Kinh Phật Thuyết Hiền Giả Ngũ Phước Đức

Phật Thuyết Hiền Giả Ngũ Phước Đức Kinh

Tây Tấn Bạch Pháp Tổ dịch

Bản Việt dịch của Thích Hạnh Tuệ

***

Nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ.

Đức Phật bảo các vị Tỳ Kheo:

“Khi hiền giả thuyết pháp có được năm phước đức. Sao gọi là năm?

– Phước đức thứ nhất: Người ấy lúc sống được trường thọ.

– Phước đức thứ hai: Người ấy lúc sống được giàu có, nhiều tiền, nhiều của.

– Phước đức thứ ba: Người ấy lúc sống được đoan chánh không sánh được.

– Phước đức thứ tư: Người ấy lúc sống được tiếng khen xa nghe.

– Phước đức thứ năm: Người ấy lúc sống được thông minh, đại trí.

1. “Do đâu hiền giả thuyết pháp được trường thọ? Do đời trước lúc thuyết pháp, điều nói trước cũng thiện, điều nói giữa cũng thiện, điều nói sau cũng thiện. Điều nói ấy đầy đủ ý nghĩa, quy về chỗ tịch lặng, vô vi. Kẻ hiếu sát nghe pháp này liền dừng lại không sát hại nữa. Do vậy mà được trường thọ.

2. “Do đâu người thuyết pháp được giàu có, nhiều tiền, nhiều của? Do đời trước lúc thuyết pháp, điều nói ở trước, giữa, sau đều đầy đủ ý nghĩa, quy về chỗ tịch lặng, vô vi. Kẻ trộm cắp nghe được Kinh liền dừng lại không trộm mà còn bố thí. Do vậy được giàu có.

3. “Do đâu người thuyết pháp được đoan chánh không sánh được? Do đời trước lúc thuyết pháp, điều nói ở trước, giữa, sau đều đầy đủ ý nghĩa, quy về chỗ tịch lặng, vô vi; khiến cho người nghe pháp an lành, hòa diệu, sắc mặt vui vẻ, tự sinh mừng rỡ. Do vậy mà được đoan chánh.

4. “Do đâu người thuyết pháp được tiếng khen xa nghe? Do đời trước lúc thuyết pháp, điều nói ở trước, giữa, sau đều đầy đủ ý nghĩa, quy về chỗ tịch lặng, vô vi; khiến người nghe pháp kính Phật, kính Pháp, kính Tỳ kheo Tăng. Do vậy mà được nghe danh.

5. “Do đâu người thuyết pháp được thông minh, đại trí? Do đời trước lúc thuyết pháp, điều nói ở trước, giữa, sau đều đầy đủ ý nghĩa, quy về chỗ tịch lặng, vô vi; khiến người nghe pháp thấy rõ trí tuệ tuyệt diệu. Do vậy mà được thông minh, đại trí.”

Đó là năm phước mà người thuyết Kinh có được phước ấy.

Các vị Tỳ kheo nghe Kinh này rồi vui mừng, đối trước Đức Phật đảnh lễ.

    Xem thêm:

  • Kinh Trung Bộ 113 – Kinh Chân Nhân (Sappurisa sutta) - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Ha Điêu A Na Hàm - Kinh Tạng
  • Kinh Trung Bộ 30 – Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Cùlasàropama sutta) - Kinh Tạng
  • Kinh Thọ Trì Danh Hiệu Bảy Đức Phật Sanh Ra Công Đức - Kinh Tạng
  • Kinh Trung Bộ 29 – Ðại Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Mahasaropama-sutta) - Kinh Tạng
  • Kinh Thất Tri - Kinh Tạng
  • Phật Thuyết Công Đức Của Tu Lại - Kinh Tạng
  • Kinh Những Điều Trái Nghịch Của Ma - Kinh Tạng
  • Bài Kệ Ca Ngợi Đức Phật A Di Đà - Kinh Tạng
  • Đại Thánh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Tán Phật Pháp Thân Lễ - Kinh Tạng
  • Kinh Pháp Ðúng, Pháp Sai - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Trưởng Giả Nữ Yêm Đề Giá Sư Tử Hống Liễu Nghĩa - Kinh Tạng
  • Kinh Thụ Thập Thiện Giới - Kinh Tạng
  • Kinh Chú Đà La Ni Kim Cang Bí Mật Thiện Môn - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Đà La Ni Thần Chú Cứu Ngạ Quỷ Diện Nhiên - Kinh Tạng
  • Kinh Văn Thù Sở Thuyết Tối Thắng Danh Nghĩa - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 07 – Tán Tụng - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Tội Nghiệp Báo Ứng Giáo Hóa Địa Ngục - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện - Kinh Tạng
  • Kinh Phát Giác Tịnh Tâm - Kinh Tạng