Con tạo xoay vần
Cậy nhờ ánh sáng Từ BiMong rằng giảm bớt, Sân Si đoạ đàyKhông còn Tham Hận đắng cayThân Tâm An Lạc... cả ngày lẫn đêm...
Cuộc sống cứ trôi êm đềmMỗi năm ta...
Bây giờ hoặc không bao giờ
..Những lúc sống xa gia đình
Chợt thấy lòng nghìn nỗi nhớ
Mà không hiểu sao duyên cớ
Khi gần chẳng muốn chào nhau.
Hôm nao nhuốm bịnh nằm đau
Mới biết một điều giá trị,
Vậy mà trước đây...
Cõi không hoa
Khi đang ngủ nếu như không thức dậy
Đừng buồn lo xin hãy cứ mừng đi
Vì đời ta chẳng có một thứ gì
Ngoài Phật Pháp chẳng còn chi mong cả .
Được như vậy không có gì hơn cả
Ta muốn đi...
Hãy gọi đúng tên tôi
Đừng bảo ngày mai tôi đã ra đi
Bởi vì chính hôm nay tôi vẫn còn đang tới
Hãy ngắm tôi thoát hình trong từng phút từng giây
Làm đọt lá trên cành xuân
Làm con chim non...
Kiến và chim bồ câu
Một hôm trời nóng nực
Kiến thở than buồn bực
“Chao ơi! Khát quá lâu
Biết kiếm nước nơi đâu
Thân tôi mệt xiết bao
Không đi nổi nữa nào!”
Kiến bò quanh tìm nước
Chợt nghe ở phía trước
Tiếng nước...
Trên đỉnh Yên Tử
Bao kiếp người châm nhang vào mây trắngNắng chùa Đồng thường trụ cõi trôi bayĐời mỏi rã những bước chân giả tạmNeo vào đâu thành cõi thực nơi này?
Ta bồng bềnh trôi...
Hiềm hận và bao dung
Không thắng cũng không thuaChặn ngăn ngay nghiệp dữKhông giặc cũng không vuaBiết khoan dung là đủThù địch, không thân thiệnBuông đi, chớ ôm mangĐáp trả hay tranh kiệnKhổ đau tự buộc...
Con cần cha vì cuộc đời quá ngắn
Cho con về dưới bóng gầy nương náu
Chiếc nón cha che mưa ngày thơ ấu
Hóa mặt trời soi lối tháng năm xanh
Những cái cây đang mùa rụng lá
Rơi ngập ngừng dưới hiên nhà cha
Bàn...
Khuyên thiện tín
Hỡi thiện tín các miền tịnh xá!
Rán giữ tròn bổn phận cư gia
Đồng tâm xây dựng chữ Hòa
Thương nhau như thể một nhà vui tươi
Giữa rừng khổ ta người Cực Lạc
Nẻo tử sanh thấm...
Về lại nguồn chân
Sẽ chẳng bao giờ nguôi khát khao
Nếu lòng ta mãi cứ lao xao...
Đi tìm nước biển hòng vơi khát
Hạnh phúc đã ngầm ôm đớn đau!
Sẽ chẳng khi nào thỏa ước mong
Bao người đã đến...
Hai bài thơ về Phật giáo của nhà thơ Hải Như
Ông từng đảm trách Thư ký tòa soạn Báo Sông Lô - quân khu 10 Việt Bắc 1947; tham gia lớp báo chí cách mạng VN đầu tiên - khóa Huỳnh Thúc Kháng 1948...















