Kinh Quán Sát Chư Pháp Hạnh

Quán Sát Chư Pháp Hạnh Kinh

Tùy Xà Na Quật Đa dịch

Bản Việt dịch của Tuệ Khai

***

PHẨM THỨ NHẤT : HẠNH PHƯƠNG TIỆN KHÉO VÔ BIÊN

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong gò Thứu Điểu tại thành Vương Xá, cùng với chúng đại Tỳ kheo gồm một ngàn Tỳ kheo, chung với Đại Bồ tát, có đến tám mươi câu trí Đại Bồ tát từ đủ thứ cõi Phật đến tập họp. Những vị ấy đều được Đà la ni, Tam ma địa Nhẫn và Nhất sinh bổ xứ, chứng được trí đạo quá khứ, vị lai, lời nói thanh tịnh, chẳng làm điều thiện dối trá, chẳng tự khen ngợi, không có tham lam, ngoại đạo chẳng thắng, qua khỏi nghiệp ma, được các Phật pháp, thành tựu đủ vô úy, pháp chướng đã qua, nghiệp chướng đã diệt, với bản tính pháp đã được vô ngại, nói câu ca tụng lòng không cùng tận, chẳng thể nghĩ kiếp (nhiều kiếp) trang nghiêm áo giáp nguyện, tươi cười trước khi nói mặt không nhăn nhó rầu rĩ, biện tài chẳng đoạn, đã được Đẳng Nhẫn Tam ma địa Đà la ni, thành tựu đầy đủ vô biên biện tài và vô úy thù thắng, trăm ngàn câu trí nadođa kiếp khéo nói một câu mà tín giải các pháp, giống như huyễn hóa, lửa cháy bùng, trăng đáy nước, bóng trong mơ, tiếng vang.v.v… không lại, không đi, không sinh, không diệt, không, vô tướng, vô nguyện, hiển hiện chẳng thể thủ lấy, không có chướng ngại, giỏi biết vô biên trí tuệ, giỏi giác ngộ hành trí của lòng các chúng sinh, như chúng sinh đó tín giải thì tùy theo sự tín giải ấy mà khéo vì họ nói pháp, dùng cấm giới nhiếp lấy lòng mình, lìa khỏi pháp khát ái, đầy đủ nhẫn không kiêu mạn khéo léo thắng diệu, dùng pháp bản tính Như nhiếp lấy cõi Phật, trang nghiêm công đức, tạo tác nguyện vô biên, giỏi có thể lần lượt đi vô số thế giới, tam muội Niệm Phật luôn hiện tại tiền, khéo khuyến thỉnh các đức Phật, giỏi biết diệt phiền não triền thuận miên, giỏi biết du hý chẳng phải một mà hàng trăm ngàn biển tam muội. Những vị đó là : Từ Thị Đại Bồ tát, Mạn Thù Thi Lợi đồng chơn, Quán Thế Tự tại Đại Bồ tát, Đại Thế Chí Đại Bồ tát, Vân Âm Đại Bồ tát, Thiện Bá Thiên Khai Hoa Trí Đại Bồ tát, Vô Biên Phàm Duyên Xuất Ý Đại Bồ tát, Lôi Trang Nghiêm Minh (Kêu) Âm Vương Đại Bồ tát, Vô Số Câu Trí Kiếp Phổ Sanh Trí Đại Bồ tát, Sư Tử Hống Vương Đại Bồ tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Đại Bồ tát, Tịnh Mật Kim Vô Nghi Đại Bồ tát, Tịnh Quán Đại Bồ tát, Trí Vương Đại Bồ tát, Bất Không Kiến Đại Bồ tát, do Hiền Hộ làm đầu mười sáu bậc thiện trượng phu. Tượng Hương Thủ Giả Bồ tát, Vô Biên Bảo Tạng Bồ tát, Trí Tích (chứa) Bồ tát, Biện Tích Bồ tát, Sư Tử Hống Minh (kêu) Âm Vương Bồ tát, Châu Trang Nghiêm Anh Lạc Hạnh Bồ tát, Sư Tử Hành Bộ Bồ tát, Đà La Ni Tự Tại Vương Bồ tát, Đắc Vô Biên Biện Tài Vô Úy Bồ tát, Danh Xưng Đại Bồ tát, Hỷ Vương Đại Bồ tát những Bồ tát như vậy làm đầu chung với tám mươi câu trí Đại Bồ tát. Như đại vương của ba ngàn đại thiên thế giới này, hoặc Đế thích, hoặc Phạm vương, hoặc Đại Phạm, hoặc Thiên Vương, hoặc Long vương, hoặc chúa Dạ xoa, chúa A tu la, chúa Già lưu trà, chúa Khẩn na la, chúa Ma hầu la già, chúa người, chúa chẳng phải người… họ cùng với quyến thuộc vây quanh, mang theo hoa mạn, hương xoa, áo, táng che, tràng, phan và tấu nhạc đi đến chỗ đức Phật. Đến nơi rồi, họ đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi tùy theo vật họ mang theo như hoa mạn, hương xoa, bột thơm, áo, táng che, tràng, phan, tấu nhạc… ở chỗ đức Thế Tôn đã cúng dường xong, tôn trọng thọ giáo chắp tay mà trụ.

Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Hỷ Vương, đã bảy ngày nhịn ăn xong, hoặc đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi, chẳng nằm, chẳng ngủ tinh cần cầu pháp. Những tam muội nào đã khiến cho Đại Bồ tát, ở Vô Thượng Đại Thừa, chuyển lấy Biến Trí, Tài Bảo Trí.v.v… Bồ tát đó tạo tác nhân duyên này rồi liền đứng dậy, một vai sửa áo, gối phải quì xuống đất, chắp tay hướng về đức Phật mà bạch rằng :

– Thưa đại đức Thế Tôn ! Con đối với đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, theo phận muốn hỏi ! Nếu đức Thế Tôn cho con “không nhàn” thì như con hỏi rồi ngài liền vì con giải nói !

Bồ tát nói như vậy rồi, đức Phật bảo Đại Bồ tát Hỷ Vương rằng :

– Này Hỷ Vương ! Như Lai Ứng Chánh Biến Tri thường tạo tác không nhàn để giải nói những vấn nạn. Này Hỷ Vương ! Như vậy nếu ông muốn hỏi Như Lai Ứng Chánh Biến Tri thì ta liền theo từng điều, từng điều hỏi đó của ông mà giải nói đúng như điều đã hỏi, sẽ khiến cho ông hoan hỷ !

Đức Phật nói như vậy rồi, ngài Đại Bồ tát Hỷ Vương bạch rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Bằng những tam muội nào, Đại Bồ tát thành tựu đầy đủ tam muội ? Đại Bồ tát biết như thật tâm hạnh của các chúng sinh ? Có thể vào ý của các đức Phật Thế Tôn nói ? Điều đã nói không ngược lại mà thuận vào tùy âm thật trí ? Có thể thấy các đức Phật Thế Tôn hiện tại không có chướng ngại, thuận được pháp không sân giận tranh cãi ? Theo đúng như nghe như nghĩ về pháp mà phụng hành, tuy trụ ở trong thế pháp mà chẳng bị tiêm nhiễm thế pháp ? Tuy hành ở trong Biến Trí định mà ở đó tự tại chẳng sinh ? Tuy hành ở trong Niết bàn mà chẳng ở khoản giữa Niết bàn vì chưa mãn các Phật pháp ? Tuy hành thật hạnh trong pháp Thanh văn pháp Độc Giác mà chẳng ở những thừa đó Niết bàn ? Phát vô biên ý niệm mà lòng chẳng quên mất ? Vào cửa đủ thứ cõi của các chúng sinh, cửa vô cùng tận, biến nói nối tiếp nhau, nhiếp lấy vô biên công đức, trang nghiêm cõi Phật ? Ở trong Biệt Trí được Vô dư trí ? Tuy thành thục chúng sinh nhưng chẳng nương vào chúng sinh tưởng mà nói pháp ? Những chúng sinh đó không có kiến trụ mà đem đặt ở Niết bàn, cũng không một pháp có thể muốn Tịch diệt ? Tuy hành Bồ đề mà chẳng nương trụ ? Đại trí thành tựu đầy đủ, lìa bỏ hai bên có và không ? Tuy biết các pháp duyên sanh mà ở trong pháp duyên sanh chẳng chấp trước ? Nhanh chóng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hàng phục ma la cùng với đồ chúng của nó, với các luận sư khác thì dùng pháp khuất phục, sẽ chuyển bánh xe pháp Vô Thượng, vì trời cùng thế gian tạo tác pháp rống gọi ? Thưa đức Thế Tôn ! Pháp Phật chẳng thể nghĩ ! Pháp Bồ tát chẳng thể nghĩ ! Hạnh Bồ tát chẳng thể nghĩ ! Rất hay, thưa đức Thế Tôn ! Con đã hỏi đức Như Lai, xin đức Thế Tôn dùng vô số chẳng thể nghĩ những thứ Phật trí ưu việt để vì diễn nói. Nếu con ở bên đức Thế Tôn nghe rồi thì theo đúng như thật sẽ tu hành. Theo đúng như thật tu hành rồi thì sẽ được tròn đầy những thứ Phật trí ưu việt.

Đại Bồ tát Hỷ Vương nói lời như vậy rồi, lại dùng lời tụng ca hỏi đức Phật. Bài tụng ca này là :

Con hỏi Luân Sư Nguyệt(vầng trăng thầy chỉ đức Phật)

Gần đời trên mọi người

Như các hạnh Bồ tát

Lần lượt giải nói xuôi.

Nhiều người tụ đến không bờ đến

Chúng người, trời, dạ xoa mà tin

Nghe xong Phật pháp thắng công đức

Đa phần cùng muốn giác tương ưng

Trong Phật thắng đức đã sinh tín

Các bờ công đức con hỏi sang

Tâm con đấng gọi Vô Biên biết

Chứng trừ thắng, người chẳng phải con

Giải tan phân biệt mười lực hạnh

So đức, người đời thèm vui hơn.

Đức hạnh Bồ đề tối vô tỷ

Trăm phương tiện lớn nói trí hành

Như người phá đen gần cọng lực

Như chóng phóng ra trí quang minh

Như động đất ba ngàn sở hữu

Như hạnh Bồ tát nói vì con.

Cây Bà tra thắng giác

Trụ đây, phấn chấn ra

Như phóng quang soi cõi

Câu trí na do tha.

Như đại địa chấn động

Độc chứng trí tối thắng

Hạnh lành với người tu

Như hành sẽ nói ra

Như có sẽ được tướng hoa nở

Như sinh âm trụ trì vô biên

Như được chánh định, mê lưu lai

Như Bồ tát hạnh sẽ biện bàn

Như có tướng hoa nở vô cấu

Như có nghe khéo, ý giữ gìn

Như tợ mê còn, có chẳng động

Đủ trăm công đức như nói hành

Vô Đẳng, Vô Xưng, không siểm trá

Vô ngã, Ứng Cúng, ba bẩn không (vô tam cấu).

Trí được người khen Sa môn thắng

Con nay hỏi hạnh người đó hơn

Ý khéo hành trì lời hoa nở

Lời không bẩn, không lầm, thắng ngôn

Bậc thiện vua trâu trừ hết bẩn

Như chóng làm Phật nói vì con.

Như có nhiều người đến đây họp

Không dị tâm ngày đêm tinh cần

Những người đó đã nghe thắng hạnh

Sẽ trụ hạnh Bồ tát thật chân

Đây nhiều người, trời ưa Phật đức

Ngày đêm chẳng thừa quyết lực cần (siêng)

Kia nghe hạnh này sẽ tuân phụng

Sẽ được mười lực, lực khác tan

Như sẽ đắc được Tam ma địa

Như được biện tài và trí thông.

Như Phật quang soi vô biên hướng

Sẽ hỏi trí tuệ vô biên xưng

Dáng cười Như Như nói như vậy

Như Như trong các pháp biết thông

Như được trí thông trụ trì rộng

Thấy trăm vô cấu Phật mười phương.

Sao gọi sẽ được Vô tỷ trí

Thiện na do đa câu trí kinh

Sẽ khi nói pháp không lầm lộn

Sẽ vì con biện Bồ tát hành

Con chẳng hỏi vui “hữu”

Đường “hữu” bỏ cho xong

Con chẳng hỏi tiểu hạnh

Lìa bỏ cả các hành.

Như được đức tối thắng

Trăm thứ công đức tròn

Vì con nói như vậy

Tươi cười rạng dung nhan

Con nay chẳng hỏi đường vui “hữu”

Con nay chẳng hỏi cảnh giới nương

Bậc Thắng ! Con muốn sanh cam lộ

Sở hạnh mười lực nói thật chân.

Thiện Thệ ! Sao gọi là tịnh thí ?

Sao gọi trì giới chấn bỏ trần ?

Sao gọi Nhẫn từ đều ưa muốn ?

Như có tinh tấn, đó tuyên dương !

Sao gọi ái trí ưa đoạn hoặc ?

Sao gọi trí độ dứt danh ngôn ?

Phải biết biển trí chẳng thể động

Như hạnh Bồ tát nói vì con

Nếu con chẳng được hỏi Thiện Thệ

Trí con ở trong chẳng tận cùng

Được qua Biến Trí bờ công đức

Vì con đều nói đức vô biên.

Bồ tát nói lời kệ như vậy rồi, đức Phật bảo Đại Bồ tát Hỷ Vương rằng :

– Hay lắm ! Này Hỷ Vương ! Hay lắm ! Này Hỷ Vương ! Ông nay phát khởi hạnh vì lợi ích của nhiều người ! Vì an lạc của nhiều người ! Vì thương xót thế gian đem nghĩa lợi ích, an lạc cho người, trời. Ông cũng vì những Đại Bồ tát bây giờ và vị lai mà chẳng đoạn tính Phật chủng, chẳng đoạn tính Pháp chủng, tính Tăng chủng. Ông đối với Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, hôm nay hỏi ý nghĩa này. Như ông ở bên các đức Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng đã từng vấn nạn sinh ra giải nói. Này Hỷ Vương ! Ông phải lắng nghe ! Giỏi tác khởi chánh niệm ! Ta sẽ vì ông giảng nói ! Bồ tát nhân vào tam muội gì để được những điều này và các công đức khác ? Biết tâm hạnh của các chúng sinh ?

Đại Bồ tát Hỷ Vương thưa rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Đúng vậy con ưa nghe !

Đức Phật dạy rằng :

– Này Hỷ Vương ! Có Tam ma địa gọi là Quyết định quan sát các pháp hạnh. Đại Bồ tát nếu nhân vào Tam ma địa này thì được tám mươi bốn ngàn Tam ma địa, được tám mươi bốn ngàn Đà la ni, được tám mươi bốn ngàn Ba la mật, mau chóng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi, chuyển bánh xe pháp Vô Thượng, vì đời trời, người.v.v… sẽ tạo tiếng kêu rống. Này Hỷ Vương ! Đó là những gì mà gọi là Quyết định quan sát các pháp hạnh tam ma địa ? Những cái đó là : Như nói Như làm, Như làm như nói, thân tịnh, lời tịnh, tâm tịnh, cầu đến lợi ích, tạo tác tâm bạn bè, chẳng vì cầu dục, chẳng bỏ được bi, chẳng vì thủ lấy pháp (10 điều). Chẳng mất được tín, tự thệ chẳng động, khéo vào chúng sinh, lời nói tạo tác điều thuận, nghiệp thuận thu liễm thân, lìa bỏ lời nói ác, tâm không lừa dối, người khổ khiến cho ân nhuận, người vui dạy tu hành (20). Người phóng dật thì biết xét lại, kẻ phát khởi tinh cần thì khiến cho quyết định hợp pháp, người hối thì khiến tan ra, chẳng trụ pháp tưởng, lìa khỏi chúng sinh tưởng, chẳng phân biệt sự tưởng, bỏ các thủ (lấy) trước (chấp), quan sát biết đến tướng, thủ lấy giới chẳng động (30). Thường cầu đến trí, lìa khỏi lời nói thế gian, cầu lời nói xuất thế, tự tiến chẳng quen, nghĩ thuận với pháp, vào sở tác của Như, làm thuận theo nghi thức, với nghiệp nhất định tin, lìa bỏ chẳng tin (40). Có nhiều tín giải, với Phật tác niệm, có tội nói lên rõ ràng, với phước thì tùy hỷ, khuyến thỉnh với Phật, người đáng lễ thì lễ, không có cao mạn, chẳng chán thiện căn, thường siêng tương ứng, chẳng bỏ cần (siêng) hợp (50). Thông sinh ra câu, tin nhân tác nghiệp mà thọ quả báo ấy với duyên biết xét lại, chẳng chấp trước hư thật. Có sự nói năng (60). Chẳng trụ dục giới, chẳng đồng sắc giới, chẳng đắm trước vô sắc giới, đối với quả nghiệp báo theo đó mà tin, đều cùng vật chia, có tâm bình đẳng, chẳng hại pháp giáo, hợp trong chẳng hợp không có sân nhuế, người khác được trúng lợi cũng chẳng có ganh ghét, thỏa mãn điều mong ấy (70). Qua đến pháp thệ, chẳng bỏ giới tụ (nhóm lại), trừ kiêu mạn, lìa sân giận, cắt hết ngu si, chẳng sinh tham hạnh, theo được tri túc, chẳng cầu quyến thuộc, được lợi chẳng cao, không lợi chẳng thấp (80). Pháp lợi vui lòng chia, chẳng đem tích trữ, lời ác chẳng đáp lại, tự hộ trì lời nói của miệng, hiển sáng Bồ đề, xem xét phát khởi tinh cần hòa hợp, trụ ở A lan noa (90). Đối với công đức đầu đà và cả giảm tỉnh đều có hỷ lạc, tín giải đối với không, chẳng đắm trước các việc, trong tụ họp chẳng nương, trong giới chẳng nghĩ, trong Nhập chẳng thấy, trong cảnh chẳng ái, trừ diệt điên đảo, tâm khiến cho niệm trì, trí huệ phát sinh (100). Hành theo hạnh Thánh, thuận thu liễm tâm, thuận theo đến đất phước điền, trừ bỏ các hành, bố thí chẳng cầu báo, trong giới (cấm) chẳng niệm, chẳng phân biệt nhẫn, chẳng che tinh tấn, chẳng nương định ý, trí biết các pháp (110). Vào đất lục độ, chẳng nghĩ đức của mình, chẳng ghét đức của người khác, chẳng nương các hạnh, chẳng xưng lường hạnh, ở trong Niết bàn không có vin duyên, chạy trốn sự lưu chuyển, ở trong giải thoát không có tư tưởng sợ, ở trong thọ tụ không có tư tưởng người hại, ưa thích diệt độ (120). Trụ ở Nhẫn, dung nhan cười vui, hỏi thăm nói trước, mặt không nhăn buồn, kính già, trẻ, trung niên, tâm ấy tịnh tín, chẳng bức não người khác để làm chủ, diệt tranh cãi, khen nói tịch tịnh, siêng dạy hòa hợp (130). Yêu ghét lòng bình đẳng, cầu Đà la ni, trong các chúng sinh coi như cha, mẹ, anh em, chị em, con cái, thân thuộc, tôn trưởng, bạn bè, thương nghĩ bình đẳng, yêu bậc Thánh như cha, ở trong người thân cận thì yêu kính tôn trọng, ở trong Bồ tát thì ái niệm như Phật, trong pháp ái niệm cũng như tự ngã, ở trong đa văn, không có chán đủ, trong hạnh thì phụng hành, cúng dường Như Lai (140). Tín giải thượng diệu, không có co lại (rụt nhỏ lại), tạo tác giống Tam Bảo, Nhẫn chẳng định nói, trong thân chẳng tiếc, trong mạng chẳng tiếc, sinh sống trong sạch, với hạnh khất thực mà chẳng bỏ ách (dụng cụ mắc vào vai, cổ để kéo), khất thực bình đẳng lấy làm ái mỹ, khéo trụ ở chỗ A lan noa (150). Lìa bỏ tại gia, lòng thường mừng vui, chẳng xen lẫn tục gia, với người xuất gia cũng mừng vui chẳng xen lẫn, chẳng làm thiện dối trá, chẳng tự khen ngợi, nói năng bằng lời ái ngữ, trong Bồ tát thừa giáo hóa chúng sinh, người với phương tiện thường thuận niệm Phật (160). Tư duy với pháp, thường tôn trọng Tăng, cúng dường người trí, gần gũi kẻ giải thoát, thủ hộ người định ý, phò trì người cần hợp, nói đạo Bồ đề, tin vào phước đức, với việc dạy bảo chúng sinh thì dùng thiện căn (170). Ái niệm người tin, tan ra kẻ khổ, trong sạch uy nghi, thẹn mà có sợ, sợ thấy thẹn và hối, lìa khỏi người ác, trụ đúng như pháp hạnh, hướng về trừ diệt, cần đến hạnh Thánh, huân tu niệm xứ (180). Hằng trụ chánh đoạn, được mọi thần túc, thủ lấy các căn; thành tựu được Lực, quán Bồ đề phận, Đạo chẳng điên đảo, vào Chỉ tức (Xá ma tha), xem xét phát khởi Quán (Tỳ bát xá na) với tâm chẳng mừng, trong pháp đều vui (190). Vượt qua vin duyên trong đất mà có thể chẳng trụ chẳng kinh sợ, không thấy, chẳng sinh đọa tưởng, hộ hạnh Bồ tát, ở trong hạnh Phật tác khởi vô lượng tưởng, chán bỏ hạnh ác, bỏ sở tác trước kia, làm sạch nghiệp của mình (200). Bí mật giới cấm của luật tạng và biệt giải thoát, chẳng hủy báng pháp giáo, đúng lúc mà làm, lìa khỏi phi thời, khéo léo vào ra, biết được nguyện lượng, trong việc sinh sống đủ mà chẳng mừng, vào các trí thông, tu tam muội, vào với sở hạnh (210). Vào với diệu bảo, lời đã nói của Như Lai thủ lấy chẳng thể được, người cần hợp thì vui mừng, hiển minh Phật tử, khiến cho hàng Thanh văn nghe hạnh, khiến cho hàng Độc giác thuận biết một đường, tài vật của Bồ tát, chỗ ở của Thanh văn, sở hạnh của bậc trí giả chính là thú hướng của người điều thuận (220). Trọng người nói pháp, quan sát nhiều người tin, thị hiện Phật đạo, cầu của cải là kho tàng, cầu quả báo là ruộng, ba lửa nhiệt não là vườn, được tam muội là ao hoa, sinh ra bạch pháp là mẹ, người chẳng tin thân thì khiến cho dừng ràng buộc duyên với tướng (230). Bố trí các việc tốt, bình đẳng trụ ở cõi Phật, được Đà la ni, phát ra đủ thứ trí, huân tu cần hợp, vượt cảnh giới ma, mạnh mẽ chiến đấu cắt đứt phiền não, tiêu diệt việc bất thiện, phất triển mạnh điều thiện (240). Siêng tác nguyện là chuỗi ngọc, Ma chẳng thể phá, lời nói không tận cùng, thế gian chẳng ngang bằng, ngoại đạo chẳng biết, đã qua trong pháp Thanh văn, đã ra khỏi Độc giác, an trụ trong Biến trí, con đường đến của chúng sinh vào đạo, lời nói của thiện bằng hữu (250). Như thật biết xem xét đối với người, thọ báo đó là đẳng hỷ, người muốn uống là vị, người muốn mừng vui là vòng hoa cài tóc, người hướng về Niết bàn là xe chở, người đi qua bờ là thuyền, người muốn độ là bè, người sống mù là đèn, người muốn thấy là mắt, người nói pháp là đuốc (260). Đối với người chẳng hư rỗng là lời thề, người muốn bố thí là của cải, người muốn giải thoát là phương tiện, người cầu đùa vui là niềm hỷ lạc, người đẳng hỷ là tịnh tín, người hoan hỷ là yêu thương, người cầu nghe là tình xứ, người được tam muội là mê lưu (còn lại), người mong được mắt là Đế Thích, người vào đấu chiến là dũng mãnh, người muốn trụ là hang động, người tự tâm hành là Phạm tâm, người cầu hợp là hỷ lạc (270). Đối với người chẳng thoái chuyển là chỗ ở, người được Vô sinh pháp nhẫn là tịnh tâm, người trí hạnh là niệm, người sơ nghiệp (đầu tiên tạo nghiệp) là phương tiện, kẻ trượng phu trí là lẩy nỏ, người tam muội là cung, người nói Vô ngã là Đại thừa; người biến trí là đạo, khiến cho người giải thoát sinh bình đẳng trí, chỗ chư thiên lễ bái (280). Các rồng dâng hoa, mọi người cúng dường, nạn của người học, người tạo tác vô học hướng về lễ bái, Bồ tát khen ngợi, pháp chủ nhớ nghĩ, đối với người che dấu căn là thành quách, người phương tiện khéo là đạo, người cần hợp là lợi, người nghi ngờ là tan biến (290). Người dục khiến cho đoạn, kẻ phiền não thì ói ra, người muốn độ thì khiến cho nổi lên, đối với người bệnh là thuốc hay, người chẳng thấy điên đảo là trị, người bị tên là rút ra, người muốn làm sạch thì tự tại, người muốn tạo tiếng rống là tướng không sợ, thú hướng của người muốn nghe (300). Đối với người Niết bàn là đạo, kẻ đi đường ác là xa lìa, người cõi Dục cõi Sắc, cõi Vô Sắc là vượt qua, người trang nghiêm cõi Phật là chuỗi ngọc, người tam muội Kim cương dụ thì sinh Nhân, người sinh lần sau cùng thì ngồi tòa sư tử, khiến cho người phước đức chẳng mất, người cầu khiến cho lấy được, người đi thì sách tấn (khuyến khích tiến lên), người rơi xuống thì khiến đứng dậy, kẻ lười biếng thì khiến cho phát khởi lực (310). Đối với người phát khởi việc là kiến lập, kẻ phát khởi việc quá thì khiến cho dừng lại ở Định, khiến cho vào các việc, khiến cho bỏ, lấy, kẻ đấu tranh thì khiến cho họ trừ bỏ, người biết khiến cho họ thỏa mãn, được sinh vô biên cửa, người nói thắng nghĩa thì khiến cho họ chẳng mật, khiến cho người nói “không” rốt ráo tịch tịnh, người tin Vô tướng thì khiến cho diệt phân biệt, người tin Vô nguyện thì đoạn dừng việc gấp (320). Khiến cho người tin xả vượt qua ba đời, thuận đến các xứ, trong phương tiện khéo thì đối với giác là đèn, đối với chưa học lòng chẳng khinh miệt, đối với người nói pháp thì không có sở cầu, trong pháp lầm lẫn của người nói ấy chẳng sinh sân nhuế, đối với kẻ cùng một thừa không có hủy báng, chẳng mong đồ vật ấy mà vì nói pháp, đối với người nói pháp là những sự cúng dường, ở trong việc nghe pháp thì lòng chẳng tán loạn (330). Ở chỗ đồ chúng không có ý niệm lừa dối, ở trong pháp thí không có đoạn tuyệt, đối với kẻ thuần trực (thẳng) thì khó có thể hỏi gì, đối với người sân giận thì trụ ở Nhẫn tâm, kẻ hối thì khiến cho tan biến, đối với đạo chẳng dứt cầu đến với trí tụ, khiến cho người nương vào thủ (lấy) mà được giải thoát, kẻ ác khiến cho điều phục, người không trụ xứ thì khiến cho xả bỏ (340). Người muốn thuận niệm thì khiến cho họ chánh niệm, phát khởi Bồ tát, hiển thị các đức Phật khiến cho bốn chúng vui mừng, đối với thắng vị là vị ngon, với kẻ muốn đùa cợt là sấm, đối với cam lộ là cửa, thú hướng của người Niết bàn hạnh thì khiến cho ham muốn, người được chẳng sợ thì có mát không nóng, chính là người đắc đạo giải thoát ràng buộc (350). Đối với sự thỉnh mời cùng lợi ích của tâm vui thì tâm ấy buông dứt niềm vui của ý, niềm vui của thân, kẻ trí đã thủ lấy thì thọ nhận chắc chắn chẳng bỏ, chẳng chuyển đạo hạnh phương tiện của Như Lai, huân tập các thiện căn, phá hoại các căn chẳng lành, đó là sở học của bậc vô trí, là sự thành tựu vào trong phương tiện, chẳng dối trá là tướng, sở hạnh của người thuận lời dạy của Phật, kẻ trí tụ là ánh sáng, lễ bái hàng câu trí (đơn vị đo lường) các đức Phật, có thể tạo ra hàng câu trí vấn nạn, đoạn dứt sự nghi ngờ ấy, sinh trưởng các pháp bạch tịnh, xả bỏ sự trợ giúp đen tối, chẳng mất các phước hỷ, phước thì ái sinh, hỷ lạc thì dũng kiện, người muốn nói là biện tài, người nói pháp là hộ trì, khiến cho các nhân sinh ra ái, ở trong các pháp mà có thiện xảo, biết ở với sinh diệt mà thị hiện Như Như, ở trong đồ chúng tâm minh điều phục, người hợp phương tiện thì khiến cho mừng, kẻ kiêu mạn thì khiến cho tan biến, người phương tiện thành tựu ngồi khiến cho kẻ tư duy quan sát no đủ (400). Nhìn xem không ác, bậc pháp chủ thì danh xưng như sấm, bậc trượng phu bước dũng mãnh, kẻ bẩn phiền não thì khiến dừng lại, người hành theo các kiến thì khiến cho hại tan, người nghe thì khiến cho trì, tổng trì với pháp, khiến cho người nói pháp không có lầm lẫn, chẳng chuyển Bồ đề, giỏi vào các cửa, căn lành gom lại, chẳng đoạn Phật nhãn, rực sáng pháp nhãn, nhiếp lấy Thánh chúng, hàng phục luận sư khác, khéo nói pháp ngữ, sở hạnh của Bồ tát với người, lòng bình đẳng là vầng trăng, với kẻ cầu nghiệp là mặt trời, với người muốn học là thầy, với các kinh là hộ trì, với kẻ trí là người dẫn đường, hạt giống bạch pháp, quả chín cam lộ, thuận niệm với sinh mà chẳng nhiễm lưu chuyển, kẻ si mê nghiệp phàm thì khiến chán bỏ, công đức Như Lai là chân thật, người khen ngợi được quả báo vô biên, người thọ trì thì nhân biến trí đến, người đọc tụng thì lợi được thú hướng (430). Người chép thành sách thì vào vô biên công đức trí, người nói thì vô lượng phước đức, đó là bậc “Bất lai” qua bến, đó là bậc Bất động trụ xứ, với những người thọ thế dục thì vì họ nói, chư Phật đã nói lời xưng dương, chúng của Phật quá khứ thỏa mãn, sở vọng của Phật vị lai, là trí tạng của Phật hiện tại, hạnh của các chúng sinh nhập môn, với người của thừa Thanh văn là đèn, với người của thừa Độc giác là đuốc sáng, với người của Phật thừa là hộ trì, những người sinh ra chẳng mất, thị hiện tay Phật là Ấn, với kẻ chẳng che giấu là Thật, với kẻ được trí mau chóng là Chuyển sinh, có thể khiến hỏi công đức của Phật, khiến cho người muốn làm chẳng chán, khiến cho lửa phiền não tịch diệt (450). Được trí phương tiện, khiến cho giải địa giới, khiến cho vào thủy giới, bình đẳng vào hỏa giới, chẳng trụ ở phong giới, sinh ra giải thoát hư không giới, thanh tịnh trí giới, thuận vào pháp giới, chán bỏ các hạnh, ngăn đoạn thuận miên (ngủ, hôn trầm), tiêu tan sân si, trừ bỏ yêu ghét, hạnh của mình khéo léo, hạnh người khác khéo léo, khiến cho người muốn nói có biện tài vô tận, trong những sự sinh ra khiến cho chẳng vào chấp trước, khiến cho kẻ tương ứng chẳng thể ngôn thuyết, bỏ đi ngã tướng, trừ đi tướng ngã sở, lìa xa sự chấp trước (470). Lòng thấp mà “Như” lớn, tối diệu nhập môn, khéo ràng buộc với Định, với kẻ thiếu thốn là bóng che, khiến cho qua khỏi dòng, kẻ ngoại luận chẳng thể phá, với người thuần trực chẳng thể nói xấu (ác), xa lìa thùy miên, gần gũi người nói pháp, vượt qua trạo cử hối hận, trừ diệt hết si, tiêu tan tham dục, xa lìa biếng nhác, chẳng thấy nơi ngã, hiển sáng vô ngã, chẳng kiến lập mạng, trong pháp chẳng chạm xúc, trong lời nói chẳng tranh cãi, đã biện luận là hợp lý, giỏi suy nghĩ, chẳng tạo tác hạnh, có thân thể điều thuận, có chẳng khiếp nhược, rốt ráo tín giải, vào chúng chẳng co lại, đức của mình chẳng lấy làm vinh dự, đức của người khác chẳng ganh ghét, tâm ấy thường hành Biến trí, chẳng thủ lấy chỗ ở (500). Lìa chẳng hợp ngôn, thường sạch đều hạnh, chẳng yêu thân ấy, nhiếp liễm lòng ấy, với hạnh khéo léo, suy nghĩ thuận niệm, chẳng hủy báng, chẳng kiêu mạn, cầu với giải thoát, muốn được không nghi, niệm tu phạm hạnh, với từ thì lòng bình đẳng, với bi thì thuận nhiếp lấy, với hỷ thì luôn nghĩ đến, với xả thì diệt yêu ghét, với Giới thì thuận nhiếp lấy, với Định thì đều sinh ra, với tuệ thì đều hiểu biết, đã sinh ra chữ, lời nói khéo léo (520). Vào các âm thanh lời nói, chẳng vì tài lợi, diễn nói pháp rộng rãi, chẳng mừng chung chúng, một đêm dời hạnh, đã chẳng nâng lấy, cũng chẳng đặt xuống, trong ấy hiểu biết, chẳng chấp trước các pháp, hiểu rõ được Như, chẳng lừa dối các chúng sinh, chẳng đoạn chủng tính Tam Bảo, với pháp thì nhiếp lấy (530). Thỏa mãn nguyện bền chắc chẳng ham muốn Tiểu thừa, cùng định tương ứng, ngày đêm chẳng xả, đầy những lòng thanh tịnh, trí tuệ công đức. (Nương vào bản chữ Phạm hợp lại có 535 câu, trong đó phân câu dài ngắn, ly hợp không nhất định chuẩn, ngắn nhất thậm chí hai chữ làm một câu, dài nhất cho đến năm chữ mới thành một câu. Đây mới theo nghĩa phân câu nên chẳng thể ở sau mỗi một mà ghi số. Xin tùy nghi mà tường lãm tốt vậy (ghi chú nguyên bản). Khi dịch ra việt văn câu chữ nhiều hơn và dài hơn, xin chư vị lấy ý hơn là lấy văn (ghi chú của dịch giả).

Này Hỷ Vương ! Đây gọi tên là Quyết Định Quan Sát Chư Pháp Hạnh Tam ma địa, chính là cảnh giới của Đại Bồ tát vào chúng sinh hạnh, thủ lấy trí Biến Tri.

Trong khi đức Phật nói pháp bổn này thì chín mươi hai na do đa Bồ tát ở trong pháp vô sinh phát sinh nhẫn. Năm ngàn chúng sinh trước đây chưa phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì đến hôm nay đều phát sinh. Ba mươi na do đa trời và người rốt ráo tịnh tâm, ở trong phiền não sinh ra xa trần lìa cấu, ở trong các pháp sinh ra pháp nhãn. Mười trăm ngàn Tỳ kheo chẳng thọ nên lòng vô lầu giải thoát. Ba ngàn đại thiên thế giới này sáu thứ chấn động, ánh sáng lớn soi khắp thế gian. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại muốn khiến cho ý nghĩa này hiển sáng không lường nên liền nói lời tụng ca rằng :

Sở hạnh thanh tịnh là đạo Thánh

Lòng ấy giải thoát pháp thuận tùng

Mắt Bồ đề phận trong pháp biện (luận)

Tam muội này là Thiện Thệ hành

Hàng phục ma la, xa lìa bẩn

Đoạn hữu ái, trừ chướng sân

Danh xưng và Trí thiện đủ đức

Tam muội này là đức trí tràng

Ở trí là đất và đường thiện

Họ các thánh giả, phá ma quân

Giải thoát được Hữu, Thiện Thệ khen

Tam muội này của cải đức trí.

Khéo vào pháp hạnh các tế môn (cửa các cõi)

Thuận biết lỗi ác đã đoạn dứt

Diệt trừ khổ, vào vui thắng hơn

Tam muội này là hạnh Thiện Thệ.

Đây là hoa Giác niệm, Giác phận.

Tàm quí đầy đủ, nhiếp lấy thiện

Đường Thiện Thệ, man (vòng cài tóc) Bồ đề phận

Thắng tam muội, đây đã nói rồi.

Trường (chỗ đất rộng) Bồ đề phận, Giải thoát soi

Sáng hơn ánh sáng của tinh tú

Tạo ra ánh sáng vượt tam hữu (ba cõi)

Khen pháp đó như vậy hơn trăng.

Ba thứ phương tiện mong sạch trong

Gần gũi vua tối thắng Giải thoát

Bỏ trá thiện và lợi tri thức.

Nên thành tựu Tam ma địa này.

Hủy nhục người khác phải viễn ly

Chớ tự khen ngợi nhân tri thức

Chỉ ba y, thường đi khất thực

Không tích trữ cùng đây hợp chung

Mong được các Thánh, giới phân bằng (giới cấm)

Thường nên cung kính hỏi người trí

Như thật tu hành theo điều hỏi

Thì sẽ được định Tịch tịnh liền

Nếu có giới (cấm) làm đẹp thế gian

Vua xá ma tha, xa mọi dục

Không kiêu mạn, chớ thiện dối gạt

Thì sẽ được thắng định nhanh hơn.

Thường cung kính với bậc sư tôn

Hoặc già, hoặc lớn, như người trẻ

Thường thọ giáo những chỗ như thế

Của cải Thiện Thệ muốn cầu xin.

Chớ làm mặt giận, không thẹn thùng

Thấy những người đời thường chung nói

Chớ cống cao kiêu mạn tự tại

Thì sẽ được định Tịch tịnh liền

Chớ thương tiếc hãy nên xả thân

Chớ có lười biếng, nhiều ngủ nghỉ

Tương ứng ngày đêm tu niệm ý

Thì sẽ được thắng định tức thì

Đẳng tâm với đời, Từ làm vui

Dùng Bi ý hành Bồ đề hạnh

Hỷ Xả bình đẳng ý xưng lượng

Thì sẽ được thắng định ấy liền.

Của mười lực nên thường giữ gìn

Đến khi pháp phá tan đời khổ

Của cải pháp nếu thường thủ hộ

Thì sẽ được định Tịch tịnh này.

Ba cõi ý thường chẳng đắm say

Thuận theo nhớ nghĩ khổ lưu chuyển

Muốn cầu Niết bàn, nơi yên ổn

Chóng được tối thắng vô tỷ thân.

Thuận theo nhớ nghĩ, vô ngã, không

Ở trong các tướng xa lìa hết

Cũng lìa ba cõi nguyện sở tác

Thì tức tốc đại bi được thành

Bố thí tự giữ hoặc điều hành

Trì giới và nhẫn tinh tấn nữa

Thường vui với Định và trí tuệ

Thì tam muội này mau được thành.

Như ta, trăm kiếp xưa, tu hành

Như ta nói hạnh Bồ đề ấy

Như ta được giác Tịch tịnh vậy

Những hạnh như vậy mau chạm (xúc) xong

Ta là Biến Trí, Thiện Ngưu Vương

Học ta các thắng hạnh sở hữu

Nếu làm như ta làm trước đó

Thì sẽ được Phật, hơn mọi người.

Ăn vị giải thoát, mặc hổ ngươi (mặc áo xấu)

Lòng vui không nhàn, tin ở định

Yêu vô ngã thường làm ca vịnh

Thì sao trí người, sẽ vui riêng ?

( Vân hà tha trí đương độc lạc)

Gánh lời mắng chửi, chịu nhịn nhường

Chớ ôm oán hận, chẳng cung dưỡng

Ứng với nghiệp báo phải tin tưởng

Thì kia sẽ được Thắng định liền.

Xa lìa ác đạo và hữu kiến.

Phải thân cận đường Thánh rỗng không

Ngày đêm lực tinh tấn khởi lên

Thì định này người đó sẽ được.

Chẳng ái đạo, xa lìa nhị biên

Gần đạo bình đẳng hay đường thật

Tu hành như đây, được Phật thương

Như quán chẳng sinh, chẳng tác pháp

Tối Thắng chẳng cầu diệu hoa hương

Diệu y và tràng phan bảo cái…

Như thuận theo hành với pháp “không”

Đây là tối thắng đệ nhất cúng.

***

PHẨM THỨ HAI : CẦN (SIÊNG) ĐỜI TRƯỚC TƯƠNG ỨNG

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Đại Bồ tát Hỷ Vương rằng :

– Này Hỷ Vương ! Lại nữa, Bồ tát biết các pháp chẳng nương (y); nên biết các pháp chẳng xuất, chẳng diệt, chẳng tác, chẳng sinh; xa lìa nhẹ rỗng (khinh hư) tự không chẳng chắc, chẳng lấy, chẳng bỏ; nên biết các pháp vô thường, khổ, vô ngã, tịch tịnh; nên biết các pháp không, vô tướng, vô nguyện, nên biết các pháp vô ngã, vô chúng sinh, vô mạng, vô phú già la (20). Nên biết các pháp chẳng hợp, chẳng nên làm, không tự thể, không tướng, không có; nên biết các pháp lìa nhiễm chẳng hành, lìa hý luận chẳng hành, đến tối thắng chẳng đủ thứ (30). Không hí luận, lìa hí luận, chẳng thể lấy, chẳng giữ, không trú xứ, chẳng lại, chẳng đi, chẳng trụ, không chữ, chẳng thể nói (40). Các pháp chẳng thể nói, chẳng thể đem lại, không nghiệp, không báo; nên biết các pháp chẳng phân biệt, không đủ thứ phân biệt, đoạn hết phân biệt, các tưởng và niệm đều đã đoạn trừ, phá trời bằng đời được qua năm đường, qua khỏi chúng sinh, thắng chúng ma la, vượt qua ma la phiền não, ra khỏi ma la tụ họp, đoạn dứt ma chết, đầy trí vô trước, nhiếp lấy thắng sắc ba đời, được sự yêu thích của các chúng sinh, được sự cúng dường của người trí, có thể ở các pháp thấy được pháp thể ấy, được nhục nhãn tịnh đến thiên nhãn sáng đến trí nhãn hành chẳng động pháp nhãn, đầy đủ Phật nhãn như trăng hiển chiếu, biết tâm của các chúng sinh, người chẳng cần hợp (siêng hợp) phải tạo sự xét biết, bỏ những cái đã thủ lấy (50). Ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, vì những trời người tạo tác chi thể, đế tướng thuận theo, được tịnh hạnh địa, thông cõi vô ngã, biết đến cõi phát xuất, chỗ của các chúng sinh, phải tạo tác gần gũi tôn trọng, lìa tăng thượng mạn, có được sức nhẫn vượt qua năm chướng ngại, có thể với danh sắc biết bản tánh ấy, giác ngộ thuận theo ngôn từ mà các đức Phật đã nói, thuận giác ba mươi tướng (60). Với được, chẳng được lòng có sở thủ (lấy) đều đã vượt qua cái được của thế gian mà được thế pháp chẳng nhiễm, với các chúng sinh sẽ vì họ làm nhà, mở cửa Niết bàn, khiến cho các chúng sinh vào được thành Vô úy, cho vị cam lộ, diễn nói đến pháp, tỉnh ngủ phiền não, tan nóng của chúng sinh, đoạn dứt sự chấp trước, các kiến trói buộc.v.v… của họ; sáu căn chẳng nhiễm mà vì chúng sinh nói pháp, được mười sáu chữ, cửa đã phát xuất Đà la ni. Cái gì là mười sáu thứ Đà la ni đó ? Đó là chữ A là nghĩa chẳng sinh, chữ Ba là nghĩa tối thắng, chữ Già là nghĩa bốn thật, chữ Na là nghĩa biết danh sắc sinh, chữ Đà là nghĩa điều phục, chữ Sa là nghĩa vượt qua chấp trước, chữ Ca là nghĩa chẳng mất nghiệp báo, chữ Ta là nghĩa các pháp bình đẳng, chữ Dà là nghĩa thậm thâm, chữ Tha là nghĩa thế lực, chữ Xà là nghĩa vượt qua sinh lão tử, chữXa là nghĩa đoạn phiền não không còn, chữ Tha (Sa) là nghĩa xuất phát cao, chữ Sá là nghĩa trụ, chữ Trà là nghĩa giáo hóa Di lê xa ở biên địa (bản chữ Phạm cũng thiếu một chữ). Này thiện gia tử ! Đây là được mười sáu chữ đã phát ra Đà la ni. Gọi là được Đà la ni là chỗ sinh ra trí khéo léo giải biết các pháp vốn tự rỗng không, khéo sinh ra trí tự âm (chữ âm thanh) giải biết được không, ưa giải thoát của Phật; bỏ ái, chẳng ái mà không nuối tiếc, với lập luận khác của các ngoại đạo thì đúng như pháp mà hàng phục; nói tiếng rống sư tử, đắc được Phật trí, hưng khởi Pháp thí, vứt bỏ các phiền não, phá nghĩa oán ác, tin pháp luân của chư Phật chuyển, thông đạt được Như cho đến biết pháp, sân hận kiêu mạn đã lìa, bùn dục chẳng nhiễm, điều ngự chúng sinh, trừ khử dơ bẩn, có thể dùng nước bị gột rửa chúng sinh, thống lĩnh đồ chúng, thuận được thế lực, vượt qua già chết, nghĩ ngàn số kiếp, tổng trì pháp tạng, thông đạt cõi tịch tịnh, được “không đẳng” trí, thuận giác hết pháp, các chúng sinh.v.v… đã ứng lời khen ngợi, đầy vô chướng trí, được không nhiệt não, huân tập thuận hạnh, tiêu diệt quân ma, bóng che ba ngàn đại thiên thế giới, thuận niệm đời trước, chiêu tập Niết bàn địa, tạo tác thú hướng y chỉ, người tại gia ấy đều che hộ hết; biết chỗ và chẳng phải chỗ, chẳng bỏ lời thề trước; với các chúng sinh đem “từ” đầy khắp, biết gom sở niệm của chúng sinh, nghe ý sẽ tạo tác chánh chơn, được giới hương Chiên đàn na, được đường sinh tử, thuận được Niết bàn, biết các pháp như chữ Na chạm xúc trụ. Này Hỷ Vương ! Đó là chữ Na trở lên không chữ. Đó cũng không tên, cũng chẳng thể nói, cũng không có tiếng, chẳng thi thiết (thi hành thiết lập) tên, chẳng biết tên gọi. Trong ngôn từ các tiếng đó chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại. Các đức Phật đó chẳng đã nói, chẳng nay nói, chẳng sẽ nói, chẳng sinh, chẳng xuất. Các pháp tướng như vậy.v.v… Bồ tát phải biết. Này Hỷ Vương ! Lại có mười sáu chữ nhập môn Đà la ni. Cái gọi là giác ngộ hành tướng của chữ là nói Pháp thắng nghĩa, qua khỏi bốn dòng (tứ lưu), nói pháp không có danh sắc, khéo léo bố thí, tự thủ (giữ) ở Nhẫn, chẳng cậy sáu căn, hành theo lục độ, khiến diệt phiền não dục mà vì chúng sinh nói pháp, khéo biết các pháp sai biệt, không được nghi ngờ sâu, nói xứ chẳng phải xứ, biết sở hạnh của các chúng sinh, nhịn lời thô ác, xả bỏ da thịt tủy, biết hạnh niệm ý, an trụ pháp giới, giải biết chữ Na vào hết các pháp. Này Hỷ Vương ! Đây là mười sáu thứ chữ nhập môn Đà la ni. Này Hỷ Vương ! Nếu Đại Bồ tát hiểu đúng mười sáu thứ chữ nhập môn Đà la ni đó như chữ A là nghĩa vô sinh, chữ Ba là nghĩa tối thắng chữ Già là nghĩa độ bốn dòng, chữ Na là nghĩa nói danh sắc, chữ Đà là nghĩa bố thí tự giữ hòa hợp, chữ Sa là nghĩa trí lục thông, chữ Ca là nghĩa chẳng thấy nghiệp báo, chữ Sà (?) là nghĩa các pháp bình đẳng, chữ Dà là nghĩa thậm thâm, chữ Tha là nghĩa thị hiện thế lực, chữ Xà là nghĩa thị hiện sinh tử, chữ Xoa là nghĩa thị hiện sức nhẫn, chữ Xa là nghĩa vứt bỏ phiền não cực ác, chữ Ta Ma là nghĩa tự đại chứng giác, chữ Ta Tha là nghĩa nói xứ chẳng phải xứ, chữ Đa là nghĩa nói tận biên… thì những Bồ tát đó được những điều này gọi tên là Quyết Định Quan Sát các pháp hạnh Tam ma địa. Nhân mười sáu thứ chữ Đà la ni này, các Đại Bồ tát chẳng bị sự quở trách của người trí, bỏ tham dục, sân hận, ngu si, diễn nói đạo “đến bờ kia”, được bốn vô úy, thọ thân lực sĩ, cắt đứt cành dục, được sức mười lực, gặp được diệu âm, được diệt nhiệt não, trao ký cho Thanh văn, Độc giác, xa lìa tả đạo, được Như Lai địa, lời nói của Như, tạo tác của Như liền được, chúng sinh cao mạn sẽ khiến cho giải thoát, làm sự nghiệp của Phật, thuận được tụ trí, chúng sinh bị nghi thì đoạn sự nghi hoặc ấy, do sự có hòa thiện nên chung trụ yên vui, tràn đầy đại bi, vượt cảnh giới ma, tràn đầy tiếng hay, trừ kiêu mạn phóng dật mà được với Nhẫn, giỏi Định sâu, khiến qua các đường mà vì nói pháp, ở trong các pháp khiến cho được chỗ nông (cạn ?) vì trụ bờ kia khiến đến chỗ đất, biết sở hạnh của các chúng sinh, biết phương tiện hạnh của các pháp, nhớ vô số kiếp giữ các pháp thể, tịch diệt các ác, thanh tịnh các nghi, được không đẳng trí, thuận đến chỗ diệt phiền não, chóng đạp lên Giác trường, trời rồng phải khen ngợi, thuận giác các trí, khéo diệt cháy nóng, nói tự thể của các chúng sinh, ăn món ăn cam lộ, đoạn các nghi thụy (nghi hoặc, thụy miên), lìa bỏ theo chấp trước tập khí sở hữu, dùng đại bi ấy che chở các chúng sinh, nghĩ trước đời trước, thấy công đức ở Niết bàn, thuận hiểu sở hạnh của phàm phu, được đại trí mật hủy hoại các niệm khác, kêu với loa pháp, khiến trụ Phật trí, vượt chủng loại tướng, thuận hiểu sinh ra, biết chỗ chúng sinh, có thể khiến cõi Phật phong mãn, không cháy rực kia, lìa khỏi già bệnh, chóng có thể thuận hiểu mật ngữ phương tiện, đoạn đường sinh tử, thuận đến Niết bàn yên ổn, với bọn ác ma chóng có thể hàng phục, ở trong vô lượng thế giới thấy Phật Thế Tôn, ly dục rồi mà nghe pháp, cũng chẳng quên trí, như đã hy vọng thủ lấy cõi Phật, khéo biết du hý, sinh ra các Tam ma địa. Này Hỷ Vương ! Đại Bồ tát nếu được Thuyết quyết định quan sát chư pháp hạnh Tam ma địa này thì phải biết cũng được Nhất thiết trí. Vì sao vậy ? Nhưng lúc nào thì Bồ tát đó muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ? Hoặc một đời, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc mười, hoặc hai mươi, hoặc trăm đời, hoặc ngàn đời, hoặc trăm ngàn đời, hoặc một kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp… cho đến muốn vào thời gian lâu thì Bồ tát đó cũng lâu mới chứng giác. Dùng nguyện tự tại, ở trong lưu chuyển, đến tận bờ cõi kiếp sau cùng. Vì sao vậy ? Nhưng về sau, ở trong các pháp tự tại.

Khi đức Phật nói bản pháp phẩm Đà la ni tự môn này thì ba mươi hai ngàn Bồ tát được Nhẫn. Lúc đó ba ngàn đại thiên thế giới này sáu thứ chấn động. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài tụng ca này rằng :

Không lẫn không đục không uế tạp

Lìa phi thú (chẳng phải đường) đi đến cam lồ

Ứng trời đất cúng, không ai so (Vô Đẳng)

Trì phương tiện này, hành mười lực

Vui làm ly oan, hoang trần diệt

Mặt như hoa nở, người trời vui

Bậc Ứng Thắng, đức độ “hữu lưu” (dòng hữu = chỉ thế gian)

Trì phương tiện này hành mười lực.

Trừ diệt chúng khác, khéo hạnh khác

Người trời ái trọng, ý khác tan

Phân biệt hạnh khác ý khéo khôn

Trong đạo này hành hạnh mười lực.

Hữu, thủ, bất Như hạnh bỏ hết

Xét hiểu người trời, ý quyết Như

Hạnh hiển như trăng trong cõi hư (không)

Bậc Hữu nhãn hạnh hành kẻ trí.

Người trời thương yêu người ý đó

Chẳng ưa cảnh “hữu thú”, không lầm

Phân nói trong chúng, hạnh hàng trăm

Hạnh bậc trí này soi các hướng.

Được mười, hai mươi… có hai khoảng (phục hữu nhị ?)

Người trời phụng các tướng đẹp tươi

Được, mất chẳng trước, lìa cả hai

Kia được hạnh này soi mọi hướng

Thí chủ cam lồ hành thí thiện (giỏi, khéo)

Thường cùng thắng trì thế ngưu vương

Sức lớn mười lực, lực khác hàng (qui phục)

Chẳng lâu được hạnh người trí ấy.

Phân biệt nhiều đức, thắng niệm ý

Tịch diệt nhiều khổ cùng nhiều vui

Nhiều người tôn trọng, khéo phụng thờ

Học đây, vui công đức trí Phật.

Như vua trâu, chẳng lâu hàng phục

Diệt trăm nhiệt não, các nhiệt (nóng) lìa

Bay đường hư không, trăm cõi qua

Hành phương tiện này soi các hướng.

Chỗ tin khéo léo các thế tín

Tin ý thẹn (tàm) trụ niệm không (ai) bằng (vô đẳng)

Chấn khử trăm phước (đắm trước) tạo thế hương (hương đời)

Trì phương tiện này, trăm đức tụ (gom)

Phân biệt nhiều đức, trừ ba cấu

Đó có lời mỹ diệu trơn thuần

Giỏi nói trong trời đất trăm phần

Trì đức này tài (của) thắng vô tỷ (không ai bằng).

Độ người trời, trụ thành vô úy

Lời nói Như, thôi bỏ ám trần

Như hành, vô não hành Như hành (?)

Trì phương tiện này, hạnh mười lực.

Của cam lồ thắng danh nghe được

Thắng đức vô đẳng được hành Như

Ý Như, người trời, lời nói Như (?)

Người trí học đạo cam lộ ấy.

Vô trần soi khắp mười phương cõi

Thoát mạn, chúng sinh thẳng không co

Đến thành vô úy, lìa mạn kiêu

Trì phương tiện này, hạnh mười lực.

Hợp hóa người trời bằng ngôn thuyết

Chẳng vui thích dục, thích pháp chơn

Nói làm, người làm, nói trăm hành (động)

Học phương tiện này, bậc thiện ý.

Tịnh chúng sinh đẳng hạnh, đẳng ý

Nói thiện hợp, thiện mỹ, thiện hành

Trong các pháp khéo thường vui cùng

Hành phương tiện này ưa móc ngọt (cam lộ)

Lực ác ma, chẳng lâu hàng phục

Trừ bỏ hoang cấu, ba cấu tan

Hành ở đất này của cải thêm

Trì phương tiện ấy, hạnh mười lực

Hành thắng thú (đường), vượt qua đường ác

Chúa thú (vật) voi ngựa, hành giả đùa ( giỡn)

Khen đức, trì đức, trăm đức thừa (đầy tràn)

Chẳng lâu được hạnh người trí ấy.

Hành xử khéo léo, chẳng trụ “hữu”

Thị hiện thế lực quyết định hơn (thắng lực)

Đến đất, trụ nước cấu bẩn tan

Như học hạnh này, mười lực hạnh.

Bỏ thành cùng đất đai thôn xóm

Bỏ ái, chẳng ái, cảnh chẳng yêu

Bỏ thắng thọ (cây), bỏ người oán thù

Người trí học đây, lực quyết tiến.

Nhiều trăm kiếp quá khứ ức niệm

Nhớ chết và sinh trong các đời

Và nhớ pháp thuở trước nghe rồi

Trì tịch tịnh này, thắng định ý

Đuốc pháp cháy rực, thường khiến “Hữu”

Vui pháp, tài pháp kia thí ban

Và sở hạnh mười lực giữ gìn

Trì tịch tịnh này thắng định ý.

Trụ Xá ma tha có từ ý

Tịch tịnh chỉ ý tịch tịnh căn

Tịnh giới, tiếng ái ngữ ngọt ngon

Trì Tam ma địa này phải có

Như tê giác đi, không ngã sở

Được đến phương nhàn cùng đạo nhàn

Theo chỗ trụ, lìa tám chẳng nhàn.

Trì tịch tịnh này, thắng ý định.

Với niệm giác, biết hạnh tự tính

Cũng sẽ biết tận pháp hoàn toàn

Lực kham nhẫn tối thắng hiện lên

Ở trong này học hạnh nghĩa thắng

Nên được các thế gian tán thán

Được hàng trăm trời sẽ ngợi khen

Chỗ làm, người làm làm lặng yên ( tịch tịnh)

Ở biến trí này trụ thân cận.

Dấu chân chim bay sẽ hành thuận

Dược tịch diệt với các não phiền

Phương tiện đó, ma la chẳng làm

Tịnh này khó thấy, siêng tương ứng

Nói quyết định giác, Thiện Thệ hạnh

Tạo vô hữu, bứng hữu ái lên

Được người trong đời cung phụng luôn

Trì tịch tịnh này, thắng định ý.

Người đoạn đã hợp với tịnh ấy

Đoạn xong phiền não, ba cõi soi

Tạo tác bóng che khắp mọi nơi

Nếu trì Thắng tam muội này được

Nghĩ sở hạnh mình và người khác

Nghĩ rồi vì (họ) nói như thuận hành

Hạnh bậc thể thắng không mạn hành

Trì Tịch tịnh này thắng định ý.

Có thí xả rồi, điều phục ý

Thú hướng Thiện Thệ đi đến mau

Nói vô úy, ban vô úy cho

Định thượng thắng này thì liền được.

Ở trong các đời sẽ thân thích

Lầm lẫn khỏi rồi lại hiểu thông

Họp chung nói bàn thật khéo khôn

Nếu người tu hành tam muội ấy.

Thân bằng kim cương hợp nhất lại

Mau chóng phá tan quân ma la

Thuần bạch tịnh soi không bợn dơ

Trì tịch tịnh này Thắng định ý.

Phải chỗ mà trụ, phù hợp chỗ

Ở chỗ chẳng trụ được ý trên

Ở chỗ phi xứ có khéo khôn

Nếu người định ý này giữ gìn được.

Không trước (chấp) biện nói Phật công đức

Sinh ra câu trí giác giải nhiều (câu trí : đơn vị tính số lượng)

Kia chẳng chính ý không nghi ngờ

Thắng định ý này có thể giữ.

Chóng có thể tin cam lộ đó

Cũng thường tin cùng với người vui

Hộ đời khác khi được quả rồi

Thắng định ý này có thể giữ.

Tự biết rỗng không đối với tụ (sự vật gom lại)

Kia không lẫn lộn không mê lầm

Đến trong ba “hữu” các hạnh lành

Tam muội này, nếu người gìn giữ.

Sẽ được xa lìa lão bệnh tử

Khéo thẳng ngay chẳng bị người hàng (phục)

Tâm ấy trì giới luôn vui mừng

Định ý này nếu người gìn giữ.

Cắt đứt cây sinh (sinh thọ) là Thánh đạo

Mau chạm đến tịch tịnh Niết bàn

Đất “Di lê xa” (?) chẳng nhiều thêm

Tam muội này nếu người gìn giữ.

Chẳng tự tán dương, lời xảo diệu,

Trên mọi đức, công đức lừng vang

Vào chúng, đoan chính hiện rõ ràng

Như sao Mão, trời, trăng sạch rỗng (trống không

Chúng quyến thuộc, nhà đủ danh tánh

Bà con Thiện Thệ người đó gần

Tài biện (luận) người đó như Thủy vương (vua nước)

Là tam muội này phải gìn giữ.

Tự tính pháp, hạnh tướng vô ngã

Ở trong các đời thuận giác xong

Mau làm chúa dũng kiện ba ngàn

Hạnh bình đẳng Kinh này hiếm có.

Cho đến rừng trong ba ngàn cõi

(Họ) Tính người, ba loại hạnh chúng sinh

Với thắng thượng đó được trí môn

Cần (siêng) này tương ưng chạm cam lộ,

Dao độc và lửa chẳng vào đó

Chẳng sợ cùm trói các não phiền

Dạ xoa, la sát chẳng hại tan

Tương ưng này nếu lòng tịnh tín.

Của không mất, của chẳng ly tán

Không nghiệp báo, không bệnh, không lo

Chẳng câm, chẳng chột cũng chẳng mù

Trì bốn câu này (?) như vậy đó.

Trên hai chân sáu mươi ba ức (?)

Khắp nghĩ đến sự tương ứng này

Chỗ đó nếu cùng tạng Tổng trì

Tịch này khó thấy đã tương ứng.

Nếu Bồ-đề muốn mau chạm đến

Nếu muốn lấy đức yên ổn hơn

Nên khiến hành Thắng kinh này liền

Thì các hy vọng đều đầy đủ.

Kia đã nghe niềm vui thiện hỷ

Nếu người ở trong cầu Bồ-đề

Siêng năng tương ứng bốn ngày qua

Thì kia sẽ được Thắng Tịch định.

Tám mươi câu trí trên hai cẳng (chân) (?)

Còn hơn sáu mươi na do đa (?)

Đều nghĩ cùng với tương ứng này

Tam ma địa này chuyển tụng tác.

Nếu nghe thiện này, lợi ích được

Nghe rồi nếu có tín giải liền

Trong công đức Phật, không nghi nan

Như đến Bồ-đề , trì như vậy.

Thật hạnh này, kia đã nghe nói

Không được không đức vui chay lười

Các phước nhất định đến trong tay

Nếu trì kinh này hoặc ghi chép.

Ta nhớ trước đây vô số kiếp

Có bậc tối thắng tên Biện Tràng

Thắng tam muội này, ngài tuyên dương

Vương tử Nguyệt Diệu nghe điều đó

Mà xuất gia, vương vị chóng bỏ.

Ông ấy nghe một đêm một ngày

Đến lúc chết, trong phần sau này

Lại được sinh đến những cõi khác

Nhiều như cát, kinh đó nghe được

Thấy rồi, lại thấy, thắng vô biên

Các chỗ nghe tam muội này xong

Thì trong ba kiếp, Thắng Giác chứng

Gọi là bậc Bảo Viêm Tối Thắng

Được Phật Nhiên Đăng thọ ký cho.

Nghe kinh này, như vậy lợi to

Nên đã nghe rồi chớ lười biếng.

Ta nay muốn bảo với đại chúng,

Tốt đẹp sở hữu của trời người

Ta ở trong này mở kho báu

Của cải mười lực ông lấy đi !

Lại này Hỷ Vương ! Đời quá khứ trước kia, chẳng sao tính được kiếp, qua chẳng thể tính được sự xa rộng, vô lượng chẳng thể nghĩ, chẳng thể lường, vào thời tiết đó, có đức Phật tên là Biện Tài Anh Lạc Trang Nghiêm Vân Minh Xuất Hống Hiển Âm Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri xuất thế Minh Hành Cụ Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Giáo Sư Phật Bà Già Bà (Thế Tôn). Đất nước của đức Phật ấy tên là Vô Biên Bảo Công Đức Trang Nghiêm, thế giới tên là Vô Cấu, kiếp tên là Ái Kiến. Lại này Hỷ Vương ! Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Biện Tài Anh Lạc Trang Nghiêm Vân Minh Xuất Hống Hiển Âm đó có vô lượng Thanh văn, có bảy mươi hai câu trí Đại Bồ tát. Những vị ấy đều được Nhẫn, đạt đến Quán Đảnh địa. Lại này Hỷ Vương ! Ở trong chúng Bồ tát đó, có vị Bồ tát nói pháp tên là Vô Biên Công Đức Biện Tràng Du Hí Minh Âm. Vị Bồ tát đó có quá hơn số lượng niệm hành biện tài tàm quí. Ở trong Đà la ni, ngài dạo bước đến tận cùng, được trí ngũ thông. Vị Bồ tát đó bạch đức Phật kia, xin đức Phật ấy quan sát xong mà vì bốn bộ chúng nói rộng rãi Thuyết Quyết Định Quan Sát Chư Pháp Hạnh Tam Ma Địa này. Lại này Hỷ Vương ! Vào lúc đó, có vương tử tên là Phước Báo Thanh Tịnh Nhân Sơ Ái Minh Thanh Tự Tại mà hình ảnh đẹp, đoan chính của vương tử đó có thật đáng quan sát, tịnh sắc tối thắng, thành tựu mỹ mãn đầy đủ. Ở trong Vô Thượng Chánh Giác ngài đã phát khởi hạnh từ lâu. Này Hỷ Vương ! Vương tử Phước Báo Thanh Tịnh Đa Nhân Sơ Ái Minh Thanh Tự Tại đã nghe Bồ tát Vô Biên Công Đức Biện Tràng Du Hí Minh Âm nói pháp. Pháp nói này tên là Quyết Định Quan Sát Chư Pháp Hạnh Tam Ma Địa. Nếu Bồ tát vào trong thôn, thành, tụ, ấp, kinh đô vua mà nói thì vương tử đó luôn ở bên vị nói pháp đó để nghe Tam ma địa này. Nghe rồi, vương tử đó vui mừng nhảy nhót, yêu thích thỏa lòng, thiện ý lại sinh đi đến chỗ vị Đại Bồ tát, người nói pháp đó. Đến rồi, vương tử đảnh lễ dưới chân của người nói pháp đó, tôn trọng, kính yêu chắp tay mà trụ ở trong Tam ma địa này. Vương tử ấy lại vui mừng nhiều hơn nữa, muốn nghe Tam ma địa này, người nói pháp đó lại biết vương tử kia đã tịnh tín nhiều hơn, lúc đó lại nói rộng rãi Tam ma địa này. Này Hỷ Vương ! Như vậy, vị vương tử đó ở bên người nói pháp kia nghe Tam ma địa này xong lại vô cùng hoan hỷ, nhảy nhót, yêu thích thỏa lòng, rồi thiện ý lại sinh, theo chỗ áo mặc mà đem dâng che, nói lời như vầy : “Ngài khiến cho chúng sinh được báu Tam ma địa này”. Vương tử đó do sự xả thí thiện căn của người nói pháp kia, ở trong hiện pháp vưng thờ tám mươi lần cát sông Hằng những đức Phật Thế Tôn, ở bên các đức Phật Thế Tôn đó, nghe được Tam ma địa này, ở chỗ các đức Phật Thế Tôn đó, đều tạo sự cúng dường tối thắng, ở trong giáo pháp của các đức Phật Thế Tôn đó, xuất gia nhiếp thọ chính pháp, ở các chỗ chẳng nghe trăm ngàn câu chi kinh điển mà có thể biện nói, sinh ra ý niệm luôn tròn đầy, thọ sinh biến hóa được trí ngũ thông, được Đà la ni, biện tài vô trước. Vương tử đó thuận theo thứ lớp hành các pháp trợ Bồ-đề . Mãn rồi, vương tử đó, ở trong cõi Phật Vô Biên Công Đức Bảo Trang Nghiêm, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sống lâu không lường, chúng Thanh văn không lường, chúng Bồ tát không lường, ánh sáng không lường, nguyện công đức trang nghiêm không lường. Lại này Hỷ Vương ! Trong thời tiết đó, người nói pháp có tên là Vô Biên Công Đức Biện Tràng Du Hí Minh Âm, ý ông chớ tác khởi dị kiến, vì sao vậy ? Này Hỷ Vương ! Vì đó là Đại Nhãn Như Lai vậy. Ngài đã được đức Như Lai Bất Động thọ ký Bồ-đề . Lại vương tử tên là Phước Báo Thanh tịnh Đa Nhân Sở Ái Minh Thanh Tự Tại kia thì đức Như Lai Vô Lượng Thọ kia tức là Vương tử lúc đó vậy. Lại này Hỷ Vương ! Vương tử đó nghe Tam ma địa này xong thì nghiệp chướng của bảy mươi ngàn kiếp đều diệt hết, liền được Phân Biệt Chư Pháp Cú Phẩm Xuất Vô Biên Môn gọi là Đà la ni và chẳng xa lìa Tam ma địa cho đến Bồ-đề trường. Này Hỷ Vương ! Nhân duyên đó như vậy nên ông phải biết, Tam ma địa này ở chỗ các Đại Bồ tát như vậy tạo nhiều thanh tịnh chuyển các nghiệp chướng trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh chuyển công đức, mau tròn đầy chuyển Phật pháp. Lại này Hỷ Vương ! Đời quá khứ trước kia, chẳng thể tính được kiếp, qua chẳng thể tính được xa rộng, vô lượng chẳng thể nghĩ, chẳng thể lường, vào lúc đó, có đức Phật hiệu là Tịnh Diện Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Xuất Thế Minh Hành Cụ Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Giáo Sư Phật Bà Già Bà (Thế Tôn). Lại này Hỷ Vương ! Đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri Tịnh Diện Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng đó đã sở hữu một cõi Phật công đức trang nghiêm mà ta hôm nay chẳng thể ở trong một kiếp, rộng nói hết được vô lượng công đức như vậy tụ tập trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh. Chúng Đại Bồ tát, ở trong Phật pháp đều đã quyết định hết. Này Hỷ Vương ! Vào lúc đó có con ông trưởng giả tên là Hiển Diệu Quảng Than. Ông đó đi đến chỗ đức Như Lai Tịnh Diện Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng. Đến rồi, ông đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn đó, rồi đem vô lượng chuỗi ngọc báu Ma Ni hàng trăm ngàn xen lẫn phụng che đức Phật đó mà đứng trước mặt đức Phật vì muốn được pháp. Đức Như Lai đó biết ông ấy đã tịnh tín nên với Tam ma địa này, ngài rộng nói lúc đầu, đoạn giữa và về sau. Này Hỷ Vương ! Như vậy con ông trưởng giả đó ở bên đức Phật kia nghe Tam ma địa này xong vui mừng, nhảy nhót, yêu thích, thỏa lòng rồi thiện ý phát sinh, được đại pháp lực. Được pháp lực rồi mà chẳng dùng để cầu trong trời người, ông ấy xả bỏ bảy mươi ngàn phụ nữ, xả bỏ một dũ xà na bốn kho tàng lớn, xả bỏ tám trăm vườn rừng, xả bỏ mọi đồ thọ dụng của mình, ở trong giáo hội của đức Thế Tôn đó, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, dùng niềm tin xuất gia chẳng phải nhà mà tu hành. Lại này Hỷ Vương ! Con ông trưởng giả đó, khi trước ở nhà, đất chẳng trải áo thì chẳng từng đạp chân xuống. Khi đã xuất gia rồi, trong mười ngàn năm, vẫn chẳng trải áo, chân chẳng đạp đất, chẳng ngồi, chẳng nằm, chỉ trừ khi thọ dụng bữa ăn. Trong mười ngàn năm, ông ngủ nghỉ chẳng lâu, cho đến trong khoảnh khắc gảy ngón tay cũng chẳng từng phân biệt dục, phân biệt sân, phân biệt hại. Trong mười ngàn năm ông chẳng sinh dị tâm (lòng khác) mà chỉ đối với biến trí tương ứng phát khởi tu hành tinh tấn, được Đà la ni Chư Từ Thanh Nhiếp Chư Phật Ngữ Danh, thành tựu Đà la ni Phổ Âm Nhập Môn Danh. Ông ấy mạnh mẽ tinh tấn đầy đủ như vậy nên mới có sáu mươi nadođa chư thiên ở chỗ vị Bồ tát đó siêng làm cung cấp, hầu hạ, khởi tác tương ứng, khiến cho thân tâm Bồ tát ấy an vui, đủ khả năng tinh tấn. Con ông trưởng giả đó đi xuất gia rồi, tinh tấn mạnh mẽ như vậy, nghe Tam ma địa này nên chín mươi chín câu trí trăm ngàn kiếp lưu chuyển đều quay lưng bỏ hết, hiện tại gặp được bảy mươi ngàn đức Phật. Có những chỗ, trong đó đi xuất gia rồi, ông ấy thọ trì, đọc tụng, tư duy Tam ma địa này, vì người khác giảng nói rộng rãi. Ông ấy phát khởi tu hành tinh tấn chẳng hành động phóng dật, thành tựu được Tam ma địa này, ở trong tám kiếp chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đạt được tướng trang nghiêm công đức của cõi Phật như vậy mà trụ như cõi Phật sở hữu của đức Thế Tôn Tịnh Diệu Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng Như Lai đó. Ta nay thấy ông ấy ở trong địa phận phương Nam, qua khỏi đây bốn mươi bốn trăm ngàn cõi Phật, tên là thế giới Đại Trang Nghiêm. Ông ấy ở trong cõi đó làm Phật hiệu là Thiện Ý Hy Lạc Như Lai, ngài đang nói pháp cho vô lượng chúng Đại Bồ tát tụ tập tính chẳng thể hết. Này Hỷ Vương ! Những vị Đại Bồ tát đó nếu muốn mau chóng đối với các pháp thuận theo được tự tại thì phải nghe, phải trì, phải nói, phải nghĩ Tam ma địa này.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại muốn khen ngợi công đức của Tam ma địa này nhiều hơn nữa nên liền nói lời tụng ca rằng :

Ta nhớ đời trước vô biên kiếp

Giống như cát sông Hằng không lường

Có bậc trí dẫn đường thế gian

Các phương nghe biện tài vang tiếng

Có Tỳ kheo trong giáo tối thắng

Trì pháp, nói pháp bậc trí nhân

Định tịch tịnh này kia nói xong

Bên ngài Vương tử đã thính thọ

Liền đem áo mình mà phụng phú (che)

Hồi hướng đạo Tối Thắng Bồ-đề

Lại thấy vô biên những đạo sư

Được đạo, hiệu Vô Lượng Mạng đó

Trước kia tuệ tác nghiệp sở hữu

Đều hết không còn, nghiệp báo không (có)

Nghe tam muội đại diệu này xong

Người có biện tại đủ công đức

Kia về sau trung lúc

Đạo, nếu có muốn cầu

Định này phải nghe mau

Tự sẽ trừ các ác.

Lại Phật Vô Cấu Nguyệt

Nói Tam ma địa này

Con trưởng giả nghe rồi

Hành xuất gia chọn lấy.

Mười ngàn năm ông ấy

Tư duy tam muội này

Chân chẳng đạp không y (áo)

Cũng chẳng vào ngủ nghỉ

Đây được Bồ-đề ấy

Chỉ có cùng chung nghe

Chẳng ưa ở trong nhà

Cũng không muốn tài vật.

Kia đến các cõi Phật

Ở đó đều nghe xong

Các hạnh đã nhập môn

Chẳng lâu đã thuận giác.

Tâm ấy, kia thỏa trước

Cũng đầy xe ý kia (ý xa)

Kia chóng được Bồ-đề

Đây sao chẳng cần tác (siêng làm) ?

Đời đương lai trong lúc

Nhiều người cầu Bồ-đề

Không tư tài, không vui (lạc)

Hành xuất gia chẳng dục (ham muốn)

Giận mắng mà kêu trách

Hủy nhục nói ác ngôn

Mỗi mỗi đều nghe xong

Mà nói sẽ làm Phật.

Khổ hàng ngàn phi nhất(chẳng phải một)

Nhịn chịu vì dục thôi

Vì ái dục làm tôi (tôi tớ)

Mà nói sẽ làm Phật.

Trong mơ đã thấy Phật

Kia tạm được hồi sinh

Với người thường khi nhờn

Bồ-đề ta chẳng ngợ (nghi ngờ)

Đã nghe xong Kinh đó

Tiếng nói, nghĩa chẳng thông

Mà sống lại trong lòng

Chẳng lâu sẽ làm Phật

Những người nghe Kinh Phật

Nếu đã nghe đây xong

Thì họ sở trước không (có)

Như không trung gió thổi

Có người nhà ra khỏi

Cầu Bồ-đề nhiều hơn

Vì tri thức nên sân

Mỗi mỗi mà sinh khởi

Kia nghèo cùng phước thiếu

Nghe ít (hạn chế) liền vui mừng

Với người có khi tâm(lòng lừa dối)

Bờ Bồ-đề ta tới

Đã thấy (ánh) sáng được cõi

Chúng sinh mà cúng dường

Do đây thiếu vui mừng (đẳng hỉ ?)

Biết Bồ-đề sẽ đến.

Bồ-đề đó xa lắm

Nếu dua nịnh ghét ghen

Ta đạt trí đôi lần

Thì càng xa tối thắng.

Đã nghe diệu Kinh điển (này)

Biết sẽ được Bồ-đề

Thấy cõi Phật Di Đà(Vô Lượng Thọ)

Sẽ chẳng lâu làm Phật.

Bồ-đề đó xa lắc

Có được thấy chỗ nương (y chỉ)

Mà lòng chẳng tương ưng

Thì ta chẳng thọ ký.

Và trưởng giả tử ấy

Của cải đã bỏ lìa

Về sau đã xuất gia

Làm người đi khất thực.

Như Tam muội này được

Ở chỗ Phật Nhiên Đăng.

Nếu nghe khéo tu hành

Chẳng lại sinh ái dục.

Kia xuất gia cạo tóc

Lợi tri thức buộc ràng

Trong biển chọn (lấy) ma đam (ý chọn lấy điều không tốt)

Mà xả bỏ trân bảo.

Trong nghe chẳng sạch ráo

Không giới chẳng xuất gia

Tu hành đạo Bồ-đề

Kia chớ nên buông thả.

Sau này nếu có chỗ

Nói pháp phải lắng nghe

Người kia vì bạn bè (tri thức)

Lại làm chẳng khen nói.

Ở trước phải lễ bái

Và phải xưng điều lành

Vậy tung áo cúng dường

Lại làm chẳng khen nói.

Khóc nước mắt vung vẩy

Phụng thí với tự thân

Tại chúng, kia ở trong

Mà nói ác hạnh ấy.

A xà (già) lê, chẳng ái (yêu thương)

Người cận tụng, khinh khi

Vì thiếu mà phá nhau

Do nhà mà ganh ghét.

Chỉ tin phước người khác

Đức mình chẳng nghĩ suy

Độc ác sẽ sinh sôi

Biết người khác giàu cúng (dường)

Hương hoa, bột thơm lựng

Tràng, cái, phan, man hoa (vòng hoa cài tóc)

Tấu nhạc… cúng dường

Ta Rằng : Bồ-đề sẽ được

Đây, ta cúng dường thật

Nghe thắng định này rồi

Lợi tri thức bỏ rơi

Tu hành thì tương ứng

Sao cúng dường thân mạng

Các tụ ta bỏ xong

Nên cúng dường pháp thân

Cũng như cúng thiện thật.

Ái mạng đã bỏ hết

A lan nhã qua đêm

Kinh này tụng niệm luôn

Đến hết mạng tận thế.

Này Hỷ Vương ta bảo

Tu theo điều nghe này

Không chung bọn dưới đây :

Dua nịnh làm phe đảng

Ở trong ta chẳng tán (khen)

Trong chúng phải nói rằng :

Đây thật ! Đây chẳng chân !

Ở trong chớ dục tín (muốn tin)

Chẳng ở chỗ cảnh hiện

Có muốn Phật Bồ-đề

Sở hữu các hạnh kia

Thì Bồ-đề xa lắm.

Thần thông ta đã chứng

Sức đại thể thấy đây

Cấm giới các hữu này

Tu hành ta đã được.

Ái giới (yêu thích giới cấm) mà phân biệt

Trong chúng tợ thú hoang (dã thú)

Lợi tri thức bỏ xong

Riêng ngụ A lan nhã.

Ta không có chỗ đó

Lời ta nói thật đây

Đời mạt thế sau này

Phú chúc ông Kinh ấy.

Vô Lượng Thọ phóng quang

Và Bất Động Pháp Vương

Sáu mươi ba ức Phật

Chúng hội đã thấy hết

Giáo sư (đức Phật) phú chúc cho

Khiến hộ pháp về sau.

Như Kinh này trí ấn

Ta khắp trì ở sau

Ba ngàn (cõi) liền chấn động

Chư thiên xưng lời lành

Có nhiều hoa mưa xuống

Khi nghe phú chúc này.

***

PHẨM THỨ HAI: TIÊN THẾ CẦN TƯƠNG ỨNG

II- Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Hỷ Vương cùng ba mươi ngàn vị Bồ tát nghe những sự phá diệt của chánh pháp lâu sau năm mươi năm đời mạt thế như trên đây thì trào nước mắt, thân thể rúng động, nổi da gà, toát mồ hôi, liền đứng dậy, chỉnh lý một vai áo, gối phải quì xuống đất, hướng về đức Phật chắp tay, cùng nghẹn ngào mà bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Chúng con về sau năm mươi năm đời mạt thế, lúc chánh pháp tiêu mất, lúc trong đó đại ách đến, lúc mỗi mỗi đều tan nát, lúc người nói pháp bị bức thiết, lúc biến trí diệt, lúc bạch pháp tan, lúc rỗng không vô mạng, lúc chánh pháp giáo phá diệt, lúc bài báng chính pháp, lúc ngôn ngữ thiếu trí hiện lên, lúc tạp thoại chung ở dẫy đầy, lúc dùng việc ác tìm sự sống, lúc mỗi mỗi hành động chẳng khen ngợi, lúc nghiêm trượng (nghi thức trang nghiêm) của ma xí thạnh, lúc trong đó chuyển bức não lớn… Thưa đức Thế Tôn! Chúng con bỏ thân mạng mình và bỏ những niềm vui tri thức, như con tê ngưu (loài tê giác) ra đi, hoặc trong rừng, hoặc trong rừng nhỏ, lìa khỏi các ái trước. Chúng con ở chỗ những kinh như thế này, chọn lấy trí Như Lai, đạt đến trí đại pháp thể, tàng chứa chủng tính, chẳng làm điên đảo hạnh sở ấn, nhiếp lấy vô lượng căn lành và Kinh Đà la ni đã được ấn khả, đả phá các luận ngoại đạo, thuận giác Biến trí, nhiếp lấy chánh pháp, thị hiện những niềm vui của chúng sinh. Chúng con đều sẽ ghi chép, đọc tụng, thọ trì, giảng nói Kinh này. Thưa đức Thế Tôn! Chúng con chấp nhận chịu trụ ở Nê La Gia vì Kinh báu Tam Ma Địa này! Chúng con cũng lại chẳng bỏ Như Lai, Pháp, Tăng và chẳng bỏ Vô Thượng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ, những vị Đại Bồ tát mà ngài Hỷ Vương đứng đầu đó, đồng thanh một lòng ở trước đức Phật và chư thiên cùng thế gian, nói lên tiếng rống sư tử Đại pháp Vô Thượng xong, liền nói bài tụng ca này:

Ứng biết lòng chúng con

Như con muốn cầu Giác

Không có đèn sáng khác

Chỉ trừ đấng trượng phu

Lòng chúng con tự nhiên biết làu

Như con muốn cầu trí thắng Phật

Con trong ba hữu không chứng khác

Như người thắng mọi đức đến bờ.

Thân mạng đã bỏ đi

Không còn trên lưỡng túc (hai chân)

Trì tam muội này tốt

Về sau lúc hãi kinh (sợ)

Với thân chẳng yên, lìa mạng mình

Lợi lạc thân gần đều bỏ hết

Hành tam muội vô trần này được

Thì sau này khó có ác to.

Hoặc chẳng thể lường kiếp không bờ

Trụ Nê La Gia sợ ác khổ

Thọ trì vô trần Tam ma địa

Con sẽ chịu đựng trong mọi thời.

Khổ não như vậy không có bờ

Trụ Ta Bà, khốn không người hộ

Tam muội vô trần này trì thọ

Khổ ác hại con cam chịu cho.

Ở trong con kham nhẫn

Chẳng động bền tinh tấn

Con mời các chúng sinh

Pháp thí vật (chất) chẳng xin

Mình lợi, chúng sinh lợi

Đồ cúng các của cải

Danh văn và khen chê

Con đã nhịn xả lìa,

Con thỉnh các sinh chúng

Thật pháp, vật chẳng cầu

Con sẽ rộng nói pháp

Chúng sinh pháp đủ no.

Đã có rồi thanh tịnh

Sẽ làm hạnh Bồ đề

Sẽ tạo nghĩa lợi rộng

Vì xót thương sinh chúng.

Da, thịt và cả xương

Tủy, máu đều khô khan

Con sẽ chẳng lười biếng

Vì thấy khổ sinh chúng.

Da thịt và bạc bì (da mỏng)

Và máu, con khiến khô

Con nay thân phá tán

Chẳng sinh tiểu (nhỏ) tinh tấn

Thấy khổ chúng sinh này

Phải bệnh trong lo sợ

Sẽ khiến qua biển khổ

Không sợ trên đất yên.

Con trụ A lan nhã

Các ái đã lìa bỏ

Từ tưởng đã khắp đầy

Khiến không nóng, ban vui

Rừng nhàn A lan nhã

Ít tiếng (ồn) con dừng trụ

Xa lìa các tạp ngôn(lời nói tạp)

Kia vì ái, chẳng chung.

Con sẽ có ý từ (ý lành)

Cho chúng sinh vui vẻ

Cam lộ thắng dược ban (cho)

Được dược tính (vui), bệnh tan.

Kia đã chẳng thuận học

Như đó lìa lời thật

Con sẽ trụ tu hành

Theo lời nói trong Kinh (này).

Chúng con chẳng theo họ

Thuận học sở hạnh đó.

Nếu chẳng phải hạnh phàm (phu)

Chẳng thật lìa đạo chân

Chúng con sẽ luôn trụ

Trong tự cảnh thật ngữ.

Như Kinh này nói ra

Con sẽ có ý kia

Con sẽ chẳng phóng dật

Như điều biết đức Phật.

Chúng sinh, sức ban cho

Ở trong con đi trước.

Con sẽ thường có chẳng phóng dật

Như Thắng giả biết Biến Trí nhìn (thấy)

Trong các chúng sinh, con cho lực

Con sẽ đi trước trong trí Phật.

Đám cháy con rơi vào

Nếu ăn đồ ăn độc

Chẳng cúng dường tri thức

Chẳng nói Phật Bồ đề.

Con vì pháp nên đọa trong lửa

Ăn đồ ăn độc con vào khổ

Lợi tri thức chẳng lại buộc ràng

Vô thượng Bồ đề chẳng tuyên dương

Ma la nhiều vô lượng

Tác ngại ở bên con

Các ma la đã bỏ

Sẽ làm vua thế gian (thế chi đế)

Ma la trăm ngàn chẳng thể lường

Ở trong, chúng vì con tác ngại

Không não phiền, con đều lìa xong.

Đời sẽ sinh nhánh vua Vô Thượng.

Lại nữa, trong khi Đại Bồ tát Hỷ Vương dùng tiếng rống sư tử để nói thì ba ngàn đại thiên thế giới này, sáu thứ chấn động, ánh sáng lớn soi khắp thế gian, các chúng sinh đều dùng hoa tung lên trong hư không nhiều chẳng phải một lần. Chư thiên có đến câu trí na do đa trăm ngàn người, phát ra tiếng khen lành, lại tấu lên vô lượng vô số cấu trí na do đa trăm ngàn âm nhạc và nói lên lời như vầy: “Vị Đại Bồ tát Hỷ Vương này, chẳng bao lâu nữa sẽ hướng về Bồ đề đạo tràng, sẽ tạo được lời nói sư tử hống của Như Lai đúng như tiếng rống của Như Lai trước chư thiên và người đời”. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, ở chỗ của Đại Bồ tát Hỷ Vương, ban lời khen lành rằng:

– Rất hay! Rất hay! Này Hỷ Vương! Ông có khả năng nhiếp lấy chánh pháp, nói lời rống đại sư tử Vô thượng này! Như ông đã ở bên những đức Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng, nói tiếng rống sư tử như vậy. Này Hỷ Vương! Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Chánh niệm tác khởi ý! Ta sẽ vì ông nói về Đại Bồ tát sở hữu nhiếp lấy chánh pháp đã sinh ra phước tụ. Này Hỷ Vương! Ta nay vì ông đưa ra thí dụ. Ở trong thí dụ này có một bậc trượng phu trí giả biết được ý nghĩa của điều nói ra. Này Hỷ Vương! Như trong phần phương Đông kia có những cõi Phật nhiều như cát sông Hằng, như vậy trong phần Nam phương, Tây phương, Bắc phương và thượng phương, hạ phương, như vậy trong mười phương và trong chẳng chính phương đều có những cõi Phật nhiều như cát sông Hằng. Những cõi đó đều làm một vòng tường thành vây quanh. Nhưng tường ấy đo lường đến bờ đỉnh mọi người đều cho là lớn. Dọc ngang trên đại thành báu đầy cây dây leo chằng chịt, đầu nhọn buộc vào trụ vững, chẳng gạt mà khiến cho bằng phẳng. Có một vị trượng phu khác sinh ra để phân chia riêng biệt cây dây leo ấy. Nếu vị đó, tay phải nắm lấy những hạt cây dây leo, ném lên không. Những hạt ném ấy không rời ra mà chúng tụ lại thành một đám hạt dây leo lớn. Cho đến khi có một ngọn gió thổi đến, như vậy đám hạt dây leo lớn đó bị xao động tan rã, văng đến trong mỗi một cõi Phật khắp mười phương. Nhưng mỗi cõi Phật chỉ rơi xuống một hạt dây leo, nhất định không có hai. Đám hạt dây leo lớn sở hữu nói trên rơi hết vào các cõi Pmà mỗi một cõi chỉ rơi xuống một hạt. Này Hỷ Vương! Ý ông thế nào? Số cõi Phật đó có thể dùng phương tiện để biết được bờ cõi không?

Ngài Hỷ Vương đáp rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Chẳng thể được vậy! Thưa đấng Tu Già Đa! Chẳng thể được vậy! Chỉ có đức Như Lai mới đạt được sự hiểu biết như vậy!

Đức Phật dạy rằng:

– Này Hỷ Vương! Nếu lại có vị Bồ tát tín giải bố thí, ở những cõi Phật nhiều vô lượng vô số, lại chẳng thể tính được, đem bảy báu chất đầy trong đó rồi dùng để ban cho. Nếu có bất kỳ Bồ tát tôn trọng chánh pháp nào mà nhiếp thọ chánh pháp, thậm chí chỉ trong một ngày đêm kham nhẫn vì khiến cho chính pháp trụ thế lâu dài. Như vậy thì vị này phát sinh nhiều phước hơn vị ở trên kia. Vì sao vậy? Này Hỷ Vương! Vì vị ấy ở chỗ một đức Như Lai nhiếp lấy chính pháp rồi thì tức là đã ở chỗ những đức Phật Thế Tôn quá khứ, vị lai và hiện tại mà được nhiếp thọ chánh pháp. Này Hỷ Vương! Khi các báu xả (bỏ) thì chung lậu chung thủ (lấy). Này Hỷ Vương! Lại khi pháp thí thì vô lậu vô thủ, các khổ trở nên tiêu diệt. Này Hỷ Vương! Do đó nên các ông phải tín giải pháp thí, chớ tín giải của cải thế gian. Các ông nên dùng pháp cúng dường để cúng dường cho ta, chớ dùng của cải thế gian để cúng dường, dùng pháp cung kính để cung kính ta, chớ dùng tài vật để cung kính. Vì sao vậy? Này Hỷ Vương! Vì Bồ đề của các đức Phật Thế Tôn từ pháp mà ra, chẳng do của cải mà ra.

Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Hỷ Vương bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ tôn trọng chánh pháp, chẳng tôn trọng tài vật. Vì sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! Vì nhất định do pháp nên Đại Bồ tát chứng giác Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chứ chẳng phải do tài vật. Lại nữa, tài vật khiến cho phiền não dài thêm, pháp khiến cho phiền não tận diệt mà chuyển biến.

Đức Phật ở chỗ Đại Bồ tát Hỷ Vương ban lời khen tốt rằng:

– Rất hay! Rất hay! Này Hỷ Vương! Ông khéo nói lời nói này! Pháp khiến cho phiền não tận diệt mà chuyển biến! Lại này Hỷ Vương! Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Chánh niệm mà tác khởi ý! Ta sẽ vì ông giảng nói! Như Đại Bồ tát trước nhiếp lấy chánh pháp, siêng cùng tương ứng, chẳng tiếc thân mạng, lìa bỏ các niềm vui và dùng tài lợi tri thức để cung kính mà đối với chánh pháp nhiếp lấy.

Đại Bồ tát Hỷ Vương bạch đức Phật rằng:

– Như vậy, thưa đức Thế Tôn! Con rất ưa thích nghe!

Đức Phật dạy rằng:

– Này Hỷ Vương! Khi trước, ở đời quá khứ, chẳng thể tính được kiếp, lại qua vô số vô lượng, rộng chẳng thể lường, chẳng thể suy nghĩ được, vào thời gian đó, có đức Phật hiệu là Quảng Tịnh Hậu Kim Phổ Vô Nghi Quang Oai Vương Như Lai ra đời, Ứng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Giáo Sư Phật Bà Già Bà (Thế Tôn). Lại này Hỷ Vương! Đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri Quảng Tịnh Hậu Kim Phổ Vô Nghi Quang Oai Vương thọ mạng không lường và có cõi Phật trang nghiêm vô biên công đức và có bảy mươi câu trí trăm ngàn quyến thuộc Thanh văn vây quanh cùng với vô lượng chúng Bồ tát. Hết thảy đã phát ra vô biên hạnh thuận vào pháp giới. Này Hỷ Vương! Như vậy đức Như Lai Thế Tôn Quảng Tịnh Hậu Kim (vàng dày) Phổ Vô Nghi Quang Oai Vương đó qua đi, diệt rồi. Lâu về sau, khi chính pháp mất đi, có người nói pháp tên là Vô Biên Bảo Chấn Thanh (tiếng) Tinh Hạnh Tụ. Người nói pháp ấy đến hết chỗ hạnh (tu hành hết các hạnh), được trí năm thông, Tổng trì tự tại, chẳng đoạn biện tài, thuận vào pháp hạnh. Người đó đi vào thôn, thành, phường ấp, kinh đô vua… mà vì chúng sinh nói pháp. Điều ngài nói ra cũng là nói Quyết Định Quan Sát Chư Pháp Hạnh Tam ma địa này, lấy đó làm phát khởi. Vị đó theo thứ lớp đã kiến lập được sáu mươi câu trí nadođa trăm ngàn chúng sinh ở đạo Vô Thượng Chánh Giác. Trong lúc đó, có nhiều Tỳ kheo xem ra giống như người nhập đạo (ý nói ngoại đạo) mặc Phú Già La. Nhưng những người đó chẳng sử dụng Tam ma địa này, cũng chẳng thể nhẫn. Họ bị sự trói buộc của tật đố san tham nên ở chỗ vị Tỳ kheo nói pháp kia, bảo cho những người trong lãnh thổ cai trị của vua, những thôn, thành, phường ấp, vương đô chẳng nghe biết, chẳng lệnh cho vào, chẳng chung lời nói, chẳng sánh số lượng… Này Hỷ Vương! Lúc bấy giờ, người nói pháp kia bị đuổi ra khỏi thôn, nhưng lòng không khiếp sợ lẩn tránh, lòng không yếu hèn, lòng không sân động, lòng không vẩn đục, lòng không ô tạp… mà chỉ đối với chính pháp như vậy thuận hộ, chẳng tiếc thân mạng, xả bỏ các tài lợi cung kính thôi. Có vị vua rừng lớn tên là Nhị Sinh (Nhị Sinh là chim vậy. Đầu tiên sinh trứng là một lần sinh, ra khỏi vỏ trứng là hai lần sinh. Phàm loài noãn sinh thì đều ứng với hai lần sinh. Vì chim phần nhiều là noãn sinh nên riêng một mình nên riêng một mình được hiệu là Nhị sinh) lên tiếng, tung hoa mà đi đến chỗ người nói pháp đó. Đến rồi, vua Nhị sanh vào ngồi chung với ba mươi ngàn câu trí Bồ tát. Cùng du hành với vua rừng có tứ đại thiên vương… cho đến trời Sắc cứu cánh. Vì nghe pháp nên họ đi đến chỗ ấy. Vị nói pháp đó, ở trong chúng đại thiên mà nói pháp. Bên vị nói pháp đó đầy ắp ba dũ xà na trăm ngàn trời người hiển hiện. Vị ấy ở trong chỗ vua rừng đó vì chúng bốn đại thiên vương mà nói pháp như vầy, như vầy… khiến cho trăm ngàn trời của chín mươi chín từng trời chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và vô lượng trăm ngàn thiên tử chứng được trí kiến đạo (thấy đạo). Ở chỗ đó, bốn đại thiên vương, chúa của ba mươi ba tầng trời và Phạm thiên, chúa của cõi Ta Bà… siêng đến cung cấp hầu hạ tùy theo sự cần thiết của vị nói pháp đó. Như cung cấp hầu hạ vị nói pháp đó cũng có ba mươi ngàn câu trí Bồ tát. Này Hỷ Vương! Vào lúc đó có vị vua tên là Đa Nhân Vô Ưu Phổ Dục Hỷ Âm xuất hiện ở châu Diêm Phù. Pháp vương dùng pháp, ở trong bốn châu, tự tại chuyển luân, bảy báu đầy đủ. Này Hỷ Vương! Lại nữa, vua Đa Nhân Vô Ưu Phổ Dục Hỷ Âm đó đầy đủ một ngàn người con trai. Nhưng tất cả đều hóa sinh ra từ Già Pha, chánh niệm chẳng mất. Tám mươi bốn ngàn phụ nữ trong cung đều có phạm hạnh. Lại nữa, vua Đa Nhân Vô Ưu Phổ Dục Hỷ Âm đó thường thuận phạm hạnh, thường vào chánh định. Này Hỷ Vương! Lúc bấy giờ, vị nói pháp Vô Biên Công Đức Bảo Chân Thanh Tịnh Hạnh Tụ biết lòng vị vua đó đã ở đời trước tướng ứng thành tựu, quyết định phát tâm tu hành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vị vua đó ở trong đêm tịch tịnh, biến hóa thân mình làm voi Ma Na Bà vào trong vầng trăng. Vị vua đó ở trên điện với các người trong cung vây quanh. Rồi từ vua rừng đó, ông bay lên trong hư không giống như chúa chim ưng mà không sở trước, đi đến chỗ vua Đa Nhân Vô Ưu Phổ Dục Hỷ Âm. Đến nơi, ông ra khỏi vầng trăng (Nguyệt luân) hóa làm sắc tượng Phạm thiên, trụ ở trước mặt vị vua đó, tại không trung. Phát ra ánh sáng soi cùng khắp cung điện xong, liền vì vị vua kia mà nói bài tụng ca rằng:

Chủ đất người chớ phi pháp hạnh

Vang danh khen ngợi ắt chẳng tăng

Dùng hạnh phi pháp chẳng vui lòng

Chúa loài người không vui hiện tại.

Chúa đất, trước cũng pháp hạnh ấy

Nay được lợi tự tại bốn châu

Không đoạn chúng tánh hộ pháp mầu

Với pháp hạnh chúa người thuận hộ

Với mắt chánh pháp ứng thuận hộ

Chánh pháp hộ xong rất vui mừng.

Có nhiều Tỳ kheo, cấm hạnh không

Bài báng Bồ đề và Thiện Thệ

Tu Phật Bồ đề, chúng tôi khởi

Như vậy “kiến xả” và chúng sinh

Nếu vì những hạnh này, khi hành

Như vậy chúng sinh rơi đường ác.

Châu Diêm phù có Tỳ kheo xuất (hiện)

Hiệu Vô Biên Tụ Địa Chấn Thanh

Quan sát nghĩa, nói chánh định rành

Phú Già La, vô ngã, vô mạng

Ngài nói Tam ma địa tịch tịnh

Mà Tỳ kheo bị đời đuổi đi

Trong vua rừng Chấn Thanh diệu vi

Tá túc trong đó khéo hộ pháp.

Kia trụ rừng đó mừng vui khắp

Trời Sắc Cứu Cánh đều đến nơi

Để nghe Ngài nói tam muội này.

Nhiêu câu trí trời phát hạnh đạo.

Vua voi, ông muốn đi đâu đó

Nghe biển công đức Tam ma địa?

Và vì chúng sinh làm lợi nhiều?

Nay nên đến người nói pháp kia.

Như Lai sinh ra rất khó được

Bạn nói pháp lại khó gặp

Chúng sinh cầu pháp càng khó hơn

Gặp người hộ pháp rất khó khăn

Châu Diêm phù này, ông tự tại

Vì chánh pháp ông nên nhiếp lấy

Người nói pháp, vô úy thường cho

Như vậy trong thành nói pháp đến.

Nếu lời tôi nói vua thực hiện

Đương lai nhiều lợi ắt được luôn

Và vì chúng sinh làm lợi hơn

Thì sẽ được nhiếp Bồ đề Phật.

Này Hỷ Vương! Như vậy người nói pháp kia ở chỗ vua đó giác ngộ, quan sát xong, như vậy trở lại đường hư không vào với nguyệt luân, lại đi đến chỗ Lâm vương kia. Vị vua đó nghe sự giác sát này rồi vui mừng, nhảy nhót, yêu thích, thỏa lòng thì thiện ý lại phát sinh. Đêm đó qua rồi, nhà vua cùng với một ngàn người con và bốn binh chúng cùng rất nhiều chúng nhân khác đi đến chỗ vua rừng lớn Nhị Sanh Chấn Thanh Tán Hoa đó. Đến rồi, nhà vua hướng về chỗ người nói pháp kia. Vào lúc đó người nói pháp đang vì chúng đại thiên và Đại Bồ tát rộng nói Tam ma địa này. Lúc bấy giờ, vị vua đó và các con cùng những người vây quanh đều thấy người nói pháp đó và các vị Đại Bồ tát thì liền được niềm vui mừng đại ái tịnh tín. Những người đó đem lòng tịnh tín đảnh lễ dưới chân người nói pháp đó và đảnh lễ dưới chân những vị Đại Bồ tát kia xong, ngồi về một bên. Những người theo nhà vua đã ngồi xong, người nói pháp kia vì họ nói giảng Tam ma địa này. Những người kia nghe Tam ma địa này xong được niềm tịnh tín yêu thích mừng rỡ. Lúc bấy giờ, vị vua đó đắc được Tam ma địa này. Và trong số người rất nhiều đó có tám mươi bốn ngàn chúng sinh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Và một ngàn người con đó đều cùng thuận được Bất Đoạn Biện Tài. Này Hỷ Vương! Như vậy, vua Đa Nhân Vô Ưu Phổ Dục Hỷ Âm vui mừng hớn hở tràn đầy trong lòng, liền đứng dậy, đem hai chiếc áo vô giác dâng lên che vị Tỳ kheo nói pháp đó. Các thứ sở hữu của nhà vua đều đem ban cho và bố thí vô úy tô tức (?)…. cho đến cung cấp, hầu hạ trọn đời (tận thọ), tùy theo sự cần dùng của vị ấy mà dâng cho ăn, mặc và nói như vầy: “Thưa Tỳ kheo! Ngài nên hạ cố đi vào thôn, thành, phường, ấp, vương tôi xin làm thị giả, khiến cho các chúng sinh sẽ được trí này”. Này Hỷ Vương! Nhà vua kia nói lời như vậy rồi đảnh lễ dưới chân người nói pháp đó và quyến thuộc xong, đi ra trở về bổn cung. Này Hỷ Vương! Lúc bấy giờ, người nói pháp Vô Biên Công Đức Bảo Chấn Thanh Tịnh Hạnh Tụ từ trong vua rừng đó đứng dậy đi ra, rồi vào trong thôn, thành, phường, ấp, vương đô phát khởi việc nói pháp vì chúng sinh. Nhà vua đó ở những chỗ có người đều ban lời tuyên dạy rằng: “Không một người nào đối với vị Tỳ kheo mà chẳng ái niệm, chẳng vui lòng, chẳng kính trọng, chẳng so sánh”. Một ngàn người con trai của vị vua đó đi theo sau vị nói pháp kia, tiếp nối nhau ủng hộ vì pháp lợi. Và ba mươi ngàn người bà con vương tử khác cũng vì Đại Bồ tát kia mà làm người hầu hạ sai bảo. Tùy theo việc làm của vị ấy mà họ làm cho người được những hạnh vui. Này Hỷ Vương! Người nói pháp đó vì thành tựu chúng sinh nên tự lượng thân mạng trì Kinh nửa kiếp. Vị Tỳ kheo đó khiến cho vô lượng chúng sinh ở trong ba thừa đều đã thành thục. Nhà vua đó và các con cùng mọi quyến thuộc, hoặc là cấp sư (người cung cấp sai bảo) của các vương tử kia hay làm người cấp sứ của Bồ tát đó, ở trong số ấy đều đã phát tâm Bồ đề. Bọn họ do nghe Tam ma địa này và hạnh căn lành đời trước nên đều chung cùng ở trong tám mươi kiếp, thừa sự sáu mươi tần bà la các đức Phật Thế Tôn. Các xứ đều nghe Tam ma địa này đúng như sở dục của họ mà nhiếp lấy cõi Phật, ở trong ấy, hoặc có người đạt đến Bồ đề, hoặc có người hiện hành hạnh Bồ tát vì thành thục chúng sinh. Này Hỷ Vương! Như trong lúc đó, có người nói pháp tên là Vô Biên Công Đức Bảo Chấn Thanh Tịnh Hạnh Tụ. Ý ông nghi là ai khác chăng? Chớ thấy như vậy! Vì sao vậy? Vì chính đức Như Lai Vô Lượng Thọ là người nói pháp trong lúc đó vậy. Lại này Hỷ Vương! Trong lúc đó có vị vua tên là Đa Nhân Vô Ưu Phổ Dục Hỷ Âm. Ông cho là ai khác chăng? Chớ thấy như vậy! Vì sao vậy? Vì chính là đức Như Lai Bất Động đó vậy. Lại này Hỷ Vương! Một ngàn người con của vị vua kia trong lúc đó, ông cho là ai khác chăng? Ông chớ thấy như vậy! Vì sao vậy? Vì là những Đại Bồ tát trong kiếp Hiền này hay là một ngàn vị Phật sẽ ra đời trong đại kiếp Hiền đó vậy. Lại này Hỷ Vương! Người nói pháp Vô Biên Công Đức Bảo Chấn Thanh Tịnh Hạnh Tụ, trong lúc đó, sở hữu ba mươi ngàn Bồ tát bằng hữu theo sau nối nhau vây quanh. Ý ông nghi họ là ai khác chăng? Ông chớ thấy như vậy! Vì sao vậy? Vì những Đại Bồ tát đó, ở trong một kiếp, chứng giác đạo Vô Thượng Chánh Giác. Này Hỷ Vương! Như vậy nhiếp lấy chính pháp siêng cùng tương ứng với Đại Bồ tát, vì vô lượng vô số chúng sinh mà tạo tác nghĩa lợi và mau chóng được Tam ma địa này. Này Hỷ Vương! Do đó nên hoặc ta hiện tiền, hoặc ta diệt độ thì Tam ma địa này phải nên thọ trì, đọc tụng, giảng nói, tư duy, vì người khác diễn nói rộng rãi, mau chóng phá được ma quân.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn làm cho ý nghĩa này vượt cao hơn nữa nên liền nói bài tụng ca này:

Với các chúng sinh nếu cho lạc (vui)

Ngàn na do tha chẳng nghĩ năm (nhiều)

Phước này chẳng lường bằng ví dụ

Nếu lòng này sinh Bồ đề nhân.

Chúng sinh sở hữu trong mười phương

Họ đều thành tựu hơn Độc Giác (Duyên Giác)

Cúng dường họ ngàn câu chi kiếp

Tâm tịnh đem vui thường ban cho.

Nếu Bồ đề này, sinh dục ra

Rằng: “Ta sẽ được trên hai cẳng” (nhị túc thượng)

Tam ma địa này trì một tụng (tụng ca)

Đâyvới đó phước thắng có thừa.

Các chúng sinh gặp đời có Phật

Ngàn câu đê kiếp cúng dường Phật

Họ cũng chẳng được ví phước này

Nếu một lòng phát Bồ đề ngay

Hợc đối với Phật pháp thủ hộ

Tam ma địa này bốn câu kệ

Phước như vậy phi tân Bồ đề

Như người thủ hộ chánh pháp kia.

Chúng sinh trong thế giới Ta Bà

Hoặc dùng Bồ đề hóa độ họ

Nghe xong, với người chẳng thọ đạo

Thì chẳng sinh ra sợ phước này.

Nếu có Bồ tát bố thí tài (của cải)

Trải hằng hà sa câu trí kiếp

Dùng trân bảo ở cõi đầy ắp

Cũng chẳng nghe Tam ma địa này

Như vậy nếu có người trí trì

Bốn câu kệ tụng của định ấy

Thì phước đức tụ nhiều lắm vậy

Chẳng cần nhiều ức kiếp thí cho.

Nếu bậc Thắng giả hộ Bồ đề

Được định Vô Trần chẳng thể nghĩ (bàn)

Chẳng thể dùng lời mà nói đủ

Như người có phước nhiếp lấy kia

Ở trong sinh tử thấy Phật nhiều

Ý niệm đó chưa từng quên mất.

Ở trong đất nước hạnh sở dục

Tam muội này nên chép giữ gìn

Niềm vui của thân như của lòng

Được sinh lên trời gặp bậc Thánh Đương lai, khổ não chưa từng gánh.

Vua Tam ma địa vui mừng theo (tùy hỷ)

Ngàn na do đa cái cửa vào

Bậc ánh sáng vô biên hứa cho

Ta trụ thắng lực mà nói ra

Cốt do định này Bồ đề được

Như Tổng trì môn được biện tại

Được Tam ma địa như thần túc

Thánh vô lưu người trí sở đắc

Nếu diễn nói Tam ma địa này

Trong các cõi người trí ra đời

Họ sẽ hiện tiền thấy chư Phật

Nghe được pháp Phật thọ trì hết

Tụng, tập, chuyển đều do định này

Nếu được đoan chính, căn đủ đầy

Ba mươi hai thứ tướng trăm phước

Chúng sinh thấy rồi vui nhảy nhót

Tụng tập, chuyển đều do định này.

Người trí tiếng đẹp lời ý hay

Đủ sáu mươi phần âm ngạn (bờ tiếng) đến

Nhiếp lấy Phật âm tịnh sinh chúng

Do nghe định này khen nói lành.

Họ sẽ được tuệ mà khôn lanh

Họ cũng được trí mà không đục (bẩn)

Lòng các chúng sinh, họ cũng biết

Nếu trì Tịch Tam ma địa này.

Cửa sở nhập không một tiếng lay

Kia ở trong ấy chẳng sinh biện (luận)

Mà trong các tiếng được xảo thiện

Do tụng Tam ma địa vô trần

Được lòng chẳng nhỏ, chẳng thẹn thùng

Lại được hoan hỷ sinh nhảy nhót

Hỷ lạc đó chưa từng giảm bớt

Do rộng nói Tam ma địa này.

Việc thấy ta nay như đến tay

Các ông nên chính tâm khởi dậy

Các ông là con, thuận ta dạy

Phát tu định này sẽ được thành.

Đây có ông hứa, ta nói lên

Các ông tịnh tâm làm tương ứng

Đến nay ta trụ nên siêng làm

Chớ để về sau phải nhiệt não.

***

PHẨM THỨ BA: THỌ KÝ

I- Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Hỷ Vương bạch đức Phật rằng:

– Hy hữu quá, thưa đức Thế Tôn! Rất là hy hữu Tu Già Đa! Thậm chí đức Như Lai cũng xưng nói khen ngợi công đức sở hữu của Đại Bồ tát nhiếp thọ chánh pháp này. Thưa đức Thế Tôn! Pháp nào mà Bồ tát phải đầy đủ để được Tam ma địa này?

Đức Phật dạy rằng:

– Này Hỷ Vương! Một pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này. Cái gì là một? Này Hỷ Vương! Ở trong Bồ tát bền chắc thệ nguyện trụ trong Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chỗ đó, hoặc có phá hoại, hoặc đối trước đùa giỡn, hoặc hướng về người khác hủy báng, hoặc tranh trái quấy, hoặc sân mắng, hoặc quở trách. Người kia ở trong hoàn cảnh ấy không phẩn hận, không tỵ hiềm, không sinh kết hận, mà trụ ở trên sự quan sát tâm mình. Khi ta phát tâm Bồ đề không người thỉnh ta, hoặc trời, rồng, hoặc Dạ xoa, A tu la, Già lưu trà, Kiền thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la già và phi nhân, chẳng phải phi nhân, cũng chẳng có một người thế gian khác thỉnh ta. Chỉ tự tâm của ta suy nghĩ mà sinh tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng khi tâm đó của ta sinh ra thì các đức Phật đều biết. Ta nay chẳng nên như thế này: Như ta vì người khác phá vỡ tự tại, như đối trước người khác đùa chơi, như giận mắng, như quở trách, như khinh khi, như giỡn học, như nói hại, như đánh… muốn khiến cho họ sợ hãi xả bỏ Bồ đề hay xả bỏ chúng sinh. Như ta lại tác khởi ý nhỏ nhoi, hoặc sinh ra tâm Thanh văn hoặc tâm Độc giác… thì ta đã lừa dối các đức Phật Thế Tôn. Nếu tâm này sinh ra Bồ đề thì ta nay cần phải trụ chắc chắn ở thệ nguyện. Khi tâm đó sinh thì nhất định chẳng buông bỏ cho đến khi chưa ngồi Bồ đề đạo tràng. Này Hỷ Vương! Đây là một pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn cho ý nghĩa này sáng tỏ hơn nữa nên liền nói lời tụng ca này:

Người trí thường sinh thề bền chắc

Vì cầu Vô Thượng Đại Bồ đề

Ta ở trung gian chẳng mỏi mệt

Dùng tâm chẳng mệt hành Bồ đề.

Nếu bị đùa chơi và tranh cãi

Giận mắng, quở trách, chẳng cúng dường

Tự tâm như vậy thuận an ủi

Ở trong không có giận phá sinh (ra)

Như ta khi tâm Bồ đề sinh

Chẳng phải trời rồng… thỉnh ta vậy

Trong các chúng sinh ta sinh bi (từ bi)

Sinh tâm duyên với đạo Bồ đề.

Nếu lại ta nay khởi ý nhỏ

Thì ta lừa dối các Thế Tôn

Ta bền tinh tấn chẳng mỏi mệt

Thủ hộ thệ nguyện mà làm Phật.

Hành giả như vậy đại danh xưng

Tam ma địa này có hiện tiền

Tâm Bồ đề căn bản đứng vững

Hành pháp Bồ đề chẳng khó khăn.

Này Hỷ Vương! Lại có hai pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là hai? Như ngôn như tác, các hạnh Bạch pháp chọn lấy mà chẳng chán. Này Hỷ Vương! Ở trong, cái gì là như ngôn như tác? – Bồ tát này nghe nói có hạnh Bồ tát, nghe có Phật pháp đầy khắp thì Bồ tát đó chọn lấy những điều này mà làm. Ta cũng tu hành những điều này. Bồ tát hành rồi, nhân đây sẽ giác ngộ Phật pháp vô thượng. Bồ tát đó làm đúng như lời nói tức là chọn lấy mà làm. Như hành thành tựu, hành động thanh tịnh thì đây là như ngôn như tác. Sao gọi là trong các thiện hạnh chẳng chán? – Bồ tát này tác khởi ý niệm này: “Biến Trí không lường, như vậy chúng sinh không lường, ta làm lợi nghĩa, họ chẳng thể do thiếu căn lành, thiếu hạnh. Đối với vô lượng Biến trí mà được đầy khắp, vì vô lượng chúng sinh mà làm lợi nghĩa”. Bồ tát đó nếu khi phát khởi ý thiện như vậy mà đem hồi hướng hết những hồi hướng không lường đó thì sẽ như biển lớn cầu nghe chẳng chán. Này Hỷ Vương! Đây là hai pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này.

Ở trong, đức Phật lại nói lời này:

Như nói tức Như làm

Đó không chẳng Như nói

Đó cũng chẳng nói năng

Biệt dị này nếu có

Bồ tát đó là Như nói năng (ngôn thuyết)

Như vậy hạnh tướng nghe đã hành

Người trí như nói tức như tác

Đó được định này Phật công đức

Bạch pháp chẳng đủ, nhàm

Những vị đó không chán

Bồ đề kia không lường

Vô lượng tánh công đức

Với bạch pháp lại chẳng đủ, nhàm

Ý thường chẳng đủ giống như biển

Vô lượng vô biên cõi chúng sinh,

Chẳng thể ý nhỏ mà đủ, chán

Lời nói của Như tức Như làm (như tác)

Lai với pháp cầu chẳng chán pháp

Với hai pháp này thuận học hành

Kia được định này Phật công đức.

Này Hỷ Vương! Lại có ba pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là ba? – Bồ tát này có ba thứ cấm giới thành tựu. Những gì là ba? – Đó là thân giới, ngữ giới và ý giới; lại không có ba thứ phiền não đốt nóng. Những gì là ba? – Đó là tham dục đốt nóng, sân ác đốt nóng, ngu si đốt nóng và trong ba cõi chẳng nương mà tu hành Phạm hạnh. Có ba pháp cụ túc này Bồ tát được Tam ma địa này. Ở trong đức Phật lại nói lời này:

Cấm ngăn ba thứ chỗ

Thân, miệng và ý lòng

Đã tịch ba phiền não

Trong ba cõi chẳng nương

Cấm ngăn thân, ngữ và cả ý

Ba thứ phiền não lại lặng lòng

Và trong ba cõi chẳng nương cậy

Nên Tam ma địa được mau thành.

Này Hỷ Vương! Lại có bốn pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là bốn? – Đó là biết nhân sinh ra pháp, biết nhân đó rồi và biết nhân sinh ra pháp rồi liền xả bỏ cái nhân ấy và chẳng chấp trước nhân sinh ra pháp. Bồ tát đó biết đầy đủ như vậy thì Bồ tát chẳng thấy có một pháp nào mà chẳng phải do nhân sinh ra. Bồ tát đó nghĩ như vầy: “Nếu pháp đó nhân duyên sinh thì bản tính “không” kia chẳng sinh. Lại nữa, Bồ tát đó có trí cụ túc như vậy rồi thì chẳng khởi vô minh và khiến cho vô minh diệt nên vì chúng sinh mà nói pháp. Bồ tát đó chẳng khởi các hành và khiến cho biết các hành nên vì chúng sinh mà nói pháp… cho đến chẳng khởi lão tử và khiến vượt qua lão tử nên vì chúng sinh mà nói pháp. Này Hỷ Vương! Đây là bốn pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này.

Ở trong, đức Phật lại nói lời này:

Đã biết ở nhân duyên

Nhân sinh ra cũng biết

Thì đó không nhận thức

Như đoạn và cả thường

Và nhân cũng biết cùng (khắp)

Hoặc tướng, hoặc tự thể

Hoặc pháp thuộc về nhân

Ở trong, trí chẳng trước (chấp)

Sự sinh của nhân duyên

Là không, nếu có thật

Nếu trí chuyển bên trong

Thì được Tam ma địa

Khắp biết vô minh xong

Thì các hành chẳng sinh

Như biết cũng Như nói

Lợi ích cho chúng sinh.

Bốn pháp này nếu có

Bồ tát, các Thắng giả

Thì chẳng khó được thành

Tam muội Phật khen ấy.

Này Hỷ Vương! Lại có năm pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là năm? Này Hỷ Vương! Đó là Bồ tát biết Tác biết Hợp, biết Cửa, biết Hạnh, biết Đạo. Ở trong, sao gọi là Tác? Sở dĩ nói Tác là nếu ở trong chúng sinh mà lòng bình đẳng, xả bỏ mọi thứ tưởng, trong các chúng sinh chỉ dùng một vị Từ (bi). Đây gọi là Tác. Ở trong, sao gọi là Hợp? Nếu biết quả báo chín muồi trong thân, thiện nghiệp đã làm hồi hướng về đạo Bồ đề, ở trong chẳng chạm đến. Đây gọi là Hợp. Ở trong sao gọi là Môn (cửa)? Cái gọi là môn chính là không môn hay cam lộ môn (y vào Phạm bản thì gọi là Bất tử. Từ xưa đến nay theo nghĩa gọi là cam lộ), ở trong cũng chẳng do cái gì khác. Đây gọi là Môn. Ở trong sao gọi là Hạnh? Đó là không hạnh, độc hạnh, như hạnh. Hạnh của các pháp bản tính đều tịnh. Đây gọi là Hạnh. Ở trong, sao gọi là Đạo? Cái gọi là lìa khỏi ngã tác và ngã sở tác (ta làm và cái ta làm) là chánh kiến của bậc Thánh. Đây gọi là Đạo. Này Hỷ Vương! Đây là năm pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này.

Ở trong, đức Phật lại nói lời này:

Đẳng tâm trong chúng sinh

Những bậc đó làm vậy

Nghiệp báo thục (chín) cũng tin

Thì hợp này Vô Thượng

Đạo phi, pháp tiểu đều lìa xong

Cầu đến pháp lành chẳng ngưng bỏ

Đều đem hồi hướng Bồ đề đạo

Mà với Bồ đề, chạm đến không. ( không chạm đến Bồ đề)

Biết được cửa giải thoát

Là vô tướng và không

Cũng chẳng làm với nguyện

Đây là Vô thượng môn.

Ở trong các pháp có thiện xảo

Ở trong các pháp thường chẳng nương

Riêng tự hợp với Vô sinh cảnh (cảnh giới vô sinh)

Ngã và ngã sở, đó chẳng sinh.

Việc làm kẻ trí hợp với hạnh

Và trong bốn đạo trụ ở luôn

Là Hợp Bồ đề chẳng khó được

Huống chi Tịch tam muội này thành.

Này Hỷ Vương! Lại có sáu pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là sáu? Đó là biết Nhãn (mắt) và biết tự tánh của Nhãn. Kia biết Nhãn rồi và biết tự tánh của Nhãn rồi, ở trong ý sáng Sắc, chẳng ý sáng sắc không có chấp trước ngăn ngại đạt đến lượng ngang bằng. Sắc này Nhãn căn (cơ quan của mắt) chẳng đốt cháy. Như vậy biết Nhĩ, Tỷ, Thiệc, Thân, Ý và biết… tự tính của Ý… kia biết ý rồi, biết tự tánh của ý rồi, ở trong ý sáng pháp và chẳng ý sáng pháp không có chấp trước ngăn ngại, đạt đến lượng ngang bằng. Pháp này ý căn chẳng đốt cháy. Này Hỷ Vương! Đây là sáu pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này.

Ở trong, đức Phật lại nói lời này:

Biết đến tự tánh Nhãn

Phi tự tánh, tự tánh

Kia trong Sắc chẳng ngăn(ngại)

Hoặc không hoặc bất tịnh

Trong sắc đến ngang bằng

Kia không có dục nhiễm

Biết bản tính thể xong

Kia không có đốt cháy.

Như vậy Nhĩ, Tỵ cùng

Thiệc, Thân và cả Ý

Biết tự tánh kia xong

Trong các pháp chẳng trước (chấp)

Sáu cảnh giới giam cầm

Khiến bên ngoài chẳng chạy

Trí tự tánh đủ thành

Phi dục, phi ly dục

Trí như vậy tối tôn

Là bậc thắng Bồ tát

Người đó chẳng khó khăn

Được Phật Tán Tam muội.

Này Hỷ Vương! Lại có bảy pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là bảy? – Đó là chẳng Siểm (dua nịnh), Thuần trực, dục pháp, cầu pháp, quan sát pháp, khai pháp, hành pháp. Này Hỷ Vương! Nhờ bảy pháp cụ túc này, Bồ tát được Tam ma địa này.

Ở trong đức Phật lại nói lời này:

Không có siểm khúc luôn luôn thẳng

Và khác lời ý khác đều không

Sở niệm của ý như lời nói

Người trí tự vui kẻ khác cùng (với)

Trụ ở trong Thuận pháp, hành pháp

Dùng tiếng làm Tối Thắng chưa từng.

Như vậy siêng hợp thì được định

Mau chạm đại Bồ đề không trên (vô thượng).

Đó có dục pháp vang tiếng cả (lớn)

Có chán đủ cầu nghe chưa từng

Như nghe chánh niệm mà quan sát

Vì người nghe (người) đó lại tuyên dương.

Này Hỷ Vương! Lại có tám pháp cụ túc khác để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là tám? Đó là: Giới tụ đều tịnh, các ái trước xa lìa, lòng thường xuất gia, ưa trụ chỗ tịch tịnh, chẳng vì các lợi dưỡng, lòng chẳng tiếc thân, tín giải cao đạo, đối với ái, chẳng ái lòng bình đẳng. Này Hỷ Vương! Đầy đủ tám pháp này Bồ tát được Tam ma địa này.

Ở trong đức Phật lại nói lời này:

Khắp tịnh với giới tụ

Trong thiện tịnh trụ dừng

Đã lìa các ái trước

Trong Thắng giáo xuất gia

Thiện Thệ dạy Tỳ kheo

Nên xả bỏ lợi dưỡng

Mà cầu trụ Tịch này

Định này rất khó thấy

Hành tối thượng này nếu tu hành

Trong ái, chẳng ái không có khác

Nhiếp lấy tám pháp mà chuyển hành

Thượng Tam ma địa này ắt được.

Này Hỷ Vương! Lại có chín pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là chín? Này Hỷ Vương! Đó là Bồ tát này xả bỏ chín việc sân, vượt khỏi chín chỗ chúng sinh trụ (ở), thành tựu chín lớp định, qua khỏi tám tà đão (tà kiến điên đảo), vào trong tám chánh, lìa khỏi tám chẳng nhàn, chứng tám giải thoát, biết bảy thức trụ, tu bảy giác phận. Này Hỷ Vương! Đầy đủ chín pháp này, Bồ tát được Tam ma địa ấy.

Ở trong, đức Phật lại nói lời này:

Chín trú xứ sinh chúng

Ở trong chúng sinh nương

Đoạn lìa khỏi các kiến

Kia không có hỏi nương (y vấn)

Đoạn lìa tám chẳng nhàn

Đã chạm tám giải thoát

Ở chỗ trụ bảy thức

Dùng chánh niệm biết cùng (khắp)

Người trí tu niệm bảy giác phận

Đoạn các phân biệt, bứng não phiền

Như vậy siêng hợp thì được định

Thắng Bồ đề cũng lại chạm liền.

Này Hỷ Vương! Lại có mười pháp cụ túc để Bồ tát được Tam ma địa này. Những gì là mười? Đó là: Bỏ các sở hữu, kham nhẫn thuần trực nhiếp lấy lưu chuyển không lường, đầy đủ trí xuất thế, chẳng được các chúng sinh mà Đại từ, trì giữ những điều đã nghe do đa văn, vượt các cuộc bố thí mà Đại Bi, chẳng dùng các phương tiện vui khéo léo, niệm khắp các đức Phật, mười nghiệp đạo thiện này, thậm chí trong mơ cũng chẳng quên mất, nói pháp nương vào tâm Bồ đề, chẳng tham muốn thừa khác. Này Hỷ Vương! Đầy đủ mười pháp này thì Bồ tát được Tam ma địa ấy.

Ở trong, đức Phật lại nói lời này:

Bỏ các sở hữu mà vui mừng

Cũng có lời nhẫn, tâm thuần trực

Câu trí kiếp, hạnh thiếu thốn không

Tam muội này, người đó mau được.

Người có trí tuệ không não phiền

Kẻ có lòng từ không hy vọng

Nhiếu thọ điều nghe chẳng mất quên

Tịch tam muội này người đó được.

Bi các chúng sinh, chẳng đùa bàn (hí luận)

Các xảo phương tiện chẳng ưa thích

Chánh niệm là niệm các Thế Tôn

Tịch tam muội này, người đó được

Hộ những mười thiện đều sạch trong

Thậm chí trong mơ chẳng từng mất

Lòng nghĩ đến hạnh Bồ đề luôn

Trong tiểu thừa chưa từng hâm mộ.

Như tối thắng pháp này nếu có

Thì được Phật pháp chẳng khó khăn

Quân chúng Ma la (ma) chóng phá được

Sẽ chạm Tịnh Bồ đề tối tôn.

Lại nữa, khi đức Thế Tôn nói pháp bản này thì bảy mươi ngàn chúng sinh xa trần lìa cấu, ở trong pháp được pháp nhãn tịnh, bảy ngàn chúng sinh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Giác, đều được thọ ký Bất thoái chuyển, ba mươi ngàn Bồ tát trong pháp Vô sanh được Nhẫn mà về sau muốn hộ trì thành lũy pháp, vô lượng chúng sinh thành tựu căn lành. Ba ngàn đại thiên thế giới này, sáu thứ chấn động, đại quang soi khắp thế gian, ba đường ác lặng dừng, trước mặt các chúng sinh, họ đều thấy đức Như Lai. Đức Thế Tôn, từ thân lại phóng ra ánh sáng. Nhờ ánh sáng này nên vô lượng vô số thế giới tràn đầy ánh sáng. Chúng sinh ở những nơi đó mà ánh sáng chạm đến thân rồi thì họ đều đối với đức Phật, chánh niệm thuận theo, cùng vui tương ứng, lìa bỏ nhiệt não. Ánh sáng Thế Tôn đó, ở trong mười phương, vô biên trân bảo trang nghiêm, chẳng phải một trăm ngàn thứ màu sắc. Có câu trí na do đa hoa sen trăm ngàn cánh mọc ra khắp các chỗ. Trong hoa sen có hình tượng giống như đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Nhưng hình tương tợ Như Lai đó, ở trong hoa sen kia, ngồi ngay thẳng hiển hiện. Trong những chỗ hoa sen đó, trên đài hoa sen có vị tương tợ Hỷ Vương Đại Bồ tát, gối phải trụ ở đài hoa sen rồi, cũng hỏi Tam ma địa này như vậy. Mỗi một vị Như Lai đó giác ngộ, thành thục vô lượng câu trí na do đa trăm ngàn chúng sinh. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Đại Bồ tát Hỷ Vương rằng:

– Này Hỷ Vương! Ông có thấy trong khắp mười phương vô lượng vô số vị Như Lai tương tợ ta ngồi trong hoa sen và những Đại Bồ tát tương tợ Hỷ Vương như vậy chăng?

Ngài Hỷ Vương đáp rằng:

– Con thấy, thưa đức Thế Tôn! Con thấy, thưa Tu Già Đa! Nhưng mà con chẳng biết số lượng.

Đức Phật dạy:

– Này Hỷ Vương! Có thể thủ lấy hết số lượng cát sông Hằng mà chẳng thể biết số lượng của những đức Phật Thế Tôn đó. Như vậy các đức Phật Thế Tôn sở hữu ông đã thấy vậy. Như vậy số Đại Bồ tát tương tợ ông kia cũng lại chẳng thể biết số lượng của họ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thu nhiếp lại thần lực hy hữu xong liền bảo Đại Bồ tát Hỷ Vương rằng:

– Này Hỷ Vương! Ý ông thế nào? Như Lai từ cõi Phật này có chỗ ra đi sao? Ngồi mà động sao? Ông cũng có chỗ ra đi sao?

Ngài Hỷ Vương đáp rằng:

– Chẳng vậy, thưa đức Thế Tôn! Chẳng vậy, thưa Tu Già Đa!

Đức Phật dạy rằng:

– Này Hỷ Vương! Do chính nhân duyên! Ông nên biết rằng, các pháp đều Như, sinh tướng tác trụ, khởi ra phân biệt, không lai không khứ, sở dục Như, sở tác Như vì không ai chủ vậy. Ông nên biết, những cái đó đều rỗng không, chia lìa. Này Hỷ Vương! Vậy nên ông đối với các pháp nên phải tín giải, thấy chúng như lửa hừng, như mộng mơ, như bóng dáng, như tiếng vang, như trăng đáy nước, như điện chớp, như bọt nước… Các ông nên học như vậy. Vì sao vậy? Vì Bồ tát tín giải sâu sắc sẽ được Tam ma địa này.

***

PHẨM THỨ BA : THỌ KÝ

II- Ở trong, đức Thế Tôn lại bảo Đại Bồ tát Hỷ vương rằng :

– Này Hỷ Vương ! Nếu lại có Bồ tát nương vào chúng sinh của ta, qua số kiếp nhiều như cát sông Hằng, mà thí cho, hộ giới, niệm Nhẫn, phát khởi tinh tấn, vào thiền định, tu trí tuệ. Nếu lại có Bồ tát tín giải các pháp vô ngã thì vị này hơn vị kia về phước đức tụ sinh ra và mau chóng chứng Vô Thượng Chánh Giác. Vì sao vậy? Này Hỷ Vương ! Thuở xưa, đời quá khứ, chẳng thể tính được kiếp, lại quá không tính toán, chẳng thể lường, vô lượng chẳng thể nghĩ ca la đó (bất động) tam ma gia đó (bình đẳng) có đức Như Lai ra đời hiệu là Bảo Quang Uy Luân Vương Ứng Chánh Biến Tri Minh Hành Cụ Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn, thế giới tên là Hữu Bảo; kiếp tên là Ứng Vãng. Lại này Hỷ Vương ! Ca la đó, tam ma gia đó, đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai đó có Hữu Bảo thế giới giàu có phong túc rất là vui sướng, nhiều người chen nhau huyên náo, đất đai bằng phẳng như bàn tay, không có sành sõi, thừa thải vàng bạc, như sờ vào áo Cơ chơn lâu nê ca, tám con đường nối liền nghiêm sức thuần màu xanh dạ lưu ly. Và có hoa sen vàng Diêm phù na đa (Diêm phù đàn kim) tự nhiên sinh ra trong phần lớn đất đai. Hoa lớn như bánh xe, hương sắc đẹp đẽ thơm lừng. Thế giới đó rộng rãi có đến sáu mươi bốn câu trí trăm ngàn châu. Trong mỗi một bốn châu có sáu mươi bốn câu trí trăm ngàn thành. Những thành lớn đó đều rộng ba mươi hai dũ xà na, đều có tường vách bằng bảy báu và có nhiều câu trí na do đa trăm ngàn chúng sinh trụ ở. Mỗi một thành lớn có mười hai ngàn thôn, thành, phường, ấp vây quanh. Những đại thành đó nhất nhất đều có năm trăm ngôi vườn thọ dụng với đủ thứ những cây báu đầy hoa trái hương thơm vây quanh trang nghiêm. Trong những vườn đó nhất nhất đều có ba mươi hai ao hoa (hoa trì), trong ao ấy đầy tràn nước tám phần cụ túc (nước tám công đức). Cát vàng (kim sa) trải khắp, lan can báu vây quanh xen lẫn những thanh dạ lưu ly. Và có hoa báu Ưu ba la, ba đầu ma, Cứu mâu đà, Bôn trà lợi (Phân đà lợi)… sinh ra trong vườn ấy. Những loài chim như ngỗng, nhạn, giao thanh, khổng tướng, uyên ương, Ca la tần già, mạng mạng (cộng mạng) trụ ở trong những hoa Ưu ba la, Ba đầu ma, Cứu mâu đà, Bôn trà lợi đó, mỗi mỗi đều phát ra âm thanh. Này Hỷ Vương ! Ca la đó, Tam ma gia đó, đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai có khu vườn tên là Ái Kiến mà đức Thế Tôn đã ở trong đó. Đức vua cai trị xứ tên là Hữu Nguyệt y chỉ mà trụ chung với bảy mươi hai câu trí Thanh văn và tám mươi bốn câu trí Bồ tát đều chẳng thoái chuyển. Này Hỷ Vương ! Có Nguyệt Vương cai trị xứ, có bảy bảy mươi hai câu trí trụ ở. Trong các xứ đó có tám đường thông nhau. Lại này Hỷ Vương ! Có Nguyệt Vương cai trị xứ, rộng sáu mươi bốn dũ xà na với tường vách bằng bảy báu, lan can bảy báu, đủ thứ các trụ cửa báu và cây Đa la hàng lối la liệt đều mắc lưới gắn chuông nhỏ. Lại này Hỷ Vương ! Ca la đó, Tam ma gia đó, trong đó có Nguyệt Vương cai trị xứ, có vua tên là Bảo Nguyệt, ở trong bốn ngàn châu, chuyển luân tự tại, vì pháp thi hành vương pháp. Lại này Hỷ Vương ! Vua Bảo Nguyệt đó với vua hữu Nguyệt kia, chỗ cai trị đều tạo lập cung điện, nhà cửa bằng bảy báu, đều rộng bốn dũ xà na với bảy lớp tường ngăn… cho đến lưới gắn chuông thất bảo giăng mắc vây quanh và lưới bằng ngọc Ma ni che bên trên những thứ ấy. Trong cung điện nhà cửa đó, bốn phương có bốn ngôi vườn lớn, một tên là Tạp Họa (vẽ) Xa, hai tên là Thường Khai Hoa, ba tên là Hy Kiến, bốn tên là Chánh Hạnh Lạc. Trong vườn lớn đó có đủ thứ cây sinh ra. Đó là cây báu, cây cho hoa, cây cho mùi thơm, cây cho quả, cây anh lạc (cho chuỗi ngọc), cây cho áo, cây âm nhạc, cây phú sa (cát giàu), cây nguyệt thượng, cây nhật thượng viêm. Trong vườn lớn đó nhất nhất đều có bốn ao hoa lớn đầy ắp nước Chiên đàn na với lan can báu giáp vòng, đáy ao trải cát vàng Diêm phù na đa. Các hoa báu Ưu ba la, Ba đầu ma, Cứu mâu đà, Bôn trà lợi che bên trên ao ấy. Chim uyên ương hòa kêu. Lại này Hỷ Vương ! Vua Bảo Nguyệt đó có bốn mươi hai ngàn phụ nữ đứng vào hàng các thiên đồng nữ. Trong số đó có một thiên phụ (phụ nữ trời) rất lớn tên là Hữu Phước. Nhan sắc người ấy minh hiển hơn hẳn các trời. Lại này Hỷ Vương ! Vua Bảo Nguyệt đó có mười hai ngàn người con, hình sắc thắng diệu, người nhìn thấy đều tin yêu. Người con tối thượng tịnh sắc viên mãn cụ túc, có hai mươi tám tướng đại trượng phu trang nghiêm khắp thân. Này Hỷ Vương ! Vua Bảo Nguyệt xuất cung, đến trong vườn Ý Hỷ Kiến dạo chơi, hành lạc. Tối đại thiên phụ tên là Hữu Phước, trong lòng bỗng có một đứa trẻ hóa sinh trụ trên mu bàn chân, hình sắc thắng diệu, người nhìn thấy đều tin yêu, có hai mươi tám tướng đại trượng phu đầy đủ. Đứa trẻ đó, vào lúc sinh ra nói lời như vầy : “Các hạnh vô thường, vô trụ không có dừng yên, điên đảo hướng về pháp”. Đứa trẻ đó thuận nối nhau, nói kệ này :

Các hạnh vô thường không dừng yên

Không trụ, không bền đão hướng pháp

Phàm tiểu niệm, đây là thường an

Vì dục buông lung không chánh niệm

Theo “hữu dục” người và chư thiên

Đều là vô thường, tận pháp thể

Với dục chán đủ chưa có từng

Không chắc khổ dục là căn khổ.

Có Thế Tôn hiệu là Bảo Quang

Ngài nói vô cấu vô vi pháp

Các căn ở trong tịch không còn

Và thánh lạc Bồ đề vô lậu

Lời này Ngài nghe con trình lên :

Như Lai ra đời khó gặp được

Nên cùng đi đến bên Thế Tôn (Thiện Thệ)

Trời hơn cả trời, quang minh hạnh.

Này Hỷ Vương ! Lúc bấy giờ, vua Nguyệt Bảo hướng về đồng tử kia lại nói kệ rằng :

Ông là trời, rồng, Dạ xoa, thần

Đồng tử vì ta nói nghĩa ấy

Ông sinh nói lời như vậy liền

Với Phật pháp nói lời khen ngợi

Ông chết ở đâu, đến thế gian?

Ông tên là gì? Hướng ta nói !

Ánh sáng đều soi khắp trong vườn

Thắng đức uy thần, ông hiển chiếu.

Đồng tử đáp lại rằng :

Có đấng trượng phu ở phương Đông

Tên đạo sư Tu Mê Lưu Tụ

Con chết ở đó đến thế gian

Pháp Vương Bảo Quang, con muốn thấy

Như vậy Pháp Thượng là tên con

Con nay phát nguyện tu Phật trí

Ngài nếu muốn nghe tối tôn

Nên cùng đi đến bên Thiện Thệ.

Này Hỷ Vương ! Lúc bấy giờ, vua Nguyệt Bảo cùng với đồng tử Pháp Thượng và các phụ nữ, các vương tử và rất nhiều người vây quanh khóc đi đến vườn Ái Kiến, hướng về chỗ của đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Đến rồi, nhà vua đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi lui về trụ ở một bên. Số rất đông người đi theo vua ấy cũng đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương rồi lui về trụ ở một bên. Đồng tử Pháp Thượng làm lễ dưới chân đức Thế Tôn đó rồi, miệng kêu ở dưới chân Ngài mà nói lời như vầy : “Thưa đức Thế Tôn ! Đức Như Lai Tu Mê Lưu Tụ gởi lời hỏi thăm đức Thế Tôn là ngài có được ít bệnh ít não, đi ở nhẹ nhàng, khí lực hành động thoải mái chăng?” Đồng tử nói rồi, đứng trước đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai và hướng về đức Thế Tôn đó mà nói kệ rằng :

Đấng Vô Thượng Tư Nghị Cúng Dường

Tối Thắng diễn nói hạnh Vô Tránh

Độ thoát chúng sinh nhiều không lường

Nhân Chúa tại tòa, nay con lễ

Ba ngàn cõi này làm Giáo Vương

Thế Tôn hay dùng Pháp bảo thí

Vì người rộng nói báu pháp tàng

Phá vua Ma la, quân La sát

Trong chúng như trăng soi khắp cùng

Nói đạo đi qua bờ giải thoát

Giáo sư năm lực và năm căn

Ngũ nhãn Thiện Thệ, con qui mạng

Giáo Sư lìa hết các não phiền

Hành trong đất này, vua Chuyển Luân

Trừ bỏ ba cấu giống như mắt.

Mắt thanh tịnh ly cấu thế gian

Ma hầu la già, người, sinh chúng…

Không ai chẳng hướng về người trên

Tối Thắng không cao cũng không thấp

Con nay kính lễ các Thế Thân (thân cận với đời)

Được cùng chẳng được, hạnh bình đẳng

Các tướng hoa nở, trượng phu trăng (trượng phu nguyệt?)

Như hoa sen, chẳng nhiễm thế pháp

Thế thân hay khiến cành ái tan (đoạn)

Khéo điều (phục) đầy đủ, lòng đã phục

Bình đẳng Thí, giới, lòng không sân.

Chúng sinh khó phục, đã điều phục

Trăng trong người Thiện Thệ phục lòng (?)

Ngôn ngữ dịu dàng khéo thuận ý

Khi nói hay động đến ba ngàn (thế giới)

Trời rồng tu la và người nữa

Họ nghĩ đây là con nói lên

Đây là không, không chúng sinh tính

Không có tướng, nguyện cũng lìa tan.

Ngài nói trong này “vô xứ khứ”

Cũng không có lại, chết cũng không

Pháp giới chẳng động, không trú xứ

Đời trước, đời sau chẳng đắm tham (trước)

Ở trong khoảng ấy như hư rỗng

Ngài nói pháp này, nghĩ ngợi không,

Thế Tôn thường nói đến thật tế

Trong này, các đời chuyển mê loàn (loạn)

Như mù, đầy phiền não, sân nhuế

Họ tác khởi niệm ngã và nhân

Pháp này tợ như mây cùng huyễn

Điều mắt thấy chẳng động rỗng không.

Nhẫn thắng diệu này nếu có được

Bọn đó Giáo sư đuổi theo luôn

Giống như vẽ hư không đủ thứ

Không chỗ, không có một chỗ dừng (trụ)

Như vậy chỗ trụ tự nhiên biết

Nên kia không có một chỗ dừng (trụ)

Các tiếng khi nghe không có thật

Cũng chẳng thể thấy trú xứ không (có)

Hoặc nghe, hoặc nói cũng lại vậy

Bản tính chúng chẳng động rỗng không.

Pháp Thắng Giả, thể tướng cũng không

Sẽ thấy sự thị hiện như huyễn

Nếu thấy như thể không biệt phân

Sẽ thấy Thiện Thệ cũng như vậy.

Cõi, chẳng cõi, các cõi ngang bằng (bình đẳng)

Chư Phật bình đẳng công đức Phật

Các pháp bình đẳng pháp tịch không

Các chúng sinh bằng không chúng sinh

Bất tận mất hết ở trong tận

Bất tận mất hết không trong tận

Tận ấy chẳng tận, tận chẳng tận

Nhẫn này như vậy thuận theo luôn.

Phân biệt, phân biệt khởi phân biệt

Các pháp cũng không chỗ khởi lên

Nếu đã khởi thì thường chẳng khởi

Nhẫn này như vậy thuận theo luôn.

Thấy kiến (thấy) thường không có kiến thể

Hoặc thấy chẳng như quán như thế

Hoặc thấy những pháp này rỗng không

Nhẫn này như vậy thuận theo luôn.

Chưa từng có thể biết đời trước

Tối thắng thật tế do chẳng biết

Tế thường không tế, nếu biết thông

Thì tiền tế (đời trước) đó theo đoạn dứt.

Ở trong biên, vô biên chẳng nương

Bờ này, bờ kia thường chẳng trụ

Nếu trong ba cõi (hữu) không trú xứ

Thì kia, thật tế trụ ở trong

Nếu kia trụ ở trong thật tế

Thì trong ba cõi, trú xứ không,

Nếu trong ba cõi không trú xứ

Thì kia thường trụ trong thật tế.

Nếu sắc tợ như bọt nước gom

Biết Thọ cũng như bọt nước nổi

Tưởng niệm giống như lửa sáng hừng

Nếu biết thì trụ trong thật tế.

Các tụ là hữu vi, không bền

Nếu biệt tợ như là cây chuối

Biết ý cùng huyễn kia tương đồng

Thì tụ tan đó đã tiêu diệt.

Nếu với từ bi khéo tu hành

Ở mình và người không y chỉ

Tu niệm hạnh tối thượng sạch trong

Thì sẽ làm Phật như trời Tịnh

Nếu lìa rộng khắp các não phiền

Thì kia chưa từng có thủ trước

Bỏ các sở hữu, bỏ sạch trơn

Bố thí đó được Phật ngợi khen.

Nếu thân giống như trăng đáy nước

Biết lời nói ra như tiếng vang

Biết lòng như ánh chớp trong không

Giới kia thù thắng trong ba cõi

Đến bờ kia nếu Nhẫn điều xong

Ý đó việc ngoài chẳng tổn hại

Hay biết sáu căn như thôn không (xóm trống không)

Nhẫn đó được Thiện Thệ tán thán.

Không sở úy nếu ưa nhàn riêng

Minh trí đôi lần hành cảnh giới

Thân tâm tịch tịnh, hạnh trực, thuần

(Tinh) Tấn đó thù thắng trong ba cõi.

Nếu người diệt bản tính não phiền

Rỗng không phân biệt người tịch trí

Nếu tưởng chẳng chuyển trong ba cõi

Thì định kia Thiện Thệ ngợi khen.

Nếu biết trong này người không có

Thì với Thượng trí, kia được liền

Nên lìa hí luận mà tịch tịnh

Trong ba cõi trí đó thắng hơn

Nếu ở trong “hữu” không mệt mỏi

Trong câu trí kiếp lúc hành khổ

Chưa từng ham mộ thừa thấp hèn

Bọn Ma la kia đều kinh hồn

Như ở trong biển lấy giọt nước

Con nói Tối Thắng, công đức trên

Phật pháp rộng rãi không có biên

Chưa từng được ở bờ cõi đó.

Này Hỷ Vương ! Lúc bấy giờ, đồng tử Pháp Thượng ở trước đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai, khi nói bài kệ này thì khắp cùng những ba ngàn đại thiên thế giới sáu thứ chấn động, trăm ngàn câu trí na do đa âm nhạc đồng thời tấu lên và mưa xuống các hương thơm, vòng hoa cài tóc, hương xoa, hương bột. Tám ngàn vị Bồ tát đều sinh ra nhẫn ở trong pháp Vô sinh. Vua bảo Nguyệt ấy cùng các phụ nữ và các đồng tử với đại chúng đó đều phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Này Hỷ Vương ! Bấy giờ, đồng tử Pháp Thượng hướng về đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai bạch như vầy : “Thưa đức Thế Tôn ! Những Tam ma địa nào khiến cho Đại Bồ tát sẽ được nhiếp lấy các pháp? Sẽ được nhiếp lấy cõi Phật công đức trang nghiêm? Sẽ được đủ đầy chúng Thanh văn, Bồ tát? Sẽ được của cải thọ dụng vô thượng? Sẽ được vượt qua các ma la, các phiền não ác? Sẽ được đủ đầy chánh niệm, chánh ý, chánh thú, tàm quí, trụ trì trí tuệ? Sẽ được nhiếp thọ các điều đã nghe? Sẽ được đủ đầy ngũ thông thắng trí? Sẽ được vô trước ưa nói tổng trì? Sẽ được đủ đầy biện tài? Sẽ được đủ đầy sáu Ba la mật? Sẽ được đủ đầy sinh vào gia đình dòng họ hình sắc thọ dụng? Sẽ được vui lòng tiếng nói tác nghiệp? Sẽ được đủ đầy các công đức? Sẽ được giỏi biết vào, ra các định giải thoát Tam ma địa? Sẽ được đủ đầy các thứ trí công đức, chưa được Phổ trí mà luôn làm Phật sự vì chúng sinh?”. Đồng tử ở trước đức Phật ấy nói như vậy xong thì đức Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai hướng về đồng tử Pháp Thượng bảo như vầy : “Này đồng tử ! Hãy lắng nghe ! Lắng nghe ! Khéo dấy lòng suy nghĩ ! ta sẽ vì ngươi diễn nói ! Nếu đầy đủ Tam ma địa thì Đại Bồ tát sẽ được những điều này và vô lượng vô số chẳng thể lường thắng công đức khác nữa, cũng sẽ mau chóng hướng về đạo tràng Bồ đề. Này đồng tử ! Có Tam ma địa tên là Quyết Định Quan Sát Các Pháp Hạnh. Nếu được Tam ma địa rồi thì Đại Bồ tát vượt qua các cảnh giới ma la, sẽ mau chóng chứng giác đạo Vô Thượng Chánh Giác”. Đức Như Lai đó vì đồng tử kia dùng lời kệ rộng nói Tam ma địa này :

Như nói như việc làm

Làm rồi chẳng nói dối

Thân, miệng, ý sạch trong

Có từ tâm ích lợi

Với bi chẳng mất quên

Và chán các dục hạnh

Vì pháp vui cầu luôn

Thệ trí cũng chẳng bỏ

Khéo léo trong từ ngôn (lời nói)

Xuống vào chúng sinh trí

Chẳng tiếc với nghiệp thân

Trong thân chẳng tham muốn

Phải lìa lời ác liền

Với lòng chẳng hý luận

Cứu giúp khổ chúng sinh

Giác ngộ kẻ phóng dật

Người siêng dạy tương ưng

Kẻ hối khiến ra khỏi

Chẳng trụ tưởng chúng sinh

(Bản Phạm văn thiếu một câu)

Tưởng việc chẳng phân biệt

Xa lìa khói lấy nâng

Các tướng cũng sẽ diệt

Chẳng động trong thọ dùng

Thường phải cầu trí tuệ

Xa lìa lời thế gian

Phải cầu được xuất thế

Chánh niệm chẳng mất quên.

Thuận niệm với các pháp

Như vậy sẽ khéo khôn

Việc làm làm đầy đủ

Và thuận hạnh thế gian.

Nên phải tin nghiệp báo

Xa lìa lòng chẳng tin

Nên phải tin chư Phật

Đó nên thuận niệm luôn.

Thường nên nói tội lỗi

Phước tụ phải theo mừng

Và khuyến thỉnh chư Phật

Lễ bái, hướng Thế Tôn

Thường hàng phục kiêu mạn

Làm thiện không chán nhàm

Cũng thường siêng tương ứng

Toan làm chớ bỏ buông

Thành tựu hạnh tu chính

Phải biết sự tạo nhân

Chớ theo danh thí thiết

Bị trách chớ nổi sân.

Chớ chấp trước ngôn ngữ

Chớ nghĩ đây thật chân

Chẳng cần trụ Dục giới

Sắc, Vô sắc các dòng (giống).

Như nghiệp đã chịu báo

Quả đó phải nên tin

Chia cho vật sở dụng

Dạy bảo chẳng hủy thương.

Bình đẳng với chúng sinh

Một người cũng chẳng hại

Siêng, lười đều chẳng sân

Không ghét người sở đắc.

Sở dục phải đầy lòng

Như pháp hộ thệ nguyện

Với giới không lìa tan

Kiêu mạn phải trừ diệt.

Chuyển đổi lỗi hận sân

Ngu si cũng bứng đứt

Tham dục chẳng phát hành

Theo được liền biết đủ.

Lìa bỏ các thân quen

Không lợi lòng chẳng thấp

Được lợi chẳng cao hơn

Chỉ mừng được pháp lợi.

Thường làm bình đẳng phân

Phải lìa khỏi tích trữ

Nghe được lời ác ngôn

Nhịn nên hay nín chịu

Thường hộ trì ngữ ngôn

Bồ đề thừa phải nói

Thường khuyên siêng tương ưng

Người tinh cần kề cận

Kẻ trí luôn hỏi han

Tăng tu kỹ chánh định

Chớ bỏ ngụ không nhàn

Trụ Đầu Đà thiểu dục

Nên phải tin giải không

Với việc không đắm trước

Tụ lạc chẳng nương dừng (y chỉ)

Trong cõi chẳng tham dục.

Chẳng thấy ta bên trong

Chẳng ái trước cảnh giới

Diệt các ý đảo điên

Với lòng luôn gìn giữ.

Trí tuệ nên phải sinh

Thường hành nghiệp chánh hạnh

Lòng ấy chẳng khiếp hèn

Phải niệm ruộng phước tịnh.

Các hành phải bỏ buông

Thí rồi không cầu mong

Cũng chẳng niệm trì giới

Với Nhẫn không biệt phân,

Chẳng phát khởi tinh tấn

Trong định cũng chẳng nương

Chẳng quên mất các pháp

Trí tuệ nên giác thông.

Nên phải vào các Ba la mật

Trong công đức minh, nghĩ chưa từng,

Nghe công đức người chẳng giận ghét

Hữu vi, vô vi lòng ngang bằng (bình đẳng)

Niết bàn lúc nào cũng vin níu

Với Hữu vi phải xa lìa luôn

Giải thoát yên ổn luôn luôn biết

Trong xóm tưởng như kẻ sát nhân

Với chỗ Niết bàn thường sinh ái

Hòa nhẫn luôn luôn trụ ở trong.

Mặt vui không làm vẻ nhăn nhó

Thấy người khác thì trước hỏi han

Ở với người già từ (bi) tôn trọng

Và tâm trí tuệ khéo nối liền.

Với người khác chưa từng trách phạt

Nếu có đấu tranh khiến lặng yên

Với chỗ tịch tịnh thường khen ngợi

Thường dạy hợp, chúng sinh hòa đồng.

Ái, chẳng ái, lòng thường bình đẳng

Thường phải cầu đến Tổng Trì Môn

Như mẹ yêu thương các sinh chúng

Như cha yêu thương các thánh nhân

Yêu thương tôn trọng như thân cận

Yêu Bồ tát như Phật Thế Tôn

Yêu pháp cũng như yêu tự thân

Và cầu điều nghe không chán đủ.

Đã nghe pháp xong chánh tu hành

Với Như Lai cũng thường cúng dường

Với pháp thắng thượng phải tín giải

Không tâm khiếp nhược, không giải đãi.

Với Tam Bảo luôn phải cúng dường

Thường phải nhịn chịu lời bất chánh

Thường chẳng luyến ái với tự thân

Thọ mạng cũng lại chẳng tham tiếc.

Sống đời thanh tịnh, thường xin ăn

Chẳng bỏ Đầu Đà, theo thứ lớp

Chưa từng lìa chỗ ngụ không nhàn

Xa, xa nữa, phải bỏ đồ chúng.

Kẻ tại gia chớ ưa ở chung

Với người xuất gia chớ làm loạn

Chớ yêu, chớ trá, trước lời lành

Dạy hóa nhiều người vào Phật trí.

Khi nói pháp, lòng không khiếp hèn

Phương tiện giỏi xem biết người khác.

Với Phật luôn luôn khởi trong lòng

Và thường nghĩ pháp chẳng phóng dật

Cũng ở chỗ Tăng tôn trọng luôn.

Và thường cúng dường với người trí

Phương tiện khéo trí cũng thường gần

Thường tác vô tránh với người định

Với kẻ tinh cần giúp hảo tâm

Cũng niệm tu pháp tin việc phước.

Giáo hóa chúng sinh khiến làm lành

Người tin phải yêu, lòng ngay thẳng.

Nếu chạm việc khổ hay mở tan

Thường nương thời hành, phi thời bỏ

Thường hành khủng úy và thẹn thùng

Trong tội ác đó sinh thẹn sợ.

Các hạnh bất chánh xa lìa xong

Được người chánh hạnh, luôn thân cận

Vì giải thoát, với giới giữ gìn

Cũng lại phải cầu đến hạnh Thánh.

Bốn niệm xứ luôn nghĩ tu hành

Cũng thường thân cận bốn chánh đoạn

Và bốn như ý túc sẽ thành

Với các căn cũng sẽ xuất sanh.

Nên phải cầu lực cũng như định

Với bảy giác phận luôn xét xem

Thường phải tu hành tám phận đạo

Xá ma tha cũng cầu nhóm gom

Tỳ phát xá na luôn sinh Đế

Tâm đã tùy hỷ mà xét xem

Trong pháp tùy hỷ lại sinh hỷ

Cũng sẽ siêu việt các phàn duyên (duyên vin vào)

Nghe không trú xứ chẳng kinh sợ

Chỗ chẳng thể được, chớ buông lung

Thường phải cầu mong Bồ đề hạnh.

Hạnh Phật sẽ làm, tin xưng lường

Nên phải chán bỏ hạnh cảnh giới

Cũng phải bỏ những hạnh trước làm

Nghiệp mình tịnh, không nói người khác

Luật hạnh chẳng phá, hằng thời làm

Giỏi học cấm giới biệt giải thoát

Bỏ phi thời, thường nương thời hành.

Khéo hai trù liệu nên đi, lại

Vật tốt biết lường tự cấm dừng

Và ở dòng thánh đều biết đủ

Cũng lại cầu vào Thắng trí thông.

Trong Tam ma địa phải vin níu

Và với định hạnh, biết vào trong

Phải vào sở dục, lòng sinh chúng

Theo đúng lời nói thầy dẫn đường

Cũng nên nhiếp lấy thuyết vô ngã

Nếu kẻ siêng hợp khiến vui mừng

Niệm tu hành như Tối thắng thể

Tam ma địa này phải niệm luôn.

Nghe đã tin Thanh văn chánh hạnh

Đạo Duyên Giác phải học thuận tùng

Chủng tánh chư Phật phá ma đạo

Tam ma địa này phải cầu luôn

Phát hành Thắng Giác do ở Thí

Người chẳng thoái chuyển hạnh Thế Tôn

Nhiều câu trí kiếp hạnh kẻ trí

Chính biển nghe là chỗ pháp hành

Trong cảnh giới này, pháp tôn trọng

Nếu tín giải là cửa thật chân

Thị hiện này, trú xứ của Phật

Ở pháp tạng này cầu báu trân

Ở trong ruộng này cầu quả đó

Phiền não nhiệt là trong hy viên (vườn vui lòng)

Ưa trì pháp, đây là vườn tược

Ái kiến đó là Tam ma địa

Muốn cầu Bạch pháp, mẹ này sinh

Người có sở dục được không nương

Các tướng thắng diệu sẽ buộc lấy

Các đẹp theo tướng cũng hiện lên.

Đất nước trang nghiêm đây an trụ

Đây cũng được nghe và giữ gìn

Sinh ra đủ thứ, đây thuận giác

Lời thanh tịnh, tiếng nói thật chân.

Cũng hay vượt qua Ma la cảnh (cảnh giới ma)

Nhiếp lấy xa xăm, mặc giáp đồng

Giết hại phiền não, nương điều phục

Đây cũng phá tan các chẳng lành (bất thiện)

Muốn cho các thiện được xí thạnh

Muốn được cầu nguyện làm trang nghiêm

Nhiều chúng mà ma chẳng phá được

Đây, lúc nói cũng không tận cùng.

Đây cầu cùng thế gian bình đẳng

Luận sư ngoại đạo chẳng chánh chân

Đây hay qua khỏi Thanh văn pháp

Bậc Độc giác thắng, đây là duyên

Trí nhất thiết trí, đây gìn giữ

Sở thú chúng sinh đây cũng trụ

Đây hay giáo hối người thật chân.

Trong lúc đây chọn lời bạn lành

Bậc căn vô cấu, đây thiên nhãn

Và với pháp nhãn muốn cầu tìm

Cầu người nói pháp đây thắp đuốc

Cầu lời chân thệ, đây thật thành

Cầu người tài thí, đây là xả

Cầu giải thoát kiến, đây hợp cần

Cầu người vui định, đây tịnh tín

Muốn nghe biển pháp, đây chánh hành

Câu mê lưu định, đây là lực

Muốn cầu pháp đạo, chủ ngang bằng

Vì muốn sự tịnh diệu trang nghiêm

Tự tâm điều phục, đó là Phạm

Phương tiện cầu pháp, đây hỷ tâm

Và bất thoái chuyển, đây sở hạnh

Đây là thú hướng hạnh nói năng

Thường nghĩ người trí tuệ lợi căn.

Đây là việc phương tiện đầu nghiệp (nghiệp bắt đầu)

Trượng phu vua trâu, đó trí tràng

Muốn cầu thắng thì đó bằng cung (tên)

Cầu vô ngã là na la dạ (?)

Nếu hướng Phổ trí, đây là đường

Cầu thiện thoát là giới bình đẳng

Đây là chỗ trời… lễ bái luôn

Đây là chỗ rồng… tung hoa mãi

Và là người đều dâng cúng dường

Dạ xoa hy hữu khen ngợi tốt

Hàng trăm La hán cũng lễ mừng

Bồ đề Thắng Thiên cũng xưng tán

Nếu Như Lai đều niệm của mình

Muốn hộ căn thì đó nang thành (quách)

Như pháp trụ là hợp phương tiện

Định y chỉ, đó được ngang bằng

Các hữu nghi thì khiến phá tán

Hữu mê hoặc thì đều khiến đoạn

Cao mạn phiền não khiến diệt tan

Muốn qua bờ kia, hay khiến độ

Bệnh ràng buộc, đây là thuốc lành

Người có bệnh, đây là trị thật

Tên độc phiền não hay nhổ lên

Muốn hợp lý là tạo suy nghĩ

Trong chúng, sư tử rống không kinh (hải)

Ở chỗ Thiện Thệ cầu nghe pháp

Và thường đường này là Niết bàn

Hay đoạn các đường ác sở hữu

Ở chỗ ba cõi đều vượt lên

Cầu cõi công đức, đây trang nghiêm

Kim cương dụ định đây với đó

Sinh tòa sư tử lần sau cùng.

Việc cầu phước đức, đây chẳng mất

Các việc muốn cầu, đây nhiếp hết

Thường thiếu mệt thì khiến ngưỡng mong

Chưa có tinh tấn, đây phát dục

Nương níu duyên thì khiến lập yên

Pháp hạnh khác biệt, che khiến trụ

Có bình đẳng thể, đây thành tựu

Nương vật kiêu, dật, đây trừ tan

Lấy vật ngang ngược, đây buông bỏ

Biết hết các thứ trí khắp cùng (châu biển)

Cầu trí tuệ thì đây sinh xuất

Cầu phước thiết hội (lập hội) đây chẳng mất

Nương ba hữu (cõi) thì đây dứt nguyền

Cầu Bồ đề, thường không có tướng.

Ba đời các pháp không

Biết rồi mà chẳng xả

Thời thời phương tiện trí

Làm vì các thế gian

Chủng tính Phật thở than

Trí Phật là từ đó

Chớ cầu đến lỗi lầm

Ở người nói pháp đó

Cũng lại chớ khi khinh

Sở kiến kia chưa học.

Người nói pháp, chớ sân

Phải ở gần tôn trọng

Nghe thật phải biết chân (thật)

Chớ huỷ báng kẻ trí

Thí pháp, vật chớ mong

Nói pháp chớ dè xẻn

Nghe pháp tôn trọng chung

Tâm ý chớ tán loạn

Vì nói pháp hết lòng

Nếu thấy người ưa dục

Thí pháp chớ đoạn dừng

Chớ duyên vào việc khác

Kham nhẫn hỏi thẳng thừng

Hoặc hỏi vì giải thoát

Hoặc kẻ có ác tâm,

Trong đó Nhẫn tạo tác.

Hối và cả nghi hoặc

Đó đều đoạn vì ông

Nếu thấy chưa được đạo

Đem đạo vì tuyên dương.

Khi định này suy nghĩ

Dễ được trí Thế Tôn (Phật)

Các sở tác, các cúng (dường)

Người nói pháp ở bên

Cầu tám phận thắng đạo

Với việc khác chớ duyên

Nếu tâm ác tranh cạnh

Khó phục khiến phục hàng

Không nương “ đẳng túc” đó

Thần túc nên cầu mong

Niệm tuệ và hành xứ

Những người cầu pháp đó

Phát khởi đều nói rằng :

Hành Bồ đề nếu phát

Thị hiện câu trí Phật

Đều cõi đó trụ yên

Nói hóa độ chúng sinh

Nếu người thuyết pháp đó (nói)

Vị này là rất ngon

Nếu kia hành Lan nhã

Và cầu du hí thông (thần thông)

Mà rống tiếng sư tử.

Hạnh những trí giả đó

Với tịch diệt ngợi khen.

Đoạn nhiệt có thanh lương

Đây là câu “bất đọa”.

Nói lợi ích mở trói

Hỷ lạc phát ở thân

Lòng ấy cũng kinh (sợ) hỷ (mừng)

Người trí du hý trí

Kia cầu trí khắp cùng (châu biến)

Tịnh tín những pháp đó,

Trụ Phật trí chẳng thoái

Quyết định vì Bồ đề

Bạch pháp thuận huân tập

Các ác đều bỏ đi

Với hắc trợ giết hại

Bạch pháp liền tự lại (đến)

Những người học giới kia

Nếu muốn cầu phước đức

Những người đó thành được.

Nếu cầu thì tương ưng

Những người đó đến được

Tướng đoan nghiêm trong thân

Hạnh này Phật thuận biết

Các thánh thân cận xong

Trí sáng soi trong trí

Phổ trí Phật trí thành

Trụ đây rồi sẽ thấy

Câu trí bậc đoan nghiêm

Trong này, đó đại lực

Kẻ trí hỏi nghi nan

Đoạn trừ các nghi ấy

Các hoặc đều diệt tan

Trong này sinh Phật pháp

Được người Thắng ngợi khen.

Lìa bỏ các đời ác

Và sở hữu não phiền

Chẳng mất các phước đức

Với phước nếu cầu mong

Thì họ duyên kẻ trí

Ái pháp là tột cùng

Và vui mừng mắt pháp

Người dũng kiện thân gần.

Biện luận pháp suối chảy(trôi chảy)

Muốn cầu khéo ngữ ngôn

Đã nói thì họ hộ

Người nói pháp sở hữu

Và biết các nhân duyên

Ưa gặp người nương cậy.

Trong các pháp khéo ưng

Hòa hợp chẳng hòa hợp

Trí thể, phương tiện phân

Nói đến các pháp xong.

Như vậy hiện các pháp

Trí tư duy thật chân

Ở trong đoạn lưới khát

Phải bỏ các ái trước

Vô minh ở trong tan

Sẽ được hiện tiền sáng

Khắp biết tính (sổ) ở trong

Chỗ đó nói vô trước.

Biết ý đủ thứ lòng

Ở đây rộng nói xong

Sắc cùng danh nhiếp lấy

Những đó nói ở trong.

Chỗ sáu căn quan sát

Như thấy làng trống không

Với xúc bên ngoài biết

Sẽ được thấy trí Phật

Nếu lìa ba thứ ngôn (nói)

Thì họ thủ ở trong

Và diệt ba thứ ái

Thị họ nói ở trong

Nói ở trong xả bỏ

Nếu chỗ sở sinh đó

Với hữu họ đoạn tan

Ở trong định này nói

Bệnh hợp dứt hẳn sinh

Và lìa tên độc chết

Các khổ tịch ở trong

Thì các dòng phân biệt

Các lo khiến vui mừng

Ý ác khiến giải tán

Thành phương tiện sạch trong

Nếu người hành pháp đó

Đầy đủ sự xét xem

Nếu có sự cầu thắng

Tạo sáng trong ác sân

Nếu sở hữu mê nhãn (mắt mê)

Trong nay sấm Phật vang

Khi chuyển bánh xe pháp

Hạnh mạnh, đây xưng dương

Nếu trí thế gian đó

Trong này khắp trừ tan

Nếu trược loạn não phiền

Trong này hại các kiến

Nếu sở hữu ta nương

Thọ lấy và cho giữ (trì)

Trong này đều nói xong

Chẳng lẫn trong trí Phật

Như vậy sẽ được hơn (thắng)

Các pháp tăng trưởng luôn

Đây là đạo trí khéo

Bạch pháp tịch tụ luôn

Xa lìa các nghiệp ác.

Pháp Phật tu niệm luôn

Nói sẽ không san lậu

Chẳng đoạn giống Thế Tôn(Phật)

Phải trụ ở trong đó

Chủng tính pháp sáng lên

Thánh chúng đều nhiếp lấy.

Ứng phục thầy luận bàn(luận sư)

Ngoại đạo muốn khởi dậy

Nói pháp xưng rằng : lành

Bọn họ sẽ hưng tán (khen ngợi)

Hạnh Bồ đề thường hành

Ở đó không tâm niệm.

Như trăng, các chúng sinh

Thường tạo ý bằng hữu

Các pháp, như vầng dương (như nhật)

Luôn giữ suy nghĩ chính

Giáo sư tưởng khởi luôn

Ở trong nghĩ định ấy.

Định này giống như vương (vua)

Vì chúng sinh rộng nói

Vì người trí dẫn đường

Bạch pháp lòng chánh tín.

Quả cam lộ chín thành

Khiến niệm trụ đời trước

Thọ thai, nhiễm bẩn không

Phép si nhi chán bỏ

Công đức Phật đại tiên

Khi khen không bờ bến

Khi trì tuệ Thế Tôn (Phật)

Thiện Thệ khi đã nói

Và trí khi chép thành

Khi nói sẽ được phước.

Xa lìa ngoại đạo xong

Đây là chỗ bất động.

Lời nói thọ thế gian

Lời nói của chư Phật

Công đức quá khứ Phật

Ở đời sau cầu mong

Hiện tại trụ chư Phật

Đây là các bảo tàng.

Khiến chúng sinh vào hạnh

Vì nói thừa Thanh văn

Với trí chẳng quên mất

Phật pháp, đây là in (Ấn)

Đây ra đó mạnh mẽ

Đây, báu không biến đổi

Và các trí mau thành

Muốn hỏi công đức Phật

Ham pháp không chán nhàm

Tan các lửa phiền não

Trí phương tiện sẽ thành

Địa giới riêng suy nghĩ

Thủy giới sẽ vào trong

Vào với định Hỏa Giới

Phong Giới, trú xứ không (có)

Không giới chẳng mê hoặc

Trong trí giới hiện lên

Khiến vào với Pháp giới

Chán lìa khỏi các hành

Khiến tan các ái nhiễm

Các biển “hữu” ghét thêm

Trừ diệt các hoạn nạn

Hạnh khác cũng biết rành

Muốn nói không có hết.

Trong phương tiện sạch trong (vô trược)

Chỗ ra sẽ thuận biết

Ngã kiến phải bỏ xong

Cũng xa lìa Ngã sở

Nhiễm trước phải trừ tan

Kiêu mạn nên điều phục

Như chó hành vì ăn

Không tham trong bố thí

Đã ăn nên no tràn

Ăn rồi phải biết lạc (vui)

Tại ấm không thiếu được

Nước lớn phải qua nhanh

Các luận chẳng thể phá

Thuần trực không vin duyên

Xa lìa khỏi thụy miên

Thân cận người nói pháp

Trạo hí vượt qua liền

Cũng nên diệt nghi hoặc

Và các dục khiến tan

Cũng lìa xa lười nhác

Chỗ Ngã chẳng thấy được

Vô ngã khiến hiển minh

Chẳng trụ ở với mạng

Chạm pháp cũng chẳng nên

Chẳng đấu tranh trong pháp

Nói hợp nghĩa ngang bằng

Dùng lòng giỏi suy nghĩ

Các hạnh sở hữu không

Phải gần gũi người trí

Các nơi, khiếp nhược không.

Trong đó phải tín giải

Tại chúng chớ kinh hoàng.

Nói công đức người khác

Chớ nâng cao thân mình

Chỗ sở hạnh Biến trí

Luôn luôn cần phải hành

Không ái trước trú xứ

Như chim bay mất tăm.

Chớ hành vì lợi dưỡng

Cũng chẳng kể thân mình

Tâm cũng chẳng giảm kém

Khéo biết chỗ kinh hành

Phải thuận theo tu niệm

Chớ nghĩ, chớ nhớ mong

Cũng sẽ cầu giải thoát

Luôn ở chỗ lặng yên.

Thường niệm tu phạm hạnh

Với định sẽ được nhanh.

Từ ở lòng bình đẳng

Bi là nhiếp thuận tùng

Dùng Hỷ làm lạc pháp

Chỗ Xả phải bỏ luôn

Dùng Giới thương người khác

Do định sẽ giác pháp

Do trí làm nên làm

Về sau không hối não.

Phải xuất trí không cùng(vô tận trí)

Cũng nên lời khéo léo

Nói Ngã vào ngữ ngôn

Chỗ nói không cầu lợi

Không ưa lời tạp ngôn

Là trụ không mệt thiếu

Chẳng bỏ chẳng lấy thêm

Các pháp là Bồ tát

Chớ hoại các pháp tan

Như vậy nói minh hiển

Chẳng lừa dối chúng sinh

Phải qui y Tam Bảo

Chính pháp nhiếp lấy tròn

Tạo nguyện phải bền chắc

Vói tiểu thừa không ham

Ngày đêm nên siêng hợp.

Vì cầu các pháp nên

Biến Trí từ đó lại

Chư Phật, đây kho tàng

Tam ma địa như biển.

Này Hỷ Vương ! Lúc bấy giờ, đức Bảo Quang Uy Luân Vương Như Lai vì đồng tử Pháp Thượng đó, dùng kệ tụng, rộng nói “Chư Pháp Hạnh Quyết Định Quan Sát Thuyết Tam Ma Địa” này. Khi Ngài nói Tam ma địa này thì vua Bảo Nguyệt và các con, quyến thuộc được chẳng thoái chuyển đối với Vô Thượng Chánh Giác. Đầy đủ một ngàn chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Học địa của vô lượng chúng sinh tăng trưởng. Này Hỷ Vương ! Ý ông thế nào về Ca la đó, Tam ma gia đó tên là Pháp Thượng đồng tử? Là ai khác ư? – Ông chớ có thấy người khác như vậy? Vì sao vậy? Này thiện gia tử ! Vì ông tức là Ca la đó, Tam ma gia đó tên là Pháp Thượng đồng tử vậy. Này thiện gia tử ! Ca la đó Tam ma gia đó tên là Bảo Nguyệt vương thì Đại Bồ tát Từ Thị hôm nay tức là Ca la đó Tam ma gia đó tên là Bảo Nguyệt Vương vậy. Như các con của vua đó lại tức là chúng Đại Bồ tát này tập hội ngồi đó vậy. Này Hỷ Vương ! Bấy giờ Đại Bồ tát Pháp Thượng cùng với cha, mẹ, tôn trưởng và bạn bè tri thức, đầy đủ ba mươi sáu ngàn câu trí chúng sinh cùng chung ở trong giáo pháp của đức Như Lai Thế Tôn Bảo Quang Uy Luân Vương mà bỏ nhà xuất gia. Này Hỷ Vương ! Họ yêu thích giáo pháp của đức Thế Tôn đó, làm tỳ kheo, tỳ kheo ni, Ưu Bà Ta Ca, Ưu Ba Tư Ca rất nhiều.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã biết ý nghĩa này rồi, lại muốn hiển minh thêm nữa, lúc này ngài liền nói bài kệ tụng sau đây :

Ta nhớ xưa nhiều câu trí kiếp

Có đấng Tối Thắng hiệu Bảo Quang

Ngài có Tăng chúng cũng nhiều lắm

Và các Bồ tát lậu tận xong.

Nước Phật đó khả ái thanh tịnh

Trang nghiêm tự nhiên như thiên cung

Trang hoàng, vườn, tụ lạc, thành ấp

Bằng hoa trải như bàn tay bằng.

Trong đó có vua tên Bảo Nguyệt

Với hàng ngàn châu, tự tại vương

Phước tuệ đầy đủ là bậc trí

Rộng thần túc, vô biên kho tàng

Vua ở vườn rừng vui du hí

Thiên phụ có mang, đồng tử sinh

Tên là Pháp Thượng đáng chiêm ngưỡng

Thắng tướng trang sức rực sắc vàng.

Đồng tử vừa sinh nói diệu ngữ (lời vi diệu)

Nói về pháp Phật mà ngợi khen

Nói tại gia ác, không nhàn đức

Các tội lỗi dục cũng nói lên

Hóa độ mẹ cha và thân thuộc

Trí giả nghĩ khiến tin sạch trong (tịnh tín)

Vua đó vui mừng mà nhảy nhót

Hướng về bên Tối thắng Đại Tiên.

Đồng tử chẳng lại vào gia nội

Liền cùng cha mình ở trong vườn

Chung với thân thuộc và đại chúng

Ba mươi sáu ức bên Thế Tôn

Vua Đại Tượng đó đã đi đến

Đó đã thấy Bảo Quang Pháp Vương

Lòng thêm hớn hở, ái đệ nhất

Lễ dưới chân rồi ngồi một bên

Pháp Thượng cũng lễ chân Tối Thắng

Rồi chắp tay mà hầu Thế Tôn

Đã kính trọng Phật đó như vậy

Đồng tử ca tụng bằng kệ khen

Với Tối thắng, ông nhiều khen ngợi

Pháp thể thật đức thầy dẫn đường

Vua và các con cùng đồ chúng

Duyên theo Bồ đề mà phát lòng

Pháp Thượng hỏi han với đức Phật

Nói định này, Tịch Tịnh ly trần;

Mạnh mẽ trụ Tam ma địa ấy

Bồ đề chứng giác, ma phục hàng.

Đấng Lưỡng Túc Tôn nhận lời thỉnh

Biết tâm đồng tử đã tịnh tin

Liền vì ông nói định khó thấy

Uy đức lớn thì dùng kệ khen

Tam ma địa này Phật đó nói

Chư Phật Bồ đề tịch ly trần

Vua và các con cùng thần dân

Liền trụ Phật trí chẳng thoái chuyển.

Học, vô học, chỗ đó người đông

Đã nghe được tịch định như vậy

Lại còn nhiều câu trí chúng sinh

Duyên với Bồ đề mà phát tâm

Vua và các con cùng đồ chúng

Phước ngũ dục đều khiến lìa, nhàm

Lúc đó đồng tử là thượng thủ

Ở đây bỏ nhà xuất gia liền

Sở hữu yêu thích với thầy dạy

Khắp nơi đầy người và chư thiên

Đồ chúng Thiện Thệ đó nhiều lắm

Ở trong, chẳng dễ được số lường

Hỷ Vương ! Ông ở thuở xưa đó

Chính là đồng tử Pháp Thượng xưng !

Người ở trong đó làm phụ vương

Nay là Bồ tát Từ Thị đó !

Các vương tử sở hữu lúc đó

Tức là các chúng hội ngồi đây !

Chúng sinh tại cõi tương tục này

Biết rồi khiến trong hạnh hành tịnh

Vậy nên đã nghe xong Tịch định

Nên phải thọ lấy, tịnh tín luôn

Thường vì người nói không sẻn tiếc

Sẽ có Phật trí chẳng khó khăn

Số lượng phước đó chẳng dễ được

Thời gian nói, nhiều kiếp không lường

Định Thắng Thượng này nếu hay giữ

Vì chúng sẽ nói chớ buông lung.

Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Hỷ Vương bạch đức Phật rằng :

– Hy hữu ! Thưa đức Thế Tôn ! Tam ma địa này tạo ra nhiều lợi ích mới có thể cho các Bồ tát các công đức pháp, khiến cho các vị ấy chuyển sanh. Thưa đức Thế Tôn ! Bồ tát được Tam ma địa này thì nên phải thân cận, nên phải tu niệm, nên phải làm nhiều những pháp gì? Nên phải chẳng thân cận, nên phải chẳng tu niệm, nên phải chẳng làm nhiều những pháp nào? Rất hay ! Thưa đức Thế Tôn ! Có những pháp nào? Không có những pháp nào? Thưa đức Thế Tôn ! Xin nguyện vì con rộng nói ! Thưa Tu Ca Đa ! Xin nguyện vì con phân biệt ! Bồ tát pháp nào có? Pháp nào không?

Đức Phật dạy rằng :

– Này Hỷ Vương ! Bồ tát, ở trong lưu chuyển, không có mỏi mệt. Bồ tát, ở trong chúng sinh, không có sai biệt. Bồ tát, ở trong của cải, không có thọ lấy. Bồ tát đối với thí không bất bình đẳng. Bồ tát đối với học không chẳng kính trọng, trì giới không có chỗ sinh, lòng không nhiệt não, lòng không khiếp nhược, không có tà giác, không chẳng suy nghĩ mà có sở đắc. Bồ tát, ở trong chúng sinh không có giết hại, ở trong của cải người không có trộm cắp, đối với vợ người không có ái trước, không nói nghiệp ác, không lời phá hoại, không có ác khẩu, không có nói thêu dệt, chẳng tham của người khác, không theo sân nhuế, không có thấy rừng hạnh nhiều, không có qua khỏi Bồ đề ái, chẳng hủy báng pháp, chẳng khi mạn Tăng, đối với những bậc đáng tôn không ai chẳng kính trọng, ở cửa giải thoát không có kinh sợ, ở trong việc làm người khác không có mệt mỏi, chẳng tự ngợi khen, chẳng hoại kẻ khác, trong hành động lưu chuyển không có tùy thuận, trong hành động phi lưu chuyển không gì chẳng thuận theo, đã phát lời thề thì nhất định chẳng thay đổi, đối với việc đã làm nhất định chẳng trùng hủy, việc làm của người khác thì biết ơn, việc làm của mình thì không mong cầu, đối với vô lực không có khinh khi, đối với người chưa học không có chê hèn, chẳng lưu luyến vợ con, không có yêu ghét, đối với giáo sư không có bí mật riêng, trong pháp làm thầy không có giấu giếm, ở trong các pháp không có tư tưởng phá hại, ở trong pháp thí không có mệt mỏi, ở trong cầu pháp không có lười chán, chẳng do lợi ràng buộc mà có điều giảng nói, chẳng do bố thí mà làm bạn bè, chẳng dua nịnh thừa sự, không có hai lưỡi, chẳng vì huyễn hoặc mà gần gũi thừa sự, chẳng ghét đối với pháp, không ngã, ngã sở, chẳng luyến đối với thân, chẳng ái đối với mạng, không có ngã kiến, không có tạo oán, trong thật, chẳng thật không có hủy báng, ở trong đọa pháp không sân phát giác, chẳng phải thiếu thời ái, chẳng phụ bạn bè, đối với chỗ gần gũi cận kề không có dối lừa, trong thật và chẳng thật chẳng phạm nâng lên, thả xuống, chẳng làm lừa dối; chẳng điều khiển phi thời, ở trong chúng sinh khác không tư tưởng cạnh tranh, ở trong phát sự không có giải đãi, chẳng tổn đến Nhẫn, chẳng đáp lại lời ác, chẳng ràng buộc với oán, chẳng khi thấp hèn, theo tiếng nói đùa không có ham mộ, ở trong tinh diệu không có chẳng xả, ở trong ăn uống không có chẳng phân chia, khi bố thí chẳng dùng vật xấu, ở chỗ phụ nữ không có phi hạnh, ở chỗ trượng phu không có nhiễm ô, chánh tín chẳng bỏ, học giới chẳng thông thả, không gì chẳng tàm quí, không gì chẳng tu sĩ (xấu hổ), không có thiếu phước, không có thiếu nghe, thí rồi chẳng hối, với trí chẳng lầm lẫn, ở trong Tam Bảo không gì chẳng kính trọng, ở trong thế đế chẳng là bền chắc, ở trong thắng nghĩa không có vào nhiễm trước, không có thấy rừng hạnh rậm rạp, không có ngã thủ, chẳng quên chánh niệm, ở trong chánh đoạn không có làm khác, ở trong thần túc không có vị say, trong căn chẳng mềm, trong lực chẳng yếu, ở trong giác phận không có chẳng biết, với đạo không chao đão, trong Tam ma địa không có trước tướng, trong Xa ma tha không có trụ chắc chắn, đối với Tỳ phát xá na không có phân biệt, với minh giải thoát không có độc chứng, ở trong các đế không có chướng ngại, trong “qua bờ kia” không chẳng phát khởi, trong tụ (nhóm) chẳng đắm trước, trong giới chẳng nương nhờ, chẳng phải thời chẳng được, ở trong Thanh văn không có thấy chứng (100). Đối với các Bồ tát không chẳng phải giáo sư, ở trong các Nhập không có ý niệm, ở các cảnh giới không có y chỉ, chẳng do tự nghiệp mà sinh đường ác, trụ ở trong thai không có khổ não, ở trong lưu chuyển không có hỷ lạc, ở trong lưu chuyển không có khổ tưởng, ở trong những chỗ sinh ra không có kinh sợ, đối với các chúng sinh không chẳng phải là ruộng, không thiếu hạt giống, ở chỗ gieo trồng trọn chẳng hy vọng, ở các ruộng phước người thọ không có trống khuyết, ở trong bố thí chẳng ràng buộc hạn lượng, ở trong trì giới chẳng ràng buộc hạn lượng, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ cũng chẳng ràng buộc hạn lượng, lưu chuyển cũng chẳng ràng buộc hạn lượng, Từ chẳng chia cắt, đại Bi không thiên lệch, không có Gia (nhà) mạn, không tư tài (của cải) mạn, không có sắc mạn, không tự tại mạn, không quyến thuộc mạn, không đa văn mạn, không trì giới mạn, không có trụ không nhàn mạn, không có kiêu mạn Đầu Đà công đức thiểu dục, không có mạn mạn, không có sân si, không có tùy miên ái, ở trong điên đảo không lấy làm thật, ở trong tịnh và bất tịnh chẳng lấy làm hai, chẳng ham sinh lên trời, chẳng ưa thích Dục, chẳng phải người đồng nghiệp nhất định chẳng thân cận, không chẳng cần (siêng) hợp, chẳng trì thế luận (biện luận của đời), ở trong ngoại đạo không chẳng thương xót, ở trong sự vật không có ràng buộc tư tưởng, đối với tự thân ấy chẳng muốn cầu vui, không có yêu giả trá, chẳng nương cậy ma la. Này Hỷ Vương ! Các Đại Bồ tát đã phát lời thề thì nhất định chẳng dời đổi cho đến Bồ đề trường rốt cùng (150). Này Hỷ Vương ! Các vị Đại Bồ tát, những vị này đều không, sở hữu khác của mình chẳng được làm thì nên phải chớ làm. Ở trong, người nào có thể tác pháp? Này Hỷ Vương ! Các Bồ tát phải chẳng hủy báng. Bồ tát chẳng hủy báng người khác thì tự được an định. Trong các việc làm chẳng động, chẳng hoãn (thông thả), phải gánh vác gánh nặng. Ở trong việc đen (hắc sự) phải chẳng làm theo. Ở trong việc trắng (bạch sự) phải làm lợi ích. Trong phần ít hạnh phải làm vượt qua. Trong vô lượng hạnh cũng phải đã vào. Trong việc thấm nhuần yêu thương phải làm xa lìa. Ở trong pháp lượng sẽ chẳng xa lìa. Đối với khổ sinh tử sẽ được giải thoát. Ở trong cuộc sống suy nghĩ, đã sinh ra thì sẽ chẳng giải thoát. Trong nghiệp bất thiện phải chẳng nhiếp lấy. Đối với các căn phải làm nhiếp lấy. Trong phiền não thí Bồ tát phải bỏn xẻn. Ở trong pháp thí Bồ tát phải chẳng xẻn lậu. Trong ngoại đao học phải chẳng tu học. Trong các chỗ Phật cho học phải giỏi tu học. Trong chẳng bình đẳng thấy nhẫn phải làm bất nhẫn. Trong chánh kiến nhẫn phải đầy đủ nhẫn. Trong ác tác nghiệp, phải làm giải đãi. Trong thiện tác nghiệp phải phát tinh tấn. Ở trong phi tưởng, phi phi tưởng sinh thì phải quên nhớ nghĩ. Ở trong năm thông dong chơi phải có mùi vị định. Ở trong chú thuật đáng sợ, đạo dùng độc, dựng dậy thay chết phải làm vô trí. Trong trí xuất thế phải làm trí tuệ. Phải như vầng trăng đối với các chúng sinh lòng bình đẳng, bạch pháp tăng trưởng. Phải như mặt trời xa lìa tối đen, tạo tác trí quang minh. Phải như đất xa lìa cả hai, đối với các chúng sinh lòng bình đẳng. Phải như nước sạch cùng với chẳng sạch, các cặn không ghét. Phải như lửa, các phiền não thiêu cháy. Phải như gió, đối với các pháp không sở trước. Phải như hư không, vô lượng trí. Phải như biển, cầu thiện căn không chán đủ. Phải như núi Mê lưu (?), các luận sự khác chẳng thể hàng phục. Phải như hoa sen, tám tháp thế gian chẳng nhiễm trước. Phải như cây cối, không phân biệt, phải như chủng tính, pháp vô tận, các phiền não chẳng thể dày xéo. Trong hạnh chúng sinh phải thú hướng, chẳng chấp trước các thú hướng, phải hướng vào trong Niết bàn. Phải tạo tác ruộng thiện, trừ khử gai nhọn ác sân hận. Phải khéo chọn lựa niềm tin làm hạnh ban đầu. Phải được quả lớn, nói bốn đế. Phải được lợi lớn ở trong Phật pháp. Phải được vô chướng ở trong Trí giải thoát Tam ma địa tam ma phát đế. Phải được hoan hỷ bằng pháp hỷ. Phải được đã qua ở trong bùn khổ sinh tử. Phải rơi vào tương ứng, phương tiện khéo léo. Phải tạo tác nghiệp thiện, thoát ly chẳng tương ứng. Phải quan sát thiện nhẫn ở trong chứng. Phải tạo tác ái ngữ bằng tịnh tín bên trong. Phải tạo tác bạn bè bền chặc cho đến Niết bàn, bạn bè tối thắng vậy. Phải tạo tác thuần hậu, không huyễn hoặc. Phải tạo tác chất trực, không dua nịnh quanh co. Phải tạo tác nhu nhuyến, dễ ở chung, Phải tạo tác khả lạc, tin nhuần bên trong. Phải đến các nơi, tùy thuận di chuyển. Phải tạo tác nhuận trạch (thấm nhuần) bằng Đại Bi. Phải tạo tác khát ngưỡng đối với Bồ đề trường. Phải tạo sự chẳng thèm khát ở trong các dục. Phải khiến no đủ đối với các Thanh Văn. Phải tạo sự giáo hóa đối với các Duyên Giác; Phải tạo nhớ nghĩ đối với các căn lành. Phải tạo sự phát giác ở trong bất thiện. Phải tạo tác thủ hộ đối với chánh pháp. Phải tạo tác sự chẳng đoạn dứt đối với Tam Bảo Chủng. Phải tạo sự rực cháy đối với các pháp thiện. Này Hỷ Vương ! Các Đại Bồ tát phải tịch diệt các nghiệp ác. Này Hỷ Vương ! Ta lược nói pháp bất thiện mà các Bồ tát không có vậy. Các hành động, các thiện pháp nên phải, ta nói có vậy. Như thế, các ông phải học ! Ta nói lời dạy bảo như vậy !

Khi đức Phật nói kinh này thì Đại Bồ tát Hỷ Vương vui mừng và những Đại Bồ tát từ các phương khác đến tập họp, cùng các đại chúng trời, người, A tu la, Càn thát bà.v.v… nghe lời đức Phật nói không ai chẳng tùy hỷ, vui mừng, nhảy nhót, chẳng thể tự kềm chế, siêng làm cúng dường. Đối với lời đức Phật nói họ đều rất vui mừng.

    Xem thêm:

  • Pháp Nghi Quỹ Dược Sư Như Lai Quán Hạnh - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật – Thích Trung Quán dịch - Kinh Tạng
  • Dược Sư Tam Muội Hành Pháp - Kinh Tạng
  • Kinh Chư Pháp Vô Hạnh - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật – Thích Thiền Tâm dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Tôn Giả Hộ Quốc Hỏi Về Đại Thừa - Kinh Tạng
  • Kinh Phước Cái Chánh Hạnh Sở Tập - Kinh Tạng
  • Kinh Trung Bộ 113 – Kinh Chân Nhân (Sappurisa sutta) - Kinh Tạng
  • Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết – Thích Huệ Hưng dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Nhơn Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Diệu Kim Cang Đại Cam Lộ Quân Nã Lợi Diệm Man Sí Thạnh Phật Đỉnh - Kinh Tạng
  • Kinh Thần Chú Hộ Mạng Pháp Môn - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Hiền Hộ Bồ Tát – Thích Hằng Đạt dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Dược Sư – HT Thích Trí Quảng soạn - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Đại Phật Đỉnh Quảng Tụ - Kinh Tạng
  • Kinh Chánh Pháp Đại Tập Hội - Kinh Tạng
  • Bích Nham Lục Của Thiền Sư Phật Quả Viên Ngộ – Thích Thanh Từ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Quán Phật Tam Muội Hải - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Thích Minh Định dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sanh – Thích Nữ Như Phúc dịch - Kinh Tạng