Luận Về Nhơn Duyên Bích Chi Phật

Bích Chi Phật Nhơn Duyên Luận

Thất dịch

Bản Việt dịch của Thích Như Điển

***

QUYỂN THƯỢNG

Vua nước Ba La Nại có nhân duyên gặp Bích Chi Phật.

Phụ Tướng Tô Ma cũng có duyên gặp Bích Chi Phật.

Các vua và các vị Trưởng Giả tại nước Ba La Nại có duyên với các vị Bích Chi Phật.

Quy mạng tất cả trí Thế Tôn

Rõ biết ba đời ánh đèn sáng

Quy mạng vô thượng cho pháp yếu

Và lại gặp được chơn Thánh Tăng

Ta nghe tịch tĩnh Bích Chi Phật

Hiểu rõ nhơn duyên chỗ sở hành

Tâm chẳng vết nhơ bởi phiền não

Lành giữ giới cấm hay thanh tịnh

Giống như trời thu không mây che

Không sợ che lấp bởi rừng rậm

Ta nay khát ngưỡng công đức ấy

Thành tâm kỉnh thuận, sanh tin vui

Tuy nơi chỗ kia muốn hoài nghi

Lực kia cảm tu thêm tin mạnh

Nghe thuần nhanh được hạnh chơn thật

Mà chẳng sanh nơi tâm tín kính

Ta nay sẽ nói Bích Chi Phật

Công đức diệu hạnh một phần nhỏ

Xưa từ các Tổ nghe lại được

Chỉ nói chánh văn, không nói dối

Voi lớn đi đường voi nhỏ theo

Cho nên ta nay khai hiển thị.

Hỏi rằng: Bích Chi Phật lấy nhân duyên nào mà giữ được sự yên tĩnh, sợ nhập vào tâm xã, vẫn ở nơi rừng cây u tịch; nơi bờ sông vắng lặng để tâm thực hiện việc yên tĩnh ấy. Lại chẳng nói lời nào, giống như con Tê Giác một sừng, làm sao lại như thế được ?

Lại hỏi: Bích Chi Phật có công đức gì ?

Đáp rằng: Gồm các bậc Thầy xưa đã nói về việc nầy.

Ngày xưa khi Phật ở tại cung điện cõi trời thứ 33 để thuyết pháp và sau đó muốn xuống lại cõi Diêm Phù Đề.

Lúc bấy giờ Đế Thích ra lịnh cho Tỳ Thủ Yết Ma rằng: Vì Phật mà tạo ra 3 con đường quý để trở về Diêm Phù Đề. Ba con đường bực thang nầy nối xuống nước Tăng Thi Sa. Như Lai lúc bấy giờ từ cung điện ở cõi trời kia lên thang ấy mà xuống. Lúc bấy giờ Thích Phạm Thiên Vương cùng với quyến thuộc mưa hoa cúng dường. Lúc ấy Tỳ Kheo Ni Liên Hoa thấy Phật xuống trước, tức thời biến hóa làm chuyển luân Thánh Vương, hình tướng uy nghi, bảy báu đeo khắp. Bấy giờ mọi người thấy việc như vậy tất cả đều sanh nghi là việc chưa từng có mới nói lên lời rằng: Chắc có vị nào dùng thần lực siêu tuyệt hơn được vị Tỳ Kheo Ni kia chăng ?

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn thấy mọi người đều thấy 3 con đường bằng nấc thang ấy sanh ra thích thú, đồng thời cũng lại thấy Tỳ Kheo Ni Liên Hoa tạo ra thần biến nầy nên nhiều người sanh khát ngưỡng. Vì muốn để cho tín tâm kia tin tưởng, liền bảo rằng: Có Bích Chi Phật có thần lực cao siêu hơn vị Tỳ Kheo Ni nầy. Tên tuổi hơn kia, liền có người thích như Phật chưa xuất thế, liền ra đời để vì các chúng sanh mà làm việc lợi ích. Để chỉ bày sắc tướng nầy nên hiện ra sự đói khát, thọ nhận y thực. Vì tạo ruộng phước để trang nghiêm các pháp hành. Vì thanh tịnh tịch diệt và điều phục ly dục để làm cho chúng sanh được thấy điều ấy và kẻ có tâm ác liền xa rời dao gậy, giống như con Tê Giác gặp một việc nhỏ vậy.

Các Sư truyền với nhau nghe về việc nầy. Nghe việc gì vậy? – Ta từ xưa đã từng nghe rằng lúc Phật Ca Diếp có người xuất gia, sống đến 10.000 tuổi tu hành phạm hạnh và hộ trì chánh giới. Tu hành nhẫn nại trải qua thường hay siêng năng trong việc tu hành. Do vậy có nhiều vị Tỳ Kheo hay đến gần gũi. Lúc ấy các vị Tỳ Kheo mới bảo nhau rằng: Tu sẽ được dạy, sẽ được học hỏi. Tâm của những vị Tỳ Kheo nầy đều dịu dàng nhưng cũng có vị ồn ào nên chẳng thấy được chân lý. Lúc lâm chung liền nghĩ rằng: Ta đã thấy 10 lực và chỗ thuyết pháp nầy thật là vi diệu sâu xa, khó có thể nghe được; nhưng ta được nghe. Còn nếu phóng dật thì chẳng thể được đạo quả. Ta thường hay thanh tịnh trì giới và hay hành hạnh nhẫn nhục và giáo hóa chúng sanh, xem việc ồn ào ấy làm xâm hủy định tâm, giống như sương kia che mờ làm hại những cây lúa tốt. Cho nên làm cho ta chẳng được đạo quả. Sau đó liền nói kệ rằng:

Ta nay chìm ba cõi

Ở trong các phiền não

Giống như voi già suy

Chưa lún vào bùn sâu

Như Bích Chi Phật kia

Gặp nơi núi rừng ấy

Giống Tê Giác một sừng

Xa rời các đồ chúng

Như rời ngọn lửa mạnh

Hãy nên gấp tu hành

Xa rời nơi ồn ào

Nguyện ta sẽ xa lìa

Đồ đảng tập náo kia

Phát lời thệ nguyện nầy klhi mệnh chung thì sanh Thiên và ở trên cõi trời ấy hưởng thọ dục lạc. Khi phước hết rồi lại sanh vào nước Ca Thi; tại thành Ba La Nại kia có vị đệ nhất phu nhân của vua Phạm Ma Đạt kia mang thai thì liền nhập vào thai trong thân thể của phu nhân; giống như trong ao nước trong lại có hoa mềm mại. Lúc ấy phu nhân biết mình có thai; nên dùng kệ thưa với vua:

Ta cảm đã có thai

Vui mừng sanh lo lắng

Đây chắc là con trai

Tuyên xá các tội nhơn

Vua nghe thật hoan hỷ

Liền tìm người bị tội

Lại còn thưa vua rằng

Muốn bố thí rộng rãi

Vua nghe cũng mừng theo

Cho mở các kho thóc

Cấp cho người nghèo khó

Chẳng ai không đầy đủ

Lúc ấy phu nhân sanh Thái Tử rồi, đoan chánh đẹp đẽ, giống như trăng tròn. Cho đến năm 8 tuổi thật thông minh nhân từ; khi vua ấy băng hà, người trong nước yêu mến thương tiếc đầy khắp; lúc bấy giờ có vị Phụ Tướng gọi là Ngôn Thuyết. Vị nầy liền đưa Thái Tử lên ngôi vua. Chỉ một năm sau, theo bổn nguyện lực mới chẳng làm các việc ác, thể tánh hiền lành và có tâm thương cảm đến tất cả chúng sanh sâu xa. Chỉ muốn ở yên lặng nơi vương cung và dùng nhà hoa như là chỗ ở. Lại chỗ ồn ấy tu tập thiền định, muốn lìa sanh tử, nói lên điều nầy. Dùng đạo tu tâm, lìa bỏ việc vua, các Thần khuyên rằng: Bây giờ Đại Vương chỉ lo hành đạo, chẳng lo việc nước. Nếu mà như vậy các bọn ác có thể nổi lên và làm bại cho phong hóa chánh đáng. Giống như qua biển, nếu không có người lái đò, tất sẽ có nạn dữ sẽ xảy ra. Liền nói kệ rằng:

Vua thừa kế Tổ Tiên

Đất đai được như pháp

Tuy cai trị vạn dân

Nguyện mở bỏ nước kia

Nếu vua trị chánh pháp

Người hiền không ít đi

Ngôi vua nên rõ lớn

Hộ quốc phước hơn cả.

Lúc ấy vị vua nầy nghe lời ấy rồi, than thở suy nghĩ và liền đáp lại kệ rằng:

Nếu ta chẳng trị nước

Nước ta ắt phải mất

Lực ta hay giữ nước

Kẻ ác khó xâm hại

Nếu ta kẻ trị nước

Việc vua ở tâm ta

Nếu có kẻ phạm tội

Tất nhiên thêm, hay bớt

Lời nầy trói buộc kia

Chặt đứt tay chân kia

Kia phải vào tội chết

Kia muốn trốn mắt nầy

Như đời ác bây giờ

Nên phải giữ hình phạt

Nếu hành hình kẻ tội

Tức là Chiên Đà La

Liền đó vua bảo với các cận thần rằng: Bây giờ các ngươi hãy nghe đây: Chỗ ta ăn uống không quá nhiều mùi vị; chỗ ta ăn mặc cũng không quá một bộ quần áo. Chỗ ngồi của ta cũng không quá một chỗ dung thân. Từ đó mà nhìn, cần làm gì cho nhiều mà chẳng biết đủ. Ngôi vua chỉ là tôn hiệu. Lấy điều nầy để dạy dỗ làm cho những việc làm ấy cũng chỉ là những chuyện khuyên răn. Duy chỉ có điều nầy nên giữ gìn cho chúng dân. Lại bảo vị Phụ Tướng rằng: Vua tuy là chỗ trọng; nhưng ta chỉ có một điều nầy, là ta bây giờ sẽ giao cho ngươi ngôi vua và nhà ngươi nên vì đời sau và lấy chánh pháp mà trị nước, để ngăn ngừa những giặc giả khi xưa còn lại và liền nói kệ rằng:

Ta tuy sanh vương cung

Nhận lãnh của Tổ Tiên

Nhưng ta chưa hề học

Giết chóc những tội lỗi

Bây giờ ta quá sợ

Chẳng nên tạo nghiệp nầy

Ngươi nên thay cho ta

Thường vì dân dạy dỗ

Người đời vì ngu si

Mỗi tự tạo đều sai

Do ở nơi phạm tội

Lại sanh sự lo sợ

Ngươi nên lấy chánh pháp

Chỉ bày cho, đừng sợ

Hãy nương vào chánh pháp

Chỉ bày cho dân chúng

Lúc vua nói kệ xong, liền giao nước cho vị Đại Thần và vị Đại Thần liền được nước. Trong 2 năm liền chẳng có bố thí cho dân chúng. Tâm ý lung lạc tạo ra các việc phi pháp, trải qua lâu dài và nhờ ở chỗ quyền cao chức trọng cho nên sinh ra kiêu mạn, phóng dật, làm các việc phi pháp nhiều như sông núi, gây ra nhiều tổn hoại. Thâu tất cả các loại thuế trong thành. Lúc ấy những người trong thành đều can ngăn về việc nầy. Vua nghe lời nói thẳng kia liền sanh sân hận gấp bội, liền đổi sắc mặt mà nói rằng: Các ngươi tại sao dám nói những lời như thế! Các ngươi không sợ uy quyền của vua sao.

Do việc làm nầy mỗi ngày mỗi tăng thêm như lửa gặp củi khô, chuyển lại cháy lớn. Hoang dâm bạo loạn, trái lẽ nghịch đạo. Vua chỉ mê người nữ lại còn xâm phạm tiết trinh. Lúc ấy phu nhơn của vua thấy vậy liền áo não khóc lóc mà đến tâu vua; nhưng vì tâm si cao ngạo, miệng mấp máy chẳng nói lời nào, giống như trẻ thấy. Do việc nầy mà hướng về vua nói. Vua nghe điều ấy rồi liền bảo đến mà nói rằng: Ta đã làm cho hậu thường ẩn nhẫn và hay làm việc phi pháp, làm hại cho vạn dân, mà vua thì phải giáo huấn, từ rày chí sau liền chẳng như vậy.

Lúc đó vị Phụ Tướng kia thấy vua vẫn còn nghi ngờ điều nầy nên làm dân xa bỏ; lại liền bỏ nước ra đi đến nước kia và gặp vị vua nọ cùng với quân lính ở đó, rồi cùng hướng về quê hương muốn đem quân chinh phạt. Lúc ấy tại bổn quốc có các vị cựu Phụ Tướng dùng binh đánh ngược phá lại quân nầy và sanh ra đâm chém với nhau. Các cựu Phụ Tướng lại tâu với vua rằng: Người kia muốn xâm lược và chiếm cứ ngôi vua, tức liền cùng với vị tướng kia nghinh chiến chỗ vua. Lúc ấy vua biến sắc và liền hiện ra sự xấu hổ và hiện tướng sợ hãi. Vua nói: Thật kinh quá cho sự sanh tử, liền nói kệ rằng:

Ngu si che mất tâm

Chẳng rõ sau khổ lớn

Vì duyên vào vui nhỏ

Nay nhận hối hận nầy

Giống như ăn cơm ngon

Mùi vị đều đầy đủ

Trong ấy đầy độc dược

Kẻ ngu chẳng xem thấy

Tham mùi nên lấy ăn

Ăn xong trở thành hại

Vua bảo với các Phụ Tướng rằng: Tội lỗi ấy quá nhiều kể không xiết; nên ý ta là chẳng muốn tái diễn. Liền nói kệ rằng:

Tất cả đều do ái

Tuyên bảo mau xá tội

Chẳng thấy hại mạng kia

Để cho được an lạc

Phạm tội thật sâu xa

Nên hướng đến tâm từ

Kia tự mang tội vào

Nên sanh tâm thương mến

Nếu làm hại mạng kia

Tự hủy chỗ yêu pháp

Các vị cựu thần liền tâu với vua rằng: Chúng tôi bây giờ nếu trái lệnh vua tất bị gia hình. Cuối cùng chẳng buông tha, liền ở trước vua múa kiếm đâm chém. Vua thấy thế rồi liền sanh tâm xa lìa việc ác. Thấy lại cảnh trước cũng như ở quá khứ có tâm tu nhẫn nhục. Lúc ấy tìm cách khai mở, giải rõ con đường Bích Chi Phật. Giống như hoa Ưu Bát La nở ra, rồi dùng thân bay lên hư không và tất cả các người hầu cận đều chắp tay hướng về vị Bích Chi Phật đã xa rời sự sanh tử; chứng đạo được như thế. Ta bây giờ được chỗ quả báo của sự trì giới, liền nói kệ rằng:

Ta tuy mặc châu báu

Tâm tu hạnh phạm hạnh

Kiểm thân, điều phục căn

Đạm bạc, thường yên lặng

Nơi tất cả mọi người

Bỏ đi dao gậy thảy

Chỉ riêng tu một việc

Như Tê Giác một sừng

Nói kệ ấy xong rồi tóc liền tự rụng. Lúc ấy Trời Tịnh Cư dâng Cà Sa rồi tìm vào không trung nơi núi tuyết. Lúc ấy trong núi có vị Bích Chi Phật và hỏi rằng: Ở nơi ngôi vua kia, xa rời việc ác và làm sao ngộ được đạo nầy? Liền nói kệ như trên để đáp lại. Đây do Đức Như Lai vì kẻ chẳng thể tu hành việc nhẫn; cho nên nói về nhân duyên của sự nhẫn nhục. Lấy sự tham lam để gần gũi chỗ ồn ào. Cho nên nói chẳng gần gũi nhơn duyên, mà muốn làm cho rõ biết công đức của Bích Chi Phật vậy. Do đó mới nói về nhơn duyên của Bích Chi Phật. Phật vì chư Thiên ở Thiện Pháp Đường mà nói nhơn duyên của Bích Chi Phật. Phật ở nơi cõi trời thứ 33 làm cho chư Thiên sanh tâm xa lìa việc ác. Cho nên nói về việc Bà Tư Trạch Bích Chi Phật. Rồi ở nơi Tỳ Xá Ly nói việc xả thân và nhập Niết Bàn. Bây giờ hiện có bảo tháp tên là Ưu Đà Tà và vị Phụ tướng Tô Ma ngộ nhơn duyên Bích Chi Phật

Kiên trì cấm giới chẳng hủy hoại

Các bậc trí giả được giải thoát

Chẳng từ kia học, chẳng não kia

Độc nhứt một việc như Tê Giác

Chưa từng nghe việc nầy ở các vị Thầy như thế. Ở thời kỳ Đức Phật Ca Diếp có một vị Tỳ Kheo sống đến 10.000 tuổi tu hành phạm hạnh, lúc tọa thiền, thường tu giữ giới, lìa những chỗ ồn ào thực hành hạnh đầu đà. Cuối đời sanh thiên. Ở nơi Thiên cung thọ vui dục lạc. Khi tuổi thọ ở cõi trời mãn, sanh vào thai của phu nhơn của Phụ tướng Đề Bà ở thành Ba Sí Đa. Lúc ấy phu nhơn liền nói kệ thưa với chồng rằng:

Thiếp đang có thai

Tâm hay vui thích

Tất có người phước

Đến làm con ta

Do việc nầy mà cho đến bây giờ thường hay thương cảm tất cả. Lại nữa bây giờ ta đã dừng tâm buông lung, liền chẳng có ý tưởng dục lạc. Giống như trong biển kia có núi Ma Lê có thể làm dừng bớt sóng biển và ta dừng những sự mong muốn cũng như thế. Ta bây giờ sợ lời nói dối. Thường hay nói thật. Lại như người có công đức lành, sợ người khuyết điểm. Ta bây giờ cũng lại như thế. Ta bây giờ thấy rượu như thấy thuốc độc. Sợ tài vật kia như sợ đống lửa. Các việc ác như vâỵ ta đều xa lìa. Bởi vì tất cả đều do ta đang hoài thai một đứa con phước đức. Không vui thích việc dâm dục. Lúc bấy giờ Phụ Tướng liền nói với vợ rằng: Bây giờ tùy ý ngươi tu hành ngũ giới. Lúc ấy phu nhơn đều làm những việc lành. Sau 10 tháng liền sanh đứa bé nầy. Tên là Tô Ma và đứa bé dần lớn khôn, không có kinh luận nào, kể cả 64 nghề mà chẳng thông đạt, đoan chánh thù thắng giống như trăng tròn, hay làm việc cho cha mẹ mãn nguyện. Đến tuổi trưởng thành thì Phụ Tướng tâu với vua rằng: Tôi nay tuổi già, hãy vì đời sau mà làm phước dùm cho tôi. Lúc ấy vua đáp: Ta bây giờ chẳng thể làm phước cho ngươi, vì có chướng ngại. Ngươi hãy dùng con trai của ngươi là Tô Ma và lấy hắn để cung cấp cho ta, thay ngươi làm lành. Phụ Tướng hoan hỷ, sau đó nhà vua dùng Tô Ma làm Phụ Tướng, ban phát bổng lộc nhiều hơn cả cha mình. Mọi người kính mến, rồi cùng đến thăm chỗ Đại Thần Ngưu Vương ngày trước, đã làm cho những người con gái nơi đây thương nhớ. Lúc ấy phu nhơn của vua yêu mến Tô Ma. Nói với Tô Ma rằng: Ngươi bây giờ nếu có thể làm theo lời ta, đánh dẹp nước nầy, vua chết, ta sẽ theo ngươi. Lại cũng có thể làm cho ngươi chẳng bị tiếng xấu. Đây cũng chính là chỗ bố thí giáo pháp cùng với vua kia chẳng khác. Lúc ấy Tô Ma giữ ý kiên cố, mà chẳng yếu hèn, bằng dùng kệ đáp rằng:

Thỉnh nghe lời nói

Chưa rõ ngờ vực

Ta nghe lời nầy

Như chảy vào đất

Ví như ngựa hoang

Đến khi khổ sở

Lâm vào vòng chiến

Chẳng dám tiến lên

Ta thấy nữ kia

Tình chẳng nhiễm trước

Tâm ý không mở

Như hoa ban đêm

Phàm chỗ cung kính

Cùng mẹ chẳng khác

Huống ở người chồng

Mà ta hay trọng

Ta tâm kiên trì

Kính việc đáng kính

Ta vì phận con

Chẳng làm nghịch tặc

Cùng tình dục ta

Vào lúc khởi lên

Thấy đàn bà kia

Tự nhiên dừng lại

Bị nước trào lên

Nhiều lần sóng gió

Ta như nước thu

Tự nhiên thanh khiết

Lúc ấy phu nhơn

Tâm tự nghĩ rằng

Kia nếu đoạn ta

Gần ở ý ấy

Ta tất nơi kia

Mà sanh phỉ báng

Tức liền tâu vua

Phụ Tướng Tô Ma

Tạo ý vô lý

Muốn xâm đoạt ta

Lúc ấy vua cảm thấy nghi ngờ và phán quyết đúng, chẳng đúng. Đồng thời Tô Ma đến vườn kia thấy 2 con bò đang mang ách cày bừa ở trên cao, thật là quá cực khổ, sanh tâm lìa ác. Lúc ấy vua cảm được và tin lời nói gièm pha của phu nhơn, tức liền ra lệnh đến giết Tô Ma. Lúc bấy giờ Tô Ma như ngựa bị bắn mũi tên vào trúng xương, liền tư duy rằng: Lúc con người giàu có thì yêu mến sắc đẹp cạn hết cho đến bây giờ. Như ăn trúng đồ độc trong những đồ ăn ngon. Muốn tiêu thì thân liền bại hoại. Như người tham ngũ dục, vị nầy rất sâu đậm. Cũng giống như mái ngói bằng vàng vì lửa thiêu đốt. Người tham sắc ấy, vào trong bị hại. Đến khi mạng chung tâm ý lo lắng, liền tự an ủi mà tự nghĩ rằng: Ta hay giữ giới thanh tịnh chẳng có hủy phạm, ta là kẻ trì giới, rõ ràng như trâu Mao yêu đuôi, ta giữ cấm giới, giống như người tham được đất che chở, khuyên nên giữ gìn mà nói kệ rằng:

Thô xấu nơi đường ác

Ta đã được qua rồi

Ta gặp việc nguy cấp

Hộ giới lại chẳng xả

Giống như nước biển lớn

Chẳng mất ở chỗ nào

Nay ta giữ gìn giới

Việc nầy cũng như vậy

Nói kệ nầy xong, lúc bấy giờ chư Thiên và Thiện Thần thấy Phụ Tướng nầy thệ nguyện như thế đều sanh hoan hỷ. Đoạn các quỷ ác tìm đến phu nhơn, phu nhơn phát cuồng; liền ở trước vua vì chỗ quỷ mà nói kệ rằng:

Ta nay bị phá hoại

Ta thân nầy thọ chết

Ta toàn là người lành

Chẳng nên thêm đau thương

Ta gặp phải ngu si

Miệng như núi Tu Di

Chẳng thể làm giao động

Kia thật chẳng hạnh xấu

Ta quên, sanh nghi nầy

Lúc ấy vị Phụ Tướng kia ở trong vườn hoa, suy nghĩ lìa ác, được Bích Chi Phật, thăng lên hư không và tóc kia rụng xuống. Lúc đó Trời Tịnh Cư dâng áo Cà Sa. Bấy giờ chư Thiên khuyến thỉnh rằng: Nguyện đừng bỏ ta mà lên trên trời. Lúc ấy Bích Chi Phật nói kệ như trên để đáp lại chư Thiên, bay đến núi tuyết, gặp các vị Bích Chi Phật lại như việc trên và nói đầy đủ.

Nguyệt Ái Đại Thần ngộ được duyên với Bích Chi Phật.

Nước biển chẳng quá dư

Trâu Mao chấp đuôi chết

Như tánh trăng tự lạnh

Không thể biến thành nóng

Kẻ điều phục các căn

Giữ giới cũng như thế

Đây gọi: Hạnh độc nhất

Như Tê Giác không hai

Xưa nay các Đại Sư

Thay đổi tướng dạy dỗ

Ta từ trước nghe nhiều

Nay muốn hiển thuyết nầy

Trong một thuở quá khứ có vị Bích Chi Phật tên là Nguyệt Ái ở nơi chỗ Phật Bà Già Bà Già Điệp trồng các căn lành, hay tu giới hạnh, hằng dùng trí tuệ quán nơi các ấm, tất cả đều vô thường. Ở nơi Đức Phật kia chưa được đạo quả Sa Môn và khi mệnh chung, liền sanh lên cõi trời. Do lực lành đời trước, thọ hưởng niềm vui ở cõi trời, khi hưởng tận rồi, trở lại làm người, sanh vào nhà Trưởng Giả của nước Chiêm Ba. Khi mới sanh ra thường nương vào giới cấm mà tu thân. Xem việc lành nầy, hơn cả những bậc kỳ túc, lại chẳng khinh xuất, chẳng có giận dữ. Tài sản của cải đều đem chu cấp cho người nghèo, tùy theo nhà mà chia đều nhau. Dùng giới anh lạc để tự trang nghiêm. Khi cha chết đi, thuận pháp trị gia. Người dân ở thành ấy thấy việc trung hiếu nầy sanh tâm kính tín sâu xa; giống như Thầy mình. Đến tuổi trưởng thành, tướng mạo đoan chánh. Với các thiếu nữ, tất cả khi thấy chẳng ai là không yêu mến. Các khách thương buôn vì sự trung thật nầy mà đến cậy nhờ.

Bấy giờ ở phương Bắc có những khách buôn đi xe tốt đến nước Chiêm Ba và vua nước Chiêm Ba lấy hết những xe nầy. Tâm vua bạo ngược chẳng tin và nương vào chánh pháp. Vua tự nghĩ rằng: Ta nay lấy được nhiều xe kia, vì sao sẽ được, chẳng có trả giá mà được xe nầy, tức cùng với những nịnh thần tập họp lại để bàn việc ấy. Nịnh thần tâu vua rằng: Nếu bảo trả tiền thì giá trị trong kho sẽ cạn kiệt. Vua liền đáp rằng: Nếu ta bây giờ chẳng trả giá cho thì ta sẽ là người ác, sẽ lưu danh trong thiên hạ, tất cả quốc dân sẽ giận ta, lại còn đoạn giao với các vị khách thương các nơi sao? Ngụy thần lại tâu: Vì vua chúng tôi có kế hoạch vậy. Không cần trả tiền mà vẫn được xe ngựa kia. Lại có thể làm cho vua không mang tiếng xấu trước quốc dân và không bị quở trách. Lúc bấy giờ trong vương quốc có vị Đại Thần Nguyệt Ái, vì tất cả mọi người mà thể hiện lòng tin tưởng. Ông ta đến và trình với vua rằng: „Tôi là Nguyệt Ái sẽ gởi vàng để phụ giúp Ngài để trả cho những khách thương kia mà mua cả vạn xe ngựa ấy. Mỗi xe trả một vạn quan tiền“. Nếu vua tin lời nói của Đại Thần Nguyệt Ái nầy để trả cho kia thì nhân dân trong nước tất nhiên sẽ sinh nghi hoặc. Hoặc nghi nơi vua; hoặc nghi nơi Nguyệt Ái. Vua sẽ bị tiếng xấu và bất tất sẽ bị ảnh hưởng ra ngoài. Lại nữa chẳng phải vì muôn dân mà lìa sự xấu ác và những nhà thương buôn kia sau đó lại tâu vua rằng: Hãy trả lại ngựa cho chúng tôi để cho chúng tôi về lại nhà. Vua liền đáp rằng: Ta trước tiên chẳng dùng Nguyệt Ái để thưởng cho các ngươi như thế sao, để có thể lại chẳng xứng đáng như vậy sao? Các klhách thương liền đáp lại vua rằng: Vị Nguyệt Ái nầy từ đầu chí cuối thật chẳng cùng chúng tôi trả giá những con ngựa ấy, mà sự trung tín kia há phải xả bỏ thân mệnh nơi đây. Rốt cuộc chẳng vọng ngữ, lời nói ấy cùng với sự trả giá cả của ta. Liền nói kệ rằng:

Giả sử trăng, mưa, lửa

Trời mưa nơi nước băng

Ép cát được thành dầu

Trấn nước đến được giấm

Trong lửa sanh hoa sen

Muốn làm Nguyệt Ái kia

Làm sao tháo vọng ngữ

Rốt chẳng có tại đây

Những người khách buôn lại tâu với vua rằng: Ngài là con người ở giữa trời đất, hãy ra lệnh cho Nguyệt Ái và theo sắc lệnh của vua để nói chuyện cùng chúng tôi. Tôi cuối cùng chẳng có giận. Lúc ấy vua liền triệu Nguyệt Ái và nói rằng: Ngươi trước đó chẳng tại trước ta mà hứa với ta cùng ngươi lấy tiền để thưởng cho khách thương sao? Vua liền trợn mắt, hiện tướng quỷ quyệt. Nếu ngươi không theo ta, ta sẽ giết ngươi. Lúc ấy Thần Nguyệt Ái tự biết lỗi và suy nghĩ rằng: Ta từ hôm nay phải nói lời thật, vì dùng lời vua lại tự mưu nghĩ, vì giữ pháp thân hơn cả chính thân nầy hơn hẳn; nên liền tự quyết định kế hoạch, ta thà xả bỏ thân nầy chứ quyết chẳng bỏ thân giới pháp rồi liền nói kệ rằng:

Ta nay tự suy nghĩ

Ở nơi hai thân nầy

Phải nên bỏ thân nào

Chơn thật tự quan sát

Há tổn hình xấu uế

Rốt chẳng bỏ giới luật

Nếu phải bỏ pháp thân

Tên xấu sẽ lưu truyền

Nếu nơi tay người lành

Vì kia chỗ duy trì

Nếu ta nơi kẻ ác

Ta tự chẳng an vui

Tâm sanh hối lửa nóng

Xả bỏ thân dơ nầy

Sẽ vào chốn địa ngục

Tự hứa giới cấm kia

Rốt lại chẳng an lạc

Chỉ vì một chút vui

Tổn hại nhiều thân khác

Nếu là kẻ giữ giới

Vô lượng thân an ổn

Như thế ta sẽ làm

Che chở cho pháp thân

Chẳng làm cho hủy hoại

Vì làm lợi chánh pháp

Phải cắt đứt vọng ngữ

Nguyệt Ái Đại Thần liền tâu vua rằng: Nguyện vua khai ân đừng giận nơi ta. Tôi thật chẳng nhớ, thấy vua cùng sự trả giá kia. Lúc ấy vua nổi giận rút kiếm và nói: Sao lại chẳng thấy? Nguyệt Ái Đại Thần tự định lại ý nầy mà suy nghĩ rằng:

Thà vì thánh pháp chết

Chẳng vì ngu si sanh

Tất cả những việc sanh

Ai lại chẳng phải chết

Nếu ta nay bị chết

Vì pháp chẳng thương thân

Quyết định sanh cõi trời

Sao lại sanh sợ hãi

Để đáp lại lời vua và giả sử vua có ra lệnh cắt thân nầy nhỏ từng miếng thì quyết vẫn giữ giới cấm chứ không bỏ. Lúc ấy ta ở tại giữa Tiên Thánh. Nếu dùng lưỡi nầy để nói lời không thật thì ta chẳng thể nói được.

Ta nay vì chỗ vua mà tạo ra vọng ngữ sa đọa vào địa ngục. Chỗ nào để nương nhờ. Vua lúc ấy vừa thẹn và giận tức gấp bội vá mắt vua như thiêu cháy. Còn tâm của Nguyệt Ái lúc bấy giờ rất hoan hỷ và chính lúc ta sanh định ý và lúc ấy cũng là lúc giữ gìn giáo pháp, liền ở xứ nào, muốn cầu nghe pháp và ngày nay ở đây tức vì ta mà thuyết pháp và ta đã vì pháp mà xả bỏ thân mệnh. Vua bây giờ đối với ta rất là thân tình. Như thế nhớ pháp, tức liền khai ngộ được Bích Chi Phật dùng thân bay lên hư không và làm cho những kẻ phá giới thấy như vậy đều sanh tàm quý. Vì những kẻ tu thiện tăng trưởng tín tâm. Vì những người nói lời thật, hiện ra quả thật. Ở nơi không trung tóc liền rơi xuống và lúc bấy giờ Trời Tịnh Cư dâng áo Cà Sa, bay đến núi Hương cùng với các vị Bích Chi Phật khác, cùng ở một nơi rồi nói kệ như trên.

QUYỂN HẠ

Vương Xá Thành Đại Trưởng Giả ngộ Bích Chi Phật duyên.

Ba La Nại Quốc Vương Nguyệt Xuất ngộ Bích Chi Phật duyên.

Câu Xá Di Quốc Vương Đại Đế ngộ Bích Chi Phật duyên.

Câu Xá Di Quốc Vương ngộ Bích Chi Phật duyên.

Ba La Nại Quốc Vương Thân Quân ngộ Bích Chi Phật duyên.

Chuyển Luân Thánh Vương Tối Tiểu Tử ngộ Bích Chi Phật duyên.

Giống như trong rừng rậm

Muốn lấy cây lớn ra

Cành cây làm chướng ngại

Mong ra khó thể được

Tại gia như cây rừng

Công việc như cành lá

Tuy muốn cầu ra khỏi

Ràng buộc quyết chẳng tha

Cõi tịnh nơi rừng vắng

Quán cảnh tu tâm nầy

Giải thoát những ngoại duyên

Lìa những chỗ thân ái

Tu chỉ độc một hạnh

Như Tê Giác không hai

Thầy trước truyền nối nhau

Ta được nghe việc nầy.

Ngày xưa có vị Bích Chi Phật về 5 đời quá khứ của các vị Phật trước thường hay tu các pháp lành. Vì đắm trước niềm vui với Ưu Bà Di tại nhà. Tuy thấy chư Phật; nhưng chẳng cầu xuất gia. Tuy nhiên hay chuyên tâm giữ giới tại gia, chẳng hề hủy phạm, căn lành dần tăng. Vào thời Phật Ca Diếp mới xuất gia học đạo, vui theo hạnh đầu đà, 6 thứ đầy đủ, xa rời ham muốn. Người kia khi mệnh chung được sanh vào thiên cung. Sau khi thọ mạng hết, sanh vào nhà của Đại Trưởng Giả tại thành Vương Xá. Gia tài của vị Trưởng Giả nầy giàu có vô lượng, kho đụn tràn đầy, mỗi ngày càng phát đạt thêm. Sau khi cha chết, tùy thích vui chơi như Tỳ Sa Môn Tử Na La Cứu Phục La. Tại trong nhà nầy vui chơi thỏa thích, sanh ra con cái độ 30 người. Kho thóc càng ngày càng tăng, nam nữ vợ chồng cũng nhiều thêm nữa. Chỉ lo làm ăn mà quên đi sự tu học. Vì các ngoại duyên buộc ràng, chẳng bỏ gia nghiệp và thường nghe những người thân có sự chết chóc. Có nhà kia gặp người mất và thất nghiệp. Càng nghe những tin không vui như thế, sầu lo khổ não, giống như trăm mũi tên bắn vào lòng. Lại cũng nghe những điều lành dễ mến. Trong nhà người khách có nhiều của quý, an ổn mang về. Đứa con trai nầy lại sanh ra con trai, đứa con gái kia sanh ra phước tử. Từ đó vui vẻ, nghe đến việc lợi; lo vui hòa nhau, giống như để tạo dịp vui, lên xe và cùng thân hữu đến vườn kia, đi dạo chơi đến xem một rừng cây kia thấy có một người chặt cây lớn, cành lá thật tốt tươi, dùng đến nhiều voi nhưng chẳng thể làm cho trốc gốc. Chặt một cây nhỏ thì chẳng có cành. Riêng chỉ một người mang ra được khỏi rừng không gì trở ngại. Thấy việc ấy rồi liều tự suy nghĩ mà nói lời rằng: Ta đối với người nầy có nhân duyên nên liền nói kệ rằng:

Ta thấy chặt cây lớn

Cành lá thật là nhiều

Rừng rậm như mắc xích

Không thể đem ra khỏi

Thế gian cũng như thế

Nam nữ cùng quyến thuộc

Yêu giận cột trói tâm

Việc sanh tử như rừng

Chẳng thể được giải thoát

Cây nhỏ không có cành

Rừng già chẳng sợ gì

Quán kia ta giác ngộ

Đoạn tuyệt cảnh yêu thương

Nơi rừng già sanh tử

Tự nhiên được giải thoát

Liền nơi xứ ấy được chứng quả Bích Chi Phật và người bạn thân kia liền nói rằng: Mặt trời đã xuống hãy trở về nhà. Đáp lại bạn rằng: Ngươi tự về nhà, ta sẽ hướng về nhà và do nguyên nhơn ấy làm cho ta cắt đứt. Bạn lành hỏi lại là cắt đứt như thế nào? Đáp rằng: Ta từ xưa do ái trước nơi nhà ấy, bây giờ ta cắt đứt nghiệp ái nầy. Con người vì chỗ yêu đắm vợ con quyến thuộc, con cái, cháu chắt, ân ái kiêu kỳ. Nếu thấy được cha thì, lời nghe chẳng dứt,chạy trốn phan duyên. Do quyến luyến việc nầy mà sinh ra ái trước. Ta ở nơi vợ con và quyến thuộc cũng giống như việc nầy, ái tâm quyết dừng. Ta vốn khi ở nhà buôn bán, khi ra khi vào, hay nói với kia; hoặc bảo lấy cái nầy; hoặc bảo nên làm; hoặc bảo chẳng nên làm. Giống như những việc nầy bây giờ ta cắt đứt, xả bỏ dục lạc, được vui giải thoát. Chặt gốc cây ái, đóng lại các cửa, giảm những ám chướng, ta đối với con nhỏ sai khác, giận nhà và không có gì khác. Ta làm như thế làm sao ta có thể trở lại nhà được.

Lúc bây giờ người bạn thân trở về nhà và mang lời ấy nói với con cái. Nam nữ lớn nhỏ khi nghe việc nầy rồi đều đến xem thử. Khi quyến thuộc đến liền thấy người cha đang mặc pháp phục của Sa Môn và bay lên trên hư không. Con cái thưa rằng: Bây giờ sao lại chán ngán quyến thuộc. Ở trên không trung liền nói kệ như trên. Rồi đáp các con trai gái. Sau khi nói kệ rồi, liền bay lên hư không đến núi Tuyết cùng với các vị Bích Chi Phật khác để cùng hội họp; khi trở lại thì chứng đạo nơi vườn và xả thân vào Niết Bàn. Các quyến thuộc lại làm tháp miếu. Có người nhơn đó gọi là tháp vì nhiều người con. Phàm những người có căn lành đầy đủ và những người ít nhơn duyên cũng liền được khai ngộ.

Ba La Nại quốc vương Nguyệt Xuất ngộ Bích Chi Phật duyên.

Của vợ con bạn bè

Sanh tử trong lo lắng

Rừng vắng yên giải thoát

Giống như Tê một sừng

Từ lành qua chỗ nghe

Truyền đến nơi Thầy ta

Ta cũng từ Thầy nghe

Nay lại diễn thuyết đây.

Ngày xưa có một vị Bích Chi Phật ở vào thời Đức Phật Ca Diếp sống đến 11.000 tuổi tu hành phạm hạnh, thường tu nhẫn nhục, từ bi đối với tất cả chúng sanh. Cho đến giới nhỏ cũng chẳng từng hủy phạm, đến khi mạng chung được sanh thiên. Sau khi ở cõi trời mãn, hạ sanh xuống nước Ba La Nại và sanh trong cung vua. Khi sanh thì trăng mọc, nên đặt tên là Nguyệt Xuất. Rồi dần dần lớn khôn, lập làm Thái Tử. Khi vua băng hà, tiếp tục ngôi vua dùng lực lành đời trước bằng chánh pháp để vua trị nước, sai con Phụ Tướng nhận lãnh nước nhỏ và lấy vợ cho. Con của Phụ Tướng nầy mạnh mẽ tuyệt luân, có nhiều quyến thuộc, tự ti kiêu mạn vượt bực. Lúc ấy con của Quốc vương và con của Phụ Tướng lấy cùng chị em, rồi trở thành thân. Nhơn đây mà gần gũi yến tiệc và có âm mưu kế hoạch, nói với Vương Tử rằng: Đúng như thúc phụ có huynh đệ quyến thuộc quá nhiều mà người đời thường tin lời của phụ nữ, nên một buổi đã khuynh loát phụ vương. Rồi những người mẹ hay sanh xiểm nịnh, tự dùng những đứa con nầy dời đổi ngôi vua của cha ngươi, chứ chẳng đến các con đâu. Vua ngạo mạn chưa rõ mưu đồ. Phàm là ngôi vua là chỗ tôn kính của thiên hạ, là nơi cực lạc sánh với cõi trời chẳng khác. Tất cả người đời, chẳng không tin phục. Nếu vì quốc chủ lấy pháp trị nước, sau khi mạng chung, tất được sanh thiên. Cũng giống như những miếng thịt ngon đều như thế cả. Ngôi vua cũng lại như vậy, chẳng ai là chẳng tham, tức liền nói kệ rằng:

Giống như nước chưa đến

Nghi ngờ lại làm cầu

Nước mạnh nếu chảy dồn

Chẳng được có chỗ ngờ

Ngôi vua cũng như thế

Nghi nên trừ khử trước

Cầm được ở tay ngươi

Nên có thể tự yên

Huynh đệ liền tật đố

Sau muốn thân chẳng dễ

Vương Tử suy nghĩ nói

Như thể người thân nầy

Nếu muốn yểm hại ta

Như than sẵn chứa lửa

Hiện tại không được vui

Đời sau lại cũng khổ

Lúc bấy giờ Vương Tử làm đầy đủ việc trên rồi đến tâu với phụ vương. Vua nghe Vương Tử nói nổi giận và hai mắt đỏ như đồng. Nhà vua lúc ấy liền ra lệnh: Hãy câm đi và nên chạy khỏi nơi nầy. Đúng lúc ấy Vương Tử nghe con của Phụ Tướng đến liền ra đón vào. Sau khi gặp nhau, trao đổi với nhau và liền trở lại nơi vua để thưa rằng: Vương Tử bị bệnh thật nguy. Nhà vua nghe nói thế liền đến xem và thấy Vương Tử ốm nặng khốn khổ, mạng sống nguy kịch. Tứ đại bịnh khổ, thấy điều nầy rồi liền tự suy nghĩ: Ngay cả ngôi vua nầy cũng chính là chỗ tồi tàn, thế mà bị cha con lão Phụ Tướng kia âm mưu dạy cho con ta tìm cách phản loạn, muốn làm chuyện bất chính. Thế nhưng ngôi vua của ta, nó chẳng thể được. Con ta bây giờ đau ốm khổ sở và tất cả người đời cũng đều sanh ra tham lam tật đố. Do việc nầy mà rõ biết rằng ngôi vua chính là chỗ tồi tệ. Tại sao tồi tệ như vậy mà không xả bỏ ngôi vua để làm việc lành. Cũng chính ngôi vua nầy mà hại cha và nội tổ. Cũng vì chỗ anh em mà sanh ra làm chuyện quá xấu. Xả bỏ sự xấu hổ, có thể làm cho buông thả. Chỉ vì sự vui thì ít mà làm khổ sở cho đời sau; nên liền nói kệ rằng:

Như bướm bay vào lửa

Tham nước, mù cũng thế

Tham lam nơi được mất

Làm vậy hay chẳng làm

Dìm nước xuống bùn lầy

Chẳng được chỗ yên ổn

Suy nghĩ như thế rồi

Thân làm việc trong sạch

Rõ được tâm xa lìa

Liền được Bích Chi Phật

Cũng có chỗ nói rằng: Vua nầy thấy con, giận dữ xong, liền về lại cung. Rồi có một ông vua nước bạn vì giặc mà đến để cứu giúp. Khi vua nầy nghe việc ấy rồi, vua ấy tìm binh tướng để đến cứu giúp vua kia. Khi đến nước nọ hai bên giao chiến, sát hại lẫn nhau, cho đến đàn bà đang mang thai, cũng như trẻ con đều bị giết hết. Vua thấy việc nầy và cho rằng do chính ngôi vua ấy nên đã chán ngán và nói kệ rằng:

Tham nước vì vui nhỏ

Nhận chìm nơi bùn nhơ

Lòng giận thêm tăng trưởng

Gây chiến sanh thị phi

Vì tham của giết nhau

Lại càng sát hại nhau

Chẳng cầu việc giải thoát

Tận diệt ở ngôi vua

Như giữa mồi lửa lớn

Bướm bay vào để chết

Nhờn gớm việc sống chết

Chỗ tạo ra điên đảo

Vui ấy sẽ tạo nghiệp

Ngược lại chỉ khổ thôi

Như trên đỉnh núi kia

Nơi đó có bầy ong

Người ngu tham ít mật

Chẳng rõ nơi nào khổ

Như thế tự suy nghĩ

Liền được Bích Chi Phật

Liền bảo với con rằng: Ngươi đừng dùng lời của người ác, chẳng thể nghịch ý ta. Nếu ngươi trị quốc thì phải theo chánh pháp. Ta bây giờ cũng như nước nầy đều phụ thuộc nơi ngươi. Ta bây giờ muốn đi khỏi nơi đây; người con và tất cả quyến thuộc của Phụ Tướng khi nghe vua nói lời nầy tất cả đều áo não sầu thương khóc lóc rơi lệ, chắp tay thưa với vua rằng: Chẳng hay Đại Vương muốn đi đến nơi nào? Lúc ấy vua cha thân bay lên hư không và nơi mặt trời trên đỉnh núi, đã nói kệ như trên. Mặc áo Sa Môn, tạo ra 18 loại thần biến. Khi quốc dân thấy vậy chẳng ai là chẳng hoan hỷ. Giống như người giữ ngựa; nếu thấy chạy sai, phải điều chỉnh lại. Kẻ trí cũng lại phải như thế. Thấy kẻ khác thọ khổ, tâm mình liền điều thuận lại.

Câu Xá Di Quốc Vương Đại Đế ngộ Bích Chi Phật duyên.

Cha mẹ và vợ con

Ăn mặc cùng tài vật

Kẻ trí quan sát sâu

Dầu xem như quán trọ

Bỏ lại những ái dục

Độc hành như Tê Giác

Ta xưa từ Đạo Sư

Truyền nghe lại việc nầy

Từ thời Đức Phật Ca Diếp đã làm Tỳ Kheo, trí tuệ thông minh, nhu hòa nhẫn nhục. Mỗi ngày thường hay quán các pháp về những thể tánh chơn thật. Đó là quán ấm khổ, không, vô thường, vô ngã. Giống như cây chuối lúc còn nhỏ, như huyễn như mộng, như nước, như bọt, lại hay lành quan sát để tự tu tâm mình, khi mệnh chung được sanh thiên. Ở nơi cõi trời khi tuổi thọ đã hết, sanh xuống thành Câu Xá Di, làm con của vua, tên là Đại Đế. Khi vị vua nầy băng hà, thừa tự nghiệp vua tiếp tục xưng đế. Như những vua đầu lành tu giới hạnh và lấy chánh pháp trị nước. Lúc ấy trong thành có một vị Trưởng Giả giàu có vô lượng cùng với vua Đại Đế có chỗ thân cận gần gũi. Vị Đại Trưởng Giả kia thân sinh tật bệnh. Vua nghe bệnh, nên tự đến thăm, thấy bịnh tình của Trưởng Giả và dung mạo tiều tụy, tâm vua chẳng vui, cúi đầu sầu thảm. Lúc bấy giờ vị Trưởng Giả kia dùng bình bát toàn chứa đầy vàng để dâng hiến cho vua. Vua nói với Trưởng Giả: „Bệnh của nhà người khổ quá phải không?“. Trưởng Giả đáp rằng: Nguyện vua cố gắng nghe điều tôi nói:

Nhà tôi thật là giàu

Giống như Tỳ Sa Môn

Ái ngữ và tài sản

Ở nhiều nơi bạn hữu

Vợ con cùng quyến thuộc

Tôi tớ cùng kẻ dưới

Ta đều đầy đủ cả

Gặp chỗ thật giàu sang

Mà nay thời chết đến

Chẳng ai là bạn ta

Vua liền đến an ủi

Lời nầy thật chơn thật

Con ngươi và người thân

Tài sản cùng kho báu

Cùng với sức khỏe kia

Voi ngựa cùng lính tráng

Tuy có như thế ấy

Nhưng không ai cứu được

Chúng ta những người thân

Thấy ngươi gặp khổ hoạn

Liền có lời an ủi

Ưu sầu tạo nước mắt

Và người mạng sắp mất

Chẳng thể cứu cấp được

Chỉ ngươi tự nương ngươi

Do trước đó làm phước

Vua nghe thấy bịnh rồi

Tâm như những kẻ Thiền

Sâu ngộ các khổ hoạn

Chúng sanh quyết định gặp

Tất cả những ai sanh

Tức đều bịnh hoạn cả

Bịnh thường hại con người

Chẳng có tâm thương tiếc

Tất cả người thế gian

Quyết định vào đường chết

Cả chẳng sanh xa lìa

Lời nầy vợ con ta

Kia cùng ta thân cận

Đây là tài sản ta

Chúng gần gũi bên ta

Bạn bè ta và chúng

Ý bởi si nên bịnh

Suy nghĩ lung như thế

Nạn lớn ngay trước mắt

Ngu mù nên chẳng thấy

Đến rồi những người thân

Chẳng thể cứu nạn được

Nơi đây suy nghĩ kỹ

Liền được Bích Chi Phật

Những người thân cận, nội ngoại quyến thuộc của vua thấy vua được đạo, lìa xa thế sự, vì chính ái biệt ly là lửa thiêu đốt, sanh ra chỗ não phiền. Lúc ấy thân của vị Bích Chi Phật kia bay lên hư không, tạo ra 18 loại biến hóa và noí bài kệ như trên.

Lại có thuyết nói rằng: Vị vua nầy lúc còn làm Vương Tử khi vào trong vườn thấy những người mù thường hay giúp đỡ. Khi nghe Vương Tử xuất hiện, liền có ăn uống; nên họ tập trung ở hai bên đường và vì chẳng thấy đường nên rơi xuống hầm sâu, có người bị chết, có kẻ bị thương nơi đầu, tay chân bị gãy, thân thể bầm tím. Lúc ấy Vương Tử thấy những sự khổ như vậy nên suy nghĩ chán ngán mà nói lời rằng: Điều nầy đã làm cho ta giác ngộ, như những người mù nầy cũng đã từng giàu có và do buông lung mà nay lại khổ như thế nầy. Bây giờ ta thấy được việc nầy rồi, phải làm việc tốt, chẳng nên buông lung và liền nói kệ rằng:

Giống như đốt trâm vàng

Mà dùng để trang sức

Trâm vàng tuy quý giá

Lửa đốt rốt thành nguy

Ngôi vua cũng như thế

Chớ nên để buông lung

Người mù giác ngộ ta

Chẳng nghi ở nơi mình

Nguyên nhơn chính ngôi vua

Thân hay sinh kiêu mạn

Uy bức người trong nước

Mọi người sanh khổ não

Sau tự thọ khổ báo

Khổ ấy gấp ngàn lần

Nhơn thấy kia thọ khổ

Sao riêng an vui được

Đây chính là Thầy ta

Cho ta thấy những khổ

Suy nghĩ như thế rồi

Liền được Bích Chi Phật

Lúc bấy giờ Vương Tử sắc cho những người mù tiền của quý giá, rồi mặc pháp phục Sa Môn bay lên hư không, hiện các thần biến, nói với người thân rằng: Như ta bây giờ chẳng còn sân si, sợ hãi, lo lắng, chẳng xấu hổ với các ngươi khi xả bỏ thân quyến, quốc thổ, nhơn dân; lại cũng chẳng lo lắng về tiền tài của báu như đã nói kệ bên trên.

Câu Xá Di Quốc Vương ngộ Bích Chi Phật duyên.

Vui say nơi đồ vui

Thí xả như nước mắt

Nhịn vua để xa lìa

Đoạn diệt những khổ não

Hay hết si, tham ái

Tâm nầy được giải thoát

Do được giải thoát nầy

Gặp việc như Tê Giác

Từng từ trước Thầy dạy

Được nghe việc thế nầy

Ngày xưa có vị Bích Chi Phật ở đời quá khứ Phật đã tu các căn lành và thân sau cùng sanh ra tại nước Câu Xá Di và làm vua nước nầy. Trong nước nầy có tai biến lớn, gió bạo thay đổi, sao trời đảo lộn. Vua mời các vị chiêm tinh đến và nói kệ hỏi rằng:

Duyên gì có nạn nầy

Lâu rồi chẳng có mưa

Trên trời chẳng có mây

Mặt trời không ánh sáng

Thịt chim đều độc hại

Chim Thứu cùng Tu Hú

Bay liệng nơi không trung

Thấy đó sanh sợ hãi

Khắp nơi đều tai họa

Việc nầy ai tạo ra

Khiến có điềm kỳ dị

Thay đổi như vậy đó

Lúc đó các vị Thái Sứ liền đáp rằng: Theo chỗ chúng tôi biết bây giờ sẽ nói. Theo ý tôi thì tất cả quốc dân tất phải gặp những khổ nạn khó khăn. Nhà vua hỏi lại rằng: Tai nạn nầy từ đâu mà đến vậy? Thái Sứ trả lời rằng: Nếu nhà vua muốn nước được yên ổn thì nên theo lời tôi và nói kệ rằng:

Vua nếu được bỏ ngôi

Trốn khỏi cùng người khác

Đúng được sáu tháng sau

Lại làm người hành khất

Tai họa tự tiêu trừ

Vua sẽ như trăng tròn

Vua theo ý ấy, liền bỏ ngôi vua ăn mặc bình thường rồi đi đến từng nơi và khi đến thành Bà Sí Đa. Khi đến thành rồi lại có vị vua khác đem quân sang đánh. Vì vua nước Bà Sí Đa yêu nước nên cùng với quân lính đem kháng cự. Cả 2 bên giao chiến và 2 vua đều chết. Các Vương Tử của thành Bà Sí Đa cùng nhau nổi lên giành nước, lại tạo ra chiến trận lớn. Tỳ La Tiên Vương thấy vậy nên xướng to lên một cách kinh hoàng và liền nói kệ rằng:

Ngôi vua tuy tôn quý

Vui ấy thật là nhẹ

Vì sao lại làm thế

Để tạo ra khổ nạn

Tâm hay sanh đánh nhau

Vui rơi vào chỗ khổ

Như ruồi tham ăn mật

Dính mật không riêng buồn

Người cũng lại như thế

Vì tham niềm vui nhỏ

Chiến đấu tự giết nhau

Ngôi vua bị tranh giành

Tập trung nhiều khổ não

Cho đến muốn giết nhau

Như uống nhằm thuốc độc

Độc ngấm thân bại hoại

Chỉ vì một thân nầy

Mà gây nhiều thương tật

Ngu tham vui ngôi vua

Vui ít khổ thật nhiều

Ta từ nay quyết dừng

Liền chẳng cầu vui nầy

Mà những việc nước nầy

Lo lắng đầy trong ấy

Vui ấy có ích gì

Lo lắng khổ não mãi

Giống như nhà bằng vàng

Lửa đốt bị cháy hoài

Kẻ trí sợ thiêu đốt

Chẳng nên lại vào trong

Lúc suy nghĩ ấy xong

Liền ngộ Bích Chi Phật

Dùng thần thông lực ấy

Tóc kia tự nhiên rụng

Tức thành hình Sa Môn

Dùng thân bay lên cao

Ở trong hư không ấy

Liền nói kệ như trên

Sau đó bay đến nuí Tuyết, nơi các vị Bích Chi Phật và các Bích Chi Phật kia hỏi rằng: Vì nhơn duyên gì mà được giác ngộ đạo quả? Tất cả đều nói kệ như trên để đáp lại.

Ba La Nại Quốc Vương Thân Quân ngộ Bích Chi Phật duyên.

Thế gian suốt vui say

Lại yêu và chỗ yêu

Tất cả đều xả bỏ

Tâm ý được giải thoát

Các căn liền yên ổn

Độc hành như Tê Giác

Ta xưa từ chư Sư

Truyền nghe việc như thế

Trong thuở quá khứ ở thành Ba La Nại có nhà vua tên là Thân Quân có hai phu nhơn, tâm hay yêu mến, vui đắm dục lạc, thường hay buông lung, chìm đắm trong rượu chè, giống như voi say mùi hương lao vào chốn hương và tìm vào núi Ma Lê để hưởng dục lạc. Lúc ấy cả 2 phu nhơn sanh ra ghét nhau hiện tướng bần tiện. Có một bà vợ dùng thuốc độc và giao cho người thân và người thân nầy đem hại phu nhơn kia. Phu nhơn uống thuốc liền điên cuồng bất tỉnh và thuốc độc ngấm vào khiến cho chết đi. Bà thứ hai thấy bà nầy đã chết nên giả hiện buồn rầu, tự mình xõa tóc và đấm ngực khóc than, cả cung đều buồn rầu.

Vua nghe sự chết liền sanh sầu não. Phu nhơn trái phải đều có người hầu và đeo đầy chuỗi anh lạc trên người, tất cả đều đẹp đẽ, lấy đất bôi thân, độc tố nhập tâm, như bị bầy ngỗng truy bức, như Kim Sí Điểu bám vào Long Nữ. Trong cung các thể nữ kêu la như sấm cũng giống như thế ấy. Lúc bấy giờ ở trong cung, giống như trống không, lại như bụi đen che khuất ánh sáng, các cung nhơn buồn lo suy nghĩ lại cũng như vậy. Vua nghe cung nhơn như thế liền sầu khổ, trong tâm dao động, mũ anh lạc đang đội và áo quần cũng như anh lạc nơi thân đều cởi bỏ xuống đất, đi vào chỗ tang, thấy các thể nữ ai khổ cực kỳ. Vua thấy như thế rồi sanh đại sầu não mà tự tư duy rồi liền noí kệ rằng:

Giống như trời mùa hạ

Hay làm hoa tốt hư

Ngày chết hình người tiêu

Sắc mặt biến xanh đen

Môi răng đều hôi thối

Mắt mũi cùng nước chảy

Ca vũ nét huyền diệu

Bây giờ như cũi đá

Người trước hay nghe ta

Ái trước thật là vui

Vì sao đến hôm nay

Ta hay sanh sợ hãi

Sợ sệt lo sống chết

Bất tịnh cùng hôi thối

Như mộng, giả chẳng thật

Giống như ruột cây chuối

Chẳng có tướng chơn thật

Như huyễn bột bóng kia

Dần hiện như bột nước

Kẻ trí hay lìa ác

Không trí quan sát rồi

Hay sanh vui đắm trước

Ở nơi bất tịnh ấy

Sanh ra thân tưởng nầy

Mê buồn mà chấp giữ

Giống như kẻ buồn ngủ.

Suy nghĩ như thế chưa xong thì thiêu tử thi của phu nhơn đã rồi. Còn phu nhơn thứ 2 thì trốn đi; ăn uống nói ngoa và tự áo não, nói chẳng muốn ăn, hiện ra sầu thảm. Vì sự lo lắng ấy nên hình ảnh lộ ra, tâm thường lo buồn. Vì chỗ buồn lo ấy mà ăn uống chẳng tiêu, trở thành bịnh nặng. Vua thấy bịnh rồi hay tăng sầu muộn, liền muốn xa lìa. Như vậy sự sanh tử thật đáng lo, liền nói kệ rằng:

Như nữ hay sanh yêu

Sanh lụy phiền nhiều loại

Con người chẳng phải không

Nhơn ái sanh niềm vui

Cuối lại sanh rầu khổ

Ái là gốc của khổ

Thấy ái hợp tan thì

Rõ biết sự vô thường

Ta chỗ yêu mến đó

Đoan chánh tuổi thanh niên

Một ngày chết lại đến

Cho nên phải rõ biết

Vì sao lại có vui

Ai là ngườik có trí

Âu ái lúc gặp gỡ

Mà sanh tâm vui đắm

Sợ già bịnh chết ấy

Cho nên ta quyết lìa

Lúc suy nghĩ như thế

Liền thành Bích Chi Phật

Liền mặc áo quần vương giả, đeo anh lạc bay lên hư không và ở trên hư không nói lời kệ như trên, biến thành Sa Môn, bay đến núi Tuyết, cùng chỗ với các Bích Chi Phật khác.

Chuyển Luân Thánh Vương Tối Tiểu Tử ngộ Bích Chi Phật duyên.

Ở một kiếp quá khứ nọ có một vị Chuyển Luân Thánh Vương đầy đủ 1.000 người con, người con út nầy khi thấy cha ngồi trên xe vàng thất bảo đầy đủ cùng với quân hầu, trống chiên, tàn lọng, dung sức tất cả đều tươm tất. Tối Tiểu Tử nầy liền hỏi mẹ rằng: Con lúc nào thì được cái dù che đẹp đẽ như thế? Bà mẹ liền đáp: Con cho đến thành xương vẫn khó được như vậy. Con ấy liền hỏi: Tại sao chẳng được? Vì con còn đến 999 huynh đệ nữa, ai cũng muốn được ngôi vua, họ đều lần lượt thay thế, làm sao đến con được. Người con út nghĩ rằng: Ta chắc chẳng thể được như thế. Nếu có thì cũng cốt nhục tương tàn và suy nghĩ những sự sanh tử như vậy và đâm ra chán ghét, liền giác ngộ và được Bích Chi Phật, thân bay lên hư không, tạo ra 18 loại biến hiện. Bà mẹ liền thỉnh nguyện từ xa, hãy đến vườn của ta để thọ sự cúng dường. Lúc ấy Bích Chi Phật nhận lời thỉnh cầu của mẹ, liền đến sau vườn. Ngày ngày cúng dường trải qua nhiều lúc, lúc ấy vị Bích Chi Phật liền yểm thân nầy và thí xả để vào Niết Bàn. Bà mẹ luyến tiếc nên lấy củi thơm để thiêu,thu được xá lợi và bỏ vào bình quý. Ở nơi sau vườn xây tháp thờ.

Lúc ấy vua Chuyển Luân đi đạo 4 cửa thành trở về liền đến sau vườn thấy có tháp lớn, kinh ngạc và hỏi, kẻ giữ vườn mới tâu vua rằng: Đây là con út của vua đã thành Bích Chi Phật và đã nhập Niết Bàn. Các bà mẹ vì đó mà xây tháp nầy. Sau khi nghe, nhà vua mời các bà mẹ lại mà hỏi rằng: Con ta tại sao chết và lại xây tháp nầy? Các bà mẹ theo việc ở trên và kể đầy đủ lại cho vua nghe. Vua lại hỏi bà mẹ: Con ta muốn được gì, sao lại chẳng nói cho ta rõ, mà bây giờ chỉ là Niết Bàn. Sau đó vua trang trí tháp trên. Do nhân duyên nầy mà trong vô lượng kiếp thường làm Chuyển Luân Thánh Vương, ăn uống là phước tự nhiên, cho đến bây giờ vẫn không hết. Nếu sanh tử ở nơi nào thì cả 2.500 đời đều làm Chuyển Luân Thánh Vương. Do được thành Phật nên được 2.500 bảo cái. Trong đó vua A Xà Thế cúng Phật 500 bảo cái. Tỳ Xá Ly Luật Xa Tử cúng Phật 500 bảo cái. Hải Long Vương cúng Phật 500 bảo cái. A Tu La Vương lại cũng cúng Phật 500 bảo cái. Thiên Đế Thích lại cũng cúng Phật 500 bảo cái. Lúc ấy Đức Thế Tôn chẳng nhận một cái nào cả. Vì sao thế? Vì các đệ tử tương lai sẽ nghèo về sự cúng dường y phục cũng như đồ ăn uống. Do đây mà phước lực sẽ làm cho Trời, Người tự nhiên cung cấp. Do nhơn duyên nầy nên rõ rằng: Các bậc Hiền Thánh Phước Điền đều rộng sâu không thể so sánh được.

Đánh giá