1
2
3

Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết

Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Dao Tần Cưu Ma La Thập dịch

Việt dịch: Thích Huệ Hưng

***

QUYỂN 1

I. PHẨM PHẬT QUỐC (4)

Chính tôi được nghe, một thuở kia, Đức Phật Thích Ca ở thành Tỳ Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng tám nghìn chúng Đại Tỳ Kheo, hai vạn hai nghìn Bồ Tát, là những vị có tiếng tăm, đều đã thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên. Các Ngài làm bức thành hộ pháp, giữ gìn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai hùng, tự tại vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương. Người đời không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương minh Tam bảo không dể dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo; sáu căn (8) ba nghiệp (9) đều đã thanh tịnh; trọn lìa năm món che ngăn (10) và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an trụ nơi lý vô ngại giải thoát; niệm định tổng trì (12) bình đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các hạnh Bồ thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và sức phương tiện lợi mình lợi người thảy đều đầy đủ. Đã được đến bực vô sở đắc (13) mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn)(14), hay tùy thuận diễn nói pháp luân bất thối (15), khéo hiểu rõ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh, oai đức bao trùm đại chúng(16), không còn sợ sệt chi cả.

Các Ngài dùng công đức trí tuệ trau sửa lòng mình, lấy tướng tốt trang nghiêm thân hình, sắc tượng dung nhan bực nhứt, bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao xa vượt hẳn núi Tu di (17), lòng tin bền chắc như kim cương, đem Pháp bảo soi khắp, mưa nước cam lố, phát ra tiếng tăm đều là vi diệu bực nhứt.

Các Ngài đã thâm nhập lý duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến chấp sai lầm bên có bên không, diễn nói các pháp không sợ sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ, không có hạn lượng và đã quá hạn lượng.

Các Ngài tự mình nhóm góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19), rõ nghĩa lý sâu mầu của các pháp, biết rành hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm niệm chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ trí tuệ, tự tại, thập lực (20), vô úy (21), thập bát bất cộng(22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú, hiện thân trong năm đường(23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Đại Y Vương (24) khéo trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều được công hiệu. Đã thành tựu vô lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi Phật. Người nào được nghe danh thấy hình đều được lợi ích. Những hành động của các Ngài đều không uổng phí, các công đức như thế, đã hoàn toàn viên mãn.

Danh hiệu các Ngài là Đẳng Quán Bồ Tát, Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Đại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo Thu Bồ Tát, Bảo Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dõng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Đế Võng Bồ Tát, Minh Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Điễn Đức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Phạm Võng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Độ Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát, cả thay như thế ba vạn hai nghìn Ngài.

Lại có một vạn vị Thi Khi (25), Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26) khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại có một vạn hai nghìn vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp hội. Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma hầu la đà (27) v.v… đều đến trong pháp hội. Lại có các vị Tỳ kheo (28), Tỳ kheo ni, ưu bà tắc (29), ưu bà di (30) cũng đến trong Pháp hội.

Bấy giờ Đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng. Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưởng giả tử(32) tên là Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lọng bảy báu(33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp chơn, rối mỗi vị đều đem lọng báu của mình hợp nhau cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấy hiệp thành một cây trùm khắp cõi Tam thiên đại thiên thế thế giới (34), mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện đủ trong đó.

Lại nữa, các núi Tu di, Mục chơn lân dà, Đại mục chơn lân đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn, Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Đại thiết vi bể lớn, sông, rạch, dòng ngòi, nguồn suối, cũng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long cung và cùng các vị tôn thần, nơi cõi Tam thiên đại thiên thế giới này đều hiện trong lọng bảy báu, và chư Phật trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong lọng bảy báu ấy.

Khi đó tất cả Đại chúng thấy thần lực của Phật đều khen ngợi chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nhìn dung nhan Phật mắt không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước Phật đọc bài kệ khen rằng:

Mắt trong, dài rộng như sen xanh,

Tâm sạch đã tột các thiền định,

Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng,

Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy.

Đã thấy Đại thánh dùng thần biến,

Khắp hiện mười phương không lường cõi,

Trong đấy các Phật diễn nói pháp,

Nơi đây tất cả đều thấy nghe.

Pháp lực của Phật vượt quần sanh

Thường dùng Pháp tài thí tất cả,

Hay khéo phân biệt các Pháp tướng,

Đối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động.

Đã được tự tại cùng các Pháp

Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương.

Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không

Vì do nhân duyên các Pháp sanh,

Không ta, không tạo, không thọ giả,

Những việc lành dữ cũng chẳng mất.

Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37)

Đặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác,

Đã không tâm ý, không thọ hành (39)

Mà xô dẹp hết các ngoại đạo.

Ba lần chuyển Pháp (40) cõi đại thiên,

Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh,

Trời người đắc đạo đó là chứng,

Tam bảo vì thế hiện trong đời.

Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh

Thọ rồi không lui, thường vắng lặng,

Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương,

Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường.

Khen chê chẳng động như Tu di

Đồng bực thương xót kẻ lành dữ,

Tâm hạnh bình đẳng như hư không,

Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính.

Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này

Cõi Tam thiên tôi hiện trong đó,

Thiên cung, Long thần kia nương ở,

Càn thát cả thảy với Dạ xoa.

Mọi vật trong đời đều thấy rõ,

Vì thương Phật hiện tướng biến này,

Thấy việc ít có chúng khen ngợi,

Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43)

Đại thánh chỗ nương của mọi loài,

Lòng sạch trong đó thảy vui vẻ,

Đều thấy Thế Tôn ở trước mình,

Đó là thần lực Pháp bất cộng. (44)

Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,

Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu,

Đều cho rằng Phật đồng tiếng mình,

Đó là thần lực Pháp bất cộng.

Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,

Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng,

Khắp được thọ hành đều lợi ích,

Đó là thần lực Pháp bất cộng.

Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,

Có người kinh sợ hoặc vui mừng,

Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán,

Đó là thần lực Pháp bất cộng.

Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn,

Lạy đấng đã đặng không chỗ sợ,

Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng,

Lạy đấng Đạo sư (45) của muôn loài.

Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược(46)

Lạy đấng đã đến nơi bờ kia,

Lạy đấng hay vượt các thế gian,

Lạy đấng trọn lìa đường sanh tử.

Biết hết chúng sanh tướng đến lui

Khéo nói các Pháp được giải thoát,

Như hoa sen trong đời chẳng nhiễm,

Thường khéo vào nơi hạnh không tịch.(47)

Lúc đó Trưởng giả tử Bảo Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm vị Trưởng giả tử nầy đều đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện nghe cõi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh của Bồ Tát được Tịnh độ (quốc độ thanh tịnh).”

Phật bảo: “Hay thay Bảo Tích! Ông lại vì các vị Bồ Tát mà hỏi Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hãy lắng nghe chín chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rõ”.

Lúc ấy Bảo Tích cũng 500 vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung kính lóng nghe.

Phật dạy rằng: “Này Bảo Tích! Tất cả chúng sanh là cõi Phật của Bồ Tát. Vì sao? – Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà lãnh lấy cõi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế? – Vì Bồ Tát lãnh lấy cõi Phật thanh tịnh đều vì muốn lợi ích chúng sanh. Ví như: Có người muốn xây dựng cung nhà nơi khoảng đất trống, tùy ý được thành công, nếu xây dựng giữa hư khỏng quyết không thành tựu được; Bồ Tát cũng thế, vì thành tựu chúng sanh nên nguyện lãnh lấy cõi Phật – Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy.

Bảo Tích, ông nên biết! – Trực tâm (49) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không dua vạy, sanh sang nước dó. Thâm tâm (50) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ Đề tâm (51) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh sang nước đó. Bố thí là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Trì giới là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành (52), hạnh nguyện đầy đủ, sanh sang nước đó. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức sanh sang nước đó. Thiền định là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước đó. Tứ vô lượng tâm(54) là Tịnh độ của Bồ Tát; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh thành tựu từ, bi, hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo dùng đặng phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước dó. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm (57) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, được cõi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có ba đường ác (58) và tám nạn (59). Tự mình giữ giới hạnh không chê chỗ kém khuyết của người khác là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có tên phạm giới cấm. Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống lâu, giàu to, phạm hạnh (60), lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng, quyến thuộc không chia rẻ, khéo giải hòa việc đua tranh kiện cáo, lời nói có lợi ích, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó.

Như thế, Bảo Tích! Bồ Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy chỗ thâm tâm mà ý được điều phục, tùy chỗ ý được điều phục mà làm được như lời nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có phương tiện, tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ thành tựu chúng sanh mà cõi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ cõi Phật thanh tịnh mà nói Pháp được thanh tịnh, tùy chỗ nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy chỗ trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích này!

Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh.

Lúc ấy, ông Xá Lợi Phất nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng: “Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cõi Phật phải được thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát tâm ý lẽ nào không thanh tịnh, sao cõi Phật này không thanh tịnh như thế?”.

Phật biết ông suy nghĩ vậy liền bảo rằng:

– Ý ông nghĩ sao? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao người mù không thấy?

– Bạch Thế Tôn! Chẳng phải thế. Đó là tại người mù, không phải lỗi ở mặt trời và mặt trăng.

– Xá Lợi Phất! Cũng thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không thấy được cõi nước của Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chớ không phải lỗi ở Như Lai – Này Xá Lợi Phất! Cõi nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy đó thôi.

Bấy giờ ông Loa Kế Phạm Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng:

– Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cõi Phật đây là không thanh tịnh. Vì sao? – Vì tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại (61).

Ông Xá Lợi Phất nói:

– Sao tôi thấy cõi này toàn gò nỗng, hám hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế?

Ông Loa Kế Phạm Vương thưa rằng:

– Đấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy cõi này không thanh tịnh đó thôi – Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh.

Khi ấy Phật lấy ngón chơn nhấn xuống đất, tức thì cõi Tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao nhiêu trăm nghìn thứ trân bảo trang nghiêm rực rỡ, như cõi Vô Lượng Công Đức Bảo Trang Nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Đại chúng ngợi khen chưa từng có và đều thấy mình ngồi trên tòa sen báu.

Phật bảo Xá Lợi Phất:

– Ông hãy xem cõi Phật, đây trang nghiêm thanh tịnh.

Ông Xá Lợi Phất thưa:

– Dạ, bạch Thế Tôn! Từ trước đến giờ con chưa từng thấy, chưa từng nghe. Nay cõi nước của Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh.

Phật bảo:

– Này Xá Lợi Phất! Cõi nước của ta thường thanh tịnh như thế! Nhưng vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm.

Trong khi Phật hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả tử do ông Bảo Tích dắt đến đều chứng được vô sanh Pháp nhẫn, tám vạn bốn nghìn người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bấy giờ Phật thâu nhiếp thần túc (62) lại, cõi nước trở thành như xưa. Ba vạn hai nghìn người và Trời cầu Thanh văn thừa đều nhận rõ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa lìa trần cấu (64) đặng pháp nhãn thanh tịnh (65), tám nghìn vị Tỳ kheo không còn chấp thọ các pháp, kiết lậu (66) đã hết, tâm ý được giải thoát.

*

Chú thích:

1.- Kinh: Nói đủ là “Khế kinh”, nghĩa là “pháp thường” khế hiệp chơn lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh.

2.- Duy Ma Cật: Tên một vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là “Tịnh Danh”.

3.- Bất khả tư nghị giải thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn. Hai chữ “Giải thoát” đây là xa lìa tất cả phiền não nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên mãn tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải thoát sanh tử mà còn chướng ngại với cảnh pháp… Xem phẩm Bất khả tư nghị sau thời rõ.

4.- Phật quốc: Cõi nước của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cõi nước của Phật A Di Đà, Ta bà là cõi nước của Phật Thích Ca.

5.- Tỳ Da Ly: Tàu dịch là Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở về Trung Ấn Độ.

6.- Am La: Tàu dịch là “nan phân biệt”, nghĩa là thứ trái cây này từ khi còn sống đến khi chín chỉ có một màu xanh nên khó phân biệt được trái nào sống trái nào chín.

7.- Sư tử rống: Dụ Phật, Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt, lại làm cho tất cả phiền não mê lầm của chúng sanh đều tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng thì tất cả các thú đều khiếp sợ chạy trốn.

8.- Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

9.- Ba nghiệp: 1)Thân nghiệp, 2)Khẩu nghiệp, 3)Ý nghiệp.

10.- Năm món che ngăn: 1)Tham dục; 2)Sân nhuế; 3)Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được; 4)Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động; 5)Nghi pháp: Đối việc gì cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán. Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển lộ được.

11.- Mười điều ràng buộc: 1) Vô tàm: có tội lỗi mà không biết hổ; 2) Vô quý: có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn; 3) Tật: thấy người hiền đức giàu sang sanh lòng ghen ghét; 4) Xan: bỏn sẻn không bố thí; 5) Hối: ăn năn những tội lỗi đã làm; 6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thân tâm; 7) Điệu cử: Tâm niệm xao động; 8)Hôn trầm: thần thức hôn mê không rõ biết chi cả; 9)Sân hận: đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi; 10) Phú: che giấu tội ác.

12.- Niệm định tổng trì: Niệm tức là Tuệ; Tổng Trì: gồm nhiếp tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ, trong tuệ gồm có định gọi là niệm định tổng trì.

13.- Vô sở đắc: Là đối với hữu sở đắc mà nói. Nghĩa là không còn trụ trước một pháp nào cả, dầu trí chứng và cảnh chứng cũng không thấy có.

14.- Vô sanh pháp nhẫn: Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động. Trong “Đại Trí Độ luận”, quyển 50 nói: “Đối thật tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn”

15.- Pháp luân bất thối: Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật dạy, đạo niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc Bồ Tát đã chứng được “bất thối” rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sanh để cho được bất thối, nên gọi là chuyển pháp luân bất thối.

16.- Đại chúng: Là một nhóm người đông. Trong những thời thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra còn bao nhiêu bậc Hiền, Thánh đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng gọi là Đại chúng.

17.- Tu Di: Tàu dịch là Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu vàng, bạc, lưu ly, pha lê rất xinh đẹp nên gọi là Diệu, Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao.

18.- Lý Duyên khỉ: Tất cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp mà sanh khỉ. Vì tỏ ngộ lý duyên khỉ, nhận rõ các pháp không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng các pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng chấp không. Có không đều lìa, mới là thâm nhập lý duyên khỉ.

19.- Hải đạo sư: Là người rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào biển để tìm ngọc báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc.

20.- Thập lực: Mười trí lực của Phật. 1) Trí lực của Phật biết rõ những điều hợp lý và trái lý. 2) Biết rõ nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trong ba đời. 3) Biết rõ các pháp thiền định giải thoát tam muội. 4) Biết rõ từng bực cao thấp các căn tánh của chúng sanh. 5) Biết rõ những ưa muốn sai khác của chúng sanh. 6) Biết rõ tất cả những cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian. 7) Biết rõ chỗ đi đến của tất cả phàm phu, Hiền Thánh, thế gian và xuất thế gian. 8) Biết rõ tánh danh khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh. 9) Biết rõ sự sống chết qua, các kiếp trước của tất cả chúng sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền Thánh. 10) Tự biết mình đã dứt hết nghiệp hoặc tập khí, không còn sanh tử triền phược nữa.

21.- Vô úy: Bốn món vô úy: 1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian; 2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết; 3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo; 4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thể diệt hết các khổ. Bốn điều này Phật đối giữa Đại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói được nên gọi là “Vô úy”.

22.- Thập bát bất cọng: Mười tám (18) pháp bất cọng này chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với hàng Nhị thừa và Bồ Tát. 1) Thân không lỗi. 2) Miệng không lỗi. 3) Niệm không lỗi. 4) Không có tâm tưởng khác. 5) Không có tâm bất định. 6) Không có tâm không biết. 7) Sự muốn không giảm. 8)Tinh tấn không giảm. 9) Niệm không giảm. 10) Huệ không giảm. 11) Giải thoát không giảm. 12) Giải thoát tri kiến không giảm. 13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 15) Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại, 17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại. 18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.

23.- Năm đường: Trời, người, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

24.- Đại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Đức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa lìa tất cả khổ não, như ông Thầy thuốc hay khéo trị lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là “Đại y vương”.

25.- Thi khí: Tên vị vua cõi trời Đại Phạm Thiên, ở từng trời thứ ba cõi Sơ thiền của Sắc giới.

26.- Tứ thiên hạ: Bốn châu thiên hạ. 1) Đông thắng thần châu. 2) Nam thiệm bộ châu. 3) Tây ngưu hóa châu. 4) Bắc cu lô châu.

27.- Thiên, long thần v.v…: Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ. 1) Thiên: chư Thiên; 2) Long: là rồng; 3) Dạ xoa: loài quỉ bay đi rất mau; 4) Càn thát bà: thần âm nhạc; 5) A tu la: thần chiến đấu, Tàu dịch là Phi thiên; có phước như Trời mà đức kém hơn Trời; 6) Ca lâu na: chim đại bàng; 7) Khẩn na la: thần pháp nhạc; 8) Ma hầu la dà: thần mãng xà.

28.- Tỳ kheo: Tiếng Phạn “Bhiksu”, các thầy xuất gia thọ giới cụ túc (thọ 250 giới của Phật). Đàn ông gọi là Tỳ kheo, còn đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới).

29.- Ưu bà tắc: Tàu dịch là cận sự nam. Cận sự: nghĩa là thường thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất gia tu hành, tức là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới.

30.- Ưu bà di: Tàu dịch là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ

31.- Tòa sư tử: Pháp tòa của Phật; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp, thời chỗ ấy gọi là “tòa sư tử”; vì Phật tự tại vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy sư tử làm ví dụ.

32.- Trưởng giả tử: Con ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ. Kinh Pháp Hoa Huyền Tán quyển 10 nói: “Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật, hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi là Trưởng giả”.

33.- Bảy báu: Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mã não.

34.-Tam thiên Đại thiên thế giới: Một thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu thế giới, là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới, là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế giới là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi là “Tam thiên Đại thiên thế giới”.

35.- Dùng tịch độ chúng: Tức dùng đạo lý Niết bàn tịch diệt dứt trừ tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ chúng sanh.

36.- Đệ nhứt nghĩa: Tượng trưng chơn lý cứu cánh, thật tánh các pháp; trên hết tất cả là “đệ nhứt”, có lý do như thật gọi là “nghĩa”. Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so lường biết được. Trong kinh Pháp Hoa nghĩa sớ, quyển 4 nói: “Cái đạo nhứt thật, lý cùng tột không chi hơn là “đệ nhứt”. Có nguyên do như thật gọi là “Nghĩa”.

37.- Phật thọ: Tức là cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới cội cây này gọi là Phật thọ, Đạo thọ hay là Bồ đề thọ.

38.- Cam lồ diệt: Cam lồ dụ cho Niết bàn; chứng đặng Niết bàn, dứt dòng sanh tử, gọi là “Cam lồ diệt”.

39.- Không tâm ý, không thọ hành: là không còn tâm niệm vọng tưởng phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ, thi vi động tác.

40.- Ba lần chuyển pháp: Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế cho 5 thầy Tỳ Kheo ở vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành… Pháp của Phật dạy hay dẹp trừ phiền não của chúng sanh, như bánh xe hay cán dẹp cỏ rác, cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiễm của chúng sanh thành tâm thanh tịnh gọi là “Chuyển pháp luân”. Lại có nghĩa là chuyển ba món: hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức: Bát nhã, Giải thoát, Pháp thân gọi là ba lần chuyển pháp.

41.- Pháp hải: Biển pháp, Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả.

42.- Nhơn bảo: Phật là đấng báu quí hơn hết trong cõi trời và cõi người

43.- Tam giới tôn: Đức Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức hơn hết trong 3 cõi, tất cả nhơn thiên đều cung kính tôn trọng nên gọi là “Tam giới tôn”

44.- Pháp bất cộng: Cũng như thập bát bất cộng, có giải ở số 22.

45.- Đạo sư: Bậc dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung của Phật và Bồ Tát.

46.- Kiết phược: Các phiền não ràng buộc thân tâm làm cho không được tự tại giải thoát, nên phiền não cũng gọi là “kiết phược”.

47.- Không tịch: Không các tướng là “Không”. Không khởi diệt là “tịch”. Rổng rang xa lìa tất cả tướng, không tâm niệm khởi diệt gọi là hạnh “không tịch”.

48.- Pháp tướng: Tướng trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 2 nói: “Tất cả pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng”.

49.- Trực tâm: Tâm chơn thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm chơn như.

50.- Thâm tâm: Tâm mong cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo trồng tất cả công đức cao dày, bền chắc, không thể dứt mất.

51.- Bồ đề tâm: Tâm cầu đạo lý chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh giác.

52.- Mười điều lành: Thuận lý khởi tâm đối với cảnh không phạm 10 điều dữ: 1) Sát sanh, 2) Trộm cắp, 3) Tà dâm, 4) Nói dối, 5) Nói lời thêu dệt, 6) Nói hai lưỡi, 7) Nói lời độc ác, 8) Tham, 9) Sân, 10) Si, mà thật hành những điều: phóng sanh, bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời chơn chánh, nói lời hòa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến.

53.- Ba mươi hai tướng tốt: 1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên; 2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào); 3) Tròng mắt đen trắng phân minh; 4) Lông nheo dài đẹp như của Long vương; 5) Gương mặt tròn trịa như mặt trăng rằm; 6) Răng đủ 40 cái; 7) Răng nhỏ đều khít khao; 8) Răng trắng trong tinh sạch; 9) Lưỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc; 10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa; 11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra; 12) Thân mình nở nang tròn suông; 13) Nam căn ẩn kín; 14) Hai bên hông đầy đặn; 15) Hai tay dài quá gối; 16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông; 17) Ngón tay dài và vót; 18) Vế như vế của Lộc vương; 19) Lưng hai bàn chân no tròn; 20) Lòng bàn chân bằng phẳng; 21) Gót chân tròn trịa; 22) Lòng bàn chân có chỉ xoáy tròn rõ ràng như bánh xe nghìn cọng; 23) Kẽ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới; 24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân, hai vai và yết hầu); 25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp; 26) Lông và tóc đều xoáy tròn về phía hữu; 27) Da mịn màng trơn láng; 28) Màu da như màu vàng ròng tử kim; 29) Thân hình cao lớn hơn mọi người; 30) Hình tướng đoan nghiêm; 31) Thân hình ngay thẳng vững vàng; 32) Thường có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm.

54.- Tứ vô lượng tâm: Cũng gọi là tứ đẳng tâm. 1) Từ: lòng ban vui cho chúng sanh; 2) Bi: lòng cứu khổ chúng sanh; 3) Hỷ: lòng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui; 4) Xả: lòng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên. Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ Tát) mà khởi bình đẳng nên gọi là đẳng.

55.- Tứ nhiếp pháp: 1) Bố thí nhiếp: Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn lý; 2) Ái ngữ nhiếp: Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lý; 3) Lợi hành nhiếp: Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơi thân, khẩu, ý làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lý. 4) Đồng sự nhiếp: Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân hình thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lý.

56.- 37 phẩm trợ đạo: 4 pháp niệm xứ; 4 pháp chánh cần; 4 pháp như ý túc; 5 căn; 5 lực; 7 pháp giác chi; 8 pháp đạo phần, 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rõ ở sau.

57.- Hồi hướng tâm: Hồi: Hồi chuyển. Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chứng chơn như thật tế; 2) Chỗ sở cầu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.

58.- Ba đường ác: 1) Địa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh.

59.- Tám nạn: 1) Địa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh, 4) Trường thọ thiên, 5) Bắc cu lô châu, 6) Đui, điếc, ngọng, liệu, 7) Thế trí biện thông, 8) Sanh trước Phật hay sau Phật. Sở dĩ gọi là tám nạn, là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp.

60.- Phạm hạnh: Giới hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục.

61.- Cung trời Tự tại: Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cõi Sắc giới.

62.- Thần túc: Pháp thần thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng.

63.- Hữu vi: Các pháp có tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ.

64.- Trần cấu: Nghĩa là bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa lìa trần cấu tức dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cõi.

65.- Pháp nhãn thanh tịnh: Thấy rõ được lý chơn thật của các pháp; tiểu thừa chứng được sơ quả, do đã xa lìa trần cấu kiến hoặc, thấy rõ thật lý pháp tứ đế. Đại thừa chứng được Vô sanh pháp nhẫn vào bực Sơ địa.

66.- Kiết lậu: Các phiền não kết dệt trong tự tâm, nên phiền não cũng gọi là “kiết lậu”. Kiết lậu đã hết, vì dứt trừ lòng ái nhiễm mê đắm không còn chấp thọ các pháp nên tâm ý được giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán).

***

II. PHẨM PHƯƠNG TIỆN

Thuở ấy, trong thành lớn Tỳ Da Ly có ông Trưởng giả tên là DUY MA CẬT, đã từng cúng dường vô lượng các Đức Phật, sâu trồng cội lành, đặng vô sanh pháp nhẫn, biện tài vô ngại, du hí thần thông (2) chứng các môn tổng trì (3), đặng sức vô úy, hàng phục ma oán, thấu rõ Pháp môn (4) thâm diệu, khéo nơi trí độ, thông đạt các Pháp phương tiện, thành tựu đại nguyện, biết rõ tâm chúng sanh đến đâu, hay phân biệt rành rẽ các căn lợi độn, ở lâu trong Phật đạo, lòng đã thuần thục, quyết định nơi Đại thừa. Những hành vi đều khéo suy lường, giữ gìn đúng oai nghi của Phật, lòng rộng như bể cả, chư Phật đều khen ngợi, hàng Đệ tử, Đế Thích, Phạm Vương, vua ở thế gian v.v… thảy đều kính trọng.

Vì muốn độ người, nên ông dùng phương tiện khéo thị hiện là thân Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, có của cải nhiều vô lượng để nhiếp độ các hạng dân nghèo; giữ giới thanh tịnh để nhiếp độ các kẻ phá giới; dùng hạnh điều hòa nhẫn nhục để nhiếp độ các người giận dữ; dùng đại tinh tiến để nhiếp độ các kẻ biếng nhác; dùng nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm ý tán loạn; dùng trí tuệ quyết định để nhiếp độ những kẻ vô trí; tuy làm người bạch y (5) cư sĩ mà giữ gìn giới hạnh thanh tịnh của sa môn; tuy ở tại gia mà không đắm nhiễm ba cõi (6), thị hiện có vợ con, nhưng thường tu phạm hạnh; hiện có quyến thuộc, nhưng ưa sự xa lìa; dù mặc đồ quí báu, mà dùng tướng tốt để nghiêm thân; dù có uống ăn mà dùng thiền duyệt (7) làm mùi vị. Nếu khi đến chỗ cờ bạc, hát xướng thì ông lợi dụng cơ hội để độ người ; dù thọ các Pháp ngoại đạo nhưng chẳng tổn hại lòng chánh tín; tuy hiểu rõ sách thế tục mà thường ưa Phật Pháp; cung kính tất cả mọi người làm trên hết trong sự cúng dường; nắm giữ chánh Pháp để nhiếp độ kẻ lớn người nhỏ; tất cả những việc trị sanh (buôn bán làm ăn) hùn hiệp, dù được lời lãi của đời, nhưng chẳng lấy đó làm vui mừng. Dạo chơi nơi ngã tư đường cái để lợi ích chung sanh; vào việc trị chánh để cứu giúp tất cả; đến chỗ giảng luận dẫn dạy cho Pháp Đại thừa; vào nơi học đường dạy dỗ cho kẻ đồng mông; vào chỗ dâm dục để chỉ bày sự hại của dâm dục; vào quán rượu mà hay lập chí. Nếu ở trong hàng Trưởng giả, là bực tôn quý trong hàng Trưởng giả, giảng nói các Pháp thù thắng; nếu ở trong hàng cư sĩ, là bực tôn quí trong hàng cư sĩ, dứt trừ lòng tham đắm cho họ; nếu ở trong dòng Sát đế lợi (8), là bậc tôn quý trong dòng Sát đế lợi, dạy bảo cho sự nhẫn nhục; nếu ở trong dòng Bà la môn (9), là bực tôn quí trong dòng Bà la môn, khéo trừ lòng ngã mạn của họ; nếu ở nơi Đại thần, là bực tôn quí trong hàng Đại thần, dùng chánh pháp để dạy dỗ; nếu ở trong hàng Vương tử, là bực tôn quí trong hàng Vương tử, chỉ dạy cho lòng trung hiếu; nếu ở nơi nội quan (10), là bậc tôn quý trong hàng nội quan, khéo dạy dỗ các hàng cung nữ; nếu ở nơi thứ dân, là bực tôn quí trong hàng thứ dân, chỉ bảo làm việc phước đức; nếu ở nơi trời Phạm thiên (11), là bực tôn quí trong Phạm thiên, dạy bảo cho trí tuệ thù thắng; nếu ở nơi trời Đế Thích (12), là bực tôn quí trong Đế thích, chỉ bày cho Pháp vô thường; nếu ở nơi trời Tứ thiên vương hộ thế (13), là bực tôn quí trong Tứ thiên vương hộ thế, hằng ủng hộ chúng sanh. Trưởng giả Duy Ma Cật dùng cả thảy vô lượng phương tiện như thế làm cho chúng sanh đều được lợi ích.

Ông dùng phương tiện hiện thân có bịnh. Do ông có bịnh nên các vi Quốc Vương, Đại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số nghìn người đều đến thăm bịnh. Vì những người đến thăm bịnh, ông nhơn dịp thân bịnh mới rộng nói Pháp: “Nầy các Nhân giả! Cái huyễn thân này thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bịnh hoạn. Các Nhân giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ, thì cái thân này như đống bọt không thể cấm nắm, thân này như bóng nổi không thể còn lâu; thân này như ánh nắng dợn giữa đồng, do lòng khát ái sanh, thân này như cây chuối không bền chắc; thân này như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra; thân này như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có; thân này như bóng của hình, do nghiệp duyên hiện; thân này như vang của tiếng, do nhân duyên thành; thân này như mây nổi, trong giây phút tiêu tan; thân này như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng; thân này không chủ, như là đất ; thân này không có ta, như là lửa; thân này không trường thọ, như là gió; thân này không có nhân, như là nước; thân này không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành; thân này vốn không, nếu lìa ngã và ngã sở; thân này là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá; thân này không có làm ra (vô tác) (14), do gió nghiệp chuyển lay; thân này là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn; thân này là giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan rã; thân này là tai họa, vì đủ các thứ bịnh hoạn khổ não; thân này như giếng khô trên gò, vì nó bị sự già yếu ép ngặt; thân này không chắc chắn, vì thế nào nó cũng phải chết; thân này như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ (15) vì do ấm (16), giới (17), nhập (18) hợp thành.

Các Nhân giả! Hãy nên nhàm chán cái thân này, chớ tham tiếc nó. Phải nên ưa muốn thân Phật. Vì sao? – Vì thân Phật là Pháp thân (19), do vô lượng công đức trí tuệ sanh; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến (20) sanh; do từ bi hỉ xả (21) sanh; do Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Nhu hòa, Cần hành, Tinh tấn, Thiền định, Giải thoát tam muội (22), Đa văn, Trí tuệ các Pháp Ba la mật (23) sanh ; do Phương tiện sanh; do Lục thông (24), Tam minh (25) sanh; do 37 phẩm trợ đạo (26) sanh, do Chỉ quán (27) sanh; do Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng (28) sanh; do đoạn tất cả pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh; do chơn thật sanh; do không buông lung sanh; vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai.

Này các Nhân giả! Muốn được thân Phật, đoạn tất cả bịnh chúng sanh thì phải phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (29).

Như vậy, Trưởng giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bịnh, mà nói Pháp làm cho vô số nghìn người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

*

Chú thích:

1.- Phương tiện: Phương là phương pháp, tiện là tiện dụng; phương pháp đem ra dùng thích hợp căn cơ của mỗi chúng sanh, mỗi thời đại, mỗi quốc độ nên gọi là phương tiện.

2.- Du hí thần thông: Phật và Bồ Tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh, làm sự vui chơi của mình, nên gọi là du hý. Lại có nghĩa: Bồ Tát đã lịch thiệp các pháp thần thông, do từ chứng ngộ chơn tánh mà hiển phát, vận dụng xuất nhập dễ dàng như chơi, không điều chi ngăn ngại, chẳng phải như thần thông của nhà ngoại đạo, nhị thừa do tu luyện mà có, còn bị ngại, nên gọi là du hí thần thông.

3.- Tổng trì: Tiếng Phạn gọi là Đà la ni, Tàu dịch là Tổng trì, tức là chỉ cho công năng giữ gìn các pháp lành khiến cho không mất, các pháp dữ không sanh, chia làm bốn món: 1) Pháp Đà la ni: với các Pháp Phật dạy nghe giữ gìn không quên. 2) Nghĩa Đà la ni: với nghĩa các pháp giữ gìn không quên. 3) Chú Đà la ni: do sức thiền định phát ra lời bí mật có thần hiệu không lường. 4) Nhẫn Đà la ni: an trú nơi thật tướng của các pháp. Trong luận Phật Địa, quyển thứ 5 có nói: Đà La ni là sức tăng thượng của niệm tuệ hay giữ gìn vô lượng Phật pháp.

4.- Pháp môn: Giáo pháp của Phật nói ra là phép tắc khuôn mẫu cho thế gian. Các bậc Hiền, Thánh nương vào đó mà được nhập đạo, gọi là Pháp môn. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói “… dùng chữ pháp môn tỏ bày Phật đạo”.

5.- Bạch y: Danh từ xưng gọi người thế tục, vì người thế tục ưa thích mặc y phục trắng nên gọi là “Bạch y”.

6.- Ba cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới.

7.- Thiền duyệt: Sự vui thích trong cảnh thiền định. Khi nhập vào cảnh thiền định được nhàn tịnh, thư thới làm cho vui thích tâm thần.

8.- Sát Đế Lợi: (Ksatriya) tàu dịch là Điền chủ, giòng vua ở xứ Ấn Độ. Một họ trong bốn họ: 1)Sát đế lợi, 2)Bà la môn, 3)Tỳ xá, 4)Thủ đà.

9.- Bà la môn: (Brahmana) Tàu dịch là Tịnh hạnh, một giòng họ tu hạnh trong sạch, thờ trời Đại phạm thiên, ở xứ Ấn độ.

10.- Nội quan: Quan Bộ lại trong cung cấm nhà vua

11.- Phạm thiên: Hoặc Đại phạm thiên vương là vua cõi trời sơ thiền nơi Sắc giới. Cõi sơ thiền có 3 từng trời: 1) Phạm chúng, 2) Phạm phụ, 3) Đại phạm, đã xa lìa sự dục nhiễm ở cõi Dục giới, thân tâm yên tịnh trong sạch nên gọi là Phạm thiên.

12.- Đế Thích: Là vị trời chủ tể cõi Đao Lợi Thiên trên chót núi Tu Di. Từng trời này có 33 cõi mà vị Đế Thích ở cõi chính giữa thống lãnh 32 cõi kia

13.- Tứ Thiên Vương hộ thế: Bốn vị ở bốn phía ngang lưng chừng núi Tu Di, làm vị ngoại tướng giúp đỡ trời Đế Thích coi sóc dân gian, mỗi vị ủng hộ mỗi châu thiên hạ nên gọi là Tứ Thiên Vương hộ thế: 1) Trì quốc thiên vương ở phương đông; 2) Tăng trưởng thiên vương ở phương nam; 3) Quảng mục thiên vương ở phương tây; 4) Đa văn thiên vương ở phương bắc

14.- Vô tác: Không có thi vi tạo tác, là ý nói cái thân do nhân duyên hiệp thành, không có chủ tể nên nó không tự động tác chuyển vận được.

15.- Như chốn không tụ: Như chỗ tụ lạc (xóm làng) trống không, vắng vẻ có bọn giặc cướp nương ở, hoặc chỗ đồng trống có ác quỉ nhóm họp, là chỗ đáng ghê sợ, đáng nhàm chán không thể nương ở được. Thân con người cũng như thế, do tứ đại hợp thành là đống không trơn, lại là ổ chứa nhóm tội lỗi, chịu mọi sự thống khổ bịnh hoạn già chết ép ngặt, nên đáng nhàm chán xa lìa cũng như chốn không tụ kia.

16.- Ấm: Năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

17.- Giới: 18 giới: 6 căn: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; 6 trần: sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp; 6 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

18.- Nhập: 12 nhập: sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, xung nhập với 6 căn: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý.

19.- Pháp thân: Là pháp giới tánh hay là chơn như. Thân có nghĩa là nhóm họp, nên Pháp thân là chỗ sở y chứa nhóm tất cả công đức Pháp tánh. Lại đức Phật lấy pháp tánh chơn như làm thân, nên gọi là pháp thân.

20.- Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến: Năm món này gọi là ngũ phần Pháp thân: 1) Thân, khẩu, ý xa lìa tất cả tội lỗi gọi là giới. 2) Chơn tâm đứng lặng lìa tất cả vọng niệm gọi là Định. 3) Chơn trí sáng suốt chiếu tỏ các pháp gọi là Tuệ. 4) Thân tâm giải thoát không bị triền phược gọi là giải thoát. 5) Biết mình thật giải thoát gọi là giải thoát tri kiến. Người tu hành nhờ giới, định, tuệ làm nhơn mà chứng được thể giải thoát, giải thoát tri kiến của Pháp thân là quả, nên gọi là ngũ phần pháp thân.

21.- Từ, bi, hỉ, xả: Xem số 5 về phần chú thích ở phẩm trước.

22.- Tam muội: Tàu dịch là Định Tâm, định trụ một cảnh, xa lìa những sự loạn động.

23.- Ba la mật: (Paramita) Tàu dịch có ba nghĩa: 1)Cứu cánh. 2) Đáo bỉ ngạn. 3) Độ vô cực. Danh từ Ba la mật này là do đại hạnh của các vị Bồ Tát mà đặt tên. Chính mình thật thành đại hạnh và giáo hóa cho người đến chỗ rốt ráo nên gọi “sự cứu cánh”. Nương theo đại hạnh của Bồ Tát được từ bờ sanh tử bên này tới bờ Niết bàn bên kia, nên gọi “đáo bỉ ngạn”. Nhờ đại hạnh mà được các pháp rộng rãi sâu xa không bờ bến, nên gọi “Độ vô cực”.

24.- Lục thông: Sáu món thần thông: 1) Thiên nhãn thông: con mắt thấy xa đến cả đại thiên thế giới, những vật nhỏ nhít như vi trùng, những vật có chất ngại, cản trở đều thấy được hết, thấy rõ các chúng sanh trong nhiều kiếp lâu xa, chết ở cõi nào, sanh về cõi nào đều thấy rõ rệt. 2) Thiên nhĩ thông: lỗ tai nghe xa đến cả thế giới, nhẫn đến tiếng rung động hết sức nhỏ, những tiếng nói của các loại đều nghe được hết. 3) Tha tâm thông: hiểu biết được tâm niệm tư tưởng của tất cả chúng sanh. 4)Túc mạng thông: biết rõ những kiếp trước của mình và của chúng sanh không điều gì ngăn ngại. 5) Thần túc thông: được các pháp thần thông biến hóa tự tại. 6) Lậu tận thông: trừ sạch hết thảy phiền não.

25.- Tam minh: 1)Túc mạng minh: biết được những việc sống chết đời trước của mình và của tất cả chúng sanh.

2)Thiên nhãn minh: biết được những việc sống chết đời sau của mình và của tất cả chúng sanh.

3)Lậu tận minh: biết được những sự khổ hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch hết các phiền não.

26.- Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: 4 pháp niệm xứ; 4 pháp chánh cần; 4 pháp như ý túc; 5 căn; 5 lực; 7 pháp giác chi; 8 pháp đạo phần, 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả nên gọi là trợ đạo

4 pháp niệm xứ: niệm là tâm năng quán (tâm hay quán sát), xứ là cảnh sở quán (cảnh bị quán sát). Vì chúng sanh vọng chấp thân ngũ ấm này, nên Phật nói 4 phép quán để đối trị: 1) Quán thân bất tịnh: Quán sát thân này là vật nhơ bẩn. 2) Quán thọ là khổ: Quán sát sự thọ lãnh của thân tâm là khổ. 3) Quán tâm vô thường: Quán sát tâm thức luôn luôn sanh diệt không thường trụ. 4) Quán sát vô ngã: Quán sát các pháp không có chủ tể.

4 pháp chánh cần: 1) Đoạn những ác pháp đã sanh; 2) Đoạn những ác pháp chưa sanh; 3) Làm cho các pháp lành tăng trưởng; 4) Làm cho các pháp lành chưa sanh được sanh.

4 pháp như ý túc: 1) Dục như ý túc: có tâm ham muốn tu tập các pháp lành thì được như ý. 2)Niệm như ý túc: quán sát cảnh gì mà nhứt tâm chuyên chú vào đó thì được như ý, 3) Tinh tấn như ý túc: do tinh tấn mà tu tập các pháp lành được như ý, 4) Tư duy như ý túc: do suy nghĩ mà tu tập được kết quả.

5 căn: 1) Tín căn: tin theo chánh đạo và trợ đạo. 2) Tinh tấn căn: là sự dõng mãnh tu theo thiện pháp; 3) Niệm căn: ghi nhớ các pháp chánh đạo và trợ đạo; 4) Định căn: nhiếp tâm theo chánh đạo; 5) Huệ căn: nhờ có định mà chân tánh tự sáng suốt không phải ở ngoài vào.

5 lực: Cũng như ngũ căn nhưng vì thật hành theo ngũ căn thì căn lành có sanh, song gốc ác chưa phá hết nên phải gia công tu tập thêm khiến cho thiện căn tăng trưởng. Khi thiện căn thành thục, các ác pháp không còn, nên gọi là ngũ lực.

7 pháp giác chi: Giác là tỏ, nghĩa là tỏ biết pháp tu chơn hay ngụy. Chi là ngành, nghĩa là 7 pháp này có chi phái khác nhau không xen lẫn nhau nên gọi là 7 pháp giác chi hay là 7 pháp giác phần: 1) Trạch pháp giác chi: dùng trí tuệ quan sát các pháp, giản trạch rõ ràng chơn ngụy. 2) Tinh tấn giác chi: dõng mãnh chuyên tâm tu tập các pháp chơn chánh, (Không làm theo những khổ hạnh sai lầm của ngoại đạo) luôn luôn không gián đoạn. 3) Hỉ giác chi: Khởi tâm vui mừng khi ngộ được chơn pháp. Mừng này chẳng phải như những lối mừng theo các việc thường tình điên đảo hư vọng, mà là mừng được an trụ nơi pháp chơn chánh. 4) Trừ giác chi: đoạn trừ phiền não thô trọng làm cho thân tâm nhẹ nhàng thư thới, xa lìa các pháp hư giả, tăng trưởng công đức chơn thiên. 5) Xả giác chi: lìa bỏ tất cả pháp chơn, vọng, lòng rổng rang bình đẳng không tưởng đến. 6) Định giác chi: nhứt tâm an trụ một cảnh, xa lìa vọng tưởng tán loạn. 7) Niệm giác chi: thường ghi nhớ pháp tu rõ ràng khiến cho định, tuệ bình đẳng. Lúc tâm hôn trầm nhớ ngay đến ba chi giác: trạch pháp, tinh tấn, hỉ giác mà quán sát các pháp cho khỏi hôn trầm. Lúc tán loạn vu vơ, nghĩ ngay đến ba chi: “Trừ giác” để trừ sạch các lỗi về thân miệng; “Xả giác” để xả tiêu cái trí quán sát; “Định giác” để vào nơi chánh định thu nhiếp cái tâm tán loạn, cho khỏi xao động vu vơ.

8 pháp đạo phần: 1) Chánh kiến: sự hiểu biết chơn chánh, 2) Chánh tư duy: sự suy nghĩ chơn chánh, 3) Chánh ngữ: nói những lời chơn chánh không hư vọng, 4) Chánh nghiệp: hành động chơn chánh, 5) Chánh mạng: lấy sự khất thực để nuôi sống thân mạng; 6) Chánh tinh tấn: tu theo giới, định, tuệ một lòng tinh chuyên không gián đoạn, 7) Chánh niệm: ghi nhớ những pháp chơn chánh, 8) Chánh định: thu nhiếp thân tâm thường được tịch tịnh.

27.- Chỉ quán: Tiếng Phạn là Xa ma tha Tỳ bác xá na, Tàu dịch là chỉ quán hay là định tuệ, tịch chiếu, minh tịnh. Chỉ: là ngăn dứt tư tưởng vọng niệm, đoạn trừ giác quán sai lầm, đối với đế lý không lay động. Quán: là trí quán sát phân biệt, hiểu rõ danh tướng các pháp nhơn duyên sanh diệt, khế hội vào lý chơn như.

28.- Thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng: đã giải nơi phẩm trước.

29.- Vô thượng chánh đẳng chánh giác: Chỗ giác ngộ của Phật không còn ai hơn nữa gọi là Vô thượng, xa lìa tà vọng gọi là Chánh, ngộ được chơn lý nên gọi là Giác. Phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác là phát tâm mong cầu trí giác vô thượng, quả Phật cứu cánh.

***

III. PHẨM ĐỆ TỬ (1)

XÁ LỢI PHẤT (2)

Lúc bấy giờ, Trưởng giả Duy Ma Cật nghĩ thầm rằng:

– Nay ta bịnh nằm ở giường, Thế Tôn là đấng Đại từ, lẽ đâu không đoái lòng thương xót!

Phật đã biết ý ông, liền bảo Xá Lợi Phất rằng:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Xá Lợi Phất bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây, khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: “Thưa Ngài Xá Lợi Phất? Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định(3) mà hiện các oai nghi, mới là ngồi yên lặng; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là ngồi yên lặng; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết bàn(4) mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận) vậy”.

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con nghe nói những lời đó rồi, im lặng không trả lời đặng, nên con không dám đến thăm bịnh ông.

MỤC KIỀN LIÊN

Phật bảo Đại Mục Kiền Liên:

– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Mục Kiền Liên bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại trước kia, con vào trong thành Tỳ Da Ly ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: “Này Ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như Ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu(6); pháp không có ngã, lìa ngã cấu, Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên ; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ; Pháp không nói năng, lìa giác quán(7); pháp không hình tướng; như hư không; Pháp không hí luận, rốt ráo là không; Pháp không ngã sở(8), lìa ngã sở; Pháp không phân biệt, lìa các thức; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi ; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên, Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp; Pháp tuy nơi như, không có chỗ tùy; Pháp trụ thật tế(9), các bên (hữu, vô, thường, đoạn) không động được; Pháp không lay động, không nương sáu trần(10); Pháp không tới lui, thường không dừng (trụ); Pháp thuận “không”, tùy “vô tướng”, ứng “vô tác”(11); Pháp lìa tốt xấu; Pháp không thêm bớt; Pháp không sanh diệt; Pháp không chỗ về; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp: Pháp thường trụ không động; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư?

Vả chăng người nói Pháp, không nói, không dạy, còn người nghe, cũng không nghe không được. Ví như nhà huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi độn, khéo nơi tri kiến không bị ngăn ngại, lấy tâm đại bi ngợi khen Pháp Đại thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật, chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp”.

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy rồi, tám trăm Cư sĩ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con không được biện tài như thế, nên không dám lãnh đến thăm bịnh ông.

ĐẠI CA DIẾP

Phật bảo Đại Ca Diếp:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Ca Diếp bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao? – Con nhớ lại trước kia, khi khất thực trong xóm nhà nghèo, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng: Này Ngài Đại Ca Diếp! Có lòng từ bi mà không phổ cập là bỏ nhà giàu mà đi đến nhà nghèo. Ngài Ca Diếp! Ở Pháp bình đẳng nên đi khất thực theo thứ lớp. Vì không ăn mà đi khất thực; vì phá tướng hòa hiệp mà bốc cơm ăn; vì không nhận mà nhận món ăn của người; vì tưởng “không tụ” mà vào làng xóm; có thấy sắc cũng như người đui; có nghe tiếng cũng như vang; có ngửi mùi cũng như gió; lúc nếm vị không phân biệt; chạm các vật như trí chứng(13); biết các Pháp tướng như huyễn, không tự tánh, không tha tánh, trước vốn không sanh, nay cũng không diệt. Ngài Ca Diếp? Nếu có thể không bỏ bát tà(14) mà vào bát giải thoát(15), dùng tướng tà mà vào Chánh pháp, dùng một bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực Hiền Thánh rồi sau mới ăn. Ăn như thế, không phải có phiền não, không phải rời phiền não, không phải vào định ý(15), không phải ra định ý, không phải ở thế gian, không phải ở Niết bàn, người thí không có phước lớn, không có phước nhỏ, không được lợi ích, không bị tổn hại, đó chính là vào Phật đạo, không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca Diếp? Nếu ăn như thế là ăn đồ cúng thí của người không uổng vậy.

Bạch Thế Tôn! Lúc đó con nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy tỏ ngộ được điều chưa từng có, càng sâu khởi tâm cung kính tất cả các vị Bồ Tát. Con lại nghĩ rằng: “Kẻ danh gia này có biện tài trí tuệ mới được như thế? Ai nghe mà chẳng phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Từ ấy đến nay, con chẳng còn đem hạnh Thanh Văn(17), Bích Chi Phật (18) để khuyên dạy người, vì thế nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

TU BỒ ĐỀ

Phật bảo Tu Bồ Đề:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng: “Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Đối với cơm bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si cũng không chung cùng với nó, không hoại

thân mình mà theo một tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch(20) mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế(21) cũng không phải không thấy tứ đế, không phải đắc quả cũng không phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải thánh nhơn, không phải không thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề không thấy Phật không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo(22) kia như Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử, San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Đa Xy Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của Ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, Ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề! Nếu Ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, không được khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, Ngài được vô tránh tam muội(23), tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí cho Ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho Ngài đọa vào ba đường ác(24), Ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, Ngài cùng với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng (Tăng), hoàn toàn không được diệt độ, nếu Ngài được như thế mới nên lấy món ăn.

Bạch Thế Tôn! Lúc đó con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết là nói gì, cũng không biết lấy lời chi đáp, con liền để bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói: Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ? Ý Ngài nghĩ sao? Như Phật biến ra một người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc này hỏi Ngài, chừng ấy Ngài có sợ chăng? – Con đáp: “Không sợ!”. Trưởng giả Duy Ma Cật lại nói: Tất cả các Pháp như tướng huyễn hóa, Ngài không nên có tâm sợ sệt. Vì sao? – Vì tất cả lời nói năng không lìa tướng huyễn hóa, chí như người trí không chấp văn tự nên không sợ. Vì sao thế? – Tánh văn tự vốn ly, không có văn tự đó là giải thoát. Tướng giải thoát đó là các Pháp vậy”.

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy rói, hai trăm Thiên Tử được Pháp nhãn thanh tịnh. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

PHÚ LÂU NA

Phật bảo Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Phú Lâu Na bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại trước kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây nói Pháp cho các Tỳ Kheo mới học, lúc đó ông Duy Ma Cật đến bảo con: “Thưa Phú Lâu Na! Ngài nên nhập định trước để quán sát tâm địa của những người này, rồi sau mới nên nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ kheo này, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh, chớ nên dùng pháp tiểu thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm. Ngài Phú Lâu Na! Những vị Tỳ kheo này đã phát tâm đại thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay tại sao lại lấy pháp tiểu thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng tiểu thừa trí tuệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.

Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật liền nhập tam muội (chánh định) làm cho những vị Tỳ kheo đó biết được kiếp trước của mình đã từng ở 500 Đức Phật vun trồng các cội đức, hồi hướng về đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, liền đó rỗng suốt trở lại đặng bổn tâm (Đại thừa). Khi ấy, các vị Tỳ kheo cúi đầu đảnh lễ nơi chơn ông Duy Ma Cật, ông liền nhân đó nói pháp làm cho tất cả không còn thối lui nơi đạo vô thượng Bồ Đề.

Con nghĩ hàng Thanh Văn như con không quán được căn cơ của người, không nên nói Pháp. Vì thế con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

MA HA CA CHIÊN DIÊN

Phật bảo Ma Ha Ca Chiên Diên:

– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Ca Chiên Diên bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại lúc trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các Pháp cho các Tỳ Kheo nghe, sau khi đó, con diễn nói lại nghĩa ấy, là những nghĩa vô thường(27), khổ(28), không(29), vô ngã(30), và tịch diệt(31).

Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng. Thưa Ngài Ca Chiên Diên! Ngài chớ nên đem tâm hạnh sanh diệt mà nói Pháp thật tướng(32). Ngài Ca Chiên Diên! Các Pháp rốt ráo không sanh, không diệt là nghĩa “vô thường”; năm ấm rỗng không, không chỗ khởi là nghĩa “khổ”; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa “không”; ngã và vô ngã không hai, là nghĩa “vô ngã” ; Pháp trước không sanh, nay cũng không diệt, là nghĩa “tịch diệt”.

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy xong, các Tỳ Kheo kia tâm được giải thoát. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

A NA LUẬT

Phật bảo A Na Luật:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

A Na Luật bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lại lúc trước con đi kinh hành một chỗ nọ, khi ấy có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ con cúi đầu làm lễ và hỏi: “Thưa Ngài A Na Luật? Thiên nhãn của Ngài thấy xa được bao nhiêu?”. Con liền đáp: “Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy

trái Am-ma-lặc(34) trong bàn tay vậy. Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với con: “Thưa Ngài A Na Luật? Thiên nhãn của Ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy? Nếu như làm ra tướng thì khác gì ngũ thông(35) của ngoại đạo, nếu không làm ra tướng thì là vô vi, lẽ ra không thấy? Bạch Thế

Tôn! Lúc ấy con nín lặng.

Các vị Phạm thiên nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liền làm lễ hỏi ông rằng “Bạch Ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhãn (36)?”.

Trưởng giả Duy Ma Cật đáp: “Có Phật Thế Tôn được chơn thiên nhãn, thường ở tam muội, thấy suốt các cõi Phật không có hai tướng”.

Khi ấy Nghiêm Tịnh Phạm vương cùng quyến thuộc năm trăm Phạm Vương đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật rồi bỗng nhiên biến mất. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

ƯU BA LY

Phật bảo Ưu Ba Ly:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Ưu Ba Ly bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Con nhớ lại ngày trước có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi con rằng: “Dạ thưa Ngài Ưu Ba Ly! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ Ngài giải rõ chỗ nghi hồi cho chúng tôi được khỏi tội ấy”. Con liền y theo pháp, giải nói cho hai vị.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với con: “Thưa Ngài Ưu Ba Ly, Ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo này, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao? – Vì tội tánh kia không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật nói: “Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch. Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế ấy. Các Pháp cũng thế không ra ngoài chơn như. Như Ngài Ưu Ba Ly, khi tâm

tướng được giải thoát thì có tội cấu chăng?”. Con đáp: “Không”. Ông Duy Ma Cật nói: “Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế? Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Ly? Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp ; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa này gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa này gọi là khéo hiểu.

Lúc đó hai vị Tỳ Kheo khen rằng: “Thật là bực thượng trí? Ngài Ưu Ba Ly này không thể sánh kịp Ngài là bực giữ luật hơn hết mà không nói được”.

Con đáp rằng: “Trừ đức Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo thuyết biện tài(38) của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ của ông thông suốt không lường”.

Khi ấy, hai vị Tỳ kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và phát nguyện rằng: “Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy”. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

LA HẦU LA

Phật bảo La Hầu La:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

La Hầu La bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lúc trước kia, các Trưởng giả tử ở thành Tỳ Da Ly đến con cúi đầu làm lễ hỏi rằng? “Thưa Ngài La Hầu La, Ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Vương(40) mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích gì?”. Con liền đúng theo Pháp mà nói sự ích lợi của công đức xuất gia. Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng: “Thưa La Hầu La! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. Vì sao? – Không lợi không công đức, mới thật là xuất gia. Về pháp hữu vi(41) có thể nói là có lợi, có công đức còn xuất gia là pháp vô vi(42), trong pháp vô vi không lợi, không công đức – La Hầu La? Vả chăng xuất gia là không kia, không đây, cũng không ở chính giữa; ly sáu mươi hai môn kiến chấp(43), ở nơi Niết bàn, là chỗ nhận của người trí, chỗ làm của bực Thánh, hăng phục các ma, khỏi ngũ đạo(44), sạch ngũ nhãn(45), đặng ngũ lực(46), lập ngũ căn(47), không làm náo người khác, rời các tạp ác(48), dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ, không rối loạn trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật là xuất gia”.

Khi ấy, ông Duy Ma Cật bảo các Trưởng giả tử: “Các ngươi nay ở trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất gia. Vì sao? – Phật ra đời khó gặp”.

Các Trưởng giả tử nói:

– Thưa Cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy: “Cha mẹ không cho, không được xuất gia”.

Ông Duy Ma Cật nói:

– Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề(49), đó chính là xuất gia, đó chính là đầy đủ Giới Pháp.

Bấy giờ ba mươi hai vị Trưởng giả tử đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

A NAN

Phật bảo A Nan:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

A Nan bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao? – Nhớ lại lúc trước, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, con cầm bát đến đứng trước cửa nhà người đại Bà la môn. Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến bảo con: “Này A Nan? Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế?”.

Con đáp: “Cư sĩ, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, nên tôi đến đây xin sữa”.

Ông Duy Ma Cật nói: “Thôi thôi! Ngài A Nan chớ nói lời ấy! Thân Như Lai là thể kim cang(51), các ác đã dứt, các lành khắp nhóm, còn có bịnh gi, còn có não gì? – Im lặng bước đi, Ngài A Nan! Chớ phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe lời nói thô ấy, chớ làm cho các trời oai đức lớn và các Bồ Tát từ Tịnh độ phương khác đến đây nghe được lời ấy! Ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu còn không tật bịnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả đấy ư? Hãy đi Ngài A Nan? Chớ làm cho chúng tôi chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm Chí nếu nghe lời ấy, chắc sẽ nghĩ rằng: “Sao gọi là Thầy, bịnh của mình không cứu nổi mả cứu được bịnh ngươi khác ư?” Nên lẽn đi mau, chớ để cho người nghe! Ngài A nan! Phải biết thân Như Lai, chính là Pháp Thân(52), không phải thân tư dục (53). Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cõi, thân Phật là vô lậu(54), các lậu đã hết, thân Phật là vô vi, không mắc vào các số lượng, thân như thế còn có bịnh gì?”.

Bạch Thế Tôn! Lúc đó con thật quá hổ thẹn không lẽ con gần Phật mà nghe lầm ư? Con liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng: “A Nan! Đúng như lời Cư sĩ đã nói, chỉ vì Phật ứng ra đời ác đủ năm món trược (55) nên hiện ra việc ấy, để độ thoát chúng sanh thôi. A Nan! Hãy đi lấy sữa chớ có thẹn”.

Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật trí tuệ biện tài dường

ấy, cho nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

Như vậy, năm trăm vị đại đệ tử mỗi người đều đối trước Phật trình bày chỗ bổn duyên(56) của mình, vị nào cũng khen ngợi, thuật lại những lời của ông Duy Ma Cật và đều nói: “Không kham lãnh đến thăm bịnh ông”.

*

Chú thích:

1.- Đệ tử: Em, con, nghĩa là theo đạo thầy trò, thời Thầy coi trò như em, nên dùng theo cách đối với người em và cư xử. Trò thờ Thầy như cha, nên lấy theo đạo lý con người mà phụng sự Thầy. Thầy trò đối đãi với nhau nên xưng là “Đệ tử”.

Lại có nghĩa: Giác ngộ sau Phật gọi là em (Đệ). Trí giác ngộ nhờ Phật phát sinh gọi là con (tử). Hai chữ “Đệ tử”, ở đây chuyên chỉ cho hàng Thanh Văn. Dẫu biết rằng Phật là Đạo sư trong ba cõi, cha lành của bốn loài, thời ai chẳng phải là đệ tử của Phật. Nhưng vì hàng Thanh Văn là những bậc xuất gia, theo Phật nghe pháp, hiểu biết, ngộ đạo chứng quả, nhiếp về số chúng tăng giữ gìn ngôi Tam Bảo, làm mô phạm cho ba cõi, hằng theo hầu Phật châu du giáo hóa khắp nơi. Chẳng phải như hàng tại gia, tuy tin Phật mà còn phụng sự quân thân, hàng Bồ Tát dù khế hợp Phật đạo, mà lại tùy cơ tùy chỗ ứng hiện giáo hóa không định, nên trong kinh thường gọi Đệ tử là riêng chỉ cho hàng Thanh Văn vậy.

2.- Xá Lợi Phất: (Sariputra) Tàu dịch là “Thu tử”, nghĩa là con bà “Thu Lộ”. Ông là người trí tuệ cao siêu, biệt tài mẫn thiệp. Khi ông còn ở trong bụng mẹ, đã xui cho mẹ biện luận giỏi hơn người cậu là Cu Si La (Kansthla). Đến khi ông lên 8 tuổi đã có tài diễn thuyết, cả 16 nước không ai nghị luận bằng. Sau ông theo học đạo Phật, mới bảy ngày đã thông hiểu các Pháp, nên gọi là Trí tuệ đệ nhất.

3.- Diệt tận định (Nirodbasamapatti) cũng gọi Diệt thọ tưởng định: nghĩa là diệt hết 6 thức tâm vương và tâm sở không còn khởi hiện hạnh. Hàng nhị thừa từ quả thứ ba sắp lên, tạm tưởng nhập Niết bàn thời nhập định này, thuộc về thánh quả chớ chẳng phải như vô tâm định của ngoại đạo.

4.- Niết Bàn (Nirvana) cũng gọi là Nê hoàn. Tàu dịch Diệt độ: Nghĩa là dứt hết phiền não nghiệp chướng vượt khỏi vòng sanh tử. Lại dịch lại Viên tịch: Đức đầy đủ khắp trần sa là “Viên”, bặt dứt nghiệp chướng khổ lụy, gọi là “Tịch”. Cũng chỉ cho bản tánh tịch tịnh, rời tất cả pháp sanh diệt khổ lụy.

5.- Mục Kiền Liên (Mua Dgralyayana): Tàu dịch: họ Thái Thúc. Ban sơ ông tu theo ngoại đạo đã lâu mà không công hiệu gì, sau nhờ ông Xá Lợi Phất thuật lại bài kệ Nhân duyên cho ông nghe, liền tỏ ngộ; theo Phật tu hành chứng quả Thanh Văn, đặng phép Thần thông bậc nhất.

6.- Chúng sanh cấu: Các tâm chấp ngã, chấp có chúng sanh. Trên bản thể chơn pháp không có chúng sanh, nếu chấp có chúng sanh thành nhơ chơn pháp, nếu ngộ được chơn pháp không có chúng sanh, thời cái nhơ chấp trước kia không còn nữa.

07.- Giác quán:_ Cũng gọi là Tầm Từ: Suy nghĩ bằng cách tâm niệm vội vàng thô động gọi là giác. Suy nghĩ chín chắn bằng tâm nhỏ nhiệm gọi là quán. Hai món này làm chướng ngại rối loạn cho tâm định, lại làm nguyên nhân phát khởi ra lời nói năng. Nếu lìa Giác Quán thì không còn lời nói năng.

08.- Ngã sở:_ Ngã: Ta, là lối ngoại đạo, phàm phu chấp chính thân ta có một chủ tể hằng còn, hay ngoài thân có đấng chủ tể thường còn cùng khắp, thọ dụng tất cả và hay sanh vạn vật.

Ngã sở: vật sở hữu, phụ thuộc của Ngã (ta), ngã là chủ của vạn vật, vạn vật là sở hữu của ngã. Đây là do tình chấp có ngã mới có ngã sở.

09.- Thực tế:_ Cùng cực thật lý của bản thể vũ trụ, Pháp tánh chơn như.

10.- Sáu trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

11.- Không, Vô tướng, Vô tác: Gọi là tam không, 3 môn này đều nói về Lý Không, cũng gọi là Tam tam muội. 1. Không tam muội: Quán các pháp từ nhơn duyên sanh, không có ngã và ngã sở. 2. Vô tướng tam muội: Xa lìa những tướng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và tướng Nam, tướng Nữ. 3. Vô tác tam muội: Đối với các pháp xả hết tâm mong muốn, không còn sự tạo tác

12.- Đại Ca Diếp: Tàu dịch là Ẩm Quang, nghĩa là hào quang chói sáng trùm hết các ánh sáng khác. Nguyên kiếp trước ông chung đậu vàng với người ta và ra công thếp tượng Phật, nhờ công đức ấy, nên đời đời cảm đặng cái báo thân sắc vàng ánh chói. Khi gặp Đức Phật ra đời giáo hóa, ông nguyện theo tu hành, sau lãnh thọ đặng chánh pháp. Trong hàng Đại đệ tử, ông là đức hạnh bực nhất, cũng là khổ hạnh bực nhứt nữa.

13.- Như trí chứng: Tức là khi Thật trí chứng chơn lý thành tựu đạo quả, toàn thân nhẹ nhàng an vui mà không sanh đắm nhiễm; ý nói thân chạm lãnh các vật tốt, xấu, êm ấm v.v… cũng không có cảm thọ mê đắm như trí chứng vậy.

14.- Bát tà: 1. Tà kiến, 2. Tà tư duy, 3. Tà ngữ, 4. Tà nghiệp, 5. Tà mạng, 6. Tà phương tiện, 7. Tà niệm, 8. Tà định. Trái với Bát chánh đạo thời gọi là Bát tà.

15.- Bát giải thoát: Cũng là bát bội xả. Nghĩa là tám pháp thiền định này có công năng xa lìa, trái bỏ tất cả phiền não được giải thoát những sự triền phược trong ba cõi.

1. Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc: Vì muốn diệt trừ lòng tham đắm, người tu hành trước phải quán thân mình là vật nhơ nhớp, nhưng vì còn lòng tham đối với thân người, nên cũng phải quán cái thân người khác cũng như thế.

2. Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc: Mới diệt được sắc tướng trong thân nhưng lòng tham dục đối với người ở cõi Dục khó đoạn hết, nên cũng còn quán tướng người khác bất tịnh.

3. Tịnh bội xả thân tác chứng: Đến đây không còn tham trước tướng bất tịnh ở ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện tập tâm sắc quang minh trong suốt (Tịnh Bội xả). Tâm đã sáng suốt thì vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân bội xả).

4. Hư không xứ bội xả: Người tu hành diệt được lòng tham muốn sắc thân bất tịnh của mình và của người, được nhứt tâm duyên “Không” cùng với “Không” tương ứng, tức nhập được định “Vô biên hư không xứ”.

5. Thức xứ bội xả: Do xả Hư không xứ định, nhứt tâm duyên thức. Lúc nhập định này, tức quán định, nhàm chán không ưa đắm nữa.

6. Vô sở hữu xứ bội xả: Do xả thức xứ, nhứt tâm duyên Vô sở hữu xứ. Lúc nhập định này, tức quán định y nơi năm uẩn đều không thật nên không còn ái trước nữa.

7. Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ bội xả: Do xả vô sở hữu xứ định, nhứt tâm duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc nhập định này, y nơi năm uẩn đều không thật, nên tâm sanh nhàm chán.

8. Diệt thọ tưởng bội xả: Vì nhàm chán cái tâm tán loạn nên nhập định cho diệt hẳn tâm ấy đi. Khi đắc định cả rồi thì thành ra tám đạo giải thoát nên gọi là Bát giải.

16.- Định ý: Tức tịnh tâm. Tu thiền định xa lìa ý tán loạn.

17.- Thanh Văn: Hàng đệ tử Tiểu thừa y theo chánh giáo của Phật dạy, tu tập pháp Tứ đế, đoạn Kiến hoặc và Tư hoặc, chứng chánh quả. Có 4 bực 1. Tu đà hoàn (Dự lưu quả). 2. Tư đà hàm (Nhứt lai quả). 3. A na hàm (Bất lai quả). 4. A la hán (Vô sanh quả).

18.- Bích Chi Phật: Thuộc về trung thừa có 2 hạng: 1.Độc Giác: ra đời không gặp đặng Phật và giáo pháp, do căn lành sẵn có, ngó thấy cảnh tang thương, hoa tàn lá úa v.v… ngộ lý vô thường, phát tâm xuất ly dục trần, tự tu tập pháp vô thường quán, chứng quả vô sanh khỏi vòng sanh tử trong tam giới: 2. Duyên Giác: Ra đời gặp Phật và giáo pháp, tu tập theo phép quán 12 nhơn duyên chứng quả vô sanh (Đồng bực A La Hán của Thanh Văn).

19.- Tu Bồ Đề: (Shabuti) Tàu dịch là Không Sanh. Bực Đại A La Hán tỏ ngộ lý chơn không, bực nhứt trong hàng Thanh Văn.

20.- Ngũ nghịch: 1. Giết cha; 2. Giết mẹ; 3. Giết A La Hán; 4.Phá hòa hợp của chúng Tăng; 5. Làm cho thân Phật chảy máu.

21.- Tứ Đế: 1. Khổ đế: tất cả cảnh khổ trong ba cõi như sanh, già, bịnh, chết v.v… 2. Tập đế: Nguyên nhân tất cả cảnh khổ, tức phiền não tham, sân, si v.v… chứa nhóm kết thành. 3. Diệt đế: Tịch diệt Niết bàn; dứt hết phiền não nguyên nhân thống khổ, khỏi hẳn sanh tử an vui vắng lặng. 4. Đạo đế: Các Thánh đạo, những phương pháp tu hành để đoạn phiền não, chứng Thánh quả.

22.- Lục sư ngoại đạo: Sáu ông Thầy chủ trương học thuyết ngoại đạo: 1. Phú Lan Na, chủ trương thuyết đoạn diệt; 2. Mạt Già Lê, chủ trương thuyết tự nhiên sinh; 3. San Xà Gia, chủ trương thuyết không tu hành; 4. A Kỳ Đa, chủ trương khổ hạnh; 5. Ca Na, chủ trương thuyết ngụy biện; 6.Ni Càn Đà, chủ trương thuyết định mạng, tức Ấn Độ giáo bây giờ.

23.- Vô tránh tam muội: Là môn chánh định cao siêu hơn hết trong các môn chánh định của hàng Thanh Văn. Môn định này do vì liễu ngộ lý không, nên bỉ, ngã đều quên, không làm tổn não chúng sanh, lại hay khiến chúng sanh không khởi phiền não.

24.- Ba đường ác: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.

25.- Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử: (Purnamaitrayaniputra) Tàu dịch là Mãn Từ Tử, nghĩa là con của ông Mãn (cha) bà Từ (mẹ). Ông có tài thuyết pháp bực nhứt trong hàng Thanh Văn.

26.- Ma Ha Ca Chiên Diên: (Maha Katyayana) Tàu dịch Văn Sức, nghĩa là nói năng dịu dàng, biện luận rành rẽ. Ông là người có biện tài bực nhứt trong hàng Tỳ kheo.

27.- Vô thường: Tất cả pháp trong đời sanh diệt dời đổi phút chốc không dừng gọi là Vô thường. Trong Trí Độ Luận về quyển 23 nói: “Tất cả pháp hữu vi đều vô thường vì chập chập sanh diệt, vì thuộc nhơn duyên vậy”.

28.- Khổ: Những việc bức não thân tâm gọi là khổ, như sanh, già, bịnh, chết v.v…

29.- Không: Các pháp do nhân duyên sanh ra, tìm xét cùng tột không có thật thể, nên gọi là không.

30.- Vô ngã: Thân thể chỉ do ngũ uẩn giả hợp không có chủ tể thường nhứt. Các pháp đều do nhân duyên sanh cũng không có ngã thể thường nhứt. Trong kinh Kim Cang nói: người thông suốt được pháp vô ngã, Như Lai gọi là Chơn Bồ Tát.

31.- Tịch diệt: Tiếng Phạn gọi là Niết Bàn. Lý thể tịch tịnh lìa tất cả tướng gọi là Tịch Diệt.

32.- Thật tướng: Tướng chân thật không giả dối, tức là chỉ cho bản thể vạn hữu trong vũ trụ. Bản thể ấy có khi gọi là Pháp tánh, Chơn như hay Thật tướng. Danh từ tuy khác mà thể là một.

33.- A Na Luật: (Aniruddha) cũng gọi A Nậu Lầu Đà, Tàu dịch là Như Ý. Nghĩa là kiếp trước ông có cúng dường một vị Phật Bích Chi, nên đời đời cảm đặng quả báo phú túc, chỗ cầu đều mãn nguyện. Khi ông mới nhập đạo, tánh hay ưa ngủ, bị Phật quở trách ông tự hổ, tinh tấn tu tập thức luôn bảy ngày đêm đến nỗi hai mắt không thấy đường, nhờ Phật dạy tu pháp “Kim cang tam muội” nên sau ông đặng Thiên nhãn bực nhứt.

34.- A Ma Lặc: Thứ trái cây hình giống trái Binh Lang (trái cau) ăn nó trừ được bịnh phong lãnh.

35.- Ngũ thông: 1. Thiên nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Tha tâm thông, 4. Túc mạng thông, 5.Thần túc thông.

36.- Chơn thiên nhãn: Là mắt của Phật, Phật hằng ở trong định, vạn tượng đều hiện trước mắt, chưa từng không thấy, mà chưa từng có thấy, nên nó không có hai tướng.

37.- Ưu Ba Li: (Upali) Tàu dịch là Cận Chấp, nghĩa là nói lúc Phật làm Thái tử, ngài Ưu Ba Ly làm quan đại thần, thân cận giúp cho Thái tử, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La Hán, ngài là bực giữ luật thứ nhứt.

38.- Nhạo thuyết biện tài: Bồ Tát do nội trí phát sáng hay tùy thuận căn tánh chúng sanh ưa nghe pháp mà diễn nói một cách viên dung vô ngại.

39.- La Hầu La: (Rahula) Tàu dịch là Phú Chướng, nghĩa là bị ngăn chướng ở trong thai mẹ 6 năm mới sanh ra, ông là con của Phật Thích Ca. Khi bà Da Du Đà La sanh ông ra, nhằm lúc thần A tu la lấy tay che khuất mặt trời, vì thế nên đặt tên ông là La Hầu La. Trong kinh Nhân Duyên nói: Trong 10 người đệ tử lớn của Phật, ông La Hầu La là mật hạnh bực nhứt. Đến hội Pháp Hoa, ông được thọ ký sau sẽ thành Phật Phật hiệu là “Đạo thất Bảo Hoa Như Lai”.

40.- Chuyển Luân Vương: Có bốn: 1. Thiết Luân Vương (cai trị một châu thiên hạ). 2. Đồng Luân Vương (cai trị 2 châu thiên hạ). 3. Ngân Luân Vương (cai trị 3 châu thiên hạ). 4. Kim Luân Vương (cai trị 4 châu thiên hạ). Vì phước nghiệp đời trước, nên khi làm vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra, vua ngồi xe đó đi tuần hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là Chuyển Luân Thánh Vương

41.- Hữu vi: Các pháp có tạo tác sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ.

42.- Vô vi: Vi là thi vi tạo tác, vô vi là cái không có thi vi tạo tác, lại không bị bốn tướng Sanh, Trụ, Dị, Diệt cai quản, tức là bản thể chơn lý.

43.- Sáu mươi hai món kiến chấp: Đối với pháp ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến chấp sai lầm: 1. Chấp sắc lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc; 2. Chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã; 3. Ngoài sắc chấp ngã riêng; 4. Ngã tức là Sắc. Sắc ấm như thế thì các ấm kia cũng thế, cọng thành 20 kiến, trải ba đời nhơn thành 60 kiến, thêm hai phần căn bản là Đoạn kiến và Thường kiến, thành 62 món tà kiến. Vì rừng kiến chấp sai lầm ấy, nên người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.

44.- Ngũ đạo: Năm đường: Trời, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.

45.- Ngũ nhãn: 1. Nhục nhãn: Mắt thịt thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không thấy trong, vì bị sắc chất ngăn ngại; 2. Thiên nhãn: Mắt của chư Thiên nhơn tu thiền định mà thành. Mắt này có thể thấy tất cả xa gần, trước sau, trên dưới, ngày đêm, vì không có sắc chất làm ngăn ngại; 3. Huệ nhãn: mắt của hàng nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) quán thấy tất cả đều không; 4. Pháp nhãn: mắt của Bồ Tát. Bồ Tát vì độ sanh dùng Pháp nhãn thanh tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem những món phương tiện dạy dỗ khiến họ tu chứng; 5. Phật nhãn: Mắt của Phật, do trí tuệ viên mãn cứu cánh của Phật có đủ bốn con mắt trước nhưng có phần đặc biệt hơn, như: Người thấy rất xa, Phật lại thấy rất gần, người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không việc gì mà Ngài không thấy, không biết, không nghe, không cần để ý mà đều thấy nghe tất cả.

46.- Ngũ căn: 1. Tín căn; 2.Tấn căn; 3. Niệm căn; 4.Định căn; 5. Huệ căn (đã giải nơi 2 phẩm trong phần 37 phẩm trợ đạo số 26).

47.- Ngũ lực: Tức tu năm căn trên được tăng trưởng có thế lực phá trừ 5 chướng: 1. Tín lực: tín căn tăng trưởng, phá các lòng tin sai lầm mù quáng; 2. Tấn lực: tinh tấn căn tăng trưởng phá được tính lười biếng của thân tâm; 3. Niệm lực: niệm căn tăng trưởng phá được các niệm sai lầm tà vạy; 4. Định lực: định căn tăng trưởng phá được các tư tưởng loạn động; 5. Huệ lực: huệ căn tăng trưởng phá được các sự mê lầm trong 3 cõi.

48.- Tạp ác: Các việc không lành của tâm tạp nhiễm gây tạo. Hai chữ tạp ác đây, ý nói, dù làm mọi việc phước thiện mà tâm tạp nhiễm tán loạn cũng gọi là tạp ác. Chỉ dứt trừ vọng tưởng đến đạo lý cứu cánh Niết Bàn mới gọi là lìa các tạp ác.

49.- Vô thượng Bồ đề: Tức trí giác tuyệt đối, cũng như chữ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có giải ở trước.

50.- A Nan: Nói đủ A Nan Đà (Anada), Tàu dịch là Khánh Hỷ, ông là con chú bác với Phật Thích Ca, học rộng, nhớ nhiều là bực đa văn thứ nhứt trong hàng Thanh Văn đệ tử.

51.- Kim cang: Một chất rất cứng chắc không chi phá vỡ nó được, mà nó lại hay phá vỡ các thứ cứng khác.

52.- Pháp thân: Có 3 thứ: 1. Pháp Hóa sanh thân, tức là thân Kim cang, 2. Ngũ phần pháp thân (đã giải nơi phẩm 2) 3. Thật tướng của các pháp, đồng hợp thành thân Phật!

53.- Tư dục thân: Thân hình do tư tưởng ái dục đợi duyên hòa hiệp sanh ở trong 3 cõi.

54.- Vô lậu: Không còn rơi lọt, tức từ các bực Thánh trong hàng Thanh Văn, Bồ Tát tu hành đã dứt hết phiền não, tự tâm thanh tịnh giải thoát, không còn nghiệp chướng rơi lọt vào trong ba cõi sanh tử nữa nên gọi là vô lậu.

55.- Năm món trược: 1. Kiếp trược: thời gian biến đổi không ngừng có đủ 4 món trược dưới đây: 2. Kiến trược: sự thấy biết sai lầm, tin nhận tà vậy, chính là những món “Lợi sử” vậy. 3. Phiền não trược: tham sân lừng lẫy, si mê điên đảo v.v… chính là những món “Độn sử” vậy. 4. Chúng sanh trược: sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt. 5. Mạng trược: thọ mạng ngắn ngủi.

56. Bổn duyên: Do lai duyên sự của mình.

***

IV. PHẨM BỒ TÁT(1)

BỒ TÁT DI LẶC

Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ Tát Di Lặc:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Di Lặc bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lại lúc trước con nói hạnh “bất thối chuyển” (3), cho vị Thiên Vương ở cõi trời Đâu Suất và quyến thuộc của người, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng: “Ngài Di Lặc! Thế Tôn thọ ký (4) cho Ngài một đời sẽ được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đó là đời nào mà Ngài được thọ ký? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá khứ thời quá khứ đã qua. Nếu là đời vị lai thời vị lai chưa đến. Nếu là đời hiện tại thời hiện tại không dừng (trụ). Như lời Phật nói: “Này Tỳ Kheo! Như ông ngay bây giờ cũng sanh, cũng già, cũng chết!”. Nếu dùng vô sanh (5) mà được thọ ký, thì vô sanh tức là chánh vị (6), ở trong chánh vị cũng không thọ ký, cũng không được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế nào Di Lặc được thọ ký một đời ư? Là từ “Như” sanh mà được thọ ký, hay là từ “Như” diệt mà được thọ ký? Nếu từ Như sanh mà được thọ ký, mà Như không có sanh. Nếu từ Như diệt được thọ ký, mà Như không có diệt. Tất cả chúng sanh đều Như, tất cả Pháp cũng Như, các Thánh Hiền cũng Như, cho đến Di Lặc cũng Như. Nếu Di Lặc được thọ ký, tất cả chúng sanh cũng phải được thọ ký – Vì sao? Vì Như không hai không khác. Nếu Di Lặc được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tất cả chúng sanh cũng đều được. Vì sao? – Tất cả chúng sanh chính là tướng Bồ Đề(7). Nếu Di Lặc được diệt độ, tất cả chúng sanh cũng phải diệt độ. Vì sao? – Chư Phật biết tất cả chúng sanh rốt ráo vắng lặng, chính là tướng Niết bàn, chẳng còn diệt nữa. Cho nên Di Lặc, chớ dùng Pháp đó dạy bảo các Thiên tử, thật không có chi phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng không có chi thối lui. Ngài Di Lặc! Phải làm cho các vị Thiên tử này bỏ chỗ kiến chấp phân biệt Bồ Đề. Vì sao? Bồ Đề không thể dùng thân được, không thể dùng tâm được. Tịch diệt là Bồ Đề, vì diệt các tướng; chẳng nhận xét là Bồ Đề, vì ly các duyên; chẳng hiện hạnh là Bồ Đề, vì không ghi nhớ; đoạn là Bồ Đề, bỏ các kiến chấp; ly là Bồ Đề, lìa các vọng tưởng; chướng là Bồ Đề, ngăn các nguyện (8); bất nhập là Bồ Đề, không tham đắm; thuận là Bồ Đề, thuận chơn như; trụ là Bồ Đề, trụ pháp tánh; đến là Bồ Đề, đến thật tế; bất nhị (9) là Bồ Đề, ly ý pháp; bình đẳng là Bồ Đề, đồng hư không ; vô vi là Bồ Đề, không sanh, trụ, diệt; tri là Bồ Đề, rõ tâm hạnh chúng sanh; không hội là Bồ Đề, các nhập không nhóm(10); không hiệp là Bồ Đề, rời tập khí phiền não; không xứ sở là Bồ Đề, không hình sắc; giả danh là Bồ Đề, danh tự vốn không; như huyễn hóa là Bồ Đề, không thủ xả; không loạn là Bồ Đề, thường tự vắng lặng; thiện tịch là Bồ Đề, tánh thanh tịnh; không thủ là Bồ Đề, rời phan duyên; không khác là Bồ Đề, các Pháp đồng đẳng; không sanh là Bồ Đề, không thể ví dụ; vi diệu là Bồ Đề, các Pháp khó biết.

– Bạch Thế Tôn? Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, hai trăm vị Thiên tử chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

ĐỒNG TỬ QUẢNG NGHIÊM

Phật bảo Đồng tử Quang Nghiêm:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Quang Nghiêm bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lại ngày trước con ở trong thành lớn Tỳ Da Ly vừa ra, lúc đó ông Duy Ma Cật mới vào thành, con liền chào và hỏi rằng: “Cư sĩ, từ đâu đến đây?”.

Ông đáp: “Tôi từ Đạo tràng (13) đến”.

Con hỏi: “Đạo tràng là gì?”.

Ông đáp Trực tâm là Đạo tràng, vì không hư dối; phát hạnh là đạo tràng, làm xong các việc; thâm tâm là đạo tràng, thêm nhiều công đức; Bồ Đề tâm là đạo tràng, vì không sai lầm; bố thí là đạo tràng, không mong phước báu; trì giới là đạo tràng, được nguyện đầy đủ; nhẫn nhục là đạo tràng, đối chúng sanh tâm không chướng ngại; tinh tấn là đạo tràng, không biếng trễ; thiền định là đạo tràng, tâm điều nhu (14); trí tuệ là đạo tràng, thấy rõ các Pháp; từ là đạo tràng, đồng với chúng sanh; bi là đạo tràng, nhẫn chịu sự khổ nhọc; hỉ là đạo tràng, ưa vui Chánh Pháp; xả là đạo tràng, trừ lòng thương ghét; thần thông là đạo tràng, thành tựu Pháp lục thông; giải thoát là đạo tràng, hay trái bỏ; phương tiện là đạo tràng, giáo hóa chúng sanh; tứ nhiếp là đạo tràng, nhiếp độ chúng sanh; đa văn(15) là đạo tràng, đúng theo chỗ nghe mà thật hành; phục tâm là đạo tràng, chánh quán (16) các Pháp; ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo tràng, bỏ Pháp hữu vi; tứ đế là đạo tràng, chẳng dối lầm thế gian; duyên khởi là đạo tràng, từ vô minh cho đến lão, tử đều không hết; các phiền não là đạo tràng, biết là vô ngã; tất cả Pháp là đạo tràng, biết các Pháp trống không; hàng ma là đạo tràng, không lay động; tam giới là đạo tràng, không chỗ đến; sư tử rống là đạo tràng, không sợ sệt; thập lực, vô úy, bất cộng pháp là đạo tràng, không các lỗi; tam minh là đạo tràng, không còn ngại; một niệm biết tất cả Pháp là đạo tràng, thành tựu nhứt thiết chủng trí (17). Như vậy Thiện nam tử! Nếu Bồ Tát đúng theo các Pháp ba la mật mà giáo hóa chúng sanh, thời bao nhiêu việc làm, hoặc nhứt cử nhứt động, phải biết đều là từ nơi đạo tràng mà ra, ở nơi Phật Pháp vậy”.

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, năm trăm vị Thiên nhơn đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

BỒ TÁT TRÌ THẾ

Phật bảo Bồ Tát Trì Thế:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Bồ Tát Trì Thế bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? – Nhớ lại lúc trước, con ở nơi tịnh thất, bấy giờ ma Ba Tuần (19) đem một muôn hai nghìn Thiên nữ giống như trời Đế Thích, trổi nhạc đờn ca đi đến chỗ con ở, Ma cùng với quyến thuộc cúi đầu làm lễ dưới chân con, chấp tay cung kính đứng sang một bên. Trong ý con cho là trời Đế Thích nên bảo rằng: “Lành thay, mới đến Kiều Thi Ca (20)? Dù là có phước chớ nên buông lung. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để cầu cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản mà tu pháp bền chắc (21)”.

Ma vương nói với con: “Thưa Chánh sĩ (22)! Xin Ngài nhận một muôn hai nghìn Thiên nữ này để dùng hầu hạ quét tước”. Con nói rằng: “Này Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp này, tôi là kẻ Sa môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi”. Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với con: “Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!…” Ông lại bảo Ma rằng: “Các vị Thiên nữ này nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ”. Ma sợ hãi nghĩ rằng: “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?”. Ma muốn ẩn hình mà không thể ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: “Này Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được”. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưỡng cho.

Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng:

– Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng “Các ngươi đã phát ý đạo, có Pháp vui để tự vui chớ nên vui theo ngũ dục (23) nữa”.

Thiên nữ hỏi: “Thế nào là Pháp vui?”.

Đáp: “Vui thường tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường tăng; vui lìa ngũ dục; vui quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ đại như rắn độc; vui quán nội nhập (sáu căn) như không; vui giữ gìn đạo ý; vui lợi ích chúng sanh; vui cung kính cúng dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu hòa; vui siêng nhóm căn lành, vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm đặng trí tuệ sáng suốt; vui mở rộng tâm Bồ Đề; vui hàng phục các Ma; vui đoạn phiền não; vui thanh tịnh cõi nước Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức; vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không sợ; vui ba môn giải thoát mà không vui phi thời (24); vui gần bạn đồng học; vui ở chung với người không phải đồng học mà lòng không chướng ngại, vui giúp đỡ ác tri thức; vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô lượng Pháp đạo phẩm. Đó là Pháp vui của Bồ Tát”.

Khi ấy ma Ba Tuần bảo các Thiên nữ rằng: “Ta muốn cũng các ngươi đồng trở về Thiên cung”.

Các Thiên nữ đáp: “Ông đã đem chúng tôi cho cư sĩ, chúng tôi có pháp vui, chúng tôi vui lắm, không còn muốn vui theo ngũ dục nữa”.

Ma liền thưa với ông Duy Ma Cật rằng: “Xin Ngài nên xả các Thiên nữ này; người đem tất cả vật của mình để bố thí cho kẻ khác, đó mới là Bồ Tát”.

Ông Duy Ma Cật nói: “Ta đã xả rồi, ngươi hãy đem đi để cho tất cả các người được pháp nguyện đầy đủ”.

Lúc ấy các Thiên nữ hỏi ông Duy Ma Cật rằng:

– Chúng tôi làm thế nào ở nơi cung ma?

Ông Duy Ma Cật đáp: “Này các chị, có Pháp môn tên là “Vô tận đăng”, các chị nên học. Vô tận đăng là ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng, sáng mãi không cùng tận. Như thế đó các chị? Vả lại một vị Bồ Tát mở mang dẫn dắt trăm nghìn chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đạo tâm của mình cũng chẳng bị tiêu mất, tùy nói Pháp gì đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó gọi là “Vô tận đăng”. Các chị dầu ở cung ma mà dùng Pháp môn “Vô Tận Đăng” này làm cho vô số Thiên nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác, đó là báo ơn Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh”.

Bấy giờ các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật rồi theo ma Ba Tuần trở về Thiên cung, bỗng nhiên biến mất không còn thấy nữa.

– Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật có thần lực tự tại và trí tuệ biện tài như thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.

TRƯỞNG GIẢ TỬ THIỆN ĐỨC

Phật bảo Trưởng giả tử Thiện Đức:

– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Thiện Đức bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại thuở trước, con lập ra hội đại thí ở nhà cha con, hạn trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả vị Sa môn, Bà la môn, cùng hàng ngoại đạo, kẻ nghèo khó, hèn hạ, cô độc và kẻ ăn xin. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến trong hội nói với con rằng: “Này Trưởng giả tử! Vả chăng hội đại thí không phải như hội của ông lập ra đâu, phải làm hội Pháp thí(26) chớ lập ra hội đại thí này làm gì?.

Con nói: “Thưa Cư sĩ! Sao gọi là hội Pháp thí”.

Ông đáp: “Hội Pháp thí là đồng thời cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không sau đó là hội Pháp thí”.

Con hỏi: “Thế là nghĩa gì?”.

Cư sĩ đáp: “Nghĩa là vì đạo Bồ Đề, khởi từ tâm; vì cứu chúng sanh, khởi tâm đại bi; vì muốn giữ gìn chánh pháp, khởi tâm hoan hỉ; vì nhiếp trí tuệ, làm theo tâm xả; vì nhiếp tâm tham lẫn, khởi bố thi ba la mật, vì độ kẻ phạm giới khởi trì giới ba la mật, vì không ngã (27) pháp (28), khởi nhẫn nhục ba la mật; vì rời tướng thân tâm, khởi tinh tấn ba la mật; vì tướng Bồ Đề, khởi thiền định ba la mật; vì nhứt thiết trí, khởi trí tuệ ba la mật; vì giáo hóa chúng sanh mà khởi ra “Không” ; chẳng bỏ Pháp hữu vi mà khởi “Vô tướng”; thị hiện thọ sanh mà khởi “vô tác”; hộ trì Chánh Pháp, khởi sức phương tiện; vì độ chúng sanh, khởi pháp tứ nhiếp; vì kính thờ tất cả, khởi pháp trừ khinh mạn; đối thân, mạng và tài sản, khởi ba pháp bền chắc; trong pháp lục niệm(29) khởi ra pháp nhớ tưởng; ở sáu pháp hòa kính (30), khởi tâm chất trực; chơn chánh thật hành thiện pháp, khởi sự sống trong sạch; vì tâm thanh tịnh hoan hỷ, khởi gần bậc Thánh hiền ; vì chẳng ghét người dữ, khởi tâm điều phục; vì pháp xuất gia, khởi thâm tâm; vì đúng theo chỗ nói mà làm khởi đa văn; vì Pháp vô tránh, khởi ở chỗ yên lặng; vì đi tới Phật huệ, khởi ra ngồi yên lặng (tọa thiền); vì mở ràng buộc cho chúng sanh, khởi tâm tu hành; vì đầy đủ tướng tốt và thanh tịnh cõi Phật, khởi sự nghiệp phước đức; vì muốn biết tâm niệm tất cả chúng sanh đúng chỗ nên nói pháp, khởi ra nghiệp trí; vì biết tất cả pháp không lấy không bỏ, vào môn nhứt tướng(31), khởi ra nghiệp huệ; vì đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo. Như vậy Thiện nam tử? Đó là hội pháp thí. Nếu Bồ Tát trụ nơi hội pháp thí đó, là vị đại thí chủ, cũng là phước điền cho tất cả thế gian”.

– Bạch Thế Tôn? Khi ông Duy Ma Cật nói pháp ấy, trong chúng Bà la môn hai trăm người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Lúc đó tâm con đặng thanh tinh, ngợi khen chưa từng có, cúi đầu đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật. Con liền mở chuỗi Anh lạc giá đáng trăm nghìn lượng vàng dâng lên, ông không chịu lấy. Con nói: “Thưa Cư sĩ! Xin Ngài hãy nạp thọ, tùy ý Ngài cho”. ông Duy Ma Cật liền lấy chuỗi Anh lạc chia làm hai phần, một phần đem cho người ăn xin hèn hạ nhứt trong hội, còn một phần đem dâng cho đức Nan Thắng Như Lai. Tất cả chúng trong hội đều thấy cõi nước Quang Minh và đức Nan Thắng Như Lai, lại thấy chuỗi Anh lạc ở trên đức Phật kia biến thành bốn trụ đài quí báu, bốn mặt đều trang nghiêm rực rỡ không ngăn che nhau.

Khi ấy, ông Duy Ma Cật hiện thần biến xong, lại nói rằng: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy”.

Trong thành những người ăn xin hèn hạ bực nhất thấy thần lực như vậy và nghe lời nói kia, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Như thế, các Bồ Tát đều tuần tự đến trước Phật trình bày chỗ bổn duyên của mình, vị nào cũng khen ngợi, thuật lại những lời ông Duy Ma Cật và đều nói “Không kham lãnh đến thăm bịnh ông”.

*

Chú thích:

1.- Bồ tát: Nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa (Bodhisatra) Tàu dịch là Giác hữu tình, nghĩa là tự mình đã giác ngộ, lại hay giác ngộ cho chúng sanh.

Bồ Tát có 3 bực: A) Những người mới phát tâm tu hành cầu pháp Đại thừa, tu hạnh Bồ Tát, là Bồ Tát mới phát tâm.

B) Những người học đạo Đại thừa đã lâu đời, chứng đặng bực Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Thập địa, là bực Bồ Tát tu lâu.

C) Bồ Tát chứng bực Đẳng giác (Kề Phật gọi là Bổ xứ Bồ Tát).

2.- Di Lặc: (Maitreya) Tàu dịch là Từ Thị, là họ, tên là A Dật Đa. Ngài tu hạnh từ tâm không ai sánh bằng, sau sẽ ra đời nối đức Phật Thích Ca mà thuyết pháp độ sanh gọi là Bổ xứ Bồ Tát.

3.- Bất thối chuyển: Theo Đại thừa pháp tướng có 3 bực: 1) Vị bất thối: Từ khi phát tâm tin chắc lý Đại thừa, trải muôn kiếp tu nhơn vào bực Thập trụ rồi không còn thối đọa trong đường sanh tử nữa. 2) Hạnh bất thối: Đã vào bực Sơ Địa, nơi hạnh lợi tha không còn lui sụt. 3) Niệm bất thối: Từ bực Bát địa nhẫn lên đặng Diệu trí vô công dụng, mỗi niệm mỗi niệm thẳng vào biển quả chơn như, không còn một niệm nào thối chuyển.

4.- Thọ ký: Đức Phật đối với chúng sanh phát tâm Đại thừa trao cho lời ký về sau ở nơi kiếp nào, sẽ thành Phật hiệu là gì, cõi nước tên chi, và trụ thế bao lâu, độ sanh bao nhiêu.

5.- Vô sanh: Chơn lý Niết bàn không sanh không diệt.

6.- Chánh vị: Tức thật tướng thường trú. Niết bàn của Tiểu thừa cũng gọi là chánh vị; chính là quả vị để tu chứng.

7.- Bồ đề tướng: Cái tướng không tướng là tướng Bồ đề

8.- Chướng nguyện: Chơn như đạo lý không có sự mong muốn nên ngăn tất cả sự nguyện cầu.

9.- Bất nhị: Không hai; Ý và Pháp là hai mà Bồ đề là vô tâm ý thì còn có pháp gì nữa, nên nói là không hai.

10.- Các nhập không nhóm: 6 nhập trong và ngoài, tức 6 căn và 6 trần xung nhập nhau. Tự tánh nó vốn không, nên nói là không nhóm

11.- Quang nghiêm: Là dùng trí tuệ quang minh và phước đức quang minh trang nghiêm Pháp thân thanh tịnh, gọi là Quang nghiêm

12.- Đồng tử: Chẳng luận là tuổi trẻ mới gọi là Đồng tử, mà những vị tu hành từ nhỏ tới già trọn không phạm dâm dục, không mất hạnh thanh tịnh đều được gọi là Đồng tử.

13.- Đạo tràng: Là chỗ của đức Phật thành đạo như: tòa Kim Cang; hoặc chỗ cúng dường đức Phật, chỗ tu tập ngồi thiền, nơi chùa chiền cho đến những hạnh pháp tu hành đắc đạo như trực tâm, thâm tâm v.v… cũng gọi là Đạo tràng.

14.- Điều nhu: Đối trị phiền não làm cho mềm đi.

15.- Đa văn: Rộng nghe Phật pháp, y theo chỗ nghe mà thật hành gọi là Đa văn.

16.- Chánh quán: Quán hiệp đúng như lời kinh Phật dạy là chánh quán, nếu quán khác là tà quán.

17.- Nhứt thiết chủng trí: Trí của Phật biết rõ tất cả đúng như thật.

18.- Trì Thế Bồ Tát: Là vị Bồ Tát giữ gìn Phật pháp, đem giáo hóa chúng sanh trong đời.

19.- Ba tuần: Tàu dịch là: Ác giả, sát giả, tên thứ Ác ma có ác ý, làm các việc ác, thường muốn làm dứt mất huệ mạng của người tu hành.

20.- Kiều Thi Ca: Là họ của trời Đế Thích, tên là Thích Đề Hoàn Nhơn.

21.- Tu pháp bền chắc: Có 3 pháp bền chắc là ở nơi thân mạng và của cải đều quên bỏ, mà tu hành theo chánh đạo, sẽ được cái thân bất hoại, mạng vô cùng, của vô tận, dù cho trời đất cháy tan, kiếp số có cùng tận, mà 3 món ây đều không tận, nên nói là bền chắc.

22.- Chánh sĩ: Tiếng Phạn là Bồ Tát, dịch là Chánh Sĩ, nghĩa là bực cầu chánh đạo tu hạnh Đại thừa.

23.- Ngũ dục: Năm món làm khởi tâm ham muốn của người: 1) Sắc, 2) Thinh, 3) Hương, 4) Vị, 5) Xúc. Lại có chỗ nói: 1) Của cải, 2) Sắc đẹp, 3) Uống ăn, 4)Danh dự, 5) Ngủ nghỉ.

24.- Vui ba môn giải thoát, không vui phi thời: Ba môn 1)Không, 2)Vô tướng, 3)Vô tác. Ba thừa đều noi theo tu tập gọi là môn, cởi mở sự ràng buộc gọi là giải thoát. Tu hành chưa đến chỗ cùng tột, giữa chừng muốn thủ chứng như hàng Nhị thừa, đó là Phi Thời. Hàng Bồ Tát không muốn như thế nên nói là không vui phi thời.

25.- Trưởng giả tử Thiện Đức: Là vị trưởng giả có căn lành đầy đủ, cội đức trồng sâu nên xưng là Thiện Đức.

26.- Pháp thí: Thí có 3 cách: 1)Tài thí: là dùng của cải bố thí cho người; 2) Tâm thí: dùng tâm từ, tâm bình đẳng ban sự vui cho người, 3)Pháp thí: Nói pháp độ người làm những việc lợi ích chúng sanh hiện tại và vị lai.

27.- Ngã: Phần tác động chủ tể.

28.- Pháp: Phần thể chất, hình tượng, nghĩa lý, vũ trụ.

29.- Lục niệm: 1) Niệm Phật: tưởng niệm đấng thực hiện sự thực, 2) Niệm Pháp: tưởng niệm sự thực; 3) Niệm Tăng: tưởng niệm người thực hành sự thực; 4) Niệm giới: tưởng niệm công đức giới pháp và sự giữ giới; 5) Niệm thí: tưởng niệm sự bố thí; 6) Niệm thiên: tưởng niệm sanh về cõi chư Thiên. Thiên có 3: 1) Tam giới thiên: cõi Dục, Sắc và Vô Sắc; 2) Tịnh thiên: cảnh giới của Nhị thừa sanh về. 3) Đệ nhứt nghĩa thiên: cảnh giới của Bồ Tát sanh về.

30.- Sáu pháp hòa kính: 1)Thân hòa kính: Thân nghiệp đồng cung kính nhau. 2)Khẩu hòa kính: Khẩu nghiệp đồng ngợi khen khuyên nhủ nhau. 3)Ý hòa kính: Tâm ý đồng tín mến nhau. 4)Giới hòa kính: Đồng giữ một giới pháp. 5)Kiến hòa kính: Chỗ hiểu biết đồng giải bày cho nhau. 6)Lợi hòa kính: Đồng chia các món cúng dường.

31.- Nhứt tướng: Thể tánh chơn thật bình đẳng, không có tướng sai khác, nên gọi là Nhứt tướng.

***