1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Quyển thứ mười

Phật ở thành Thất La Phạt. Nhiều khách buôn lập đại hội tại viên lâm thỉnh Phật và Tăng đến cúng dường. Họ dọn thức ăn đầy đủ trước đại chúng. Họ bỗng nghe thượng khách mang hàng hóa đi bị phát hỏa. Nghe như vậy họ vội vàng bỏ bữa ăn tại đó chạy về. Ðã đến giờ ăn nhưng không có người dâng vật thực. Bí-sô tự nghĩ: “Phải làm thế nào đây?”. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Thí chủ đã sinh ý tưởng bỏ hẳn (bữa cúng dường), nên tác ý tưởng ở Bắc Cu Lô Châu tự lấy ăn, không nên sinh nghi.

Bấy giờ có quạ bay đến bên nhà bếp mổ lấy thức ăn. Các Bí-sô nghi ngại không dám ăn, đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

– Cắt bỏ bốn cạnh bị mổ, ăn không lỗi.

Bí-sô chưa kịp ăn, quạ bay lại mổ vào thức ăn, họ nghi ngại không dám ăn. Ðem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

– Cắt bỏ bốn cạnh bị mổ, ăn không phạm.

Cụ thọ Hiệt Ly Bạt Ðề vào nhà xí, thấy ruồi đang ăn vật bất tịnh rồi lại bay vào nhà bếp làm bẩn thức ăn uống. Ngài thưa với Bí-sô rằng:

– Tôi vừa thấy ruồi này trong nhà xí rồi chúng lại bay vào làm bẩn thức ăn.

Bí-sô nghe nói đều không dám ăn. Phật bảo các Bí-sô:

– Các loại ruồi nhặng chúng bay đến ở nơi xứ hay phi xứ đều không thành nhơ bẩn, vật thực ấy ăn được.

Bí-sô muốn nhuộm y, thấy vò đựng tô dầu trong nhà của chúng, cho là vò nhuộm y nên lấy mang đi. Sau đó, xem lại mới biết vò đựng tô dầu nên vứt sang một bên. Phật dạy:

– Nếu mang lên gác nhưng đi chưa được nửa đường, nên đem trở xuống an trí trên đất. Nếu đi quá nửa đường nên đem lên trên đặt chỗ bằng phẳng.

Do không xem xét kỹ chỗ để, vò nghiêng đổ dầu ra. Phật nói:

– Nên lấy vật kê, đừng để nghiêng ngã.

Các Bí-sô đã xúc chạm vào các vật này nên nghi ngại không dám ăn. Phật dạy:

– Thực phẩm ấy tịnh nên ăn.

– Này các Bí-sô! Có hai loại thức ăn bị xúc chạm vẫn không có lỗi:

1- Bị người không tàm quí xúc chạm.

2- Người có tàm quí nhưng vô ý xúc chạm.

Người có tàm quí vì do vô ý nên chạm vào, cả hai đều tịnh không phạm.

Bấy giờ có nhiều Bí-sô du lịch bốn phương để lễ bái tháp, có Bà la môn, cư sĩ đem hương xoa, hương bột, hương đốt, vòng hoa, vải vóc gởi các Bí-sô đến cúng dường tháp. Bí-sô gặp phải ngoại duyên nên không thể thực hiện được mong ước của người gởi. Các Bí-sô tự nghĩ: “Vật này phải giải quyết thế nào đây?”. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Có bốn đại tháp là nơi cố định:

1- Nơi đức Bồ tát đản sinh.

2- Nơi đức Bồ tát thành chánh giác.

3- Nơi Phật chuyển pháp luân.

4- Nơi Phật nhập Niết bàn.

Nếu bản ý của thí chủ muốn cúng dường các tháp khác, nhưng đem cúng dường vào trong bốn tháp này cũng không trái sở nguyện. Nếu cúng vào hết bốn tháp này có duyên sự trở ngại thì cúng một trong bốn tháp vẫn được vì chúng quan hệ nhau, không cần phải cúng nơi khác nữa.

Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:

– Có hai Bí-sô sinh tâm hiềm khích, dùng những lời lẽ trái nhau để hủy báng. Trong hai người này, người nào đáng tin, người nào không đáng tin?

Phật dạy:

– Tin người giữ giới. Nếu cả hai cùng trì giới thì tin người đa văn. Nếu cả hai đều đa văn thì tin người thiểu dục. Nếu cả hai đều thiểu dục thì tin người rất thiểu dục tri túc.

– Nếu cả hai đều cực kỳ thiểu dục thì tin ai?

Phật dạy:

– Nếu có hai người cùng là bậc cực kỳ thiểu dục mà lại sinh tâm hiềm khích dùng các lời lẽ trái nhau để hủy báng. Việc này không có xảy ra.

Tụng thứ hai.

Bất ưng linh tặc trụ

Cập dĩ hoàng môn đẳng

Nãi chí thọ học nhân

Hành trù phá tăng chúng.

Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:

– Nếu lấy kẻ tặc trụ làm người hành trù, thành phá tăng không?

Phật dạy:

– Không thành!

– Nếu lấy năm loại hoàng môn cho đến kẻ biệt trụ làm người hành trù thành phá tăng không?

Phật dạy:

– Không thành!

– Nếu dùng người phạm tứ trọng để hành trù thành phá Tăng không?

Phật dạy:

– Không thành!

– Nếu dùng người thọ học để hành trù thành phá Tăng không?

Phật dạy:

– Không thành.

Tụng thứ ba.

Bất xích thể phi y

Mạo vũ hướng trù nội

Tiện lợi nghi phùng bổ

Hòa nô phúc cửu tăng.

Lục chúng Bí-sô ở trần nằm ngủ trên tấm chăn của Tăng, vung tay đạp chân làm chăn hư rách. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Không được nằm ngủ trần trên ngọa cụ của Tăng. Nằm ngủ ở trần bị tội ác tác. Chăn của Tăng nên dùng vật khác bọc lại, hoặc sử dụng làm hạ y, chú ý xem xét từ từ thọ dụng.

Lục chúng mang ngọa cụ của Tăng ra chỗ kinh hành, bị mưa ướt thấm làm cho hư hoại. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

– Không được mang y choàng của Tăng ra nơi sương gió đội mưa kinh hành. Nếu ai dùng như vậy bị tội ác tác.

Lại nữa, Lục chúng mang ngọa cụ của Tăng vào nhà trù để khói xông làm hư hoại. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Không được mang ngọa cụ của Tăng vào nhà trù. Ai sử dụng như vậy bị tội ác tác.

Các Bí-sô đem ngọa cụ của Tăng vào nơi đại tiểu tiện. Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Không được mang ngọa cụ của Tăng vào phòng đại tiểu tiện. Ai mang vào bị tội ác tác.

Các Bí-sô thấy có chăn mền ngọa cụ của Tăng bị hư, cùng nhau đem vứt bỏ. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

– Không nên vứt bỏ. Nếu y bị rách dài nên lấy chỉ may dính lại. Nếu thấy lỗ thủng thì vá lại, nếu y cũ mục thì may gấp đôi lại. Nếu quá cũ mục thì lấy làm tim đèn. Hoặc băm vụn ra trộn phân bò làm vữa dùng lấp lỗ cột, hoặc trát vách tường. Khi sử dụng như vậy làm cho vật của thí chủ cúng vào phước điền được tăng trưởng phúc đức. Nếu ba y bị hư mục cũng phải xử lý như ở trên.

Tụng thứ tư.

Ðịnh vật thí thử trung

Bất ưng dư xứ thực

Nhược hữu tương khứ giả

Tinh tu y giá hoàn.

Phật tại thành Thất La Phạt. Có trưởng giả cất một trú xứ cung cấp vật dụng cho trú xứ này rất đầy đủ.

Bấy giờ, trưởng giả thỉnh các Bí-sô đến nhận trú xứ này. Bí-sô chủ trú xứ có nhiều đệ tử ở các nơi khác. Họ vì lễ kính nên đến trú xứ của thầy.

Bấy giờ, Bí-sô chủ trú xứ bảo các đệ tử:

– Trưởng giả tạo chùa thỉnh tôi đến nhận trú xứ này, các ông ăn rồi hãy đi.

Các đệ tử bạch thầy:

– Ô Ba Ðà Da! Nếu có thức ăn thì cho chúng con mang đến nơi cùng ăn.

Ðáp:

– Tùy ý.

Họ liền lấy thức ăn, đèn dầu, giày da, y vật, lọng, củi, các loại thuốc, cành lá hoa quả đều mang đi cả. Một lúc sau họ vận chuyển tư cụ trong chùa muốn hết sạch.

Bấy giờ các Bí-sô khác đang ở trong chùa thấy vậy, đều đi đến nhà thí chủ tạo chùa nói:

– Trưởng giả biết không! Vật dụng của ngài cúng vào chùa, nay đang bị hao hụt.

Trưởng giả nói:

– Trong chùa không nhiều Bí-sô vậy mà tư cụ của Tăng dùng chưa bao lâu bảo rằng đã hết.

Bấy giờ các Bí-sô đem sự việc trên trình bày lại với trưởng giả. Trưởng giả nói:

– Chả lẽ tôi cúng tư cụ ấy cho các Bí-sô ngoài chùa hay sao?

Trưởng giả rất tức giận, đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

– Bí-sô ở trú xứ khác không được mang thức ăn của trú xứ này về cho trú xứ mình, cũng không được đem vật của chùa này cho chỗ khác. Thức ăn, đèn, dầu, v.v… nếu bản ý của thí chủ cúng cho người ở chùa này thì không được đưa sang cho người ở chùa khác. Nếu đưa sang người khác ăn phải tính giá trị của vật để trả lại.

Tụng thứ năm.

Tăng y đề thí chủ

Biệt nhân thí tư ký

Cù du hứa biệt nhân

Ny hạ ưng tu lý.

Phật ở thành Thất La Phạt. Có hai anh em cùng nhau xuất gia. Bí-sô tri sự mang y của Tăng gởi cho Bí-sô anh, rồi đi ra chỗ khác. Sau đó Bí-sô em mang đại y của mình đến bên cạnh Bí-sô anh, để y của mình bên cạnh y của vị tri sự gởi. Khi ra đi, lại cầm nhầm y của vị tri sự gởi cho Bí-sô anh. Bí-sô tri sự trở lại, thấy có y khác, bảo Bí-sô anh:

– Cụ thọ! Tăng già được nhiều lợi vật.

Ðáp:

– Nào có.

Hỏi:

– Vật y này của ai?

Ðáp:

-Là y của ông đã gởi.

Tri sự nói:

– Y của tôi to lớn, y này nhỏ hẹp. Chắc có người đến đây và mang y của tôi ra đi. Tôi phải đi hỏi người đã đến đây.

Vị này đến chỗ Bí-sô em thấy có y của Tăng. Hỏi:

– Tại sao người làm vậy?

Ðáp:

– Tôi không cố ý lấy y của Tăng mang đến đây. Nếu là y của Tăng, tôn giả cứ lấy mang đi.

Bí-sô nghi ngại đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

– Y của đại chúng phải làm dấu.

Bí-sô không biết phải làm dấu thế nào. Phật dạy:

– Nếu là vật của chúng phải ghi rõ: “Ðây là y của thí chủ mổ giáp”. Nếu y riêng của một người nên ghi dấu riêng.

Bấy giờ có người đem tấm thảm nhiều màu và tấm nệm nhỏ cúng cho Tăng già. Phật dạy:

– Cho phép đại chúng và cá nhân được nhận.

Lại có người đem giường lớn chân tiện tròn cúng cho Tăng già. Thế Tôn dạy:

– Tăng già được giữ, cá nhân không được.

Như Thế Tôn dạy: – Bí-sô ny an cư mùa hạ nếu có nhân duyên được phép đi lại trong nhân gian.

Có vị tại trú xứ mình ở không chịu sửa sang rủ nhau bỏ đi, để cho trú xứ bị hư nát. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Nơi trú xứ các Bí-sô ny an cư cần phải sửa chữa. Nếu không sửa chữa bị tội ác tác.

Tụng thứ sáu.

Nhược hoàng vãng y vật

Tống lai ưng vi thọ

Vị chúng thủ tha tài

Tương chúng vật hoàn giá.

Có người qua đời, thân thuộc tống táng vào Thi lâm. Phướn vải đều đem về cúng dường cho Tăng chúng, Bí-sô không dám nhận đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Ðây là vật dùng tống táng cho người chết, được phép nhận.

Có người nghèo quá, đến mượn những vật ấy. Phật dạy:

– Nếu là người nghèo thì cho họ.

Họ có tâm ái ngại đem trả lại. Các Bí-sô không dám nhận. Phật dạy:

– Nếu họ đem đến trả nên vì họ nhận.

Có Bí-sô tri sự vay tài vật của người thế tục để làm việc cho Tăng. Chẳng may, vị này qua đời. Chủ nợ nghe vị ấy chết, vội vàng đến hỏi các Bí sô:

– Bí-sô mổ giáp nay ở đâu?

Ðáp:

– Ðã chết.

Nói:

– Vị ấy vay nhiều tài vật của tôi.

Bí-sô nói:

– Ngài nên đến Thi lâm để đòi vị ấy.

Người kia nói:

– Bí-sô kia vay tài vật để làm việc cho chúng, nào phải cho tự thân. Quí vị nên thanh toán lại số nợ ấy cho tôi.

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

– Nếu biết Bí-sô kia vay tài vật vì việc của Tăng nên đem tài vật của Tăng để thanh toán lại số nợ vay trước đây. Nay, Ta chế định nguyên tắc đối với các Bí-sô tri sự doanh tác:

– Phàm các Bí-sô làm doanh tác tri sự trước phải báo cáo cho vị trưởng lão trong chùa sau đó mới được vay của người và phải làm văn tự rõ ràng. Các Bí-sô doanh tác không theo qui định này, bị tội ác tác.

Tụng thứ bảy.

Cam giá đẳng bình phàn

Bất ưng phân khẩu phúc

Tứ sự vô phân pháp

Ngọa cụ dạ bất hành.

Phật ở thành Thất La Phạt. Bấy giờ họ cúng chư Tăng rất nhiều mía. Như Thế Tôn đã dạy: – Các cầu tịch được lấy một phần ba.

Bấy giờ các Bí-sô phân chia mía cứ ba phần chia một.

Bấy giờ các Bí-sô ngồi im lặng ở hàng đầu, đến ngồi gần cuối hàng thì gần sát Thế Tôn. Cụ thọ La Hổ La ngồi ở cuối hàng đang ăn mía và nhìn Thế Tôn. Thế Tôn thấy vậy hỏi:

– La Hổ La! Con đã ăn mía chưa?

Ðáp:

– Con đã ăn.

Hỏi:

– Con muốn ăn nữa không?

Ðáp:

– Muốn.

Hỏi:

– Phần con được bao nhiêu?

Ðáp:

– Con được một phần thứ ba.

Thế Tôn dạy:

– Tôi căn cứ về phần lợi của y nên qui định như vậy chứ không áp dụng cho việc ăn uống. Từ nay Ta chế định các Bí-sô, nếu có phần lợi về thức ăn cho đến cái lá nhỏ đều phải phân chia bình đẳng nếu không chia bình đẳng bị tội ác tác.

Khi được nhiều mía, như Thế Tôn dạy cho phân chia thực lợi. Bí-sô sinh nghi, khi được mía cả gốc lẫn ngọn không dám phân chia.

Phật dạy:

– Nên phân chia như đã nói rõ ở trên.

Duyên xứ như trước. Cư sĩ nọ cất một trú xứ. Các Bí-sô ở trú xứ này vấn đề ăn uống đều do thí chủ cung cấp.

Bấy giờ các Bí-sô cùng nhau bàn luận:

– Này các cụ thọ! Chúng ta không khó khăn về ăn uống nhưng y phục lại thiếu thốn. Ðây có sẵn thực phẩm chúng ta đem đổi lấy y phục để sử dụng và mỗi người tự đi khất thực để ăn. Sau khi bàn luận, không có một Bí-sô nào đến nhà thí chủ thọ thực cả. Nhân khi Bí-sô đi khất thực, thí chủ thấy hỏi rằng:

– Thánh giả! Con đã vì quí ngài cúng dường thức ăn hàng ngày. Vì ý gì mà ngài phải đi khất thực lao nhọc vậy?

Bí-sô đem sự việc trên trình bày với thí chủ. Họ bảo rằng:

– Chẳng lẽ đại chúng cùng nhau phân chia phần ăn của từng người hay sao?

Họ sinh tâm cơ hiềm. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Có bốn loại vật không được phân. Thế nào là bốn?

1- Vật tứ phương Tăng.

2- Vật của Tốt đổ ba (tháp).

3- Thuốc để trong nhà nuôi bệnh của Tăng.

4- Phần ăn thuộc cá nhân.

Nếu ai phân chia bị tội ác tác.

Bấy giờ lục chúng Bí-sô du lịch trong nhân gian (xem lại ở trước trường hợp chia ngọa cụ vào nửa đêm).

Tụng thứ tám.

Quả do Dược xoa thí

Tịnh tri phương thọ thực

Di giả vi tương ẩm

Bất thiêu địa tăng đài.

Bấy giờ, Thế Tôn ở nước Tặc Quân du hành trong nhân gian đến thôn Xích Sắc (màu đỏ). Ngay trong thôn này, ngài tạm nghỉ lại thần miếu của Ðại Lực Dược Xoa. Khi ấy, Dược Xoa đến chỗ Phật, lạy sát hai chân Phật bạch rằng:

– Ngưỡng mong Thế Tôn và chúng Bí-sô tăng nhận lời mời thỉnh nhỏ mọn của con nghỉ ngơi trong miếu này qua đêm.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Dược xoa thấy Thế Tôn nhận lời, liền hóa hiện ra năm trăm phòng cá nhân với đầy đủ giường chăn, niệm gối, thảm trải, v.v… và năm trăm lò lửa cháy rực rỡ không có khói.

Bấy giờ thần Dược xoa trước tiên lấy phòng trên hết dâng cho Thế Tôn. Sau đó bố trí mỗi Bí-sô một phòng. Bấy giờ thần Dược xoa đến chỗ Phật bạch như thế này:

– Ngưỡng mong Thế Tôn và chúng Bí-sô vào ngày mai nhận sự cúng dường nhỏ mọn của con tại miếu này.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Thần Dược xoa này có người bạn thân cũ là đại Dược xoa tên Bạt Ðể Ca ở nước Yết Tháp Di La. Dược xoa bảo sứ giả đến nói với bạn rằng:

– Tôi đã thỉnh Phật và Tăng ngày mai tổ chức cúng dường tại nhà. Trái cây ngon ở phương Bắc rất nhiều, rất mong bạn vui vẻ giúp đỡ để thành tựu công đức.

Bấy giờ Dược xoa kia được tin như vậy liền lấy bồ đào, thạch lựu, quít ngọt, mía, hồ đào, kiệt thọ la, v.v… đựng đầy giỏ lớn sai Dược xoa khác mang đến miếu kia để cúng dường.

Bấy giờ trông thấy các Bí-sô bạch Phật:

– Trái cây ở phương Bắc này phải làm thế nào đây?

Phật dạy:

– Lấy lửa tác tịnh, sau rồi ăn.

Bấy giờ các Bí-sô tác tịnh từng trái. Phật dạy:

– Nên tập hợp lại một nơi. Tác tịnh ba bốn chỗ ăn không phạm.

– Ðưa trái cây đến, chúng ăn xong thừa ra.

Phật dạy:

– Nên đập ra làm nước phi thời uống tùy ý.

Lại còn dư ra nữa. Phật dạy:

– Nấu lên đổ vào bình, ngày khác uống.

Vào tháng lạnh, Bí-sô đốt lửa trên nền gạch để sưởi làm gạch bị hư. Phật dạy:

– Không được đốt lửa trên nền gạch, phải lấy ngói lót.

Vẫn bị khói ám vào nền. Phật dạy:

– Nên đốt ngoài cửa.

Khói bay vào làm cay mắt . Phật dạy:

– Ðợi hết khói, lấy nước rưới tắt, đem vào phòng.

Bấy giờ Tăng già được cúng cây đèn một tầng. Phật dạy:

– Ðược nhận! Cá nhân cũng được.

Lại được cúng đèn hai tầng, ba tầng, nhiều tầng. Phật dạy:

– Ðược phép giữ, cá nhân giữ không phạm.

Tụng thứ chín.

Khách cựu nghi tường thẩm

Thọ thọ phân minh phú

Ngũ khai ưng tổng bế

Trữu đoản khả tùy thân.

Bấy giờ có nhiều Bí-sô khách vào chùa. Bí-sô cựu trú cho họ nghỉ ngơi. Họ liền trộm cắp rồi bỏ đi. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Vị cựu trú phải quen biết họ mới được cho họ nghỉ ngơi. Trước đó nếu chưa quen biết thì không nên cho ở lại nghỉ ngơi.

Như Thế Tôn dạy: – Người chưa quen biết chớ cho họ ở lại nghỉ ngơi.

Bấy giờ có Bí-sô quen biết đã được nghỉ ngơi. Sau đó có một Bí-sô không quen biết đến đột xuất. Bí-sô đến trước có việc phải đi ra ngoài, vị Bí-sô đến sau trộm lấy y bát.

Bí-sô cựu trú tưởng rằng đây là bạn của Bí-sô trước nên không ngăn chặn lại, kẻ kia lấy bát đã chạy xa. Bí-sô đến trước, trở về phòng thấy không có y bát, hỏi chủ chùa:

– Ai đã lấy y bát của tôi?

Ðáp:

– Bạn của thầy đã mang y bát đi rồi.

Nói:

– Tôi nào có bạn cùng đến?

Chủ chùa:

– Vậy người theo thầy đến đây không phải là bạn à?

Ðáp:

– Ông đã để mất y của tôi, hãy mau đền bù lại.

Vị kia bị mất y phải chịu thiếu thốn. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Chủ chùa thấy khách đến, trước hết phải hỏi: – Họ có phải là bạn ông không? Nếu họ lấy y bát của ông thì có đưa họ không? Nếu vị này bảo đừng đưa mà tự ý lấy đưa thì phải đền trả lại. Nếu vị này bảo đưa, mất họ chịu.

Lại có Bí-sô khách đến, chủ chùa đã đưa đi nghỉ. Sau đó lại có Bí-sô quen biết đến nữa. Khi ấy chủ chùa bận đi đánh răng. Bí-sô đến sau trộm lấy y bát mới (của chủ chùa). Bí-sô khách (đến trước) tự nghĩ: “Vị này chắc là người cùng phòng với chủ chùa” nên không ngăn ngừa, bị lấy trộm đi mất. Một lúc sau chủ chùa về phòng, thấy mất y bát, hỏi Bí-sô khách:

– Ai lấy y bát của tôi?

Khách đến trước đáp:

– Người ở trong phòng lấy đi rồi.

Chủ chùa nói:

– Ở đâu lại có người cựu trú trong phòng. Ông để mất y của tôi hãy mau bồi thường.

Người kia đã bị mất y luôn cả tình cảm quen biết.

Bấy giờ các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Phàm Bí-sô khách vào phòng người khác, nên hỏi chủ nhân: – Nếu có người đến đây lấy y bát có nên đưa hay không? Nếu họ bảo đừng đưa mà vẫn cứ đưa thì phải bồi thường theo giá trị. Nếu họ bảo đưa thì không phải bồi thường.

Có Bí-sô khách gởi y cho Bí-sô cựu trú, vị này bận việc phải đi, bảo cựu trú rằng:

– Nếu có Bí-sô nhỏ đến nên đưa y cho vị ấy.

Sau đó không lâu có Bí-sô nhỏ đến, cựu trú đưa y của Bí-sô khách cho vị Bí-sô nhỏ. Bí-sô nhỏ lấy đi luôn.

Họ đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

-Nếu Bí-sô khách dặn đưa cho người nào thì giả như người ấy có lấy trộm cũng không phải đền bù. Nhưng cần phải kiểm tra rõ ràng rồi mới đưa.

Gặp trường hợp họ làm lộ lời dặn ra, người khác nghe được đến nói dối gạt lấy y vật. Do đó bị mất của.

Phật dạy:

– Nên dặn nhau ở chỗ thuận tiện, nói rõ hiện trạng của vật gởi. Sau đó mới đưa y.

Bấy giờ có Bí-sô đi theo đường đến bến sông xuống thuyền muốn đi, bảo với bạn rằng: – Ðưa túi đựng y qua đây. Người kia đưa qua. Kẻ đưa người nhận không cẩn thận, y bị rớt xuống nước.

Bí-sô bảo rằng:

– Hãy đền trả túi đựng y cho tôi.

Người kia không chịu.

Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Họ chưa nhận lấy thì không được thả ra. Họ chưa cầm đã thả thì phải đền bù lại.

Có người đưa áo bát cho người khác, người kia đón lấy không kịp, áo bị rơi xuống nước. Người bị mất áo bát theo đòi vị kia. Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Nếu họ chưa cầm lấy không được thả ra. Nếu có ý thả ra phải đền bù lại.

Người giữ chùa bị giặc cướp trộm đồ vật. Ðại chúng bàn nhau:

– Buộc người giữ chùa phải bồi thường số tài vật bị mất.

Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:- Các vị nên biết rằng:Khi bảo người khác đóng cổng chùa có năm việc khác nhau:Trên dưới gọi nhau, khóa cửa, phụ khóa cổng, phụ khóa cửa, gài chốt. Nếu không khóa để kẻ trộm vào lấy, căn cứ giá trị thực tế đền bù. Nếu thiếu một phần thì đền một phần. Nếu không làm gì cả thì đền toàn bộ. Nếu người giữ chùa có ý giữ gìn năm việc trên không thiếu, nếu có bị trộm tài vật cũng không phải đền bù.

Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:

– Thế Tôn đã dạy: – Các Bí-sô phải căn cứ chiều dài khuỷu tay để may y phục.

– Có người thân thể lớn nhưng khuỷu tay ngắn thì có căn cứ khuỷu tay để làm y không?

Phật dạy:

– Nên căn cứ vào kích thước của thân thể, không y vào khuỷu tay.

Tụng thứ mười.

Quần cập tăng khước chi

Hương nê ô y tẩy

Thủ thực trừ đa phần

Tu tri thập chủng trần.

Nội y của Bí-sô dính dầu bẩn, bốc mùi hôi. Họ đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Nên giữ thêm (y phụ).

Tăng khước chi (áo lót) quá dơ làm bẩn cả đại y. Phật dạy:

– Nên giữ thêm áo lót.

Bí-sô lập hội cúng dường bị dầu hương, hương bột, dầu đèn, thấm hư y phục. Phật dạy:

– Nếu dính hương bột thì phải giũ sạch y phục rồi mặc. Dầu hương phải giặt sạch rồi mặc. Dầu làm bẩn phải tẩy sạch bằng tháo đậu nước tro rồi mặc.

Bí-sô thọ thực, thức ăn chưa thọ bị rơi xuống đất, muốn thọ nhưng không có người hành thực. Phật dạy:

– Nên tự lượm lên bỏ bớt phần nhiều mới được ăn.

Thức ăn rơi vào nước canh, nước dùng riêng. Phật dạy:

– Nên sớt phần của bên số nhiều ra, ăn phần còn lại.

Bấy giờ các Bí-sô xếp hàng đi khất thực, thình lình bị gió mưa bụi rơi vào bát, nghi ngại không dám ăn. Có trường hợp ngay khi ăn bụi rơi vào bát. Phật dạy:

– Này các Bí-sô có năm loại trần (bụi):

1- Xúc trần.

2- Phi xúc trần.

3- Tịnh trần.

4- Bất tịnh trần.

5- Vi trần.

Xúc trần đến rơi trên y phải giặt sạch. Rơi vào bát phải múc bỏ rồi ăn. Lại có năm loại trần (bụi):

1- Thực trần.

2- Ẩm trần.

3- Y trần.

4- Hoa trần.

5- Quả trần.

Các loại trần này mắt thấy được thì thọ rồi mới ăn. Nếu không thấy được thì ăn tùy ý.

    Xem thêm:

  • Pháp Thức Căn Bản Của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da Về Yết Sỉ Na Y - Luật Tạng
  • Luật Tứ Phần – Phần 3: Tăng Sự – Chương 8. Ca Thi Na - Luật Tạng
  • Pháp Thức Căn Bản Của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da Về Việc An Cư - Luật Tạng
  • Pháp Thức Căn Bản Của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da Về Việc Xuất Gia - Luật Tạng
  • Luật Tứ Phần – Phần 2: Giới Tỳ Kheo Ni – Chương 3. Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề - Luật Tạng
  • Giới Kinh Căn Bản Bật Sô Ni Của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ - Luật Tạng
  • Bước Tới Thảnh Thơi phần 3 – Các Thiên Uy Nghi - Luật Tạng
  • Luật Tứ Phần – Phần 3: Tăng Sự – Chương 9. Câu Thiểm Di - Luật Tạng
  • Luật Tỳ Nại Da Tạp Sự – Quyển 19 - Luật Tạng
  • Luật Tứ Phần – Phần 3: Tăng Sự – Chương 3. An Cư - Luật Tạng
  • Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma - Luật Tạng
  • Pháp Thức Căn Bản Của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da Về Việc Tự Tứ - Luật Tạng
  • Luật Tứ Phần – Phần 3: Tăng Sự – Chương 6. Y - Luật Tạng
  • Các Cấp Độ Của Giới Pháp - Luật Tạng
  • Luật Ma Ha Tăng Kỳ – Quyển 11 - Luật Tạng
  • Sa Di Thập Giới Nghi Tắc - Luật Tạng
  • Luật Ma Ha Tăng Kỳ – Quyển 03 - Luật Tạng
  • Cương Yếu Giới Luật – Phần 1B - Luật Tạng
  • Giới Kinh Căn Bản Của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ - Luật Tạng
  • Luật Ma Ha Tăng Kỳ – Quyển 34 - Luật Tạng