Kinh Pháp Hoa Tam Muội

Tống Trí Nghiêm dịch

Bản Việt dịch của Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

***

Một thuở nọ, Đức Phật ngự trên núi Kỳ-xà-quật thuộc thành La-duyệt-kỳ cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị đệ tử Tỳ kheo, bảy mươi ba ngàn vị Bồ-tát nhiều không kể xiết, các vị Đế Thích, Phạm vương từ mười phương đến, đều có thần thông nhiệm mầu, lại có người, trời và Bồ-tát ở các phương khác, nhiều như số cát sông Hằng. Trăm ngàn ức hằng hà sa số các vị như thế đều tụ hội đến ngồi trước Đức Phật.

Các vị Bồ-tát như Xá-lợi-phất, Tu-bồ-đề… đều sinh tâm nghi mà nghĩ: “Vì nhân duyên gì mà các bậc Thượng nhân đều đến hội tại nơi này? Có điềm lành khác lạ gì đây?”

Lúc bấy giờ, các đệ tử đều sinh tâm nghi, bèn làm lễ, quỳ thẳng để thưa hỏi Đức Phật. Bấy giờ, Đức Phật phóng ra vô số ánh sáng từ miệng Ngài. Các ánh sáng ấy lần lần tỏa sáng khắp hư không, chiếu xa đến hằng hà sa số thế giới. Mặt đất lại rung động và trong tận cùng dải ánh sáng ấy mọi người không thấy thân tướng Đức Phật. Đại chúng ngạc nhiên bàn luận với nhau: “Đức Phật nhập Tam-muội gì? Và hiện đang ở đâu?”

Mỗi người tự suy nghĩ việc ấy, họ liền trở về chỗ ngồi nhập vào Tam-muội để tìm đến chỗ Phật. Trước tòa ngồi của Phật có vị Bồ-tát tên Tuệ Tướng liền nói:

–Lành thay, lành thay!

Lúc này, các Tôn giả suy nghĩ xong vẫn không biết được chỗ Phật đến, trong giây lát vua La-duyệt, hậu cung, thái tử, hoàng nữ và the nữ phu nhân, có đến ba mươi hai ngàn người, đều theo vua đến núi Kỳ-xà-quật, nhưng không thấy Phật.

Lại có vị Bồ-tát tên Bất Tưởng, hỏi nhà vua sao dẫn theo tùy tùng nhiều thế? Nhà vua tên là Biện Thông đáp:

–Vì thấy ánh sáng của Đức Phật nên họ đến đây.

Công chúa con vua tên Lợi Hành liền hỏi Bồ-tát:

–Hiện giờ Đức Phật đang ở phương nào?

Vị Bồ-tát đáp:

–Vừa rồi đã đi tìm Phật nhưng hoàn toàn không biết chỗ.

Vương nữ đáp:

–Ngài là vị đệ tử thần thông bậc nhất của Đức Phật nên phải biết chỗ Đức Phật đến chứ.

Vị Bồ-tát đáp:

–Xin hãy mời ngồi.

Trong khoảng giây lát mặt đất liền rung động, tự nhiên từ trong đất, Đức Phật ngồi trên tòa sen báu lớn hiện ra. Các bậc Thượng nhân đang ngồi đều ngạc nhiên.

Vương nữ Lợi Hành đứng dậy lễ Đức Phật, đoạn đứng trước Đức Phật nói kệ hỏi Phật rằng:

Vừa rồi thấy ánh sáng

Ngờ Phật có khác thường

Nên dẫn đại chúng đến

Muốn hỏi điều nghi ngờ,

Nhưng lại không thấy Phật

Lòng con rất kinh hoàng

Xin giảng nói con nghe

Khiến đại chúng được hiểu.

Mọi người vào Tam-muội

Tìm cầu thân tướng phật

Nhưng đều nói không biết

Họ bàn luận với nhau

Nên nhập Tam-muội nào

Để cầu ý Như Lai.

Vương nữ hỏi đại chúng

Hiện giờ Phật ở đâu

Con dốc lòng thuần hạnh

Hẳn có điều muốn hỏi

Nguyện Thế Tôn dạy bảo

Khiến tâm hết nghi ngờ.

Xin vì chúng hiện tại

Giảng nói giải thích cho

Tam-muội vừa rồi đó

Tên gì, ở chỗ nào?

Phật bảo vương nữ Lợi Hành:

–Điều nàng hỏi rất sâu sắc, ta sẽ giảng nói giải thích cho nghe. Tam-muội vừa rồi tên là Pháp hoa. Ví như trong nước lớn có một cây, cây có một hoa che trùm tam thiên đại thiên thế giới. Hương thơm của nó xông khắp hằng hà sa số cõi Phật. Nếu có người nghe được danh tự mà hiểu thì tự nhiên mau được Tam-muội này. Nếu những kẻ đau bệnh được nghe pháp Tam-muội này thì ngay đó liền tự giải trừ, các bệnh gốc của con người đều tiêu hết.

Vương nữ Lợi Hành bạch Đức Phật:

–Thế nào là uy đức của hoa mới có tuệ này?

Phật bảo vương nữ Lợi Hành:

–Hoa là sắc của một cây, mọi người nhìn thấy không ai không ưa thích, muốn có được nó thì đó chính là Tam-muội Pháp hoa, là sắc trong sinh tử, ánh sang rực rỡ thọ hữu hình.

Người không biết không nghe, không tin Tam-muội này, không thực hành nó thì chưa xứng là Bồ-tát, chẳng thấy tuệ, mất gốc của con người, trở lại theo ngọn ngành, không bao giờ thấy được ánh sáng.

Vương nữ Lợi Hành lại bạch Đức Phật:

–Bây giờ con muốn được Tam-muội này, phải thực hành pháp nào? Có mấy việc thực hành được đúng? Nguyện xin Phật mở rộng lòng Từ ban ân, rộng bàn nở lối tu hành, khiến cho tất cả nghe hiểu, đều được vào trong Tam-muội.

Phật dạy:

–Lành thay, lành thay! Được độ thoát nhiều, độ thoát hẳn không cùng. Có hai việc. Sao gọi là hai?

1. Biết pháp, thân như huyễn hóa.

2. Biết dâm, nộ, si không gốc không hình. Lúc bấy giờ, Đức Phật nói kệ rằng:

Pháp thân có tất cả

Huyễn hóa hiện nổi chìm

Dâm, nộ, si vô hình

Như nước kia nổi bọt

Quán sát vật trong thân

Như diệt không hình trụ

Tự thanh hợp rồi tan

Phân biệt đều là không.

Phật bảo vương nữ Lợi Hành:

–Lại có bốn việc riêng cho người thực hành Tam-muội, bốn việc ấy là?

1. Thực hành giới vô sắc tưởng.

2. Thực hành bố thí không thọ.

3. Chẳng nhàm chán không loạn động.

4. Thực hành trí không ngu. Đó là bốn.

Lúc đó Đức Phật nói kệ rằng:

Không phạm giới, không hủy

Hành Bố thí không trí

Chẳng chán, không si loạn

Chẳng ngu, không trí tuệ

Không nói không làm lấy

Có làm, không nói theo

Tam-muội có thể vào

Không chỗ, không giữa, bên.

Phật bảo vương nữ Lợi Hành:

–Lại có ba mươi sáu việc nữa. Đó là những việc mà Tam-muội thấy được. Ba mươi sáu việc gồm: Chẳng thấy sinh, chẳng thấy tử, chẳng giảm, chẳng tăng, chẳng ra, chẳng vào, chẳng ở ngoài, chẳng ở trong, không đứng, không dưng, không thủy sắc, không hỏa sắc, không phong sắc, không địa sắc, không đau, không bệnh, không nghĩ, không tưởng, không sinh, không tử, không thức (biết), không tham, không dâm, không sân, không nhuế, không ngu, không si, không san, không thí, không ác, không thiện, không tâm, không ý, không thức hành. Chẳng sinh khởi những sự việc trên, chẳng dứt bỏ những sự việc trên. Như một không hình tượng. Đó là ba mươi sáu việc, là những việc mà Tam-muội Pháp hoa thấy được.

Khi ấy, Đức Phật nói kệ rằng:

Chẳng tưởng niệm, vô niệm

Không theo Sắc tưởng xấu

Không hành Pháp hoa tịnh

Vắng lặng không tôi, ta

Không chỗ có thể vào

Diệt mất không hình tượng

Không thấy thiện và ác

Thảy đều không, tự nhiên.

Phật bảo vương nữ Lợi Hành:

–Những điều mà Tam-muội Pháp hoa thấy được cũng giống như vậy.

Khi Phật nói phẩm Ba Mươi Sáu Việc này thì vô số các vị trời và đại chúng ở thế gian cùng những người theo hầu vua, lớn nhỏ có đến bốn mươi ức vạn, đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chân. Vương nữ Lợi Hành và những người thuộc hậu cung có đến ba mươi hai ngàn thể nữ, phu nhân, đều đắc được “Pháp lạc không từ đâu sinh”.

Vương nữ Lợi Hành trụ trong đó thấy mọi người đều phát tâm đạo, nên lòng rất vui mừng, đứng dậy lễ Phật, đi nhiễu Phật ba vòng, rồi đứng trước Đức Phật nói kệ rằng:

Thế Tôn thật thần diệu

Biết rõ việc ba đời

Dứt cấu uế dâm, nộ

Khai hóa người thế gian

Đều đến thành Vô vi

Vui sướng mới an ổn

Trong trời người như vậy

Mặt đất bị rung động

Ngày nay đại chúng họp

Ức ức trăm muôn ngàn

Tương lai và quá khứ

Hiện tại được tự nhiên

Nguyện được ân rộng khắp

Sức oai thần Pháp hoa

Mọi người trong ba cõi

Đều được Tam-muội này

Khiến con ở thế gian

Thường làm việc Pháp hoa

Khiến đời không già chết

Vui sướng không lo buồn

Ba khổ tự nhiên dứt

Đều như Tam-muội này

Không tưởng bởi nguyện thức

Tự nhiên hiện tướng tốt

Dạy bảo người hèn kém

Tâm Từ ban rải khắp

Uy nghi đẹp rỡ ràng

Ngang bằng thân Như Lai

Nhóm lại thành chùm bọt

Tam-muội sớm tu hành

Liền khiến ở trong không

Được tuệ như Thượng thủ.

Vương nữ Lợi Hành nói kệ xong liền nghĩ: “Nay muốn dạy bảo người mà không thấy phép tắc thì lấy gì khai mở cho người đây.” Phật liền biết ý niệm của vương nữ, bèn hỏi rằng:

–Vương nữ muốn thọ trì pháp gì? Dạy người pháp gì? Người tu hành phải ở tại đâu? Phải dừng lại chỗ nào?

Vương nữ bạch Phật:

–Thưa đó là những điều đã nói: không pháp, không giáo, không người.

Phật bảo vương nữ:

–Không pháp có tám việc phải hành trì. Không giáo có sáu việc phải dứt bỏ. Không người có bảy việc phải xua tan.

Vương nữ hỏi Phật:

–Thế nào là tám việc phải hành trì? Sáu việc phải dứt bỏ? Bảy việc phải xua tan?

Đức Phật dạy:

Thấy chính xác không tà vạy.

Nghe chân thật không nghi đoán.

Thẳng thắn không quanh co.

Nói ngay thẳng chẳng phiền muộn.

Làm chánh trực chẳng mê muội.

Nghĩ chân thật không lo lắng.

Ý thành thật không động.

Thọ nhận đúng không tìm cầu.

Đó là tám việc hành trì của Vô pháp.

Thế nào là sáu việc phải dứt bỏ của Vô giáo?

Chẳng nhớ nghĩ có thấy, không thấy, cả hai đều không.

Chẳng nhớ nghĩ có tiếng, không tiếng, cả hai đều không.

Chẳng nhớ nghĩ có vị, không vị, cả hai đều không.

Chẳng nhớ nghĩ có hương, không hương, cả hai đều không.

Chẳng nhớ nghĩ có xúc, không xúc, cả hai đều không.

Chẳng nhớ nghĩ có ý, không ý, cả hai đều không. Đó là sáu việc phải dứt bỏ của Vô giáo.

Thế nào là bảy việc phải xua tan của Vô nhân?

Không thủy sắc.

Không phong sắc.

Không hỏa sắc.

Không địa sắc.

Không tâm sắc.

Không thức sắc.

Không hành sắc.

Đó là bảy việc phải xua tan. Không người nào có thể dạy được, phải hiểu như thế. Khi ấy Đức Phật nói kệ rằng:

Có ai hiểu Pháp hoa

Phẩm Tam-muội Yếu cú

Phải nhớ nghĩ tinh tấn

Hiểu được lời chân chánh

Bảy, tám, sáu đã đủ

Rễ gốc không hình tướng

Chẳng nhận, tự đáng muốn

Bỏ tưởng, được vắng lặng

Nói pháp, không lời lẽ

Không thấy có tuổi thọ

Người vốn không, vắng lặng

Không hiểu lời bọt bèo

Không dứt, không bỏ dục

Ra vào chỗ không trụ

Không đau, không tư tưởng

Không sinh, không chết đi

Có niệm là khổ nhọc

Không còn đắm nhân duyên

Thị hiện có sắc dục

Trở lại thích tro bụi

Quán thấy có bệnh đau

Ý và gốc hợp nhau

Tuệ thấy chẳng niệm không

Vắng lặng, yên không không

Tam-muội Pháp hoa hiện

Không ra, không vào, trụ

Không thấy, chẳng thấy không

Đó là mau được Như,

Liền thực hành thí pháp

Lấy tuệ để bố thí

Nói tuệ thảy như thế

Các Phật đều ngợi khen.

Khi vương nữ Lợi Hành nghe nói thế, càng thêm vui mừng hớn hở, bèn đứng dậy làm lễ Đức Phật, rồi bay lên hư không cách đất bảy thước, rồi trở về ngồi trên hoa sen bằng kim cương. Khi ấy, trong số người đang ngồi, có vị Tỳ-kheo nghĩ: “Đây là cô gái thật, hay là người huyễn hóa ra.”

Vị Tỳ-kheo này bèn đứng lên làm lễ Đức Phật, rồi quỳ thẳng chắp tay, nói kệ hỏi Phật:

Vốn tự sinh ngu si

Không biết nghĩa đạo tuệ

Chẳng biết nàng Lợi Hành

Thật là gái hay trai,

Xét là nhất định người

Dùng pháp nào để hỏi

Thật là thân người nữ

Lời hỏi sao quá sâu

Suốt đời giữ Phật pháp

Chưa thấy người như thế

Chỗ thấy, phàm không bằng

Trí tuệ sao lắm thay!

Nàng vốn từ đâu đến

Mà sinh nơi Vương gia

Kiếp trước tu pháp gì

Gặp bao nhiêu Đức Phật

Tinh tấn mạnh mẽ thế

Đã hỏi, Phật trả lời

Giới đủ, thật có hạnh

Hỏi được lời như thế

Nhẫn được ý mềm mỏng,

Chỉ có thể miệng nói,

Làm sao dừng tâm ý

Thật muốn đến thử xem

Thích ứng mấy pháp trụ

Trụ đối chẳng khởi tâm

Nếu thật có trí tuệ

Con muốn hiểu cho thông

Xem xét pháp đã nói

Rộng khen vào đạo đời

Nào có tâm ý lạ

Riêng được trí tuệ này.

Đức Phật liền bảo vị Tỳ-kheo: “Từ những nhân duyên ấy”. Rồi nói bài kệ đáp:

Bản tâm của Lợi Hành

Lập đức biết bản xứ

Ở đời đã ngàn năm

Thường tu tập Tam-muội

Tâm hiểu các sắc yếu

Vắng lặng đồng với thiền

Thật là thân người nữ

Chẳng phải hóa hiện ra

Vốn từ cõi Vô sắc

Nay đến thế giới này

Lại tiếp nối bản hạnh

Đã làm, liền lập chánh

Không thân hiện nói tâm

Khắp nghĩ các hạnh Từ

Nghĩ “Pháp – Không” là gốc

Chẳng khởi tướng nhân duyên

Tỳ-kheo chẳng tự hiểu

Lạ sao thân gái này?

Chẳng thấy gốc vô hữu

Lại tự chịu trói buộc

Thiền định muốn bỏ sắc

Lại bị sắc làm loạn

Lìa khổ tránh ba độc

Đã mang ba khổ độc

Ngươi không tự biết thân

Tự cho là thường an

Muôn vật như huyễn hóa

Vào ra không hình tướng

Bốn sắc vốn rỗng không

Tự nhiên chịu hình tướng

Ái tập tự trói buộc

Ôm gốc, khởi ngọn dục.

Lúc bấy giờ tám mươi bốn ngàn vị Tỳ-kheo nghe nói kệ ý giải liền phát tâm đạo Vô thượng chánh chân. Trời người không kể xiết đều đến tung hoa hương thơm cúng dường Đức Phật. Khi ấy, Xá-lợi-phất nghĩ: “Cô gái này quả thật có biệt tài, sao không bỏ thân nữ làm thân nam?”

Phật biết được điều Xá-lợi-phất nghĩ, liền bảo Xá-lợi-phất:

–Ông hãy tự hỏi vương nữ ấy.

Xá-lợi-phất liền hỏi:

–Này Lợi Hành! Vương nữ cùng Đức Như Lai đối đáp việc phi thường, sao nàng không bỏ thân nữ làm thân nam?

Lợi Hành đáp:

–Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Cái cốt yếu của đạo đức là dùng tuệ để khéo thấy, không thấy có bốn sắc là đất, nước, lửa, gió. Năm căn hợp với sáu trần bị suy. Tâm ý thức như huyễn như hóa, xuất nhập không hình tướng, ý si chẳng hết nên đối lập với ba dòng, lại ra nổi chìm, có gì đáng quý? Tuy là hữu lậu dứt hết, kết sử giải trừ nhưng có ý tưởng bất tịnh, không sắc vẫn là ác, ở chỗ khổ mà lại cho là vui.

Xá-lợi-phất hỏi:

–Về cách học Phật nên có lời hủy báng chăng?

Lợi Hành hỏi:

–Này Tôn giả Xá-lợi-phất! Thế nào là hủy báng?

Đáp:

–Một tốt, một xấu đó là hủy báng.

Lại hỏi:

–Chưa hiểu, chưa rõ. Bậc Đại nhân đã nói, chẳng cho nhỏ la nhỏ, lớn là lớn, tốt xấu không hai, như nhau không khác. Hủy báng thân, thân là sắc, hủy báng ý, ý vô hình. Bốn sắc pháp rỗng không, không hình, không tạo tác thì cái gì bị hủy báng?

Đáp:

–Điều vương nữ nói chính là việc mà Bồ-tát Đại nhân thực hành. Vương nữ chưa phải là Bồ-tát, vì sao lại nói việc này?

Hỏi:

–Bậc Đại nhân lấy gì mà lập nên?

Đáp:

–Lấy “Phổ đẳng” làm nên. Sao gọi là Phổ? Dạy bảo mọi người trong mười phương, lìa khổ được đạo, đó là Phổ. Như Hiền giả đã nói thì không nói “Phổ” mà nói về sinh tử siêng năng khổ nhọc vậy.

Vương nữ nói với Xá-lợi-phất:

–Cái gọi là Phổ ấy chẳng thấy có người, không người, có giáo, không giao, có pháp, không pháp để nhớ nghĩ. Đó gọi là Phổ. Không vì thấy khổ sinh tử mà muốn dạy họ khiến họ đắc đạo. Đó gọi là Phổ.

Tôn giả Xá-lợi-phất không còn biện tài nào bắt bẻ lời đáp này nữa. Lúc bấy giờ, vương nữ Lợi Hành làm bài kệ than rằng:

Người bị ba trần loạn

Liền bị sáu suy đắm

Năm ác, mười giặc đối

Ba ách rơi khốn cùng

Mười hai duyên nối liền

Bốn sắc kéo chìm ba

Không hiểu gọi điên đảo

Ngồi chịu không tụ giấu

Vô cớ chìm ba họ

Tự khốn, gieo vực sâu

Giấu kỹ, sợ hai ba

Tự diệt, lại thọ sinh

Dần bị không buộc ràng

Thường mang tưởng bất tịnh

Tự cho là an ổn

Là được chân tự nhiên

Bọn ấy đầy Diêm-phù

Ức ức trăm muôn ngàn

Sở hành khắp mười phương

Chẳng ích cho mọi người

Nếu ai theo thọ, hành

Đều cùng rơi xuống biển

Hãy làm Đại pháp hành

Vào biển khỏi căn dục

Quyết làm biển khô cạn

Nên không trở lại dòng

Về nguồn bỏ nhà dục

Khiến người về quê cũ

Quê cũ tên vô vi

Hiệu là nhà thanh tịnh

Vui sướng lắm vàng ròng

Ra vào đầy ánh sáng

Thường gần vô số Phật

Không ai không khen ngợi

Dùng pháp không, vô hý

Vô tướng, chẳng nguyện thức

Vực sâu do nước biển

Đều lại chẳng đáng nói

Ý rộng khai hóa người

Tự nhiên thường tự an

Chỉ nghĩ các Hiền giả

Tự mình lại không hiểu

Vô cớ tự chịu buộc

Huyễn hóa chịu báo ứng.

Lúc bấy giờ, bốn mươi hai ngàn vị La-hán đều chánh ý ở đệ Thất trụ, tám mươi lăm ngàn vị Đế Thích, Phạm vương đều chứng “Vô sở hành tùng sinh”, sáu mươi bốn ngàn vị Hiền nữ đứng dậy lễ Phật rồi đứng trước Phật nói kệ rằng:

Hôm nay nàng Lợi Hành

Giảng nói chúng con nghe,

Nghe pháp Phật sâu xa

Khiến tâm con khai mở

Thật muốn biết đạo đức

Đều từ đâu mà đến

Nhóm họp hết mọi người

Có công đức mầu gì?

Mà đến cùng đại chúng

Tâm ai cũng kinh ngạc

Ý phục đến vui theo

Theo sở hành dạy trao

Nguyện muốn cầu Đức Phật

Thương xót dạy bảo người

Dốc lòng thọ đại tuệ

Sức thần Phật hóa hiện

Đúng lúc các thân nữ

Trái nguyện, bỏ sắc dục

Bèn muốn làm Sa-môn

Phật biết lòng chúng con

Giác ngộ các đế sâu

Khiến thân như Bồ-tát

Tuyên dương đạo giáo Phật

Sẽ lại chuyển hóa người

Các đại chúng Hiền nữ

Đều đứng trước Như Lai

Trán lạy sát chân Phật

Nguyện được hình dáng Phật.

Phật bảo các Hiền nữ:

–Lời các Hiền nữ nói thật hết lòng “Nay muốn cầu được sở nguyện thì trước phải xin phép cha mẹ, sau đó phải được vua cho phép thì mới đi xuất gia.”

Bấy giờ, các Hiền nữ nói kệ đáp:

Nguyện muốn làm Sa-môn

Trước phải xin cha mẹ

Rồi sẽ xin đại vương

Được phép mới xuất gia

Làm đạo chẳng khổ công

Chỉ cần siêng, mở tâm

Hiểu rõ gốc tâm ý

Tất cả đều bình đẳng

Liền có ý quyết lớn

Tâm hiểu mới đến đạo

Đạo từ tâm kiểu sinh

Chẳng trụ nơi buộc ràng

Hóa đạt xét các kiến

Như tâm lại sinh ra

Từ gốc biết vốn không

Biết đều khổ vô thường

Tâm loạn liền theo dòng

Chỗ thấy sẽ có đối

Chẳng sinh tâm thiện ác

Vậy mới làm Sa-môn.

Các Hiền nữ liền đứng dậy, trở về chỗ cha mẹ, quỳ thẳng thưa với cha mẹ và nhà vua:

–Hôm nay được ân đức của vua mà đến chỗ Đức Phật, được nghe Lợi Hành đáng kính hỏi Phật về pháp sâu xa, muốn cầu đạo vô vi mà hiện thân, và tất cả Đức Phật đã vì giảng nói gốc ngọn của nỗi khổ sinh tử, chỉ vì mê đắm sắc dục, chẳng biết cội gốc đạo đức, do vậy khi vô thường đến phải chịu ba khổ cần. Chúng con nguyện muốn làm Sa-môn, xin cha mẹ cho phép chúng con làm Sa-môn, đắc đạo rồi chúng con sẽ trở về độ cha mẹ.

Cha mẹ nói với các nàng:

–Cầu đạo tự nhiên, mỗi người đều thấy chỗ thuận lợi của mình, cứ theo ý mình mà tu hành, các con cứ đi, chúng ta cũng se đi theo các con. Các con hãy đến thưa với nhà vua, được phép rồi cứ tự tiện ra đi, không cần hỏi chúng ta làm gì.

Các Hiền nữ cúi đầu trước đại vương, rơi nước mắt mà tâu:

–Con người sống trong ba cõi, khổ dục vì sắc tưởng, chẳng được tự tại, vô thường chợt đến, không có ai thay thế nên bọn con gái chúng con cùng thật lòng muốn làm Sa-môn. Khi đạt được đạo vô vi rồi chúng con sẽ trở lại độ cha mẹ. Cúi xin Đức vua thể theo ý nguyện của chúng tôi.

Nhà vua bảo Lợi Hành:

–Ta sớm muốn khuyên các ngươi đi xuất gia thực hành hạnh Sa-môn, nhưng vì các ngươi chưa đủ ba việc nên ta chẳng khuyến khích vậy. Một là chưa học biết các lễ giáo; hai là do thường an vui chưa thấy khổ; ba là miệng ăn thỏa thích mà chưa biết đủ, do đó nên ta chẳng khuyến khích. Nếu các ngươi dốc lòng như thế thì cứ đi xuất gia chớ nghi ngờ gì nữa. Ta cũng muốn làm Sa-môn đây.

Nhà vua liền đứng dậy đến chỗ Đức Phật, làm lễ bạch Phật:

–Nghe Phật giảng nói về ý sâu nguyện lạc của trí tuệ, con giao đất nước cho thái tử, quy y Tam tôn, hầu hạ phục dịch, thọ trì giáo pháp, con muốn làm Sa-môn, cầu đạo như Đức Phật.

Đức Phật liền phát ra ánh sáng, vô vàn màu sắc, soi khắp mười phương, mặt đất rung động sáu cách, các vị trời tấu nhạc vang lừng hư không, tung hoa quý phủ khắp ba ngàn cõi, gò nỗng trong thiên hạ đều bằng phẳng. Có ngọn núi lớn hóa thành vàng ròng, cây chết khô sống lại. Ai có điều gì không vừa lòng đều được như nguyện ước. Cây khô chết đều đâm chồi lá. Gió thổi tự nhiên đều ca ngợi công Đức Phật, hoa tươi tự rơi rụng, mùi hương xông đến chỗ Phật, la liệt trong không trung, mỗi bông hoa đều nói kệ khen ngợi công Đức Phật:

Nay nhờ sức Thần thánh

Cứu người chết sống lại

Sắc sáng trở về gốc

Lại thật, đạo này thành

Sinh tử dâm loạn sắc

Ví như khi cây khô

Gặp âm thanh Phật nói

Trở lại hợp với gốc

Sáu sắc chìm trong tối

Bốn sắc hợp năm dục

Phân biệt “Pháp rỗng không”

Hiểu đạo, thành pháp hạnh

Là được trí chân định

Được vui sướng an ổn

Tất cả đều vui mừng

Cúi đầu lễ chân Phật.

Lúc bấy giờ, các vị đã chứng được sáu thần thông và các vị La-hán thấy các bông hoa nói thế. Lợi Hành liền hóa thành người nam, lại hóa thêm một nữ Bồ-tát, thực hiện hai biến hóa ấy khiến mọi người ngồi trong hội đều vui mừng.

Khi ấy, trong một cõi Phật không có người nữ, mười lăm ngàn vị Đạo sĩ đã chứng được sáu thần thông, ba mươi ngàn vị Tu-đà-hoàn đều không còn lui sụt, tám mươi sáu ngàn vị A-na-hàm đều chứng được Nhu thuận pháp nhẫn. Không thể tính kể các vị A-la-hán lại phát tâm đạo Vô thượng chánh chân. Trong số ấy có những người theo hạnh Bích-chi-phật, như ngài Di-lặc… Nhà vua liền giao đất nước cho thái tử, thái tử tên là Biện Tích quỳ lạy thưa vua:

–Phụ vương vì muốn đem ương họa cho con cháu nên cho con cháu phước sắc thân, đổi lấy lợi ích pháp tài, giữ cái tội lớn oán thù tru diệt cho con cháu, phép trị của nước lớn đời đời tan mất, căn người chẳng biết đại tuệ, diệt hết đường lành mà cho con cháu thì phải làm sao đây? Vua cha có dạy không được chẳng vâng lời.

Rồi liền làm lễ, giã từ vua ra đi. Thái tử trở về cung điện, lãnh đạo đất nước rồi báo cho toàn dân biết: “Nếu ai không đến chỗ Phật cầu đạo vô vi, làm người hiếu thiện thì tội đồng như ba nghịch tội.”

Rồi thái tử ở trên điện, tinh tấn mạnh mẽ, mở rộng ý đại đạo, tâm thấy gốc tội cũng vô lượng, liền diệt được tất cả điều ác, mặt đất liền rung chuyển sáu cách, nhân dân đều nói: “Nguyện thái tử được thành Phật, mọi người chúng ta vâng làm theo rồi cũng sẽ thành Phật.” Khi ấy, Đức Phật mỉm cười, ánh sáng năm màu phát ra soi khắp các cõi Phật mười phương. Nhân dân ở các cõi Phật đó đều phát nguyện: “Khiến cho chúng con đắc đạo như Phật”. Thức uống ăn trong thiên hạ tự nhiên ở trước mặt như trên tầng trời Đao-lợi. Bồ-tát ở cõi ấy đều như ở cõi nước của Đức Phật A-di-đà. Thái tử Biện Tích đắc công đức ở trong cung bảy ngày, rồi đi đến chỗ Phật. Đại chúng các quan, nhân dân lớn nhỏ tháp tùng theo thái tử đến chỗ Phật nhiều vô số.

Họ làm lễ Đức Phật rồi đứng trước mặt Phật nói ức ức muôn ngàn bài kệ khen:

Phật tạo Tam-muội quyết

Công đức thật vòi vọi

Ánh sáng uy thần chiếu

Cảm động ba ngàn cõi

Cho người tuệ Vô thượng

Đức vào khắp tâm chúng

Khai phát kẻ sơ cơ

Không ai không được phước

Ngâm vịnh việc Pháp hoa

Đổi đời, sạch bọn khác

Hàng phục kẻ ngang bướng

Hòa hợp chịu nhu thuận

Đều tìm ánh đạo tràng

Người đời thọ nghiệp mãi

Bỏ già, được vắng lặng

Chẳng chết mà sống lại

Dứt bệnh, xa nhục dơ

Sắc tưởng hết, dứt nhọc

Ấm cái liền diệt trừ

Thanh tịnh không bụi dục

Tư tưởng được dục định

Truyền bá đến vô vi

Không định thường vắng lặng

Chẳng đứng, cũng chẳng đi

Chẳng làm vô pháp thức

Thị hiện tướng sáng thành

Pháp gốc không tăng giảm

Thường vắng lặng không không

Như Lai hiện thần hóa

Tất cả được đạo chân

Định ngu si lặng lẽ

Tâm đồng với vô sinh

Nay con nghe nói pháp

Về trí tuệ Pháp hoa

Tâm hiểu được phát nguyện

Tất cả được như Phật

Nay muốn thành cõi nước

Nguyện được nói Pháp hoa

Dùng pháp gì hành được?

Sẽ hiểu được mấy việc?

Chóng được Pháp hoa này

Nương nghĩa nói tuệ ấy

Đều khiến phân biệt biết

Tất cả tâm được hiểu

Hiểu rõ các Pháp sự

Sẽ từ trong được ngoài

Được đó là xa gần

Có thể lập được Phật.

Lại nữa số kiếp xưa

Theo thọ bao nhiêu Phật

Giải tuệ có yếu quyết

Giây lát biến hóa thành

Nguyện đem hết giảng nói

Đều khiến đại chúng biết

Thái tử và mọi người

Lễ Phật rồi lại ngồi.

Đức Phật bảo vương nữ Lợi Hành:

–Vương nữ nên biết những điều hiện bày ra do sự khai giải Pháp hoa này. Chư Phật đời tương lai, quá khứ và hiện tại đều từ phẩm Tán Thân Thí Dụ này mà được Đạo, biết Đế.

Lúc bấy giờ, có hàng ức trăm ngàn vị trời và các Phạm vương, không thể tính kể nhân dân, bốn mươi tám muôn vị Bồ-tát… chứng được Vô sở tùng sinh. Trong số ấy có hàng Thanh văn đều cũng phát tâm. Bấy giờ, Bồ-tát Bất Tưởng bạch Phật:

–Hôm nay đại chúng nghe giảng nói về sự quan trọng của Tam-muội Pháp hoa nhưng đều chưa thọ quyết.

Phật bảo Bồ-tát:

–Hôm nay nói Tam-muội Pháp hoa đều đã thọ quyết có kiếp số. Mỗi mỗi đều có đất nước, nơi chốn của mình, cho nên không nói lại. Nếu ông không hiểu thì tự mình đến hỏi họ.

Khi ấy, thái tử và vương nữ Lợi Hành liền hỏi những điều trong tâm vị Bồ-tát, mỗi vị đều nói kệ đáp:

Chỉ bậc Thượng trí tuệ

Vì sao chẳng giải yếu?

Kia có cầu tưởng báo

Thảy đều chẳng thọ tuệ

Sẽ nói có nơi chốn

Chẳng phải việc Pháp hoa

Cần phải miệng nói lên

Muốn nghe tiếng chánh chân

Không hiểu gốc ngọn ấy

Nói cũng đều không biết

Chỉ bày đường đạo pháp

Giống như người bị mù

Tiếng rống của sư tử

Còn cho là quá nhỏ

Thọ quyết rồi, thành Phật

Không biết lễ chánh đạo

Thọ quyết có đất nước

Ví cũng như huyễn hóa

Có đối liền xuất ứng

Không còn sớm suy nghĩ

Thấy bám trụ giáo thọ

Đến khứ, lai, hiện tại

Thần thông đều rõ biết

Chẳng cầm có lời nói

Thọ quyết tại rỗng không,

Vắng lặng an vô vi

Thường định không lay động

Người riêng tư chẳng hay

Mở nói điều chưa nói

Vắng lặng không tạo tác

Đó là nước đáng yêu

Thanh tịnh là chứng chân

Chẳng nghĩ có tư tưởng

Đó là quyết pháp an

Tướng tốt hiện ánh sáng

Đó là cần khổ hiện.

Đệ tử có nhân dân

Đó là vào dục nhơ

Chẳng khổ, chẳng siêng nghĩ

Đều hết, chẳng sinh diệt.

Nói mười tám muôn ức bài kệ để đáp như thế xong, Bồ-tát liền vui mừng nói kệ khen:

Ta tự sinh ngu si

Không hiểu lời người trên

Chẳng biết Pháp âm kia

Lại bảo chưa thọ quyết

Như kệ hôm nay nói

Sâu xa khó tỏ bày

Nguyện phát ý bản thời

Cùng bàn luận với thần.

Khi ấy, thái tử bạch Phật:

–Nay các Hiền giả còn không hiểu được chỗ quan trọng nên dùng phương tiện khéo léo mà khai mở cho họ.

Phật liền mỉm cười, ánh sáng năm màu từ miệng phát ra, mười phương đều sáng tỏ.

Tôn giả A-Nan bạch Phật:

–Phật không bao giờ mỉm cười một cách vô cớ, chắc chắn là có lý do, chúng con xin được nghe điều ấy.

Phật bảo A-nan:

–Ông thấy đại chúng chăng?

A-nan đáp:

–Dạ, thấy.

Bấy giờ, Như Lai hỏi A-nan đều đáp đầy đủ. Mỗi mỗi tại mười phương giáo hóa, độ thoát hằng hà sa số trời người, nhân dân… đều giúp họ thành Phật.

Lúc bấy giơ, tự nhiên mưa hương hoa bảy báu trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, giáp vòng khắp nơi không chỗ nào không có. Phật bảo thái tử:

–Đây là điều Pháp hoa giải thích. Việc của thân người là như thế.

Lúc bấy giờ, hàng trăm ngàn nhân dân nhiều như số cát sông Hằng không thể kể xiết đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chân, chứng được tâm không từ đâu sinh. Vô số ngàn vị Thanh văn đều đắc quả vị không thoái chuyển.

A-nan quỳ thẳng bạch Phật:

–Kinh này tên là gì? Phải thực hành như thế nào?

Phật bảo A-nan:

–Kinh tên là Pháp Hoa Tam-muội, hoặc tên Nữ Lợi Hành Sở Vấn Giải Nhân Thân Tán Tình Kinh Yếu Tập. Nếu có kẻ nam, người nữ chép thành sách, đọc tụng kinh này thì công đức lớn hơn kẻ làm bố thí trong tám mươi kiếp. Nếu đối trước kinh cúng dường quỳ lạy thì hơn công đức của Bồ-tát tu hạnh Từ bi ba ngàn ức muôn kiếp. Nếu hiểu thấu đáo kinh này rồi xoay vần dạy bảo nhau thì công đức hơn việc cúng dường các Đức Phật nhiều như số cát sông Hằng. Nếu có ai một lần được nghe kinh này thì không còn sinh tử đau khổ nữa. Kẻ không tin mà còn hủy báng thì họ phải trôi theo dòng đời, không trở về cội gốc được.

Phật bảo A-nan:

–Ta giao phó cho ông việc Pháp Hoa Tam-muội, ngàn kiếp còn chẳng thể hết được. Ta đã nói sơ về yếu đế, ngươi thọ trì, viết chép, thực hành, không được bỏ bớt một chữ, chính kinh câu cú hòa hợp nhau.

Đại chúng đi theo thái tử được khai giải, mỗi người đều được đạo tuệ, đều như bậc Thượng thủ. Tất cả đứng dậy làm lễ Đức Phật mà lui ra.

    Xem thêm:

  • Phẩm Đại Oai Đức Tối Thắng Kim Luân Tam Muội Chú Kinh Đà La Ni Đại Phật Đỉnh Như Lai Phóng Quang Tất Đát Đa Bát Đát La Đại Thần Lực Đô Nhiếp Nhứt Thiết Chú Vương - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 1 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Nguyệt Ðăng Tam Muội - Kinh Tạng
  • Kinh Na Tiên Tỳ Kheo - Kinh Tạng
  • Kinh Nhân Quả Trong Đời Quá Khứ Và Hiện Tại - Kinh Tạng
  • Kinh Quán Phật Tam Muội Hải - Kinh Tạng
  • Kinh Tự Thệ Tam Muội - Kinh Tạng
  • Kinh Như Lai Độc Chứng Tự Thệ Tam Muội - Kinh Tạng
  • Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya) – HT Thích Minh Châu dịch (trọn bộ) - Kinh Tạng
  • Kinh Cựu Tạp Thí Dụ - Kinh Tạng
  • Kinh Trung Bộ 133 – Kinh Ðại Ca Chiên Diên Nhất Dạ Hiền Giả (Mahàkaccànabhaddekaratta sutta) - Kinh Tạng
  • Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ - Kinh Tạng
  • Kinh Tâm Phật - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn - Kinh Tạng
  • Kinh Hoa Chánh Pháp - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Bát Nê Hoàn - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Bản Hạnh Tập Phẩm 11 Đến Phẩm 20 - Kinh Tạng
  • Kinh Bồ Tát Bản Duyên - Kinh Tạng