chứng được

Tất cả được an lạc

Lửa lớn tham sân si

Thường đốt cháy hừng khắp

Do đó chúng sanh khổ

Tôi làm tắt lửa ấy

Trao thuốc cho chúng sanh

Trừ hết tất cả bịnh

Nếu bịnh đã tiêu trừ

Đến được cõi Niết Bàn

Bỏ hẳn tất cả dư

Thẳng đến chỗ an lạc

Từ trong an lạc ấy

Không có ai lui về

Tất cả vui hữu vi

Ở đó không còn cầu

Đại an lạc vô thượng

Ở đó đểu sẽ chứng

Dùng pháp không hí luận

Thành thục các chúng sanh

Tất cả đều sẽ được

Đại an lạc cứu cánh

Người hướng đến như vậy

Thẳng qua không trở lại

Ra khỏi nơi hướng đến

Thường được thắng an lạc

Ở trong đại an lạc

Ua muốn hay chẳng muốn

Hướng đến hay chẳng hướng

Tất cả đều sẽ dứt

Mặc giáp như vậy rồi

Sẽ ngồi nơi thừa ấy

Vì thương các chúng sanh

Đều nhiếp thủ tất cả

Quá khứ Phật Thế Tôn

Thừa ấy đã xuất ly

Vị lai Phật Thế Tôn

Thừa ấy sẽ xuất ly

Hiện tại Phật Thế Tôn

Thừa ấy nay xuất ly

Thế nên Đại thừa ấy

Không Phật nào chẳng ngồi

Tất cả đấng Tối Thắng

Dựa nương lớn của đởi

Do thừa ấy xuất ly

Chẳng sanh cảm tưởng thừa

Chẳng phải thừa làm thừa

Chẳng phải đạo làm đạo

Chẳng phải xuất làm xuất

Xuất ly nên vô thượng

Lúc thừa ấy xuất ly

Chưa có chút xuất ly

Vì rỗng không, vô tướng

Vì vô nguyện, vô tác

Chẳng thừa chẳng xuất ly

Mới gọi là Đại thừa

Tất cả đều bình đẳng

Do đây mà hướng đến

Thừa ấy không hòa hiệp

Cũng không chẳng hòa hiệp

Hướng đến đạo vô thượng

Hiện chứng đại an lạc

Thừa ấy không tương ưng

Cũng không chẳng tương ưng

Không xứ không chỗ ở

Do đây mà hướng đến

Đạo ấy không có lai

Đạo ấy cũng không khứ

Được chánh đạo ấy rồi

Tịch tịnh mà hướng đến

Ta nói nơi đạo ấy

Thừa ấy giáp trụ ấy

Nơi pháp không chỗ ở

Tịch tịnh tối vô thượng

Tất cả pháp phàm phu

Tất cả pháp Thanh Văn

Tất cả pháp Duyên Giác

Tất cả bất khả đắc

Nơi tất cả pháp Phật

Pháp ly cấu vô thượng

Chẳng xa cũng chẳng gần

Tất cả bất khả đắc

Pháp rỗng không, vô tướng

Pháp vô nguyện, vô tác

Chẳng xa cũng chẳng gần

Tất cả bất khả đắc

Các pháp yểm, ly, diệt

Pháp Niết Bàn tịch tịnh

Chẳng xa cũng chẳng gần

Tất cả bất khả đắc

Thừa ấy giáp trụ ấy

Đạo ấy vô sở thủ

Vô thượng bất khả động

Rốt ráo bất khả đắc

Tự tánh tất cả pháp

Tướng chơn thiệt hi hữu

Chẳng đem thi thiết được

Vì pháp tánh không vậy

Thừa ấy giáp trụ ấy

Đạo ấy không hiển bày

Như tự tánh các pháp

Tánh ấy cũng như vậy

Trong tất cả các pháp

Tướng tánh bất khả đắc

Nơi pháp không tánh tướng

Ta lược khai thị cho

Trong tất cả các pháp

Tất cả tự tánh tướng

Nơi ta nói như vầy

Rốt ráo vô sở hữu

Thừa ấy và đạo ấy

Giáp ấy tự tánh tướng

Ở đó cầu ngôn thuyết

Rốt ráo cũng chẳng có

Vì ngôn thuyết chẳng có

Đó là tướng hi hữu

Ở trong ngôn thuyết ấy

Lời lẽ cũng chẳng có

Các pháp chẳng lường được

Vô thắng vô biên lượng

Tất cả chẳng thể lường

Thế nên pháp vô thượng

Thừa ấy giáp trụ ấy

Đạo ấy cũng như vậy

Ở trong vô tướng ấy

Phải tùy nhập như vậy

Vì khiến các chúng sanh

Biết khắp siêng tu tập

Chóng được ánh sáng pháp

Nên ta nói như vầy

Các pháp không ngôn ngữ

Tất cả chẳng nói được

Ở trong các pháp ấy

Tất cả phải tùy nhập

Vì pháp không ngôn thuyết

Nơi ấy phải tùy hành

Hành không có chút hành

Tất cả pháp không hành

Không cầu mà thích cầu

Không hành mà tùy hành

Người tùy hành như vậy

Chẳng quan sát nơi nghĩa

Nay ông nơi thiệt nghĩa

Tất cả phải tùy hành

Âm thanh và ngôn ngữ

Nơi ấy chớ tùy chuyển

Trong âm thanh ngôn ngữ

Nếu được chẳng tùy chuyển

Mới tùy hành nơi nghĩa

Đây klà người cầu nghĩa

Những gì gọi là nghĩa

Phải biết thuyết bí mật

Bởi tin vô phân biệt

Nghĩa ấy mới tùy hành

Biết rõ nghĩa như vậy

Được nơi thuyết bí mật

Không trước không chỗ chấp

Chẳng hành chẳng tùy chuyển

Nếu là có tùy hành

Thì là tùy chấp trước

Nếu là không tùy hành

Tất cả chẳng tùy chuyển

Do đây chánh ức niệm

Rời xa nơi tùy chuyền

Bồ đề và sanh tử

Chẳng tương ưng cả hai

Nơi ấy cũng vô niệm

Vô niệm là chánh niệm

Vì nơi niệm thanh tịnh

Gọi là người thanh tịnh

Nếu tu hành khác đây

Rời xa pháp vô thượng

Ông phải ở nghĩa ấy

Như lời mà tu tập

Nếu là tùy ngôn ngữ

Thì là tùy âm thanh

Chẳng vượt quá nơi ấy

Đồng với pháp thế gian

Âm thanh và văn tự

Chẳng nên tùy nó chuyển

Phải biết nghĩa chơn thiệt

Không hành để tùy hành

Thiệt nghĩa không âm thanh

Cũng không có văn tự

Vì vượt quá ngôn ngữ

Mới gọi là thiệt nghĩa

Nghĩa ấy nên tùy hành

Tùy hành vô sở hữu

Vì hành đã dứt hết

Mới gọi là thiệt nghĩa

Ở trong chơn thiệt nghĩa

Chẳng hành dùng làm hành

Đây thời chẳng thối chuyển

Chẳng rời bỏ giáp trụ

Tùy thuận đại giáp trụ

Đại thừa và đại đạo

Hướng đến chỗ an lạc

Lợi ích các chúng sinh

Những pháp an ổn ấy

Nay ta nói cho ông

Ông phải tùy nghĩa hành

Ông dứt được nghi hoặc

Nếu người ngồi thừa ấy

Ngồi rồi sẽ hướng đến

Chóng đến đại Bồ đề

Hiện chứng vô thượng giác

Nơi tối thượng thừa ấy

Chẳng thừa là chóng thừa

Nơi đạo nơi giáp trụ

Nghĩa ấy cũng như vậy

Nơi pháp vô thưỡng ấy

Người siêng năng tu tập

Các chúng sanh như vậy

Được chư Phật hộ niệm

Thời kỳ bố úy sau

Ông phải khai pháp ấy

Rộng vì các chúng sanh

Mà làm họ lợi ích

Thời kỳ bố úy sau

Nếu khai được pháp ấy

Phát sanh phước vô thượng

Số ấy chẳng lường được”.

Đức Phật phán tiếp:” Nầy Vô Biên Huệ! Giáp trụ của đại Bồ Tát mặc gọi là đại thắng, cũng cọi là vô biên thắng, cũng gọi là đại trang nghiêm.

Thừa của các Ngài ngồi gọi là Đại thừa, cũng gọi là vô biên quang, cũng gọi là diệu trang nghiêm.

Đạo của các Ngài hành gọi là vô lượng trang nghiêm tư lương, cũng gọi là vô luợng phương tiện tư lương.

Do nơi đạo ấy mà chư đại Bồ Tát hướng đến Vô thượng Bồ Đề.

Lại nầy Vô Biên Huệ! Thuở xưa quá vô lượng kiếp, lại gấp bội số kiếp ấy, có đức Phật xuất thế hiệu là Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, kiếp ấy tên là Điện Quang, quốc độ tên là Quang Minh.

Cõi nước ấy, mặt đất bằng phẳng không có những nhơ uế ngói sạn gai góc. Hoàng kim và bạch ngân làm cát đống bày hàng ngăn ranh rất đẹp mắt.

Trong quốc độ ấy, mỗi châu trong tứ châu thiên hạ rộng hai ức do tuần. Trong mỗi châu lại có bốn vạn tám ngàn thành lớn. Mỗi tòa thành ấy rộng mười do tuần, dài hai mươi do tuần, tường hào trang nghiêm tráng lệ rất cao.

Trong mỗi thành có tám câu chi người ở, chia ra mười ngàn khu vườn bao vòng rất đẹp. Trong quốc độ ấy lại có nhiều thứ cây hoa, cây trái, cây hương, cây y phục, cây thượng vị và cây kim cương xen lẫn nghiêm sức. Những ao hồ ven bờ ngay thẳng đầy nước bát công đức, đủ bốn màu hoa sen thường đua nở.

Đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai ấy thọ sáu mươi tám câu chi na do tha tuổi.

Lại có sáu mươi câu chi na do tha chúng Thanh Văn làm quyến thuộc.

Thuở ấy, nhơn dân trong nước Quang Minh dung nhan xinh đẹp an ổn sung sướng, tham sân si nhẹ mỏng dễ giáo hóa. Dạy bảo chút ít họ liền biết rõ tánh tướng các pháp.

Nầy Vô Biên Huệ! Thuở ấy có Chuyển Luân Thánh Vương tên là Nhứt Thiết Nghĩa Thành đầy đủ bảy báu, bốn phương thần phục.

Trong châu Diêm Phù Đề ấy có một tòa thành lớn rộng bốn mươi do tuần, nhơn dân đông đúc an ổn giàu vui. Nội thành cung điện rộng năm do tuần dùng bảy báu để trang sức, cây đa la đẹp rũ những linh lạc, trùm với lưới chơn kim.

Chánh điện của nhà vua thuần bằng lưu ly biếc rộng một do tuần, bốn mặt có ngàn trụ. Trên cung điện ấy lại có ngàn từng lầu cao lớn nghiêm đẹp, trang sức với những châu báu. Trước điện có ao nước thơm trong vắt, bên cạnh lại có mười sáu ao nhỏ thơm sáng làm bằng bảy báu. Trong mỗi mỗi ao nước chảy xao động vang ra âm thanh vi diệu như trổi nhạc. Mỗi mỗi ao nhỏ có mười sáu bực thềm, ao lớn có ba mươi hai bực thềm. Mỗi mỗi bực thềm thuần bằng chơn kim. Cây báu bày hàng, lưới báu giăng che, mùi thơm thượng diệu phất khắp cả thành, nên gọi ao nước ấy là ao hương quang.

Nầy Vô Biên Huệ! Luân Vương ấy có bốn phu nhơn: bà thứ nhứt tên Vô Biên Âm, bà thứ hai tên là Hiền Thiện Âm, bà thứ ba tên là Chúng Diệu Âm, bà thứ tư tên là Nga Vương Âm.

Mỗi phu nhơn đều riêng có hai con trai: người thứ nhứt tên Bất Không Thắng, người thứ hai tên Hiền Thắng, người thứ ba tên Long Thắng, người thứ tư tên Thắng Âm, người thứ năm tên Diệu Âm, người thứ sáu tên Phạm Âm, người thứ bảy tên Thắng Vân và người thứ tám tên Vân Âm.

Thể nữ có sáu ức người, con trai họ có mười ngàn người.

Thuở ấy, Luân Vương Nhứt Thiết Nghĩa Thành ở trong nội cung đang vui chơi với quyến thuộc, bỗng thấy trên hư không có một đức Như Lai nhan sắc vi diệu xuất hiện bảo Luân Vương rằng:

Đại Vương nên mặc giáp trụ vô thượng, ngồi thừa vô thượng mà hướng đến Vô thượng Bồ Đề, trao thuốc trí huệ cho các chúng sanh. Chớ nên say đắm ngũ dục Nhơn Thiên.

Đại giáp trụ ấy có thể nhiếp thọ vô thượng an lạc. Vô thượng thừa ấy có thể đưa vào vườn hoa vô thượng. Đã vào trong ấy thì chẳng còn lui về.

Tất cả những thứ dục lạc của Trời của Người đều là những pháp vô thường biến đổi hư hoại, thế của nó chẳng còn lâu giây lát thì biến đổi tiêu diệt.

Luân Vương Nhứt Thiết Nghĩa Thành nghe lời trên đây rồi, bạch cùng đức Như Lai hiện trên hư không rằng:

Ai là người chỉ dạy được đại giáp trụ ấy, như giáp trụ ấy mà mặc vào?

Ai là người chỉ dạy được Đại thừa ấy, như Đại thừa ấy mà ngồi ngự đó?

Ai là người chỉ dạy được đại đạo ấy, như đại đạo ấy mà hướng đến vậy?

Đức Như Lai ấy bảo rằng:

Nầy Đại Vương! Có đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai đang ngự nơi đạo tràng. Đại Vương nên đến chỗ ấy. Đức Thế Tôn ấy sẽ vì Đại Vương mà chỉ dạy cho pháp mặc đại giáp trụ, ngồi nơi Đại thừa, đến nơi đại đạo.

Dạy bảo xong, đức Như Lai ấy bỗng nhiên chẳng còn hiện.

Nầy Vô Biên Huệ! Thấy việc ấy rồi, Luân Vương Nhứt Thiết Nghĩa Thành kính sợ sửng sốt phát tâm hi hữu chẳng còn thích các thứ dục lạc của Trời cùa Người. Nhàm bỏ tất cả các hành hữu vi mà cầu đại giáp trụ Đại thừa đại đạo.

Luân Vương cùng tám Vương Tử, bốn Phu Nhơn cùng các Thế Tử, các thể nữ đồng đi đến chỗ đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai.

Khi đã đến trước đức Phật, Luân Vương với quyến thuộc cung kính cúi lạy chưn đức Phật, đem một rtăm hoa đẹp thất bửu rải trên đức Phật, và đem vô lượng chi bà la dưng lên đức Phật và chúng Thanh Văn. Lại suốt mười ngàn năm dâng cúng tất cả đồ cần dùng.

Sau đó Luân Vương rời bỏ ngôi vua, cùng các quyến thuộc xuất gia trong chánh pháp của đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc ấy đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai biết lòng chí thành ưa thích của Tỳ Kheo NhứT Thiết Nghĩa Thành và các quyến thuộc của ông ấy, liền vì họ mà khai thị giáp trụ trang nghiêm và Đại thùa trang nghiêm.

Tỳ kheo ấy được nghe pháp rồi phát tâm kiên cố vì pháp thậm thâm mà trọn đời ngồi ngay ngắn để tư duy siêng năng chẳng thối thất, thường gần gũi đức Như Lai, với tất cả sự dục lạc thế gian được không động niệm.

Nầy Vô Biên Huệ! Thuở ấy đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai hỏi Tỳ Kheo Nhứt Thiết Nghĩa Thàng rằng: Nầy thiện Nam tử! Nay ông mặc đại giáp trụ, ngồi ở Đại thừa hướng đế đạo ư! Do nơi đạo ấy có thể thành tựu nhứt thiết chủng trí, vô đẳng đẳng trí. Ông phải tinh tiến siêng năng đúng theo lý mà tu tập.

Tỳ kheo ấy bạch rằng:

Bạch đức Thế Tôn! Nay tôi chẳng thấy cópháp gì gọi là giáp trụ, cũng chẳng thấy có ai mặc giáp trụ, cũng chẳng thấy từ đâu mặc giáp trụ, cũng chẳng thấy có chỗ mặc giáp trụ.

Bạch đức Thế Tôn! Nay tôi chẳng thấy có pháp gì gọi là thừa, cũng chẳng thấy có ai ngồi Đại thừa, cũng chẳng thấy từ đâu có Đại thừa, cũng chẳng thấy có chỗ ngồi Đại thừa.

Bạch đứx Thế Tôn! Nay tôi chẳng thấy có pháp gì tên là đạo, cũng chẳng thấy có người do đạo nầy mà đã hướng đến hay nay hướng đến, cũng chẳng thấy từ đâu có đạo, cũng chẳng thấy có xứ sở của đạo.

Bạch đức Thế Tôn! Tôi đối với Vô thượng Bồ Đề, hoặc xa hoặc gần, hoặc quá khứ vị lai hiện tại đều không có được không có thấy.

Hiện nay lúc tôi quan sát như vậy, thiệt không có chút pháp nào để thân cận và chứng nhập.

Bạch đức Thế Tôn! Nếu tôi không chứng, có nên hỏi tôi rằng: ông mặc giáp trụ, ngồi Đại thừa và hướng đến đạo ư!

Đức Thế Tôn là đấng biết tất cả, là đấng thấy tất cả. Ngang bằng chỗ tôi theo pháp tu hành, chỉ có đức Thế tôn mới biết rõ được, mà chẳng phải là cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc ở trước đức Như Lai kia bạch như vậy, Tỳ Kheo Nhứt Thiết Nghĩa Thành và quyến thuộc của ông chứng được vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát. Vì được vô sanh pháp nhẫn nên đều được bất thối chuyển.

Đức Chiên Đàn Hươnh Quang Minh Như Lai đều thọ ký cho họ, quá năm trăm a tăng kỳ kiếp tất cả đều chứng Vô thượng Bồ đề.

Họ nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở bay vọt lên hư không cao bảy cây đa la nói kệ ca ngợi đức Phật:

 Tiếng tăm lớn vô lượng

Vững vàng như Tu Di

Đức Phật Nhứt thiết trí

Hay diễn các công đức

Phật nhãn đều thấy rõ

Dường như mặt trời sáng

Tôn nghiêm giửa đại hội

Tôi lạy chưn Thế Tôn

Vô lượng đức tư lương

Phật trí đã viên mãn

Chúng tôi cũng sẽ được

Thế Tôn vô thượng trí

Áng sáng lớn vô thượng

Chiếu khắp cõi Trời Người

Khai thị các pháp tạng

Biển công đức vô biên

Trí huệ thường không mất

Chánh giác rời phiền não

Huệ quang đại tinh tiến

Tôi lễ công đức sâu

Đại long đại trang nghiêm

Tướng tốt để nghiêm thân

An trụ như Tu Di

Nhiếp chúng không ai sánh

Làm Đạo Sư cho đời

Chói che hàng Trời Người

Diễn thuyết vô sở úy

Tôi lễ thắng trượng phu

Thế Tôn đại tịch mặc

Biển vô biên công đức

Khai pháp nhãn cho tôi

Khiến tôi mặc giáp trụ

Nhưng tôi tất cả lúc

Là người ngồi Đại thừa

Thường ở nơi đạo nầy

Hướng đến không còn thừa

Đức Mưu Ni dũng mãnh

Biết rõ tất cả pháp

Trong đời không ai hơn

Chúng tôi đều quy mạng.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc đức Chiên Đàn Hương Quang Minh Như Lai nói pháp ấy thành thục vô lượng vô số chúng sanh.

Từ đó về sau, Tỳ Kheo Nhứt Thiết Nghĩa ThàNh và quyến thuộc cúng dường phụng thờ vô lượng vô số chư Phật, quá năm trăm a tăng kỳ kiếp chứng Vô thượng Bồ đề hiệu là Siêu Vô Biên Cảnh Giới Vương Như Lai. Quốc độ của đức Phật ấy, từ công đức đến rộng lớn đều đồng với thế giới Qaung Minh của đức Chiên Đàn Hưong Quang Minh Như Lai. Chúng Thanh Văn cũng số vô lượng.

Các Phu Nhơn và các Vương Tử quyến thuộc cũng quá năm trăm a tăng kỳ kiếp chứng Vô thượng Bồ đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa ở trong đạo ấy cầm đuốc đại pháp, làm ánh sáng đại pháp, phóng tia sáng đại pháp, dựng tràng đại pháp, đánh trống đại pháp, ngồi thuyền đại pháp đễ nhiếp đại pháp mà hướng đến, đi chỗ đi của đại Bồ Tát, tuôn pháp vũ để nhuần ướt chúng sanh đều làm cho vui mừng, dũng mãnh tinh tiến hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc an trụ đạo ấy, đại Bồ Tát được ánh sáng pháp. Do ánh sáng ấy nên thấy được duyên khởi của tất cả pháp tự tánh vốn không, tự tánh không có tướng, tự tánh không có khởi. Chẳng ở trong sắc mà thấy có sắc, chẳng ở trong thọ tưởng hành thức mà thấy có thọ tuởng hành thức. Chẳng ở trong thức mà thấy có thức khác với duyên khởi của thức. Biết rõ tướng của thức, tự tánh vốn không, tự tánh không có tướng, tự tánh không có khởi chỉ thuộc các duyên, thấy duyên hòa hiệp, các duyên cũng là không, là vô tướng, là vô khởi.

Lúc thấy như vậy, chẳng ở trong nhãn căn mà thấy có nhãn căn, tỷ, thiệt, thân và ý căn cũng vậy.

Chẳng ở trong ý căn thấy có ý căn khác với duyên khởi của ý căn. Biết rõ tướng của ý căn, tự tánh vốn không, tự tánh vô tướng, tự tánh vô khởi.

Nhẫn đến địa giới, hỏa giới, phong giới, không giới, Dục giới, Sắc giới và Vô

Sắc giới không có tác giả, không có thọ giả. Chẳng ở chút pháp nào thấy có chút pháp khác với duyên mà sanh khởi. Đều thuộc các nhơn duyên tự tánh không có tướng, tự tánh không có khởi. Tánh của nhơn duyên cũng là không, là vô tướng, là vô khởi.

Nầy Vô Biên Huệ! Đó là lúc an trụ nơi đạo ấy, chư đại Bồ Tát quan sát duyên khởi.

Quan sát như vậy rồi có thể dùng trí huệ ở trong duyên khởi chứng được chơn thiệt tế.

Do nơi ánh sáng tất cả pháp ấy mà mười Phật trí lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, đại từ đại bi đại hỉ đại xả, nhẫn đến tất cả Phật pháp đều được chóng viên mản”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Bồ Tát người vô úy

Hay an trụ như vậy

Làm ánh sáng đại pháp

Diệu trí để hướng đến

Dựng cao tràng đại pháp

Tràng nầy không có trên

Trong tất cả Phật pháp

Chánh niệm để hướng đến

Trí huệ khéo du hí

Pháp thí cho chúng sanh

Tuôn trận mưa đại pháp

Vô úy để hướng đến

Đem pháp nhuần chúng sanh

Đều làm cho vui mừng

Do đây các Bồ Tát

Diệu thiện để hướng đến

Chư Bồ Tát như vậy

Được ánh sáng đại pháp

Hay ở trong chánh pháp

Dũng mãnh khéo an trụ

Do ánh sáng pháp nầy

Biết rõ tất cả pháp

Do các duyên sanh khởi

Tất cả không cứng chắc

Các pháp tự tánh không

Tự tánh không có tướng

Tự tánh không có sanh

Tự tánh không có thể

Các pháp do các duyên

Hòa hiệp mà chúng khởi

Vì các duyên hòa hiệp

Tự tánh vô sở hữu

 Bồ Tát hay quan sát

Rõ các duyên cũng không

Các duyên tự tánh không

Tự tánh không có tướng

Cũng không co& sanh khởi

Cũng chẳng có sở tác

Người quan sát như vậy

Siêng tu tập nơi pháp

Vì duyên khởi không thể

Các duyên chẳng phải duyên

Đúbg lý quán như vậy

Hay biết tất cả pháp

Quán những sắc thọ tưởng

Hành thức cũng như vậy

Đều do các nhơn duyên

Mà các uẩn sanh khởi

Các uẩn không có thiệt

Vì tánh bổn lai không

Tánh không nên không tướng

Tất cả không có khởi

Các uẩn xa rời tướng

Rời tướng thì vô sanh

Không sanh thì không diệt

Tướng các uẩn như vậy

Không tướng vọng có tướng

Tướng ấy từ đâu có

Vì các pháp không thể

Uẩn ấy cũng không tánh

Giới và xứ cũng vậy

Tất cả do duyên khởi

Tự tánh bổn lai không

 Không tướng không có thể

Trong tất cả các pháp

Pháp thể bất khả đắc

Biết rõ tất cả pháp

Người tư duy danh nghĩa

Cõi Dục Sắc Vô Sắc

Tất cả do duyên khởi

Tự tánh bổn lai không

Không tướng cũng không thể

Xem trí năng quán ấy

Đâu biết được cảnh ấy

Trí ấy và cảnh ấy

Thường xa rời tự tánh

Sở khởi và các duyên

Hai thứ đều vô tác

Có thể biết như vậy

Đây là tướng chơn thiệt

Không tướng đem tướng nói

Bồ Tát do đây chứng

Mà cũng chẳng phân biệt

Là tướng hay vô tướng

Người thiện trí như vậy

Thấy được tướng chơn thiệt

Ở trong các pháp giới

Chẳng thấy chút pháp tướng

Các pháp và pháp giới

Cả hai đều vô tướng

Các pháp rời xa tướng

Gọi đó là pháp giới

Nói tên là pháp giới

Không giới không phi giới

Dầu gọi là pháp giới

Nhưng thiệt bất khả đắc

Lúc tư duy nghĩa ấy

Chẳng nhớ bất khả đắc

Vì rời các phân biệt

Được ánh sáng đại pháp

Vì các pháp không tánh

Ánh sáng cũng không tánh

Vì quán sát như vậy

Lại được ánh sáng pháp

Chẳng thấy trí năng quán

Thấy ấy cũng chẳNg thấy

Vì thấy pháp hư vọng

Gọi đó là chánh quán

Ánh sáng bất tư nghị

Vô biên và vô lượng

Thấy các pháp đều không

Gọi là chẳng phân biệt

Nếu thấy pháp có tướng

Người thường không chứng nhập

Nghe tịnh pháp âm nầy

Phải sanh lòng vui mừng

Nếu thấy pháp không sanh

Người được không phân biệt

Nghe tịnh pháp âm nầy

Vắng lặng được an lạc

Nếu người thuở mạt thế

Được nghe pháp vô thượng

Nên biết chúng sanh ấy

Chứa công đức đã lâu

Người thuở mạt thế sau

Được nghe pháp vô thượng

Phải ở trong pháp ấy

Mau chóng để hướng đến.

Lại nầy Vo§ Biên Huệ! Lúc chư đại Bồ Tát quan sát tất cả pháp như vậy, thì ở nơi các pháp được ánh sáng pháp. Chẳng ở trong không mà thấy không, cũng chẳng rời ngoài không mà thấy không, chẳng thấy có chút pháp tương ưng với không. Nếu đã chẳng tương ưng, thì chẳng đem không để không, chẳng thấy không cũng chẳng thấy chẳng không, cũng chẳng dùng thấy để quan sát tất cả pháp.

Lúc thấy như vậy, thì chẳng ở vô tướng mà thấy vô tướng, chẳng ngoài vô tướng mà thấy vô tướng, cũng không có chút pháp cùng vô tướng tương ưng hoặc chẳng tương ưng. Chẳng ở vô tướng dùng vô tướng để thấy. Chẳng ở hữu tướng dùng hữu tướng để thấy. Chẳng phải hữu tướng để thấy, chẳng phải vô tướng để thấy.

Vô sanh và vô tác cũng như vậy.

Chẳng ở trong tận mà thấy tận, cũng chẳng khác tận mà thấy tận. Chẳng thấy có chút pháp cùng với tận tương ưng hoặc chẳng tương ưng. Cũng chẳng ở nơi tận mà dùng tận để thấy. Cũng chẳng ở nơi tận mà dùng vô tận để thấy. Chẳng tận để thấy, chẳng phải vô tận để thấy.

Lúc quan sát như vậy, chư đại Bồ Tát không có chút pháp hoặc thấy được hoặc chẳng thấy được, hoặc hiển rõ được hoặc chẳng hiển rõ được, hoặc hướng đến được hoặc chẳng hướng đến được, hoặc biết rõ được hoặc chẳng biết rõ được.

Nầy Vô Biên Huệ! Đó là đại Bồ Tát an trụ nơi ánh sáng đại pháp của đạo ấy.

Vì ánh sáng đại pháp nên thấy tất cả pháp đều không có ngằn mé, đối với mé với giữa cung không có chấp kiến.

Vì không chấp kiến nên ở trong Phật pháp mà hướng đến vậy”.

Đức Thế tôn nói kệ rằng:

“Chẳng nơi không thấy không

Chẳng khác không thấy không

Người thấy được như vậy

Gọi đó là thấy không

Chẳng an trụ chút pháp

Cũng chẳng thấy chút pháp

Tương ưng với không ấy

Hoặc là chẳng tương ưng

Không do tự tánh không

Nơi không vô sở thủ

Do vì vô sở thủ

Biết được tất cả pháp

Nơi thấy vô sở thủ

Nơi quán vô sở thủ

Biết được thấy và quán

Cả hai đều chẳng thọ

Nơi thấy đều thanh tịnh

Nơi quán bất khả đắc

Quán các pháp như vậy

Rốt ráo vô sở chấp

Chẳng dùng vô tướng thấy

Chẳng dùng vô tường quán

Cũng chẳng ở vô tướng

Mà quán là vô tướng

Vô tướng vô sở hiển

Vô nguyện bất khả đắc

Không có chút pháp thể

Để mà tu tập được

Chẳng niệm nơi vô tướng

Cũng chẳng niệm vô nguyện

Vô phân biệt như vậy

Hiển rõ tướng vô tướng

Chẳng hướng đến vô tướng

Cũng chẳng vào vô tướng

Không đến không chỗ vào

Hiển rõ bình đẳng trụ

Người trí chẳng thấy tướng

Cũng chẳng thấy vô tướng

Chẳng thấy chẳng tư duy

Tất cả không hiển rõ

Nếu người thường tư duy

Không tư không hiển rõ

Nơi tư và hiển rõ

Mà an trụ bình đẳng

Như ở nơi vô tướng

Vô tác cũng như vậy

Dầu hiển không chỗ hiển

Vì tư duy biết rõ

Vô sanh cũng như vậy

Không có chút pháp sanh

Tự tánh vô sở hữu

Hiển rõ mà không thể

Hoặc sanh hoặc vô sanh

Hoặc tác hoặc vô tác

Cũng không chút chấp kiến

Người trí chẳng phân biệt

Niệm huệ không động lay

Hiển rõ không nghĩ chọn

Là có hay không thể

Bình đẳng rời các tánh

Chẳng nơi tận thấy tận

Cũng chẳng thấy vô tận

Hiển rõ không chỗ thấy

Tận trí không gì trên

Hoặc tận hoặc vô tận

Cả hai chẳng phân biệt

Do vì vô phân biệt

Trụ vô niệm bình đẳng

Nơi tận thấy vô tận

Cũng không thấy vô tận

Như vậy lúc thấy tận

Chẳng chấp tận vô tận

Nếu nơi tận vô tận

Tất cả không chỗ chấp

Do vì không chổ chấp

Nên tận trí thường tỏ

Cảnh giới của tận trí

Sở đắc của vô úy

Vì hiển rõ pháp ấy

Bồ Tát khéo an trụ”.

Lúc ấy đại chúng lại có đại Bồ Tát tên là Thắng Huệ từ chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất chắp tay hướng lên bạch đức Phật rằng:”Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát vì muốn nhiếp lấy nhứt thiết trí mà khởi công tu hành. Vì khởi công tu hành nên được ánh sáng đại pháp. Ở nơi ánh sáng đại pháp không có chút pháp ấy được.

Vì ánh sáng pháp ấy nên biết rõ tất cả pháp, nào là hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, hoặc thuận hoặc nghịch, hoặc hí luận hoặc không hí luận.

Bạch đức Thế Tôn! Ánh sáng pháp ấy, đâu phải chư đại Bồ Tát chẳng tu hành mà sẽ được”.

Đức Phật phán:” Nầy Thắng Huệ! Chư đại Bồ Tát không có chút tu hành, không có thắng tu hành, chẳng tùy tu hành, chẳng biến tu hành mà có thể được vô biên ánh sáng đại pháp.

Chư đại Bồ Tát còn bất khả đắc, còn bất khả kiến thay, huống là Bồ Tát hạnh sẽ có được sẽ thấy được ư! Thế sao lại thấy bao nhiêu kiếp tu hành có thể được ánh sáng đại pháp.

Tất cả hành huệ của đại Bồ Tát, sở hành thanh tịnh được ánh sáng pháp. Công hạnh của ánh sáng pháp chẳng phải công hạnh số lượng, chẳng phải công hạnh tùy tướng thì từ đâu thi thiết tất cả các công hạnh. Nhưng chỗ tu hành dầu chẳng phải thi thiết công hạnh mà cũng chẳng rời lìa.

Nầy Thắng Huệ! Lúc an trụ nơi hạnh ấy, chư đại Bồ Tát xả bỏ tất cả hạnh không chỗ chấp lấy. Người đủ công hạnh ấy, chẳng phải công hạnh số lượng, chẳng phải công hạnh tùy tướng, không có tướng không có hành mới có thể được ánh sáng đại pháp ấy”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Bồ Tát không chổ hành

Mà cũng không có hạnh

Được không có sở hành

Thì vô úy hướng đến

Chưa từng có thắng hạnh

Cũng không có biến hạnh

Không hạnh không thắng hạnh

Thì bìNg đẳng hướng đến

Hạnh ấy không thị hiện

Cũng không có các tướng

Không có tướng không hành

Đây là tướng của hành

Bồ Tát vô tướng hành

Chẳng trụ ở các sự

Không hành không chỗ trụ

Người trí mới thành tựu

Không hành thì không động

Hạnh ấy là vô thượng

Làm được hạnh bất động

Dũng tiến mà hướng đến

Bồ Tát bất khả đắc

Hạnh cũng bất khả kiến

Cũng chẳng thấy sắc thân

Đây là người thiện thuận

Không sắc không hình tướng

Nên không tất cả hạnh

Nơi thấy không sở thủ

Đây là vô tỉ hạnh

Bồ Tát vô thượng hạnh

Chẳng tùy theo thi thiết

Cũng không có dời đổi

Trong ấy không sở chấp

Vì hạnh không thi thiết

Mới là hạnh vô thượng

Nếu được hạnh như vậy

Thì được ánh sáng pháp

Bồ Tát chỗ tu hành

Không lời không kiếp lượng

Hay dùng vô lượng kiếp

Nói rõ các công hạnh

Bồ Tát hạnh thanh tịnh

Thanh tịnh diệu an trụ

Xả bỏ tất cả hạnh

Không có người nhiếp thủ

Bồ Tát trụ nơi xả

Thủ hộ nơi các hạnh

Đã bỏ tất cả hạnh

Diệu an trụ nơi xả

Bồ Tát vô biên hạnh

Rời biên và vô biên

Hạnh kia không bị động

Gọi là vô thượng hạnh

Bồ Tát vô tướng hạnh

Hạnh ấy là vô thượng

Lúc tu hành hạnh ấy

Siêu việt các ma giới

Bồ Tát vô tướng hạnh

Sáng tỏ nơi vô tướng

Hoặc tướng và vô tướng

Đều không có sở y

Bồ Tát trụ trí ấy

Hạnh ấy khéo thành tựu

Không có chút sở hành

Gọi là người chẳng làm

Bồ Tát thường thanh tịnh

Nơi hạnh không e sợ

Chánh niệm mà hướng đến

Đây là khéo an trụ”.

Ngài Thắng Huệ đại Bồ Tát lại bạch rằng:” “Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát bao nhiêu sự tu hành rất là thậm thâm. Chẳng phải là chỗ tu hành của những kẻ ngu phu hữu tướng hữu vi mà có thể tu hành chút ít được.

Bạch đức Thế Tôn! Không có chút pháp nào trong hạnh ấy, nên hạnh ấy là hạnh bình đẳng của đại Bồ Tát.

Công hạnh của đại Bồ Tát, chẳng phải số lượng biên tế mà lường được”.

Ngài Thắng Huệ đại Bồ Tát nói kệ khen đức Phật rằng:

“Đấng Đại Hùng Chánh Giác

Vô thượng Lưỡng Túc Tôn

Diễn thuyết hạnh thậm thâm

Lợi ích chư Bồ Tát

Thế Tôn diệu biện tài

Lượng ấy thiệt khó luờng

Đấng biện tài vô biên

Đại trượng phu tối thắng

Pháp Vương dứt nghị luận

Đây do Chánh Biến Tri

Vì chư đại Bồ Tát

Nói hạnh vô thượng ấy

Thế Tôn hay diễn thuyết

Về phương tiện diệt hành

Nơi hành đều vượt qua

Người trí sẽ hướng đến

Thế Tôn bất tư nghị

Cảnh giới trí vô biên

Chánh giác Lưỗng Túc Tôn

Khéo khai diệu hạnh ấy

Thế Tôn chỗ khai thị

Hạnh bất động tịch mặc

Hạnh ấy không động được

Nên gọi hạnh vô tỉ

Đại Hùng Đại Mâu Ni

Chỗ tu hành thuở xưa

Nói do nhiều kiếp hành

Không ai có thể đến

Bồ Tát nghe pháp ấy

Dầu ở tại thế gian

Mà ở nơi chủng trí

Chẳng bao lâu sẽ chứng

Chúng tôi thương chúng sanh

Sẽ ở trong mạt thế

Nơi pháp vô thượng ấy

Hay làm người hộ trì

Chúng tôi nghe pháp ấy

Sẽ ở trong mạt thế

Vì tất cả chúng sanh

Mà hay làm hay nói

Chúng tôi dùng ánh sáng

Sẽ ở trong mạt thế

Vì các người cầu pháp

Mà làm lợi ích lớn

Chúng tôi phát thệ nguyện

Sẽ ở trong mạt thế

Vì tất cả chúng sanh

Hộ trì mà kiến lập

Chúng tôi thường nghĩ nhớ

Sẽ ở trong mạt thế

Cúng dường biển chư Phật

Nguyện trì pháp vô thượng

Chúng tôi nơi pháp tạng

Sẽ làm thắng trượng phu

Nguyện trì pháp môn ấy

Thủ hộ khiến còn lâu

Chúng tôi nơi pháp thủy

Thệ nguyện đều uống hết

Mà với pháp môn ấy

Sẽ làm người thủ hộ

Chúng tôi nghe pháp rồi

Sẽ ở trong mạt thế

Nguyện làm đại trượng phu

Thọ trì Phật chánh pháp

Chúng tôi thà mất mạng

Chẳng bỏ pháp vô thượng

Nguyện ở trong pháp ấy

Mà làm người trì pháp

Chúng tôi trì pháp ấy

Chưa từng mừng là đủ

Khát ngưỡng nghe pháp ấy

Những thế kinh quyết định

Chúng tôi ở mạt thế

Vì những người cầu pháp

Sẽ diễn chánh pháp ấy

Khiến họ đều hoan hỉ

Pháp Vương chẳng nghĩ bàn

Hay làm nương dựa lớn

Xin thương gia hộ tôi

Nhớ tôi người trì pháp”.

Đức Thế Tôn phán: “Này Thắng Huệ Lành thay, lành thayÔng có thể ở trong đời mạt thế sau, vì muốn hộ trì các háp ấy mà mặc đại giáp trụ. Cũng không khác thuở xưa chư đại Bồ Tã ở chỗ đấng Tối Thắng cúng dường phụng thờ trồng các cội lành, lâu dài tu phạm hạnh mặc đại giáp trụ hộ trì chánh pháp của chư Phật Thế Tôn”.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Đời bố úy thuở sau

Ông sẽ trì pháp ấy

Vì lợi ích chúng sanh

Đem pháp ấy khai thị

Đời mạt thế thuở sau

Ông trì pháp tối thắng

Nếu ai nghe pháp này

Sd’ sanh lònh ưa thích

Trong đời mạt thế sau

Ông làm người trì pháp

Ta nói pháp thậm thâm

Ông sẽ đều thọ trì

khế kinh bí mật ấy

Ông nghe phải ghi nhớ

Ở trong lý thú ấy

Chớ có lại nghi hoặc

Nghĩa quyết địng thậm thâm

Ông nghe phải ghi nhớ

Lợi ích các chúngsanh

Làm người trì pháp tạng

Đem pháp thí tất cả

Khắp nhuần các chúng sanh

Nghe xong khiến mừng vui

Khắp thân tâm hoan hỉ

Vì các đạo Bồ Tát

những lý thú sở hành

Và Tu Đa la ấy

Mà thọ trì trọn vẹn

Ông sẽ rộng độ được

Vô lượngc các chúng sanh

Trong tất cả thế gian

chẳng có thể độ được

Ông vì trì pháp ấy

Lợi ích các thế gian

Được những phước thù thắng

Do đây mà hướng đến

Nay ta nói pháp ấy

Ông đẻu phải thọ trì

Trong đời mạt thế sau

Vì người trí diễn nói

Đời nay và đời sau

Người trì được pháp ấy

Thì có thể thọ trì

Chánh pháp của ngàn Phật

Vì tất cả chúng sanh

Hộ trì pháp môn ấy

Ở đời mạt thế sau

Mà làm lợi ích lớn

Nếu người ở đời sau

Mà làm lợi ích lớn

Nếu người ở đời sau

Hộ trì được pháp ấy

Họ chẳng ở một Phật

Gần gủi mà cúng dường

Nếu người ở đòi sau

Hộ trì được pháp ấy

Họ đã phụng thờ nhiều

Đấng khéo nói pháp ấy

Được ở trong pháp ấy

Không có chút nghi hoặc

Mạt thế hộ trì pháp

Đây là người trí huệ

Mặc giáp lớn vô biên

Đấu chiến là thù thắng

Mà ở trong mạt thế

Mới trì được pháp ấy

Họ ở nơi chánh pháp

Lưới nghi đều đã trừ

Nghe pháp không chỗ sợ

Mới trì được pháp ấy ”.

Đức Phật phán tiếp:

“ Này Thắng Huệ Nếu có thiện nam thiện nữ, người siêng cầu công đức lớn tối thắng, ở trong thời kỳ mạt thế vì pháp thậm thâm, phải mặc giáp trụ thọ trì đọc tụng giải thuyết nghĩa ấy.

Lại này Thắng Huệ! Ta nhớ thuở xưa quá vô lượng kiếp ấy, có đức Phật xuất thế hiệu là biến chiếu Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp ấy tên Siêu Thắng. Quốc độ ấy tên là Ly Cấu, mặt đất bằng phẳng rộng lớn trang nghiêm.

Trong các khu vườn ấy trần thiết nhiều đài ghế trang nghiêm, ao hồ đầy nước, bờ bực bằng các chất báu vòng quanh bỉnh chỉnh ra vào an ổn. Bên các bờ ao hồ, những cây thơm đẹp như trầm thủy, chiên đàn và đa mala rậm rợp ngay hàng.

Trongmỗi mỗi thành ấy, đều có mười ngàn câu chi nhơn dân. Vì tất cả nhơn dân ấy đều đã thành tựu mười nghiệp lành nên tất cả đều đã thành tựu mười nghiệp lành nên tất cả đều hưởng thọ sự an lạc ấy.

Thuở ấy đức Biến Chiếu NhưLai ban đầu từ sơ kiếp siêu việt hai trăm kiếp mà xuất hiện trong ấy, vì thê nên kiếp ấy có tên là Siêu Thắng.

Trong kiếp ấy có năm trăm đức Như Lai thứ đệ xuất hiện, mỗi mỗi quốc độ, chánh pháp trụ thế đều mười ngàn năm.

Năm trăm đức Như Lai như vậy xuất hiện giáo hóa thế gian, có rất đông pháp hội Thanh văn và Bồ Tát.

Mỗi mỗi pháphội đều có số câu chi na do tha vô lượng Bồ Tát hướng đến nhứt thừa đạo, được vô sanh pháp nhẫn.

Trong kiếp ấy có Chuyển Luân Vương tên là Dũng Mãnh Quân, trọn vẹn bảy báu trị bốn châu thiên hạ?

Ở Châu Diêm Phù Đề có một tòa thành ớn rộng sáu mươi do tuần, có tám mươi câu chi nhơn dân sống an ổn sung sướng giàu có đông đủc.

Đại thành ấy có bảy lớp tường hào, bảy lớp hanég câyn bảy lớp lâu đài, bảy lớp linhvõng, một ngàn khu vườn trangnghiêm bao quanh đại thành.

Mỗi mỗi khu vườn ngang rộng hai mươi do tuần, đểu có bảy lớp tường rào, bảy lớp mành lưới, nhiều thứ trang nghiêm, tất cả đều xinh đẹp, những trân ngoạn châu báu như thiên cung.

Mỗi khu vườn lại có một trăm ao hồ, bờ ao bằng báu tỳ lưu ly, thềm bực bằng ngọc mã não, tong ao nhiều hoa đẹp, trên ao cây báu bày hàng.

Trong đại thành, chánh điện của Luân Vương lớn bảy do tuần, xây bằng hoàng kim và ngọc màu xanh, bao bọc băng trụ báu, trang sức bằng ngọc lưu ly, che trùm dùng lưới ma ni châu. Những cây đa la rậm rạp ngay thẳng. Trong ấy có hai mươi ao nước, đáy lót chơn kim, trên che lưới vàng, báu tạp lưu ly làm cầu, thềm đường thuần bằng hoàng kim, trong ao bốn màu hoa sen đua nở.

Chuyển Luân Vương Dũng Mãnh Quân có hai ngàn thể nữ, sáu vạn con trai.

Trong lúc cùng quyến thuộc hưởng vui ngũ dục nơi khu vườn ấy, Luân vương tự nghĩ rằng: những dục lạc đều vô thường sẽ mau biến hoại. Tôi phải quyết chí cầu Phật pháp. Nếu được nghe pháp rồi, tôi sẽ y theo tu hành để được lợi ích an vui mãi mãi.

Luân Vương vừa suy nghĩ xong, trên hư không bỗng có Thiên Tử hiện ra bảo rằng:

Lành thay, này Chuyển Luân Vương! Hiện nay có Biến Chiếu Như Lai xuất thế diễn thuyết chánh pháp, sơ trung hậu đều lành. Đại Vương nên đến chỗ đức Như Lai ấy sẽ được nghe chánh pháp và sẽ mãi mãi được an lạc lợi ích, thành tựu trọn vẹn Phật Pháp.

Nghe lời chỉ bảo của Thiên Tử, Luân Vương vui mừng hớn hở; liền đem quyến thuộc cùng đến chỗ đức Biến Chiếu Như Lai đảnh lễ chưn Phật mà bạch Phật rằng:

Bạch Đức Thế Tôn! Dùng những pháp gì có thể nhiếp được chư pháp thiện xảo phương tiện, có thể làm cho phạm hạnh được viên mãn, tôi sẽ tu hành.

Đức Biến Chiếu Như Lai vì Luân Vương mà khai thị rộng rãi các pháp.

Nghe pháp xong, Luân Vương và quyến thuộc cung kính cúng dường đức Phật và đại chúng suốt hai muôn năm. Sau đó Luân Vương xuất gia trong chánh pháp của đức Biến Chiếu Như Lai.

Do vì nghe pháp, Tỳ Kheo Dõng Mãnh Quân được thiện căn thọ pháp, thiện căn trì pháp, thiện căn thuyết pháp. Có được nghe pháp gì đều ghi nhớ suy gẫm chẳng quên. Siêng năng tu tập vô lượng công đức phát nguyẹn rằng:

Nguyện thọ trì ba thời kỳ chánh pháp của đức Như Lai, vì các hàng chúng sanh mà tuyên thuyết.

Đối với chư Như Lai trong kiếp Siêu Thắng, Tỳ Kheo Dũng Mãnh Quân đều thân cận cúng dường thờ phụng, đều có thể thọ trì hiện tiền chánh pháp, trung thời chánh pháp và hậu thời chánh pháp của Như Lai ấy, giáo hóa thành thục bốn muôn tám ngàn câu chi na do tha chúnhg sanh hướng đến Vô Thượng Bồ Đề, phương tiện điều phục vô lượng chúng sanh an trụ Thanh Văn thừa và Bích Chi Phật Thừa.

Trong kiếp ấy, đức Như Lai tối Thắng hiệu là Điện Quang.

Lúc nghe đức Điện Quang Như Lai thuyết pháp, Tỳ kheo Dũng Mãnh Quân được vô sanh nhẫn.

Điện Quang Như Lai thọ ký rằng:

Ở đời vị lai, Ông Dũng Mãnh Quân cúng dường vô lượng ngàn Phật Thế Tôn, thọ trì ba thời chánh pháp của chư Như Lai, làm lợi ích vô lượng vô số chúng sanh, an lập trăm ngàn câu chi na do tha chúng sanh nơi vô thượng bồ đề, vô lượng chúng sanh nơi Thanh Văn thừa.

Như vậy quá a tăng kỳ kiếp chứng Vô thượng Bồ đề hiệu là Vô Biên Tinh Tiến Quang Minh Công Đức Siêu Thắng Vương Như Lai. Cõi nước của Đức Phật ấy chứa họp vô lượng công đức thanh tịnh, an ổn giàu vui, nhơn dân đông nhiều, có đông chúng Thanh Văn và Bồ Tát. Đức Phật ấy thọ đến năm tiểu kiếp, giáo pháp lưu truyền khắp nơi được Trời Người thọ trì. Xá lợi, tháp miếu khắp các quốc độ.

Này Thắng Huệ! Thế nên chư đại Bồ Tát ở nơi pháp thanh tịnh thậm thâm ấy phải tôn trọng thọ trì tu tập, dùng pháp trang cụ để trang nghiêm thân mình. Vì dùng pháp để trang nghiêm nên chứng được thân na la diên kiên cố do kim cương tạo thành của đức Như Lai.

Giả sử khắp cõi Đại Thiên, tất cả chúng sanh tận lực muốn phá hoại thân kiên cố ấy cũng không thể xô ngã được.

Ở trong chúng Trời, Người, A Tu La diễn tả ánh sáng pháp, không có địch luận được.

Nếu có chúng sanh nào ở trong thâm pháp ấy thọ trì đọc tụng siêng năng tu tập, tùy theo ý thích của họ mà thọ sanh nơi nhà vọng tộc lớn thanh tịnh, nhẫn đến ngồi dưới cội Bồ Đề, đầy đủ tiếng danh, quốc độ đẹp lạ chẳng xen dị đạo. Còn không có tên phạm chí giá la ca, huống là có bọn ác kiến cầu tà. Các điều bất thiện cũng chưa từng nghe, đâu có người tập làm căn chẳng lành.

Có thể dùng ngón chưn phóng ánh sáng lớn chiếu khắp vô biên tất cả thế giới. Các chúng sanh gặp ánh sáng ấy đều được an lạc sẽ chứng Vô Thượng Bồ Đề.

Này Thắng Huệ! Thế nên chư Đại Bồ Tát nếu ở trong pháp của ta mà siêng tu hành thì sẽ được công đức thù thắng như vậy?. Nếu ta nói cho đủ, dầu cùng kiếp cũng chẳng nói hết được”.

Đức Thế Tôn lại phán với Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát rằng: “Này Vô Biên Huệ! Nếu có người an trụ nơi Bồ Tát đạo ấy, siêng tu thâm pháp thanh tịnh như vậy, tương ưng với không, tương ưng với tịch tịnh, thì được ánh sánh pháp.

Dùng ánh sáng pháp thấy tất cả pháp tự tánh không có khác.

Vì tánh không khác nên chỗ thấy thanh tịnh. Vì chỗ thấy thanh tịnh nên không có pháp kiến, cũng không có pháp rời lìa tự tánh để thấy. Pháp kiến thanh tịnh, cũng không có thanh tịnh, không có người thanh tịnh, không có thời gian thanh tịnh. Có thể được cảnh giới thanh tịnh trí. Thấy các pháp giới: Chẳng phải giới, chẳng phải phi giới? Giới kiến thanh tịnh xa rời các thứ tánh tưởng của các giới.

Vì rời tánh tưởng nên ở nơi giới lý thú bí mật ngôn từ có thể hiễu rõ, lại có thể biết khắp các pháp phi giới. Vì thấy pháp giới không sai biệt, bất khả hoại, bất biến dị nên được phương tiện thiện xảo nơi lý thú của tất cả pháp giới.

Do thiện phương tiện biết khắp được lý thú của pháp giới. Dùng sức đẳng trì ở nơi lý thú sai biệt của các pháp giới tùy thuận thẳng vào.

Lúc an trụ công hạnh ấy, dùng phương tiện thiện xảo đối với tất cả các pháp không trụ không trước.

Vì vô sở trước nên có thể ở nơi tất cả pháp giới lý thú, tùy chỗ thích ứng mà khai thị.

Vì sức đẳng trì lại có thể xuất sanh những tịnh lự, giải thoát, đẳng trì, đẳng chí, du hí thần thông biến một làm nhiều, biến nhiều làm một, với núi đá tường vách bay qua tự tại không vướng ngại.

Phương tiện thiện xảo biết được bốn giới hòa hiệp, chẳng ở nơi giới mà biết tất cả giới hiệp cùng không giới. Nơi không giới chẳng trước chẳng hệ.

Do trí thiện xảo giới hòa hiệp ấy mà ở nơi tất cả giới phương tiện tu tập.

Do tu tập mà quyết liễu thủy giới. Có thể ở nơi thủy giới hoặc làm cho lên khói hoặc phát lửa. Hoặc ở trong ấy làm cho khói lửa cháy phừng. Nhẫn đến nhiều thứ biến hiện để làm lợi ích cho các chúng sanh.

Vì có thể an trụ pháp giới lý thú thiện xảo phương tiện nên không động lay, tùy ý thích nơi Phật độ nào đó, có thể ở nơi các cõi chuyển hình thai tạng, thọ thân hóa sanh, thường thấy mười phương tất cả thế giới chư Phật Như Lai. Chư Như Lai ấy, danh hiệu như vậy, dòng họ như vậy, chúng hội như vậy, thuyết pháp như vậy đều biết rõ ràng”.

Lúc đó trong chúng hội lại có đại Bồ Tát tên Vô Biên Thắng tiến lên bạch Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát an trụ pháp gì mà có thể được công đức tối thắng như đức Thế Tôn vừa nói?”.

Đức Phật phán với Ngài Vô Biên Thắng đại Bồ Tát:” Này Vô Biên Thắng! Chư đại Bồ Tát đối với đối với tất cả pháp không chỗ an trụ thì có thể được công đức tối thắng như ta đã nói.

Này Vô Biên Thắng! Chư đại Bồ Tát nếu an trụ sắc thọ tưởng hành thức, nếu trụ nơi địa giới, thủy giới, phong Giới, không giới, nếu trụ nơi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, ở kinh này, ta chẳng nói được các công đức ấy.

Nhưng chư đại Bồ Tát, ở nơi các pháp không chỗ trụ, chẳng vào chẳng ra, nên ta nói họ sẽ được biển lớn vô biên công đức.

Tại sao vậy?

Chư đại Bồ Tát không chút pháp có thể được có thể trụ. Cũng không có chút pháp vào đdược ra được. Ngài khéo an trụ được nơi lý thú của các pháp mà không chỗ đdộng lay.

Tại sao vậy?

Vì chư đại Bồ Tát không an trụ không động lay vậy.

Vì không động lay nên không có cao không có hạ.

Vì không cao hạ nên rời xa nơi cao, chẳng an trụ nơi hạ.

Vì chẳng an trụ nên gọi là khéo an trụ.

Người khéo an trụ thì không có chỗ an trụ thì không có an trụ. Người không có chỗ an trụ thì chẳng an trụ nơi chỗ.

Chư đại Bồ Tát chẳng ở nơi chút pháp nào hoặc có an lập, hoặc có tích tập, không xứ không trụ, không khởi không tác.

Tại sao vậy?

Vì nơi chỗ bất khả đắc. Vì không có nơi chỗ nên không có phân biệt. Vì không có phân biệt nên bất động xứ mà an trụ, như pháp giới mà an trụ. Không có xứ mà an trụ thì không có an trụ. Với xứ và không có xứ đều không có chấp trước. Gọi đó là thiện trụ.

Này Vô Biên Thắng! Chư đại Bồ Tát ở nơi pháp lý thú mà an trụ. An lập như vây là an trụ nơi vô trụ, không có chỗ an trụ mà an trụ, thấy tất cả pháp không có phân biệt.

An trụ nơi hạnh vô phân biệt như vậy, dùng hạnh như vậy thấy tất cả pháp không có chỗ động thì an trụ nơi chơn như lý, thì tương ưng với chơn như lý động, thì tương ưng với chơn như lý bất thu.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Bồ Tát chánh ức niệm

Nơi nghĩa khéo tư duy

Chẳng trụ trong các pháp

Gọi đó là người trí

Chưa từng có chút pháp

Làm được chỗ an lập

Vô úy mà hướng đến

Chẳng an lập nơi sắc

Cũng chẳng lập nơi thọ

Nơi các tưởng các hành

Bà nơi thức cũng vậy

Chẳng an trụ nơi uẩn

Các giới và các xứ

Hoặc xứ hoặc phi xứ

Cũng thường không chỗ trụ

Chẳng an trụ địa giới

Cũng chẳng an trụ thủy giới

Hỏa giới và phong giới

Cũng thường không chỗ trụ

Chẳng an trụ Dục giới

Sắc giới, Vô sắc giới

Vì được không an lập

Nên chẳng trụ tam giới

Và ở hư không giới

Nơi ấy không chỗ trụ

Vì không có chỗ trụ

Bình đẳng mà hướng đến

Vẫn không có chút pháp

Trong ấy an trụ được

Nếu được không chỗ trụ

Đây là người diệu trí

Diệu trí không chỗ trụ

Không trụ là thiện trụ

Được an trụ như vậy

Thì trụ trong pháp giới

Vì tương ưng vô trụ

Kia thường hay thiện trụ

Không trụ không y chỉ

Nơi pháp được an trụ

Nếu được không y chỉ

Thí thường không sở động

Chẳng nhập cũng chẳng xuất

Bình đẳng khéo an trụ

Nơi pháp trụ như vậy

Đây là người dũng mãnh

Tất cả pháp không cao

Tất cả pháp không tháp

Không sở động như vậy

Khéo an trụ pháp giới

Vì an trụ chẳng động

Thành tựu vô trụ xứ

Mà được thiện an trụ

Hoặc xứ hoặc phi cứ

Tất cả không sở động

Trụ ở bất động xứ

Mới gọi là bất động xứ

Nếu trụ bất đọng xứ

Tất cả không chỗ trụ

chẳng niệm xứ phi xứ

Thường trụ vô phân biệt

Vì chẳng trụ nơi xứ

Thì không có sở động

Nơi xứ không sở động

Tất cả được vô trụ

Nếu được vô trụ xứ

Xứ phi xứ chẳng động

Nếu nơi xứ chẳng động

Là thiện trụ nơi xứ

Thiện trụ xứ an trụ

Thì trụ vô sở trụ

Hay thấy tất cả pháp

Trụ tương ưng trụ pháp

Thấy các pháp như vậy

Các thứ vô sở trụ

Vô trụ không an trụ

Thiện xảo nơi pháp trụ

Thường trụ ở các pháp

Mà không có phân biệt

Vì rời các phân biệt

Đây là người bất động

Nếu hay trụ bất động

Nơi hành vô phân biệt

Rời xa xứ phi xứ

Đây là người quan sát

Nếu hay quán bất động

Tất cả không sở động

Các pháp thường bình đẳng

Như vậy mà hướngđến

Trụ tương ưng chơn như

Chơn như mà bất động

Người đươc vô động xứ.

Thường trụ nơi vô xứ

Ngài Vô Biên Thắng đại Bồ Tát lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Rất là hy hữu, đức Thế Tôn có thể an lập chư đại bồ Tát ở nơi pháp lý thú không có hệ phược, không có giải thoát.

Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát ở nơi pháp lý thú khéo an lập chẳng cùng với chút pháp hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng, hoặc hòa hiệp hoặc chẳng hòa hiệp, hoặc nhiếp thủ hoặc chẳng nhiếp thủ, hoặc có sở quy hoặc không có sở quy, hoặc tham hoặc ly tham, hoặc sân hoặc ly sân.

Bạch đức thế tôn! Chư đại Bồ Tát ở trong tất cả pháp lý thú thiện xảo an lập.

Giả sử có chúng sanh dúng dường cung kính, đại Bồ Tát ấy chẳng có lòng tham ái. Chúng sanh hủy nhuc bức não, đại bồ tát ấy cũng chẵng sân hận.

Chư đại bồ tát ấy không có các thứ tưởng, rời tất cả pháp, chẳng thấy có chút pháp có thể cùng với chút pháp tương ưng hoặc chẳng tương ing, vì siêu quá tương ung và chẳng tương ưng vậy.

Các Ngài rời xa tưởng tương ưng chẳng tương ung, biết rõ tương tương ưng chẳng tương ưng, siêu quá biết rõ, chắng ở nơi chút pháp hoặc tiến hoặc thối hoặc có chỗ hướng đến hoặc không có chỗ hướng đến mà làm tương ưng.

Ở trong tất cả pháp lý thú, các Ngài không có vọng niệm cũng không có sở thủ, dùng thiện phương tiện chẳng hoại pháp tánh.

Bạch đức Thế Tôn! Lúc an trụ nơi tất cả pháp như vậy, chư đại bồ tát có thể dùng thiện xảo tuyên nói tất cả pháp giới lý thú, tất cả Phật Pháp mau được viên mãn”.

Đức Thế Tôn phán với Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát rằng: “Này Vô Biên Huệ! Ở trong Phật Pháp, lúc chư đại Bồ Tát không chỗ an lập không chỗ an trụ thì thấy Phật Pháp, không có an lập không có sở trụ, cũng không thắng trụ, cũng không biến trụ, thấy Phật Pháp trụ. Tại sao vậy? Vì chẳng khuynh động, vì chẳng lưu chuyển vì chẳng biến dị vậy.

Tương ưng với tất cả pháp giới mà an trụ mới gọi là tất cả pháp giới lý thú thiện xảo an lập.

Này Vô Biên Huệ! Ở trong Phật pháp, chư đại Bồ Tát không trụ, không thắng trụ, không biến trụ, không phi xứ trụ, cũng không sở động, không biến phân biệt, mới gọi là tất cả pháp giới lý thú thiện xảo an lập.

Này Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát chẳng thấy chút pháp có thể cùng chút pháp mà làm an lập, cũng chẳng thấy có tất cả pháp xứ làm thắng an lập, cũng không phân biệt, không thắng phân biệt, không biến phân biệt, mới gọi là tất cả pháp giới lý thú thiện xảo an lập.

Này Vô biên Huệ! Chư đại Bồ Tát chẳng thấy chút pháp hoặc trụ hoặc khứ, cũng không phân biệt, không thắng phân biệt, không biến phân biệt. Các Ngài thấy tất cả pháp như tịnh hư không ánh sáng chiếu suốt rời xa phiền não, vì ánh sáng chiếu tất cả pháp, nên mới gọi là được thiện xảo phương tiện nơi tất cả pháp giới lý thú, chẳng dùng an lập để quán pháp giới. Tại sao vậy? Vì chẳng ở nơi pháp giới có chút an lập vậy.

Ví như hư không và phong giới không có xứ sở cũng không thấy được, không chỗ an lập không chỗ y chỉ, không hiện bày được.

Pháp giới cũng như vậy, không chỗ vào được, không chỗ thấy được, không chỗ an lập, không chỗ y chỉ, không hiện bày được.

Pháp giới cũng như vậy, không chỗ vào đươc, không chỗ thấy được, không chỗ an lập, không chỗ y chỉ, cũng không liễu tri cũng không hiện bày.

Chư đại Bồ Tát vì không hiện bày nên tương ưng với như như giới mà an trụ.

Này Vô Biên Huệ! Tất cả pháp giới không sanh không mạng, không lão không tử, không thăng không trầm, không hiện bày giới đó là pháp giới, không biến dị giới đó là pháp giới, mà pháp giới ấy khắp tất cả chỗ.

Này Vô Biên Huệ! Pháp giới không khứ, cũng không chỗ khứ? Vì không chỗ khứ nên mới gọi là tương ưng với pháp giới mà an trụ.

Trong như như pháp giới không có xứ cũng không có phi xứ. Tại sao vây? Vì như như pháp giới như như tự tánh vô sở hữu vậy.

Này Vô Biên Huệ! chư đại Bồ Tát nghe ta nói đây thì ở nơi tất cả pháp giới lý thú được vô biên ánh sáng đại pháp. Do ánh sáng pháp được vô sanh nhẫn, chóng viên mãn Phật thập lực mười tám pháp bất cộng.

Vì muốn thành thục tất cả chúng sanh thiện căn rộng lớn tư lương thù thắng vì muốn chủng tánh Như Lai không đoạn tuyệt nên mau đến đạo tràng chuyển pháp luân, che khuất cung ma, xô dẹp dị luận, làm đại sư tử hống mà vì chúng sanh diễn thuyết diệu pháp tùy theo sở thích của họ, tùy theo chí nguyện của họ, tùy theo chỗ hướng đến chánh giải thoát của họ, đếu làm cho tất cả đều đến Vô Thượng Bồ để.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Tất cả chư Bồ Tát

Chẳng trụ ở các pháp

Ở nơi trong Phật Pháp

Không có chỗ an lập

Tất cả chư Bồ Tát

vì không chỗ an lập

Nên ở trong phật pháp

Vô úy mà hướng đến

Tất cả chư Bồ tát

Thấy tất cả Phật Pháp

không có trụ không xứ

Là diệu thiện an lập

tất cả chư bồ tát

chẳng an trụ ở xứ

có thể thấy các pháp

không an trụ không thối

tất cả chư bồ tát

thấy pháp không an trụ

nơi phật pháp chẳng động

nơi phật pháp chẳng cầu

tất cả chư bồ tát

thấy pháp không biến dị

nơi phật pháp chẳng động

cũng chẳng có suy tầm

Tất cả chư Bồ Tát

thấy các pháp như vậy

Ở nơi pháp thiện xảo

Phương tiện mà an trụ

Tất cả chư Bồ Tát

thấy pháp thường bình đẳng

Nơi phật pháp chẳng trụ

cũng chẳng phải chẳng trụ

Thường không có trụ xứ

cũng chẳng phải không xứ

thường chẳng có phân biệt

chẳng phải chẳng phân biệt

Tất cả những phân biệt

Thường là vô sở hữu

Tất cả chư Bồ Tát

tương ưng với vô trụ

nơi những thời những xứ

Mà khôngcó sở động

tất cả chư Bồ Tát

ở trong pháp lý thú

lúc an trụ bình đẳng

thì gọi là thiện trụ

tất cả chư Bồ Tát

ở trong pháp lý thú

chẳng thấy có chút pháp

có thể bình đẳng trụ

tất cả chư bồ tát

có thể thấy các pháp

đều không có xứ sở

cũng chẳng rời xứ

được không có sở động

cũng chẳng có thân cận

tất cả chư bồ tát

ở trong tất cả pháp

lý thú được thiện xảo

phương tiện mà an trụ

thì gọi là bồ tát

tất cả chư bồ tat

chẳng ở nơi chút pháp

hoặc khứ hoặc là lai

phân biệt mà an trụ

bấy giờ mới an trụ

tất cả pháp lý thú

tất cả chư bồ tát

nơi các pháp lý thú

Tất cả thứ an trụ

Có thể khởi vô biên

Những ánhsáng đại pháp

Do ánh sáng đại pháp

An trụ bình đẳng kiến

Thấy tất cả các pháp

và các pháp lý thú

như hư không trong sạch

như bóng cũng như tượng

Bình đẳng không cấu nhiễm

Tất cả chư bồ tát

Ở nơi thấy biết rõ

Cũng không có biết rõ

Xa rời nơi tự tánh

Tất cả chư Bồ Tát

Hay quán sát như vậy

Ở trong tất cả pháp

Lý thú mà an trụ

Có thể ở pháp giới

kiên cố siêng tu tập

Thì gọi là pháp giới

Lý thú thiện phương tiện

Tấ cả chư Bồ Tát

Chẳng an trụ pháp giới

Quan sát các pháp giới

Rốt ráo chẳng phải có

Tất cả chư Bồ Tát

Quyết liễu nơi các pháp

Thấy tất cả các pháp

Như hư không như phong

Dầu không có an lập

Mà khắp tất cả chỗ

Pháp giới cũng như vậy

Khắp ở tất cả chỗ

Pháp giới khó nghĩ bàn

không thể hiện bày được

Ở nơi các người trí

Chẳng có làm thân cận

Giới không có thị hiện

Mới gọi là pháp giới

Không có chỗ trụ xứ

Mới gọi là an trụ

Pháp giới không có sanh

Không mạng không lão

không tử không thăng trầm

Cũng không có xuất ly

Pháp giới chẳng nghĩ bàn

không lai không có khứ

pháp giới chẳng phải uẩn

Chẳng phải giới và xứ

Cũng chẳng rờu giới xứ

Mà không có sở động

Pháp giới thường như như

Tự tánh chẳng phải có

Tất cả chư Bồ Tát

Hay biết rõ như vậy

pháp giới khó nghĩ bàn

Được ánh sánh đại pháp

Do đây mà hướng đến

Qua đến tại đạo tràng

Mà ở nơi các pháp

Không còn có nghi hoặc

Chẳng có bị sở động

Dùng ánh sáng đại pháp

Làm cho các chúng sanh

Đều được đại an lạc”.

Đức Thế Tôn phán tiếp: “Này Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát có thể ở nơi pháp thậm thâm như vậy mà siêng tu tập, thì được ánh sáng đại pháp như vậy. Dùng trí huệ ấy hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Lại này Vô Biên Huệ! Ta nhớ thuở xưa quá hai a tăng kỳ kiếp, lúc ấy có đức Phật xuất thế hiệu là Nguyệt đăng vương như lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Kiếp ấy tên Cam Lộ, Quốc Độ tên Thanh Tịnh.

Cõi nước ấy bằng pha lê thường có ánh sáng chiếu khắp nơi. Nếu có chúng sanh nào gặp ánh sáng ấy thì được sạch sẽ đẹp đẽ đoan nghiêm, vì thế nên cõi nước ấy có tên là Thanh Tịnh, Không có tên thành ấp tụ lạc riêng. Trong nước ấy đường sá rất đẹp, dây vàng ngăn lối. Khoảng cách giữa các con đường tất cả đều đồng nửa câu lô xá. Trụ báu sáng chói, cây đa la đẹp đều số tám mươi bốn bày hàng trong mỗi khoảng cách ấy. Trong đó lại có bốn ao nước, quanh ao có lâu đài bảy báu là chỗ ở của nhơn dân. Che trên thì có linh võng, treo rũ thì xó dải lụa. đồ trân ngoạn đẹp lạ như Thiên cung.

Chúng sanh ở nước ấy tịch tịnh an lạc, đều đã thành tựu mười nghiệp đạo lành, dung mạo đoan nghiêm, thọ mạng dài lâu, tham sân si mỏng dễ khai ngộ, dùng chút ít phương tiện đã biết rộng các pháp.

Đức Phật Nguyệt Đăng Vương trụ thế mười câu chi tuổi. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, chánh pháp trụ thế một câu chi năm.

Có mười hội thuyết pháp. Mỗi pháp hội đếu có hai mươi câu chi na do tha chúng Thanh Văn ở bực học địa, các chúng Bồ Tát hướng đến Nhứt thừa số đến vô lượng.

Này Vô Biên Huệ! Cây Bồ đề báu của đức Nguyệt Đăng Vương Như Lai cao một trăm do tuần, chu vi năm mươi do tuần, góc bằng ngọc san hô, thân bằng ngọc lưu ly, nhánh bằng hoàng kim, lá bằng ngọc mã não. Đạo tràng dọc ngang đều một trăm do tuần, khắp vòng có bệ nền, bao quanh có lan can. Cây đa la đẹp bày ngay thẳng, linh vàng lưới báu giăng che trang nghiêm.

Tòa đại Bồ Đề cao ba do tuần trải nệm êm nhuyễn, trăm ngàn diệu y xen rũ, hai mươi tràng phan dựng bày một bên.

Đức Phật Nguyệt Đăng Vương ngồi trên tòa đại bồ đề ấy mà chứng Vô Thượng Bồ Đề.

Thuở ấy nước Thanh Tịnh không có ba ác đạo và tên ác đạo, cũng không có các nạn và tên các nạn.

Đức Phật Nguyệt Đăng Vương thường ở trong tất cả các thế giói hóa hiện thân Phật chuyển chánh pháp luân.

Này Vô Biên Huệ! Đức Phật Nguyệt Đăng Vương có hai vị Bồ Tát: Một tên là Vân Âm, một tên là Vô biên Âm.

Hai vị Bồ TÁt ấy bạch đức Phật Nguyệt ĐăngVương rằng:

Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào chư đại Bồ Tat ở trong các tất cảpháp lý thú mà được thiện xảo phương tiện an lập?

Vì muốn chư đại Bồ Tát ở trong tất cả pháp lý thú mà được thiện xảo phương tiện an lập nên đức Phật Nguyệt Đăng Vương vì hai vị Bồ Tát mà nói rộng pháp ấy.

Chư đại Bồ Tát nghe pháp ấy xong, ở trong tất cả pháp lý thú được thiện xảo phương tiện an lập.

Hai vị Bồ Tát Vân Âm và Vô Biên Âm sau đó hai muôn năm không ngủ nghỉ, không tham dục, không sân não, chẳng tưởng đến ăn đến nằm, cũng không tưởng đến bịnh hoạn thuốc thang, chẳng thích vui chơi du ngoạn trong thế gian.

Lúc đức Phật Nguyệt Đăng Vương thuyết pháp, liền trên pháp tòa, hai vị Bồ Tát ấy được Vô sanh nhẫn.

Đức Như lai ấy hỏi hai vị Bồ Tát rằng: “ Này thiện nam tử! Ở trong tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập như vậy, các ông có cầu chăng?

Hai vị Bồ Tát ấy bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con còn chẳng thấy có danh từ tất cả pháp lý thú thiện xảo an lập, huống là tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập.

Bạch đức Thế Tôn! Con cũng chẳng được tất cả pháp, con cũng chẳng được tất cả pháp an lập. Nơi tất cả pháp không có trụ không có chẳng trụ.

Bạch đức Thế Tôn! Con thấy như vậy đâu còn nên hỏi rằng: Ở trong tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập nhu vây, ông có cầu chăng? Hay là chẳng cầu chăng?

Bạch đức Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy ở trong tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập như vậy mà làm người cầu. Con cũng chẳng thấy có hoặc trong hoặc ngoài, hoặc trung gian, hoặc tất cả pháp, hoặc pháp lý thú thiện xảo phương tiện mà an lập, con cũng chẳng thấy có pháp hoặc trong hoặc ngoài, hoặc trung gian, hoặc tất cả pháp, hoặc pháp lý thú thiện xảo phương tiện mà có thể an lập được.

Bạch đức Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy nhẫn đến có chút pháp trong ngoài trung gian lý thú thiện xảo phương tiện an lập mà có thể thân cận được.

Bạch đức Thế Tôn! Đã không có chút pháp hướng đến được thân cận ở trong ấy con sẽ an lập cái gì?

Bạch đức Thế Tôn! Vì không có an lập nên chẳng phải tương ưng với an trụ hay chẳng an trụ, chẳng phải tương ưng với vô tận, vô sanh.

Bạch đức Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy từ ai do ai chỗ nào lúc nào tâp ý thức của con hoặc sanh hoặc diệt. Sao lại còn nói rằng dùng tâm ý thức ở nơi tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập?

Này Vô Biên Huệ! Lúc hai vị Bồ Tát Vân Âm và Vô Biên Âm ở trước đức Nguyệt Đăng Vương Như Lai bạch như vậy, có một ngàn Bồ Tát được vô sanh nhẫn, một ngàn câu chi Bồ Tat phát tâm Bô Đề.

Lúc ấy đức Phật Nguyệt Đang Vương lại bảo hai vị Bồ Tát rằng: “ Này thiện nam tử! Ông dùng vô trụ mà trụ, vô xứ mà trụ, ở nơi tất cả pháp lý thú, thiện xảo phương tiện an lập.

Này thiện nam tử! Tất cả các pháp cũng lại như vậy. Vì tùy thuận thế tục đạo mà đức Như Lai hiện chứng Vô thượng Bồ Đề. Nếu là ở nơi đức Như Lai thì chẳng theo thế tục đế cũng lại như vậy.

Này thiện nam tử! Các pháp không có xứ cũng chẳng phải không có xứ. Nếu là xứ và không có xứ đều là theo thế tục. Nếu theo thế tục thì ở trong ấy không có chút pháp để có thể sanh, để có thể thấy được.

Này thiện nam tử! Vì thế nên phải siêng năng tu tập ở nơi các pháp được chứng giải thoát.

Hai vị Bồ tát ấy ở trước đức Nguyệt Đăng Vương Như Lai nghe pháp ấy rồi, hai Ngài bay lên hư không nói kệ khen ngợi đức Phật:

Pháp vương bất tư nghì

Đượcpháp vị tằng hữu

Đấng Biến Tri Lưỡng Túc

Phật pháp không quá trên

Do vì pháp vô thượng

Như lai đời không bằng

Tất cả pháp vô sanh

Nay con được nhẫn ấy

Con thường chẳng phân biệt

Hoặc sanh hoặc vô sanh

Cũng chẳng niệm như vậy

Tất cả vô phân biệt

Pháp Vương Đại Mâu Ni

Công đức rời ngôn niệm

Xin nói pháp thanh tịnh

Khiến chúng đều hoan hỉ

Nơi thắng đức của Phật

Muốn biết vi tế ấy

Dầu trải vô lượng kiếp

Cũng chẳng thể biết được

Vì công đức vô biên

Tối thắng không quá trên

Tất cả pháp vô sanh

Con cũng chẳng phân biệt

Con ở trong Phật pháp

chưa từng có hủy hoại

chẳng nói các thiện căn

Thế nào có thể được

Các pháp không thị hiện

Không sanh cũng không tướng

Vô tướng nhẫn như vậy

Ở đây cũng đều chứng

Nay nhẫn của con được

rốt ráo không thối chuyển

Nên ở nhứt thiết trí

Do đây sanhhoan hỷ

Nơi pháp của Như Lai

con quyết định không nghi

Cũng nơi tất cả pháp

Rời xa những nghi hoặc

Trong Phật Pháp Vô Thượng

Nay con được nhẫn ấy

Con cũng chẳng phân biệt

Cũng không chẳng phân biệt”.

Hai vị Bồ Tát ấy nói kệ xong, đi nhiễu bên hữu đức Nguyệt Đăng Vương ba vòng, đem hoa trời hương trời rải trên đức Phật.

Đức Nguyệt Đăng Vương Như Lai liền thọ ký rằng: Các ông Vân Âm và Vô Biên Âm quá hai muôn kiếp sẽ chứng Vô Thượng Bồ Đề.

Hai vị Bồ Tát ấy nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở qua sát kỹ đức Phật rồi nhập các thiền định du hí thần thông ẩn hiện tự tại khói lửa phát sáng. Hai Ngài lại vì chúng sanh thuyết pháp khai thị khiến hai muơi bốn câu chi Nhơn Thiên hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Hai vị Bồ Tát ấy trọn đời siêng tu phạm hạnh, ở nơi trung thời và hậu thời chánh pháp của đức Nguyệt đăng Vương đều có thể hộ trì. Trong thời kỳ ấy lại giáo hóa thành thục bốn câu chi chúng sanh hướng đên Vô thượng Bồ đề.

Quốc độ của Bửu Tràng Như Lai thanh tịnh, không có hàng Thanh Văn chỉ có những bực nhứt sanh bổ xứ Bồ tát.

Lúc Bửu Tràng Như Lai sắp nhập diệt mới thọ ký cho Vân Âm Bồ Tát kế sẽ thành Phật hiệu là Nhựt Đăng Vương Như Lai, cõi nước thành tựu trang nghiêm chứa nhóm vô lượng vô biên công đức, Bồ Tát Thanh Văn đại chúng viên mãn. Sau khi đức Nhựt Đăng Vương Như Lai diệt độ, Vô Biên Âm Bồ Tát kế sẽ thành Phật”.

Đức Phật phán tiếp: “Nầy Vô Biên Huệ Do vì pháp môn nầy vô sở đắc, vô ngôn thuyết nên chẳng thể hiển bày được, không sanh không diệt. Chư đại Bồ Tát phải đúng như lý chuyên cần tu tập.

Nếu có Bồ Tát an trụ nơi tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập, dùng vô sở đắc được vô sanh nhẫn viên mãn Phật pháp. Dùng vô lượng công đức để làm trang nghiêm mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Nầy Vô Biên Huệ! Ta chẳng bao giờ nói chư đại Bô Tát rời ngoài pháp ấy mà có riêng chút pháp nào có thể mau thành tựu nhứt thiết chủng trí.

Nếu có ai ở nơi pháp không thậm thâm vô sanh vô diệt ây mà siêng tu tập thì chóng được Bồ Tát pháp giới lý thú thiện xảo phương tiện và đà la ni, đầy đủ vô ngại biện tài vô thượng nhiếp hóa, được chư phật Thế Tôn đều khen ngợi, dùng pháp nghiêm cụ để trang nghiêm, có thể viên mãn bố thí, an trụ thanh tịnh trì giới, được thanh tịnh nhẫn, vô thượng tinh tiến, vô duyên thiền định, dùng đại trí huệ hướng đến Vô thượng Bồ đề, ở trong những thắng pháp là tối thù thắng, chóng được gọi là bực nhứt thiết trí, ngồi nơi đạo tràng, bốn Đại Thiên Vương mang lọng báu đến thỉnh chuyễn pháp luân, làm ánh sáng lớn cho hàng Nhơn Thiên, đều làm cho họ hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Lại nầy Vô Biên Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát có thể ở nơi nhứt thiết pháp hải ấn tam muội mà siêng tu tập, thấy tất cả pháp đồng với pháp giới. Lúc thấy như vậy, chẳng ở nơi pháp giới thấy tất cả pháp, chẳng ở nơi tất cả pháp thấy pháp giới mà tinh tiến tu tập. Do tất cả pháp các giới hòa hiệp, thiện xảo phương tiện ở nơi tất cả pháp các giới hòa hiệp mà không chấp trước, cũng không sở động nơi tất cả pháp các giới hòa hiệp, thiện xảo phương tiện cũng không chấp trước cũng không phân biệt. Có thể ở trong tất cả pháp hòa hiệp mà thấy một pháp hòa hiệp. Chẳng ở trong một pháp hòa hiệp mà thân cận tất cả pháp hòa hiệp. Vì có thể biết rõ một pháp ấy nên cũng có thể biết rõ tất cả các pháp. Vì có thể biết tất cả pháp nên ở nơi một pháp ấy chỗ đáng được biết rõ cũng có thể biết rõ. Chẳng đem các pháp thân cận một pháp. Ở nơi trong các thủ uẩn hòa hiệp đều có thể biết rõ. Chẳng ở nơi các thứ tánh tướng của các thủ uẩn, hoặc có hòa hiệp hoặc không hòa hiệp mà sanh chấp trước.

Lúc thật hành như vậy, nếu có các pháp do các nhơn duyên hòa hiệp mà sanh, nếu có các pháp do các nhơn duyên hòa hiệp mà thành, nơi các pháp ấy đều có thể biết rõ. Nếu có các pháp nhơn duyên hòa hiệp do nhiều thứ tánh tương ưng nhau mà khởi, nơi các pháp ấy cũng có thể biết rõ, cũng không chấp trước mà tùy thuận biêt rõ. Tướng thi thiết của tất cả pháp cũng có thế biết rõ, hoặc là tướng hoặc là vô tướng cũng biết rõ

Các giới sai biệt, các giới nhiều thứ tánh tướng sai biệt cũng có thể biết rõ lấy gì làm nhơn.

Chẳng dùng phiền não để thân cận hướng đến các pháp duyên khởi.

Ở nơi pháp thế gian, pháp xuất thế gian, chẳng có chống trái mà tùy thuận biết rõ.

Tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian, tướng ấn thế gian, đều khắp biết rõ.

Dùng một pháp môn mà có thể biết rõ tất cả pháp môn. Dùng tất cả pháp môn lại có thể biết rõ một pháp môn.

Chẳng dùng các pháp môn để thân cận một pháp môn, cũng chẳng dùng một pháp môn để thân cận các pháp môn. Pháp môn như vậy đều có thể tịnh trị cả.

Nầy Vô Biên Huệ! Ở trong các phap ấy, chư đại Bồ Tát siêng tu tập, dùng một môn lý thú ngôn giáo mà có thể biết rõ tất cả các pháp tánh đồng một vị, ở nơi các pháp được thắng vô tránh như lý tịch tịnh, chẳng còn chống trái, có thể ở giữa đại hội khen nói pháp ấy, siêng năng tu tập được nhứt thiết pháp hải ấn tam muội. Tu tập như vậy, hoặc có tránh luận hoặc không tránh luận đều làm cho tịch tịnh, như lý mà an trụ, tùy thuận dứt trừ kiêu mạn và phóng dật, ở nơi giáo thuyết quyết định có thể khéo thọ trì, những danh ngôn sai biệt cũng có thể biết rõ, với pháp giới lý thú thì phương tiện siêng tu, nơi các pháp môn khéo yên lặng gẫm nhớ sẽ dùng pháp gì tương ưng với pháp gì hoặc là chẳng tương ưng, có thể dùng phương tiện nơi nghĩa quyết định an trụ thanh tịnh niệm.

Nầy Vô Biên Huệ! Ở nơi pháp môn ấy, chư đại Bồ Tắt an trụ như vậy, dùng chút ít gia hạnh được nhứt thiết pháp hải ấn tam muội. Dùng vô lượng pháp hải ấn tam muội ấy để hướg đến Vô thượng Bồ để “.

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Ông xem tất cả pháp

Chảy vào trong pháp giới

Các pháp đồng pháp giới

Lý thú đều bình đẳng

Lại xem nơi pháp giới

Chảy vào trong pháp giới

Pháp giới đồng các pháp

Lý thú cũng bình đẳng

Chẳng ở trong pháp giới

Quan sát tất cả pháp

Cũng chẳng rời pháp giới

Mà thấy tất cả pháp

Chằng ở trong các pháp

Quan sát nơi pháp giới

Cũng chẳng rời các pháp

Mà thấy nơi pháp giới

Biết rõ các thứ giới

Pháp giới các thứ tánh

Tất cả pháp hòa hiệp

Thiện xảo không chổ trụ

Tất cả thời và xứ

Các thứ tánh hòa hiệp

Không trụ không sở y

Cũng không có sở thủ

Hòa hiệp tánh sai biệt

Phân biệt chẳng phân biệt

Nơi hai ấy đều không

Người trí thấy bình đẳng

Vì biết một hòa hiệp

Nên biết các hòa hiệp

Vì biết các hòa hiệp

Nên biết một hòa hiệp

Hòa hiệp chẳng hòa hiệp

Một tánh sai biệt tánh

Chẳng thân cận phân biệt

Cũng không chấp không trước

Biết rõ tất cả pháp

Pháp ấy không hòa hiệp

Cũng chẳng niệm hòa hiệp

Không chấp không sở trước

Biết rõ tất cả chủng

Tướng thi thiết của nó

Cũng chẳng niệm thân cận

Không chấp không sở trước

Nghiệp và nghiệp quả báo

Tất cả đều biết được

Nơi ấy chẳng chống trái

Đây là người tinh tiến

Nghiệp và kẻ tác nghiệp

Tướng hòa hiệp của hai

Biết tướng vô tướng ấy

Đây là người tinh tiến

Nơi các giới hòa hiệp

Các giới tánh sai biệt

Biết nó thường bình đẳng

Đây là người tinh tiến

Tướng nhơn quả hệ thuộc

Tất cả đều biết được

Nơi các duyên pháp ấy

Mặc giáp như lý trụ

Biết được pháp xuất thế

Nơi các pháp thế gian

Không có chút trái nhau

Trụ bình đẳng như vậy

Cũng biết pháp thế gian

Nơi các pháp xuất thế

Cũng không chút trái nhau

Trụ bình đẳng như vậy

Thế gian chỗ nên làm

Tất cả các tướng ấn

Tùy thuận hay quan sát

Trụ bình đẳng biết khắp

Hay dùng một pháp môn

Biết rõ các pháp môn

Cũng dùng các pháp môn

Biết rõ một pháp môn

Chẳng dùng một pháp môn

Thân cận các pháp môn

Chẳng dùng các pháp môn

Thân cận một pháp môn

Trong tất cả pháp môn

Bình đẳng khắp thanh tịnh

Nơi pháp không dị tướng

Đây là người quan sát

Nơi các pháp ngôn giáo

Mà hay bình đẳng nói

Thường trụ tánh bình đẳng

Đây là người quan sát

Nơi các pháp ngôn giáo

Như lý hay thấy biết

Bèn được khéo tương ưng

Đây là người phương tiện

Chẳng phát khởi tránh luận

Chẳng làm duyên tránh luận

Tất cả chẳng trái nhau

Đây là người tương ưng

Thường phát khởi vô tránh

Vô tránh được tương ưng

Bình đẳng chẳng trái nhau

Đây là người trí huệ

Ở trong pháp lý thú

Dứt hẳn các tránh luận

Mặc giáp như lý tu

Đây là người dũng mãnh

Khắp quan sát như vậy

Thuần một không trái cãi

Được ở trong pháp hội

Khen nói pháp vô thượng

Chư Bồ Tát nhu vậy

Thành tựu tất cả pháp

Đại hải ấn tam muội

Đây là người chánh niệm

Siêng tu tập như vậy

Thuần một không trái cãi

Dứt tránh luận tương ưng

Thành tựu tam muội ấy

Như lý mà an trụ

Hăy biết thuyết bí mật

Biết ngã và ngã mạn

Dứt mạn tuyệt căn cao

Trong ngôn giáo quyết định

Thành tựu thiện phương tiện

Cũng biết danh sai biệt

Đây là người có trí

trong các pháp lý thú

Như lý siêng tu tập

Hay thấy các pháp môn

Đây là người thấy pháp

Siêng tu tập như vậy

Hay biết tất cả pháp

Pháp gì cùng tương ưng

Pháp gì chẳng tương ung

Trong tất cả các pháp

Người niệm nghiệp thanh tịnh

Được ở nghĩa quyết đinh

Mà được thiện phương tiện

trong tất cả các pháp

Người tinh tiến tư duy

Biết rõ tất cả pháp

Mới được tam muội ấy ”.

Đức Phật phán tiếp: “Lại nầy Vô Biên Huệ Ở trong pháp ấy, chư đại Bồ Tát siêng tu tập lại có pháp năng nhiếp tam muội.

Lắng nghe lắng nghe! Ông phải khéo suy nghĩ. Ta sẽ giải thuyết cho”.

Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát bạch: “Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Con xin muôn được nghe.

Đức Phật phán: “Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát có môn pháp quang minh có thể xuất sanh chư pháp lý thú thiện xảo phương tiện, cũng hay xuất sanh tất cả pháp ấn, hay nhập môn tất cả pháp ấn. Nơi tất cả pháp chỗ đáng được làm thì có thể biết có thể vào. Nơi pháp quang minh có thể được có thể nói. Dùng pháp quang minh tùy thuận thẳng vào môn chư pháp cú.

Gì gọi là môn pháp quang minh mà có thể xuất sanh thiện xảo quang minh?

Đó là hay biết rõ giáo môn dị danh, giáo môn bí mật, sự môn dị danh, sự môn nhiếp thủ, các môn sai biệt.

Thế nào ở nơi đó mà được biết rõ thì có thể xuất sanh môn tam muội, môn tất cả pháp giới lý thú, nhập vào nơi một nghĩa có thể tùy theo biết rõ các pháp quang minh.

Này Vô Biên Huệ! Nơi các pháp lý thú thiện xảo phương tiện thâm thâm ấy, chư đại Bò Tát hoặc hiện nay tu hành, hoặc sẽ tu hành, hoặc hiện nay cầu, hoặc sẽ cầu, nghe pháp môn ấy dùng chút ít gia hạnh được đại quang minh nhập vào các pháp môn. Từ pháp môn ấy lại phát khởi quang minh. Dùng quang minh ấy tùy theo pháp môn nào, tùy theo sở hành nào đáng vào đáng làm. Như pháp môn ấy, dùng sức tam muôị quan sát các pháp môn, nơi môn tam muội xuất sanh trí huệ mà có thể biết rõ lý thú như thiệt. Vì sức tam muội, vì quan sát pháp môn, vì sanh trí huệ, dùng môn tam muội biết rõ pháp giới an trrụ thiện phương tiện hay phát khởi quang minh tất cả pháp môn, được tất cả pháp hải ấn tam muội.

Nầy Vô Biên Huệ! Thế nào là pháp môn?

Đó là ấn chữ A, ấn tất cả pháp vô minh làm ra. Công hạnh được viên mãn, chữ A làm đầu.

Vì ngăn dứt vô minh không có sở tác, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô tướng.

Dùng ấn chữ Ả, ấn tất cả pháp nghiệp dị thục quả, nghiệp chỗ làm ra nghiệp quả hòa hiệp, vì biết rõ nghiệp quả hòa hiệp duyên, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô duyên không nghiệp không quả không hòa hiệp.

Dùng ấn các hành ấn tất cả pháp, vì phát khởi tất cả pháp trí quang minh nơi các thứ nghiệp, nghiệp chỗ làm ra, nên chư đại Bố Tát phải nhập vào ấn môn tất cả các hành thiện xảo, dùng ấn chữ NẢ ấn tất cả pháp.

Dùng chữ MẠ trợ giúp thi thiết danh môn, dùng các thứ pháp mà làm tương ưng, vì biết rõ NẢ và MẠ trợ giúp lẫn nhau nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô hiệp vô trợ vô danh.

Dùng ấn vô biên ấn tất cả pháp, tất cả phân biệt là bất khả đắc, vì rời phân biệt, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô phân biệt.

Dùng ấn vô tế ấn tất cả pháp tế chẳng hòa hiệp, vì tận nơi tế, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô tầm vô từ vô ngôn thuyết.

Dùng ấn không các thứ tự tánh ấn tất cả pháp, vì dùng tướng khởi tác của một tự tánh dứt trừ các thứ tự tánh tưởng, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn chủng chủng tự tánh.

Dùng ấn muốn tương ưng hòa hiệp ấn tất cả pháp, vì hiện khởi hữu vi các công hạnh viên mãn ly dục tịch tịnh không hòa hiệp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn trí tận tham dục thấy không hòa hiệp.

Nầy Vô Biên Huệ! Đó là ấn môn đại Bô Tát ấn tất cả pháp. Do ấn môn nầy mà phải nhập vào trong tất cả pháp.

Nầy Vô Biên Huệ! Lại còn có môn vô chướng ngại, môn vô hòa hiệp, mà chư đại Bồ Tát phải tùy theo ngộ nhập.

Thế nào là môn vô chướng ngại, môn vô hòa hiệp? Dùng hư không ấn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô trước.

Dùng ấn không nhàn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô nhị.

Dùng ấn tịch tịnh ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn chỉ tức.

Dùng ấn vô môn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn bất động.

Dùng ấn vô xứ ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô nhiễm.

Dùng ấn tánh không ấn tất cả pháp nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô đắc.

Dùng ấn vô tướng ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tátphải nhập vào ấn môn thiện xảo tu tập phương tiện.

Dùng ấn vô nguyện ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn thiện tịch tịnh nguyện quang minh.

Dùng ấn vô tham ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn khắp biết phân biệt như thiệt.

Dùng ấn vô sanh ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn sanh chánh trí thấy vô sanh.

Dùng ấn tịch diệt ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn ly uẩn.

Dùng ấn tận tướng ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn sanh tận.

Dùng ấn pháp giới ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn hiển hiện pháp giới thiện xảo.

Dùng ấn vô niệm ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn thiệt vô phân biệt bình đẳng.

Dùng ấn ly tánh ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn biết khắp tất cả tự tánh.

Dùng ấn Niết Bàn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn như thiệt tịch tịnh thuận diệt.

Nầy Vô Biên Huệ! Đó là chư đại Bồ Tát ở nơi môn tất cả pháp vô chướng ngại, môn chẳng hòa hiệp, môn vượt quá tất cả đọan kiến thường kiến, môn vô biên tế, môn tiền hậu tế, vì yểm ly vậy, vì tịch diệt vậy, vì chỉ tức vậy, vì thanh lương vậy.

Chư đại Bồ Tát ở nơi ấn môn tất cả pháp ấy tùy học tùy nhập. Vì khéo tu hành các pháp môn ấy mà được nhứt thiết pháp hải ấn tam muội.

Tam muội ấy tương ưng với ly như thiệt có thể nhiếp trí chư pháp thiện phương tiện.

Vì thế nên với ấn môn ấy, chư đại Bồ Tát phải khéo tu hành, an trụ nơi nhứt thiét pháp hải ấn tam muội quan sát tất cả pháp mà có thể xuất sanh vô lượng vô biên ánh sáng đại pháp.

Nầy Vô Biên Huệ! Ví như biển lớn, nước nhiều vô lượng, không ai có thể lường được dung lượng ấy.

Tất cả pháp cũng như vậy, trọn không có ai đo lường được.

Lại như biển lớn, tất cả các dòng nước đều chảy vào trong ấy.

Tất cả các pháp vào trong pháp ấn cũng như vậy. Thế nên gọi là hải ấn, ấn tất cả pháp đều vào trong tất cả pháp hải ấn, ở trong ấn ấy thấy tất cả pháp đồng pháp ấn.

Lại như đặi long và các chúng rồng, các chúng thân to lớn có được biển lớn vào được biển lớn, nơi biển lớn ấy dùng làm chỗ ở.

Cũng vậy, chư đại Bồ Tát ở nơi vô lượng trăm ngàn kiếp khéo tu các công hạnh mới nhập được ấn môn tam muội ấy, dùng ấn môn ấy làm trụ xứ, vì muốn chứng được các Phật pháp, vì khéo viên mãn Nhứt thiết trí nên thành tựu các pháp ấn môn như vậy.

Lúc chuyên cần tu học pháp môn ấy, chư đại Bồ Tát có thể tu học tất cả pháp môn và thấy tất cả pháp môn.

Vì ở tại pháp môn ấy nên có thể phát khởi ánh sáng các pháp, vào trong biển tất cả pháp.

Vì thế nên pháp ấy gọi là nhứt thiết pháp hải ấn tam muội.

Lại như biển lớn là chỗ chứa họp những trân bửu lớn.

Cũng vậy, tam muội ấy là chỗ chứa họp tất cả pháp và pháp thiện xảo.

Nầy Vô Biên Huệ! Nếu có chúng sanh nào vì được tri kiến vô thượng của Phật, với tam muội ấy, hoặc đã cầu, hoặc sẽ cầu, hoặc hiện nay cầu, thì người ấy có thể cầu trí huệ nhứt thiết pháp hải viên mãn.

Do nghĩa ấy nên ta đem pháp ấn ấy phó chúc nơi ông.

Đời mạt thế năm trăm năm sau, lúc chánh pháp diệt, ông dùng pháp ấn ấy để ấn các chúng sanh.

Vì chúng sănh nào được pháp ấn ấy ấn cho thì đều được chẳng thối chuyễn nơi Vô thượng Bồ đề, thành tựu Phật pháp chóng ngồi đạo tràng chuyễn pháp luân vô thượng nối thạch giống Phật, tùy thuận an trụ nơi bực nhứt thiết trí, có thể ở nơi Đại bát Niết Bàn vô thượng mà bát Niết Bàn, khiến hàng Trời, Người thọ trì chánh pháp.

Nầy Vô Biên Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát muốn nhiếp lấy vô lượng công đức thù thắng như vậy, thì ở nơi pháp thậm thâm ấy phải chuyên cần ưa thích và không phóng dật.

Lại nầy Vô Biên Huệ! Ta nhớ thuở xưa quá vô lượng a tăng kỳ kiếp, lại quá bội số ấy, có đức Phật ra đời hiệu là Siêu Quá Tu Di Quang Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Kiếp ấy tên là Thiện Trụ. Quốc độ tên là Duyệt Ý.

Trong kiếp ấy, chúng sanh thọ mạng chẳng hạn lượng được, an ổn giàu đủ, đều an trụ nơi thiện pháp. Vì thế mà kiếp ấy có tên là Thiện Trụ.

Cõi nước ấy rộng rãi nghiêm sức nhiều thứ đẹp lạ, người thấy đều vui hòa đẹp dạ, hương thơm lan khắp mọi nơi. Vì thế nên quốc độ ấy có tên là Duyệt Ý.

Trong bốn châu thiên hạ, ba châu đồng rộng tám muôn do tuần, trong mỗi châu có hai vạn thành. Mỗi thành rộng mười do tuần.

Chỉ có châu Diêm Phù Đề rộng một câu chỉ do tuần, có tám vạn thành, mỗi thành rộng hai mươi do tuần, những lâu đài tường rào khắp nơi, các thứ y thọ, vị thọ, hoa thọ, quả thọ, bửu đa la thọ trang nghhiêm thành ấp.

Trong nước ấy lại có tòa đô thành rộng rộng trăm do tuàn, hai muôn khu vườn bao bọc quanh thành. Trong các khu vườn có những đầm ao đầy nước trong mát, hoa đẹp trái ngọt sum suê, hương thơm la µn khắp làm đẹp ý mọi người, chim muông hót kêu hòa nhã.

Thuỡ ấy đức Phật Siêu Quá Tu Di Quang Vương Như Lai ngụ trong một khu vườn thuyết pháp cho đại chúng.

Này Vô Biên Huệ,! Đức Siêu Quá Tu Di Quang Vươong Như Lai thọ mười tiểu kiếp. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, chánh Pháp trụ thế mãn một tiễu kiếp.

Thuở ấy, đức Phật Siêu Quá Tu Di Quang Vương thuyết pháp bốn hội. Mỗi pháp hội các chúng Thanh Văn trụ bực hữu học đều cớ năm trăm câu chi na do tha. Chư a la hán và chư Bồ Tát đều có năm mươi câu chi na do tha.

Đức Như Lai ấy có hai vị Bồ Tát tên Dũng Mãnh Quân và Dũng Mãnh Lực.

Hai vị Bồ Tát ấy đầy đủ thần thông, được vô sanh nhẫn. Hai vị tiến lên bạch đức Phật ấy rằng:

Bạch đức Thế Tôn! Dùng những pháp gì để thành tựu nhứt thiết pháp hải ấn tam muội của đại Bồ Tát?

Đức Phật ấy đem cú môn này mà rộng tuyên thuyết. Lúc nói pháp ấy, có mưòi ngàn Bồ Tát được vô sanh nhẫn. Hai vị Bồ Tát Dũng Mãnh Quân và Dũng Lực chứng nhất thiết pháp hải ấn tam muội và chứng nhứt tam muội và chứng tất cả tam muội của Bồ Tát. Do chứng như vậy, hai vị Bồ tát ấycó thể ở trong tất cả Phật độ hiển hiện thần thông biến hóa, phóng ánh sáng lớn, phát diệu âm thanh tịnh thuyết pháp cho chúng sanh và thành thục được tám câu chi người hứơng đến Vô thượng Bồ đề.

Đức Siêu Quá Tu Di Quang Vương Như Lai thọ ký cho hai vị Bồ Tát ấy quá một trăm kiếp ấy, mỗi mỗi kiếp đều cúng dường phụng thờ năm trăm Như Lai. Nơi chánh pháp của chư Như Lai ấy, sơ thời, trung thời và hậu thời đều có thể thọ trì làm lợi ích lớn cho chúng sanh. Trong thời gian ấy thường nhứt tâm bất loạn, mỗi đời đều thọ hóa sanh, chẳng thối thất tam muội thần biến thuyết pháp độ các chúng sanh.

Quá trăm kiếp, hai vị Bồ Tát ấy lại gặp đức Vô Biên Công đức Như Lai, cúng dường thân cận, khéo hay du hí vô lượng tam muội thần biến giải thóat. Ở chỗ đức Vô Biên Như Lai, hai vị Bồ Tát ấy có tên là Ly Ưu và Thiện Trụ, theo đức Như Lai chuyển chánh pháp luân, giáo hóa vô lượng vô số chúng sanh cho an trụ bực tam thừa. Đức Như Lai ấy lại thọ ký rằng:

Sau khi ta diệt độ, Ly Ưu sẽ chứng Vô thượng Bồ Đề hiệu là Tối Thắng Quang Minh Như Lai. Hai đức Như Lai ấy đồng thọ một kiếp. Quốc độ chứa họp vô lượng công đức.

Này Vô Biên Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát nhứt thiết pháp hải ấn tam muội thì phải phát tâm lòng ưa thích, khởi đại tinh tiến chẳng tiếc thân mạng, dùng chẳng pháong dật để tu hành”.

Lúc đó trong đại chúng lại có đại Bồ Tát tên là Huệ Nghĩa rờichỗ ngồi tiến lên bạch rằng:”Bạch đức Thế Tôn! Rất hi hữu, đức Thế Tôn vì muốn chư đại Bồ Tát được nhứt thiết pháp trí thiện xảo và được Như Lai Nhứt thiết trí, mà nói nhứt thiết pháp tam muội.

Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát được nhứt thiết pháp hải ấn tam muội thì quyết định sẽ được chư pháp lý thú thiện xảo phương tiện, mau đến đạo tràng dùng biển lớn vô biên công đức ấy mà hướng đến Vô Thượng Bồ Đề, cùng tăng đồng hàng. Có thể tiêu được sự cúng dường Như Lai tối thượng, vượt quá bực Thanh Văn, Bích chi Phật.

Đức Thế Tôn phán bảo Huệ Nghĩa đại Bồ Tát: “đúng như lời ông nói. Nầy Huệ Nghĩa! Chư đại Bồ Tát được nhứt thiết hải ấn tam muội thì được vô lượng công đức thù thắng. Nếu an trụ ở nhứt thiết pháp hải ấn tam muội, thì có thể dùng chư pháp lý thú thiện xảo phương tiện quyết định hướng đến Vô thượng Bồ đề.

Nầy Huệ Nghĩa! Ví như núi Tu Di Vương do các chất báu hiệp thành, mọc lên từ đại hải, cao tám muôn bốn ngàn do tuần đứng sừng sững chói sáng.

Cũng vậy, chư đại Bồ Tát do tam muội ấy khéo hướng đến phát xuất từ biển lớn tạng nhứt thiết pháp chói che tất cả, an trụ vô thượng, trong Trời Người thế gian rất tột sáng chói.

Lại như mặt trăng tròn sáng, tinh tú bao quanh.

Cũng vậy, chư đại Bồ Tát có thể ở trong tất cả đại chúng Trời Người thế gian làm ánh sáng lớn.

Nầy Huệ Nghĩa! Ông xem pháp ấy có ai là chẳng ưa thích, chẳng phát khởi tinh tiến mà lại phóng dật! Chỉ trừ những chúng sanh hạ liệt phước bạc. Nếu các chúng sanh có đại trí huệ thì có thể thành tựu pháp rộng lớn ấy. Pháp rộng lớn ấy đầy đủ công đức được chư đại Bồ Tát nhiếp thủ như ta đã nói. Nếu có thể nhiếp được pháp tài rộng lớn ấy thì được sự thị vệ của hàng Trời và Người, và sự hộ niệm của mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát”.

Đức Thế Tôn bảo ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát: “Nầy Vô Biên Huệ! Nếu siêng tu học pháp ấy, chư đại Bồ Tát có thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh, trừ hết tất cả sự nghi hoặc, giải tất cả kiết sử, dứt bỏ các tập khí, đọan trừ các phiền não, vượt những tham ái, qua khỏi biển sanh tử, diệt hẳn tối tăm, rời hẳn kinh sợ, mau dùng thiện xảo biết được tâm của tất cả chúng sanh”.

Nói lời ấy xong, đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn. Ánh sáng ấy chiếu khắp vô số thế giới, sáng hơn cả ánh sáng của tất cả mặt trời mặt trăng.

Phóng ánh sáng ấy rồi, đức Phật lại phán: “Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát nếu có thể siêng tu hải ấn tam muội, cũng hiện đại thần biến, phóng đại quang minh, làm đại su tử hống diễn thuyết pháp ấy, vượt quá tam giới làm đại chiếu minh như ta ngày nay không khác”.

Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ngưỡng mong đức Như Lai gia trì pháp ấy. Đời mạt thế, nếu có chúng sanh nào nghe tên pháp ấy sẽ được vô lượng vô biên công đức.”

Bấy giờ vì muốn gia trì pháp môn ấy, đức Thế Tôn lại phóng quang minh, lấy một ngón tay làm chấn động khắp cõi Đại Thiên khiến các chúng sanh được an lạc. Liền dó trong pháp hội, hàng Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già rãi hoa trời, y trời. Các kỹ nhạc trời đồng thời hòa tấu. Vô lượng chư Thiên tay cầm y trời phất phới đầy trong hư không đồng thanh xướng rằng: Lạ thay, lạ thay! Cảnh giới chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có ai thọ trì pháp ấy thì kham thọ sự cung kính lễ lạy của tất cả chúng sanh.

Bấy giờ đức Thế Tôn lại phán rằng: “Nầy Vô Biên Huệ! Thời kỳ mạt pháp, chúng sanh bạc phước chẳng được nghe giáp trụ trang nghiêm và tam muội trang nghiêm ấy. Nếu có chúng sanh nào có thiện phương tiện nhiếp đại tư lương mới được nghe.

Nếu ở nơi pháp ấy, ai siêng tu hành thì được tam thế chư Phật Thế Tôn nhiếp thọ.

Nầy Vô Biên Huệ! Thời kỳ đại bố úy thuở mạt thế, pháp môn nầy ta phó chúc các ông. Ta ở trong vô số câu chi na do tha kiếp chứa họp các tạng pháp bảo vô thượng đầy đủ công đức vô biên an lạc, hiện nay các ông đều đã được, tất cả khổ uẩn các ông đều đã xả bỏ. Các ông dùng biển lớn vô biên công đức để chóng đến Vô thượng Bồ đề.”

Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát cùng năm trăm đại Bồ Tát và các cư sĩ Hiền Hộ thương chủ làm thượng thủ đồng đảnh lễ chưn đức Phật, bạch rằng: “bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi tùy theo năng lực mà thọ trì pháp đại Bồ đề của đức Như Lai để làm lợi ích lớn cho các chúng sanh đời mạt thế .”

Chư đại Bồ Tát đều rời chỗ ngồi đem những hoa đẹp rãi trên đức Phật, cởi diệu y trên thân dâng lên cúng dường mà bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đem thiện căn nầy hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được viên mãn pháp Bồ đề phần thành tựu nhứt thiết chủng trí của Như Lai. Nguyện cho chúng sanh đời mạt thế đều thành tựu tât cả thiện căn”.

Vì muốn tất cả đại Bồ Tát hoan hỷ, đức Thế tôn nói kệ rằng:

“Vì tất cả chúng sanh

Phát khởi lợi ích lớn

Trì Phật Bồ đề pháp

Pháp Vương sư tử hống

Trong đời mạt thế sau

Nếu những người cầu pháp

Nghe pháp rộng lớn ấy

Tất cả được an lạc

Như ta đã từng nói

Nếu người thấy pháp ấy

Nghe được khế kinh ấy

Thì được tùy ý thích

Nếu có người trí huệ

Tu tập thiện phương tiện

Nghe pháp tối thượng ấy

Thân tâm rất vui mừng

Nếu ở pháp hội nầy

Hiện tiền thấy ta nói

Được nghe pháp ấy rồi.

Khéo có thể ưa thích

Trong đời mạt thế sau

Sanh phước lớn cho ông

Vô số vô biên lượng

Rộng lớn không ngằn mé

Trong đời mạt thế sau

Nếu ai thọ trì được

Pháp của Pháp Vương nói

Được đức Phật nhiếp thọ

Trong đời mạt thế sau

Trì pháp Phật Bồ đề

Chính là người tối hậu

Trì pháp vô lượng Phật”.

Lúc đức Thê Tôn nói pháp ấy rồi, có vô lượng Bồ Tát được vô sanh nhẫn, vô lượng chúng sanh thành thục thiện căn.

Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát và chư đại Bồ Tát, tất cả thế gian, Trời, Người, A Tu La v. v…nghe lời dạy của đức Phật đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

    Xem thêm:

  • Kinh Đại Bảo Tích tập 8 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 5 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 7 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 6 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 3 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 9 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 1 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 4 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 2 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích (trọn bộ 9 tập) – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 4 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Tăng Nhất A-Hàm Tập 1 – HT Thích Thanh Từ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Tăng Nhất A-Hàm Tập 3 – HT Thích Thanh Từ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 3 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 1 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Dược Sư – HT Thích Trí Quảng soạn - Kinh Tạng
  • Kinh Tăng Nhất A-Hàm Tập 2 – HT Thích Thanh Từ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Những Điều Trái Nghịch Của Ma - Kinh Tạng