Kinh Ca Diếp Phó Phật Bát Niết Bàn

Đông Tấn Trúc Đàm Vô Lan dịch

Bản Việt dịch (1) của Huyền Thanh

Bản Việt dịch (2) của Thích Nữ Đức Nghiêm

***

Kinh Ca Diếp Phó Phật Bát Niết Bàn

Việt dịch: Huyền Thanh

***

Thuở xưa, khi Đức Phật còn trụ ở đời, thời Ma Ha Ca Diếp (Mahā-kāśyapa) ở trong các vị Tỳ Khưu là bậc Tôn Trưởng nhiều tuổi nhất, tài giỏi, Trí Tuệ sáng suốt. Thân của ngài cũng có màu vàng ròng với các tướng tốt. Mỗi khi Đức Phật nói Pháp thời ngài thường ngồi đối diện với Đức Phật, người dân nhìn thấy, lầm lẫn nói ngài là vị thầy của Đức Phật.

Khi ấy Ca Diếp từ giã Đức Phật đến ở tại một ngọn núi tên là Phổ Năng trong núi Y Si Lê. Núi ấy có chu vi một ngàn dặm, cách nước Xá Vệ (Śrāvastī) hai vạn sáu ngàn dặm, hay tuôn ra bảy báu rất nhiều, chẳng thiếu quả trái ngon ngọt, hương thơm nổi tiếng, thuốc tốt, có ba loại Chiên Đàn (Candana): một loại tỏa hương thơm phức, một loại chữa trị trăm thứ bệnh của con người, một loại có thể dùng để nhuộm năm màu….với mọi loại hương, thuốc hỗn tạp chẳng thể xưng đếm. Cũng có chim bay, thú chạy, cọp, sói, voi trắng, Kỳ Lân, Chu Tước, Phượng Hoàng. Hoặc có Đạo Sĩ dị học trong sạch.

Núi ấy có tảng đá vuông vức bằng phẳng có màu sắc như Lưu Ly (Vaiḍurya), cao rộng một trăm hai mươi dặm, được cái cây có hoa lá năm màu hiếm có che bóng mát, mùa Đông mùa Hạ sinh trưởng rất xum xuê, xếp bày trên tảng đá.

Ngài Ca Diếp trước sau đã dạy bảo truyền thụ cho hai ngàn Đệ Tử, đều là bậc có Đức Hạnh cao cả trong sạch, chứng đắc La Hán (Arhat) thường ngồi trên tảng đá này, tụng Kinh hành Đạo.

Lại có dòng suối thơm ngọt trong sạch chảy giáp vòng bốn mươi dặm. Trong nước ấy có hoa Ưu Đàm (Uduṃbara) hoa màu xanh biếc, hoa màu hồng, hoa màu tím.

Đệ Tử của Ca Diếp có bảy người đồng một đêm, nằm mộng:

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy phần chính giữa của tảng đá vuông vức đã ngồi bị chia phá, cây đều bị nhổ bứt rễ.

_ Lại một vị Tỳ Khưu mộng thấy: dòng suối bốn mươi dặm đều bị cạn khô, hoa đều bị rụng xuống.

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy Câu La (cỏ Cao La: có lá giống như Trà, có vị đắng) bên cạnh chỗ ngồi đều bị nghiêng đổ hủy nát

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy đất của cõi Diêm Phù Đề (Jampu-dvīpa) đều bị hư hoại sụp xuống

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy núi Tu Di bị sạt lở

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy vị Kim Luân Vương chết

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy mặt trời mặt trăng rơi xuống đất, Thiên Hạ bị mất ánh sáng.

Sáng sớm thức dậy, đều đem giấc mộng của mình, trình bày với ngài Ca Diếp.

Ca Diếp bảo rằng: “Trước đây khi chúng ta nhìn thấy ánh sáng thời mặt đất bị chấn động lớn, nay các ông lại có giấc mộng này. (Như vậy) Đức Phật sắp Bát Nê Hoàn (Parinirvāṇa: chỉ sự nhập diệt)”

Liền sai Đệ Tử đi vội vã đến nước Câu Di Na Kiệt (Kuśinagara). Trên đường di nhìn thấy nột vị Bà La Môn (Brāhmaṇa) cầm hoa Văn Đà La (Māndāra, Māndārava, Mandāraka). Ca Diếp liền hỏi rằng: “Ông từ đâu đến ? Muốn đi đến nơi nào ? Làm sao có được bông hoa của cõi Trời (thiên hoa) này ?”

Đáp rằng: “Tôi đến từ nước Câu Di Na Kiệt, lúc Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt) đã trải qua bảy ngày, chư Thiên đi đến dự đều cầm hoa của cõi Trời, hương của cõi Trời cúng dường thân Phật. Đây tức là loại hoa đấy”

Ca Diếp nghe xong, tự ném mình xuống đất, khóc lóc nói rằng: “Nay Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt), ba cõi bị mất ánh sáng, sắp tới biết nương dựa vào chỗ nào ?!…”

Liền thúc giục các Đệ Tử lên đường, chưa đến một trăm dặm liền thấy bốn vị Thiên Vương (Caturmahārājakāyikās) với Phạm (Brahma), Thích (Śakra), chư Thiên đều cầm cái lọng bảy báu, hương thơm tốt, hoa đẹp đều đi đến cúng dường Đức Phật. Chư Thiên tấu âm nhạc của 12 Bộ. Cũng có A Tu Luân Vương (Asura-rāja), các Đại Quỷ Thần tràn đầy trong hư không. Lại nhìn thấy vị vua của nước Câu Di Na Kiệt với các vị vua của nước lân cận đều đem theo Quần Liêu (quan lại, quần thần) số lên đến hàng trăm vạn người.

Thấy Ca Diếp đem các Đệ Tử đến. Lúc đó vua Quốc Quý Mạt La Phất liền sai người dân trong nước đều phải tránh đường, để cho Ca Diếp với các Đệ Tử đi được.

A Na Luật (Aniruddha) ra nghênh đón, gặp nhau rồi nói rằng: “Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt) đã được bảy ngày, nhưng lửa Da Duy (Trà Tỳ tức dùng lửa thiêu đốt) chẳng thể cháy được. Chỉ đợi Hiền Giả đến vậy”

A Nan (Ānanda) nhìn thấy Ca Diếp liền tự ném mình xuống đất, khóc lóc chẳng tự thắng được. Có một vị Tỳ Khưu già tên là Ba Hoặc liền ngăn A Nan rằng: “Ngưng ngay ! Ngưng ngay ! Khi Đức Phật còn ở đời thường cấm chế chúng ta chẳng được tự do. Nay Đức Phật đã Bát Nê Hoàn (nhập diệt) thì chúng ta được tự tại. Đứng nên khóc lóc nữa.”

Thời có vị Trời nghe Ba Hoặc nói, liền dùng tay nhấc Ba Hoặc đưa lên. Ca Diếp liền đến trước mặt tiếp giữ nên vị Trời dừng lại, vì Ba Hoặc nói rằng: “Nay Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt), tất cả bị mất nơi nương tựa, chỉ riêng một mình ông ngu si nên trở ngược lại vui sướng!…”

Ba Hoặc nghe lời nói ấy thời hiểu Ý ngay, liền đắc A La Hán Đạo (Arhat¬mārga)

Ca Diếp liền cùng với các Đệ Tử cúi đầu mặt sát đất, làm lễ, nhiễu quanh quan tài ba vòng, buồn thương nói rằng: “Ngày nay, chúng con chẳng biết cái đầu, bàn chân của Đức Phật ở chỗ nào?!…”.

Uy Thần của Đức Phật liền vì Ca Diếp mà ló ra bàn chân. Chư Thiên, người dân không có ai chẳng cảm thương. Lúc đó Ca Diếp liền nói Kệ khen Đức Phật rằng:

“_Phật là Tam Giới Thừa (cỗ xe của ba cõi)

Vượt qua vực sinh tử

Đạm bạc lên Nê Hoàn (Niết Bàn)

Vi diệu vượt Thế Gian.

_ Phật là Vô Lượng Minh (vô lượng ánh sáng)

Chiếu tăm tối ngu si

Nguyện vì tất cả người

Hiển diệu, hiện Uy Linh

_ Phật là Đại Từ Ái

Độ vô ương số người Tôn Thể ở Kim Quan (quan tài bằng vàng ròng) Trong sạch, vắng lặng an Nguyện dùng Đức ưu hòa Nhìn màu thân, tướng sáng Khiến khắp cả Trời, Người Hưng khởi vô lượng Phước. _ Phật mở bày, hiện Pháp Chúng sinh được thấm nhuần Được dừng vòng sinh tử Hoặc được vào Chính Đế Đã chịu ân Như Lai Đầu mặt lễ chân Phật (bàn chân của Đức Phật) _ Nay chỉ thấy Kim Quan (quan tài vàng) Tâm buồn bã, cảm thương Tuy Phật được Vô Vi (Asaṃskṛta) Thánh đạt, diệt chẳng thật Thấy sau có nghi đế (nghi ngờ xem xét) Ló chân khỏi Kim Quan Khởi chia Sinh Tử này Phật chẳng còn buồn nữa Pháp Thân (Dharma-kāya), Tuệ (Prajñā) thường còn Đừng gọi Nê Hoàn (Nirvāṇa:Niết Bàn) hẳn”

Kinh Ca Diếp Phó Phật Bát Niết Bàn

Việt dịch: Thích Nữ Đức Nghiêm

***

Thuở xưa, khi Phật còn tại thế, Ma-ha Ca-diếp là bậc cao tuổi, tài đức trí tuệ bậc nhất trong các tì-kheo. Tôn giả lại có thân tướng màu vàng ròng, mỗi khi Đức Phật thuyết pháp ngài thường ngồi ngang với tòa với Phật, mọi người thấy vậy, đều nghĩ ngài là thầy của Phật.

Một hôm, tôn giả Ca-diếp từ biệt Đức Phật đến núi Y-đồ-lê. Trong dãy núi ấy có một ngọn núi tên Phổ Năng, chu vi khoảng mấy nghìn dặm, cách nước Xá-vệ hai vạn sáu nghìn dặm. Núi này có bảy báu, vô số loại quả ngọt. Lại có danh hương, thuốc quí, chiên-đàn. Ba loại này, một loại dùng làm hương liệu, một loại dùng để trị bệnh, một loại để nhuộm năm màu. Còn các loại hương và thuốc bình thường thì nhiều vô số. Ngoài ra còn có nhiều loại chim thú như sư tử, cọp, sói, voi trắng, kì lân, chu tước, phượng hoàng, cùng các đạo sĩ ngoại đạo, dị học.

Nơi ấy, lại có một tảng đá vuông bằng phẳng, màu lưu li, dài rộng đều một trăm hai mươi dặm, cạnh đó có một cội cây rất đặc biệt, tỏa bóng râm mát, hoa lá năm màu, bốn mùa tươi tốt phủ che tảng đá. Tôn giả Ca-diếp dạy pháp cho một nghìn đệ tử. Các đệ tử ấy đã thành tựu quả vị A-la-hán, đạo hạnh thanh tịnh, thường ở nơi đây tọa thiền, tụng kinh, hành đạo. Cạnh đó có một dòng suối trong mát, thơm ngọt, chảy quanh bốn mươi dặm, ven suối có hoa Ưu-đàm, hoa sen xanh tía, hoa sen hồng, hoa sen đỏ tía.

Một đêm, bảy đệ tử của ngài Ca-diếp cùng nằm mộng. Trong đó một vị thấy vùng trung tâm của tảng đá đang ngồi bị nứt, cây cối đều bị bật gốc. Một vị thấy dòng suối dài bốn mươi dặm đều khô cạn, hoa quả khô héo rơi rụng. Một vị thấy ngồi bên cây Câu-la bị nghiêng ngã. Một vị mộng thấy cõi Diêm-phù đề nghiêng sụp. Một vị thấy núi Tu-di sụt lở. Một vị thấy Kim luân vương mất. Một vì thấy mặt trời, mặt trăng rơi xuống, trời đất tối tăm.

Sáng hôm sau, những vị ấy trình điềm mộng lên thầy. Ngài Ca-diếp nói:

– Trước đây, chúng ta thấy ánh sáng và mặt đất chấn động. Nay các con mộng thấy như thế, lẽ nào Đức Phật sẽ vào niết-bàn.

Nói xong, tôn giả cùng các đệ tử lên đường đến nước Câu-di-na-kiệt. Trên đường đi tôn giả thấy một Bà-la-môn cầm hoa Văn-đà-la, ngài Ca-diếp liền hỏi:

– Ông từ đâu đến và định đi về đâu? Sao ông lại có loài hoa này?

Bà-la-môn đáp:

– Tôi từ nước Câu-di-na-kiệt đến! Đức Phật nhập niết-bàn đã bảy ngày rồi. Chư thiên đến viếng, đều rải hoa hương cõi trời cúng dường thân Phật. Vì thế tôi có hoa này.

Tôn giả Ca-diếp nghe xong, liền té ngã xuống đất, kêu gào khóc than:

– Nay Đức Thế Tôn đã vào niết-bàn, ba cõi không còn ánh sáng, chúng sinh biết nương tựa vào đâu?

Tôn giả lại dẫn các đệ tử đi tiếp, chưa được mấy trăm dặm thì thấy bốn vị thiên vương và các vị trời Phạm vương, Đế Thích đều mang lọng bảy báu, các loại danh hương, hoa đẹp đến cúng dường Phật.

Chư thiên tấu mười hai loại nhạc, lại có A-tu-luân vương, các vị trời, quỉ thần đứng khắp hư không. Lại thấy quốc vương Câu-di-na-kiệt và các quốc vương lân cận, mỗi người dẫn theo mấy trăm vạn quần thần. Thấy tôn giả Ca-diếp dẫn các đệ tử đến, vua nước Câu-di-na và vua các nước đều truyền lệnh cho dân chúng nhường đường để ngài Ca-diếp và các đệ tử tiến vào.

Ngài A-na-luật ra nghinh đón. Vừa gặp tôn giả Ca-diếp, ngài liền kể:

– Đức Thế Tôn đã nhập niết-bàn bày ngày, nhưng trà-tì mà lửa không cháy, chắc là Thế Tôn còn đợi tôn giả.

Vừa thấy tôn giả Ca-diếp, A-nan cũng té ngã xuống đất, than khóc không thể kiềm chế, nhưng một tì-kheo già tên Ba-hoặc đến ngăn: “Thôi, có gì phải khóc! Khi còn tại thế Phật thường ngăn cấm đủ điều, không cho chúng ta tự do. Nay Ngài nhập niết-bàn, chúng ta được tự do rồi, có gì phải buồn khóc!”.

Khi ấy, có một vị trời nghe tì-kheo Ba-hoặc nói như vậy, liền đánh ông ta, nhưng ngài Ca-diếp ngăn lại, rồi quay sang trách Ba-hoặc:

– Đức Thế Tôn nhập niết-bàn chúng sinh không còn nơi nương tựa, chỉ có ông ngu si mới vui mừng như thế. Ba-hoặc nghe nói liền tỉnh ngộ và chứng quả A-la-hán.

Ca-diếp và các đệ tử đầu mặt đỉnh lễ Thế Tôn, nhiễu quanh kim quan ba vòng, buồn than:

– Hiện giờ chúng con không biết chân Phật quay về hướng nào? Vừa dứt lời Phật liền hiển thị uy thần, lộ chân ra khỏi kim quan. Chư thiên và mọi người thấy vậy lại càng thương cảm.

Lúc ấy, tôn giả Ma-ha Ca-diếp nói kệ ca ngợi Phật:

Phật là xe ba cõi

Vượt qua dòng sinh tử

An nhiên vào niết-bàn

Nhiệm mầu vượt thế gian.

Phật là ánh sáng tột

Chiếu soi mọi lầm mê

Nguyện vì các chúng sinh

Phóng quang hiện uy linh.

Phật là bậc đại từ

Cứu vô lượng chúng sinh

Tôn thể trong kim quan

Nằm an nhiên tịch tĩnh.

Xin dùng đức phương tiện

Hiện ánh sáng kim thân

Giúp tất cả trời người

Tăng trưởng vô lượng phúc.

Phật là bậc khai pháp

Chúng sinh được thấm nhuần

Chấm dứt dòng sinh tử

Hoặc vào được chính đế.

Đã nhờ ân Như Lai

Con kính lễ chân Phật

Nay chỉ thấy kim quan

Tâm buồn thương vô hạn.

Tuy Phật vào vô vi

Thánh trí đều là thật

Biết đời sau sinh nghi

Duỗi chân khỏi kim quan.

Phân biệt là sinh tử

Phật đã sạch ưu phiền

Pháp thân tuệ chẳng diệt

Chớ nói mãi niết-bàn.