Bồ Tát Long Thụ Vì Vua Thiền-đà-ca Nói Kệ Pháp Trọng Yếu

Long Thọ Bồ Tát Vị Thiền Đà Ca Vương Thuyết Pháp Yếu Kệ

Tống Cầu Na Bạt Ma dịch

Bản Việt dịch của Thích Như Điển

***

Thiền-Đà-Ca vương phải nên biết

Sinh tử khổ não, nhiều lỗi lầm

Trọn bị vô minh che, ngăn ngại

Ta nay vì họ hưng lợi ích.

Ví như khắc hoạ, tạo tượng Phật,

Người trí thấy được nên cung kính,

Ta nương Như Lai nói chính Pháp

Đại vương cũng nên tin nhận sâu.

Ngài trước tuy nghe lời Thích-Ca

Nay nếu nghe nhận thêm nhận thức.

Giống như ao hoa sắc thanh tịnh

Ánh trăng tỏa chiếu sáng hơn ngày.

Phật nói sáu niệm phải tu tập

Nghĩa là: Tam Bảo, Thí, Giới, Thiên.

Tu hành mười thiện tịnh ba nghiệp,

Lìa rượu, phóng dật và tà mạng,

Quán thân, mạng, tài chóng nguy ngập

Nên thí Phước Điền cứu nghèo cùng,

Thí làm bền chắc không gì sánh

Là người thân cận tối đệ nhất.

Chăm tu tịnh giới trừ vết uế,

Cũng chớ mong muốn, cầu các Hữu.

Ví như gieo trồng trong đại địa

Giới sinh các thiện cũng như thế.

Tu Nhẫn, nhu hoà, bỏ sân khuể

Phật nói hành này tối thượng nhất.

Như thế Tinh tiến và Thiền, Trí

Đủ sáu hành này vượt sống chết.

Có thể ở nhà hiếu cha mẹ

Đó tức gọi là thắng phúc điền,

Hiện đời danh tiếng lớn truyền khắp,

Vị lai phúc báo chuyển vô lượng.

Giết, trộm, dâm, dối, đam mê rượu,

Giường chạm cao rộng và xông hương,

Hát ca xướng kỹ, ăn quá thời,

Các ác như thế phải xa lìa.

Nếu chút thời gian tu giới này

Thọ vui cõi trời, lên niết-bàn.

Xan tật, tham dục và xiểm ngụy,

Cuống hoặc, điên đảo và giải đãi

Các pháp ác, bất thiện như thế

Đại vương phải quán, chóng vứt bỏ.

Đoan chính, tôn cao và năm dục

Phải biết nguy ngập và phù phiếm,

Chớ cậy vào pháp không chắc ấy.

Kiêu dật, phóng túng sinh các khổ,

Muốn tăng các thiện, chứng cam lồ

Phải nên xa lià như vứt độc.

Có thể tinh cần bỏ kiêu mạn

Ví như trừ mây hiển trăng thu,

Giống như Chỉ-Kế và Nan-Đà,

Cũng như Sai-Ma… các hiền thánh.

Như Lai nói có ba loại lời:

Lời nhập ý, chân thật, hư vọng,

Nhập ý như hoa, Thật như mật,

Hư vọng ác hèn như phẩn uế,

Phải nên tu tập hai loại trước,

Nhanh chóng dứt trừ loại hư vọng.

Bốn loại pháp từ sáng vào sáng

Vua phải phân biệt, suy nghĩ kỹ,

Hai loại vào sáng thì nên tu,

Nếu là si tối phải chóng bỏ,

Quả Am-ba-la hoá bốn loại

Người khó phân biệt cũng như vậy.

Phải lấy trí huệ quán sát sâu

Nếu thật hiền thiện nên gần gũi.

Tuy thấy người nữ cực đoan nghiêm

Phải tưởng như mẹ, như người hầu,

Nếu khởi tâm tham dục ái nhiễm

Phải nên chính tu quán bất tịnh.

Tâm này tháo động phải cấm chế

Như giữ thân mạng hoặc trân bảo,

Tâm dục nếu khởi phải kinh sợ

Như sợ đao kiếm, các ác thú.

Dục làm bất lợi như oán độc

Đấng Mâu-Ni nói lời như thế.

Sinh tử luân hồi quá ngục trói

Nên phải chăm tu cầu giải thoát.

Sáu Nhập tháo động ruổi các cảnh

Phải nên thu giữ chớ buông lung.

Có thể như thế nhiếp các căn

Hơn cả dũng tướng thắng giặc mạnh.

Thân này bất tịnh chín lỗ chảy

Chẳng có cùng tận như sông biển,

Da mỏng đậy che dường thanh tịnh

Như anh lạc giả tự trang nghiêm,

Những người có trí chính phân biệt

Biết nó dối gạt liền vứt bỏ.

Ví như người ghẻ cạnh lửa nồng

Thoạt tuy tạm thích sau thêm khổ,

Tưởng của tham dục cũng như thế

Lúc đầu chút lạc sau nhiều hoạn.

Thấy thật tướng thân đều bất tịnh

Ngay đó quán không, không có ngã,

Nếu có thể tu tập quán này

Trong các lợi ích vô thượng nhất.

Tuy có dòng tộc và nghe nhiều

Nếu không giới, trí như cầm thú,

Tuy chỗ xấu hèn, ít thấy nghe

Tu được giới, trí gọi thắng sỹ.

Tám pháp: lợi, suy… khó thể tránh

Nếu trừ bỏ được thật không sánh.

Các vị Sa-môn, Bà-la-môn

Có cha mẹ, vợ con, quyến thuộc

Chớ vì ý họ, nhận lời họ

Rộng tạo bất thiện, hành phi pháp,

Nếu vì như thế khởi các lỗi

Vị lai khổ lớn chỉ mình nhận.

Phàm tạo các ác chưa báo ngay,

Không như đao kiếm liền thương, hại

Lâm chung tướng tội mới cùng hiện,

Sau vào địa ngục chịu các khổ.

Tín, Thí, Giới, văn, Tuệ, Tàm, Quý

Bảy pháp như thế gọi Thánh tài

Chân thật, không sánh, Mâu-Ni nói

Siêu việt các trân bảo thế gian.

Đại vương nếu tập thắng tài này

Không lâu cũng chứng quả đạo trường.

Giỏi cờ, rượu ngọt, đàn sáo hay

Giải đãi, kiêu dật và bạn ác,

Phi thời, khinh tháo, nhiều động loạn

Bảy pháp như đây phải lìa xa.

Tri túc thứ nhất hơn các tài

Lời như thế được Thế tôn nói,

Biết đủ, tuy nghèo được gọi giầu,

Có của , nhiều dục gọi là nghèo,

Nếu nhiều tài nghiệp tăng các khổ,

Như rồng nhiều đầu thêm độc tố.

Phải quán vị ngon như thuốc độc

Dùng nước trí huệ vẩy khiến sạch.

Vì giữ thân này nên phải ăn

Chớ tham vị sắc, tăng kiêu mạn,

Nơi các dục nhiễm phải sinh chán.

Điều hoà thân này khiến an ổn,

Cần cầu đạo vô thượng niết-bàn,

Sau rồi nên phải tu trai giới.

Một đêm phân biệt có năm thời,

Ở trong hai thời phải ngủ nghỉ,

Đầu đêm, giữa, cuối quán sinh tử,

Phải chăm cầu thoát chớ qua không.

Bốn định vô lượng phải tu tập

Đó gọi là mở đường Phạm Thiên,

Nếu chuyên trói niệm bốn tâm thiền

Mạng hết ắt sinh nơi trời ấy.

Hữu vi dời đổi đều vô thường

Khổ, không, bại hoại, chẳng kiên cố,

Không ngã, không lạc, chẳng thanh tịnh,

Như thế đều gọi: pháp đối trị.

Nếu ai quán sâu pháp môn này,

Vị lai thường ở vị tôn quý.

Tu hành năm giới, đoạn năm tà,

Cũng là điều đại vương nên niệm:

Ví như chút muối thả sông Hằng

Chẳng thể khiến nước có vị mặn,

Ác nhỏ ít nếu gặp các thiện,

Tiêu tan bại hoại cũng như thế.

Năm tà nếu tăng, cướp công đức

Vua phải trừ diệt chớ cho tăng,

Năm căn như: Tín…, các nguồn thiện,

Thì phải tu tập khiến tăng thêm.

Tám khổ như: sinh…thường hực cháy

Thường dùng nước huệ rưới cho diệt.

Muốn cầu thiên lạc và niết-bàn

Phải thường tu tập chính tri kiến.

Tuy có trí bén, vào đạo tà,

Công đức vi diệu mãi không thừa.

Bốn loại điên đảo hại các thiện

Cho nên phải quán chớ cho sinh:

Sắc chẳng phải ngã, ngã chẳng sắc

Trong ngã không sắc, sắc không ngã,

Nơi sắc sinh bốn loại tâm này,

Các ấm còn lại cũng như thế,

Hai mươi tâm này gọi điên đảo,

Có thể trừ được là tối thượng.

Pháp không tự khởi, vô minh sinh

Chẳng Tự Tại hay thời, hữu làm,

Đều từ vô minh, nghiệp ái khởi,

Nếu không nhân duyên liền dứt hoại.

Đại vương đã biết các nhân này

Phải thắp đèn huệ trừ si tối.

Các kết: thân kiến, giới thủ, nghi

Ba thứ hay chướng đạo vô lậu,

Nếu vua hủy hoại khiến diệt tan

Pháp Thánh giải thoát sẽ hiển hiện.

Ví như người mù hỏi tướng nước

Trăm nghìn vạn kiếp chẳng thể biết,

Dục cầu niết-bàn cũng như thế

Chỉ tự tinh cần sau mới chứng.

Dục giả quyến thuộc và tri thức

Nhưng gặp được thì cực khó có,

Cho nên Đại Vương phải tinh tiến

Rồi sau có thể chứng tịch diệt.

Thí, Giới, Nghe Nhiều và Thiền Định

Nhân đây dần gần bốn chân đế.

Nhân chủ nên phải tu tuệ minh,

Hành ba pháp này cầu giải thoát

Có thể tu thừa tối thượng này

Ắt nhiếp tất cả các thiện khác.

Đại Vương phải tu pháp Niệm Thân,

Thế Tôn gọi là đạo thanh tịnh,

Nếu không niệm này, tăng giác ác

Cho nên cần phải chăm tu tập.

Mạng người ngắn ngủi chẳng dừng lâu

Như bọt trên nước, khởi liền diệt,

Khoảng thở ra, hít vào, ngủ nghỉ

Niệm niệm hằng sút thường suy giảm,

Không lâu liền sẽ thấy tiêu diệt,

Da thịt thối nát cực đáng chán

Đờm xanh, trương hoại, máu bầm chảy,

Trùng dòi ăn hút đến khô kiệt,

Tóc, lông, móng, răng mỗi phân tán,

Gió thổi, nắng thiêu lần khô tận.

Phải biết thân này chẳng vững bền

Tích tụ bởi vô lượng khổ não,

Cho nên hiền thánh, người có trí

Đều quán lỗi ấy mà vứt bỏ.

Tu-Di, biển rộng với sông dài

Bảy mặt trời chiếu đều tan hết,

Kiên cố như vậy còn phá hủy

Huống lại là thân nguy ngập này,

Vô thường đã đến không cứu hộ,

Không thể cậy tình hoặc truy cầu.

Cho nên Đại Vương phải quán kỹ

Chóng sinh chán lià cầu thắng pháp.

Thân người khó được, nghe pháp khó

Giống như rùa mù gặp lỗ trôi,

Nếu đã được thân hiếm có này

Phải nên chăm tâm nghe chính pháp.

Được thân vi diệu mà tạo ác

Ví như đồ quý đựng các độc,

Sinh ở trung quốc, gặp bạn lành

Chuyên niệm, phát tâm, khởi chính nguyện.

Lâu trồng công đức đủ các căn

Nay vua đầy đủ các thiện này,

Nếu lại gần gũi người tri kiến,

Phật gọi đây là tịnh Phạm hành,

Cho nên phải nên vui tùy thuận,

Chư Phật do đây chứng niết-bàn.

Đã gặp pháp thanh tịnh vi diệu

Phải nên chí cầu đạo lìa dục.

Sinh tử hiểm nạn khổ vô lượng

Nói đến cùng kiếp cũng chẳng hết,

Ta nay vì vua lược phân biệt

Phải nên lắng nghe khéo suy nghĩ.

Ba cõi biến chuyển không giới hạn,

Cha mẹ, vợ con nhân lẫn nhau

Oán thân, yêu ghét chỗ vô thường,

Như bánh xe lửa há cùng tận?

Vô thỉ sinh tử thế giới lại

Sữa mẹ đã uống hơn đại hải,

Nếu chẳng tinh cần chứng trí Không

Tương lai lại uống không cùng tận.

Lăn khắp năm đường, trải trời, người

Nếu góp xương cao hơn Tu-Di,

Nước mắt của ái biệt sầu bi

Cũng chẳng phải sông biển so bì.

Nếu tính cha mẹ của một người

Vượt quá thế gian số cây cỏ.

Tuy hưởng năm dục vui trên trời

Rốt trở lại đọa ác thú khổ,

Chư thiên thọ mạng cực lâu dài

Thọ lạc khoảng ấy khó tuyên nói,

Hát xướng ca múa dòng diệu thanh

Ai âm hoà nhã rất trong xa,

Kỳ-bà diệu sắc cực đoan nghiêm

Vây quanh hầu vệ cùng hoan lạc,

Cỗ bàn trăm vị đều đầy đủ

Tùy theo ý thích đến tự nhiên,

Ao báu hương, nước tịnh tràn đầy,

Khắp nơi giăng phủ hoa vi diệu,

Các chim sắc lạ tụ bên trên

Hót hòa nhau phát xa diệu âm,

Chư thiên du hí, tắm trong ấy

Vui thích như thế chẳng thể nói.

Hết phúc lâm chung năm suy hiện

Bấy giờ ngồi khổ nhớ vui trước.

Cho nên tuy có vui thiên nữ

Người trí thấy đó đã sinh chán.

Tuy ở trân bảo lên lầu quán

Cũng ắt thối đọa nơi thối bẩn,

Tuy trong vườn Nan-Đà trên trời

Cũng lại phải vào rừng đao kiếm,

Tuy tắm ao Mạn-Đà chư thiên

Rốt ắt rơi vào ngục sông tro,

Tuy ở địa vị vua Chuyển Luân

Rốt là đồng bộc bị truy đuổi,

Tuy thọ vui lìa dục Phạm Thiên

Lại rơi vô gián khổ thiêu đốt,

Tuy ở thiên cung đầy ánh sáng

Sau vào trong địa ngục hắc ám,

Gọi là địa ngục Hoạt, Hắc-Thằng,

Thiêu, cắt, chém, đâm và vô gián ,

Tám địa ngục này thường thiêu đốt

Đều là nghiệp báo chúng sinh ác.

Hoặc chịu khổ lớn như ép dầu,

Hoặc nghiền thân thể như bụi phấn,

Hoặc phanh chi tiết cho phân tán,

Hoặc lại chém cắt và thiêu nấu,

Hoặc lấy đồng sôi đổ vào miệng

Hoặc lấy móng sắt xé thân hình,

Chó sắt tranh nhau lại ăn nuốt,

Chim sắt tụ lại cùng mổ xé,

Các loại trùng độc đều gặm nhắm,

Hoặc cột đồng cháy xuyên qua thân,

Lửa lớn hừng hực cùng đỗng nhiên

Vì nhân tội nghiệp không trốn thoát.

Vạc dầu sôi sục đến cao vọt

Tội nhân điên đảo choàng nhảy vào.

Mạng người nguy ngập cực nhanh chóng

Ví như khoảng hơi thở chư thiên,

Nếu ai với mạng ngắn như thế,

Nghe các khổ trên không kinh sợ,

Phải biết tâm ấy rất kiên cố

Giống như kim cương khó bẻ gãy.

Nếu thấy tranh vẽ, nghe người nói,

Hoặc theo kinh sách tự nhớ nghĩ,

Khi biết như thế đã khó nhẫn

Huống lại thân mình tự trải qua?

Địa ngục lớn không ngừng, không cứu

Trong đó các khổ không cùng tận.

Nếu lại có ai trong một ngày

Bị ba trăm giáo đâm thân thể

So một niệm khổ ngục A-Tì

Trăm nghìn vạn phần chẳng được một.

Chịu khổ lớn này trải một kiếp,

Duyên tội nghiệp hết lại được miễn.

Khổ não như thế từ ai sinh?

Đều là ba nghiệp bất thiện khởi.

Tuy nay Đại Vương không nạn ấy

Nếu không tu nhân, rốt đoạ lạc,

Ở trong súc sinh khổ vô lượng

Hoặc bị trói buộc hoặc đòn roi.

Vì không có Tín, Giới, Đa Văn

Luôn với ác tâm ăn nuốt nhau,

Xương, lông, da, thịt đến tàn hại,

Hoặc là minh châu, lông, sừng, răng,

Bị người đóng cưỡi không tự tại

Thường chịu khổ ngói đá dao gậy.

Trong đường ngạ quỷ khổ cũng vậy

Các sự mong cầu chẳng tùy ý,

Đói khát bức bách, khốn lạnh nóng,

Các khổ thiếu, mệt nhiều vô lượng,

Bụng lớn như núi, họng như kim

Phẩn uế máu tanh, không thể nói,

Loã hình phủ tóc cực xấu ác

Như cây đa-la bị đốt, chặt

Đêm miệng ắt bị lửa lớn đốt,

Các trùng cùng đến tranh ăn hút,

Phân tiểu cấu uế các bất tịnh

Trăm nghìn vạn kiếp chẳng thể được,

Nếu lại tìm cầu được ít phần

Lại cướp đoạt nhau cùng tan mất.

Trăng mát đêm thu như nạn lửa,

Ôn hoà ngày xuân hoá khổ lạnh,

Nếu đến vườn rừng, quả hết sạch,

Nếu đến dòng trong biến cạn khô.

Vì duyên tội nghiệp thọ lâu dài,

Trải qua một vạn năm nghìn năm,

Chịu các khổ độc không chỗ khuyết

Đều là quả báo của ngạ quỷ.

Chính Giác nói nhân khổ não này

Gọi là nghiệp xan tham, tật đố.

Nếu phúc trời hết còn sót thiện

Nhân đó được làm vua cõi người,

Sau nếu giải đãi, phúc đều hết

Ắt đoạ ba ác chẳng chút nghi.

Hoặc sinh Tu-la khởi cống cao

Khuể, tật, tham, hại tăng các não.

Chư thiên tuy có báo thiện hành

Vì xan tật kia mất lợi lạc.

Cho nên phải biết kết tật đố

Là pháp nhiễm, ác phải vứt bỏ.

Đại Vương, ngài nay đã biết đủ

Sinh tử lỗi ác nhiều các khổ,

Phải nên chăm tu thiện xuất thế

Như khát muốn uống, cứu cháy đầu,

Nếu thêm tinh tiến dứt các Hữu

Trong các thiện là vô thượng nhất.

Phải chăm trì giới, tu thiền, trí

Điều phục tâm kia, cầu niết-bàn.

Niết-bàn vi diệu tuyệt các tướng

Không khổ sinh, lão, bệnh, não sầu,

Cũng không sông núi với nhật nguyệt

Cho nên phải nên chóng chứng biết.

Nếu muốn chứng được trí Vô Sư

Phải nên chuyên tu Thất Giác pháp,

Nếu ai ngồi thuyền Giác phần này

Dễ vượt thoát biển sinh tử lớn.

Mười bốn pháp chẳng được Phật nói

Chỉ sinh tâm tin, chớ nghi hoặc,

Chỉ phải chính niệm chăm tinh tiến

Quyết định tu tập các pháp thiện.

Vô minh duyên hành, thức, danh sắc,

Sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu,

Hữu ắt duyên sinh, sinh duyên tử

Nếu hết sinh tử, nhân duyên diệt,

Như thế chính quán mười hai duyên

Người này ắt thấy Thánh Sư Tử.

Nếu muốn lần lượt thấy Tứ Đế

Phải chăm tu tập Bát Chính Đạo.

Tuy ở chỗ tôn vinh, năm dục

Cũng được Thánh Đạo dứt các kết.

Quả này chẳng thể cầu người khác

Ắt phải tự tâm mới chứng được.

Ta nói các khổ và niết-bàn

Vì muốn lợi ích cho Đại Vương,

Không nên khởi sinh tâm kinh sợ,

Chỉ chăm tụng tập, hành các thiện.

Tâm là căn bản của các pháp

Nếu trước điều phục các việc vui.

Ta nói pháp yếu, lược phân biệt

Vua chẳng nên sinh tâm nhàm đủ,

Nếu bậc trí lớn nói rộng thêm

Cũng phải lắng tâm chăm nghe nhận.

Vua nay gọi là Pháp Khí Lớn

Nếu rộng nghe pháp ắt nhiều ích.

Nếu thấy ai tu ba nghiệp thiện

Phải sinh tâm tùy hỉ, giúp sâu,

Tự mình hành thiện và tùy hỉ

Công đức như vậy trọn hồi hướng.

Vua phải ngưỡng học các hiền thánh

Như đức Quán Âm …độ chúng sinh,

Vị lai ắt sẽ thành chính giác

Cõi không sinh, lão, ba độc hại.

Đại Vương nếu tu trên các thiện

Ắt danh xưng đẹp rộng lan truyền,

Sau đó dùng đây giáo hoá người

Khiến khắp tất cả thành chính giác.

Sông xiết phiền não trôi chúng sinh

Vì sâu kinh sợ khổ hực cháy,

Muốn diệt các trần lao như thế

Phải tu chân thật giải thoát đế.

Lià các pháp thế gian giả danh

Ắt được chỗ bất động thanh tịnh.

Nếu có người vợ tâm độc hại

Người vợ như thế nên lìa xa,

Nếu trinh lương, hoà ái, kính chồng

Khiêm hạ, chăm chỉ như nô tì

Hằng nghĩ đến thân hữu, di mẫu

Nên tôn kính như thần trong nhà.

Pháp được ta nói là như vậy

Vua nên ngày đêm chăm tu hành.

    Xem thêm:

  • Kinh Tân Đầu Lô Đột La Xà Vì Vua Ưu Đà Diên Thuyết Pháp - Kinh Tạng
  • Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Căn Bổn Đại Giáo Vương Kinh Kim Sí Điểu Vương Phẩm - Kinh Tạng
  • Kinh Thiện Ác Nhơn Quả – Thích Trung Quán dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Vua Sư Tử Tố Đà Bà Không Ăn Thịt - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 16 – Phóng Sanh - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 28 – Rượi Thịt - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 19 – Suy Nghĩ Thận Trọng - Kinh Tạng
  • Pháp Mật Yếu Trị Bệnh Thiền - Kinh Tạng
  • Kinh Trung Bộ 128 – Kinh Tùy Phiền Não (Upakkilesa sutta) - Kinh Tạng
  • Kinh Thiện Ác Nhơn Quả – Thích Giác Quả dịch - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 27 – Lười Biếng Và Kiêu Mạn - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 02 – Kính Pháp - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 26 – Dối Trá - Kinh Tạng
  • Đại Đường Tây Vực Ký - Kinh Tạng
  • Kinh Thắng Quân Hóa Thế Bách Luận Già Tha - Kinh Tạng
  • Kinh Pháp Tập Yếu Tụng - Kinh Tạng
  • Ngữ Lục Của Thiền Sư Thụy Châu Động Sơn Lương Giới - Kinh Tạng
  • Kinh Tối Thắng Hỏi Về Việc Trừ Cấu Đoạn Kết Của Bồ Tát Thập Trụ - Kinh Tạng
  • Thiện ác nghiệp báo phần 29 – Xem Tướng - Kinh Tạng
  • Kinh Bách Dụ – Thích Tâm Châu dịch - Kinh Tạng