1
2
3
4
5

Luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh

Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận

Vô Trước Bồ Tát tạo Đường Ba La Pha Mật Đa La dịch

Bản Việt dịch của Quảng Minh

***

Phẩm Một: DUYÊN KHỞI

Kệ tụng:

Nghĩa trí giải các nghĩa,

Ngôn cú không nhiễm ô.

Cứu giúp chúng sanh khổ,

Do tự tánh từ bi,

Khéo thuyết pháp phương tiện,

Gọi là thừa tối thượng.

Vì người phát đại tâm,

Lược dùng năm nghĩa nói.

Giải thích:

Luận giải về sự trang nghiêm kinh điển Đại thừa thì ai có thể trang nghiêm?

Đáp: [Bậc] nghĩa trí có thể trang nghiêm.

Hỏi: Vì sao [bậc] nghĩa trí có thể trang nghiêm?

Đáp: Vì khai mở các nghĩa.

Hỏi: Dùng gì khai mở?

Đáp: Dùng ngôn từ và câu cú.

Hỏi: Ngôn từ như thế nào, câu cú như thế nào?

Đáp: Đó là ngôn từ không ô nhiễm và câu cú không ô nhiễm. Ngôn từ không ô nhiễm là ngôn từ đưa đến thành Niết-bàn. Câu cú không ô nhiễm là từ ngữ và câu tương ưng. Nếu lìa ngôn từ không ô nhiễm và câu cú không ô nhiễm thì các nghĩa lý không thể được thấu hiểu.

Hỏi: Dùng nghĩa gì để trang nghiêm?

Đáp: Nghĩa cứu giúp chúng sanh đang khổ sở.

Hỏi: Chúng sanh tự làm khổ, dùng nhân tố nào để cứu giúp?

Đáp: Bậc Bồ tát lấy tâm đại bi làm tự thể, thương xót chúng sanh.

Hỏi: Việc cứu khổ chúng sanh thì trang nghiêm cho pháp gì?

Đáp: Trang nghiêm pháp phương tiện mà Như lai đã khéo nói.

Hỏi: Thế nào là pháp phương tiện?

Đáp: Đó là pháp tối thượng thừa.

Hỏi: Vì ai mà trang nghiêm?

Đáp: Vì người phát tâm Đại thừa.

Hỏi: Có mấy nghĩa trang nghiêm?

Đáp: Lược có năm nghĩa thị hiện.

Hỏi: Thế nào là năm nghĩa?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Như vàng làm vật dụng

Như hoa đang độ nở

Như ăn một bữa ngon

Như hiểu biết văn tự

Như mở cái tráp báu

Mỗi việc được hoan hỷ

Năm nghĩa pháp trang nghiêm

Hoan hỷ cũng như vậy.

Giải thích:

Năm thí dụ này dụ cho năm nghĩa pháp trang nghiêm kia. Năm nghĩa pháp có thể làm người phát khởi tâm Đại thừa, tuần tự là: tín hướng, thọ giáo, tư duy, tu tập và chứng đắc.

Hỏi: Năm nghĩa pháp ấy như thế nào?

Đáp: Thí dụ vàng làm vật dụng chỉ cho sự tin tưởng hướng về giáo pháp (tín hướng) làm chuyển hóa tâm thức chúng sanh. Thí dụ hoa đang độ nở chỉ cho sự tiếp nhận giáo pháp (thọ giáo) làm cho chúng sanh khai mở tâm thức. Thí dụ ăn một bữa ngon chỉ cho sự tư duy giáo pháp (tư duy) thì có được mùi vị của giáo pháp. Thí dụ hiểu biết văn tự chỉ cho sự tu tập không có do dự (tu tập). Thí dụ mở cái tráp báu chỉ cho sự chứng đắc bồ-đề phần bảo chân thật (chứng đắc), tức là sự tự giác chứng. Do năm nghĩa pháp này mà phân biệt Đại thừa (là thế nào), làm cho người phát tâm sanh tâm ưa thích (Đại thừa).

Hỏi: Nếu pháp Đại thừa có đầy đủ tự tánh và công đức thì còn nghĩa nào nữa cần cho sự trang nghiêm?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Như trang sức vật đẹp

Soi gương sanh vui thích

Diệu pháp trang nghiêm rồi

Được cái vui thứ nhất.

Giải thích:

Thí như người trang sức thêm vật đẹp trên thân, đứng trước gương soi thì sanh lòng vui vẻ. Vì sao? Vì có sự vui thích. Bồ tát cũng vậy, trang nghiêm bằng diệu pháp, nghĩa là thể nhập tự tâm, thì sanh tâm hoan hỷ thù thắng. Vì sao? Có câu hỏi sau đây.

Hỏi: Diệu pháp có công đức gì cần cho sự trang nghiêm? Vì sao thôi thúc người sanh tâm cung kính, tin tưởng, tiếp nhận diệu pháp?

Kệ tụng:

Thí như uống thuốc đắng

Bịnh bớt là nhờ thuốc

Trú văn và hiểu nghĩa

Khổ vui cũng như vậy.

Như việc khó hầu vua

Nhờ hầu được uy quyền

Cũng vậy pháp khó hiểu

Nhờ hiểu được pháp tài.

Thí như thấy báu sanh

Không biết thì không thích

Cũng vậy nghe diệu pháp

Không giác ngộ, không vui.

Giải thích:

Ba bài kệ tụng trên lần lượt chỉ ra diệu pháp có ba công đức: 1. Công đức của nhân tố đoạn chướng; 2. Công đức của nhân tố tự tại; 3. Công đức của nhân tố diệu hỷ.

Hỏi: Nghĩa này như thế nào?

Đáp: Như việc uống thuốc đắng, lúc đầu khổ sở vì thuốc đắng khó uống, sau đó vui vẻ vì bịnh tình thuyên giảm. Diệu pháp cũng như vậy, lúc trú ở nơi văn tự thì khổ sở vì khó được pháp vị, nhưng khi hiểu biết được nghĩa lý thì vui thích vì phá được bịnh chướng. Như hầu vị vua nghiêm minh, ban đầu thì khổ sở vì khó được vừa ý vua, nhưng sau đó thì vui vẻ vì được vua ban cho uy quyền. Diệu pháp cũng như vậy, khi tư duy giáo pháp thì khổ sở vì sự thâm sâu, khó hiểu của giáo pháp, nhưng khi tư duy thấu hiểu giáo pháp thì an vui vì tăng trưởng tài sản của bậc Thánh. Như việc nhìn thấy báu vật sanh ra, khi không biết đó là báu vật nên không ưa thích, cho nó là vô dụng, nhưng khi biết được đó là báu vật thì quý trọng, biết nó có công dụng. Diệu pháp cũng như vậy, khi tu hành thì không hoan hỷ, cho là trống rỗng, không thấy được công dụng của sự tu hành, nhưng khi tu hành chứng đắc thì có niềm vui sâu xa, biết rằng sự tu hành có công dụng lớn.

Phẩm Duyên Khởi trọn vẹn

Phẩm Hai: THÀNH TÔNG

Giải thích:

Có người nghi ngờ rằng pháp Đại thừa không phải do đức Phật nói ra thì làm sao pháp Đại thừa có công đức có thể thủ đắc. Nay tôi xác quyết lưới nghi ngờ kia rằng sự thành lập Đại thừa là sự thật chắc chắn do đức Phật nói ra.

Kệ tụng:

Không dự ký, cùng hành

Không hành và thành tựu

Thể, phi thể, năng trị

Văn khác, tám nhân thành.

Sự thành lập Đại thừa lược nói có tám nhân tố: 1. Không dự ký; 2. Cùng thực hành; 3. Không cùng thực hành; 4. Thành tựu bồ-đề; 5. Thể Đại thừa; 6. Chẳng phải thể Đại thừa; 7. Khả năng đối trị; 8. Văn nghĩa khác lạ.

1. Không dự ký: Khi chánh pháp đã diệt mất thì sau đó một đức Phật chánh thức xuất hiện. Nếu Đại thừa không phải là chánh pháp, tại sao đức Thế Tôn ban đầu không dự ký việc đó? Giả dụ như trong thời gian vị lai mà có giáo pháp nào khác thì ắt hẳn đức Thế Tôn đã dự ký, cho nên sự không dự ký [của đức Thế Tôn] cho thấy Đại thừa là do Phật thuyết.

2. Cùng thực hành: Thanh văn thừa và Đại thừa không thể nói rằng thừa nào có trước, thừa nào có sau, mà đồng thời cả hai thừa cùng thực hành [chánh pháp]. Ông làm sao biết chỉ riêng pháp Đại thừa là không phải do Phật thuyết?

3. Không cùng thực hành: Pháp Đại thừa sâu rộng, không phải là đối tượng phỏng đoán của con người để có thể tin hiểu, huống là có thể thực hành. Luận thuyết của ngoại đạo không có luận điểm nào cho thấy họ thủ đắc Đại thừa, nói cách khác là họ không thực hành pháp Đại thừa. Do ngoại đạo không cùng thực hành pháp Đại thừa, nên Đại thừa là do Phật thuyết.

4. Thành tựu bồ-đề: Nếu ông nói rằng bậc nào đó chứng đắc bồ-đề nói có Đại thừa, chứ không phải đức Phật Thích-ca nói có Đại thừa, như vậy quan điểm của ông đồng với quan điểm của tôi: bậc chứng đắc bồ-đề nói có Đại thừa, cũng tức là nói đức Phật Thích-ca có nói như vậy.

5. Thể Đại thừa: Nếu ông nói đức Phật khác thì có cái thể Đại thừa còn đức Phật Thích-ca không có cái thể Đại thừa, như vậy quan điểm của ông đồng với quan điểm của tôi: Đại thừa không có cái thể sai biệt mà là nhất thể.

6. Chẳng phải thể Đại thừa: Nếu ông nói đức Phật Thích-ca không có cái thể Đại thừa, thì Thanh văn thừa cũng vô thể. Nếu ông nói Thanh văn thừa là do Phật nói nên hữu thể, Đại thừa không phải do Phật nói nên vô thể. Quan điểm như vậy là hết sức sai lầm. Nếu không có Phật thừa mà có Phật xuất thế nói Thanh văn thừa, lý lẽ đó không đúng.

7. Khả năng đối trị: Do y theo pháp Đại thừa tu hành được trí vô phân biệt. Trí vô phân biệt có năng lực phá các phiền não. Vì nhân tố đối trị phiền não nên không thể nói rằng không có Đại thừa.

8. Văn nghĩa khác lạ: Pháp Đại thừa sâu xa, không phải văn nghĩa bình thường. Không nên chỉ một mặt chạy theo văn, nắm lấy nghĩa mà nói rằng văn nghĩa đó không phải lời Phật. Lại nữa, nếu ông nói ban đầu Phật không dự ký là do Phật với cái tâm vô công dụng mà buông bỏ. Quan điểm của ông như vậy là không hợp nghĩa lý.

Kệ tụng:

Chư Phật ba nhân duyên

Hiện thấy và hộ pháp

Trí Như lai vô ngại

Bậc xả không nên vậy.

Giải thích:

Nếu pháp Đại thừa chẳng phải Phật thuyết thì đó là một chướng ngại lớn. Phật có ba nhân duyên, thì không lý do gì Phật không dự ký. Ba nhân duyên là: 1. Phật thì vô công dụng nên trí [vô phân biệt] thường khởi và năm nhãn thường thấy; 2. Phật thường xuyên làm sự chánh cần để thủ hộ chánh pháp; 3. Trí lực của Phật không có chướng ngại.

Phật có ba nhân duyên này, ông lại nói Phật buông xả nên không dự ký, là không hợp đạo lý. Lại nữa, nếu ông nói Đại thừa là hữu thể thì tức là nói Thanh văn thừa là thể của Đại thừa. Vì sao? Vì thừa nhận Thanh văn thừa cũng đắc quả đại bồ-đề. Quan điểm của ông như vậy là không hợp nghĩa lý.

Kệ tụng:

Chẳng toàn, chẳng không trái

Chẳng hành, chẳng dạy bảo

Đó là Thanh văn thừa

Chẳng phải là Đại thừa.

Giải thích:

Có bốn nhân duyên chẳng phải để chỉ ra rằng Thanh văn thừa là thể của Đại thừa, đó là chẳng phải hoàn toàn, chẳng phải không trái, chẳng phải thực hành và chẳng phải dạy bảo.

Chẳng phải hoàn toàn: Thanh văn thừa không có sự dạy bảo lợi người, mà chỉ tự mình yểm ly, ly dục, giải thoát mà có sự dạy bảo.

Chẳng phải không trái: Nếu nói Thanh văn thừa dùng phương tiện là bản thân [tu hành] để dạy bảo cho người, tức có sự dạy bảo lợi người, nghĩa này không đúng. Vì sao? Tuy lấy sự lợi mình để cho người sự yên ổn nhưng hàng Thanh văn chỉ vì cầu niết-bàn cho mình mà tinh tiến thực hành phương tiện dạy bảo, chứ không coi sự dạy bảo đó là vì đắc đại bồ-đề.

Chẳng phải thực hành: Nếu ông nói hàng Thanh văn có thể thực hành lâu xa công hạnh của Thanh văn thừa thì cũng đắc đại bồ-đề, nghĩa này không đúng, bởi lẽ không phải phương tiện. Thanh văn thừa không phải phương tiện của đại bồ-đề, cho nên không thể lấy cái phi phương tiện là sự thực hành lâu xa mà có thể chứng đắc quả Đại thừa. Thí như vắt sừng tìm sữa là không thể có được.

Chẳng phải dạy bảo: Đại thừa có sự dạy bảo, còn Thanh văn thừa thì không có sự dạy bảo, cho nên nói Thanh văn thừa không thể chính là Đại thừa được.

Lại nữa, sau đây tôi sẽ chỉ ông thấy những nghĩa lý trái ngược [giữa Thanh văn thừa và Đại thừa].

Kệ tụng:

Phát tâm và dạy bảo

Phương tiện và trú giữ

Thời gian, thừa thượng hạ

Năm việc hết thảy khác.

Giải thích:

Thanh văn thừa và Đại thừa có năm điểm trái ngược nhau: 1. Phát tâm khác; 2. Dạy bảo khác; 3. Phương tiện khác; 4. Trú giữ khác; 5. Thời gian khác.

Hàng Thanh văn thừa phát tâm, dạy bảo và siêng làm phương tiện đều vì chứng đắc niết-bàn cho mình, trú giữ thì ít vì khối phước đức và trí tuệ nhỏ bé, thời gian cũng ít ỏi vì tu tập chỉ ba đời được giải thoát. Đại thừa không như vậy, sự phát tâm, dạy bảo và siêng làm phương tiện của hàng Đại thừa đều vì lợi người, sự trú giữ thì nhiều vì khối phước đức và trí tuệ lớn lao, thời gian cũng nhiều vì phải trải qua ba vô số kiếp. Qua những điểm trái ngược như vậy thì không nên lấy công hạnh Tiểu thừa để được quả Đại thừa.

Lại nữa, nếu ông nói rằng Phật ngôn có ba sắc thái: 1. Nhập vào tu-đa-la; 2. Hiển thị tỳ-ni; 3. Không trái với pháp không. Ông lấy tất cả pháp đều không có tự tánh làm sự dạy bảo, điều đó đi ngược ba sắc thái ở trên nên không phải là ngôn ngữ mật ý của Phật. Quan điểm của ông như vậy là không hợp nghĩa lý.

Kệ tụng:

Nhập Đại thừa từ kinh

Hiện phiền não từ diệt

Nghĩa rộng lớn sâu xa

Không trái từ pháp không.

Giải thích:

Ở đây, Đại thừa cũng không đi ngược ba sắc thái của Phật ngôn: một là, Đại thừa chính là nhập vào tu-đa-la, [vì kinh điển Đại thừa khế hợp với tu-đa-la]; hai là, phiền não chính là hiển thị tỳ-ni, vì Bồ tát chủ trương sự [hư vọng] phân biệt là phiền não; ba là, pháp rộng lớn sâu xa chính là pháp không của Bồ tát, vì không trái với pháp không thì đắc đại bồ-đề. Cho nên nói Đại thừa không đi ngược với ba sắc thái của Phật ngôn.

Lại nữa, trước có nói về chẳng phải thực hành, nay tôi muốn chỉ bày thêm nghĩa lý này cho ông tin nhận.

Kệ tụng:

Có y và bất định

Duyên tục và không khắp

Thoái lui, người kế đạc

Đâu hiểu nghĩa Đại thừa.

Giải thích:

Do có năm nhân tố làm cho người kế đạc không thể đi vào cảnh giới Đại thừa. Trí tuệ của vị đó bị giới hạn vì có chỗ dựa vào, không có sự quyết định, duyên theo tục đế, không cùng khắp và có sự lùi bước khuất phục. Có chỗ dựa vào, là trí tuệ có được nhờ dựa vào giáo pháp mà sanh, không phải là trí tuệ chứng đắc. Không có sự quyết định, là tùy thời gian và xứ sở mà có những loại trí khác nhau sanh khởi. Duyên theo tục đế, là trí kế đạc thế tục đế, không thể thông đạt đệ nhất nghĩa đế. Không cùng khắp, là tuy duyên theo thế tục đế nhưng sự hiểu biết vẫn có giới hạn nhỏ hẹp, không thể hiểu biết mọi vấn đề. Có sự lùi bước khuất phục là trong sự tranh luận, biện tài có chỗ bế tắc đành phải im lặng chấp nhận.

Hàng Đại thừa không có chỗ dựa vào, cho đến không có sự lùi bước khuất phục. Không có sự lùi bước khuất phục là trong vô lượng kinh điển có nêu lên trăm ngàn kệ tụng nói về pháp Đại thừa, do tâm đắc với pháp này mà hàng Đại thừa có được biện tài vô tận. Cho nên nói Đại thừa không phải cảnh giới của người kế đạc.

Hỏi: Ông nói Thanh văn thừa chẳng cần phương tiện để đi đến Phật quả bồ-đề, như vậy là nghĩa gì?

Kệ tụng:

Rộng lớn và sâu xa

Thành thục vô phân biệt

Nói hai thứ phương tiện

Đó là vô thượng thừa.

Giải thích:

Rộng lớn, là nói về các thần thông trong việc tinh cần không mỏi mệt dùng mọi phương tiện làm sao cho người tin hiểu [Phật pháp]. Sâu xa, là nói về trí vô phân biệt trong việc thực thi hai công việc khó khăn: một là, thành thục chúng sanh; hai là, thành thục Phật pháp. Hai công việc này chính là hai phương tiện đưa đến quả vị Vô thượng bồ-đề. Hai phương tiện này chính là thể của Vô thượng thừa.

Hỏi: Vậy mà có người đối với Đại thừa có sự sợ hãi, lỗi lầm đó thế nào?

Kệ tụng:

Không đáng sợ lại sợ

Do sợ bị thiêu đốt

Sợ dẫn đến không phước

Lâu dài tai nạn khởi.

Giải thích:

Nếu người ở nơi không có sợ hãi bỗng vọng sanh sợ hãi, người ấy liền đọa đường dữ cực nóng, bị thiêu đốt. Vì sao? Do sự sợ hãi mà dẫn sanh cái khối lớn không phước, và do lỗi lầm này mà khiến cho người ấy phải trải qua vô lượng kiếp nhận chịu nỗi khổ nóng bức lớn lao.

Hỏi: Người ấy do nhân gì sanh sợ hãi [đối với Đại thừa]?

Kệ tụng:

Không tánh, không bạn pháp

Ít tuệ, ít sức nhân

Sợ pháp sâu mầu này

Lùi mất đại bồ-đề.

Giải thích:

Người sanh sợ hãi [đối với Đại thừa] do bốn nguyên nhân: 1. Không có chủng tánh, là rời xa chủng tánh Bồ tát; 2. Không có bạn pháp, là rời xa thiện tri thức; 3. Ít sức tuệ, là chưa hiểu pháp không của Đại thừa; 4. Ít sức nhân tố, là đời trước không gieo trồng tự tánh thiện căn của các ba-la-mật. Do các nguyên nhân này mà sanh ý tưởng sợ hãi đối với diệu pháp sâu xa. Do ý tưởng sợ hãi này nên không có được hai khối phước đức và trí tuệ của đại bồ-đề mà lẽ ra đáng được, gọi đó là lùi bước. Nay ông nên biết, sự lùi bước này là lỗi lầm tai hại hết sức sâu nặng.

Đã nói lỗi lầm và nguyên nhân của sợ hãi, kế nói nguyên nhân không nên sợ hãi.

Kệ tụng:

Không khác tức đều không

Có khác tức chỗ hiểm

Không sánh, các học thuyết

Thuyết liên tục, nhiều môn

Chẳng có như văn nghĩa

Chư Phật thể sâu xa

Thông tuệ người chánh quán

Phải biết không nên sợ.

Giải thích:

Không khác tức đều không [hữu thể]: Nếu ông nói Thanh văn thừa tức là Đại thừa, cũng tức là nói thể Thanh văn thừa không khác cái thể Đại thừa. Nói như vậy cũng tức là nói Thanh văn thừa, Bích-chi Phật thừa đều không có tự thể. Vì sao? Vì cùng đắc quả Phật nên tất cả các thừa đều là Phật thừa, thì nguyên nhân gì phải sợ hãi?

Có khác tức chỗ hiểm: Nếu ông thừa nhận cái thể Thanh văn thừa có khác cái thể Đại thừa, mà cái thể Đại thừa đó chính là con đường dẫn đến nhất thiết trí, là con đường có rất nhiều chỗ hiểm nạn. Do vì khó vượt qua Đại thừa, chỉ có thể ngưỡng mộ và tin tưởng Đại thừa, thì nguyên nhân gì phải sợ hãi?

Không thể so sánh: Trong cùng một thời gian không có hai loại Đại thừa cùng xuất hiện để so sánh, thì nguyên nhân gì sợ một mà không sợ hai?

Các học thuyết: Nay Đại thừa ở đây không chỉ nói về học thuyết pháp không mà còn nói về học thuyết khối phước đức và trí tuệ lớn lao, nên hiểu mật ý này, thì nguyên nhân gì chỉ sợ học thuyết pháp không?

Thuyết giảng liên tục: Phật ở trong tất cả thời gian đều quyết định giảng thuyết về pháp không một cách liên tục, ông chẳng nghe qua, nguyên nhân gì phải sợ?

Thuyết nhiều pháp môn: Trong các kinh điển có nhiều pháp môn, nhiều học thuyết khác nhau, nhưng đều hiển thị tác dụng trọng yếu của Đại thừa là phá hủy sự hư vọng phân biệt để thành tựu trí vô phân biệt. Nếu các pháp môn, học thuyết khác nhau ấy không có tác dụng lớn lao như vậy, thì Như Lai chỉ nên nói về pháp không mà thôi, không cần phải nói về chân như, pháp tánh, thật tế v.v… Đã nói có nhiều pháp môn [giải thoát] thì nguyên nhân gì chỉ sợ học thuyết pháp không?

Chẳng có như văn nghĩa: Pháp Đại thừa sâu xa, không phải chỉ phân biệt trên bình diện văn và nghĩa. Nếu chỉ theo văn, lấy nghĩa thì nguyên nhân gì phải sợ học thuyết pháp không?

Chư Phật thể sâu xa: Phật tánh rất sâu xa khó mà giác ngộ, không phải lãnh vực của nhận thức, nên chỉ là cầu mong học hiểu, thì nguyên nhân gì phải sợ?

Do các nhân tố như vậy, bậc thông tuệ có chánh quán không nên sợ hãi đối với Đại thừa.

Đã nói nguyên nhân không nên sợ hãi, kế nói trí tuệ có khả năng tu hành pháp Đại thừa.

Kệ tụng:

Tuần tự văn tư tu

Được pháp và được tuệ

Trí này hành pháp này

Chưa được chớ hủy bỏ.

Giải thích:

Nếu người tu hành ban đầu dựa vào vị thiện tri thức thì có khả năng sanh khởi sự nghe chánh pháp, tiếp theo là từ [sự hiểu biết] văn nghĩa chánh pháp mà có khả năng sanh khởi sự nghĩ nhớ chánh pháp, sau đó cái trí về chánh pháp được phát sanh từ cảnh giới chân thật. Từ chánh pháp trí mà chứng đắc pháp quả, và cũng từ chánh trí về sau sanh khởi giải thoát trí. Bằng chánh pháp trí, người này tùy thuận và nhập vào chánh pháp một cách sâu xa, có khả năng tu hành pháp Đại thừa. Nếu bản thân ông không có trí này thì không nên xác quyết Đại thừa chẳng phải lời Phật.

Đã nói về chánh trí có khả năng tu hành pháp Đại thừa, kế nói kệ tụng về sự ngăn ngừa sợ hãi đối với pháp Đại thừa.

Kệ tụng:

Không hiểu, hiểu không sâu

Sâu chẳng suy lường hiểu

Hiểu sâu được giải thoát

Chẳng nên sợ hãi vậy.

Giải thích:

Không hiểu: Nếu ông nói, pháp sâu như vậy không phải là chỗ hiểu biết của tôi, do đó ông sanh tâm sợ hãi, là không hợp lý.

Hiểu không sâu: Nếu ông nói, chính Phật cũng không hiểu một câu hỏi sâu xa, làm sao Phật giảng dạy pháp sâu xa, do đó ông sanh tâm sợ hãi, là không hợp lý.

Sâu chẳng suy lường hiểu: Nếu ông nói, vì sao pháp Đại thừa sâu xa, chẳng phải là cảnh giới có thể suy lường, do đó ông sanh tâm sợ hãi, là không hợp lý.

Hiểu sâu được giải thoát: Nếu ông nói, vì sao chỉ có hiểu nghĩa lý sâu xa [của Đại thừa] mới có thể được giải thoát, chẳng phải người suy lường có thể được giải thoát, do đó ông sanh tâm sợ hãi, là không hợp lý.

Như vậy đã nói kệ tụng về sự ngăn ngừa sợ hãi đối với pháp Đại thừa, kế nói sự không tin có sự thành lập Đại thừa.

Kệ tụng:

Do tiểu tín, giới, bạn

Không hiểu sâu pháp lớn

Do ông không hiểu biết

Sự thành thừa vô thượng.

Giải thích:

Tín Tiểu thừa là đức tin và hiểu biết nhỏ hẹp, kém cỏi. Giới Tiểu thừa là huân tập những chủng tử Tiểu thừa trong thức a-lại-da. Bạn Tiểu thừa là những người có đức tin và giới tương tự làm quyến thuộc. Tín, giới và bạn hoàn toàn ở trong phạm vi Tiểu thừa thì không tin rằng ngoài Tiểu thừa có pháp Đại thừa. Do sự không tin này [của ông] mà chỗ lập cước của tôi là pháp vô thượng được thành tựu.

Đã nói sự thành lập Đại thừa, kế nói sự ngăn ngừa việc hủy báng Đại thừa:

Kệ tụng:

Nhờ nghe mà hiểu được

Chưa nghe chớ khinh chê

Vô lượng người chưa nghe

Chê bai thành nghiệp si.

Giải thích:

Ông theo Tiểu thừa, nghe pháp Tiểu thừa mà có được giác ngộ, không nên theo sự nghe ấy rồi sanh khinh chê. Ông chưa nghe pháp Đại thừa nên đương nhiên không có đức tin. Vì sao? Vì ông không có tích chứa thiện căn. Người chưa nghe Đại thừa thì nhiều, nhưng phải thận trọng chớ có khinh chê Đại thừa. Ông không biết nhận định toàn diện, chỉ biết khinh chê thì làm tăng thêm nghiệp si mê, phá hủy mọi sự nghe biết của ông.

Đã nói sự ngăn ngừa việc hủy báng Đại thừa, kế nói sự ngăn ngừa tư duy sai lầm.

Kệ tụng:

Khi theo văn lấy nghĩa

Sư tâm, thoái chân tuệ

Chê thuyết và khinh pháp

Duyên đây lỗi lớn sanh.

Giải thích:

Lấy tâm ý làm thầy, là kiến thủ của mình, tức nghiêng lệch tìm cầu nghĩa lý nên không phải bậc trí. Thoái lui chân tuệ, là chưa có được trí tuệ lý giải nghĩa chân thật nên thoái lui. Chê bai học thuyết, là hủy hoại những học thuyết tốt đẹp. Khinh khi giáo pháp, là ghét bỏ những gì nghe được [về pháp Đại thừa]. Duyên theo những tư duy phi phước này, thân sau của ông chịu quả báo khổ lớn lao. Đây gọi là lỗi lầm lớn sanh khởi.

Đã nói sự ngăn ngừa tư duy sai lầm, kế nói sự ngăn ngừa ý nghĩ xấu xa.

Kệ tụng:

Ác ý, tự tánh ác

Bất thiện không nên khởi

Huống khởi nơi thiện pháp

Nên bỏ lỗi lầm lớn.

Giải thích:

Ác ý, là tâm ganh ghét. Tự tánh ác, là tâm ganh ghét ấy chính là tự tánh tội. Không thể để cho tâm ấy sanh khởi trong bất thiện pháp, huống là để cho tâm ấy sanh khởi trong thiện pháp? Vì vậy phải cấp tốc trừ bỏ lỗi lầm tai hại lớn lao ấy.

Phẩm Thành Tông trọn vẹn

Phẩm Ba: QUY Y

Giải thích:

Sự thành lập Đại thừa là như vậy, kế dựa vào Đại thừa mà nhiếp thọ sự quy y thù thắng.

Kệ tụng:

Người quy y Tam bảo

Đại thừa quy trên hết

Khắp tất cả, dũng mãnh

Đắc quả, không đạt đến.

Giải thích:

Trong tất cả sự quy y Tam bảo, nên biết sự quy y Tam bảo của Đại thừa là trên hết. Vì sao? Vì có bốn thứ đại nghĩa thuộc về tự tánh cho nên nói là thù thắng. Bốn đại nghĩa đó là: 1. Đại nghĩa khắp tất cả; 2. Đại nghĩa dũng mãnh; 3. Đại nghĩa đắc quả; 4. Đại nghĩa không thể đạt đến. Những đại nghĩa này sẽ nói ở sau, vì bốn đại nghĩa này có nhiều lưu nạn, như những người quy y thì có người có khả năng, có người không có khả năng, và người có khả năng [tiếp nhận Đại thừa] thì thù thắng.

Đã nói về sự quy y thù thắng, kế khuyến khích sự quy y thù thắng.

Kệ tụng:

Khó khởi cũng khó thành

Cần có ý chí lớn

Vì thành lợi mình người

Làm nên thắng quy y.

Giải thích:

Khó khởi, là khó khởi thệ nguyện thù thắng, vì [Đại thừa] phải có thệ nguyện rộng lớn. Khó thành, là khó thành công hạnh thù thắng, vì [Đại thừa] phải trải qua vô lượng kiếp [tu hành]. Do có những khó khăn như vậy, hành giả cần phải phát ý chí cao cả. Vì sao? Vì muốn thành tựu sự nghiệp lợi người và lợi mình. Lợi người là thệ nguyện và công hạnh [của Đại thừa], vì thệ nguyện và công hạnh là nhân tố của danh văn. Lợi mình là đại nghĩa [của Đại thừa], vì đại nghĩa là kết quả của tự thể [Đại thừa].

Trên đây có nêu bốn [đại] nghĩa, nay trước hết xin nói về đại nghĩa khắp tất cả.

Kệ tụng:

Chúng sanh khắp, thừa khắp

Trí khắp, tịch diệt khắp

Gọi là bậc trí tuệ

Bốn thứ khắp tất cả.

Giải thích:

Sự quy y của Đại thừa có bốn thứ khắp tất cả: 1. Khắp tất cả chúng sanh, là muốn độ tất cả chúng sanh; 2. Khắp tất cả các thừa, là hiểu biết rành rõ ba thừa; 3. Khắp tất cả các trí, là thông đạt nhân vô ngã và pháp vô ngã; 4. Khắp tất cả tịch diệt, là thể của sanh tử và thể của niết-bàn đều có mùi vị đồng nhất, là tội ác và công đức thì vô phân biệt.

Đã nói đại nghĩa khắp tất cả, kế nói đại nghĩa dũng mãnh.

Kệ tụng:

Mong mỏi Phật bồ-đề

Bất thoái, hạnh khó làm

Chư Phật bình đẳng giác

Dũng mãnh thắng có ba.

Giải thích:

Sự quy y của Đại thừa có ba thứ thù thắng dũng mãnh: 1. Nguyện thù thắng dũng mãnh, là khi quy y Phật thì cầu quả đại bồ-đề, sanh nhiều hoan hỷ và biết công đức thù thắng [của sự quy y ấy]; 2. Hạnh thù thắng dũng mãnh, là khi khởi sự tu hành thì không lùi bước, khuất phục trước những khổ hạnh khó làm; 3. Quả thù thắng dũng mãnh, là [từ nay] cho đến khi thành Phật cùng với tất cả chư Phật bình đẳng trong bản thể viên giác.

Lại nữa, do những yếu tố dũng mãnh này mà các Phật tử Đại thừa thường được sanh ra trong những điều kiện tốt.

Kệ tụng:

Phát tâm và trí độ

Khối đầy và đại từ

Chủng tử và sanh mẫu

Thai tạng nhũ mẫu thắng.

Giải thích:

Sự sanh ra trong những điều kiện tốt của Bồ tát có bốn yếu tố: 1. Chủng tử thù thắng, vì lấy tâm bồ-đề làm chủng tử; 2. Sanh mẫu thù thắng, vì lấy Bát-nhã ba-la-mật làm sanh mẫu; 3. Thai tạng thù thắng, vì lấy sự trú giữ hai khối phước đức và trí tuệ làm thai tạng; 4. Nhũ mẫu thù thắng, vì lấy sự trưởng dưỡng đại bi làm nhũ mẫu.

Lại nữa, do những yếu tố dũng mãnh của sự sanh ra trong những điều kiện tốt nên Bồ tát thường được thân thù thắng.

Kệ tụng:

Diệu tướng, lực thành sanh

Lạc lớn, phương tiện lớn

Bốn thành tựu như vậy

Gọi là thân thù thắng.

Giải thích:

Thân thù thắng của Bồ tát có bốn điều: 1. Sắc tướng thù thắng, là được thân trang nghiêm sắc tướng đẹp đẽ thù thắng như thân tướng của Chuyển luân vương; 2. Năng lực thù thắng, là được năng lực tự tại trong việc thành thục chúng sanh; 3. Ý lạc thù thắng, là được thượng phẩm tịch diệt (nhẫn) và sự an lạc vô biên của Phật địa; 4. Trí tuệ thù thắng, là được phương tiện thiện xảo để cứu giúp tất cả chúng sanh.

Bốn thành tựu này chính là sự sanh trưởng tốt của Phật tử, đó là sắc tướng thành tựu, năng lực thành tựu, ý lạc thành tựu và trí tuệ thành tựu.

Lại nữa, do những yếu tố dũng mãnh của bốn thành tựu này mà Phật tử được địa vị tương tự như vương tử.

Kệ tụng:

Trước trao, pháp tự tại

Khéo nói, khéo trị nhiếp

Do bốn nhân tố này

Giống Phật không đoạn dứt.

Giải thích:

Do bốn nhân duyên để hạt giống vua chúa không đoạn dứt: 1. Nhập vị thọ chức; 2. Tăng thượng, không chống trái phép tắc; 3. Khả năng khéo quyết đoán; 4. Thưởng phạt phân minh.

Phật tử sanh trưởng với điều kiện tốt cũng vậy: 1. Trước tiên được thọ chức, là được tất cả chư Phật thọ chức qua ánh sáng vĩ đại; 2. Pháp tự tại, là có trí tuệ tự tại trong tất cả pháp, không chống trái với người khác; 3. Khả năng khéo thuyết giảng, là ở trước các chúng của Phật khéo thuyết pháp; 4. Khéo trị nhiếp, là đối với các học giới có khả năng sửa trị tội lỗi, có khả năng nhiếp lấy công đức.

Lại nữa, do những yếu tố dũng mãnh của bốn thành tựu này mà Phật tử được địa vị tương tự như đại thần.

Kệ tụng:

Nhập độ, thấy giác phần

Trì mật, lợi chúng sanh

Do bốn nhân tố này

Được tương tự đại thần.

Giải thích:

Có bốn nhân tố dành cho vị đại thần có công đức: 1. Vào được cấm cung của vua; 2. Thấy được báu vật tuyệt diệu của vua; 3. Giữ kín mật ngữ của vua; 4. Tự tại ban thưởng.

Bồ tát dũng mãnh cũng vậy: 1. Thường khéo nhập vào các ba-la-mật; 2. Thường thấy pháp bảo là các đại bồ-đề phần ở nhiều chỗ trong kinh điển, vì không quên kinh pháp; 3. Thường thọ trì thân khẩu ý mật của Như Lai; 4. Thường xuyên làm lợi ích cho vô biên chúng sanh.

Đã nói đại nghĩa dũng mãnh, kế nói đại nghĩa đắc quả.

Kệ tụng:

Phước đức và tôn trọng

Có lạc và khổ diệt

Chứng lạc, chứng pháp uẩn

Tập tận, hữu diệt xả.

Giải thích:

Sự quy y của Đại thừa được tám quả sau: 1. Khi tin hiểu [Đại thừa] thì được khối phước đức lớn; 2. Khi phát tâm [bồ-đề] thì được [chúng sanh trong] ba cõi tôn trọng; 3. Khi cố ý thọ sanh thì được an lạc trong ba cõi; 4. Khi hiểu mình người bình đẳng thì diệt được khối khổ sở lớn [cho mình] và có năng lực diệt trừ tất cả khổ của chúng sanh; 5. Khi nhập Vô sanh nhẫn thì giác chứng sự an lạc tối thượng; 6. Khi được bồ-đề thì chứng đại pháp ấm. Pháp ấm có chỗ gọi là pháp thân. Pháp thân ấy có 4 sắc thái là đại, thắng, thường và thiện tụ. Vì là kho tàng chánh pháp của vô biên tu-đa-la v.v… nên gọi là đại, vì là pháp tối thượng trong tất cả pháp nên gọi là thắng, vì là vĩnh viễn không có cùng tận nên gọi là thường, vì là gom chứa những thiện pháp như mười lực, bốn vô úy v.v… nên gọi là thiện tụ; 7. Khi khối huân tập hết, thì [tạp nhiễm] vĩnh viễn diệt, không còn sót; 8. Được hữu xả và diệt xả: hữu xả là không trú sanh tử, diệt xả là không trú niết-bàn.

Đã nói đại nghĩa đắc quả, kế nói đại nghĩa không thể đạt đến.

Kệ tụng:

Đại thể và đại nghĩa

Vô biên và vô tận

Do thiện thế xuất thế

Vì thành thục thần thông.

Giải thích:

Sự quy y của Đại thừa có bốn nhân tố đem lại thiện căn mà tất cả Thanh văn, Bích-chi Phật không thể đạt đến: 1. Đại thể; 2. Đại nghĩa; 3. Vô biên; 4. Vô tận.

Hỏi: Những nhân tố đó là gì?

Đáp: Đại thể là thiện căn thế gian, vì (Đại thừa) đã vượt qua được nhị thừa. Đại nghĩa là thiện căn xuất thế, vì sự xuất thế của nhị thừa chỉ là lợi mình. Vô biên là thiện căn thành thục, vì (Đại thừa) có khả năng thành thục vô biên chúng sanh. Vô tận là thiện căn thần thông, vì (Đại thừa) đưa đến niết-bàn vô dư cũng vô tận.

Đã nói thắng nghĩa của sự quy y, kế nói sai biệt của sự quy y.

Kệ tụng:

Mong cầu và đại bi

Chủng trí, không thoái chuyển

Ba xuất và hai được

Sai biệt có sáu thứ.

Giải thích:

Có sáu thứ sai biệt trong sự quy y: 1. Tự tánh; 2. Nhân; 3. Quả; 4. Nghiệp; 5. Tương ưng; 6. Phẩm loại.

Mong cầu là tự tánh, vì chí nguyện mong cầu bản thể Phật-đà. Đại bi là nhân, vì [cứu khổ] tất cả chúng sanh. Chủng trí là quả, vì đắc Vô thượng bồ-đề. Không thoái chuyển là nghiệp, vì thực hành sự lợi người và khổ hạnh khó làm mà không thoái lui, khuất phục. Ba xuất là tương ưng, vì đầy đủ hạnh xuất ly của ba thừa. Hai được là phẩm loại, vì sự được thế tục và sự được pháp tánh thì thô tế khác nhau.

Đã nói sự sai biệt về công đức, kế nói sự sai biệt về công hạnh.

Kệ tụng:

Quy y có đại nghĩa

Khối công đức tăng trưởng

Ý bi khắp thế gian

Rộng lưu thánh pháp lớn.

Giải thích:

Đại nghĩa là hạnh lợi mình lợi người. Hạnh lợi mình [của Đại thừa] là làm cho công đức tăng trưởng, có nhiều cách như tư duy thấu hiểu [giáo pháp], như thường thường [tu tập], như thời gian [tu hành], thảy đều không có hạn lượng, vì không thể suy lường, không thể đếm biết, hoàn toàn chuyên tu, thời gian không gián đoạn. Hạnh lợi người [của Đại thừa] là làm sự tác ý và bủa tâm từ bi trùm khắp tất cả chúng sanh, siêng tu phương tiện rộng rãi để lưu truyền Thánh pháp vĩ đại. Thánh pháp vĩ đại chính là pháp Đại thừa.

Phẩm Quy Y trọn vẹn

Phẩm Bốn: CHỦNG TÁNH

Giải thích:

Đã nói ý nghĩa quy y, kế nói về chủng tánh sai biệt.

Kệ tụng:

Hữu, thắng, tánh, tướng, loại

Tội lỗi và công đức

Dụ vàng và dụ bảo

Chín thứ mỗi bốn loại.

Giải thích:

Chủng tánh có chín thứ sai biệt: 1. Hữu thể; 2. Tối thắng; 3. Tự tánh; 4. Sắc thái; 5. Phẩm loại; 6. Tội lỗi; 7. Công đức; 8. Thí dụ vàng ròng; 9. Thí dụ châu báu.

Chín nghĩa như vậy, mỗi một nghĩa lại có bốn loại sai biệt.

Kệ tụng này là nói tổng quát, các kệ tụng sau sẽ nói chi tiết. Trong những điều nêu trên, trước hết sẽ phân biệt phần hữu thể.

Kệ tụng:

Do giới và do tín

Do hành và do quả

Do bốn loại sai biệt

Nên biết có tánh thể.

Giải thích:

Hữu thể của chủng tánh có bốn loại sai biệt: 1. Giới sai biệt; 2. Tín sai biệt; 3. Hành sai biệt; 4. Quả sai biệt.

Giới sai biệt, là chúng sanh có đa dạng giới vô lượng sai biệt, như kinh Đa giới đề cập. Do giới sai biệt mà biết chủng tánh của ba thừa có sai biệt.

Tín sai biệt, là chúng sanh có nhiều đức tin khác nhau, có đức tin do tác động của nhân sanh khởi, có đức tin do tác động của duyên sanh khởi. Trong ba thừa, chúng sanh có thể tin một thừa, không nhất thiết tin hai thừa kia. Nếu nói không có chủng tánh sai biệt thì cũng có nghĩa là nói không có đức tin sai biệt.

Hành sai biệt, là chúng sanh làm những công hạnh, hoặc có khả năng đi tới, hoặc không có khả năng đi tới. Nếu nói không có chủng tánh sai biệt thì cũng có nghĩa là nói không có công hạnh sai biệt.

Quả sai biệt, là chủng tử bồ-đề của chúng sanh có bậc thấp, bậc vừa và bậc cao; quả vị bồ-đề tương tự như chủng tử bồ-đề [, cũng có bậc thấp, bậc vừa và bậc cao]. Nếu nói không có chủng tánh sai biệt thì cũng có nghĩa là nói không có quả vị sai biệt.

Do bốn loại sai biệt này mà biết chủng tánh là hữu thể.

Đã nói hữu thể của chủng tánh rồi, kế nói sự tối thắng của chủng tánh.

Kệ tụng:

Minh tịnh và phổ nhiếp

Đại nghĩa và vô tận

Do khéo có bốn thắng

Chủng tánh ấy trên hết.

Giải thích:

Chủng tánh Bồ tát do bốn nhân duyên trở nên tối thắng: 1. Thiện căn minh tịnh; 2. Thiện căn phổ nhiếp; 3. Thiện căn đại nghĩa; 4. Thiện căn vô tận.

Vì sao? [1] Vì thiện căn của Thanh văn v.v… không có được sự minh tịnh như vậy, [2] vì thiện căn của tất cả nhân loại không nhiếp thủ được mười lực, bốn vô úy v.v…, [3] vì thiện căn của nhị thừa không có sự lợi người, [4] vì thiện căn của nhị thừa lấy sự chứng đắc niết-bàn là tận cùng [sự tu hành].

Thiện căn của Bồ tát không như vậy. Thiện căn ấy lấy minh tịnh, phổ nhiếp, đại nghĩa và vô tận làm nhân tố cho chủng tánh, nên chủng tánh Bồ tát là tối thắng.

Đã nói sự tối thắng của chủng tánh, kế nói tự tánh của chủng tánh.

Kệ tụng:

Tánh chủng và tập chủng

Sở y và năng y

Nên biết hữu, phi hữu

Là nghĩa công đức độ.

Giải thích:

Chủng tánh Bồ tát có bốn loại tự tánh: 1. Tánh chủng tự tánh; 2. Tập chủng tự tánh; 3. Sở y tự tánh; 4. Năng y tự tánh. Các tự tánh được xếp theo thứ tự như vậy. Lại nữa, nếu chủng tánh Bồ tát là một hữu thể thì thể của nhân phải có mặt; nếu chủng tánh Bồ tát không phải là một hữu thể thì thể của quả không có.

Hỏi: Vậy thì làm sao định danh chủng tánh Bồ tát?

Đáp: Là nghĩa công đức độ. Độ mang ý nghĩa xuất sanh công đức. Do đạo lý này mà định danh chủng tánh Bồ tát.

Đã nói tự tánh của chủng tánh, kế nói sắc thái của chủng tánh.

Kệ tụng:

Đại bi và đại tín

Đại nhẫn và đại hạnh

Có sắc thái như vậy

Gọi chủng tánh Bồ tát.

Giải thích:

Chủng tánh Bồ tát có bốn loại sắc thái: 1. Sắc thái đại bi, là thương xót tất cả chúng sanh đau khổ; 2. Sắc thái đại tín, là ưa thích tất cả pháp Đại thừa; 3. Sắc thái đại nhẫn, là nhẫn chịu tất cả, làm những việc khó làm; 4. Sắc thái đại hạnh, là thực thi khắp cả tự tánh thiện căn của các ba-la-mật.

Đã nói sắc thái của chủng tánh, kế nói phẩm loại của chủng tánh.

Kệ tụng:

Quyết định và bất định

Bất thoái và thoái đọa

Gặp duyên theo thứ tự

Phẩm loại có bốn loại.

Giải thích:

Phẩm loại của chủng tánh Bồ tát lược nói có bốn loại: 1. Quyết định; 2. Bất định; 3. Bất thoái; 4. Thoái đọa. Với thứ tự như vậy, chủng tánh Bồ tát quyết định khi gặp duyên thì bất thoái; chủng tánh Bồ tát bất định khi gặp duyên thì [dễ] thoái đọa.

Đã nói phẩm loại của chủng tánh, kế nói tội lỗi của chủng tánh.

Kệ tụng:

Nên biết Bồ tát tánh

Lược nói có bốn lỗi

Tập hoặc và bạn ác

Nghèo túng, hệ thuộc người.

Giải thích:

Tội lỗi của chủng tánh Bồ tát lược nói có bốn loại: 1. Tập hoặc, là không làm những việc công đức, làm nhiều điều gây phiền não; 2. Bạn ác, là rời xa thiện tri thức, gần gũi người xấu; 3. Nghèo túng, là tất cả đồ dùng cần thiết cho đời sống đều thiếu thốn; 4. Hệ thuộc người, là quan hệ trói buộc với người nên không được tự tại.

Đã nói tội lỗi của chủng tánh, kế nói công đức của chủng tánh.

Kệ tụng:

Công đức cũng bốn loại

Tuy đọa vào đường ác

Chậm vào lại mau ra

Khổ nhẹ, tâm bi sâu.

Giải thích:

Chủng tánh Bồ tát tuy có những tội lỗi đã nói ở trên, nhưng khi đọa vào đường ác, nên biết, thì chính trong đường ác, lại có bốn loại công đức: 1. Chậm vào, là sự thể bị đọa không được tính kể; 2. Mau ra, là không ở lâu trong đường ác; 3. Khổ nhẹ, là chỉ bị bức não nhẹ; 4. Tâm bi càng sâu, là lòng bi mẫn đối với chúng sanh nhờ đó mà thành tựu.

Đã nói công đức của chủng tánh, kế nói thí dụ vàng ròng của chủng tánh.

Kệ tụng:

Thí như tánh vàng ròng

Xuất sanh có bốn loại

Các thiện và các trí

Các tịnh, các thông vậy.

Giải thích:

Vàng ròng có bốn tính chất: 1. Số lượng rất nhiều; 2. Tỏa sáng; 3. Không bẩn; 4. Mềm dẻo. Chủng tánh Bồ tát cũng vậy: 1. Dựa vào vô lượng thiện căn; 2. Dựa vào vô lượng trí tuệ; 3. Dựa vào sự thanh tịnh tất cả phiền não chướng và trí chướng; 4. Dựa vào tất cả thần thông biến hóa.

Đã nói thí dụ vàng ròng của chủng tánh, kế nói thí dụ châu báu của chủng tánh.

Kệ tụng:

Thí như tính báu mầu

Bốn loại nhân thành tựu

Đại quả và đại trí

Đại định, đại nghĩa vậy.

Giải thích:

Tính chất của châu báu tuyệt diệu là dựa vào bốn thứ thành tựu: 1. Dựa vào chân thật thành tựu; 2. Dựa vào thể sắc thành tựu; 3. Dựa vào hình tướng thành tựu; 4. Dựa vào phẩm lượng thành tựu. Chủng tánh Bồ tát cũng vậy, [có bốn sự tuyệt diệu là:]: 1. Làm nhân tố cho đại bồ-đề; 2. Làm nhân tố cho đại trí; 3. Làm nhân tố cho đại định, và định là do tâm an trú; 4. Làm nhân tố cho đại nghĩa, nghĩa là thành tựu vô biên chúng sanh.

Đã rộng phân biệt chủng tánh vị, kế phân biệt vô chủng tánh vị.

Kệ tụng:

Một hướng hành ác hạnh

Khắp đoạn các bạch pháp

Không có giải thoát phần

Thiện ít, không nhân tố.

Giải thích:

Vô chủng tánh vị là hạng người không có pháp đạt đến niết-bàn, lược nói có hai loại: 1. [Loại người cho rằng] pháp đạt đến niết-bàn có giới hạn thời gian; 2. [Loại người cho rằng] hoàn toàn không có pháp đạt đến niết-bàn.

Trong loại thứ nhất lại có bốn hạng người: 1. Người chỉ một chiều hướng thực hành ác hạnh; 2. Người đoạn trừ khắp cả các thiện pháp; 3. Người không có thiện căn giải thoát phần; 4. Người thiện căn không đầy đủ.

Trong loại thứ hai thì không có nhân tố, vì loại người này không có chủng tánh niết-bàn, nghĩa là họ chỉ cầu sanh tử, không ưa niết-bàn.

Đã nói về vô chủng tánh vị, kế nói về sự thể hội.

Kệ tụng:

Giảng rộng pháp lớn sâu

Khiến tin, khiến thắng nhẫn

Rốt ráo đại bồ-đề

Hai tri, hai tánh thắng.

Giải thích:

Giảng rộng pháp lớn sâu, là làm lợi người, nghĩa là: Nếu người không trí tuệ thì khiến họ có được đức tin lớn. Người đã được đức tin lớn rồi thì khiến họ thành tựu hạnh nhẫn nhục thù thắng mà có khả năng tu hành không còn thoái chuyển. Người đã được nhẫn nhục thù thắng rồi thì khiến cho họ rốt ráo thành tựu Vô thượng bồ-đề. Hai tri, là chỉ cho hai hạng người, phàm phu và Thanh văn. Hai hạng người ấy nếu được sự thể hội như vậy thì biết tự tánh [của chủng tánh Bồ tát] và tánh đức viên mãn tánh [của pháp thân chư Phật] đều rất thù thắng.

Hỏi: Vì sao thù thắng?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Tăng trưởng cây bồ-đề

Sanh lạc và diệt khổ

Lợi mình người làm quả

Thắng đây như cát căn.

Giải thích:

Chủng tánh như vậy có năng lực tăng trưởng công đức cực kỳ lớn lao cho cây bồ-đề vĩ đại; có năng lực được an lạc lớn, có năng lực diệt khổ sở lớn, có năng lực mang lại lợi lạc cho mình và người, lấy đó làm thành quả vĩ đại; vì vậy chủng tánh Bồ tát là bậc nhất [vượt trên] hết thảy. Ví như gốc cây cát tường, chủng tánh Bồ tát cũng như thế.

Phẩm Chủng Tánh trọn vẹn

***

Phẩm Năm: PHÁT TÂM

Giải thích:

Đã nói sự phân biệt về chủng tánh Bồ tát, tiếp theo là phân biệt về sắc thái sự phát tâm bồ-đề của Bồ tát.

Kệ tụng:

Dũng mãnh và phương tiện

Lợi ích và xuất ly

Bốn đại, ba công đức

Hai nghĩa mà tâm khởi.

Giải thích:

Sự phát tâm của Bồ tát có bốn thứ lớn lao (đại): 1. Dũng mãnh lớn lao, là tinh tiến phát thệ nguyện rộng lớn, tùy thuận sâu xa khổ hạnh khó làm ở trong thời gian dài; 2. Phương tiện lớn lao, là đã trang bị áo giáp thệ nguyện rộng lớn, thì nỗ lực tinh tiến thường xuyên thực hành phương tiện; 3. Lợi ích lớn lao, là làm việc lợi mình, lợi người trong mọi thời gian; 4. Xuất ly lớn lao, là phát tâm vì cầu Vô thượng bồ-đề.

Lại nữa, bốn thứ lớn lao này hiển thị ba thứ công đức: 1. Dũng mãnh lớn lao và phương tiện lớn lao hiển thị công đức làm nên bậc trượng phu tạo tác [công đức]; 2. Lợi ích lớn lao hiển thị công đức làm thành đại nghĩa; 3. Xuất ly lớn lao hiển thị công đức thọ quả.

Ba thứ công đức này lấy hai nghĩa làm duyên tố [cho dục tâm sở], đó là cầu Vô thượng bồ-đề và muốn lợi lạc tất cả chúng sanh. Mong cầu như vậy gọi là phát tâm bồ-đề.

Đã nói sắc thái của sự phát tâm, kế nói sai biệt của sự phát tâm.

Kệ tụng:

Tín hành và tịnh y

Báo đắc và vô chướng

Phát tâm dựa các địa

Sai biệt có bốn thứ.

Giải thích:

Sự phát tâm của Bồ tát căn cứ theo các địa, có bốn thứ sai biệt: 1. Tín hành phát tâm, là Tín hành địa; 2. Tịnh y phát tâm, là bảy địa ban đầu; 3. Báo đắc phát tâm, là ba địa về sau; 4. Vô chướng phát tâm, là Như lai địa.

Đã nói bốn thứ sai biệt rồi, tiếp theo sẽ giải thích rộng ra.

Hỏi: Sự phát tâm như vậy lấy gì làm căn bản, lấy gì làm chỗ dựa, lấy gì làm đức tin, lấy gì làm duyên tố, lấy gì làm chuyên chở, lấy gì làm nơi trú ở, có những chướng nạn gì, có bao nhiêu công đức, có những tự tánh nào, đối tượng xuất ly là gì, chỗ cứu cánh như thế nào?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Đại bi và lợi vật

Đại pháp và chủng trí

Thắng dục và đại hộ

Thọ chướng và tăng thiện

Phước trí và tu độ

Qua các địa, địa mãn

Sơ căn đến cứu cánh

Tuần tự giải, nên biết.

Giải thích:

Sự phát tâm của Bồ tát lấy đại bi làm căn bản, lấy lợi ích tất cả chúng sanh làm chỗ dựa, lấy pháp Đại thừa làm đức tin, lấy chủng trí làm đối tượng duyên theo vì cầu có được trí ấy, lấy sự mong muốn thù thắng làm phương tiện chuyên chở vì muốn được Vô thượng thừa, lấy sự hộ trì lớn lao làm chỗ trú ở vì an trú trong Bồ tát giới, lấy những chướng ngại mắc phải làm nạn vì đã khởi cái tâm thừa khác [trước khi khởi tâm Đại thừa], lấy sự tăng trưởng thiện pháp làm công đức, lấy [tư lương] phước đức và trí tuệ làm tự tánh, lấy sự tu tập các ba-la-mật làm sự xuất ly, lấy sự viên mãn các địa làm cứu cánh, vì bằng sự cần tu phương tiện trải qua các địa mà có sự thích hợp với từng địa.

Đã rộng nói phân biệt như vậy, kế nói sự phát tâm do duyên theo thế tục.

Kệ tụng:

Lực thiện hữu, nhân tố

Lực thiện căn, nghe pháp

Bốn lực gồm hai phát

Không vững và vững chãi.

Giải thích:

Nếu từ người khác thuyết giảng được giác ngộ rồi phát tâm, thì gọi đó là sự phát tâm do duyên theo thế tục. Sự phát tâm như vậy có bốn trợ lực: 1. Phát tâm nhờ trợ lực của thiện hữu, là được thiện tri thức tùy thuận; 2. Phát tâm nhờ trợ lực của nhân tố, là đời quá khứ từng phát tâm, gọi là tự tánh [phát tâm bồ-đề]; 3. Phát tâm nhờ trợ lực của thiện căn, tức đời quá khứ từng tu tập các thiện căn được viên mãn; 4. Phát tâm nhờ trợ lực của nghe chánh pháp, là nơi nào có thuyết pháp thì có vô lượng chúng sanh phát tâm bồ-đề, và do tu tập thiện căn [nghe pháp] ấy mà đời hiện tại thường nghe chánh pháp, tiếp nhận, thọ trì v.v…

Lại nữa, bốn trợ lực của sự phát tâm bao gồm hai thứ: 1. Phát tâm không vững chãi, là phát tâm nhờ trợ lực của thiện hữu; 2. Phát tâm vững chãi, là phát tâm nhờ trợ lực của nhân tố, thiện căn và nghe chánh pháp.

Đã nói sự phát tâm do duyên theo thế tục, kế nói sự phát tâm do đệ nhất nghĩa.

Kệ tụng:

Thân cận Chánh biến tri

Khéo chứa khối phước trí

Đối pháp không phân biệt

Tối thượng chân trí sanh.

Giải thích:

Sự phát tâm do đệ nhất nghĩa biểu hiện bằng ba thứ thù thắng: 1. Dạy bảo thù thắng, là thân cận bậc Chánh biến tri; 2. Tùy thuận thù thắng, là khéo tu tập hai khối phước đức và trí tuệ; 3. Đắc quả thù thắng, là phát sanh trí vô phân biệt. Đây là sự phát tâm của Bồ tát ở Hoan hỷ địa, do có sự hoan hỷ thù thắng.

Hỏi: Sự thù thắng này lấy gì làm nhân tố?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Các pháp và chúng sanh

Việc làm và Phật thể

Với bốn bình đẳng này

Mà được hoan hỷ thắng.

Giải thích:

Bốn bình đẳng là: 1. Pháp bình đẳng, do thông đạt pháp vô ngã; 2. Chúng sanh bình đẳng, do đạt đến mình, người bình đẳng; 3. Việc làm bình đẳng, do làm cho người hết khổ như chính mình hết khổ; 4. Phật thể bình đẳng, do pháp giới và ta không có sai biệt, quyết định khả năng thông đạt [cảnh giới không sai biệt ấy].

Đã nói nhân tố thù thắng, kế nói sự sai biệt thù thắng.

Kệ tụng:

Sanh vị và nguyện vị

Dũng mãnh và tịnh y

Phương tiện và xuất ly

Sáu thắng lại như vậy.

Giải thích:

Sự phát tâm do đệ nhất nghĩa lại có sáu thù thắng: 1. Sanh vị thù thắng; 2. Nguyện vị thù thắng; 3. Dũng mãnh thù thắng; 4. Tịnh y thù thắng; 5. Phương tiện thù thắng; 6. Xuất ly thù thắng.

Hỏi: Sáu thứ này vì sao thù thắng?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Sanh thắng do bốn nghĩa

Nguyện đại có mười thứ

Dũng mãnh hằng bất thoái

Tịnh y hai lợi sanh

Phương tiện tiến địa khác

Xuất ly khéo tư duy

Như vậy sáu đạo lý

Tuần tự thành sáu thắng.

Giải thích:

Sanh thắng do bốn nghĩa: 1. Chủng tử thù thắng, là lấy sự tin hiểu pháp Đại thừa làm chủng tử; 2. Sanh mẫu thù thắng, là lấy trí tuệ ba-la-mật làm sanh mẫu; 3. Thai tạng thù thắng, là lấy sự hỷ lạc của đại thiền định làm thai tạng; 4. Nhũ mẫu thù thắng, là lấy sự trưởng dưỡng tâm đại bi làm nhũ mẫu.

Nguyện đại có mười thứ: Là phát mười đại nguyện thù thắng, tức mười đại nguyện mà trong kinh Thập địa nói đến. “dũng mãnh hằng bất thoái”: Là có thể

thực hành những khổ hạnh khó làm, vĩnh viễn không thoái chuyển.

Tịnh y hai lợi sanh: 1. Biết tự thân đến gần bồ-đề; 2. Biết phương tiện lợi người.

Phương tiện tiến địa khác: Tu phương tiện để đạt đến các địa ở trên nữa.

Xuất ly khéo tư duy: Bồ tát an trú trong các địa mà tư duy về pháp được kiến lập.

Hỏi: Tư duy như thế nào?

Đáp: Tư duy sao cho phần pháp được kiến lập bằng với phần phân biệt tri, thế nhưng qua sự phân biệt ấy lại biết là vô phân biệt.

Đã nói sự phát tâm, kế nói thí dụ hiển thị sự phát tâm ấy.

Kệ tụng:

Như đại địa, vàng ròng

Như trăng, như tăng lửa

Như kho tàng, tráp báu

Như biển, như kim cương

Như sơn vương, dược vương

Như thiện hữu, như ý

Như ngày mùa, nhạc hay

Như quốc vương, kho lẫm

Như đường đi, xe cộ

Như dòng suối, tiếng vui

Như dòng sông, như mây

Phát tâm ví như vậy.

Giải thích:

Hỏi: Các thí dụ này có nghĩa lý tương tự như thế nào với sự phát tâm?

Đáp: [1] Sự phát tâm ban đầu được ví như đại địa, vì tất cả Phật pháp có thể được sanh trưởng và nắm giữ từ sự phát tâm ấy.

[2] Sự phát tâm ý lạc tương ưng được ví như vàng ròng, vì mang lại lợi ích, an lạc, không thoái lui và hư hoại.

[3] Sự phát tâm tinh cần tương ưng được ví như trăng non, vì tất cả thiện pháp dần dần tăng trưởng.

[4] Sự phát tâm cực y tương ưng được ví như tăng lửa, vì sự tích lũy công hạnh cực y như thêm củi cho lửa cháy bùng.

[5] Sự phát tâm bố thí ba-la-mật tương ưng được ví như một kho tàng lớn, vì có thể chu cấp tài bảo một cách vô tận.

[6] Sự phát tâm trì giới ba-la-mật tương ưng được ví như cái tráp báu, vì công đức pháp bảo phát sanh từ trì giới.

[7] Sự phát tâm nhẫn nhục ba-la-mật tương ưng được ví như biển lớn, vì những điều trái nghịch đến với mình mà tâm không dao động.

[8] Sự phát tâm tinh tiến ba-la-mật tương ưng được ví như kim cương, vì có đặc tính mạnh mẽ, cứng chắc, không gì làm cho hư hoại.

[9] Sự phát tâm thiền định ba-la-mật tương ưng được ví như vị sơn vương, vì sự vật không thể làm xáo động do tâm bất loạn.

[10] Sự phát tâm trí tuệ ba-la-mật tương ưng được ví như vị dược vương, vì có khả năng diệt trừ hai bịnh là hoặc chướng và trí chướng.

[11] Sự phát tâm vô lượng tương ưng được ví như thiện hữu, vì trong tất cả thời gian không bỏ chúng sanh.

[12] Sự phát tâm thần thông tương ưng được ví như bảo châu như ý, vì khả năng hóa hiện để thỏa mãn những mong cầu của chúng sanh.

[13] Sự phát tâm bốn pháp nhiếp tương ưng được ví như ngày mùa lúa chín, vì khả năng thành thục chúng sanh.

[14] Sự phát tâm bốn vô ngại biện tương ưng được ví như âm nhạc tuyệt vời, vì khả năng thuyết pháp giáo hóa, nhiếp phục chúng sanh.

[15] Sự phát tâm tư lượng tương ưng được ví như vị quốc vương, vì khả năng làm nhân tố bất hoại cho chánh đạo.

[16] Sự phát tâm khối phước đức và trí tuệ tương ưng được ví như kho lẫm, vì làm nơi gom chứa tài sản chánh pháp là phước đức và trí tuệ.

[17] Sự phát tâm bảy giác phần tương ưng được ví như đường đi của vua, vì bậc đại thánh thực hành trước nhất, các bậc khác thực hành theo sau.

[18] Sự phát tâm chỉ quán tương ưng được ví như xe cộ, vì đủ hai bánh nên an lạc mà đi.

[19] Sự phát tâm tổng trì tương ưng được ví như dòng suối, vì sự nghe pháp tuy nhiều nhưng giáo pháp thì vô tận.

[20] Sự phát tâm bốn pháp ấn tương ưng được ví như tiếng mừng vui, vì người cầu giải thoát ưa thích nghe được pháp ấy.

[21] Sự phát tâm tự tánh tương ưng được ví như dòng sông, vì dòng vô sanh pháp nhẫn tự nhiên trôi chảy mà không cần tác ý.

[22] Sự phát tâm phương tiện tương ưng được ví như đám mây lớn hình thành thế giới, vì khả năng thị hiện tám tướng thành đạo để giáo hóa chúng sanh.

Như vậy hết thảy có 22 thí dụ, dụ dẫn cho sự phát tâm. Nên biết trong kinh Thánh giả vô tận tuệ cũng có giảng rộng [về sự phát tâm bồ-đề].

Đã nói những thí dụ của sự phát tâm, kế nói những lầm lỗi của sự không phát tâm.

Kệ tụng:

Tư lợi lạc, phương tiện

Giải nghĩa và chứng thật

Như vậy bốn thời vui

Hướng tịch, phương tiện xả.

Giải thích:

Bồ tát có bốn thứ yên vui: 1. Yên vui tư duy lợi người, là yên vui khi tư duy về việc làm lợi ích chúng sanh; 2. Yên vui có được phương tiện, là yên vui khi có được phương tiện khéo léo; 3. Yên vui hiểu nghĩa, là yên vui khi hiểu rõ ý nghĩa thâm sâu của pháp Đại thừa; 4. Yên vui chứng thật, là yên vui khi chứng được nhân vô ngã và pháp vô ngã.

Người nào xả bỏ chúng sanh, thú hướng tịch diệt, nên biết người ấy không có bốn thứ yên vui như vậy của Bồ tát.

Đã khiển trách người không phát tâm, sau đây ca ngợi người phát tâm.

Kệ tụng:

Tối sơ phát đại tâm

Thiện hộ vô biên ác

Do thiện tăng, bi tăng

Vui hỷ, khổ cũng hỷ.

Giải thích:

Nếu Bồ tát ban đầu phát tâm bồ-đề rộng lớn, thì từ đó có được chỗ dựa là vô biên chúng sanh, tức là được điều thiện bảo hộ nên không làm điều ác, vì vậy mà người ấy thoát hẳn nỗi sợ hãi lui rớt đường dữ. Lại nữa, do làm điều thiện và tăng trưởng điều thiện nên sống trong cảnh vui thường hoan hỷ; do có bi tâm và tăng trưởng bi tâm nên gặp phải cảnh khổ vẫn thường hoan hỷ, vì vậy người ấy thoát hẳn nỗi sợ hãi lui mất đường lành.

Đã ca ngợi người phát tâm rồi, kế nói do sự phát tâm này mà được sự bảo hộ không làm [điều ác].

Kệ tụng:

Yêu người hơn yêu mình

Quên mình lợi chúng sanh

Không vì mình ghét người

Gây ra nghiệp bất thiện.

Giải thích:

Trình bày sơ lược nghĩa lý này: Bồ tát yêu người hơn yêu mình, do tâm lượng ấy mà quên thân mạng mình để làm lợi ích cho người. Bồ tát không vì lợi mình mà làm tổn hại người, do tâm lượng ấy nên có năng lực đoạn tuyệt các ác nghiệp gây tạo cho chúng sanh.

Đã nói sự có được bảo hộ không làm [điều ác], kế nói sự có được tâm bất thoái.

Kệ tụng:

Quán pháp như tri huyễn

Quán sanh như nhập uyển

Nếu thành, nếu không thành

Hoặc, khổ đều không sợ.

Giải thích:

Bồ tát quán tất cả các pháp như hoa đốm, biết là huyễn ảo. Nếu thành tựu cái biết huyễn ảo thì đối với phiền não không sanh sợ hãi. Bồ tát quán chỗ thọ sanh của mình như việc đi vào vườn cây cảnh. Nếu không thành tựu chỗ thọ sanh thì đối với khổ não cũng không sanh sợ hãi. Người tu quán như vậy thì làm sao có ý niệm thoái lui tâm bồ-đề? Lại nói kệ rằng:

Kệ tụng:

Trang nghiêm và thức ăn

Vườn cảnh và vui chơi

Như vậy có bốn sự

Bậc bi, chẳng thừa khác.

Giải thích:

Bồ tát lấy công đức của mình để tự trang nghiêm, lấy sự hoan hỷ lợi người làm thức ăn cho mình, lấy sự tác ý chỗ thọ sanh làm vườn cảnh, lấy thần thông biến hóa làm sự vui chơi. Bốn điều như vậy, chỉ hàng Bồ tát có được, còn hàng nhị thừa không có. Bồ tát đã có bốn điều này thì làm sao thoái lui tâm bồ-đề?

Đã nói sự không thoái lui tâm bồ-đề, kế nói sự ngăn chận tâm sợ khổ.

Kệ tụng:

Siêng năng lợi chúng sanh

Lấy đại bi làm tánh

Vô gián như chỗ vui

Sao sợ các hữu khổ.

Giải thích:

Bồ tát lấy đại bi làm thể tánh, vì vậy nỗ lực siêng năng làm việc lợi người, tuy đi vào địa ngục A-tỳ cũng xem như dạo chơi chỗ vui. Với tâm niệm như vậy, Bồ tát ở trong các cảnh khổ khác đâu thể sanh tâm sợ hãi. Không có nhân tố sanh tâm sợ hãi thì không có tâm thoái lui.

Kệ tụng:

Đại bi hằng trong tâm

Người khổ như mình khổ

Tự nhiên làm nên làm

Đợi khuyên hổ thẹn lắm.

Giải thích:

Chư Bồ tát lấy tâm đại bi làm bậc a-xà-lê, thường tôn thờ trong tâm. Bồ tát nếu thấy chúng sanh thọ khổ thì như chính mình thọ khổ. Do đạo lý này mà Bồ tát tự nhiên làm những việc nên làm. Nếu đợi thiện hữu khuyên phát tâm thì Bồ tát phải sanh tâm hổ thẹn cực trọng.

Kệ tụng:

Vác gánh nặng chúng sanh

Biếng nhác, xấu không tốt

Vì cởi trói mình người

Siêng năng làm gấp trăm.

Giải thích:

Bồ tát phát tâm là để phụ vác gánh nặng của chúng sanh. Nếu thấy chúng sanh mang vác nặng mà Bồ tát lãng tránh hay trì hoãn thì đó là việc làm rất đáng xấu hổ, không phải là một chúng sanh đoan chánh bậc nhất. Bồ tát nên suy nghĩ, nếu mình hay người có những thứ trói buộc nguy cấp, nghĩa là những trói buộc do mê hoặc, tập nghiệp gây ra, thì vì việc cởi mở những trói buộc đó, Bồ tát cần phải siêng năng gấp trăm lần, hơn cả những việc phải làm của hàng Thanh văn.

Phẩm Phát Tâm trọn vẹn

Phẩm Sáu: NHỊ LỢI

Giải thích:

Đã nói sự phát tâm, kế nói dựa vào sự phát tâm này mà tùy thuận tu hành hạnh lợi mình và lợi người.

Kệ tụng:

Đại y và đại hành

Đại quả thứ tự tu

Đại thủ và đại nhẫn

Đại nghĩa ba việc thành.

Giải thích:

Đại y là dựa vào đại bồ-đề mà phát tâm. Đại hành là lấy việc lợi mình và lợi người mà phát khởi tu hành. Đại quả là chứng đắc Vô thượng bồ-đề. Thứ tự tu tập như vậy.

Đại thủ là khi phát tâm thì thủ nhiếp tất cả chúng sanh. Đại nhẫn là khi phát khởi tu hành thì nhẫn chịu tất cả khổ sở lớn lao. Đại nghĩa là khi đắc quả thì thành tựu sự nghiệp cao cả là lợi ích tất cả chúng sanh.

Đã nói thứ tự tu tập, kế nói việc lợi mình và lợi người không có sai biệt.

Kệ tụng:

Người mình tâm bình đẳng

Yêu người hơn bản thân

Là ý tưởng vượt thắng

Hai lợi nào sai biệt.

Giải thích:

Bồ tát có được tâm bình đẳng giữa mình và người. Tâm ấy có được là do đức tin, nghĩa là lúc phát tâm [duyên theo] thế tục, hoặc do trí tuệ, nghĩa là lúc phát tâm [duyên theo] đệ nhất nghĩa. Bồ tát tuy đã có tâm [bình đẳng] ấy nhưng lại yêu thân người hơn cả thân mình. Đối với người khác đã có ý tưởng yêu thương hơn cả thân mình thì không có vấn đề phân biệt việc gì là lợi mình, việc gì là lợi người, với cả 2 điều ấy đều không [có ý niệm] phân biệt.

Đã nói lợi mình và lợi người không có sai biệt, kế nói hạnh lợi người là thù thắng.

Kệ tụng:

Ở đời không oán nghiệp

Lợi người thường khổ mình

Bi tánh tự nhiên khởi

Cho nên lợi người thắng.

Giải thích:

Bồ tát muốn dứt hết các oán nghiệp trong thế gian, vì vậy thường làm thành tựu việc lợi người, cho dù bản thân phải siêng năng và chịu khổ nhọc. Do tâm đại bi làm thể tánh nên hạnh lợi người tự nhiên sanh khởi. Từ đạo lý này mà biết hạnh lợi người là thù thắng.

Hỏi: Hạnh lợi người như vậy làm sao tùy thuận?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Khéo nói, khiến quy hướng

Khiến đi vào, điều phục

Khiến thành thục, trú tâm

Khiến giác ngộ, giải thoát.

Tập đức, sanh vào nhà

Được thọ ký, thọ chức

Đến thành Như lai trí

Lấy đây lợi quần sanh.

Giải thích:

Có ba loại chúng sanh trú trong ba phẩm tánh: bậc thấp, bậc vừa và bậc cao. Bồ tát thủ nhiếp chúng sanh ấy theo phẩm tánh duyên trú, bằng mười ba thứ tùy thuận lợi ích:

1. Khéo nói, là tùy thuận giáo hóa và ghi nhớ tâm tánh;

2. Khiến quy hướng, là khiến chúng sanh quy hướng bằng sức thần thông;

3. Khiến đi vào, là quy hướng rồi, khiến tin tưởng và tiếp nhận chánh pháp;

4. Khiến điều phục, là đi vào rồi, khiến đoạn trừ những nghi ngờ về chánh pháp;

5. Khiến thành thục, là thành thục thiện căn;

6. Khiến tâm trú, là nhờ sự dạy bảo mà tâm trú;

7. Khiến giác ngộ, là có được trí tuệ;

8. Khiến giải thoát, là có được công đức thù thắng như chứng đắc thần thông v.v…;

9. Tập đức, là tập hợp khắp cả phước đức và trí tuệ;

10. Sanh vào nhà, là sanh vào nhà của Phật;

11. Thọ ký, là được thọ ký ở địa thứ tám;

12. Thọ chức, là được thọ chức ở địa thứ mười;

13. Được Như lai trí, là thể nhập Phật địa.

Hỏi: Sự tùy thuận lợi ích như vậy làm sao thành lập?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Không đảo và không cao

Không vướng mắc, thông đạt

Năng nhẫn và điều thuận

Đi xa và vô tận

Nên biết tám nghĩa này

Thành tựu mười ba kia.

Giải thích:

Không đảo, là người đã trú ở phẩm tánh nào thì Bồ tát tùy theo căn cơ mà vì họ thuyết pháp, không quên dạy bảo. Không cao, là khi người quy hướng, Bồ tát không ỷ có thần thông mà sanh tâm tự cao. Không vướng mắc, là khi người đi vào chánh pháp, Bồ tát không bị nhuốm bẩn bởi chúng sanh. Thông đạt, là Bồ tát có khả năng đoạn lưới nghi của người. Năng nhẫn, là Bồ tát có khả năng khéo léo thành thục người. Điều thuận, là Bồ tát tùy thuận dạy bảo và không dạy bảo sự không điều phục. Đi xa, là Bồ tát tùy thuận sự sanh vào nhà v.v…, không khiến người có khả năng thực hành không thể đi xa. Vô tận, là Bồ tát phát thệ nguyện vô tận: lợi ích chúng sanh trong tất cả thời gian. Đây gọi là sự thành lập [tùy thuận lợi ích], nên biết như vậy.

Hỏi: Sự tùy thuận lợi ích như vậy có sự sai biệt thù thắng thế nào?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Tập dục, đáng sợ lớn

Hữu ái, động nên đảo

Lạc diệt, đoạn phiền não

Đại bi cầu Phật pháp.

Giải thích:

Tập dục, là người ở cõi Dục. Đáng sợ lớn, là [người ở cõi Dục thì] thân tâm có nhiều đau khổ và hướng về ác thú. Hữu ái, là người ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Động nên đảo, là sự thọ lạc [của người ở cõi Sắc và cõi Vô sắc] cũng vô thường nên biến động, đó là do hành khổ mà điên đảo. An lạc tịch diệt, là người tu hạnh lợi mình. Đoạn phiền não, là do nắm giữ phiền não mà khổ không dứt; vì lìa khổ nên [người tu hạnh lợi mình] tự đoạn phiền não để cầu tịch diệt. Đại bi, là người tu hạnh lợi người. Cầu Phật pháp, là người tu hạnh lợi người thường cầu tất cả Phật pháp và suy nghĩ sự làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

Kệ tụng:

Thế gian cầu tự vui

Chẳng vui thường đau khổ

Bồ tát siêng vui người

Hai lợi thành thượng lạc.

Giải thích:

Người ngu si trong thế gian thường cầu cái vui cho mình nhưng không phải lúc nào cũng được vui vẻ, trái lại có khi chuốc lấy đau khổ. Bồ tát không như vậy, thường nỗ lực mang niềm vui cho người, vì vậy sự lợi mình và lợi người được thành tựu và cứu cánh được sự an lạc của đại niết-bàn. Đây là sự sai biệt thù thắng của sự tùy thuận lợi ích.

Đã nói sự tùy thuận lợi người, kế đem hạnh tùy thuận này hồi hướng chúng sanh.

Kệ tụng:

Dị căn nơi dị xứ

Dị tác có dị hành

Bất cứ việc làm nào

Hồi hướng lợi chúng sanh.

Giải thích:

Bồ tát hồi hướng bằng cách thực hành theo các căn như mắt, tai, v.v… ở mọi nơi chốn, tạo tác các thứ uy nghi, các loại hạnh nghiệp mà vì lợi ích chúng sanh. Bất cứ hạnh nào có sự tương ưng hay tương tự với tâm bồ-đề, Bồ tát đều hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Các công hạnh này được nói rộng trong kinh Hạnh thanh tịnh.

Đã nói về tâm hồi hướng, kế nói sự ngăn chận tâm không nhẫn chịu.

Kệ tụng:

Chúng sanh không tự tại

Thường tác các nghiệp ác

Nhẫn chịu tăng trưởng bi

Không não không trái nghịch.

Giải thích:

Chúng sanh bị phiền não làm não loạn tâm nên không tự tại, vì vậy mà gây ra các nghiệp ác. Bồ tát dùng trí tuệ để đối trị phiền não, thường khởi sự nhẫn chịu lớn lao để tăng trưởng đại bi, vì vậy nên ở trong phiền não mà tâm không bị não loạn, cũng như không muốn làm những việc không tùy thuận lợi ích.

Đã nói sự ngăn chận tâm không nhẫn chịu, kế nói sự tùy thuận lớn lao.

Kệ tụng:

Thắng xuất và tịch tĩnh

Công đức và lợi vật

Tuần tự theo bốn nghĩa

Lớn lao có bốn thứ.

Giải thích:

Chư Bồ tát có bốn thứ tùy thuận lớn lao: 1. Thắng xuất lớn lao, là ở trong ba cõi năm thú vượt trên hết thảy, như kinh Bát-nhã ba-la-mật nói: “Tu bồ-đề, nếu sắc thật có pháp tướng, chẳng phải không có pháp tướng, thì Đại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, a-tu-la. ” 2. Tịch tĩnh lớn lao, là tùy hướng niết-bàn vô trú làm chỗ cư trú. 3. Công đức lớn lao, là hai khối phước đức và trí tuệ tăng trưởng. 4. Lợi vật lớn lao, là thường nương tựa đại bi nên không từ bỏ chúng sanh.

Phẩm Nhị Lợi trọn vẹn

Phẩm Bảy: CHÂN THẬT

Giải thích:

Đã nói sự tùy thuận tu hành [lợi mình và lợi người], kế nói về sắc thái của đệ nhất nghĩa.

Kệ tụng:

Chẳng có cũng chẳng không

Chẳng giống cũng chẳng khác

Chẳng sanh cũng chẳng diệt

Chẳng thêm cũng chẳng bớt

Chẳng sạch, chẳng không sạch

Năm cặp không hai tướng

Gọi là đệ nhất nghĩa

Hành giả phải nên biết.

Giải thích:

Không có hai nghĩa (vô nhị), đó là đệ nhất nghĩa. Có năm [cặp] vô nhị được trình bày như sau:

1. Chẳng có, là sự biểu hiện của hai tánh phân biệt và y tha không phải thật có, nên nói là không; [nhưng cũng] chẳng không, là vì tánh chân thật biểu hiện vốn thật có, nên nói là có.

2. Chẳng giống, là hai tánh phân biệt và y tha không cùng một thật thể [với tánh chân thật], [nhưng cũng] chẳng khác, vì hai tánh ấy cũng không phải khác thể [với tánh chân thật].

3. Chẳng sanh cũng chẳng diệt, vì [chân như vốn là] vô vi.

4. Chẳng thêm cũng chẳng bớt, vì hai phần tạp nhiễm và thanh tịnh khi sanh khởi hay đoạn diệt thì pháp giới các pháp vẫn an trú đúng như vậy.

5. Chẳng sạch, là tự tánh [chân như] vốn vô nhiễm nên chẳng cần tu tập cho thanh tịnh, cũng chẳng không sạch, vì khách trần [phiền não] đã trừ bỏ.

Đó là năm [cặp] sắc thái vô nhị, chính là sắc thái của đệ nhất nghĩa, cần phải biết.

Đã nói sắc thái đệ nhất nghĩa, kế nói sự ngăn chận khởi điên đảo đối với đệ nhất nghĩa.

Kệ tụng:

Ngã kiến chẳng thấy ngã

Không tưởng phi vô duyên

Ngoài hai không có ngã

Giải thoát là mê hết.

Giải thích:

Ngã kiến không phải là cái thấy về ngã, mà là không còn ý tưởng về ngã. Vì sao? Vì ý tưởng về ngã chỉ là sự phân biệt. Không còn ý tưởng về ngã không phải không có duyên tố, mà là phiền não tập khí sanh khởi do duyên với năm thọ ấm. Ngoài hai không có ngã [tướng]: hai, là ngã kiến và năm thọ ấm; và chẳng có cái nào khác ngoài ngã kiến và năm thọ ấm mà có ý tưởng về ngã. Như vậy, ngã kiến chính là sự mê lầm, bởi vì thật sự không có ý tưởng về ngã nào có thể thủ đắc. Giải thoát là mê hết, là duyên vào tự thân mà sanh khởi giải thoát, sự giải thoát ấy chỉ là sự mê lầm đã hết. Không còn ý thức tự ngã thì gọi là giải thoát.

Đã nói sự ngăn chận vọng kiến, kế nói sự quở trách tâm điên đảo.

Kệ tụng:

Vì sao dựa ngã kiến

Không thấy tự tánh khổ?

Người mê khổ, người khổ

Pháp tánh và vô tánh.

Giải thích:

Vì sao dựa ngã kiến không thấy tự tánh khổ? Than ôi, người thế gian nương tựa cái gì? Người thế gian nương tựa ngã kiến nên sanh khởi các thứ mê lầm, không thể hiểu rõ các hành là tự tánh của khổ, vì vậy họ thường theo đuổi việc xấu ác.

Người mê khổ, người khổ, pháp tánh và vô tánh. Khổ là khổ thọ khi mình tiếp xúc cảnh. Người khổ là khổ thọ chưa chấm dứt, chẳng phải mình cùng với khổ tương ưng, gọi là người khổ. Mê khổ là không hiểu rõ tự tánh của khổ. Người mê khổ là người không hiểu rõ nguyên lý vô ngã. Pháp tánh là chỉ có các pháp, vì nhân vô ngã. Vô tánh là các pháp vốn chẳng phải pháp, vì pháp vô ngã.

Kệ tụng:

Vì sao duyên khởi thể

Hiện kiến sanh dị kiến

Che đậy không thấy có

Không có lại thấy có.

Giải thích:

Vì sao duyên khởi thể, hiện kiến sanh dị kiến: Than ôi, người thế gian làm thế nào có cái thấy trực tiếp hiện tiền (hiện kiến)? Các pháp hữu vi sanh diệt, mỗi một pháp do duyên sanh khởi, tuy nhiên dựa vào tự thể duyên khởi [của các pháp] lại sanh thêm những cái thấy sai biệt (dị kiến), nghĩa là tự thể của các căn: mắt, v.v… không phải duyên khởi [, mà cần có sự tham dự của tâm thức].

Che đậy không thấy có, không có lại thấy có: Do vô minh che đậy nên sự thể duyên khởi của các pháp là có nhưng không thấy có, tự thể của ngã thì không có lại thấy có thật ngã.

Hỏi: Nếu có cái thấy như vậy thì làm thế nào chứng đắc niết-bàn?

Kệ tụng:

Sanh tử và niết-bàn

Không hai, không khác ít

Do khéo trú vô ngã

Sanh tận đắc niết-bàn.

Giải thích:

Sanh tử và niết-bàn không có hai thể, thậm chí không hề có sự sai biệt. Vì sao? Vì là thể vô ngã bình đẳng vậy. Nếu có người khéo an trú vô ngã mà tu thiện nghiệp thì sanh tử dứt sạch, chứng đắc niết-bàn.

Như vậy, đã nói sự ngăn chận điên đảo, kế sẽ nói về cách đối trị điên đảo.

Kệ tụng:

Phước trí không giới hạn

Sanh trưởng đều viên mãn

Tư pháp quyết định rồi

Thông đạt nghĩa loại tánh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị giai vị thứ nhất là tập đại tụ.

Phước trí không giới hạn, là do có sai biệt vô số và có thời gian vô biên.

Sanh trưởng đều viên mãn, là Bồ tát tu tập hai khối lớn phước trí thì đến bờ giải thoát.

Tư pháp quyết định rồi, là nương tựa cái tâm trong định [khi tu chỉ và quán] mà có sự [tác ý] tư duy [đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải tư duy, và khéo quyết trạch].

Thông đạt nghĩa loại tánh, là hiểu rõ tánh loại và nghĩa lý của các pháp mà mình tư duy, trong đó lấy ý ngôn làm tự tánh.

Kệ tụng:

Đã biết nghĩa loại tánh

Khéo trú ở tâm quang

Do hiện kiến pháp giới

Giải thoát khỏi hai tướng.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị giai vị thứ hai là thông đạt. Do hiểu rõ tất cả các nghĩa chỉ là ý ngôn làm tự tánh, tức là hiểu rõ tất cả các nghĩa toàn là tâm quang. Bồ tát bấy giờ được gọi là khéo an trú duy thức. Từ sự an trú ấy trở về sau, Bồ tát hiện thấy pháp tánh, liễu đạt phạm trù hai tướng, tức là giải thoát năng chấp và sở chấp.

Kệ tụng:

Rời tâm không có vật

Vật không, tâm cũng không

Đã hiểu hai không rồi

Khéo trú chân pháp giới.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị giai vị thứ ba là kiến đạo. Bồ tát đã hiện thấy pháp tánh thì thể hội rời tâm không có vật sở thủ, và vì không có vật sở thủ nên không có tâm năng thủ. Nên biết, rời xa hai tướng năng thủ và sở thủ là khéo an trú tự tánh của pháp giới.

Kệ tụng:

Trí lực vô phân biệt

Thường bình đẳng, biến hành

Hủy hoại khối lầm lỗi

Như thuốc năng trừ độc.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị giai vị thứ tư là tu đạo. Bồ tát khi thể nhập cái trí đệ nhất nghĩa thì được chuyển y, và bằng trí vô phân biệt thường xuyên thuận hành pháp tánh một cách cùng khắp và bình đẳng. Vì sao? Vì hủy diệt cái khối lầm lỗi vấn vít do nương tựa sự huân tập tánh y tha.

Hỏi: Sức mạnh của trí vô phân biệt như thế nào?

Đáp: Sức mạnh của trí vô phân biệt giống như dược phẩm a-già-đà rất tốt, có công năng tiêu tan mọi độc chất.

Kệ tụng:

Duyên Phật khéo thành pháp

Tâm căn an pháp giới

Hiểu niệm là phân biệt

Mau về biển công đức.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị giai vị thứ năm là cứu cánh. Duyên Phật khéo thành pháp, là các Bồ tát đối với tất cả diệu pháp Phật dạy rất khéo xác lập thì bắt rễ vào trong diệu pháp ấy bằng những duyên tố tổng tụ.

Hỏi: Duyên tố tổng tụ là gì?

Đáp: Tâm là gốc rễ an trú pháp giới, vì có cái định thêm sáng mà thể nhập trí đệ nhất nghĩa. Do trí tuệ này an trú pháp giới, nên tâm này được gọi là gốc rễ.

Hỏi: Sau giai đoạn này lại khởi quán thế nào?

Đáp: Hiểu niệm là phân biệt, nghĩa là giai đoạn này về sau, Bồ tát khởi quán như thứ lớp hiện quán của giai đoạn trước: mỗi khi ý niệm chuyển biến thì thấu biết ý niệm chỉ là phân biệt, chẳng thật có.

Hỏi: Sự thấu biết như vậy thì tiến đến quả vị nào?

Đáp: Mau về biển công đức, nghĩa là thấu biết như vậy thì mau chóng về đến bến bờ biển cả công đức của Phật quả.

Phẩm Chân Thật trọn vẹn

Phẩm Tám: THẦN THÔNG

Giải thích:

Đã nói về nghĩa lý chân thật, kế nói rõ sắc thái thần thông của Bồ tát.

Kệ tụng:

Khởi diệt và ngôn âm

Tâm hành, trú đời trước

Hướng dẫn người, xuất ly

Sáu trí tự tại thông.

Giải thích:

Khởi diệt, là trí cảnh sanh tử, là trí biết sự sanh tử của tất cả chúng sanh. Ngôn âm, là trí cảnh thiên nhĩ, là trí nghe hiểu tất cả ngôn ngữ âm thanh của chúng sanh. Tâm hành, là trí cảnh tha tâm, là trí biết tâm hành sai biệt của chúng sanh. Trú đời trước, là trí cảnh túc mạng, là trí biết những huân tập thiện ác của chúng sanh ở đời trước. Hướng dẫn người, là trí cảnh như ý, là trí biết tâm ý chúng sanh mà đến giáo hóa ở mọi nơi. Xuất ly, là trí cảnh lậu tận, là trí biết chúng sanh khi nào có thể xuất ly, khi nào chưa thể xuất ly.

Đối với sáu thứ đối cảnh sai biệt như vậy trong các thế giới, Bồ tát sử dụng sáu trí cảnh để biết khắp vô ngại, dũng mãnh tự tại, đó gọi là tự tánh thần thông của Bồ tát.

Đã nói tự tánh [thần thông], kế nói sự tu tập [thần thông].

Kệ tụng:

Đệ tứ thiền cực tịnh

Trí vô phân biệt nhiếp

Như vậy lập phương tiện

Nương đây tịnh các thông.

Giải thích:

Sở y là đệ tứ thiền, sở nhiếp là trí vô phân biệt, sở lập là phương tiện. Bồ tát tác ý tu tập theo sở y, sở nhiếp và sở lập như vậy thì chứng đắc thần thông tối thượng.

Đã nói sự tu tập thần thông, kế nói sự đắc quả.

Kệ tụng:

Ba trú, trú không sánh

Sở trú khéo cúng dường

Khiến kia được thanh tịnh

Là nói quả thần thông.

Giải thích:

Thần thông có ba loại quả:

1. Quả thắng trú: Thắng trú có ba thứ: một là Thánh trú; hai là Phạn trú; ba là Thiên trú. Đó là sự an trú chứng đắc thần thông không gì sánh bằng, không gì hơn được.

2. Quả khéo léo cúng dường: Tùy theo trú xứ của chúng sanh ở thế gian mà làm sự cúng dường lớn lao.

3. Quả làm cho người được thanh tịnh: Khả năng làm cho người cúng dường trở nên thanh tịnh.

Hỏi: Thần thông có sáu thứ nghiệp dụng: 1. Nghiệp dụng tự thọ dụng; 2. Nghiệp dụng tha thọ dụng; 3. Nghiệp dụng phóng ánh sáng; 4. Nghiệp dụng du hành; 5. Nghiệp dụng giáo hóa; 6. Nghiệp dụng làm sạch. Sáu thứ nghiệp dụng này như thế nào?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Thế sanh: sự thành, hoại

Thấy đó đều như huyễn

Các loại người mong muốn

Tự tại tùy ý thành.

Giải thích:

Hai câu kệ đầu hiển thị nghiệp dụng tự thọ dụng, là thấy các thế giới và chúng sanh khi thành, khi hoại, đều như huyễn như hóa. Hai câu kệ sau hiển thị nghiệp dụng tha thọ dụng, là chấn động thế giới, phóng ánh sáng v.v…, tùy tâm mong cầu mà thị hiện thân biến hóa một cách tự tại. Về mười thứ tự tại thì như trong kinh Thập địa có nói.

Kệ tụng:

Thần quang chiếu nẻo ác

Khiến tin sanh đường lành

Uy lực chấn cung trời

Điện rung làm ma sợ.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng phóng ánh sáng, có hai thứ: 1. Cứu vớt khổ đau; 2. Khiến ma quân kinh sợ. Hai câu kệ đầu nói nghiệp dụng phóng ánh sáng cứu vớt khổ đau, là phóng ánh sáng chiếu xuống chúng sanh đường dữ, làm cho họ phát khởi lòng tin mà được sanh về đường lành. Hai câu kệ sau nói nghiệp dụng phóng ánh sáng làm ma quân kinh sợ, là phóng ánh sáng chiếu lên cung trời làm rung động cung điện của ma vương, làm cho ma vương hoảng sợ.

Kệ tụng:

Du hành các tam-muội

Đứng đầu trong tăng chúng

Thường hiện ba loại hóa

Làm lợi cho chúng sanh.

Giải thích:

Hai câu kệ đầu hiển thị nghiệp dụng du hành, là ở tại chúng hội của Phật, Bồ tát an trú các tam-muội thì du hành tự tại trong mọi thế giới. Hai câu kệ sau hiển thị nghiệp dụng giáo hóa, có ba thứ: 1. Nghiệp xứ giáo hóa, là dùng công xảo nghiệp xứ mà giáo hóa tự tại; 2. Tùy tâm giáo hóa, là tùy theo những mong cầu của chúng sanh mà giáo hóa tự tại; 3. Thắng thượng giáo hóa, là thị hiện sự thắng thượng như trú ở cung trời Đâu-suất v.v… mà giáo hóa. Bồ tát thường dùng ba loại giáo hóa này để làm lợi ích chúng sanh.

Kệ tụng:

Trí lực khắp tự tại

Quốc độ tùy muốn hiện

Không Phật khiến nghe Phật

Vọt xa thấy Phật cảnh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng làm sạch, có hai thứ: 1. Làm sạch quốc độ; 2. Làm sạch chúng sanh. Hai câu kệ đầu nêu rõ sự làm sạch quốc độ: Bồ tát được trí tuệ tự tại mà hiện hóa thế giới thanh tịnh như thủy tinh, lưu ly v.v… theo sự mong cầu của chúng sanh. Hai câu kệ sau nêu rõ sự làm sạch chúng sanh: Bồ tát ở trong thế giới mà không có Phật xuất thế có thể làm cho chúng sanh nghe danh hiệu Phật rồi khởi đức tin trong sạch và phát tâm nguyện cầu sanh về thế giới có Phật xuất thế.

Đã nói nghiệp dụng của thần thông, kế nói sự tương ưng của thần thông.

Kệ tụng:

Sức thành thục chúng sanh

Chư Phật thảy khen ngợi

Mở lời đều tin nhận

Như vậy nói tương ưng.

Giải thích:

Sự tương ưng của thần thông có ba thứ: 1. Tương ưng thành thục chúng sanh: Thần thông được ví như đôi cánh chim vừa trưởng thành; 2. Tương ưng khen ngợi: Thần thông thường được chư Phật khen ngợi; 3. Tương ưng tin nhận: Thần thông làm cho người nghe giảng thuyết đều tin tưởng và tiếp nhận.

Đã nói sự tương ưng của thần thông, kế nói về sự an trú thần thông đầy đủ.

Kệ tụng:

Sáu trí và ba minh

Tám giải, tám thắng xứ

Mười biến nhập, tam-muội

Dũng mãnh nhờ thần thông.

Giải thích:

Bồ tát an trú thần thông có đủ sáu thứ sai biệt: 1. Sáu trí; 2. Ba minh; 3. Tám giải thoát; 4. Tám thắng xứ; 5. Mười biến nhập; 6. Các tam-muội.

Sáu nghĩa như vậy để phân biệt thần thông có đủ sai biệt.

Đã nói sự an trú thần thông đầy đủ, kế nói sự an trú thần thông lớn lao.

Kệ tụng:

Năng an không tự tại

Thường siêng làm lợi vật

Đi ba cõi không sợ

Dũng mãnh như sư tử.

Giải thích:

Thần thông của Bồ tát có ba thứ lớn lao: 1. Tự tại lớn lao: Chúng sanh vì phiền não mà không được tự tại, trí lực của Bồ tát có khả năng an trí tự tại [cho chúng sanh]; 2. Hoan hỷ lớn lao: Bồ tát thường siêng năng làm lợi ích cho chúng sanh, chỉ một mục đích là an lạc [cho chúng sanh]; 3. Vô úy lớn lao: Bồ tát đi trong ba cõi vẫn có được sự dũng mãnh cực kỳ như sư tử.

Phẩm Thần Thông trọn vẹn

Phẩm Chín: THÀNH THỤC

Giải thích:

[Như trên] đã nói về thần thông của Bồ tát. [Vậy] các Bồ tát làm thế nào để tự thành thục? [Sẽ trình bày sau đây.]

Kệ tụng:

Dục, tín, xả, bi, nhẫn

Niệm, lực, kiên và chi

Thích ứng tự thành thục

Chín thứ đều thượng phẩm.

Giải thích:

Bồ tát có chín thứ thành thục bản thân:

1. Dục thành thục, là mong cầu pháp Đại thừa;

2. Tín thành thục, là tâm ý trong sạch đối với bậc thuyết pháp ấy;

3. Xả thành thục, là diệt trừ phiền não;

4. Bi thành thục, là thương xót chúng sanh;

5. Nhẫn thành thục, là khả năng thực hành khổ hạnh khó làm;

6. Niệm thành thục, là thọ trì tất cả pháp Đại thừa;

7. Lực thành thục, là khả năng thông đạt tất cả pháp;

8. Kiên thành thục, là ác ma, ngoại đạo không thể xâm đoạt;

9. Chi thành thục, là thiện phần được viên mãn.

Chín thứ như vậy, Bồ tát tu tập cùng cực đến địa vị tối thượng, gọi là sắc thái thành thục. Chín sắc thái thành thục này, mỗi sắc thái có nhân tố, tự thể và nghiệp dụng, sau đây xin nói.

Kệ tụng:

Gần bạn, nghe, tư duy

Thắng dũng, thắng cứu cánh

Nhiếp pháp và thọ pháp

Sắc thái dục thành thục.

Giải thích:

Thân cận thiện hữu, lắng nghe chánh pháp, như pháp tư duy, đây là ba nhân tố phát sanh tâm mong cầu Đại thừa, gọi là nhân tố của dục tâm.

Tinh tấn dũng mãnh vượt lên tất cả bất tư nghị xứ để đạt đến cứu cánh vô ngại, gọi là tự thể của dục tâm.

Sống trong chỗ có tai hoạnh mà vẫn có thể giữ gìn pháp Đại thừa, và đối với pháp Đại thừa được thuyết, Bồ tát phát sanh tín tâm và lãnh thọ, gọi là nghiệp dụng của dục tâm.

Kệ tụng:

Khối phước trí Như lai

Tịnh tâm không thể hoại

Mau nhận quả định trí

Sắc thái tín thành thục.

Giải thích:

Tin nhận những gì đức Bà-già-bà rộng thuyết, gọi là nhân tố của tín tâm. Được bất hoại tịnh, gọi là tự thể của tín tâm. Được định tăng thượng và tuệ tăng thượng, gọi là nghiệp dụng của tín tâm.

Kệ tụng:

Khéo hộ trì sáu căn

Lìa ác khởi đối trị

Ưa tu các thiện pháp

Sắc thái xả thành thục.

Giải thích:

Lấy chánh niệm, khinh an v.v… để khéo hộ trì các căn, gọi là nhân tố của xả. Rời xa bất thiện giác, khởi đầu cho địa vị vô gián đạo, gọi là tự thể của xả. Với các thiện pháp thường ưa tu tập, gọi là nghiệp dụng của xả.

Kệ tụng:

Thấy các chúng sanh khổ

Thương xót rời tiểu tâm

Thọ thân thế gian thắng

Sắc thái bi thành thục.

Giải thích:

Bồ tát nhìn thấy chúng sanh đang đau khổ, gọi là nhân tố của bi. Sanh tâm cùng cực thương xót, xa hẳn tâm lý Tiểu thừa, gọi là tự thể của bi. Được tất cả sự thù thắng của thế gian, nhập vào các địa không còn thoái chuyển, gọi là nghiệp dụng của bi.

Kệ tụng:

Trì tánh quen tu tập

Cực khổ năng kham nhẫn

Thiện căn ưa tiến tu

Sắc thái nhẫn thành thục.

Giải thích:

Kiên trì, chịu đựng và nhẫn nại là những từ đồng nghĩa. Tập quen sự nhẫn nại thành tánh, gọi là nhân tố của nhẫn. Khả năng chịu đựng những khổ sở như gió lạnh, v.v…, gọi là tự thể của nhẫn. Sống trong thắng sanh xứ vẫn thường tu tập thiện pháp, gọi là nghiệp dụng của nhẫn.

Kệ tụng:

Báo tịnh khéo tùy thuận

Đi vào thuyết thiện ác

Năng khởi đại Bát-nhã

Sắc thái niệm thành thục.

Giải thích:

Thành tựu khí thể thanh tịnh, gọi là nhân tố của niệm. Theo pháp được nghe có thể thuyết ra hai nghĩa thiện ác, dùng cái tuệ văn tư tu mà hiểu sâu chánh pháp không quên mất, gọi là tự thể của niệm. Khả năng phát sanh trí tuệ xuất thế, gọi là nghiệp dụng của niệm.

Kệ tụng:

Chủng phước trí viên mãn

Quả khởi nương tối thượng

Thế gian được bậc nhất

Sắc thái lực thành thục.

Giải thích:

Tràn đầy chủng tử của hai khối phước trí, gọi là nhân tố của lực. Khả năng có được sự y chỉ tối thượng, gọi là tự thể của lực. Tùy ý thành thục địa vị bậc nhất trong thế gian, gọi là nghiệp dụng của lực.

Kệ tụng:

Quán sâu lý diệu pháp

Các ma không thể đoạt

Lỗi lầm bộ phái khác

Sắc thái kiên thành thục.

Giải thích:

Tác ý quán sát đối với diệu pháp và đạo lý, gọi là nhân tố của kiên cố. Ác ma Ba-tuần không thể trở ngại và phá hoại, gọi là tự thể của kiên cố. Khả năng bác bỏ những lầm lỗi [thiếu sót] của các bộ phái khác, gọi là nghiệp dụng của kiên cố.

Kệ tụng:

Có được khối thiện căn

Dựa tinh cần phát khởi

Lìa ác và tu thiện

Sắc thái chi thành thục.

Giải thích:

Bồ tát thành thục khối các thiện căn, gọi là nhân tố của chi. Dựa vào nhân tố này có thể phát khởi sự tinh tấn mạnh mẽ, gọi là tự thể của chi. Lìa các bất thiện, ưa tu thắng thiện, gọi là nghiệp dụng của chi.

Kệ tụng:

Chín chủng loại như vậy

Tự thành thục, thục tha

Tăng thiện, tăng pháp thân

Bậc thân cận với đời.

Giải thích:

Tu tập chín chủng loại như dục v.v… là tu tập khả năng tự thành thục, cũng như khả năng thành thục chúng sanh. Tu tập chín thứ thành thục này làm tăng trưởng tất cả thiện căn và tăng trưởng pháp thân. Bậc có thiện căn tăng trưởng và pháp thân tăng trưởng là bậc đáng thân cận hơn cả trong thế gian.

Đã nói bản thân Bồ tát có được sự thành thục, kế nói sự thành thục chúng sanh của Bồ tát.

Kệ tụng:

Nhọt chín thì nặn được

Cơm chín thì ăn được

Chúng sanh chín cũng vậy

Là hai phần xả dụng.

Giải thích:

Bồ tát có hai phần xả dụng: 1. Phần chướng ngại; 2. Phần đối trị.

Phần chướng ngại cho sự thành thục thì cần phải xả bỏ, như cái ung nhọt chín mùi cần phải nặn cho vỡ mủ.

Phần đối trị chướng ngại cho sự thành thục thì cần phải thọ dụng, như cơm chín thì có thể ăn được. Đó là chỗ dựa cho sự thành thục chúng sanh.

Đã nói chỗ dựa cho sự thành thục, kế nói sự sai biệt của thành thục.

Kệ tụng:

Xả, phổ, thắng, tùy, thiện

Đắc, thường, tiệm, tám loại

Như vậy các thành thục

Là chủng loại sai biệt.

Giải thích:

Sắc thái thành thục chúng sanh có tám thứ: 1. Thành thục xả, là làm cho diệt trừ phiền não; 2. Thành thục phổ, là giáo hóa bằng giáo nghĩa ba thừa; 3. Thành thục thắng, là vượt thắng các học thuyết ngoại đạo; 4. Thành thục tùy, là thuyết giảng thích ứng căn cơ; 5. Thành thục thiện, là làm cho sanh tâm cung kính; 6. Thành thục đắc, là làm cho không có cái thấy biết điên đảo; 7. Thành thục thường, là làm cho vĩnh viễn không còn thoái chuyển; 8. Thành thục tiệm, là làm cho tuần tự tăng trưởng.

Đã nói sự sai biệt của thành thục, kế nói cái tâm thù thắng của thành thục.

Kệ tụng:

Lợi con, lợi người thân

Lợi mình: ba lợi thắng

Bồ tát lợi tất cả

Ba lợi thắng không sánh.

Giải thích:

Người trong thế gian cho rằng yên vui con cái, yên vui người thân và yên vui bản thân là những tâm lý tốt đẹp nhất. Bồ tát mong muốn thành thục khắp cả chúng sanh, dục tâm ấy hơn hẳn ba tâm lý thế gian, không thể đem ra so sánh. Thế nên, tâm [mong muốn] thành thục chúng sanh của Bồ tát là tối thắng.

Hỏi: Tâm tối thắng ấy làm sao thành lập?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Thế gian không yêu mình

Làm sao yêu người được

Bồ tát bỏ yêu mình

Chỉ có yêu người thôi.

Giải thích:

Người thế gian lúc nào cũng muốn yêu thương bản thân, nhưng đôi khi không thể làm cho mình yên vui và thuận lợi, nói chi đến việc yêu thương tha nhân, làm cho người yên vui và thuận lợi. Bồ tát trái lại, buông bỏ sự yêu thương bản thân, chỉ [nuôi dưỡng] sự yêu thương tha nhân. Vì vậy, tâm [mong muốn] thành thục chúng sanh [của Bồ tát] hơn hẳn tâm lý thế gian.

Hỏi: Vận dụng cái tâm tối thắng ấy như thế nào cho sự thành thục?

[Đáp bằng kệ rằng:]

Kệ tụng:

Thân, của, tất cả xả

Bình đẳng và không chán

Thiếu thốn cho đầy đủ

An lập nơi thiện căn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục chúng sanh bằng bố thí ba-la-mật. Bố thí có ba thứ: 1. Bố thí của cải thân mạng: Của cải ở ngoài và thân mạng ở trong, tất cả đều xả bỏ; 2. Bố thí bình đẳng: Ruộng phước của sự bố thí phải là sự rời bỏ tâm [phân biệt] cao thấp; 3. Bố thí không biết chán: Bố thí một cách mạnh mẽ, thường xuyên và không mệt mỏi.

Đó là ba sự bố thí nhiếp lấy chúng sanh hai đời: đời hiện tại đều được sung túc, đời vị lai an lập thiện căn.

Kệ tụng:

Thường, tự tánh, viên mãn

Tự vui, không phóng dật

Dẫn vào giới cụ túc

Hai quả thường vô tận.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục chúng sanh bằng trì giới ba-la-mật. Bồ tát có năm sự trì giới: 1. Trì giới thường xuyên, là đời này đến đời kia đều hộ trì tịnh giới; 2. Trì giới tự tánh, là trì giới bằng cái tâm vô công dụng, an trú trong tự thể chân thật; 3. Trì giới viên mãn, là thực thi đầy đủ mười đường thiện nghiệp, như kinh Thập địa nói rộng; 4. Trì giới tự an vui, là thường xuyên có được sự tự vui mừng khả ái; 5. Trì giới không phóng dật, là trong mỗi ý niệm không có sai phạm.

Đó là năm sự trì giới nhiếp lấy chúng sanh hai đời: đời hiện tại an lập giới phẩm, đời vị lai có được công đức của hai quả, đẳng lưu quả và dị thục quả, không bao giờ dứt hết.

Kệ tụng:

Không ích, nghĩ được ích

Cực nhẫn hiểu phương tiện

Khiến người khởi tùy thuận

Và trồng các thiện căn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục chúng sanh bằng nhẫn nhục ba-la-mật. Nếu có người đem đến cho Bồ tát nhiều việc không lợi ích, thì bằng sự nhẫn nhục cùng cực, Bồ tát nghĩ cách làm sao cho người ấy hiểu được sự lợi ích. Vì sao? Vì sự tùy thuận của người ấy làm nhân tố cho nhẫn nhục ba-la-mật của Bồ tát được tăng trưởng.

Sự tu tập nhẫn nhục như vậy nhiếp lấy hai đời: đời hiện tại làm cho chúng sanh sanh tâm quy hướng [Phật pháp], đời vị lai làm cho chúng sanh gieo trồng thiện căn.

Kệ tụng:

Nhiều kiếp tu tinh tiến

Lợi vật tâm chẳng thoái

Khiến sanh một niệm thiện

Huống được vô lượng thiện.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục chúng sanh bằng tinh tiến ba-la-mật. Trong trăm ngàn muôn kiếp, Bồ tát tu tập sự tinh tiến tối thượng để thành thục vô biên chúng sanh bằng tâm không thoái chuyển. Sự tu tập tinh tiến như vậy nhiếp lấy hai đời: đời hiện tại chỉ cần làm cho chúng sanh phát khởi một ý niệm thiện lành, đời vị lai làm cho vô lượng thiện căn của chúng sanh đều được thêm lớn.

Kệ tụng:

Được thiền tối tự tại

Ly nhiễm và kiến, mạn

Hiện tại được quy hướng

Vị lai thiện pháp tăng.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục chúng sanh bằng thiền định ba-la-mật. Bồ tát chứng đắc thiền định là do rời xa ái, kiến, mạn v.v… nên được sự tự tại tối thượng. Sự tu tập thiền định như vậy nhiếp lấy hai đời: đời hiện tại làm cho chúng sanh quy hướng diệu pháp tột bậc, đời vị lai làm cho chúng sanh tăng trưởng tất cả thiện căn.

Kệ tụng:

Biết chân và hiểu ý

Năng đoạn tất cả nghi

Với pháp khiến cung kính

Mình, người công đức đầy.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục chúng sanh bằng trí tuệ ba-la-mật. Biết chân, là hiểu chính xác về pháp (Đại thừa), không có điên đảo. Hiểu ý, là thấu rõ tâm hành của chúng sanh, đoạn trừ những nghi ngờ của họ. Sự tu tập trí tuệ như vậy nhiếp lấy hai đời: đời hiện tại làm cho chúng sanh hướng về pháp Đại thừa mà sanh khởi sự cung kính sâu xa, đời vị lai làm cho công đức của bản thân người ấy và công đức của người khác đều được viên mãn.

Kệ tụng:

Thiện đạo và ba thừa

Đại bi có ba phẩm

Đến tận đời vị lai

Vì thành thục chúng sanh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị ba sắc thái lớn lao của sự thành thục chúng sanh:

1. Địa vị lớn lao, là ngộ nhập bốn vị của Bồ tát để an lập chúng sanh vào mười thiện đạo cho đến [giáo nghĩa] ba thừa.

2. Phẩm chất lớn lao, là ba phẩm bi tâm cùng cực: bậc thấp là Bồ tát ở địa vị tín hạnh, bậc vừa là Bồ tát ở địa đầu tiên cho đến địa thứ bảy, bậc cao là Bồ tát ở địa thứ tám, thứ chín và thứ mười.

3. Thời gian lớn lao, là thời gian vô biên, tận cùng giới hạn vị lai.

Bồ tát làm lợi ích chúng sanh như vậy, gọi là [ba] sắc thái thành thục lớn lao.

Phẩm Thành Thục trọn vẹn

***

Phẩm Mười: BỒ-ĐỀ

Giải thích:

Đã nói sự thành thục chúng sanh của Bồ tát, kế nói sự đắc nhất thiết chủng trí của Bồ tát.

Kệ tụng:

Tất cả khó đã làm

Tất cả thiện đã chứa

Tất cả thời đã độ

Tất cả chướng đã đoạn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nhân viên mãn của nhất thiết chủng trí.

Tất cả khó đã làm: Tu hành đầy đủ vô lượng, trăm ngàn thứ khổ hạnh khó làm, chưa từng biết mệt mỏi.

Tất cả thiện đã chứa: Dồn chứa đầy đủ tự tánh thiện căn của các ba-la-mật.

Tất cả thời đã độ: Trải qua đầy đủ thời gian lâu xa là (ba) a-tăng-kỳ đại kiếp.

Tất cả chướng đã đoạn: Đoạn trừ hết tất cả chướng ngại Đại thừa, tức những chướng ngại nhỏ nhiệm [khó phá] ở trong các địa.

Kệ tụng:

Thành tựu nhất thiết chủng

Đây tức là thân Phật

Thí như tráp lớn mở

Bảo vật liền phô bày.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị quả viên mãn của nhất thiết chủng trí, quả ấy có ba nghĩa phân biệt: 1. Chí đắc; 2. Tự tánh; 3. Thí dụ.

Thành tựu nhất thiết chủng: Là phân biệt về chí đắc, nghĩa là từ địa vị này về sau đều thành tựu nhất thiết chủng trí.

Đây tức là thân Phật: Là phân biệt về tự tánh, nghĩa là nhất thiết chủng trí là thể của thân Phật.

Thí như tráp lớn mở, bảo vật liền phô bày: Là phân biệt về thí dụ, nghĩa là bồ-đề phần bảo [chân thật] không thể nghĩ bàn đều hiện ra trước mắt.

Đã nói nhất thiết chủng trí là thân Phật, kế nói thân ấy là sắc thái không hai.

Kệ tụng:

Bạch pháp là thân Phật

Chẳng không cũng chẳng có

Phật là nhân pháp bảo

Pháp là nhân thiện căn.

Giải thích:

Bạch pháp là thân Phật: Chuyển sáu ba-la-mật v.v…, tất cả thiện pháp làm thể của thân Phật.

Chẳng không cũng chẳng có: Thể của thân Phật chẳng phải không. Vì sao? Vì chân như thì không có riêng biệt. Thể của thân Phật cũng chẳng phải có. Vì sao? Vì tự tánh [thân] chưa thành tựu. Cho nên nói thân Phật mang sắc thái không hai.

Phật là nhân pháp bảo: Phật thuyết tất cả giáo pháp, cho đến sử dụng thần thông lực.

Pháp là nhân thiện căn: Chúng sanh là thửa ruộng, thiện căn là lúa má. Hiệu năng của pháp bảo là chuyển hóa thửa ruộng chúng sanh, làm cho sanh trưởng lúa má thiện căn.

Kệ tụng:

Đủ pháp, rời xa pháp

Như kho tàng, như mây

Sanh mưa pháp, mưa pháp

Thành thí dụ như vậy.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị một lần nữa nghĩa lý ở trên.

Đủ pháp, rời xa pháp: Chư Phật có đầy đủ tất cả thiện pháp và rời xa tất cả bất thiện pháp.

Như kho tàng, như mây: Phật bảo được ví như kho tàng, pháp bảo được ví như đám mây.

Hỏi: Nghĩa ấy thế nào?

Đáp: Sanh mưa pháp, mưa pháp, thành thí dụ như vậy: Phật bảo có năng lực xuất sanh pháp bảo, tương tợ như kho tàng lớn. Pháp bảo có năng lực sanh trưởng tất cả thiện căn cho chúng sanh, tương tợ như đám mây lớn.

Đã nói sắc thái không hai của thân Phật, kế nói sự quy y vô thượng.

Kệ tụng:

Chư Phật thường cứu hộ

Chúng sanh ba tạp nhiễm

Các hoặc, các ác hạnh

Cùng với sanh, già, chết.

Giải thích:

Kệ tụng này lược bày nghĩa cứu hộ.

Chư Phật thường cứu hộ: Chư Phật thường cứu hộ một cách trọn vẹn.

Hỏi: Chư Phật cứu hộ pháp gì?

Đáp: Chúng sanh có ba sự tạp nhiễm [khắp cả ba cõi], đó là hoặc tạp nhiễm, nghiệp tạp nhiễm và sanh tạp nhiễm. Các phiền não là hoặc tạp nhiễm; các ác hành là nghiệp tạp nhiễm; sanh, già, chết là sanh tạp nhiễm.

Hỏi: Chư Phật cứu hộ như thế nào?

Đáp: Đối với chúng sanh sống trong ba sự tạp nhiễm này, chư Phật cứu hộ trong mọi thời gian, không có xả bỏ. Đây chính là nghĩa cứu hộ trọn vẹn.

Kệ tụng:

Các tai nạn, đường dữ

Thân kiến và tiểu thừa

Như vậy các chúng sanh

Tất cả đều cứu hộ.

Giải thích:

Kệ tụng này rộng bày nghĩa cứu hộ.

Các tai nạn: Những chúng sanh bị đui, điếc, câm, ngọng, điên cuồng, tàn tật v.v…, nhờ Phật lực mà người đui thấy được, người điếc nghe được, người câm nói được, người điên được tỉnh táo, người cuồng được an định, người tàn tật được đầy đủ. Chư Phật cứu hộ như vậy.

Đường dữ: Chúng sanh trong các địa ngục bị lửa phóng ra thiêu đốt, chư Phật làm cho họ lìa khổ, không còn trở vào đó nữa. Chư Phật cứu hộ như vậy.

Thân kiến: Chúng sanh chấp trước vào ngã, chư Phật làm cho họ hiểu được nhân vô ngã, đi vào niết-bàn của nhị thừa. Chư Phật cứu hộ như vậy.

Tiểu thừa: Chúng sanh chủng tánh nhị thừa và chủng tánh bất định, chư Phật dùng phương tiện dẫn dắt họ đi vào Đại thừa. Chư Phật cứu hộ như vậy.

Kệ tụng:

Phật là chỗ thắng quy

Vô thượng không ai bằng

Như trên các thứ sợ

Không ai không giải thoát.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị chỗ quy y thù thắng. Đức Phật là vô thượng vì không ai có thể so sánh, không thể thí dụ. Như trên đã nói, đối với chúng sanh có ba sự tạp nhiễm, cũng như chúng sanh có các tai nạn v.v…, chư Phật đều cứu hộ hết thảy.

Kệ tụng:

Chư Phật thân thiện mãn

Thắng tất cả thế gian

Diệu pháp hóa chúng sanh

Đại bi độ biển khổ.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nhân tố thù thắng của chỗ quy y.

Chư Phật thân thiện mãn, thắng tất cả thế gian: Chư Phật đạt đến cứu cánh của sự lợi mình và viên mãn các thiện pháp tự tánh công đức như mười lực, bốn vô úy v.v…

Diệu pháp hóa chúng sanh, đại bi độ biển khổ: Chư Phật lý giải diệu pháp, giáo hóa chúng sanh bằng phương tiện và đưa chúng sanh đến bờ bến cứu cánh bằng đại bi.

Kệ tụng:

Tận giới hạn vị lai

Khắp tất cả đời sống

Thường xuyên lợi ích kia

Nói quy y lớn lao.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự quy y lớn lao. Lớn lao có ba nghĩa: 1. Thời gian lớn lao: Tận cùng giới hạn sanh tử của tất cả chúng sanh; 2. Cảnh giới lớn lao: Lấy tất cả chúng sanh làm cảnh giới; 3. Phụng sự lớn lao: Thường xuyên làm lợi ích an vui cho chúng sanh, cứu thoát khổ đau của chúng sanh và làm cho chúng sanh xuất ly khổ đau.

Đã nói sự quy y vô thượng, kế nói sắc thái chuyển y của Như lai.

Kệ tụng:

Hai chướng chủng hằng theo

Chủng diệt cực, rộng đoạn

Vì bạch pháp viên mãn

Y chuyển hai đạo thành.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sắc thái chuyển y, bao gồm chuyển ly và chuyển đắc.

Hai chướng chủng hằng theo, chủng diệt cực, rộng đoạn: Hai câu này nói rõ sự đối trị bằng viễn ly, nghĩa là chủng tử của hai chướng, phiền não chướng và trí chướng, từ vô thỉ đến nay hằng luôn theo đuổi, nay thời chủng tử [vi tế] của hai chướng ấy được tiêu diệt vĩnh viễn và cùng cực. Tất cả chủng tử [thô trọng] ở trong các địa đều được đoạn trừ rộng khắp.

Vì bạch pháp viên mãn, y chuyển hai đạo thành: Hai câu này nói rõ khả năng đối trị thành tựu, nghĩa là tự thể của Phật thích ứng với bạch pháp viên mãn cực kỳ thanh tịnh. Bấy giờ, y tha chuyển đắc để thành tựu hai trí đạo: một là, chuyển đắc Cực thanh tịnh xuất thế trí đạo; hai là, chuyển đắc Vô biên sở thức cảnh giới trí đạo; gọi đó là chuyển y.

Kệ tụng:

Xứ kia Như lai trú

Bất động như vua núi

Còn thương người tịch diệt

Huống người vướng mắc khổ.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự chuyển y của Như lai thì thù thắng trong các sự chuyển y. Vì sao? Vì sự chuyển y của Như lai là an trú trong Vô lậu giới xứ, như vua núi trấn giữ đất đai, an trú bất động. Khi chứng đắc địa vị chuyển y rồi, Như lai thấy những vị ưa thích tịch diệt là hàng thanh văn, duyên giác, còn sanh tâm thương xót, huống chi đối với chúng sanh vướng mắc khổ não, hạ tiện, sống ở biên địa xa xôi.

Kệ tụng:

Lợi người và vô thượng

Không chuyển và không sanh

Rộng lớn và không hai

Không trú và bình đẳng

Thù thắng và khắp trao

Nói Như lai chuyển y

Hiển thị mười công đức

Nghĩa sai biệt nên biết.

Giải thích:

Hai đoạn kệ tụng này hiển thị sự chuyển y của Như lai có mười thứ công đức sai biệt. Những gì là mười?

1. Chuyển y lợi người: Chuyển y là vì lợi ích yên vui cho tất cả chúng sanh;

2. Chuyển y vô thượng: Chuyển y là được tự tại trong tất cả pháp, là vượt qua sự chuyển y của nhị thừa;

3. Chuyển y không chuyển: Chuyển y thì các nhân của phần tạp nhiễm không thể chuyển đổi được nữa, vì chỗ dựa của phần tạp nhiễm bị chuyển bỏ bởi chỗ dựa của phần thanh tịnh;

4. Chuyển y không sanh: Chuyển y thì tất cả pháp tạp nhiễm hoàn toàn không sanh khởi;

5. Chuyển y rộng lớn: Chuyển y thì thị hiện chứng đắc đại bồ-đề và niết-bàn vô trú;

6. Chuyển y không hai: Chuyển y thì sanh tử, niết-bàn không còn phân hai;

7. Chuyển y không trú: Chuyển y thì hữu vi, vô vi đều không trú ở;

8. Chuyển y bình đẳng: Chuyển y thì cùng với hàng thanh văn, duyên giác có sự giải thoát phiền não chướng;

9. Chuyển y thù thắng: Chuyển y thì tất cả pháp của Phật [thọ dụng] như mười lực, bốn vô úy v.v… không ai bằng được;

10. Chuyển y dạy bảo khắp cả: Chuyển y thì thường xuyên lấy tất cả thừa mà dạy bảo chúng sanh.

Kệ tụng:

Hư không biến khắp cả

Phật cũng biến khắp cả

Hư không biến các sắc

Chư Phật biến chúng sanh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị pháp thân Phật hiện hành khắp cả, tương tự như hư không. Hai câu đầu là nói thẳng, hai câu sau là giải thích. Giống như hư không biểu hiện trong tất cả hình thái sắc chất, pháp thân Phật cũng biểu hiện trong tất cả hình thái chúng sanh. Nếu cho sự hiện hữu của chúng sanh chẳng phải là tự tánh của Phật, rồi nói rằng pháp thân Phật không hiện hành, nghĩa này không đúng, bởi lẽ chúng sanh chưa thành tựu [tự tánh thân].

Kệ tụng:

Đồ đựng nước bị bể

Ánh trăng chẳng hiện ra

Cũng vậy, lỗi chúng sanh

Hình tượng Phật chẳng hiện.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị pháp thân Phật thì biến khắp nhưng chúng sanh không thấy, giống như đồ đựng nước bị phá bể, không có nước nên không thấy được ánh trăng. Cũng vậy, chúng sanh vì tội chướng lỗi lầm nên không thấy được hình tượng Phật, nghĩa này thành lập.

Kệ tụng:

Như tánh của ngọn lửa

Hoặc cháy, hoặc tắt rụi

Như vậy chư Phật hóa

Xuất hiện hoặc niết-bàn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị việc chư Phật giáo hóa chúng sanh có xuất hiện, có biến mất. Giống như tánh chất của ngọn lửa, có lúc cháy bùng, có lúc tắt mất. Chư Phật giáo hóa chúng sanh cũng lại như vậy, có thời kỳ thị hiện xuất thế, có thời kỳ thị hiện niết-bàn.

Như vậy, đã nói sự chuyển y của Như lai, kế nói việc làm của Như lai đều là vô công dụng.

Kệ tụng:

Châu như ý, trống trời

Tự nhiên thành tự sự

Phật hóa và Phật thuyết

Vô tư cũng như vậy.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị việc làm vô công dụng của Phật.

Thí như bảo châu như ý, tuy là vô tâm nhưng tự nhiên có khả năng làm ra các thứ biến hiện. Như lai cũng vậy, tuy dùng tâm vô công dụng nhưng tự nhiên có thể khởi sanh các thứ biến hóa.

Thí như cái trống cõi trời, tuy là vô tâm nhưng tự nhiên có khả năng phát ra các loại âm thanh. Như lai cũng vậy, tuy dùng tâm vô công dụng nhưng tự nhiên có thể thuyết giảng đủ mọi diệu pháp.

Kệ tụng:

Dựa không nghiệp không ngừng

Nhưng nghiệp có tăng giảm

Dựa giới sự chẳng đoạn

Nhưng sự có sanh diệt.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị việc làm của Phật thì không có ngừng nghỉ.

Thí như thế gian dựa vào hư không mà làm thì không có thời gian ngừng nghỉ. Cũng vậy, chư Phật dựa vào vô lậu giới mà làm Phật sự thì không có thời gian ngừng nghỉ. Thí như thế gian dựa vào hư không mà làm thì có tăng, có giảm. Cũng vậy, chư Phật dựa vào vô lậu giới mà làm Phật sự thì có sanh, có diệt.

Đã nói cái tâm vô công dụng mà không buông bỏ Phật sự, kế nói pháp giới vô lậu sâu xa.

Kệ tụng:

Như trước, sau cũng vậy

Và rời tất cả chướng

Chẳng tịnh, chẳng bất tịnh

Phật gọi đó là như.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sắc thái thanh tịnh của pháp giới.

Như trước, sau cũng vậy: Đó là chẳng phải tịnh, vì tự tánh thì không nhiễm ô.

Và rời tất cả chướng: Đó là chẳng phải bất tịnh, vì thời gian sau rời xa được khách trần.

Chẳng tịnh, chẳng bất tịnh, Phật gọi đó là như: Phật nói chân như là chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh, gọi là sắc thái thanh tịnh của pháp giới.

Kệ tụng:

Thanh tịnh không vô ngã

Phật nói ngã tuyệt bậc

Chư Phật thì ngã tịnh

Nên Phật danh đại ngã.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sắc thái đại ngã của pháp giới.

Thanh tịnh không vô ngã: Đây là vô lậu giới do vô ngã tuyệt bậc làm tự tánh.

Phật nói ngã tuyệt bậc: Vô ngã tuyệt bậc là chân như thanh tịnh. Chân như thanh tịnh chính là tự tánh ngã của chư Phật.

Chư Phật thì ngã tịnh, Nên Phật danh đại ngã: Ngã ấy của Phật thì cực kỳ thanh tịnh cho nên mệnh danh Phật là bậc đại ngã. Từ ý nghĩa này, chư Phật nơi vô lậu giới mà kiến lập ngã tuyệt bậc, đó là sắc thái đại ngã của pháp giới.

Kệ tụng:

Phi thể, phi phi thể

Như vậy nói thể Phật

Vì thế làm luận này

Khẳng định pháp vô ký.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sắc thái vô ký của pháp giới.

Phi thể: Hai tướng nhân và pháp thì không thể diễn bày.

Phi phi thể: Sắc thái chân như thì thật có.

Như vậy nói thể Phật: Do nhân duyên này mà nói thật thể của Phật là phi thể, phi phi thể.

Vì thế làm luận này, khẳng định pháp vô ký: Vô ký nghĩa là: (1) Như lai có hiện hữu sau khi chết; (2) Như lai không hiện hữu sau khi chết; (3) Như lai vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu sau khi chết; (4) Như lai vừa phi hiện hữu, vừa không phi hiện hữu sau khi chết. Bốn câu như vậy thì không thể ghi nhận. Cho nên nói pháp giới là sắc thái vô ký.

Kệ tụng:

Thí như sắt nóng nguội

Thí như mắt nhặm trừ

Tâm trí dứt cũng vậy

Không nói hữu, vô thể.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sắc thái giải thoát của pháp giới.

Thí như sắt nóng nguội, thí như mắt nhặm trừ: Sắt nóng nguội hẳn và mắt nhặm trừ sạch, hai thí dụ như vậy có thể thuyết minh cho phi thể và phi phi thể. Vì sao? Sức nóng và màng mắt là vô tướng nên dụ cho phi thể. Sức nóng hết và hoa mắt trừ là trạng thái hữu thể nên dụ cho phi phi thể.

Tâm trí dứt cũng vậy, không nói hữu, vô thể: Chư Phật nói rằng tâm trí lấy tham làm sức nóng, lấy vô minh làm màng mắt; nếu dứt trừ được tham dục và vô minh thì có thể nói [pháp giới] là phi thể, phi phi thể. Vì sao? Vì dứt hết tham và vô minh nên nói là phi thể; vì có được tâm và tuệ giải thoát nên nói là phi phi thể. Đây là sắc thái giải thoát của pháp giới.

Đã nói sắc thái giải thoát sâu xa, kế nói pháp giới xứ sâu xa.

Kệ tụng:

Vô lậu giới của Phật

Phi một và phi nhiều

Là tùy thuận thân trước

Phi thân như hư không.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị pháp giới xứ sâu xa.

Pháp giới vô lậu của chư Phật thì chẳng phải một, cũng chẳng phải nhiều. Vì sao? Chẳng phải một là vì tùy thuận thân trước. Chẳng phải nhiều là vì thân Phật là phi thân.

Hỏi: Vì sao phi thân?

Đáp: Vì như hư không.

Đây gọi là pháp giới xứ sâu xa. Đã nói pháp giới xứ sâu xa, kế nói nghiệp dụng y chỉ sâu xa.

Kệ tụng:

Thí như kho báu lớn

Chỗ chứa các châu báu

Cõi tịnh cũng như vậy

Y chỉ của Phật pháp.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng y chỉ của pháp giới.

Pháp giới thanh tịnh làm nơi y chỉ cho các pháp bồ-đề phần bảo [chân thật] như là mười lực, bốn vô úy v.v…

Kệ tụng:

Thí như mây dày che

Mưa rơi thành trăm lúa

Cõi tịnh cũng như vậy

Lưu thiện thục chúng sanh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng thành thục chúng sanh của pháp giới.

Từ pháp giới thanh tịnh lưu xuất các thiện căn để thành thục chúng sanh.

Kệ tụng:

Thí như nhật nguyệt đầy

Vầng sáng trong viên mãn

Cõi tịnh cũng như vậy

Khối thiện căn viên mãn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng dồn chứa thiện căn đưa đến cứu cánh của pháp giới.

Do pháp giới thanh tịnh mà hai khối phước đức và trí tuệ được sanh ra, tăng trưởng cho đến viên mãn.

Kệ tụng:

Thí như vầng nhật xuất

Truyền sáng chiếu tất cả

Cõi tịnh cũng như vậy

Truyền dạy hóa quần sanh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng thuyết chánh pháp của pháp giới.

Kệ tụng:

Thí như nhật quang hợp

Cùng nhau chiếu thế gian

Cõi tịnh cũng như vậy

Phật hợp cùng nghiệp hóa.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng việc làm giáo hóa của pháp giới.

Thí như nhiều mặt trời và nhiều ánh sáng trong một lúc hòa hợp, cùng làm một việc là khô chín v.v… Cũng vậy, nhiều đức Phật và nhiều trí tuệ trong một lúc hòa hợp, cùng làm một việc là biến hóa v.v…

Kệ tụng:

Như mặt trời chiếu sáng

Vô hạn cùng nhất thời

Cõi tịnh Phật quang chiếu

Hai việc cũng như vậy.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng vô phân biệt của pháp giới.

Thí như ánh sáng mặt trời chiếu khắp, không có giới hạn và không có nhất thời. Cũng vậy, ánh sáng của Phật chiếu khắp, không có giới hạn và không có nhất thời.

Kệ tụng:

Thí như các mặt trời

Nói có mây mù che

Cõi tịnh các Phật trí

Nói có chúng sanh chướng.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng bất tác của pháp giới.

Thí như ánh sáng mặt trời bị mây mù che nên không có sự chiếu sáng. Cũng vậy, ánh sáng của Phật bị tội chướng của chúng sanh ngăn lại, mà phần nhiều là năm thứ vẩn đục ngăn che, nên không chịu tác động của pháp giới.

Kệ tụng:

Thí như sức tro ướt

Nhuộm áo các màu sắc

Cõi tịnh sức hạnh nguyện

Giải thoát chủng chủng trí.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghiệp dụng của trí giải thoát của pháp giới.

Thí như biệt y nhờ tác dụng của tro ướt mà có chỗ nhiều màu sắc, có chỗ không màu sắc. Cũng vậy, cõi tịnh của ba thừa toàn nhờ sức hạnh nguyện, nhưng sự giải thoát của chư Phật thì đắc chủng chủng trí, còn sự giải thoát của nhị thừa thì không đắc chủng chủng trí.

Kệ tụng:

Vô lậu giới sâu xa

Tướng, xứ, nghiệp ba thứ

Chư Phật thuyết như vậy

Thí như nhuộm vẽ không.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị thêm nữa những nghĩa lý sâu xa ở trên.

Vô lậu giới sâu xa, tướng, xứ, nghiệp ba thứ: Ở đây, pháp giới vô lậu được đức Thế tôn nói lược có ba thứ sâu xa: 1. Sắc thái sâu xa; 2. Trú xứ sâu xa; 3. Nghiệp dụng sâu xa.

Sắc thái sâu xa có bốn thứ: 1. Sắc thái thanh tịnh; 2. Sắc thái đại ngã; 3. Sắc thái vô ký; 4. Sắc thái giải thoát. Thứ tự như vậy được hiển thị qua bốn kệ tụng đầu.

Trú xứ sâu xa chỉ có một thứ, là một và nhiều đều không trú ở. Trú xứ sâu xa được hiển thị qua kệ tụng thứ năm.

Nghiệp dụng sâu xa có tám thứ: 1. Nghiệp dụng y chỉ quí báu; 2. Nghiệp dụng thành thục chúng sanh; 3. Nghiệp dụng đưa đến cứu cánh; 4. Nghiệp dụng thuyết chánh pháp; 5. Nghiệp dụng việc làm giáo hóa; 6. Nghiệp dụng vô phân biệt; 7. Nghiệp dụng trí bất tác; 8. Nghiệp dụng trí giải thoát. Thứ tự như vậy được hiển thị qua tám kệ tụng cuối.

Chư Phật thuyết như vậy, thí như nhuộm vẽ không: Pháp giới vô lậu thì không có hý luận, và được ví như hư không, cho nên nói là sâu xa. Chư Phật thuyết ra những sâu xa sai biệt như thế, giống như nhuộm vào hư không, vẽ vào hư không, nghĩa ấy nên biết.

Kệ tụng:

Tất cả không sai biệt

Được chân như thanh tịnh

Nên nói các chúng sanh

Gọi là Như lai tạng.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị pháp giới là Như lai tạng.

Tất cả không sai biệt: Tất cả chúng sanh và tất cả chư Phật đều bình đẳng, không có sai biệt, nên gọi là chân như.

Được chân như thanh tịnh: Chứng đắc chân như thanh tịnh, lấy chân như làm tự tánh nên gọi là Như lai.

Qua ý nghĩa này mà có thể nói tất cả chúng sanh là Như lai tạng.

Đã nói pháp giới vô lậu sâu xa, kế nói sự biến hóa của chư Phật.

Kệ tụng:

Thanh văn và Duyên giác

Bồ tát và Như lai

Sơ hóa lui thế gian

Đến Phật lui Bồ tát.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa tăng thượng.

Thanh văn biến hóa đẩy lui tất cả thế gian biến hóa. Duyên giác biến hóa đẩy lui tất cả thanh văn biến hóa. Bồ tát biến hóa đẩy lui tất cả duyên giác biến hóa. Chư Phật biến hóa đẩy lui tất cả Bồ tát biến hóa. Không có sự biến hóa của bất cứ ai có thể đẩy lui sự biến hóa của chư Phật, vì vậy sự biến hóa của Như lai là tột cùng sự biến hóa tăng thượng.

Kệ tụng:

Phật biến hóa như vậy

Vô lượng, không nghĩ bàn

Tùy người, tùy thế giới

Tùy thời hiện các loại.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa sâu xa.

Sự biến hóa sâu xa có hai thứ: 1. Vô lượng; 2. Không thể nghĩ bàn.

Hỏi: Biến hóa ấy như thế nào?

Đáp: Tùy theo đối tượng nào, tùy vào thế giới nào, tùy thuộc thời tiết nào, trong đó có những sai biệt nữa, hoặc biến hóa nhiều, hoặc biến hóa ít, đủ loại biến hóa. Sự biến hóa như vậy thì vô lượng và không thể nghĩ bàn, vì vậy sự biến hóa của Như lai rất là sâu xa.

Sau đây lại nói về sự biến hóa biệt chuyển.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển năm căn

Biến hóa được tăng thượng

Các nghĩa biến sở tác

Ngàn hai trăm công đức.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển năm căn.

Sự biến hóa này có được hai thứ tăng thượng: 1. Được các nghĩa biến sở tác, nghĩa là mỗi một căn đều có khả năng tương tác với các căn khác trong tất cả cảnh giới; 2. Được một ngàn hai trăm công đức, nghĩa là mỗi một căn đều có một ngàn hai trăm công đức.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển ý căn

Biến hóa được tăng thượng

Cực tịnh, vô phân biệt

Hằng tùy biến hóa làm.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển ý căn.

Ý căn là thức nhiễm ô. Do chuyển ý căn mà được sự cực kỳ thanh tịnh và trí vô phân biệt, thường xuyên cùng với tất cả biến hóa tùy hành cùng nhau tác động.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển nghĩa thọ

Biến hóa được tăng thượng

Tịnh độ như mong muốn

Thọ dụng đều hiện tiền.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển nghĩa thọ.

Nghĩa là năm trần, thọ là năm thức. Do chuyển năm trần và năm thức mà quốc độ thanh tịnh, chỗ mong muốn hiện tiền, tùy ý thọ dụng.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển phân biệt

Biến hóa được tăng thượng

Các trí khởi tác nghiệp

Mọi thời hành vô ngại.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển phân biệt.

Phân biệt là ý thức. Do chuyển ý thức mà các trí khởi tác dụng, biến hóa không có chướng ngại trong tất cả thời gian.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển an lập

Biến hóa được tăng thượng

Trú Phật bất động cú

Chẳng trú ở niết-bàn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển an lập.

An lập là khí thế giới. Do chuyển khí thế giới mà an trú trong pháp giới vô lậu bất động của Phật, nên không nhập niết-bàn, thường khởi sự biến hóa tăng thượng.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển dục nhiễm

Biến hóa được tăng thượng

Trú Phật vô thượng lạc

Thị hiện vô nhiễm nữ.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển dục nhiễm.

Do chuyển dục nhiễm mà được hai loại biến hóa: 1. Được sự lạc trú vô thượng; 2. Được sự vô nhiễm đối với người nữ.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển không tưởng

Biến hóa được tăng thượng

Tùy muốn được tất cả

Chỗ đi không ngăn trở.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự biến hóa do chuyển hư không tưởng.

Do chuyển hư không tưởng mà được hai loại biến hóa: 1. Chỗ muốn đều được, vì được đại định hư không tạng; 2. Chỗ đi không ngăn trở, vì được đại định hư không giải.

Kệ tụng:

Như vậy chuyển vô lượng

Như vậy hóa vô lượng

Việc làm không nghĩ bàn

Chư Phật dựa vô cấu.

Giải thích:

Kệ tụng này tổng kết các nghĩa ở trước.

Do chuyển vô lượng nên có được biến hóa vô lượng. Đó là nghiệp dụng không thể nghĩ bàn của chư Phật. Tất cả chư Phật đều dựa vào pháp giới vô lậu, nghĩa này nên biết.

Đã nói sự biến hóa của chư Phật, kế nói sự thành thục chúng sanh của chư Phật.

Kệ tụng:

Dồn chứa và tăng trưởng

Thành thục và giải thoát

Thuần thục không vô dư

Vì thế gian vô tận.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị thứ tự nhân tố thành thục.

Người chưa dồn chứa các thiện căn thì khiến cho dồn chứa các thiện căn. Người đã dồn chứa các thiện căn thì khiến cho tăng trưởng các thiện căn. Người đã tăng trưởng các thiện căn thì khiến cho thành thục các thiện căn. Người đã thành thục các thiện căn thì khiến cho giải thoát, cho đến có được sự cực kỳ thanh tịnh. Như vậy, mười phương chư Phật, đức Phật nào cũng thiện thuyết (chánh pháp), thành thục chúng sanh này xong, lại thành thục chúng sanh khác, không nhập niết-bàn. Vì sao? Vì chúng sanh trong các thế giới không có cùng tận.

Kệ tụng:

Khó được đã được đủ

Làm nơi chúng sanh quy

Hy hữu phi hy hữu

Được phương tiện thiện xảo.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự thành thục hạnh Bồ tát là sắc thái phi hy hữu.

Khó được đã được đủ, làm nơi chúng sanh quy: Quả Vô thượng bồ-đề có công đức tối thượng, hàng Bồ tát chưa từng được quả ấy mà nay có sự tương ưng đầy đủ. Do tương ưng với quả ấy mà có thể thường ở trong mười phương thế giới làm chỗ quy y cho muôn loài.

Hy hữu phi hy hữu: Sự thành thục chúng sanh khắp chốn như vậy gọi là một sự hy hữu. Sự hy hữu như vậy là phi hy hữu. Vì sao? Vì được phương tiện thiện xảo vậy.

Được phương tiện thiện xảo: Là tùy theo căn cơ mà dẫn dắt chúng sanh đi trên con đường thanh tịnh.

Kệ tụng:

Chuyển pháp và pháp diệt

Đắc đạo và niết-bàn

Mọi nơi phương tiện khởi

Bất động chân pháp giới.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nhân tố thành thục khắp cả.

Chuyển pháp và pháp diệt, đắc đạo và niết-bàn: Trong một sát-na, có quốc độ Như lai thị hiện chuyển pháp luân vô lượng, có quốc độ Như lai thị hiện chánh pháp diệt tận, có quốc độ Như lai thị hiện đắc đại bồ-đề, có quốc độ Như lai thị hiện nhập niết-bàn. Đó toàn là do hạnh nghiệp của chúng sanh chẳng đồng vậy.

Mọi nơi phương tiện khởi, bất động chân pháp giới: Nếu có chúng sanh thích ứng sự thành thục, Như lai tùy thuận trú xứ của người ấy, phương tiện giáo hóa mọi nơi, nhưng đối với pháp giới vô lậu, Như lai an trú bất động.

Kệ tụng:

Chẳng khởi ý phân biệt

Thành thục cả ba đời

Mọi nơi hóa chúng sanh

Ba môn thường thị hiện.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nhân tố thành thục tự nhiên.

Chẳng khởi ý phân biệt, thành thục cả ba đời: Tất cả chư Phật không bao giờ khởi lên ý niệm rằng tôi đã thành thục chúng sanh, tôi sẽ thành thục chúng sanh, tôi đang thành thục chúng sanh. Vì sao? Vì chư Phật không có ý niệm phân biệt.

Mọi nơi hóa chúng sanh, ba môn thường thị hiện: Tuy sự giáo hóa của chư Phật toàn là không còn dụng công, nhưng trong tất cả thời gian, nơi các thế giới mười phương, chư Phật thường lấy các thiện căn (vô lậu) biến hiện thành ba môn để thành thục chúng sanh. Ba môn là giáo môn của ba thừa.

Kệ tụng:

Mặt trời tự nhiên sáng

Chiếu tối thành trăm lúa

Nhật quang pháp cũng vậy

Diệt hoặc, thục chúng sanh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghĩa tự nhiên qua thí dụ.

Thí như mặt trời không cần phương tiện, tự nhiên phóng ra ánh sáng, phá tan sự tối tăm khắp nơi để chín muồi trăm loại lúa. Cũng vậy, bằng việc làm không cần dụng công, chư Phật đem ánh sáng mặt trời chánh pháp tiêu diệt những lậu hoặc ở mọi hình thái để thành thục chúng sanh.

Kệ tụng:

Một đèn thắp các đèn

Hợp lại sáng vô tận

Một thục hóa nhiều thục

Hóa vô tận cũng vậy.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nhân tố thành thục triển chuyển.

Thí như một ngọn đèn thắp chuyền các ngọn đèn. Ngọn đèn cực lớn là tập hợp của vô lượng vô số ngọn đèn, nói cách khác, một ngọn đèn làm ra vô tận. Chư Phật cũng vậy, một đức Phật vừa thành thục lại giáo hóa nhiều chúng sanh thành thục. Chúng sanh [thành thục] cực lớn là tập hợp của vô lượng vô số chúng sanh [thành thục], nói cách khác, sức mạnh giáo hóa thành thục chúng sanh không có cùng tận.

Kệ tụng:

Biển cả nạp các dòng

Không chán cũng không tràn

Phật giới nhiếp các thiện

Không đầy cũng không tăng.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nhân tố thành thục không nhàm chán.

Thí như biển cả thu nhận trăm dòng sông mà không bao giờ chán đủ, cũng không có tràn đầy, vì biển cả có khả năng tiếp nhận và dung chứa. Cũng vậy, pháp giới chư Phật thường nhiếp thọ vô lượng thiện căn thanh tịnh (của chúng sanh) mà không bao giờ đầy đủ, cũng không tăng trưởng, vì pháp giới chư Phật thì rất là hy hữu.

Đã nói sự thành thục chúng sanh của chư Phật, kế nói pháp giới thanh tịnh của chư Phật.

Kệ tụng:

Hai chướng đã vĩnh trừ

Pháp chân như thanh tịnh

Đối cảnh và trí duyên

Tự tại mãi vô tận.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị tánh nghĩa của pháp giới.

Hai chướng đã vĩnh trừ, pháp chân như thanh tịnh: Là sắc thái thanh tịnh của pháp giới, do phiền não chướng và trí chướng thảy đều vĩnh viễn đoạn tận.

Đối cảnh và trí duyên, tự tại mãi vô tận: Là sắc thái tự tại của pháp giới, do đối cảnh và trí duyên theo đối cảnh, cả hai thứ đều tự tại mãi vô tận.

Kệ tụng:

Nhất thiết chủng như trí

Tu nhân sạch pháp giới

Lợi lạc hóa chúng sanh

Quả này cũng vô tận.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghĩa nhân tố của pháp giới.

Nhất thiết chủng như trí, tu nhân sạch pháp giới: Thanh tịnh pháp giới thì ở trong tất cả thời gian tu tập trí nhất thiết chủng như môn, lấy trí ấy làm nhân.

Lợi lạc hóa chúng sanh, quả này cũng vô tận: Giáo hóa chúng sanh thì ở trong tất cả thời gian trao cho tất cả chúng sanh hai quả lợi lạc, mãi mãi vô tận.

Kệ tụng:

Phát khởi thân, khẩu, tâm

Ba nghiệp hằng thời hóa

Hai môn và hai khối

Phương tiện đều viên mãn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghĩa hiện hành ba nghiệp của pháp giới.

Phát khởi thân, khẩu, tâm, ba nghiệp hằng thời hóa: Phát khởi thân nghiệp, khẩu nghiệp, tâm nghiệp trong tất cả thời vì giáo hóa chúng sanh.

Hai môn và hai khối, phương tiện đều viên mãn: Luận cho rằng đầy đủ hai môn và hai khối làm phương tiện. Hai môn là tam-muội môn và đà-la-ni môn. Hai khối là khối phước đức và khối trí tuệ.

Kệ tụng:

Tự tánh và pháp thực

Biến hóa vị sai biệt

Đây do pháp giới tịnh

Là lời chư Phật dạy.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị nghĩa bản vị của pháp giới.

Tự tánh và pháp thực, biến hóa vị sai biệt: Bản vị sai biệt là tự tánh thân, thực thân và biến hóa thân.

Đây do pháp giới tịnh, là lời chư Phật dạy: Nếu pháp giới mà không thanh tịnh thì bản vị của ba thân không thành tựu.

Đã nói pháp giới thanh tịnh của chư Phật, kế nói ba thân của chư Phật.

Kệ tụng:

Tánh thân và thực thân

Hóa thân thành ba thân

Nên biết thân thứ nhất

Y chỉ hai thân kia.

Giải thích:

Tất cả chư Phật có ba loại thân: 1. Tự tánh thân: Là sắc thái của chuyển y của Như lai; 2. Thực thân: Là thân ở tại đại tập chúng hội của chư Phật làm sự thọ dụng pháp lạc Đại thừa; 3. Hóa thân: Là thân làm việc giáo hóa và lợi ích chúng sanh. Nên biết, trong ba thân ấy, tự tánh thân làm nơi y chỉ cho thực thân và hóa thân, vì tự tánh thân là bản thân của Phật.

Kệ tụng:

Thực thân các thế giới

Thọ dụng có sai biệt

Chúng, độ gọi thân nghiệp

Tất cả đều khác nhau.

Giải thích:

Thực thân ở trong tất cả thế giới có các sự nghiệp, các thân tướng, các danh hiệu, các quốc độ, các đồ chúng, các sự thọ dụng như vậy, thảy đều chẳng đồng.

Kệ tụng:

Thân bình đẳng, vi tế

Gắn liền thọ dụng thân

Nên biết thọ dụng thân

Cũng là nhân hóa thân.

Giải thích:

Bình đẳng, là tự tánh thân, vì tất cả chư Phật thì đồng đẳng, không có sai biệt. Vi tế, là vì thân ấy khó có thể hiểu biết được. Thọ dụng thân, là thực thân. Thọ dụng thân gắn liền với bình đẳng thân, vì thọ dụng thân dựa vào bình đẳng thân mà sanh khởi.

Nên biết thọ dụng thân, cũng là nhân hóa thân: Là vì chư Phật muốn thọ dụng tất cả mà thị hiện hóa thân.

Kệ tụng:

Hóa Phật vô lượng hóa

Vì vậy gọi hóa thân

Hai thân, hai lợi thành

Tất cả chủng thiết lập.

Giải thích:

Ở trong tất cả thời gian, hóa thân của chư Phật hiện hóa vô lượng sai biệt. Đức Phật có sự hiện hóa ấy gọi là đức Phật hóa thân. Hai thân, là thực thân và hóa thân. Hai lợi, là lợi mình và lợi người. Thực thân lấy thành tựu lợi mình làm sắc thái. Hóa thân lấy thành tựu lợi người làm sắc thái. Hai lợi như vậy là biểu thị sự thành tựu nhất thiết chủng trí, lần lượt thiết lập thực thân và hóa thân.

Kệ tụng:

Kỹ nghệ và xuất sanh

Đắc đạo, nhập niết-bàn

Bày phương tiện lớn này

Khiến người được giải thoát.

Giải thích:

Lại nữa, hóa thân thì ở trong tất cả thời gian làm sự giáo hóa chúng sanh bằng cách hóa hiện kỹ nghệ, hoặc thị hiện xuất sanh, hoặc thị hiện đắc bồ-đề, hoặc thị hiện nhập niết-bàn. Những sự thị hiện đủ thứ như vậy là phương tiện lớn lao, đều vì làm cho chúng sanh có được sự giải thoát. Đây là sắc thái thành tựu lợi người.

Kệ tụng:

Nên biết ba thân Phật

Chư Phật thân nhiếp hết

Dựa vào lợi mình người

Thị hiện cả ba thân.

Giải thích:

Nên biết, ba thân ấy nhiếp hết tất cả thân của chư Phật, và sự thị hiện tất cả thân đều dựa vào sự lợi mình và sự lợi người.

Kệ tụng:

Do vì y, tâm, nghiệp

Ba Phật đều bình đẳng

Tự tánh, vô gián, tục

Ba Phật đều thường trú.

Giải thích:

Theo thứ tự nói về ba loại thân như sau: Tất cả chư Phật đều bình đẳng: (1) là do y chỉ, tự tánh thân của tất cả chư Phật thì bình đẳng, vì pháp giới không có sai biệt; (2) là do tâm thể, thực thân của tất cả chư Phật thì bình đẳng, vì tâm Phật không có sai biệt; (3) là do nghiệp dụng, hóa thân của tất cả chư Phật thì bình đẳng, vì việc làm đồng nhất.

Lại nữa, tất cả chư Phật đều cùng thường trú: (1) do tự tánh thường trú, tự tánh thân của tất cả chư Phật thì thường trú, vì hoàn toàn vô lậu; (2) do vô gián thường trú, thực thân của tất cả chư Phật thì thường trú, vì thuyết pháp không có ngừng nghỉ; (3) do tương tục thường trú, hóa thân của tất cả chư Phật thì thường trú, vì tuy thấy nhập diệt ở đây nhưng lại thấy thị hiện ở nơi khác.

Đã nói về thân của chư Phật, kế nói về trí của chư Phật.

Kệ tụng:

Bốn trí, cảnh bất động

Sở y của ba trí

Thức tám, bảy, sáu, năm

Lần lượt chuyển đắc trí.

Giải thích:

Bốn trí, cảnh bất động, Sở y của ba trí: Tất cả chư Phật có bốn trí: 1. Cảnh trí; 2. Bình đẳng trí; 3. Quán trí; 4. Tác sự trí. Cảnh trí lấy bất động làm sắc thái, thường làm nơi y chỉ cho ba trí kia. Vì sao? Vì ba trí kia thì động.

Thức tám, bảy, sáu, năm, lần lượt chuyển đắc trí: Chuyển thức thứ tám để được cảnh trí, chuyển thức thứ bảy để được bình đẳng trí, chuyển thức thứ sáu để được quán trí, chuyển năm thức trước để được tác sự trí. Nên biết nghĩa ấy.

Kệ tụng:

Cảnh trí duyên vô phần

Tương tục hằng chẳng đoạn

Không ngu các sở thức

Các tướng chẳng hiện tiền.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự chuyển thức thứ tám để được cảnh trí.

Cảnh trí duyên vô phần: Trong tất cả cảnh giới, cảnh trí không tạo tác duyên tố phần đoạn.

Tương tục hằng chẳng đoạn: Trong tất cả thời gian, cảnh trí thường hiện hành không gián đoạn.

Không ngu các sở thức: Cảnh trí liễu tri tất cả cảnh giới nên chướng ngại vĩnh viễn đoạn tận.

Các tướng chẳng hiện tiền: Trong các cảnh giới, cảnh trí ly các hành tướng, duyên vô phân biệt.

Kệ tụng:

Cảnh trí nhân các trí

Nói là đại trí tạng

Thân khác và trí khác

Tượng hiện từ đây khởi.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị cái dụng của cảnh trí.

Cảnh trí nhân các trí, nói là đại trí tạng: Các trí là bình đẳng trí, quán trí và tác sự trí. Ba trí này đều lấy cảnh trí làm nhân tố, vì vậy cảnh trí được ví như kho tàng lớn, tức kho tàng của các trí.

Thân khác và trí khác, tượng hiện từ đây khởi: Thân khác là thọ dụng thân và hóa thân. Trí khác là bình đẳng trí, quán trí và tác sự trí. Tất cả ảnh tượng của các thân và thể tướng của các trí đều từ cảnh trí xuất sanh, cho nên Phật nói cảnh trí là trí của tấm gương (lớn tròn đầy trong đó hiện đủ mọi sắc tượng).

Kệ tụng:

Bình đẳng trí chúng sanh

Tu tịnh chứng bồ-đề

Chẳng trú ở niết-bàn

Do vì không rốt ráo.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự chuyển thức thứ bảy để được bình đẳng trí.

Bình đẳng trí chúng sanh, tu tịnh chứng bồ-đề: Khi chư Bồ tát chứng pháp hiện tiền thì đắc bình đẳng trí về tất cả chúng sanh. Tu tập trí này đến tối cực thanh tịnh thì đắc Vô thượng bồ-đề.

Chẳng trú ở niết-bàn, do vì không rốt ráo: Vì chúng sanh vô tận nên không rốt ráo [có nhập niết-bàn]; không rốt ráo [có nhập niết-bàn] nên không trú ở niết-bàn. Từ ý nghĩa này mà nói là bình đẳng trí.

Kệ tụng:

Đại từ và đại bi

Cả hai thường không dứt

Chúng sanh có đức tin

Hình tượng Phật hiện tiền.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị cái dụng của bình đẳng trí.

Đại từ và đại bi, cả hai thường không dứt: Trong tất cả thời gian, chư Phật Như lai dõi theo chúng sanh. Vì sao? Vì tâm đại từ, đại bi của chư Phật chưa bao giờ đoạn dứt.

Chúng sanh có đức tin, hình tượng Phật hiện tiền: Nếu người có đức tin thì chư Phật tùy thuận sở nguyện mà hiện thân, hoặc có chúng sanh nhìn thấy thân Như lai sắc xanh, hoặc có chúng sanh nhìn thấy thân Như lai sắc vàng.

Như vậy, qua những gì trình bày ở đây, hai trí này chính là pháp thân.

Kệ tụng:

Quán trí thức, sở thức

Hằng thời không có ngại

Trí này như đại tạng

Tổng trì, tam-muội nương.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự chuyển thức thứ sáu để được quán trí.

Đối với tất cả cảnh giới, quán trí lấy tâm thức làm đối tượng, hằng không chướng ngại [sự sai biệt của tất cả cảnh giới]. Thí như kho tàng lớn, quán trí làm y chỉ cho tất cả đà-la-ni môn và tất cả tam-muội môn . Vì sao? Hai môn như vậy đều từ trí này phát sanh.

Kệ tụng:

Thường ở trong đại chúng

Thị hiện các tác dụng

Đoạn được các lưới nghi

Mưa trận mưa pháp lớn.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị cái dụng của quán trí, nghĩa lý như kệ tụng đã nói. Quán trí này chính là thực thân.

Kệ tụng:

Sự trí nơi các cõi

Khởi các sự biến hóa

Vô lượng không nghĩ bàn

Vì lợi lạc quần sanh.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị sự chuyển của năm thức trước để được tác sự trí.

Tác sự trí kia làm ra các sự biến hóa ở trong tất cả thế giới, biến hóa vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Những nghiệp dụng biến hóa như vậy đều vì lợi lạc tất cả chúng sanh . Tác sự trí này chính là hóa thân.

Kệ tụng:

Nhiếp trì và đẳng tâm

Khai pháp và tác sự

Như vậy y bốn nghĩa

Tuần tự bốn trí khởi.

Giải thích:

Nhiếp trì, là nghe chánh pháp rồi thì thu nhận mà gìn giữ. Đẳng tâm, là đối với tất cả chúng sanh có được cái tâm bình đẳng mình người. Khai pháp, là diễn thuyết chánh pháp. Tác sự, là khởi các nghiệp dụng biến hóa. Dựa vào nghĩa thứ nhất, cảnh trí khởi; dựa vào nghĩa thứ hai, bình đẳng trí khởi; dựa vào nghĩa thứ ba, quán trí khởi; dựa vào nghĩa thứ tư, tác sự trí khởi.

Kệ tụng:

Vì tánh biệt, bất hư

Nhất thiết và vô thủy

Vô biệt nên chẳng một

Y đồng nên chẳng nhiều.

Giải thích:

Kệ tụng này hiển thị chư Phật thì không phải một, không phải nhiều.

Không phải một, là vì đặc tánh riêng biệt, chẳng hư dối, tất cả, không có bắt đầu và không có đặc biệt.

Đặc tánh riêng biệt: Vô biên chư Phật có (vô biên) đặc tánh riêng biệt. Nói rằng chỉ có một đức Phật hiện hữu đang chứng đắc bồ-đề, nghĩa này không đúng, vậy Phật thì không phải một.

Chẳng hư dối: Nói rằng khối phước đức và trí tuệ là hư dối, cũng tức là nói Bồ tát không thể đắc bồ-đề. Vì hai khối phước trí không phải hư dối nên nghĩa này không đúng, vậy Phật thì không phải một.

Tất cả: Nói rằng chỉ có một đức Phật, cũng tức là nói đức Phật ấy không làm lợi ích được cho tất cả chúng sanh. Vì Phật thiết lập tất cả chúng sanh làm Phật nên nghĩa này không đúng, vậy Phật thì không phải một.

Không có bắt đầu: Nói rằng tối sơ chỉ có một đức Phật thì đức Phật ấy không cần phải có hai khối phước trí cũng đắc thành Phật, nghĩa này không đúng, vậy Phật thì không phải một.

Không có đặc biệt: Nói rằng đặc biệt có một đức Phật không có hai khối phước trí, nghĩa này không đúng, vậy Phật thì không phải một.

Không phải nhiều, là vì chư Phật dựa vào (pháp tánh) đồng nhất, nghĩa là pháp thân của tất cả chư Phật dựa vào pháp giới vô lậu.

Đã nói về trí của chư Phật, kế nói sự đi vào phương tiện của chư Phật.

Kệ tụng:

Phân biệt nếu luôn có

Chân thật thì mãi không

Phân biệt nếu mãi không

Chân thật thì luôn có.

Giải thích:

Nếu tự tánh phân biệt hằng có mặt thì tự tánh chân thật vĩnh viễn không có mặt, nên không thể thủ đắc (pháp giới). Nếu tự tánh phân biệt vĩnh viễn không có mặt thì tự tánh chân thật hằng có mặt, nên có thể thủ đắc (pháp giới).

Kệ tụng:

Muốn tu tối thượng tu

Không thấy tất cả tu

Muốn đắc tối thượng đắc

Không thấy tất cả đắc.

Giải thích:

Không thấy tất cả tu, tu như vậy là tu tối thượng. Thấy tất cả tu, tu như vậy là không thể đắc. Không thấy tất cả đắc, đắc như vậy là đắc tối thượng. Thấy tất cả đắc, đắc như vậy là không thể đắc

Kệ tụng:

Tôn trọng, thời gian dài

Quán Phật pháp hy hữu

Duyên đây mau đắc Phật

Bỏ Phật bồ-đề xa.

Giải thích:

Nếu có vị Bồ tát đối với đức Phật Thế tôn sanh tâm cực kỳ tôn trọng và trong thời gian dài lâu tinh cần quán thân Phật là pháp vị tằng hữu. Tâm duyên pháp quán này và tinh tiến dài lâu, vị Bồ tát ấy có thể nói tôi đang mau được Vô thượng bồ-đề. Nên biết vị Bồ tát nào bỏ Phật thì quả bồ-đề rất là xa. Vì sao? Vì vị ấy có tâm cao mạn vậy.

Kệ tụng:

Quán pháp duy phân biệt

Nghĩa này như trước biết

Bồ tát vô phân biệt

Vị ấy mau thành Phật.

Giải thích:

Bồ tát quán tất cả các pháp chỉ là phân biệt. Sự quán cái phân biệt kia cũng vô phân biệt, tức đắc nhập địa vị vô sanh nhẫn của Bồ tát. Từ nghĩa như vậy mà nói chứng đắc bồ-đề.

Đã nói sự đi vào phương tiện của chư Phật, kế nói sự đồng sự của chư Phật.

Kệ tụng:

Nên biết các dòng sông

Biệt y và biệt sự

Nước ít nên dụng ít

Vì chưa vào biển lớn.

Tất cả vào biển lớn

Nhất y và nhất sự

Nước nhiều nên dụng nhiều

Và lại thường vô tận.

Như vậy các biệt giải

Biệt ý và biệt nghiệp

Giải nhỏ lợi ích nhỏ

Vì chưa vào thể Phật.

Tất cả vào thể Phật

Nhất giải và nhất ý

Giải lớn lợi ích lớn

Cực tụ cũng vô tận.

Giải thích:

Biệt thủy (nước sông): là thí dụ cho biệt giải của chư Bồ tát. Biệt y (dòng sông): là thí dụ cho biệt ý của chư Bồ tát. Nhất thủy (nước biển): là thí dụ cho nhất giải của chư Như lai. Nhất y (biển cả): là thí dụ cho nhất ý của chư Như lai.

Do nước của các sông khác nhau nên các dòng chảy cũng khác nhau, và do dòng sông nhỏ nên lưu lượng nước cũng ít. Vì sao? Vì chưa hòa nhập vào biển lớn. Chư Bồ tát cũng vậy, do kiến giải khác nhau nên sự tác nghiệp cũng khác nhau, và do kiến giải ít ỏi nên lợi ích chúng sanh cũng ít ỏi. Vì sao? Vì chưa thể nhập vào thể Phật.

Các dòng sông khi đi vào biển lớn thì có cùng một y cứ, có cùng một thể chất. Do nước biển đồng nhất nên tác dụng của biển cũng đồng nhất, và do biển cả lớn lao nên dòng chảy cũng lớn lao. Chư Bồ tát cùng thể nhập thể Phật tức là đồng nhất ý, là đồng nhất giải [của chư Như lai]. Do kiến giải đồng nhất nên sự tác nghiệp cũng đồng nhất, và do kiến giải lớn lao nên lợi ích cũng lớn lao. Thể Phật chứa nhóm tất cả chúng sanh một cách cực đại và không có cùng tận.

Như vậy, đã nói thể dụng của chư Phật, kế nói một kệ tụng khuyến tiến mong cầu.

Kệ tụng:

Không sánh tròn bạch pháp

Nhân lợi lạc chúng sanh

Lạc trú vô tận tạng

Người trí nên cầu phát.

Giải thích:

Không sánh tròn bạch pháp: Là việc lợi mình của Phật thành tựu.

Nhân lợi lạc chúng sanh: Là việc lợi người của Phật thành tựu.

Lạc trú vô tận tạng: Thiện căn của Phật không ai vượt qua, không ai trên được, là kho tàng an lạc vô tận.

Người trí nên cầu phát: Người có trí nên cầu sự lạc trú tối thắng như vậy mà phát đại bồ-đề tâm.

Phẩm Bồ-đề trọn vẹn

    Xem thêm:

  • Luận Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội - Luận Tạng
  • Luận Tịnh Độ Thập Nghi - Luận Tạng
  • Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận - Luận Tạng
  • Luận Câu Xá – Phẩm 4: Phân Biệt Nghiệp - Luận Tạng
  • Giảng Luận Và Giải Thích Luận Nhiếp Đại Thừa - Luận Tạng
  • Ba Mươi Bài Luận Tụng Duy Thức - Luận Tạng
  • Thích Nghĩa Luận Nhiếp Đại Thừa - Luận Tạng
  • Luận Đại Thừa Trăm Pháp Minh Môn - Luận Tạng
  • Luận Hai Mươi Kệ Tụng Duy Thức - Luận Tạng
  • Luận Tối Thượng Thừa - Luận Tạng
  • Luận Nhiếp Đại Thừa - Luận Tạng
  • Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận - Luận Tạng
  • Niệm Phật Tam Muội Bửu Vương Luận - Luận Tạng
  • Luận Nhiếp Đại Thừa - Luận Tạng
  • Luận Giảng Rộng Ý Nghĩa Năm Uẩn Theo Giáo Pháp Đại Thừa - Luận Tạng
  • Luận Nhập Đại Thừa - Luận Tạng
  • Luận Câu Xá – Phẩm 3: Phân Biệt Thế Gian - Luận Tạng
  • Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận - Luận Tạng
  • Đại Thừa Tuyệt Đối Luận - Luận Tạng
  • Thập Nhị Môn Luận – Thích Thanh Từ - Luận Tạng