Kinh Phật Bản Hạnh Tập Phẩm 31 Đến Phẩm 40

Tùy Xà Na Quật Đa dịch

Bản Việt dịch của Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

***

Phẩm 31: MA VƯƠNG KHỦNG BỐ BỒ TÁT

Khi Bồ-tát đã an tọa dưới cội Bồ-đề, thần thủ hộ cây này vui mừng hớn hở tràn ngập châu thân không thể tự chế, cởi những chuỗi anh lạc trên thân, xõa tung tóc ra, vội chạy đến chỗ Bồ-tát. Do thấy những việc tốt đẹp hết sức vi diệu, vị ấy cho là quá ư đặc biệt hy hữu, trong tâm ân cần kính trọng, đem lời ca ngợi Bồ-tát một cách nghiêm túc và ra lệnh tất cả thân tộc, quyến thuộc bảo vệ Bồ-tát, hết sức cung kính.

Lúc ấy bao nhiêu Thọ thần bất luận lớn nhỏ ở xung quanh bốn phía núi rừng cây này đều hiện thân đi từ cây của mình đến thưa vị Thần hộ vệ cây Bồ-đề:

-Thưa Đại thiện Thọ thần, hiện giờ vị ngồi dưới gốc cây của ngài là ai? Từ trước đến nay chúng tôi chưa từng thấy tôn nhan đầy đủ, với các tướng trang nghiêm, hết sức đẹp đẽ, không ai hơn ngài, như vị trời trong hàng trời.

Vị Hộ thần cây Bồ-đề nghe hỏi lời như vậy, liền bảo các Thọ thần:

-Này các Thọ thần, các người phải biết, vị ngồi dưới gốc cây Bồ-đề là con vua Tịnh Phạn, thuộc dòng Cam Giá. Vào kiếp ban sơ, dân chúng suy cử lập người Cam Giá này lên làm vua, đời đời nối nhau cho đến ngày nay. Vị này là con cháu được truyền thừa của dòng họ đó.

Các vị Thần lại nói với vị Hộ thần cây Bồ-đề:

-Thưa hộ thần cây Bồ-đề, ngày nay ngài được điều lợi ích rất lớn, được thiện phước rất to, nên chỗ ở của ngài có một chúng sinh vi diệu tuyệt vời, vượt lên trên chúng sinh trong tam giới như vậy. Chúng sinh này giống như hoa Ưu-đàm, khó xuất hiện ở đời.

Lúc bấy giờ mỗi người trong chúng Thọ thần đều đem các loại bột hương trầm thủy, ngưu đầu chiên-đàn… cùng các loại hoa thơm tuyệt diệu rải đi rải lại nhiều lần trên mình Bồ-tát, vui mừng hớn hở tràn ngập châu thân, không thể tự chế, chắp tay cúi đầu, hướng về Bồ-tát đảnh lễ và mỗi người đều xướng lên thế này:

-Cầu nguyện Nhân giả, vị đứng đầu trong chúng sinh, sớm thành tựu sở nguyện, mau chứng Bồ-đề.

Lại có Thiên vương và chư Thiên cõi Tứ thiên, lại có vô lượng chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, cõi trời Dạ-ma, cõi trời Đâu-suất, cõi trời Hóa lạc và cõi trời Tha hóa tự tại, vô lượng vô biên chư Thiên như vậy cùng chư Thiên cõi Phạm thiên, mỗi người đều đem các loại hoa trời đẹp tuyệt như Mạn-đà-la, Ma-ha Mạn-đà-la, Ma-ha Mạn-thù-sa, Câu-vật-đầu, Ba-đầu-ma, Phân-đà-lợi… cùng các phấn thơm, sáp thơm rải trên cây Bồ-đề như mưa, tàng cây Bồ-đề giống như bánh xe, chu vi quanh cây này trong một do-tuần, hoa hương chồng chất lên đến đầu gối.

Khi Bồ-tát ngồi dưới cội Bồ-đề, tuyệt không một tiếng kêu của kiến càng hay kiến riện, huống lại là tiếng kêu của loài thú lớn, tất cả loài chim cũng không kêu hót. Giả sử có gió thổi, tất cả các cấy cũng không lay động.

Trong khi Bồ-tát đang ngồi dưới cội Bồ-đề, chư Thiên cõi Tịnh cư tâm rất vui mừng hớn hở tràn ngập châu thân, không thể tự chế, đảnh lễ Bồ-tát, trong tâm mỗi người đều nguyện: “Nguyện Nhân giả, vị đứng đầu trong chúng sinh, mong tâm nguyện của Ngài sớm được viên mãn, mau chứng Bồ-đề.”

Trong khi Bồ-tát ngồi dưới cội Bồ-đề, Ngài phát lời thệ nguyện trọng đại:

“Ta không thành đạo thì Ta không rời chỗ ngồi này.”

Lúc ấy Ma vương Ba-tuần trong tâm lo sợ, liền nói thế này: “Phải chăng người dòng vua chúa họ Thích này muốn diệt trừ cảnh giới của ta? Muốn cho ta khỏi cảnh giới này? Nếu người hơn ta, nhất định người sẽ dạy chúng sinh phương pháp đi đến Niết-bàn, làm cho cảnh giới của ta trở thành trống không. Nhưng hiện giờ người chưa chứng Tịnh nhãn, lại ở trong cảnh giới của ta, ta nay phải cố gắng dùng đủ phương pháp làm cho người, thoái lui trên đường hành đạo, đứng dậy bỏ đi.” Rồi ma nói kệ:

Nếu Ngài chứng được quả Bồ-đề

Vì khắp chúng sinh thuyết pháp chánh

Cảnh giới của ta sẽ tổn giảm

Chúng sinh được mở đường chánh này

Cõi ta tự nhiên thành trống vắng

Cõi trống vắng, ta như quả phụ.

Mắt thanh tịnh nay Ngài chưa chứng

Vẫn còn trong cảnh giới của ta

Ta nên đi gấp mau đến đó

Sớm ngăn chận phá việc người ấy

Như dòng sông, nước chưa tràn đến

Vội lo xây cầu bến chắc trước.

Bấy giờ Ma vương Ba-tuần ở giữa đủ mặt một ngàn vương tử để trợ giúp việc khuấy phá Bồ-tát. Có năm trăm người, cầm đầu là Thương Chủ với ý giúp Bồ-tát, đang ngồi bên phải Ma vương Ba-tuần. Ngồi bên trái Ma vương Ba-tuần gồm có năm trăm người, mà kẻ cầm đầu là Ác Khẩu. Ma vương Ba-tuần bảo các con:

-Này các con, cha cùng các con luận bàn hơn thiệt, cha muốn tiếp nhận ý kiến các con. Chúng ta phải lập kế gì để có sức mạnh hàng phục Bồ-tát.

Bấy giờ Thương Chủ, trưởng tử của Ma vương, ngồi bên phải, dùng kệ tâu phụ vương Ba-tuần:

Nếu ai dám đụng đến mãng xà

Đã từng đối địch với voi điên

Trải qua chiến thắng chúa sơn lâm

Mới hàng phục được Tỳ-kheo kia.

Lúc bấy giờ vương tử thứ hai ngồi bên trái Ma vương Ba-tuần tên là Ác Khẩu, vì phụ vương mà nói kệ:

Nếu ai thấy con tim tan vỡ

Các cây bật gốc, ngã trên đất

Nếu Sa-môn kia vừa thấy con

Tháo chạy một hơi và trốn biệt.

Bấy giờ, lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Diệu Minh, dùng kệ bạch phụ vương:

Như người đang bơi trong biển cả

Lại muốn uống cạn nước biển kia

Việc này phụ vương không sợ gì

Sẽ thấy Bồ-tát sợ tái mặt.

Bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Bá Đấu, dùng kệ bạch phụ vương:

Thân con phát sinh trăm cánh tay

Mỗi tay bắn ra hàng trăm mũi

Phụ vương cứ tiến, chớ sầu ưu

Riêng con đủ phá Sa-môn nọ.

Bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Thiện Giác, dùng kệ bạch phụ vương:

Nếu ai có sức như voi, ngựa

Hoặc như Tỳ-nữu và Kim Cang

Người có túc nghiệp oai nhẫn nhục

Sức lực như vậy chẳng thắng Ngài.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Nghiêm Oai, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Con ở hư không mưa nước, lửa

Tuôn đến đốt cháy xác Tỳ-kheo

Làm thân của hắn thành đống tro

Khác nào lửa đỏ đốt cỏ khô.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Thiện Mục, liền dùng kệ bạch phụ vương.

Giả sử núi Tu-di ngã

Tất cả cung trời đều tan vỡ

Nước trong biển cả đều khô kiệt

Hai vầng nhật nguyệt đều rơi rụng

Dù khiến mặt trời lạnh như băng

Cung điện chư Thiên rơi xuống đất

Bồ-tát đã ngồi dưới gốc cây

Chưa thành Chánh giác không đứng dậy.

Lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương tên là Báo Oán, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Nhật nguyệt tay con đủ sức nắm

Cùng các tinh tú khắp hư không

Nắm giữ tất cả các cõi trời

Nước trong bốn biển vào trong tay

Huống một Sa-môn Thích tử nọ

Nay con nắm hắn vứt biển khơi

Chỉ mau ra lệnh đám quân này

Đưa quân mau đến chỗ Sa-môn.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Đức Tín, liền dùng kệ bạch phụ vương.

Nhật nguyệt vận hành không nhờ bạn

Luân vương trị hóa chẳng ai bằng

Chư thánh Bồ-tát chẳng nhờ ai

Một mình tiêu diệt đại ma quân.

Lúc bây giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Cầu Quá Thất, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Chiến đấu, gậy gộc chẳng bằng đao

Thân mặc chiến bào tâm không sợ

Binh mã như vậy quyết thành công

Phụ vương chẳng sợ Sa-môn nọ.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Phước Đức Anh Lạc Trang Nghiêm, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Giáp Ngài mặc như Na-la-diên

Khó bề phá hoại thân Tứ đế

Áo giáp nhẫn nhục, đao giải thoát

Cầm tên trí tuệ hạ chúng ta.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Bất Hồi, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Giống như cỏ khô gặp lửa đỏ

Giỏi bắn cung thần, tên trúng đích

Sét đánh nhằm núi cũng xuyên qua

Thích tử gặp con ắt phải phục.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Pháp Thân, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Như người dùng màu vẽ hư không

Muốn cho chúng sinh đồng một chí

Thiên thần trăng gió lửa bủa vây

Đạo tràng Bồ-tát nào lay động.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Hằng Tác Tội, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Con uống độc dược như ăn cơm

Trượng con chạm ai, thành tro ngay

Nếu không phá thân hắn như bụi

Quyết không còn giữ lấy hai tay.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Thành Lợi, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Ba ngàn thế giới đầy độc hại

Thế Tôn xem thấy chẳng lo âu

Ba độc đáng sợ, ngài diệt sạch

Chúng ta về cung, đánh ích gì?

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Tham Hỷ, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Con cố âm thanh vượt ngàn trùng

Trăm ngàn ngọc nữ thân kiều diễm

Làm cho huyễn hoặc loạn tâm hắn

Khiến mất thiền định, hưởng dục lạc.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Pháp Hỷ, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Ngài dùng thiền định làm pháp hỷ

Thường trú cam lộ giải thoát môn

Pháp lạc dùng nhổ các tai ương

Chẳng dùng ngũ dục làm thỏa thích.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Tiệp Tật, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Con cầm nhật nguyệt dễ như chơi

Cũng hay chận đứng gió, lửa mạnh

Bắt lấy Sa-môn yết kiến cha

Dễ như gió thổi tan đống bột.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Sư Tử Hống, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Vô số dã can kêu đồng vắng

Vì chưa nghe tiếng Sư tử gầm

Loài thú nếu nghe Sư tử rống

Bôn ba tứ tán chạy trăm phương.

Quân ma chúng ta cũng như vậy

Chưa nghe pháp vương xướng triều âm

Đều theo chủ quan chẳng chịu lui

Khi đến chỗ Ngài tự co rút.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên trái Ma vương, tên là Ác Tư, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Con là Ác Tư nguyện chiến thắng

Sa-môn nào thấy ma quân này

Tâm hắn si mê, hết hy vọng

Làm sao chẳng chạy lánh đi liền.

Lúc bấy giờ lại có một vương tử khác ngồi bên phải Ma vương, tên là Thiện Tư, liền dùng kệ bạch phụ vương:

Ngài chẳng ngu si không sức lực

Các ông quá kém về nhân tính

Nên ông chưa biết diệu thuật Ngài

Sẽ bị trí tuệ Ngài hàng phục.

Quân ma các ông đông như cát

Dù tài như vậy khắp tam thiên

Cũng không tổn hại sợi lông Ngài

Huống là sát hại, khỏi chỗ ngồi.

Ông nên thanh tịnh hướng Bồ-đề

Cúi đầu đảnh lễ miệng khen ngợi

Chớ nên gây ác hại binh mình

Bồ-tát chắc thành Thầy ba cõi.

Trong số các vương tử của ma vương, mỗi người tự trình bày ý kiến của mình, hoặc có người ủng hộ việc thiện hoặc có người ủng hộ việc ác, lần lượt cho đến vương tử thứ một ngàn.

Lúc bấy giờ Ma vương Ba-tuần có một vị đại thần tướng quân tên là Hiền Tướng. Ma vương Ba-tuần bảo đại thần Hiền Tướng:

-Khanh đi theo ta, ở đây có một người dòng họ Thích, sắp thành tựu Vô thượng Bồ-đề. Nay cùng khanh đến đó chận chứng đạo pháp ấy, chẳng để Thái tử chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Khi ấy đại thần Hiền Tướng liền dùng kệ tâu đại vương Ba-tuần:

Đại vương thống lãnh Tứ Thiên vương

Vua A-tu-la, Khẩn-na-la

Ma-hầu-la-già, Ca-lâu-la

Chắp tay cúi đầu quy y ngài.

Huống là tất cả các Phạm thế

Quang âm, Quảng quả và Tịnh cư

Sáu trời cõi Dục và sắc giới

Tất cả đảnh lễ sát chân ngài.

Các con Đại vương tuy trí tuệ

Sức mạnh trần thế không ai bằng

Trong tâm hằng lễ Đấng Thế Tôn,

Tám mươi do-tuần đầy quân ngài

Dạ-xoa, La-sát, các Quỷ vương…

Thân tuy hiện tại trước Đại vương

Tâm thường nghĩ đến Vô thượng sĩ

Chắp tay cung kính, cúi đầu lễ.

Ngàn vạn quân ma gặp Thánh ấy

Tự lấy hoa hương tung cúng dường

Hạ thần thấy rõ việc như vậy

Biết chắc quân ma thua Bồ-tát.

Ma quân binh mã nơi đồn trú

Có nhiều cú mèo, sáo sậu kêu

Hoặc tiếng cú vọ, tiếng quạ, khách

Tiếng loài ác thú như cáo, lừa.

Thần thấy Bồ-tát dưới Bồ-đề

Chim lành các loại hót líu lo

Phù nhạn, Oan ương, Câu-sí-la

Cù dục, Anh võ và Khổng tước

Vây quanh Bồ-tát hót thanh nhàn

Điềm tốt như vậy Ngài chắc thắng.

Hơn nữa, doanh trại của chúng ma

Thường mưa sỏi, đá, đất, cát bụi

Bồ-tát an tọa dưới Bồ-đề

Trời mưa hoa báu hương vi diệu.

Nơi ở chúng ma đất gập ghềnh

Hầm hang cao thấp nhiều gò nổng

Gai góc, đá chổng, nhiều phẫn uế

Chung quanh phần đất gốc Bồ-đề

Trang hoàng bằng thất bảo, kim ngân.

Thấy cảnh tốt đẹp lạ như vậy

Những người trí tuệ biết nhận xét.

Thấy cảnh đó rồi phải rút quân.

Trang nghiêm như vậy khắp một vùng

Quyết chắc chứng thành Vô thượng đạo.

Đại vương nếu chẳng thuận ý thần

Như mộng vua thấy thành sự thật.

Như vậy không nên động đến Ngài

Cần phải rút quay về cung ma

Vua xưa xúc phạm các Tiên nhân

Cõi nước, thần chú đốt thành tro.

Thuở xưa có vua tên Phạm Đức

Phật ý Tiên nhân Tỳ-da-bà

Vua có vườn đẹp nhiều hoa trái

Bị thần chú đốt cháy tan hoang

Nhiều năm vườn này không mọc cỏ

Huống lại cây cối, hoa cùng quả.

Thế gian nhiều người hành khổ hạnh

Khi tu phạm hạnh, bỏ các ác

Các vua yết kiến lễ sát chân

Chúng ta nay nên về bổn xứ.

Vua đã chẳng nghe luận Vệ-đà

Người có ba hai tướng trang nghiêm

Người ấy nếu cầu đạo xuất gia

Ắt đoạn trừ hết lưới kết sử

Thành tựu đạo quả Vô thượng giác

Giữa mày, lông trắng phóng hào quang

Chiếu khắp mười phương ức cõi nước

Huống lại binh chủng đám ma này

Sao lại không thể hàng phục được

Nếu vua muốn đánh, chắc không thắng

Đảnh đầu Bồ-tát cao vượt trời

Hàng vạn chư Thiên không trông thấy

Chắc chắn sẽ thành quả vi diệu,

Thế gian chưa nghe, nay được nghe

Cũng như Tu-di và Thiết vi

Nhật Nguyệt, Đế Thích, Phạm thiên vương

Dạ-xoa, La-sát, các rừng cây

Đều hướng Bồ-đề cúi thân lễ.

Chắc chắn Bồ-tát đầy phước đức

Thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Thiền, Trí lực

Nhiều kiếp đến nay tu hạnh này

Nay quyết đẩy lui ma quân ta.

Như voi đạp bể các để gốm

Như sư tử rống thú kinh hồn

Như ánh nhật quang che đom đóm

Thế Tôn phá ma cũng như vậy.

Sư tử một thân phá thú trùng

Nọc một độc xà giết nhiều loại

Bồ-tát tu nhiều sức thiện căn

Một mình phá tan ma quân ta.

Lúc ấy Ma vương Ba-tuần nghe kệ đại thần nói như vậy, rất lo sợ, buồn bực chẳng an, thân tâm ưu sầu, khổ não chẳng vui, xấu hổ thẹn thùng, không biết xử sự thế nào. Nhưng trong lòng vẫn còn ngã mạn, chẳng chịu hồi cung, cũng không chạy trốn, lại tuyên bố với các ma quân:

-Các khanh nên bình tâm, chớ sợ hãi, chớ có nhút nhát bỏ chạy. Ta sẽ dùng lời hoa mỹ để trắc nghiệm tâm Sa-môn thế nào. Lại dùng lời khuyến dụ xem thử người có rời cây Bồ-đề hay không? Chẳng lẽ để chúng sinh quý báu này bỗng nhiên gặp tai ương hay sao!

Lúc ấy Thương Chủ, trưởng tử của Ma vương, tâu phụ vương:

-Thưa ma chúa Đại vương, con không muốn phụ vương cùng với Sa-môn dòng họ Thích-ca kết oán thù. Tại sao? Vì ví dụ có trăm ngàn vạn ức ma quân tay cầm đao kiếm, đồng đến nơi Thích tử để làm chướng ngại không cho thành đạo thì không thể làm được, huống chi một mình phụ vương. Phụ vương chỉ xem người họ Thích này ngồi trên tòa Sư tử dưới gốc cây Bồ-đề, không kinh không sợ. Phụ vương, hãy xem người họ Thích thân không lay động. Lại nữa, trên hư không có vô lượng chư Thiên chắp tay đảnh lễ Ngài. Khi chư Thiên đảnh lễ cúng dường tán thán như vậy mà Ngài không một chút vui mừng. Ngài thấy ác tâm, ác ý của phụ vương muốn đến sát hại mà Ngài không phẫn nộ. Phụ vương phải biết, giả sử có người đem màu sắc tuyệt đẹp vẽ trên hư không, hoặc giả sử có người dùng ngón tay nâng núi Du-di to lớn kia, những việc như vậy cũng có thể làm được. Lại giả sử có người lội qua đại dương để đến bờ bên kia, việc này cũng có thể làm được. Giả sử có người khi đại phong thần nổi gió từ bốn phương lại, bỗng nhiên bắt trói được, việc này cũng có thể làm được. Giả sử có người nấm lấy mặt trời, mặt trăng cùng các tinh tú đem để xuống đất, việc này cũng có thể làm được. Giả sử có người khiến tất cả chúng sinh đồng một chí hướng, việc này cũng có thể làm được. Còn như tất cả chúng sinh hợp sức đem người họ Thích thu phục ma quân này dời đi chỗ khác, việc này hoàn toàn không thể được.

Khi ấy Ma vương Ba-tuần dùng kệ bảo trưởng tử Thương chủ:

Ngươi thật oan gia, chẳng phải con

Chẳng nên vác mặt nhìn thấy ta

Tâm ngươi nay đắm Sa-môn nọ

Tốt hơn đến sống với Cù-đàm.

Lúc ấy Ma vương Ba-tuần không nghe lời can gián của trưởng tử Thương Chủ, lại bảo các ái nữ:

-Này các con, cùng nhau lắng nghe lời cha dạy. Các con nên đến bến người họ Thích kia dò xét xem người có tâm tình dục không?

Các con gái của Ma vương vâng lời phụ vương dạy, cùng nhau chậm rãi kéo đến chỗ Bồ-tát. Sau khi chúng đến nơi không cách xa cũng không quá gần Bồ-tát, giở các trò tình tứ của phụ nữ để mê hoặc Bồ-tát như là che đầu, để lộ đầu, che nửa mặt, để lộ diện, mỉm cười để lộ hàm răng trắng, luôn luôn đưa cặp mắt xanh liếc nhìn Bồ- tát, hoặc cúi đầu đảnh lễ Bồ-tát, hoặc ngước đầu nhìn Bồ-tát, hoặc cúi đầu che mặt nhìn xuống đất, hoặc động nhẹ đôi mày, hoặc mở mất hé nhìn, hoặc xõa búi tóc dùng tay vuốt tóc, hoặc khoanh hai tay, hoặc giơ hai tay để lộ dưới nách, hoặc dùng tay nâng niu nhũ hoa, hoặc để lộ ngực và lưng đến ức bụng, hoặc vỗ nhẹ trên rốn, hoặc thỉnh thoảng cởi xiêm y, hoặc mặc lại y phục, hoặc thỉnh thoảng vén đồ lót để lộ mông đùi, hoặc cởi chuỗi anh lạc vứt trên đất, hoặc cởi bỏ hoa tai, hoặc đeo lại hoa tai, hoặc đùa bỡn với trẻ con, hoặc chơi với loài cầm điểu, hoặc đi bộ đưa mắt liếc nhìn hai bên, hoặc hít mạnh vào và thở dài ra, hoặc dùng ngón chân vẽ trên mặt đất, ca hoặc múa, hoặc lắc động nơi thắt lưng, hoặc tỏ vẻ khoan khoái, hoặc nhớ lại việc ân ái vui cười lúc trước, bằng cách nằm ngủ với dáng phóng dật, hoặc hiện thân đồng nữ, hoặc hiện thân con gái mới về nhà chồng, hoặc phụ nữ trung niên…

Sau khi giở đủ trò tình tứ của phụ nữ để mê hoặc Bồ-tát như vậy rồi, chúng lại đem đủ thứ hoa hương rải trên mình Bồ-tát. Lại dùng đủ việc của năm dục mời mọc, nhìn vào mặt, chúng xem Bồ-tát có trạng thái tâm ái dục phóng dật không, xem Bồ-tát có tâm ái dục nhìn chúng, hoặc không tâm ái dục nhìn chúng?

Các cô con gái của Ma vương thấy rõ tâm của Bồ-tát vắng lặng, an định, xưa nay thanh tịnh, không cấu trược, đầy đủ thanh tịnh, giống như trăng rằm ra khỏi bàn tay La-hầu A-tu-la vương, trong sáng không gợn mây. Như ánh sáng mặt trời vừa mới mọc, như thỏi vàng ròng tinh chất không chút quặng, như hoa sen ngoi ra từ hồ nước mà không chút bùn hôi. Như ánh lửa, như núi Tu-di an nhiên không động, như núi Thiết vi cao sừng sững, Ngài hộ trì hoàn toàn các căn, điều phục tâm ý. Thấy Bồ-tát như vậy, chúng đều hổ thẹn, nhục nhã.

Bấy giờ bọn ma nữ biết rành cách lợi dụng sắc đẹp hấp dẫn của người phụ nữ nên dùng các phương pháp dối trá mê hoặc khác để lung lạc tâm ý Bồ-tát, nói kệ:

Bầu trời tươi đẹp độ xuân sang

Ngàn cây kết quả, hoa đua nở

Thắng cảnh như đây thật hữu tình

Nhân giả khỏe mạnh, thân tuấn tú

Đang độ thanh xuân lòng háo hức

Chính lúc trượng phu hành khoái lạc

Muốn cầu Bồ-đề thật khó thành

Ngài hãy về đời hưởng khoái lạc.

Hãy xem tiên nữ bọn chúng em

Dung nhan kiều diễm thân mềm mại

Trang sức xinh đẹp nhiều anh lạc

Mấy ai gặp được thân thể ấy

Ngài đã được rồi sao chẳng màng?

Thân em thơm sạch tợ hoa sen

Là người phước đức trong trần thế

Cớ gì bỏ đi không dùng đến?

Đầu em tóc mượt xanh ánh biếc

Thường ướp mùi hương các nước hoa

Ngọc quý ma-ni cài búi tóc

Tạo hoa ngọc báu đính trên đầu.

Chúng em trán rộng, cổ tròn đầy

Mày ngà, mắt phụng, mi cong dài

Đẹp sạch như cánh hoa sen xanh

Mũi đẹp đều như chim Anh võ.

Miệng môi tươi thắm đỏ như son

Hoặc đỏ như quả Tần-ba-la

Hoặc như san hô cùng phấn sáp

Răng sạch trắng trong như bạch ngọc.

Lưỡi mỏng, mềm giống cánh hoa sen

Giọng ca ngâm vịnh rất ngọt ngào

Nào khác tiếng nữ Khẩn-đà-la.

Đôi vú xinh xắn đẹp tuyệt vời

Tròn trịa giống như đôi thạch lựu,

Thắt lưng thon nhỏ như eo cung

Sống lưng bằng phẳng lại mịn màng

Giống như đảnh trán loài voi chúa.

Đôi đùi trắng nhãn, to, thẳng, đẹp

Hình dáng giống như chiếc vòi voi

Cặp giò thon nhỏ, thẳng lại tròn

Đẹp sạch giống như chân nai chúa

Dưới bàn đầy đặn chẳng lệch sâu

Trắng hồng tươi thắm như sen nở.

Thân thể chúng em thật yêu kiều

Hình dung như vậy rất xinh đẹp

Nghệ thuật tài năng đều hoàn bị

Nói năng giọng điệu thật dễ nghe

Lại tài múa hát vui lòng chúng.

Chư Thiên thấy em đều hoan hỷ

Họ đều ao ước sinh ái dục

Chúng em chẳng phải chẳng yêu Ngài

Ngài đã gặp em sao không muốn?

Như người thấy được kho vàng quý

Buông bỏ, lánh xa, đi nơi khác

Không biết của cải là nhân vui

Tâm ý của Ngài chẳng khác nào.

Không biết khoái lạc của ngũ dục

Lặng yên thiền định chẳng chịu ta

Hay là Ngài thật ngu si quá

Tại sao chẳng hưởng lạc thế gian?

Đường đến Niết-bàn xa vời lắm.

Lúc bấy giờ Bồ-tát vận dụng tâm lực nhìn thẳng vào đám ma nữ, mắt không rời, chánh niệm mỉm cười giữ vững các căn ổn định, thân thể ngay ngắn, an trụ như núi Tu-di, tâm ý không xao động, không hổ thẹn. Ngoài ra, bằng bao nhiêu pháp môn phương tiện trí tuệ như thuở xưa mà Ngài đã từng nhiếp phục tất cả phiền não, Ngài dùng kệ với giọng nói đầy lòng thương xót, hơn tiếng Phạm thiên, như tiếng chim Ca-lăng-tần-già, bảo đám ma nữ:

Các thứ ngũ dục nơi thế gian

Khổ não ràng buộc nhiều tội lỗi

Do vì phiền não mất thần thông

Sa hố Vô minh, vào hắc ám.

Chúng sinh mải mê không biết chán

Ta bỏ phiền não đã từ lâu

Như hầm lửa đỏ, nhiều độc dược

Từ xưa đến nay, sớm xa lìa

Đã uống nước cam lộ trí tuệ

Tự giác xong rồi lại độ người

Sẽ thuyết pháp môn rất vi diệu

Nếu nay thọ dụng uế dục này

Chắc chắn hoàn toàn không đắc đạo.

Nếu ai tăng trưởng tâm tham dục

Thì gọi người này quá ngu si

Tự lợi cho mình không tự có

Huống chi lợi ích cho chúng sinh

Do đó, Ta không còn đam mê.

Năm dục thế gian đốt chúng sinh

Giống như kiếp hỏa thiêu vạn vật

Ngũ dục như bọt, bong bóng nước

Giống như sóng nắng không chân thật

Giả dối lừa gạt kẻ phàm phu.

Kẻ trí nào ai vui ngũ dục

Giống như đám trẻ quá dại khờ

Thích thú vui chơi trong phẩn uế

Gạt gẫm người ngu không trí tuệ.

Thấy người trang điểm chuỗi anh lạc

Thấy vậy rồi sinh tâm tưởng dục

Nguồn gốc đầu tóc từ não sinh

Nhơ nhớp hôi tanh hơn mụt nhọt,

Răng trắng sinh ra nhờ ăn uống

Miệng môi, tai mắt cùng lỗ mũi

Tất cả như bong bóng nước trôi.

Hai mông, thắt lưng và cột sống

Là nơi bất tịnh từ máu sinh

Bụng dạ là đãy chứa phẩn tiểu

Trong đó chứa đầy đồ nhơ nhớp.

Nghiệp ấy là từ ái dục sinh

Như dùng bánh xe làm thuyền tán

Ngu si thọ dục cũng như vậy

Nếu có những người là bậc trí

Đều biết những tai ương như vậy

Thì họ chẳng hưởng thứ vui này.

Ngày đêm thân thể máu lưu hành

Mắt thấy chỗ thối, tâm chẳng vui

Hai đùi, hai giò, hai bàn chân

Gân xương buộc nhau nên đứng vững.

Ta xem các ngươi nay như vầy:

Như tuồng huyễn hóa, như giấc mộng

Tất cả đều do nhân duyên sinh.

Ngũ dục không có tánh chân thật

Ngũ dục đánh mất các Thánh đạo

Ngũ dục dẫn người vào ác đạo

Ngũ dục cũng như hầm lửa lớn

Cũng như chất độc đầy trong bát

Như đầu rắn dữ chẳng nên rờ

Ngu si với dục, bị mê hoặc.

Cố tưởng thanh tịnh sinh tâm tham

Ngũ dục như dùng người làm thuê

Cùng các phụ nữ làm tay sai

Xa lìa tịnh giới và tâm đạo

Cũng lìa trí tuệ thiền tịch định

Sống nơi hỗn loạn chốn ồn ào

Xa lìa diệu pháp, vui ngũ dục

Người ấy đọa địa ngục, không nghi.

Ta thấy chúng ma đều huyễn hoặc

Do vậy tâm ta không ưa thích

Ta cầu tự tại vui rốt ráo

Lại dạy chúng sinh cũng như vậy.

Ta đã giải thoát cảnh thế gian

Như gió trên không, chẳng bị buộc

Giả sử chúng sinh thế gian này

Tất cả đều thành chúng ma nữ

Tâm Ta hoàn toàn không nghĩ đến

Cùng ngươi thọ dục, dù một niệm.

Từ lâu ta trừ sân, nhuế, hận

Ngu si, tham dục thảy đều không

Chư Phật Thế Tôn bậc Đại trí

Tâm không ngăn ngại như hư không.

Bấy giờ các con gái của Ma vương Ba-tuần thông thạo các pháp huyễn hoặc của người phụ nữ, lại làm duyên dáng tăng thêm vẻ yêu kiều, dung nhan thật lộng lẫy, cũng dùng lời nói mỹ miều xảo quyệt đến quyến rũ Bồ-tát.

Có kệ:

Ma vương Ba-tuần có ba nàng

Khả ái, khả hỷ và hỷ kiến

Tôn quý nhất trong các ma nữ.

Ma vương dạy chúng khéo điểm tô

Mau mau đi đến nơi Bồ-tát

Hiện trò huyễn hoặc làm duyên dáng

Múa thân yểu điệu tợ cành cây

Uốn mình uyển chuyển theo chiều gió

Đứng trước đều hướng về Bồ-tát

Ca múa, xướng hát như thế này:

Ngài là Thích tử sắp làm vua

Tại sao lại ngồi dưới cội này?

Đầu xuân thời tiết thật đẹp trời

Nam nữ gặp nhau lòng hớn hở

Giống như đàn chim tự vui vầy

Dục tâm phát khởi khó ngăn chặn

Đến lúc cùng nhau nên hưởng lạc

Tại sao quyết chí chẳng nhìn em?

Chúng em nay đã đến nơi đây

Cần nên cùng làm thỏa thích ý.

Bồ-tát giống như vầng nhật hiện

Ức kiếp tu hành chứa công đức

Tâm ngài không động, như Tu-di

Giọng Ngài thanh thoát, vang như sấm

Chậm rãi bước đi như sư tử

Lời nói ích lợi lắm thành công:

“Chúng sinh thế gian không lường được

Thường bị các dục gây đấu tranh

Đấu tranh đưa đến những tranh cãi

Những người vô trí như thế ấy,

Thường bị các khổ phiền não đốt.

Người trí biết rồi không tùy thuận

Vứt bỏ, xa lìa nên xuất gia

Sống nơi rừng núi lấy làm vui.

Với ta, hôm nay thời đã đến

Sắp chứng pháp cam lộ thường trụ

Trước phải thu phục chúng ma quân

Sau mới chứng thành Bậc mười lực.”

Các nữ ma, con gái Ma Ba-tuần lại bạch Bồ-tát như thế này:

Mặt mày nhân giả như hoa đẹp

Xin nghe những lời chúng tôi nói:

Hãy ở thế gian thọ Vương vị

Tôn quý, quyền lực rất tột bực

Hoặc nằm, hoặc ngồi hay đi đứng

Âm thanh tuyệt diệu thường liên tục.

Bồ-đề cực quả rất khó thành

Huống lại chư Phật thân trí tuệ

Đường chánh giải thoát khó tiến hành

Nhân giả thấy ai đi đến được?

Khi ấy Bồ-tát lại đáp:

Ta đang quyết định thành Pháp vương

Làm Bậc tự tại trong trời người

Chuyển bánh xe pháp vô thượng diệu

Đầy đủ mười lực không sợ sệt

Riêng Ta siêu tuyệt trong tam giới

Các hàng đệ tử học, vô học

Số ngàn vạn ức xung quanh Ta.

Họ thường ca ngợi như thế này:

Đại thánh ra đời trừ nghi hoặc

Ta sẽ vì họ tuyên diệu pháp

Tùy ý du hành khắp mọi nơi

Do vậy, Ta giữa thế gian này

Chẳng thích vui chơi năm dục lạc.

Ma nữ lại bạch Bồ-tát:

Nay tuổi thiếu niên thật đáng tiếc

Già nua suy yếu chưa xuất hiện

Tràn đầy sức lực mặc tứ tình

Đến khi gầy ốm không kham nổi

Mới nên rời bỏ thân tuấn tú.

Chúng em như hoa tuổi mười lăm

Chính cùng Nhân giả kết lương bằng

Ngũ dục vui chơi rất đẹp duyên

Cớ gì chán ghét em như vậy?

Nếu nay Nhân giả chẳng thuận tình

Chúng em trọn đời theo đuổi mãi.

Bồ-tát lại bảo chúng:

Ngày nay đã được thân thể người

Nỗ lực xa lìa các tai nạn

Cần cầu vào được cửa cam lộ

Khi lìa khổ ách ở thế gian

Mới rời các nạn nơi trời, người.

Và nay già, bệnh chết chưa đến

Các đấu tranh ác lại chẳng sinh

Chúng ta cấp tốc phải lên đường

Sớm lìa các chỗ nạn như vậy.

Nơi thường trụ, lặng yên không sợ

Đó là chân thật thành Niết-bàn.

Lúc bấy giờ ma nữ nói kệ:

Nhân giả trong trời như Đế Thích

Chư Thiên, ngọc nữ hộ hai bên

Diệm-ma, Đâu-suất và Hóa lạc

Tha hóa tự tại cùng cung ma

Tốt đẹp đầy đủ chẳng thiếu chi

Nên hưởng ngũ dục, chớ tịch diệt.

Lúc bấy giờ Bồ-tát dùng kệ đáp:

Ngũ dục như sương, chẳng bao lâu

Như mây mưa mùa thu, giây lát

Các cô đáng sợ, như rắn dữ

Đế Thích, Dạ-ma và Đâu-suất

Đều thuộc ma vương, không tự tại.

Ai dục trăm oán, tại sao tham?

Bấy giờ ma nữ lại nói kệ:

Ngài sao chẳng thấy hoa cây cối

Ong, bướm, tiếng chim đồng hòa tấu

Cỏ xanh mềm mại trải một vùng

Các rừng tốt đẹp cùng xuất hiện

Nhạc công cõi trời trổi âm thanh

Đang là thời đẹp, nên hưởng lạc.

Lúc bấy giờ Bồ-tát dùng kệ nói:

Ngàn cây tùy thời sinh hoa quả

Chim, ong đói khát tìm hương vị

Khi nắng bừng lên, đất tự khô

Cam lộ chư Phật không thể cạn.

Lúc bấy giờ ma nữ lại nói kệ:

Sắc diện Nhân giả như trăng hiện

Nhìn dung mạo em tợ hoa sen

Miệng răng trong sạch, trắng như ngà

Mỹ nhân như vậy trời cũng hiếm.

Huống lại nhân gian Ngài gặp được

Thân tâm hòa thuận theo ý Ngài.

Bấy gỉờ Bồ-tát dùng kệ đáp:

Ta xem thân ngươi chảy bất tịnh

Vi trùng tụ tập ngàn vạn ổ

Không bền, các ác đầy khắp thân

Sinh, già, bệnh, chết luôn theo đuổi.

Ta cầu Tối thượng nhất thế gian

Đường Bậc trí, chân chính không lùi

Ngươi dùng đủ sáu mươi bốn cách

Tay rung anh lạc, lắc vòng tai

Bị tên dục bắn, Ta mỉm cười.

Nên hỏi: Sao Ngài chẳng điên đảo?

Kẻ khác bị nạn, riêng Đại nhân

Thấy ngũ dục đẹp như độc dược

Như mặt trên dao, làm đứt lưỡi

Dục như đầu rắn, hổ lửa sâu.

Bậc Sư tử đi như vũ bão

Cây cối bờ núi đều đổ nhào

Ta nay oai đức lìa ngũ dục

Xả bỏ các ngươi cũng như vậy.

Các hàng ma nữ diễn trăm trò

Huyễn hoặc Bồ-tát chẳng động tâm

Bồ-tát như thân sư tử chúa

Như núi Tu-di yên không động.

Chúng ma dụ dỗ chẳng thành công

Tâm rất xấu hổ, đều cúi đầu

Cung kính, vui mừng, đồng tán thán.

Mặt ngài đẹp sạch tợ hoa sen

Cũng như đề hồ và trăng thu

Chói sáng rực rỡ như Kim sơn

Cầu cho ước nguyện Ngài thành tựu

Tự độ, độ người ngàn vạn chúng.

Lúc bây giờ lũ con gái của Ma vương Ba-tuần không đủ sức huyễn hoặc Bồ-tát, tâm rất xấu hổ, tự thấy thẹn thùng, đều cúi thân đảnh lễ dưới chân Bồ-tát, nhiễu quanh ba vòng rồi thoái lui, thất thểu đi về bên Ma vương Ba-tuần. Đến nơi, chúng bạch phụ vương:

-Thưa phụ vương, chẳng nên có ý nghĩ đến nơi chúng sinh đó gây oán thù. Vì sao? Vì từ xưa đến nay chưa từng thấy một chúng sinh nào ở trong Dục giới bị chúng con bày đủ trò tình tứ mê hoặc bên họ mà họ không chút động tâm như vậy. Lại nữa, khi chúng con khêu gợi dâm dục thì làm cho ý chí của người khác đều khô cạn, giống như khi trời hạn, tất cả cây cỏ đều bị cháy rụi, giống như bơ để dưới ánh nắng trời mùa xuân đều tự chảy ra nước. Ngày nay bậc Trượng phu này vì nhân duyên gì vẫn độc lập như vậy? Vì lý do đó, xin phụ vương chớ nên gây oán thù với vị ấy.

Rồi hướng về phụ vương, chúng nói kệ:

Thân Ngài vàng hơn hoa Chiêm-bặc

Vô biên công đức danh đồn khắp

Không động, giống như núi Tu-di

Đảnh lễ Ngài rồi, giờ trở về.

Con xin trình rõ đủ mọi điều

Mắt ngài xanh biếc tợ hoa sen

Mỉm cười nhìn con, tâm không động

Diện mạo trong sạch, nhìn không nháy

Không sân, không giận, không dục nhiễm

Xem lũ chúng con như huyễn hóa.

Giả sử Tu-di ngã đổ nhào

Nhật nguyệt tinh tú đều rơi rụng

Biển lớn cạn sạch, nước không còn

Ngài thấy ái dục, tâm chẳng thoái.

Giọng Ngài thanh thót, nghe hoan hỷ

Tâm từ nhìn con, không dục nhiễm

Thấy con không sinh tâm sân hận

Tư duy sáng suốt về thân người

Quán biết ý con và thân thể

Tư duy tỉ mỉ nạn nữ nhi

Do vậy, tâm không hưởng ngũ dục

Lìa dục không tham, nào ai biết

Chẳng phải trình độ của người, trời.

Chúng con bày trò của phụ nữ

Tâm Ngài nếu còn có dục ái .

Thì tâm ý cháy như củi khô.

Tuy Ngài thấy con, tâm không nhiễm

Đứng yên sừng sững tợ Tu-di

Phước trí trang nghiêm trăm công đức

Bố thí, trì giới, hạnh viên toàn .

Từ hàng vạn kiếp tu phạm hạnh

Là Bậc thanh tịnh oai đức lớn.

Chúng con đảnh lễ Kim thân Ngài

Ma ta bị bại hẳn không nghi.

Chánh giác Bồ-đề, Ngài phải chứng

Chúng ta chẳng nên gieo oán nghiệp

Trận này ta đánh thật khó thắng

Muốn Ngài hàng phục cũng gian nan.

Phụ vương hãy xem trên không trung

Nhiều chúng Bồ-tát phương khác đến

Thân đều trang nghiêm bằng anh lạc

Trân trọng, cung kính lễ Ngài ấy

Hoa Mạn-đà-la rơi như mưa

Nói kệ vi diệu tán thán Ngài.

Chư Phật mười phương cho sứ đến

Mang theo nhiều thực phẩm cam lộ

Các loài hàm thức đều kéo đến

Vô tình các núi cùng cây cối

Thần núi Tu-di cùng Đế Thích

Đảnh lễ hướng về rừng Công đức.

Như vậy phụ vương, chẳng phải lúc

Chúng con cần phải trở về đây.

Lúc ấy Ma vương liền nói kệ:

Qua sông phải qua đến bờ sông

Muốn đào lấy cây phải chặt rễ

Đã kết oán phải trừ tận gốc

Việc đã làm rồi, không thể hối.

Khi ấy Ma vương Ba-tuần không nghe lời khuyên của trưởng tử Thương Chủ, lại cũng không nghe lời can gián của các ái nữ, liền đích thân đến cây Bồ-đề. Khi đến bên cây Bồ-đề rồi, Ma vương liền nói với Bồ-tát:

-Này Sa-môn họ Thích, vì cầu gì mà đến đây, ngồi một mình dưới rừng cây trong đêm mây mù, mưa gió tối tăm, đầy các loài thú hoang dữ và nhiều loài rồng độc ác đáng kinh sợ? Này Tỳ-kheo, người không sợ những tên giặc cướp tàn bạo hay sao?

Khi ấy Bồ-tát đáp lời Ma vương Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, Ta muốn cầu quả Niết-bàn tịch diệt, là việc làm của chư Phật trong đời quá khứ là chỗ tối thượng vô úy, dứt sạch các hữu. Vì lý do đó, hôm nay Ta đến an tọa dưới cội Bồ-đề, trong cảnh thanh vắng này.

Lúc ấy Ma vương liền dùng kệ nói Bồ-tát:

Sa-môn một mình nơi vắng lặng

Khổ hạnh mong cầu điều rất khó

Tiên nhân tuổi già đầy phương tiện

Còn mất thiền định đều thoái lui

Huống chi ngươi sung sức cường tráng

Cầu quả thắng diệu do đâu được?

Khi ấy, Bồ-tát dùng kệ bảo Ma vương Ba-tuần:

Chư Thiên thuở xưa tu khổ hạnh

Tinh tấn dũng mãnh chưa sâu xa

Phước báo thiện lực sức không mạnh

Ta xưa giữ giới thệ kiên cố

Ba-tuần, nếu Ta không chứng đạo

Trọn đời chẳng bỏ cội cây này.

Khi ấy Ma vương lại nói kệ:

Ta, đấng tối tôn trong Dục giới

Đế Thích, Hộ Thế đều do ta

Tu-la, Long vương, Khẩn-na-la

A-tỳ đến nay đều dân ta

Người cũng đang ở trong nước ta

Tự nghĩ nên sớm rời cây này.

Khi ấy Bồ-tát lại dùng kệ bảo Ma vương Ba-tuần:

Ngươi ở Dục giới tuy quyền lực

Nhưng không tự tại trong pháp giới

Chỉ biết địa ngục cùng ngạ quỷ

Nhưng Ta chẳng phải người ba cõi

Chứng đạo quyết phá cung ma ngươi

Khiến ông về sau mất quyền lực.

Khi ấy Ma vương Ba-tuần lại nói với Bồ-tát:

-Này Thích tử, người nên sớm rời khỏi nơi đây, nhất định sẽ được ngôi Chuyển luân thánh vương, làm vị đại địa chủ cai trị bốn châu thiên hạ đầy đủ bảy báu, thống lãnh tất cả sơn hà đại địa.

Này Thích tử, người lẽ nào chẳng nhớ những lời dự đoán “là ngươi sẽ làm vua.” của các vị Tiên nhân thuở trước như vậy sao? Người nên mau đứng dậy về làm chủ cõi đời một cách tự do. Nếu, người trở về sẽ được oai đức tối thượng không ai sánh bằng, trú trong chánh pháp cai trị giáo hóa dân chúng, được dân chúng tất cả nước đồng khát ngưỡng, đến cung kính cúng dường. Lại nữa Thích tử, thân ngươi mềm yếu, từ nhỏ đến lớn được nuôi dưỡng trong thâm cung, nay sống ở trong rừng hoang vắng, ít người lui tới, nhiều loài mãnh thú đáng sợ, sống đơn độc không bè bạn, e thân người bị tổn hại, làm cho ta mãi ưu sầu.

Lại nữa Thích tử, người sớm rời khỏi chỗ này trở về hoàng, cung. Những điều thế gian khó có được mà người đã được, ngũ dục tuyệt vời đẹp mắt vừa ý mà người từ khước không thọ hưởng. Người tuy muốn cầu đạo Vô thượng nhưng điều này thật khó được.

Này Thích tử, người chưa thật biết đạo Bồ-đề rất khó chứng được, chỉ uổng công mệt sức mà thôi.

Ba-tuần nói như vậy rồi, đứng yên lặng. Khi ấy Bồ-tát bảo Ma vương Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, ngươi chẳng cần nói như vậy. Vì lý do gì? Vì tâm Ta không thích thú vui ngũ dục. Này Ma vương Ba-tuần, Ta từ lâu đã biết hiểm họa của ngũ dục, một khi đam mê ngũ dục rồi thì không bao giờ biết đủ. Thú vui ngũ dục chỉ trong chóc lát, không được lâu dài, vì vô thường, khổ, không, vô ngã nên không chắc chắn, giống như hạt sương trên cỏ, như đầu lưỡi rắn độc đáng sợ khó đụng vào, như đống xương hôi thối chẳng sạch, giống như khúc thịt các loài thú cùng tham ăn tương tranh tương sát, giống như quả chín muồi trên cây, ở cành chẳng được bao lâu, như chiêm bao, như bọt nước, như trò ảo thuật, như sóng nắng không có chân thật, như lửa vùi trong đống phân dê, thình lình đốt cháy người. Này Ma vương Ba-tuần, Ta muôn chứng pháp vô vi. Này Ba-tuần, ngươi phải biết, Ta đã xả bỏ cảnh giàu sang phú quý và cho đến bảy báu trong bốn châu thiên hạ.

Lại nữa, Ma vương Ba-tuần, ví như có người dùng cao lương mỹ vị rồi lại mửa ra, sau đó muốn ăn trở lại, thì không có việc như vậy. Đúng như vậy! Như vậy! Ta nay đã xả bỏ các phước báo như trên, đây là việc hết sức khó làm, giống như người mửa đồ đã ăn, không thể ăn trở lại. Ta đâu có thể trở về hoàng cung! Này Ma vương Ba-tuần, Ta chẳng bao lâu nữa chắc chắn tỏ ngộ Bồ-đề, chứng thành Phật quả, dứt sạch các khổ sinh, già, bệnh, chết. Này Ba-tuần, ngươi nên trở về cung điện của ngươi, không nên đứng đây! Ông nói lắm lời phù phiếm, lời nói không lợi ích, là lời nói của kẻ ngu si.

Khi ấy Ba-tuần lại suy nghĩ: “Người này không thể dùng ngũ dục dối gạt, ta nên dùng các sách lược khác, đem lời hoa mỹ cám dỗ lòng người, khiến bỏ đi nơi khác.”

Khi đó Ma vương Ba-tuần suy nghĩ như vậy xong, lại thưa Bồ-tát:

-Nhân giả, Sa-môn Thích tử dòng Cam Giá mau đứng dậy! Mau đứng dậy! Nhân giả từ ấu thời đến nay chưa từng thấy chiến đấu, đao binh tranh nhau, thật đấng khủng khiếp. Nhân giả chỉ làm theo vương pháp của mình, trận chiến đôi địch không phải là việc nhân giả có thể chịu được. Lại Nhân giả chẳng nên cùng kẻ khác gây oán thù. Nếu gây oán thù thì các thứ tham dục, ngu si triền miên làm uế trược tâm thức, không thể thoát các ấm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nhân giả mau mau đem tấm thân với tâm bất thiện, bất chánh kiến này trở về. Này Sa-môn Thích tử, Ngài về hoàng cung lập hội Vô giá, thọ ngôi Kim luân thánh vương, dùng pháp vua hàng phục thế gian, cai trị thiên hạ, chẳng nên luyến tiếc nơi đây mà bị thương tổn vì chiến đấu.

Này Nhân giả, khi Ngài trở về cung của mình, thì sẽ được phước đức, oai thế lớn, trên con đường vương vị chánh đáng, đáng hân hoan mà thuở xưa các vị vua đều khen ngợi. Quốc gia Ngài ở rộng rãi, thống lãnh bốn châu thiên hạ, tất cả đều được đầy đủ không thiếu một vật gì.

Nhân giả đã hạ sinh trong thâm cung của một Đại vương, ngày nay lại cạo bỏ râu tóc làm Tỳ-kheo, thật không thích hợp đời sống khất sĩ. Tại sao Nhân giả con dòng họ Thích, thuộc giai cấp vua chúa, lại chọn lấy đời sống bần cùng của Sa-môn? Tôi thương xót Ngài cho nên mới nói ra những lời như vậy, cũng chẳng phải tôi dùng sức mạnh buộc nhân giả rời khỏi đây, chỉ vì ý tôi không nỡ thấy nhân giả làm những điều không tốt đẹp.

Rồi ma nói kệ:

Này người Sát-lợi, chết đáng sợ

Nên bỏ giải thoát về hoàng cung

Lập pháp cung tên trị thế gian

Đời nay khoái lạc, sau lên trời

Con đường vua chúa danh đồn khắp

Thuở trước các vua đồng tiến bước

Nhân giả đã sinh trong dòng vua

Không hợp Sa-môn sống khất thực.

Khi Ma vương Ba-tuần nói như vậy rồi, Bồ-tát nhìn chăm chú, xác định không theo, không động thân, không rời chỗ ngồi, trong tâm thầm nghĩ: “Ôi thôi! Ba-tuần, ngươi mưu cầu tự lợi chẳng phải vì thương Ta.” Nghĩ như vậy rồi, Bồ-tát nói với Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, Ta đã ngồi trên tòa Kim cang kiên cố, ngồi kiết già rồi, rất khó phá hoại, vì Ta muốn chứng pháp cam lộ. Này Ma vương Ba-tuần, theo ý nghĩ của ông, tùy ý làm, có thể làm được, tùy ý thực hiện.

Khi ấy Ba-tuần nổi sân, bực tức nói với Bồ-tát:

-Này Tỳ-kheo họ Thích, ngày nay vì cớ gì ngồi dưới gốc cây nơi thanh vắng. Với tiếng rống la của ma quân như vậy, ý ngươi nghĩ gì mà cứ ngồi yên? Hay cho rằng như ngồi trong thành, được bảo vệ vững chắc bởi bốn bức tường chung quanh. Này Tỳ-kheo, lẽ nào không thấy ta thống lãnh bốn binh chủng: tượng, mã, xa, bộ cùng các binh chủng khác, đồng thời cờ phướn, cờ lệnh, cờ lông, lọng lông, cờ xí…kéo đến đây? Có nhiều quỷ Dạ-xoa đều ăn thịt người, bắn tên giỏi như thần, đều cầm cung nỏ hoặc cầm tên nhọn, giáo mâu, câu liêm, mác, dao, gậy, bánh xe chiến đấu bằng kim cương, búa… đủ các loại binh khí. Xe thì có hàng vạn voi, lạc đà, ngựa đầy khắp hư không, đồng cất tiếng rống vang. Ngoài ra, còn có vô lượng các loài rồng đều ẩn trong những tảng mây đen kịt, điện chớp lòe lẹt, lẫn trong trận mưa tuyết cuồng loạn.

Bấy giờ Ma vương Ba-tuần rút một thanh kiếm nhọn ở nơi thắt-lưng, cầm nơi tay, vội vã chạy về phía Bồ-tát, miệng xướng to:

-Này gã Tỳ-kheo họ Thích, thanh kiếm này của ta chặt đứt thân thể ngươi, giống như lực sĩ chẻ tre.

Rồi nói kệ:

Bảo kiếm của ta thật cứng bén

Đang cầm nơi tay, người xem rõ

Sa-môn, nếu người không chạy gấp

Sẽ chém thân ngươi như chẻ tre.

Khi ấy Bồ-tát nói kệ đáp Ma vương:

Dù cả Ma vương chật đất này

Tay đều cầm dao như Tu-di

Các ngươi chẳng động một lông

Ta Thân Ta làm sao ngươi chặt đứt?

Ma vương, nếu ngươi có sức mạnh

Ta nay sắp chứng quả Bồ-đề

Như ngươi ngăn cản, Ta không thuận

Hãy mau ra tay, tùy ý ngươi.

Khi Bồ-tát nói kệ này rồi, lại bảo Ma vương:

-Này Ma vương Ba-tuần, giá sử cả ngàn vạn ức chúng sinh đều có thân hình như ông, dốc toàn sức lực đến đây làm trở ngại, mong làm tổn hại đạo quả Bồ-đề của Ta, để Ta không chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ta quyết không rời khỏi nơi đây để ngồi dưới những gốc cây khác.

Ma vương Ba-tuần nói với Bồ-tát:

-Này Tỳ-kheo họ Thích, người thuở trước ngồi bên bờ sông Ni- liên-thiền, thuộc xứ Ưu-lâu-tần-loa phát tâm tinh tấn, sáu năm khổ hạnh không tiếc thân mạng vẫn không chứng được quả Vô thượng. Huống chi ngày nay đã bỏ tâm tinh tấn, thoái thất thiền định, sinh tâm giải đãi, nương vào đâu mà ngươi mong đắc quả?

Bồ-tát đáp lời Ma vương Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, thuở xưa vì Ta mới phát tâm tinh tấn nên ngồi nơi vắng lặng bên bờ sông kia để điều phục tự tâm. Ngày nay sự tinh tân dũng mãnh đó Ta đã thành tựu. Lại thuở trước, Ta tu khổ hạnh sáu năm là để đối trị sự mỏi mệt, ngày nay không còn như vậy nữa. Này Ma vương Ba-tuần, những lời can gián của ông như vậy thật chẳng phải là lòng thương xót. Nếu có lòng thương xót Ta thì đâu có nói lời như vậy. Ông đã sinh tâm như vậy, Ta nhất định sẽ được giải thoát, rồi làm kẻ khác cũng giải thoát như Ta. Này Ma vương Ba tuần, Ta quyết định chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, quyết định sẽ được giải thoát vi diệu.

Khi ấy Ba-tuần nghe Bồ-tát nói những lời như vậy, tâm rất ưu sầu nên bỏ tất cả sức cố gắng, lại nghĩ: “Ta đã dùng lời hoa mỹ cám dỗ nhưng không thể khiến người rời khỏi gốc Đạo thọ. Người đã phát lời thệ nguyện sâu nặng, không thể dùng lời tình cảm mà lay động được, vậy nên dùng sức chiến đấu khủng bố, quở trách, bắt ép để giải quyết, khiến người tâm sinh kinh sợ mà vội vã đứng dậy bỏ đi.”

Ma Ba-tuần nghĩ như vậy rồi, nói với Bồ-tát:

-Này Tỳ-kheo họ Thích, ta đã dùng lời chân chánh nói với ông, ông không nhận lòng tốt của ta khuyên can như vậy, không đứng dậy gấp đi đến nơi khác. Ông thật là ngu si, đến giờ này ông sẽ thấy rõ những điều không tốt.

Khi ấy Bồ-tát nói với Ma vương Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, khi Ta còn trong thai Thánh mẫu, các người còn không thể làm chướng ngại Ta, huống chi ngày hôm nay. Này Ma vương Ba-tuần, các ngươi nên mau trở về chỗ ở của các ngươi, từ xưa đến nay Ta đã chưa từng sợ các ngươi, ngày nay cũng không sợ.

Rồi Bồ-tát hướng về Ba-tuần, nói kệ:

Hư không dù mưa đao gậy xuống

Cắt xén thân Ta ra từng mảnh

Nếu Ta không qua biển sinh tử

Trọn đời chẳng rời cội Bồ-đề.

Bấy giờ Ma vương Ba-tuần nói với Bồ-tát:

-Này Tỳ-kheo họ Thích, nay ông nói như vậy là do ông chưa thấy sức mạnh quân ma. Tại vì sao? Vì quân ma của ta mặc chiến giáp kiên cố, cầm đủ thứ loại binh khí lao vào thân ông. Ngay khi ấy, Tỳ-kheo họ Thích tự vội vàng đứng dậy rời khỏi gốc cây này chạy đến bên ta và chắc chắn miệng sẽ nói to lên thế này: “Ma vương, ngài hãy cho ta nương tựa?” Này Tỳ-kheo, người chưa hay biết thần thông của ta, nên ông mới ngồi nơi tòa Sư tử, rống lên tiếng Sư tử. Này Tỳ-kheo họ Thích, hãy mau đứng dậy, cần gì ngày nay phải rống lên tiếng Sư tử một cách uổng phí.

Ma vương nói kệ:

Ta có binh chủng voi, ngựa, lính

Cùng các thần tướng rành binh pháp

Thân mặc chiến bào, tay cầm trượng

Ông còn mạng sống hãy chạy nhanh

Để sau cầu ta, thật khó giúp

Khi ta muốn cứu, lại chẳng kham.

Bấy giờ Bồ-tát nói với Ma vương Ba-tuần:

-Này Ba-tuần, bốn biển lớn và cõi đại địa này có thể dời đi nơi khác. Mặt trời, mặt trăng cùng tinh tú có thể từ hư không rơi xuống đất. Núi chúa Tu-di có thể bửa ra làm trăm mảnh. Cõi đại địa và núi Tu-di cũng có thể đưa lên trời hay có thể lật úp. Cũng có thể lấy đất khô lấp sông Hằng, ngăn không cho nước chảy. Nhưng tâm Ta ngày nay không ai ngăn cản, chế phục được. Thân Ta không thể dời di nơi khác. Vì sao? Này Ma vương Ba-tuần, như Ta thuở xưa khi tu khổ hạnh, các sức thiền định, giới hạnh, thần lực của Ta là như vậy. Này Ba-tuần, với sức Ta như vậy, dù trời, dù rồng không thể hơn Ta, không thể thắng Ta. Ta nhờ thuở xưa tu hạnh Bồ-đề trong ngàn ức kiếp được thành tựu viên mãn.

Rồi Bồ-tát nói với Ma vương:

Tịnh cư các trời, chúng của Ta

Trí lực làm tên, cung phương tiện

Nay Ta thu phục ngươi chẳng khó

Giống như voi say đạp trúc khô.

Ma Ba-tuần nghe Bồ-tát nói những lời như vậy, tăng thêm tức giận. Vốn đã tức giận lại càng thêm tức giận tràn ngập châu thân, Ma-vương la lớn ra lệnh tất cả Dạ-xoa, La-sát…:

-Này đại tướng giỏi và loạn chúng Xích Nhãn, các khanh mau mau đến đây, đem tất cả núi đá, cây cối cùng các binh khí cung, tên, đao, kiếm, chày Kim cang, gậy, trái đấm, mâu, giáo, mác, rựa… bủa tuôn vào trên đầu tên họ Thích dòng Sát-lợi! Tất cả vũ khí đều phải tuôn xuống như mưa tuyết.

Lúc ấy đại tướng giỏi Dạ-xoa nghe Ba-tuần ra lệnh như vậy liền cho bốn binh chủng chuẩn bị nghiêm chỉnh, thân đều mặc áo giáp, tay cầm các binh khí vội vã kéo đến, vô lượng trăm ngàn vạn ức Dạ-xoa, La-sát, Tỳ-xá-già và Cưu-bàn-trà… đủ các hình dung, đủ các tướng mạo, đủ các nhan sắc, cầm đủ binh khí, biến hiện đáng sợ, đầu mình tướng, la hét khác thường, tiếng đầy ác khí. Đủ các hình như: có kẻ mặt voi, có kẻ đầu ngựa, hoặc đầu lạc đà, đầu bò, đầu trâu, hoặc có người đầu la, đầu chó, hoặc có người đầu dê, đầu ngựa, đầu sư tử, đầu cọp, đầu báo, đầu chó sói, đầu chồn, đầu dã can, đầu mèo, đầu hươu, đầu nai… và các loài mặt chim. Lại có loại đầu Ma-kiệt, rùa, cá. Hoặc có các thân trùng đầu rắn, thân ngựa đầu voi, thân voi đầu ngựa, thân bò đầu lạc đà, thân lạc đà đầu bò, hoặc thân la, thân lừa đầu trâu, hoặc đầu lừa thân trâu, đầu chó thân heo, đầu heo thân chó, hoặc đầu dê đen thân chó sói, hoặc đầu chó sói thân dê đen, hoặc đầu sư tử thân hổ báo, hoặc đầu hổ báo thân sư tử, hoặc đầu chồn đầu mèo thân gấu hoặc đầu gấu thân chồn, mèo; hoặc đầu tê giác thân rái, hoặc đầu rái thân tê giác, hoặc đầu mao ngưu thân khỉ, hoặc đầu khỉ thân mao ngưu, hoặc đầu vượn thân dã can, hoặc đầu dã can thân vượn, đầu mèo thân chim, đầu chim thân mèo, hoặc đầu cá Ma-kiệt thân rùa trạnh, hoặc đầu rùa trạnh thân cá Ma-kiệt, hoặc đầu cá thân rắn, đầu rắn thân cá, đầu súc sinh thân người, đầu người thân súc sinh, hoặc có thân mà không có đầu, hoặc có nửa mặt, hoặc có nửa thân, hoặc một thân hai đầu, hoặc một thân ba đầu, hoặc một thân có nhiều đầu, hoặc có đầu mà không có mặt, hoặc có mặt mà không đầu, hoặc có nửa đầu mà không có mặt, hoặc có nửa mặt mà không có đầu, hoặc có hai đầu mà không mặt, hoặc lại không mặt mà có ba đầu, hoặc lại có nhiều đầu mà hoàn toàn không mặt.

Hoặc hoàn toàn không mắt, hoặc có một mắt, hai mắt, ba mắt cho đến nhiều mắt. Hoặc không tai, hoặc có một tai, hai tai, ba tai cho đến nhiều tai. Hoặc không bàn tay, hoặc không cánh tay, hoặc có một bàn tay, hai bàn tay, ba bàn tay, cho đến nhiều bàn tay. Hoặc không có bàn chân, hoặc chỉ có một bàn chân, hai bàn chân, ba bàn chân, cho đến nhiều bàn chân và không ông chân. Hoặc đầu nghiêng ngã, hoặc đầu lủng lẳng, hoặc đầu quay xuống đất, chổng cẳng lên trời, tay chân đảo lộn, hoặc bị chặt đứt mà còn treo. Hoặc mắt đảo lộn, hoặc mắt lồi ra xanh biếc đáng sợ, hoặc có kẻ mắt đỏ, hoặc mắt sáng như băng, hoặc mắt luôn luôn chuyển động. Hoặc có kẻ tai rủ xuống, hoặc có kẻ tai như sơn dương, hoặc có kẻ tai như tai lừa, hoặc như mộc nhĩ, hoặc như tai khỉ, hoặc như tai cá, hoặc trên một thân có nhiều loại tai. Hoặc có kẻ mũi lệch mà thân thì xấu xí, hoặc có kẻ bị treo miệng hoặc treo lưỡi, hoặc lưỡi thô kệch, hoặc lưỡi phóng quang. Hoặc có kẻ răng hết sức to dài, mà thân thể thì lùn tịt, hoặc có người răng lồi xỉ không đều nhau, hoặc có người răng như đao kiếm, hoặc có người đầu lưỡi như hình đao kiếm. Hoặc có người bị treo bụng hoặc không bụng. Hoặc có người tóc phủ, hoặc có người không đầu gối, hoặc đầu gối như cái bình, hoặc có người không bắp vế, bàn chân như cái bát úp, hoặc như cái cối.

Lúc bấy giờ, ma quân với thân hình kỳ dị như vậy, hoặc cỡi voi trắng hay cỡi ngựa, hoặc cỡi lạc đà, hoặc cỡi trâu hay tê giác, cỡi đủ các loại xe, kéo đến bao vây bốn mặt. Có đạo quân A-tu-la hay Ca-lâu-la, có đạo quân như Ma-hầu-la-già, Cưu-bàn-trà, La-sát, Dạ-xoa và Tỳ-xá-già quỷ coi mạng sống… Hoặc ốm gầy, cao lớn giống như ngạ quỷ, hoặc đoàn quân có nhiều hình dạng khác nhau, hoặc khuôn mặt lạnh lùng to lớn, hoặc đầu như sợi dây, hoặc đầu to, hoặc mặt nhỏ, hoặc mặt nhăn, hoặc hình dạng khác nhau khiến người trông thấy mất hết thần sắc, hoặc có người trông thấy bị hốt hết hồn phách tinh thần, hoặc mặt xanh, hoặc thân thể màu da như đồng đỏ, hoặc đầu đỏ, thân màu xanh; hoặc đầu màu vàng, thân như màu khói, hoặc đầu tợ như màu khói, thân màu vàng; hoặc đầu đỏ thân đen, hoặc đầu đen thân đỏ; hoặc đầu trắng, thân màu xanh lục, hoặc đầu màu xanh lục, thân trắng; hoặc đầu bên trái trắng, bên phải màu xanh lục, hoặc bên trái xanh, bên phải trắng, hoặc thân thể, đầu mặt, trái phải tất cả đều một màu như vậy.

Hoặc có tên toàn thân lộ rõ bộ xương, hoặc có đầu như đầu lâu, thân mập đầy thịt; hoặc có đầu mặt đầy thịt, thân lòi bộ xương; hoặc có tay chân người, thân súc sinh; hoặc có chân súc sinh mình người. Hoặc có toàn thân lông nhọn như kim, hoặc có lông trên mình như lông gáy heo, hoặc có lông trên mình giống như bờm con lừa, hoặc lông như con gấu, con khỉ, con chuột, con chó sói. Hoặc trên mình xẹt ra ánh lửa, hoặc lông mọc rối loạn, hoặc lông mọc lộn ngược, hoặc đầu búi tóc, hoặc đầu hói không có tóc.

Hoặc có tên mặc áo đỏ, lưng đeo đủ màu sắc, hoặc trên đầu mang xâu đầu lâu, hoặc tóc trên đầu nhuộm đủ màu sắc: tro, khói, xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc lấy đầu lâu lảm mũ… đủ các hình trạng cùng nhau kéo đến.

Hoặc có tên tay cầm lấy Khư-tra-bàn-giá (nhà Tùy dịch: một trong bốn phần của chiếc giường, lấy một chân chiếc giường). Hoặc có tên lưng đeo các chiếc linh, khi cử động phát ra âm thanh dữ dội, trong tay cầm lấy đầu lâu. Hoặc có tên lấy hài cốt làm tràng hoa, hoặc cầm tay chân người chết. Hoặc có tên tay rung linh phát ra tiếng động. Hoặc có tên thân cao, to lớn giống như thân cây Đa-la, trong tay cầm xà mâu hoặc kiếm, hoặc dao, giáo, cung, tên, nỏ. Hoặc có tên tay cầm mác, hoặc có người tay cầm chĩa ba, hoặc có tên cầm gậy, hoặc có tên cầm thiết luân, trường kiếm, búa bén. Hoặc có tên tay cầm chày sắc, đầu bốc lên ngọn lửa dữ. Hoặc có tên tay bưng tảng đá to như núi.

Hoặc có tên mặc áo bằng da thú đủ màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng và đen. Hoặc có tên thân màu đỏ, dùng rắn quấn vào mình. Hoặc có tên rắn chui ra từ mắt, tai, mũi; các rắn này màu đen, dùng tay cầm lấy đứng trước Bồ-tát mà ăn. Hoặc có tên ăn thịt người, hoặc có tên uống máu, hoặc có tên trên thân bốc lên những làn khói ngùn ngụt, miệng tuôn ra lửa như ngọn đuốc. Hoặc có tên tất cả nơi các lỗ chân lông đều phun ra lửa, hoặc có tên từ nứu răng phun lửa lan tràn trên mặt đất.

Hoặc ở giữa hư không xuất hiện đám mây to lớn đen kịt, hoặc trong hư không gió bay mưa vãi, sấm chớp chấn động dữ dội, giáng trận mưa đá núi hay như đá vụn. Sét đánh các cây đại thọ làm cành nhánh gãy rụi. Hoặc có tên trương cung la hét, dọa nạt, làm người kinh sợ. Hoặc có tên miệng kêu la lớn tiếng: “Hãy đứng dậy chạy nhanh, đừng ở lại nơi này!” Hoặc có tên biến làm người già hay phụ nữ, giơ hai tay cất tiếng khóc vang: “Ôi thôi, con ta ơi!”, “Ôi thôi, anh ta ơi!” Hoặc lại có tên cười lớn tiếng, hoặc có tên sợ hãi chạy giáp vòng Đông, Tây, Nam, Bắc. Hoặc có tên từ phía sau chạy về phía trước. Hoặc có tên bỗng nhiên đứng dậy, hoặc có tên bỗng nhiên bay vọt trong không trung dạo chơi. Hoặc có tên thân nương trên cây mà đi một cách tự tại. Hoặc có tên mua đao, hoặc có tên khua trường kiếm, chĩa ba, giáo, mác… tay chân chẳng yên. Hoặc có tên la rống như trâu chúa kêu giữa mùa hạ, hoặc có tên tiếng nói như thú Thi-bà.

Hoặc có tên ở trong không trung la lên: “Kha kha! Hư hư! Hu hu! Hi hi! Kỳ-lê! Kỳ-lê! miệng la lên như vậy, lại cùng nhau tung vãi y phục. Trăm ngàn vạn ức vô lượng vô biên các binh chủng Dạ-xoa, La-sát, Cưu-bàn-trà, Tỳ-xá-già… che lấy kín cả mặt trước cây Bồ-đề như vậy. Phía Nam cho đến tận biển, đầy cả quân ma, không còn chỗ đất trống để vừa được mũi kim, với hình dạng đáng sợ, muốn nắm lấy Bồ-tát, muốn sát hại Bồ-tát, chỉ chờ Ma vương Ba-tuần ra một mệnh lệnh. Bọn chúng hướng mặt về ma vương để xem thế nào. Tất cả các quỷ thần bao vây lấy cây Bồ-đề như đang đói khát, thiếu thốn muốn quyết chí sát hại Bồ-tát.

Nơi cây Bồ-đề có vô lượng chư Thiên Tịnh cư tràn ngập ba mặt: Đông, Tây và phương Bắc. Lại có vô lượng vô biên chư Thiên cõi Sắc chấp tay đảnh lễ Bồ-tất, miệng nói:

-Chư nhân giả thấy không, lúc này Bồ-tát sắp chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Hoặc có chư Thiên xướng lên:

-Người dòng Cam Giá thuộc giai cấp tôn quý, mau rời khỏi nơi này, vì ở đây nhiều việc khủng bố, có nhiều binh khí làm tổn hại đến thân Ngài.

Bấy giờ Bồ-tát bảo chư Thiên:

-Chẳng bao lâu Ta sẽ phá tan bọn quân ma khiến chúng ly tán, giống như trận gió thổi sạch những cánh hoa nhỏ ở trên tấm vải.

Khi tất cả chúng ma quỷ kia tụ tập như vậy, đúng vào nửa đêm; bầu trời tối tăm, tuy có ánh sáng mặt trăng và các vì sao nhưng đều không thể xuất hiện, vì quá tối đen. Giả sử người có mắt cũng không trông thấy, chỉ thấy đám lửa khổng lồ cháy phừng phực, phát ra tiếng gió thật đáng kinh sợ, cõi đại địa chấn động, nước bốn biển đều sôi sục.

Có kệ:

Bốn biển nước sôi, đất chấn động

Mười phương lửa cháy nghe rùng rợn

Che khuất trăng sao, trời tăm tối

Nửa đêm đen tối chẳng thấy chi.

Bấy giờ trong đại chúng có một Long vương tên là Trì Địa, trong tâm muốn Bồ-tát thắng ma quân, nên tức giận Ma vương. Vì có ác ý, Trì Địa trợn đôi mắt nhìn Ma vương Ba-tuần, miệng phun khí độc vào mình Ma vương làm cho Ma vương lảo đảo chẳng an.

Lúc bấy giờ chư Thiên cõi Tịnh cư muốn Bồ-tát thắng ma quân, đối với Ma vương sinh lòng thương xót, vì chư Thiên Tịnh cư đã dứt sạch các lậu nên không còn tức giận. Khi ấy những chư Thiên ở đây, có những vị kính tín Bồ-tát, thấy ma quân đầy khắp nơi cây Bồ-đề nhiễu loạn Bồ-tát. Thấy rồi ở trong hư không, họ đều xướng lên: “Ôi thôi! Ôi thôi” rồi nói kệ:

Chư Thiên nhóm họp dưới Bồ-đề

Thấy ma sắp gây hại Bồ-tát

Tin pháp giải thoát cho thế gian

Miệng đều xướng to tiếng: Ôi thôi!

Lúc ấy Bồ-tát chỉ tư duy chánh pháp, tâm không loạn động, tâm ý cũng không suy nghĩ gì khác. Bồ-tát nói với Ma vương:

-Này Thiên tử cõi Dục, thân Ta đã thuộc dòng họ giai cấp vua chúa, dòng họ Ta chưa từng biết vọng ngữ, chỉ thành thật giữ lời. Mưu đồ của ông sao chẳng sớm thực hiện? Chớ nên đình trệ kéo dài.

Khi ấy ma Ba-tuần đáp lời Bồ-tát:

-Theo như lời ông nói, ta muốn cắt nát thân ông thành trăm mảnh. Ngươi muốn đánh ta trước hay là để ta sát hại ngươi trước?

Bấy giờ Bồ-tát nói với ma Ba-tuần:

-Ta không có cung tên, hay dao gậy để có thể chặt bắn ông. Tuy như vậy, nhưng Ta phải thu phục các người xong, rồi mới thành Phật.

Khi ấy Ma vương Ba-tuần liền ra lệnh cho các ma quân:

-Các ngươi phải dốc toàn sức lực của mình, dũng mãnh chớ nên khiếp sợ, đôi với tên họ Thích này phải biểu hiện sự biến động khủng bố dữ dội.

Ma quân nhận sắc lệnh rồi, bạch Ma vương:

-Y lời Đại thiên dạy, chúng tôi không dám trái.

Rồi mỗi ma liền dùng sức của mình hiện những điều đáng sợ để khủng bố Bồ-tát. Trong đám ma quân có quỷ miệng le lưỡi dài, chuyển động đôi gò má, lộ hàm răng nhọn hoắc muốn cắn lấy Bồ-tát, đôi mắt trợn tròn như mắt Sư tử, hai tai co quắp tợ lưỡi câu, hiện hình thù đáng sợ hãi đến khủng bố, ám hại Bồ-tát. Hoặc có kẻ miệng há to, đứng sừng sững nhìn thẳng muốn nuốt lấy Bồ-tát.

Có kệ:

Ma quân đáng sợ đến như vậy

Bồ-tát an nhiên không lay động

Như đại trí thấy trẻ con đùa

Bồ-tát xem ma cũng như vậy.

Bấy giờ trong ma quân có một tên quỷ sinh tâm tức giận, cầm một dao dài phóng đến Bồ-tát mà con dao vẫn dính trong tay không thoát ra được. Hoặc có kẻ vác núi hay đá lớn ném đến Bồ-tát, núi và đá lại dính vào tay, không rơi xuống đất. Hoặc có kẻ ở trên hư không đem núi, đá, cây, nọc, búa lớn, búa nhỏ, giáo, mác phóng đến Bồ-tát, tất cả đều ở hư không, không rơi xuống đất, hoặc giả có rơi xuống đất lại tự gãy vụn thành trăm mảnh văng khắp nơi. Hoặc trong hư không giống như mặt trời mưa xuống những trận mưa lửa lớn, đám mây cháy rực rơi xuống, nhưng bị oai lực của Bồ-tát, chúng liền biến thành trận mưa hoa sen đỏ rơi xuống.

Hoặc có kẻ đến trước mặt Bồ- tát, miệng tuôn ra những con rắn đưa nọc độc cắn Bồ-tát. Nhưng bầy rắn này nằm đơ dưới đất như bị thần chú, không thể lay động. Hoặc có đám mây lớn, sấm chớp dữ dội, hoặc mưa đá và đá núi phóng trên cây Bồ-đề. Do uy lực của Bồ-tát, những mưa đá ấy rơi xuống đất biến thành mưa các loại hoa. Hoặc có kẻ cầm cung tên bắn vào Bồ- tát, nhưng do oai lực của Bồ-tát, tất cả các mũi tên dính vào dây cung không buông ra được. Hoặc có kẻ cùng một lúc bắn ra năm trăm mũi tên, các mũi tên này lại ở trong hư không, không rơi xuống đất. Hoặc có kẻ cầm thanh đao dài, vác chạy nhanh đến chỗ Bồ-tát, nhưng khi chưa đến nơi, tự nhiên vấp té ngã sấp trên đất.

Bấy giờ, có một nữ La-sát thân hình đen đúa, tay cầm đầu lâu chạy nhanh đến muốn huyễn hoặc động tâm Bồ-tát, muốn đến gần Bồ-tát, nhưng cứ chạy vòng tròn chỗ xuất hành không thể đến gần bên Bồ-tát được. Hoặc có kẻ từ hai con mắt phóng ra hai ngọn lửa cháy đỏ rực muốn thiêu đốt Bồ-tát, chạy nhanh đến gần Bồ-tát, bỗng nhiên không còn thấy Ngài nữa. Hoặc có con quỷ vác tảng đá to chạy nhanh về phía Bồ-tát, cứ chạy mà không đến dưới gốc Bồ-đề được, đuối sức, cực nhọc vô cùng.

Có kệ:

Thân tâm ma quân đều mê loạn

Dùng đủ phương tiện hại Thánh nhân

Không thể kinh động chỗ Ngài ngồi

Vì có trí lực, thệ nguyện mạnh.

Hoặc có ma quân rông lên tiếng Sư tử, hoặc có kẻ phát lên các thứ tiếng thú hoang, hổ, báo, gấu, chó sói. Các loại tiếng này nếu có vô lượng chúng sinh nghe, cũng đều sợ sệt. Hoặc có ma quân la lên: “Giết chết! Giết chết tên họ Thích này!”

Hoặc có ma quân la lên: “Lôi ra đánh! Lôi ra đánh tên dòng Sát-lợi này.”

Hoặc có ma quân la lên: “Đánh chết! Đánh chết tên Sa-môn này!”

Hoặc có ma quân la lên: “Giết hại! Giết hại tên dòng Cù-đàm này!”

Hoặc có ma quân la lên: “Chặt đứt! Chặt đứt tên dòng Cam Giá này.”

Hoặc có ma quân la lên: “Nghiền nát! Nghiền nát tên dòng Sát-lợi này!”

Hoặc có ma quân la lên: “Phá tan! Phá tan tên họ Thích này!” Hoặc có ma quân la lên: “Đập nát! Đập nát tên dòng Sát-lợi này!”

Hoặc có ma quân la lên: “Diệt gấp! Diệt gấp tên Sa-môn này!” Hoặc có ma quân la lên: ‘Phân thây! Phân thây tên Cù-đàm này!”

Hoặc có ma quân la lên: “Tùy ý! Tùy ý hãy mau hành động!” Hoặc có ma quân la lên: “Mặc tình! Mặc tình mau ra tay, chớ nên đứng yên!”

Tiếng động huyên náo như vậy, không thể nào nghe rõ được. Khi nghe tiếng này thì hư không muốn rơi xuống đất, tất cả đại địa như gãy từng đoạn. Bao nhiêu thú rừng, nghe tiếng động này, rống vang, chạy tứ tán. Các loài chim đang đậu trên cây, nghe tiếng động này, đều sa xuống đất.

Khi ấy, tất cả loài yêu quỷ trong đám ma quân, hoặc có kẻ cất tiếng cười mỉa mai, hoặc có kẻ cất lên tiếng Kỳ-lê, hoặc có kẻ cất tiếng, hoặc có kẻ nói: “Chặt chặt”; hoặc có kẻ nói: “Đứt đoạn, đứt đoạn”; hoặc có kẻ nói: “Giết chết”; hoặc có kẻ nói: “Cắt đứt, hoặc có kẻ nói: “Phá phá”; hoặc có kẻ nói: “Cắt từng mảnh; từng mảnh”; hoặc có kẻ nói: ‘Phân thay, phân thay”… Những tiếng hung dữ như vậy không thể kể xiết.

Ma quân Ba-tuần rút thanh kiếm bén cầm nơi tay muốn chạy về phía trước dọa nạt Bồ-tát, miệng hô to:

-Này Tỳ-kheo họ Thích, nếu ngươi dám ngồi yên nơi đây, không đứng dậy, ta quyết sẽ hại ngươi.

Thế mà Ma vương chạy qua lại mãi, ý muốn tiến gần Bồ-tát mà không tiến đến trước được. Lúc ấy trưởng tử của Ma vương là Thương Chủ, hai tay ôm lấy Ma vương, miệng la lên:

-Phụ vương! Phụ vương, xin cha chớ làm như vậy! Chớ làm như vậy! Cha chắc chắn không thể giết được Tất-đạt-đa người con dòng họ Thích, cũng chẳng làm động được chỗ ngồi này và cha sẽ mắc vô lượng vô biên tội lỗi.

Ba-tuần không nghe lời Thương Chủ can gián, chạy thẳng về phía Bồ-tát, không chịu trở lại.

Bấy giờ một Thiên tử cõi Tịnh cư ở trong hư không ẩn thân chẳng hiện, thấy ma Ba-tuần đem tâm tán loạn chạy đến não hại Bồ-tát, nên định tâm dùng lời vi diệu nói với Ba-tuần:

-Này ma Ba-tuần, chẳng lượng sức mình, hôm nay ông chẳng nên nhiễu loạn vị Thánh này, ông mau mau xả bỏ ác tâm huyễn hoặc, trở về nơi cung điện của mình. Ông không thể nào kinh động được vị Bồ-tát này. Vì lý do gì? Cũng như gió mạnh, không thể lay động núi Tu-di.

Rồi Thiên tử Tịnh cư hướng về ma Ba-tuần nói kệ:

Giả như khiến lửa không còn nóng

Nước mất tánh ướt, ngừng chẳng chảy

Đất mất bền chắc hết bảo trì

Gió không thổi động, im phăng phắc

Công hạnh Bồ-tát vô lượng kiếp

Chắc chắn không bỏ thệ nguyện này.

Thấy chứng sinh khổ trong thế gian

Bệnh nặng ngu si, xan, tham dục

Phát lòng từ bi thương chúng sinh

Muốn làm Thánh y cho thuốc trí

Nay vì cớ gì ông cản trở?

Phần nhiều chúng sinh rơi tà đạo

Nay Ngài muốn mở mắt chánh kiến

Là bậc Đại thánh, vua Giải thoát

Hướng đạo lái buôn bị lạc đường.

Chúng sinh vô minh rơi tăm tối

Ngài muốn thắp đèn trí chiếu sáng

Vị Thánh muốn vào thành Niết-bàn

Đốt đuốc để phá tối thế gian.

Thân cành nhẫn nhục, gốc rễ tâm

Hoa lá tín niệm cộng ý chí

Cây trí phát sinh quả pháp quý

Ông nay chẳng nên bứng cho ngã.

Ông đang bị dây si trói buộc

Bồ-tát muốn mở gút cho ông

Lẽ nào sinh tâm ác với Ngài.

Ngài cầu giải thoát cứu quần sinh

Ông làm chướng ngại nhọc vô ích

Chúng sinh chìm trong biển phiền não

Thế gian, ai biết làm lái thuyền.

Ngài muốn xây dựng cầu vĩ đại

Ông nay cớ sao sinh tâm ác?

Bồ-tát tu đạo hạnh nhiều kiếp

Công ấy ngày nay thành kết quả

Do vậy kiết già nơi cây ấy

Cũng như chư Phật thời quá khứ.

Khi ma Ba-tuần nghe những lời của trời Tịnh cư liền khởi tăng thượng mạn, nổi giận cao độ, gấp gáp chạy đến trước Bồ-tát, muốn hại Bồ-tát.

Khi ấy, hộ vệ nơi cây Bồ-đề có tám vị Thiên thần: Người thứ nhất tên là Công Đức, người thứ hai tên là Tăng Trưởng, người thứ ba tên là Vô Úy, người thứ tư tên là Xảo Biện, người thứ năm tên là Oai Đức, người thứ sáu tên là Đại Lực, người thứ bảy tên là Thiệt Ngữ, người thứ tám tên là Thiện Hội. Tám vị Thiên thần này chiêm ngưỡng Bồ-tát mắt không nháy, đồng thời đem mười sáu điều ca ngợi Bồ-tát, như thế này:

Ngài là chúng sinh thanh tịnh tối thắng, hào quang chiếu sáng như vầng nhật nguyệt ở hư không.

Ngài là chúng sinh thanh tịnh xuất sắc, bừng sáng chói lòa, giống như vừng nhật quang buổi bình minh.

Ngài là chúng sinh thanh tịnh trong sáng, hiện rõ các tướng như đóa sen hồng nở trong ao nước biếc.

Ngài là chúng sinh thanh tịnh, vô úy, dũng mãnh, uy quyền như Sư tử chúa ở trong rừng già.

Ngài là chúng sinh thanh tịnh vắng lặng, sừng sững chẳng động, như núi Tu-di mọc lên trong biển cả.

Ngài là chúng sinh hoàn toàn thanh tịnh, đứng yên sừng sững, như núi Đại thiết vi bền vững chẳng động.

Ngài là chúng sinh biết rõ sâu xa, đầy đủ công đức, ví như biển cả chứa đầy vật quý.

Ngài là chủng sinh khoan dung độ lượng, luôn luôn tăng trưởng, giống như hư không, không có giới hạn.

Ngài là chúng sinh đôn hậu chánh trực, tâm ý chánh định giọng như đại địa nuôi dưỡng chúng sinh.

Ngày nay, Ngài hoàn toàn không cấu trược, như nước ao A-nậu-đạt trong sạch đủ tám đức.

Ngày nay, Ngài đoạn trừ tất cả các kết sử, không còn tâm nhiễm, giống như gió mạnh, không vướng các vật.

Ngày nay khuôn mặt Ngài rực rỡ, khó nhìn vào, như lửa phừng phực, xa lìa tất cả sức nóng phiền não.

Ngài là chúng sinh dũng kiện, bền chắc, sức như trời lực sĩ Na-la-diên, không ai địch lại.

Ngài nay tinh tấn, nhiều kiếp tu tập, tâm ý khó thoái lui, giống như Đế Thích phóng chày Kim cang.

Ngài nay đã được thiện lợi đệ nhất, đứng đầu chúng sinh, đầy đủ mười lực, chẳng còn bao lâu thành đạo Vô thượng. (Nguyên bản thiếu một câu.)

Bấy giờ các thần vương bảo vệ cây Bồ-đề đã dùng mười sáu điều tán thán Bồ-tát như vậy.

Lúc ấy chư Thiên cõi trời Tịnh cư cõi sắc giới cùng nhau dùng mười sáu điều hủy nhục để bẻ dẹp thế lực Ma vương. Mười sáu điều đó là gì?

-Này ma Ba-tuần, ông không có oai thế, giống như kẻ yếu đuối bị hàng phục lực sĩ, nói dối là ta thắng.

Này ma Ba-tuần, ông một thân cô độc, không có bạn bè, giống như kẻ bị vứt bỏ trong cánh đồng hoang.

Này ma Ba-tuần, ngày nay tất cả lực lượng binh lính của ông đều bị đánh dẹp, như con trâu già ốm yếu đang chở nặng.

Này ma Ba-tuần, ông ngu si mù lòa, nhơ bẩn không thanh tịnh, như ban đêm bắn tên rơi vào chỗ bất tịnh.

Này ma Ba-tuần, ông nay như con lừa mù què chân, lê bước đây đó, như thương gia lạc đường đi vào con đường nguy hiểm.

Này ma Ba-tuần, quyến thuộc của ông ngày nay ly tán, trên thân mất hào quang, giống như kẻ bần cùng xin ăn mặc áo cỏ.

Này ma Ba-tuần, oai đức của ông thật suy giảm, không ai cậy nhờ, cố làm ra vẻ táo bạo, giống như người ngu si không biết xấu hổ.

Này ma Ba-tuần, ông tạo nghiệp bất tịnh, nhiều điều bẩn thỉu, giống như người không ân nghĩa hiếu đức.

Này ma Ba-tuần, ông bị người khác rượt đuổi giống như loài dã can bị Sư tử đuổi bất, không còn tự do.

Này ma Ba-tuần, quân lính của ông ngày nay chẳng bao lâu bị thoái lui tan rã, giống như trận cuồng phong thổi đàn chim đang bay.

Này ma Ba-tuần, ông nay ngu si, hôn ám, chẳng thức thời, như kẻ bần cùng côi cút sắp đến ngày chết.

Này ma Ba-tuần, quyến thuộc của ông ngày nay thất bại thoái lui, giống như thuốc bột trong lọ có lỗ thủng, bị lọt ra ngoài.

Này ma Ba-tuần, ông nay chẳng bao lâu sẽ bị giam cầm trí phạt như đúng theo lý đuổi kẻ ngu.

Này ma Ba-tuần, ngày nay tất cả thần lực của ông chẳng bao lâu sẽ hết sạch, giống như tội nhân cắt đứt tay chân đem đi chỗ khác. (Nguyên bản thiếu hai câu)

Khi tất cả chư Thiên Thủ đà hội đem mười sáu việc như vậy hủy nhục, xô dẹp thế lực ma Ba-tuần. Tám vị thần hộ vệ cây Bồ-đề lại dùng mười sáu việc hủy nhục ma Ba-tuần. Mười sáu việc đó là gì?

-Này ma Ba-tuần, ông ngày nay chẳng bao lâu sẽ bị Bồ-tát hàng phục, giống như tướng mạnh bị giặc sát hại.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị Bồ-tát đánh đập giống như kẻ ốm yếu khiếp nhược bị đại lực sĩ đánh.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị hào quang Bồ-tát che lấp giống như ánh sáng mặt trời xuất hiện, che lấp ánh sáng đom đóm.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị oai lực của Bồ-tát tự nhiên thoái lui, giống như nắm bột lúa mạch bị gió mạnh cuốn đi.

Này ma Ba-tuần, ngày nay ông bị Bồ-tát khủng bố chạy quýnh quáng như loài thú nhỏ bị sư tử rượt đuổi.

Này ma Ba-tuần, ông sẽ bị Bồ-tát bứng lên như cây Đa-la bị bão thổi tróc gốc ngã trên đất.

Này ma Ba-tuần, ngày nay ông bị Bồ-tát phá tan, giống như thành trì giặc bị sức mạnh hùng hậu của nhà vua phá dẹp.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị Bồ-tát làm kiệt lực giống như vũng nước chân trâu bị ánh sáng gay gắt ban mai làm khô cạn.

Này ma Ba-tuần, ngày nay ông thua Bồ-tát, cúi đầu chạy một hơi, giống như tội nhân bị đem xử trảm, tình cờ thoát khỏi.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị Bồ-tát làm rúng động như chim chóc nơi đồng hoang, gặp trận lửa lớn hoảng hốt bay tứ tán.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị Bồ-tát làm cho hàng phục, trong tâm ưu sầu, giống như nhà vua bỗng nhiên bị tước quyền thế không còn pháp lệnh.

Này ma Ba-tuần, ông nay chẳng bao lâu sẽ bị Bồ-tát lột bỏ thế lực, giống như con Hồng nhạn già bệnh không có đôi cánh.

Này ma Ba-tuần, không bao lâu nữa ông sẽ bị Bồ-tát làm cho tiêu diệt như người đi trong đồng hoang không lương thực.

Này ma Ba-tuần, ông nay chẳng bao lâu sẽ bị Bồ-tát cướp đoạt như người mất thuyền, chìm trong biển cả.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị Bồ-tát thiêu đốt, giống như kiếp tận, tất cả rừng rú cây cối đều bị cháy rụi.

Này ma Ba-tuần, ông nay bị Bồ-tát đánh tan, như chày Kim cang đánh nát núi đá.

Khi nghe các vị Thiên thần đem mười sáu điều hủy nhục để can gián, ma Ba-tuần muốn chứng tỏ mình chống lại lời khuyên can, chạy về phía Bồ-tát muốn sát hại. Ba-tuần bị Thiên thần hủy nhục, tâm vẫn ngoan cố, không chịu về cung điện của mình, lại tăng thêm phẫn nộ, ra lệnh cho ma quân:

-Các ngươi mau đứng lên, cấp tốc, đánh nát tên Tiên nhân này, đừng để nó sống. Người này nay đã tự độ qua đến bến bờ giải thoát, thoát thế giới của ta, lại dạy vô lượng vô biên chúng sinh ra khỏi cảnh giới này. Ta chẳng tha nó. Nếu nó tự biết muốn thoát khỏi tay ta, chỉ có xa cội cây Bồ-đề này thì mạng sống được trường thọ, khỏi bị khốn khổ.

Lúc bấy giờ Bồ-tát bảo ma Ba-tuần:

-Nếu làm cho núi Tu-di dời khỏi chỗ cũ, tất cả chúng sinh không còn ai cả, tất cả tinh tú nhật nguyệt đều rơi xuống đất, biển lớn khô cạn đi nữa, Ta đã ngồi dưới cây Bồ-đề thì không thể di chuyển. Ma vương lại tức giận la lớn:

-Các ngươi bắt lấy tên Cù-đàm họ Thích này mang hắn mau mau bay về cung điện nguy nga của ta, chẳng nên vội giết, đem xiềng xích năm vòng, gông cùm hai tay, giữ hắn nơi cửa ta để ta thường trông thấy sự khốn khổ ách nạn như thế, giống như đứa tôi đòi khốn khổ.

Lúc bấy giờ Bồ-tát bảo ma Ba-tuần:

-Có thể đem màu sắc sặc sỡ vẽ đủ hình dạng trên hư không này, hoặc các tinh tú cho đến mặt trời, mặt trăng trên hư không đều rơi xuống đất, quân ma các ông đầy cõi tam thiên mà khủng bố được Ta, cho đến chúng ma ở dưới cây Bồ-đề mà dọa nạt được Ta thì không thể được.

***

Phẩm 32: BỒ TÁT THU PHỤC MA VƯƠNG

Bấy giờ ma quân đem hết oai lực áp đảo Bồ-tát ở dưới gốc cây Bồ-đề nhưng không làm rúng động một sợi lông của Ngài.

Có kệ nói:

Ma quân cõi trời bỗng nhóm họp

Mọi nơi đánh trống đất vang rền

Thổi còi và ốc các âm hanh

Nói rằng: Người muốn làm việc gì

Nay thấy đại quân chúng ma này

Sao chẳng đứng dậy đi nơi khác?

Ngươi nay sắc đẹp như vàng ròng

Mặt mày thanh tịnh trời người kính

Thân ấy hoại diệt chẳng bao lâu

Đại quân ma vương khó địch lại.

Chỉ thấy đại địa và hư không

Biến hóa nhiều cách hiện trong đó

Quyết cùng chiến đấu e không thắng

Họ hoặc sân hận bị hại thân.

Ca-lăng-tần-già giọng Phạm âm

Bảo hàng Dạ-xoa cùng La-sát:

Ngu si muốn hoại thể hư không

Nay muốn hại Ta cũng như vậy.

Có thể Kim cang phá Sơn vương

Hoặc dùng miệng thổi khô biển cả

Hoặc nắm nơi tay rồng dữ tợn

Như vậy cũng không động tâm Ta.

Chúng ma nổi giận phóng núi lửa

Nhổ sạch gốc cây quăng tứ tán

Sao tuôn đổ rực nước đồng sôi

Hoặc người tay nắm loài rắn độc

Hoặc đầu voi trắng, ngựa, lạc đà

Hoặc đầu dã can, mèo, khỉ, vượn

Hoặc rồng, rắn độc phun khí độc

Hoặc lại sấm sét chớp sáng lòa

Cùng mưa đất đá tuyết kim cương

Hoặc tuôn sắt cục, đồ bỉnh khí:

Mâu, giáo, trường kiếm, mác, chĩa ba

Hoặc hiện rắn độc răng kim cang

Làm cây gãy cành nằm ngổn ngang

Binh chủng áo giáp la vang dậy.

Có người trăm tay bắn trăm tên

Miệng rắn phun ra lửa phừng phực

Hoặc gậy, sắt cục như Tu-di

Hoặc tuôn mưa lửa thật đáng sợ

Ngã nhào trên đất thành dòng suối

Hoặc người núp vây khắp trước sau

Hai bên phải trái tận đến chân

Lảo đảo tay chân tuôn ra lửa

Bỗng nhiên trở lại miệng cười vang.

Ma quân đáng sợ đến như thế

Bồ-tát xem như trò huyễn hóa

Ma lực như vậy giết được mạng

Ta thấy giống như trăng đáy nước,

Cũng lại chẳng phải hình nam nữ

Chẳng ngã, chẳng mạn, chẳng chúng sinh

Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, khẩu, ý

Theo nhân duyên trong ngoài tự sinh.

Các pháp là vậy, không người tạo

Ta nói như vậy chẳng phải ngoa

Không tin lại phải lập lời thề

Ta nay thấy chúng bày trò vậy

Muốn đến bên Ta để khủng bố

Thể tánh các pháp và thân Ta

Tất cả đều không, không có thật.

Khi ma quân, Dạ-xoa… dùng đủ các hình tướng thân thể như vậy để khủng bố, Bồ-tát vẫn không sợ sệt, không lay động. Ma vương Ba-tuần lại càng thêm tức giận, trong tâm sầu não, toàn thân chẳng an.

Có kệ nói:

Quyến thuộc ma vương thật đáng sợ

Dùng nhiều hình thức khủng bố Ngài

Chúng thấy Bồ-tát không kinh hãi

Ba-tuần ưu sầu thêm tức giận.

Lúc ấy Bồ-tát suy nghĩ: “Ma Ba-tuần không chịu nghe lời can gián, tạo đủ điều tội lỗi mà không tự biết. Ta có thể đem lời đúng như pháp để cắt đứt tất cả việc ác của ma.”

Bồ-tát suy nghĩ như vậy rồi nói với ma Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, ông lắng nghe rõ, Ta đến dưới cây Bồ-đề này, đầu tiên cầm nắm cỏ trải nơi đây mà ngồi, vì lý do gì gây lo sợ, sau đó ma Ba-tuần với Ta kết oán thù đấu tranh, đem lời độc ác mạ lị? Này ma Ba-tuần, ông tạo các việc ác không có thiện tâm, Ta nay muốn dứt bỏ tất cả các oán thù với lũ ma các ông, muốn dứt tất cả nghiệp ác cho các ông. Này ma Ba-tuần, nếu ông muốn sinh tâm oán hận, nên nghĩ như thế này: “Tại sao Bồ-tát mặc áo phấn tảo, đem cỏ trải ngồi dưới cây này, ông đem tâm đố kị việc này như vậy? Này ma Ba-tuần, hãy định tâm ý lại, Ta nguyện sau khi thành quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sẽ đem tất cả những việc như vậy phó chúc cho ông, mong ông hồi sinh tâm đại hoan hỷ. Này Ma vương Ba-tuần, trong tâm ông ngày nay cũng có lời thề: “Chúng ta quyết định khủng bố Bồ-tát, làm cho Bồ-tát rời khỏi chỗ ngồi này, chớ ở nơi đây nữa,” Nhưng Ta lại có lời thệ nguyện rộng lớn hơn: “Ngày nay Ta ngồi nơi tòa này, dầu ở nơi đây có nhân duyên mất mạng, thân thể bị nghiền nát thành tro bụi nhưng khi ta chưa thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trọn đời Ta khổng rời khỏi nơi đây.” Này Ma vương Ba-tuần, chúng ta nên tuần tự quán sát xem thệ nguyện của ai có năng lực kiên cường, dũng mãnh, có thể thành tựu thệ nguyện trước? Hoặc Ta, hoặc ông và chúng ma của ông. Nếu sức thiện căn phước nghiệp của Ta kiên cường hơn thì lời thệ nguyện này của Ta được thành tựu không hư dối.

Khi ấy Bồ-tát đối với ma Ba-tuần nói kệ:

Một hội Vô giá xưa ông thí

Nay được oai quyền lớn như vậy

Ta ở vô lượng ức tăng kỳ

Vì các chúng sinh thí tất cả.

Lúc bấy giờ Ma vương Ba-tuần nói kệ bảo Bồ-tát:

Ta xưa cúng tế hội Vô giá

Ông đã biết ta không giả dối

Còn ông nhiều kiếp hành bố thí

Ai tin lời này, muốn thắng ta.

Khi Ma vương nói kệ này, Bồ-tát không sợ hãi khiếp nhược, chuyên chú không loạn, dùng tâm nhu hòa, xả bỏ sự khủng bố, lông toàn thân mềm mại, mắt nhìn chậm rãi, đưa bàn tay phải với móng tay sắc đỏ giống như lá đồng đỏ với đầy đủ các tướng trang nghiêm, là do công đức thiện căn từ vô lượng ngàn kiếp phát sinh. Ngài đưa bàn tay xoa trên đầu, rồi lại xoa gót chân. Xoa gót chân rồi, Ngài đem lòng Từ bi thương xót giống như rồng chúa muốn cất đầu nhìn. Đã cất đầu rồi, quán sát khắp chúng ma, sau khi quán sát rồi, Ngài dùng bàn tay ngàn vạn công đức bên phải chỉ vào mặt đất này mà nói kệ:

Đất này sinh ra tất cả vật

Không có lựa chọn, luôn bình đẳng

Chứng minh lời Ta trọn không hư

Chỉ nguyện nói thật ngay lúc này.

Khi Bồ-tát dùng bàn tay chỉ xuống đất này, nói kệ như vậy, thì vị Địa thần phụ trách nơi đây dùng đủ các thứ trân bảo trang điểm, như mũ trời tuyệt đẹp, vòng tai, công, xuyến và nhẫn… cùng các chuỗi anh lạc trang điểm thân hình và dùng các hoa thơm đựng đầy trong bình bằng bảy báu, hai tay bưng đi về phía Bồ-tát đang ngồi. Cách Bồ-tát chẳng gần chẳng xa, vị này từ dưới đất bỗng nhiên xuất hiện để lộ bán thân, cúi mình cung kính bạch Bồ-tát:

-Đấng Đại Trượng phu, con xin chứng minh lời nói của Ngài, con biết Ngài ở trong đời quá khứ ngàn vạn ức kiếp lập hội Vô giá bố thí.

Khi Địa thần nói lời như vậy, khắp cõi đất này cho đến Tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách, phát ra tiếng động lớn, giống như tiếng chuông đồng nước Ma-già-đà vang dội khắp mọi nơi, đầy đủ mười tám thứ như đã nói ở trước.

Lúc ấy ma Ba-tuần và tất cả quân ma đang tụ họp như vậy, bỗng nhiên đều tán loạn thoái lui, thế lực bị bẻ gãy, mọi người bôn ba tự chạy trốn, chiến trường tan rã, tự nhiên hoảng sợ, tâm ý chẳng an, chạy khắp Đông, Tây, Nam, Bắc. Ngay lúc ấy hoặc có những con voi trắng té nhào, hoặc những con ngựa nằm dài, hoặc những chiếc xe gãy nằm ngang dọc, ngổn ngang, hoặc quân lính hôn mê bất động, hoặc lại những binh khí nỏ, giáo, cung, tên, dao dài, lưới rập, búa lớn, rựa… từ trong tay quân ma buông rơi xuống đất. Hoặc có những chiến giáp kiên cố tự nhiên tan rã, rời khỏi thân, chúng cùng tranh nhau chạy trốn bốn phương như vậy.

Hoặc lại có tên che úp mặt xuống đất nằm im, hoặc có tên ngã ngửa trên đất như thây chết quằn quại bên trái, bên phải. Hoặc có tên chạy trốn vào trong núi, hoặc có tên chui vào trong hang, hoặc leo lên cây, hoặc trốn vào rừng rậm hoặc có tên hồi tâm quy y Bồ-tát, thỉnh cầu giúp đỡ cho con. Kẻ nào quy y Bồ-tát thì không mất bổn tâm.

Khi ấy ma Ba-tuần nghe tiếng đại địa, tâm rất kinh sợ, té nhào trên đất chết giấc, bất tỉnh nhân sự. Khi ấy, trên không trung lại nghe tiếng la lên:

-Đánh Ba-tuần, tóm lấy Ba-tuần, trói lấy Ba-tuần, bửa Ba-tuần, giết chết Ba-tuần, chặt đứt Ba-tuần… những ai có hành động đen tối, tất cả đều giết sạch, đừng để Ba-tuần trốn thoát.

Bấy giờ, ở nơi đó có một vị Địa thần khác đem một bình nước mát lạnh rưới lên thân Ma vương và nói:

-Này ma Ba-tuần, mau mau đứng dậy trở về cung của mình. Vì ông, sẽ có các thứ binh khí đến đây muốn sát hại ông, phân thây ra từng mảnh, số ma quân kia trước đây hiện đủ thân thể, hình dạng kỳ dị, biến hiện đến đây, cầm đủ thứ binh chủng khí giới khủng bố như vậy, giờ đây không thể hoàn hình, đành mang thân hình như vậy trở về chỗ ở của mình nên thấy nhau xem như xa lạ. Do vậy, trải qua bảy ngày sau, hoặc có người nhận ra nhau, hay không nhận ra nhau. Những kẻ nhận ra nhau cùng nhau hỏi han, hoặc họ lại khóc mẹ, hoặc lại khóc cha, hoặc anh, hoặc em, hoặc chị, hoặc em gái. Họ cùng nhau nói thế này: “Ngày nay chúng ta gặp tai nạn lớn, tai ương này đối với chúng ta, mà nay đây chúng ta còn sống sót, thật là điều chúng ta không thể nghĩ bàn.”

Có kệ nói:

Tay phải Bồ-tát trăm phước báo

Kẻ tay màn lưới, móng đỏ hồng

Lòng tay luân tướng ngàn tăm sáng

Rực rỡ sắc vàng Diêm-phù-đàn

Chậm rãi xoa đầu lại rờ chân

Tay tỏa ánh sáng như mây chớp

Miệng nói đại địa hãy chứng minh.

Ta xưa tu hành vô số kiếp

Ai đến xin, Ta chưa từng trái.

Thủy, hỏa, phong thần đều xác nhận

Phạm thiên, Đế Thích cùng Nhật, Nguyệt

Mười phương chư Phật đều chứng tri

Như Ta khổ hạnh cầu Bồ-đề

Bó thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn

Thiền định, Trí tuệ gồm sáu độ

Cùng Tứ vô lượng, các thần thông

Thứ lớp như vậy nhân trợ đạo

Tất cả huân tu đều kết quả

Ta làm công đức khắp mười phương

Lập hội trai tăng và Bố thí

Ma vương muôn phần không được một.

Ngay đây tay chỉ xuống đất này

Đại địa chấn động như chuông vang

Chấn động sáu cách, biển sôi sục

Ma thấy, ngã nhào, chết bất tỉnh.

Không trung có tiếng: bắt cột lại

Ma bị hàng phục, mất hào quang

Tự biết chẳng bằng oai Bồ-tát

Đấm ngực kêu la khóc dậy trời

Thân thể mỏi mệt biết về đâu?

Đông, Tây, Nam, Bắc chạy rối bời

Tâm loạn mất hồn không hay biết

Quân ma tượng, mã sức chẳng còn

Bàn-trà, Tỳ-xá cùng La-sát

Bỗng nhiên kinh hãi mất đội hình.

Thoái lui chạy kiếm tìm lối thoát

Như chim đồng nội bị gió, lửa

Cha, mẹ, huynh đệ, chị em gái

Tìm kiếm lẫn nhau mà không biết

Đều hỏi người nay ở xứ nào?

Dầu có gặp nhau sinh ganh ghét

Đều nói họa đến sợ mất thân.

Quân ma chúng nó vô số ức

Bỗng nhiên tiêu diệt tợ mây tan

Trải qua bảy ngày khổ như vậy

Sau gặp trở lại biết sống còn

Chúng ta hôm nay rất vui mừng.

Thọ thần Bồ-đề vào lúc ấy

Mang bình nước lạnh lòng thương xót

Rưới thân Ba-tuần bảo thế này:

Lập tức mau đi, chớ ở đây

Lúc này, nếu ông chẳng vâng lời

Mai sau gặp nạn đành cam chịu.

Dạ-xoa, La-sát, Cưu-bàn-trà,

Ma-hầu-la-già và Tỳ-xá

Những hình đáng sợ ở thế gian

Ma vương đưa đến dưới Bồ-đề

Hy vọng khủng bố được Bồ-tát.

Thân Ngài đoan chánh, đầy tướng tốt

Công đức sáng tợ ngàn mặt nhật

Tâm không kinh động như Tu-di

Lại xem lũ ma như huyễn hóa

Các pháp không khác, không phân biệt

Như sao, như sương, như mây nổi

Pháp tướng như vậy, chánh tư duy

Kiết già khéo trụ tâm an ổn.

Nếu còn thấy nghe bằng chấp ngã

Tà niệm như vậy sinh tâm tham

Người ngu chấp ngã cho là thật

Do tâm phân biệt thấy khủng bố.

Thích-ca Mâu-ni Đại Thế Tôn

Quán pháp như thật, tánh bình đẳng

Mười hai nhân duyên tiếp nối sinh

Cảnh giới, tâm ý, không, chẳng thật

Thấy ma khuấy nhiễu không kinh động

Thân ma mỏi mệt thêm bất lợi

Cây, đá, gậy, dao đều vất bỏ

Quyến thuộc bỏ chạy không nơi nương.

Bấy giờ trưởng tử của Ma vương Ba-tuần là Thương Chủ, đầu mặt đảnh lễ sát chân Bồ-tát cầu xin sám hối, bạch:

-Tâu Thánh tử đại thiện, xin Ngài cho cha con phát lộ tạ tội, vì phàm phu thiển cận giống như trẻ con không có trí tuệ. Con bỗng nhiên đến làm não loạn Thánh tử, dẫn đám ma quân hiện đủ hình tướng khủng bố Thánh tử. Trước đây, con đã từng đem lòng chánh trực can gián cha con: “Dù người có trí hiểu rằng các diệu thuật, còn không thể thắng nổi Thái tử Tất-đạt-đa, huống chi là chúng ta.” Cúi xin Thánh tử lượng thứ cho cha con. Cha con vô trí không biết đạo lý nên mới khủng bố Đại thánh như vậy, nào đâu đáng sống! Bạch Đại thánh Vương tử, mong thệ nguyện của Ngài sớm được thành tựu, mau chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lúc bấy giờ tất cả chư Thiên, hoặc ở trên hư không, hoặc ở trên mặt đất, hoặc ở các phương khác, đối với Bồ-tát đều tín kính, hết sức vui mừng hớn hở tràn ngập cả người, không thể tự chế. Vì quá vui mừng, nên họ reo hò:

-Ly ly! Kỳ kỳ! Lê lê!

Tiếng kêu la này vang rền chấn động khắp bốn phương hư không. Họ tung y phục, la lên:

-Ôi thôi, Bồ-tát hy hữu thay! Nay Ngài đã thu phục Ma vương và chúng ma quân.

Họ dùng nhạc trời, tiếng hát cõi trời để tán thán Bồ-tát. Họ lại tung lên nhiều lần các loại hoa trời Mạn-đà-la, Ma-ha mạn-đà-la, Mạn-thù-sa, Ma-ha man-thù-sa, Ưu-bát-la, Câu-vật-đầu, Bát-đầu-ma và Phân-đà-lợi, bột hương chiên-đàn như mưa trên thân Bồ-tát.

Có kệ nói:

Bồ-tát hàng phục được Ma vương

Mặt đất chấn động với sáu cách

Chúng sinh chìm trong bóng vô minh

Thần quang Đại thánh soi sáng khắp.

Trời đất phơi bày ánh nhật nguyệt

Giống như mỹ nữ trang điểm mặt

Hư không mưa xuống các hoa trời

Hoa Mạn-đà-la cùng hoa khác.

Lúc bấy giờ có vô lượng vô biên chư Thiên các cõi số đến ngàn vạn ức, như chúa trời cõi Ta-bà, như vua trời Đại phạm và Đế Thích… đều hết sức vui mừng tràn ngập cả người, không thể kềm chế, đồng chắp tay đảnh lễ Bồ-tát, miệng tung hô:

-Ngày nay vị Thánh này nhất định thành Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi ấy, cách gốc cây Bồ-đề chẳng bao xa có một Long vương tên là Ca-la lại dùng kệ tán thán Bồ-tát:

Ta từng thấy ngày Phật ra đời

Cũng đến dưới cây Bồ-đề này

Hiện đại thần thông thật hy hữu

Khéo dùng phương tiện đuổi Ma vương.

Ngày nay Thích Tôn cũng như vậy

Trải cỏ kiết già ngồi an ổn

Tâm không duyên cảnh, trụ chánh ý

Chưa từng một niệm biết sợ hãi.

Dũng mãnh như vậy đại tinh tấn

Quyết định Mâu-ni Phật tối thắng

Do vậy cõi này động sáu cách

Âm thanh vang dội tợ tiếng chuông

Đông, Tây, Nam, Bắc nổi rồi chìm

Nhất định chẳng lâu thành Đại Giác.

Chư Thiên phủ kín cả hư không

Trăm ngàn vạn ức na-do-tha

Lời hay khen ngợi, tâm hoan hỷ:

Nay Ngài chắc chứng Đại Diệu Thánh

Chư Thiên vạn ức không đếm hết

Đều tung y phục khắp hư không

Điềm lành báo trước nhiều vô cùng.

Ngài sẽ giác ngộ thành Đại Thánh

Ngàn vạn do-tha chúng chư Thiên

Chắp tay đảnh lễ tại hư không

Điềm ứng hiện trước, khó diễn tả.

Ngài nay thành Phật, Đại Giác Tôn

Chư Thiên đồng tử ngàn vạn ức

Hớn hở tay cầm hoa trời đẹp

Tung rải mưa hoa trên Nhân giả.

Ngài nay thành Phật Đại Tôn Thắng

Cây cối chung quanh cội Bồ-đề

Cành ngọn cúi rạp hướng về Ngài

Điềm lành như đây chẳng phải một.

Ngày nay thành Phật Đại Tối Tôn

Nhân giả thu phục chúng Thiên ma

Tiếng nói hình thù thật đáng sợ

Ngài dùng từ lực đều nhiếp hóa.

Ngày nay thành Phật Đại Tôn Xưng

Long vương Ca-la tán thán Phật

Tâm sinh khoái lạc rất vui mừng.

***

Phẩm 33: BỒ TÁT THÀNH PHẬT

Khi Bồ-tát thu phục tất cả ma oán, nhổ sạch các gai độc, dựng cờ chiến thắng, rồi ngồi nơi tòa Kim cang tiêu diệt tất cả tâm tranh đấu thuộc thế gian. Diệt tâm tranh đấu rồi, trong ngoài điều phục, tâm được thanh tịnh. Vì tất cả chúng sinh trong thế gian, Ngài làm những điều lợi ích, vì làm cho tất cả chúng sinh thế gian được an lạc, vì làm cho tất cả chúng sinh độc ác phát lòng Từ, vì đoạn tất cả những kết sử cấu trược của chúng sinh độc ác, nên tự mình Ngài đã trừ được triền cái thùy miên, tâm được thanh tịnh, hiện tiền trí tuệ sáng suốt, chánh niệm viên mãn, rồi cũng dạy cho chúng sinh, khiến họ đoạn trừ sự che lấp của thùy miên. Tự mình đã đoạn trừ tất cả trạo cử, tâm được thanh tịnh, không còn hỗn loạn, rồi cũng dạy cho chúng sinh khiến họ diệt trừ tất cả trạo cử để được thanh tịnh. Tự mình đã đoạn trừ được tâm nghi hối, xa lìa hành vi tối tăm, đối với tất cả các pháp thiện hay ác không còn nghi ngờ phân vân, tâm được thanh tịnh.

Khi Bồ-tát đoạn trừ năm tâm triền cái này rồi, phiền não lần lần yếu ớt. Tại sao như vậy? Vì năm pháp này hay che lấp trí tuệ, vì năm pháp này không trợ duyên phát sinh trí tuệ, vì năm pháp này cản ngăn thiện đạo vi diệu đi đến Niết-bàn. Tất cả những thứ như vậy Ngài đều đã xả bỏ, lìa tâm ái dục, các pháp bất thiện, phân biệt trong ngoài, tư duy quán sát, nhắt tâm tịch định, sắp chứng pháp hỷ lạc của Sơ thiền và theo đó tu tập.

Bấy giờ Bồ-tát lại tư duy: “Ta mới chứng được tâm tăng thượng, hiện tại được pháp an lạc vi diệu, tâm không phóng dật, cần phải chánh niệm xa lìa làng xóm, ở nơi vắng vẻ, tu tập để được rốt ráo.”

Lúc ấy Bồ-tát muốn xa lìa tất cả phân biệt, trong tâm thanh tịnh, hoàn toàn không còn phân biệt. Từ Tam-muội sinh Hoan hỷ lạc, chứng pháp Nhị thiền mà ở trong đó tu tập.

Lúc ấy Bồ-tát lại nghĩ thế này: “Ta nay đã sinh được tâm tăng thượng thứ hai, cho đến xa lìa tất cả tâm ác, thành tựu các hạnh, nhập vào Nhị thiền.”

Khi ấy Bồ-tát xa lìa hoan hỷ, xả bỏ, hành thanh tịnh chánh niệm, chánh tuệ, thân thọ an lạc là pháp được chư Thánh ca ngợi, chứng vào pháp Tam thiền mà ở trong đó tu tập.

Khi ấy Bồ-tát lại suy nghĩ: “Tâm ta đã chứng tâm tăng ích thứ ba này, cho đến nơi vắng vẻ tu hành.” Lúc ấy Bồ-tát sắp xả bỏ dục, xả bỏ khổ, cũng như ở trước xả bỏ phân biệt khổ vui, không khổ không vui đều xả, chánh niệm thanh tịnh, chứng pháp Tứ thiền mà ở trong đó tu tập.

Bấy giờ Bồ-tát lại tư duy: “Tâm tăng thượng này của Ta hiện chứng pháp hạnh an lạc ở Tứ thiền, Ta đã chứng biết, tâm không phóng dật, mà người thiện nam nhất tâm chánh niệm, ở nơi vắng lặng tu hạnh tịch tĩnh.”

Khi Bồ-tát nhất tâm thanh tịnh, không cấu nhiễm, không có phiền não chướng ngăn che, tất cả khổ hoạn đều đoạn trừ diệt, tâm nhu hòa thư thái, tâm thuần thục đã trụ vào chỗ quyết định. Đêm ấy vào canh đầu, Ngài chứng thần thông về thân, thọ tất cả cảnh giới thần thông. Đó là một thân có thể hiện thành nhiều thân, hoặc hợp nhiều thân trở thành một thân. Khi hợp lại một thân rồi lại ở trong hư không, khuất dạng ở phương trên, xuất hiện ở phương dưới, khuất dạng ở phương dưới, xuất hiện ở phương trên, ẩn hiện tự tại. Khắp các phương Đông, Tây, Nam, Bắc biến hiện cũng lại như vậy. Xuyên qua núi hay vách đá không chướng ngại. Biến hóa tùy ý, vào trong vách rồi lại ra, ra rồi lại vào, đi trên đất cũng như đi trên nước, đi trên nước cũng như đi trên đất, ẩn hiện trong hư không cũng như chim bay. Hoặc tỏa khói mù, hoặc phóng ánh lửa như đống lửa lớn. Sức mạnh của mặt trời, mặt trăng hết sức chói lọi, nhưng có thể dùng bàn tay tiếp xúc được. Hiện thân cao lớn cho đến cõi Phạm thiên. Ví như thợ bạc và học trò của thợ bạc, lấy vàng ròng tạo thành các món đồ, liền thành theo ý muốn, cũng phân biệt biết giá trị tốt xấu của nó. Ví như thợ gốm và học trò thợ gốm đặt cục đất sét ổn định trên bàn quay, ý muốn làm vật gì liền thành vật đó, cũng biết giá trị của nó. Ví như thợ mộc và học trò thợ mộc, chặt lấy cây cối không mục không khô, muốn làm đồ vật gì thì thành đồ vật đó, cũng biết giá trị của nó. Ví như thợ khắc ngà voi và học trò của thợ khắc ngà voi, được ngà voi tôi:, muốn làm đồ vật gì thì thành đồ vật đó, cũng biết giá trị của nó.

Đúng như vậy, đúng như vậy! Bồ-tát cũng vậy, Ngài thành tựu tâm thanh tịnh, tâm không uế trược, tâm không chướng ngại, tâm không khổ lụy, tâm nhu hòa, tâm thành tựu thiện nghiệp và tâm chân thật tịch định như vậy. Vào canh một đêm ấy, tu tập tạo tác các thần thông, thành tựu trí tuệ, xuất hiện các cảnh giới thần thông. Đó là một thân hiện thành nhiều thân… nói tóm lại, thân cao cho đến cõi Phạm thiên.

Tâm Bồ-tát đã được tịch định như vậy, thanh tịnh như vậy, vô cấu như vậy, không ngăn che như vậy, Ngài diệt trừ tất cả phiền não khổ lụy, tâm hoàn toàn thuần thục, tâm được tịch diệt.

Bấy giờ ở giữa canh một đêm ấy, Bồ-tát lại chứng biết Túc mạng thông, tâm hành thành tựu, muốn từ tâm mình biết tất cả tâm niệm của người khác. Đó là biết chỗ thọ thân một đời, chỗ thọ thân hai đời, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, hai trăm, một ngàn, muôn ngàn, vô lượng vạn ức, nửa kiếp, tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp, vô lượng tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Ta xưa ở chỗ này, tên thế này, dòng họ như vậy, chủng loại như vậy, ăn uống như vậy, thọ lạc như vậy, thọ mạng như vậy, chết rồi sinh vào xứ khác như vậy, ở nơi đó sinh ra rồi lại chết đi…

Lúc bấy giờ Bồ-tát do tướng như vậy, hành như vậy, biết tất cả tự thân của mình trong thời quá khứ đã như vậy, thân của người khác cũng như vậy. Lại tự biết tất cả đời quá khứ của mình. Như có người ra đi từ xóm làng của mình để đến xóm làng khác, trên lộ trình biết nơi nào ngồi, biết nơi nào đi, biết nơi nào ngủ, biết nơi nào nói, biết nơi nào im lặng. Đến xóm làng này rồi biết khoảng thời gian đi đến xóm làng ấy xa hay gần, biết nơi nào đã đi, nơi nào đã ngồi… cho đến nơi nào đã ngủ, nằm, nói, im lặng.

Đến xóm làng kia rồi, suy nghĩ trở về xóm làng mình thế này: “Từ xóm làng này trải qua chừng ấy thời gian sẽ đến xóm làng kia, đến nơi ấy sẽ nghỉ thời gian chừng ấy, thời gian đi chừng ấy, thời gian ngồi chừng ấy, thời gian nói chừng ấy, thời gian im lặng chừng ấy, thời gian chừng ấy sẽ đến làng ấp ấy.” Lại biết từ xóm làng ấy về đến xóm làng mình, trải qua số thời gian đi, đứng, nằm ngồi, nói năng, im lặng, dừng nghỉ…, tất cả đều biết. Bồ-tát với tâm định, tâm thanh tịnh, tâm không cấu nhiễm, tâm nhu hòa thư thái, tâm không khổ não, tâm có thể tạo các thiện nghiệp. Giữa canh đầu đêm ấy, chứng được trí túc mạng, chánh niệm chứng biết, tâm thành tựu các hạnh.

Bấy giờ Bồ-tát tư duy biết rõ chỗ sinh tử của mình và của người khác. Đó là một đời sinh sống ở nơi quốc độ nào đó, cho đến chỗ đã sinh sống trong vô lượng vô biên kiếp.

Khi ấy Bồ-tát như tướng trạng, như giáo pháp thứ tự nghe nói, tự biết cảnh giới thân mình đã sinh và nơi người khác đã sinh cũng lại như vậy. Bồ-tát nhớ biết cảnh giới của mình sinh, lại nhớ biết trong các cảnh giới chúng sinh thọ sinh, được tâm từ niệm: “Đây là người thân cũ của ta, đây là người xa lạ với ta. Bỏ thân người này lại sinh nơi ấy, ở thế giới này hay thế giới khác.” Giống như xe gió, như cây chuối không có lõi cứng, phiền não vô thường, sự thật này được tâm chứng biết rõ.

Bấy giờ Bồ-tát với tâm định, thanh tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu hòa, có thể tu tịnh nghiệp, nửa đêm ấy muốn thành tựu chứng Thiên nhĩ thông nên phát tâm đúng như vậy. Với Thiên nhĩ thanh tịnh hoàn toàn, vượt hơn người thường, Ngài nghe tất cả thứ tiếng. Đó là nghe tiếng địa ngục, hoặc tiếng súc sinh, hoặc tiếng trời, tiếng người, tiếng xa tiếng gần. Như ở nơi xóm làng, thành ấp, đô thị của một quốc gia, có người lên nhà cao, hoặc lên trên lầu và ở đó. Người ấy với tai rất thính nghe các thứ tiếng, đó là nghe tiếng thổi loa ốc, hoặc tiếng trống lớn, hoặc tiếng trống nhỏ, tiếng trống cơm, hoặc tiếng đàn không hầu, tiếng đàn tỳ bà, tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng sênh, hoặc nghe tiếng khóc, hoặc tiếng phụ nữ, hoặc tiếng đàn ông, hoặc tiếng đồng tử, hoặc tiếng đồng nữ. Như vậy, như vậy… tâm Ngài tịch định, thanh tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, không uế trược, nhu hòa tu các thiện nghiệp như vậy. Vào nửa đêm hôm ấy nghe đủ các thứ tiếng, cho đến tiếng ở địa ngục.

Khi ấy tâm Bồ-tát tịch định, thanh tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, vào nửa đêm hôm ấy, khi thành tựu chứng Thiên nhãn thông, hơn mắt người thường, thấy khắp tất cả, hoặc thấy tất cả chúng sinh qua đời bị đọa; hoặc sinh làm chúng sinh thượng giới, chúng sinh hạ giới, chúng sinh xinh đẹp, chúng sinh xấu xí; hoặc đọa làm tất cả chúng sinh trong ác đạo, hoặc sinh làm các chúng sinh trong cõi thiện, đi hay đứng lại; hoặc tạo nghiệp, theo nghiệp đã tạo, Ngài đều thấy rõ. Lại thấy biết các chúng sinh tạo thân nghiệp bất tịnh, ý nghiệp bất tịnh, hủy báng Sư tăng, chấp tà kiến, do tà kiến nên tạo nghiệp ác. Do đó, bỏ thân ấy rồi, sinh vào cõi ác địa ngục, chịu các đau khổ. Có những chúng sinh vì khẩu nghiệp chịu nhiều cách khổ trong cõi ác, những chúng sinh này do khẩu nghiệp bất tịnh, tạo tất cả các nghiệp ác về miệng, do vì nhân duyên này, chết sinh vào trong loài súc sinh, chịu các đau khổ. Những chúng sinh thân làm các ác nghiệp, đủ các nghiệp về thân. Do vì nhân duyên này, tạo các ác nghiệp về ý, đầy đủ ác nghiệp về ý, cho đến hủy báng tất cả Thánh hiền, có nhiều tà kiến, do vì nhân duyên tà kiến, khi bỏ thân qua đời đọa vào ngạ quỷ, chịu cảnh khổ ngạ quỷ.

Còn những chúng sinh thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, không hủy báng Thánh hiền. Do vì hành chánh kiến, tạo nghiệp chánh kiến, do vì nhân duyên này khi qua đời sinh lên các cõi trời. Những chúng sinh do thân, khẩu tạo nghiệp thanh tịnh đầy đủ, tất cả không phạm, không khuyết, không hủy báng Thánh hiền là do có chánh kiến. Do nhân duyên chánh kiến như vậy, khi qua đời bỏ thân này sinh làm người.

Bồ-tát dùng Thiên nhãn thanh tịnh hơn mắt người thường, thấy chúng sinh hoặc khi đọa lạc, hoặc khi thọ sinh làm chúng sinh thượng giới, trung giới và hạ giới, hoặc thân tốt đẹp hay xấu xí, hoặc thân có mùi thơm hay mùi hôi thối, hoặc cho đến theo chỗ tạo nghiệp sinh nơi thiện đạo hay ác đạo, Ngài đều biết một cách đúng sự thật như vậy. Ví như có người ở nơi ồn ào trong thành phố, xóm làng, thành ấp của một nước, người này lên một tòa lâu đài rất cao lớn, ngồi trong đó, dùng Thiên nhãn thanh tịnh quán sát người qua lại, hoặc từ phương Đông đến, hoặc từ phương Tây đến, hoặc từ phương Tây sang phương Đông, hoặc từ phương Đông sang phương Tây, hoặc từ phương Nam sang phương Bắc đến, hoặc đến hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, di chuyển qua lại trong đó.

Hoặc có người đi về miền ngược, hoặc có người đi về miền xuôi, bao nhiêu cảnh tượng như vậy…

Bồ-tát vào nửa đêm hôm ấy tâm tịch tĩnh thanh tịnh không cấu nhiễm, không phiền não, nhu hòa tạo các thiện nghiệp, cho đến thấy tất cả chúng sinh tạo bao nhiêu nghiệp thiện, nghiệp ác, theo đó mà thọ báo.

Có kệ nói:

Địa ngục thọ nghiệp rất cực khổ

Súc sinh ăn và nuốt lẫn nhau

Ngạ quỷ chịu khổ thường đói khát

Nhân gian nguy khốn cầu tài sản.

Chư Thiên hết phước khổ biệt ly

Khổ này rất nặng không dụ được

Chúng sinh xoay vần trong các loại

Tất cả mọi nơi không an lạc.

Đó là vực sâu quỷ giết mạng

Cũng là nơi đáy biển phiền não

Chúng sinh chìm đắm không ra được

Luân chuyển đây đó đến rồi đi.

Quán sát năm cõi đều như vậy

Thiên nhãn thông suốt thấy cùng khắp

Phiền não trước sau không thật có

Như lột hết bẹ, cây chuối mất.

Lúc ấy tâm Bồ-tát vắng lặng thanh tịnh không cấu nhiễm như vậy, xa lìa các điều ác, tâm điều hòa thư thái, tạo các thiện nghiệp

như vậy. Khi tâm đã được tịch định rồi lại vào khoảng cuối đêm ấy, tâm Ngài muốn chứng thần thông như ý thì tự phát khởi. Sau khi đã chứng thần thông như ý rồi lại chứng Tha tâm thông. Ngài biết chúng sinh từ đâu sinh, biết chúng sinh suy nghĩ việc gì, biết khắp tất cả một cách như thật. Hoặc chúng sinh có tâm dục, làm việc dâm dục, Ngài đều biết một cách đúng sự thật. Hoặc chúng sinh có tâm ly dục, xa lìa dâm dục, Ngài đều biết một cách đúng sự thật. Hoặc chúng sinh có tâm sân hận, phát khởi sân hận, Ngài biết một cách đúng sự thật. Hoặc chúng sinh có tâm xa lìa sân hận, xa lìa các việc sân hận, Ngài biết một cách đúng sự thật. Hoặc chúng sinh có tâm ngu si, Ngài biết một cách đúng sự thật. Hoặc chúng sinh có tâm xa lìa ngu si, xa lìa được việc ngu si, Ngài biết một cách đúng sự thật.

Nói tổng quát, chúng sinh có tâm ái dục hay lìa ái dục, cho đến hữu vi hay vô vi, hạ đẳng hay thượng lưu, yên tĩnh hay loạn động, rộng hay hẹp, lớn hay nhỏ, có giới hạn hay không có giới hạn, tâm hướng thượng hay hướng hạ, đắc định hay không đắc định, giải thoát hay không giải thoát, Ngài đều thông hiểu đúng sự thật.

Ví như kẻ nam hay người nữ, chính lúc tuổi trẻ thường ưa thích trang điểm, sau khi trang điểm xong rồi hoặc có lúc dùng gương sáng hay có lúc dùng nước trong, soi thấy tất cả mặt mình.

Đúng như vậy! Đúng như vậy! Bồ-tát tịch định cũng như vậy, tâm Ngài thanh tịnh, tâm không cấu nhiễm, tâm không phiền não, tâm điều hòa thư thái làm các thiện nghiệp cũng như vậy.

Tâm đã được tịch định rồi, vào cuối đêm đó do tâm thanh tịnh, theo ý muốn chứng thần thông Túc mạng trí, cũng vậy biết cả tâm mình, biết tâm người khác, phát tâm từ đâu, khởi tâm từ đâu, tất cả các tâm đều thông hiểu đúng sự thật như vậy.

Hoặc chúng sinh có tâm dục, hoặc lìa tâm dục, Ngài đều thông hiểu, cho đến tâm giải thoát hay không giải thoát, Ngài đều thông hiểu đúng sự thật như vậy.

Khi Bồ-tát đã chứng được tâm thanh tịnh, không có tâm cấu uế, lìa tất cả điều ác, tâm điều hòa thư thái, làm tất cả việc lành. Bồ-tát đã chứng được tâm tịch định như vậy rồi, lại vào cuối đêm hôm đó, theo ý muốn, Ngài chứng thần thông Vô lậu tận trí, trong tâm phát khởi trí tuệ suy nghĩ thế này: “Tất cả chúng sinh chìm đắm trong biển khổ não, nghĩa là luôn luôn trải qua cảnh sinh, già, bệnh, chết. Kết liễu thân mạng ở cõi này rồi thác sinh nơi cảnh giới kia. Sau khi thọ sinh rồi lại mắc phải tất cả các khổ cũng như vậy, không thể nào biết được để xa lìa các khổ này. Đó là các khổ sinh, già, bệnh, chết.”

Ngài tư duy thế này: “Ta nay phải dùng những phương pháp gì, làm sao lìa được các khổ như vậy? Ta phải tạo nghiệp gì?

Làm sao xa lìa sinh, già, bệnh, chết để qua bên kia bờ giải thoát?”

Ngài nói kệ:

Thế gian chìm đắm biển sinh tử

Mãi mãi, chết rồi lại thọ sinh

Bị khổ, già, bệnh, luôn buộc ràng

Mê muội không thể thoát ra được.

Khi Bồ-tát nói kệ này rồi, Ngài lại tư duy sự già, bệnh, chết của ta từ đâu đến? Do nhân duyên gì lại có sự già, bệnh, chết này?”

Khi Bồ-tát suy nghĩ như vậy, Ngài biết được nguyên nhân của già, bệnh, chết là sinh, vì do có sinh nên mới có già, bệnh, chết tiếp theo.

Bồ-tát lại tư duy: “Sinh từ đâu mà có? Do nhân duyên gì mà có sinh?” Sau khi tư duy, Ngài biết do có hữu nên có sinh.

Bồ-tát lại tư duy: “Hữu này từ đâu mà có? Do nhân duyên gì mà có hữu này?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi biết do có thủ mới có hữu này.

Bồ-tát lại tư duy: “Thủ này từ đâu mà có? Do nhân duyên gì mà thủ?” Sau khi tư duy, Ngài biết do ái nên có thủ.

Bồ-tát lại tư duy: “Ái này từ đâu mà có? Do nhân duyên gì có ái này?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi biết do có thọ mới có ái này.

Bồ-tát lại tư duy: “Thọ này từ đâu mà có? Do nhân duyên gì có thọ này?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi biết do có xúc mới có thọ này.

Bồ-tát lại tư duy: “Xúc này từ đâu mà có? Do nhân duyên gì có xúc này?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi, biết do có lục nhập mới có xúc này.

Bồ-tát lại tư duy: “Lục nhập từ đâu mà có? Do nhân duyên gì mà có lục nhập?” Sau khi tư duy, Ngài biết do có danh sắc nên có lục nhập.

Bồ-tát lại tư duy: “Danh sắc này từ đâu mà có? Do nhân duyên gì mà có? Từ đâu mà sinh?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi, biết do có thức mới có danh sắc.

Bồ-tát lại tư duy: “Thức này do nhân duyên gì mà có? Từ đâu mà sinh?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi, biết do có hành mới có thức.

Bồ-tát lại tư duy: “Các hành này do nhân duyên gì mà có? Từ đâu mà sinh?” Bồ-tát tư duy như vậy rồi, biết do có vô minh nên mới có hành.

Bồ-tát lại tư duy thế này: “Do duyên vô minh nên có các hành, do duyên các hành nên có thức, do duyên thức nên có danh sắc, do duyên danh sắc nên có lục nhập, do duyên lục nhập nên có xúc, do| duyên xúc cho nên có thọ, do duyên thọ cho nên có ái, do duyên ái: cho nên có thủ, do duyên thủ cho nên có hữu, do duyên hữu cho nên có sinh, do duyên có sinh cho nên có lão, do duyên có lão cho nên có bệnh, chết và cho đến các khổ: buồn, lo, khổ não… Các khổ như vậy đều làm nhân sinh lẫn nhau.” Pháp này, Bồ-tát trước đây chưa từng nghe từ người khác và chưa từng thấy từ pháp này sinh nhãn, sinh trí, sinh ý, sinh tuệ và sinh minh.

Bồ-tát lại tư duy: “Không còn cái gì để không còn già, bệnh, chết? Diệt cái gì để diệt già, bệnh, chết?” Tư duy như vậy, Bồ-tát biết rõ vì không sinh nên không già bệnh chết, diệt sinh thì diệt già, bệnh, chết.

Bồ-tát lại tư duy thế này: “Không còn cái gì để không có sinh này? Do diệt cái gì để diệt cái sinh này?” Bồ-tát lại tư duy nghĩ biết thế này: “Do không hữu thì sinh này không, do diệt hữu nên sinh này diệt.’

Bồ-tát lại tư duy thế này: “Không còn cái gì… cho đến các hành đều không? Cho đến diệt cái gì… cho đến để các hành đều diệt?” Bồ-tát lại tư duy nghĩ biết thế này: “Do không vô minh nên các hành đều không. Do diệt vô minh nên các hành đều diệt.”

Bồ-tát lại tư duy: “Do diệt vô minh nên các hành đều diệt, do các hành diệt cho nên thức cũng theo đó diệt.” Nói lược cho đến sinh,, già, buồn, lo, khổ não đều diệt. Như vậy tất cả các khổ và tập nhân của khổ đều diệt hết. I

Bồ-tát thuở xưa chưa từng nghe như vậy, trong pháp như vậy sinh nhãn, sinh trí, sinh ý, sinh minh, sinh quang, sinh tuệ. Khi tâm Bồ-tát được định như vậy, thanh tịnh không cấu nhiễm, tâm Bồ-tát thư thái, lìa tất cả phiền não, tâm thuần thục. Tâm được vắng lặng, Ngài biết vô minh này một cách đúng sự thật, cũng biết vô minh với nhân như vậy mà sinh, cũng biết vô minh với duyên như vậy mà diệt, biết rõ chắc chắn đây là tướng diệt hết vô minh, biết rõ chắc chắn đã chứng thánh đạo. Nói tóm lược cho đến các pháp: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, hữu, thủ, sinh, lão, bệnh, tử đều biết rõ: “Đây là nguyên nhân của tất cả già, bệnh, chết. Đây là diệt tất cả già, bệnh, chết. Tất cả già, bệnh, chết này bị diệt, diệt rồi sẽ đắc đạo.” Ngài đều biết thế này: “Đây là nguyên nhân của Khổ đế. Biết đúng như thật đây là Khổ đế diệt, biết đúng như thật Khổ đế này diệt rồi sẽ đắc đạo. Biết thật đúng đây là các lậu, biết thật đúng đây là nguyên nhân các lậu, biết thật đúng sự diệt tận các lậu. Các lậu như vậy, diệt rồi sẽ đắc đạo.”

Ngài biết đúng như thật đây là dục lậu, biết đúng như thật đây là hữu lậu, đây là vô minh lậu. Biết đúng như thật các lậu này đều diệt không còn sót thì dứt hẳn thọ sinh các cõi.

Như nơi thành ấp, hoặc nơi bên thành, hoặc nơi xóm làng cách nhau chẳng xa có một ao nước, nước trong ao trong sạch, ngon ngọt mát lạnh, không chút vẩn đục, luôn luôn đầy ắp, bờ ao bằng phẳng, bốn bên bờ có nhiều loại cây bao bọc chung quanh, trang trí đẹp đẽ.

Trong ao có đá, sạn và nhiều loại thủy tộc: hoặc trai, hoặc ốc, cá sấu, trạnh, ba ba hoặc cá, lươn, cá mè, cá đuôi, cho đến cá Ma-kiệt… chúng lội qua lội lại Đông, Tây, Nam, Bấc, đuổi kiếm thức ăn. Hoặc có con đứng, hoặc có con rượt đuổi lẫn nhau, mà lại có người ở trên bờ, dùng con mắt trong sáng nhìn thấy trông suốt những loài động vật này, biết đây là trai, đây là ốc lớn, đây là rùa, đây là trạnh, đây là ba ba, đây là sạn, đây là đá, đây là cá, đây là cá Ma-kiệt, một số tìm mồi, một số nằm im ngủ, một số chạy khắp Đông, Tây, Nam, Bắc, một số rượt đuổi lẫn nhau. Bao nhiêu cảnh tượng như vậy, tâm Bồ-tát định như vậy, thanh tịnh như vậy, không cấu nhiễm như vậy, không phiền não như vậy, tâm điều hòa thư thái, tâm thuần thục như vậy. Tâm Ngài đã được tịch định rồi, biết rõ ràng đây là vô minh, biết rõ ràng đây là nguyên nhân của vô minh, đây là vô minh diệt, đây là vô minh diệt rồi sẽ chứng đạo.

Nói tóm lược, biết rõ ràng cho đến: ở đây các lậu hoặc đều bị diệt sạch không còn gì cả.

Khi Bồ-tát biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát khỏi dục lậu, tâm giải thoát khỏi hữu lậu, tâm giải thoát khỏi vô minh lậu.

Đã giải thoát ba lậu rồi, sinh Tuệ giải thoát, sinh Tuệ giải thoát rồi liền biết: “Thọ sinh của Ta đã hết, phạm hạnh đã thành, việc làm đã hoàn tất, hoàn toàn không thọ sinh đời sau.” Canh ba đêm ấy đã qua, bước sang canh tư cuối đêm ấy, khi sao Mai sắp xuất hiện, phần đêm còn lại vẫn yên tĩnh, tất cả chúng sinh đi lại hay ở một nơi, tất cả đều chưa thức dậy. Lúc ấy Thế Tôn liền sinh tri kiến thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Có kệ nói:

Đêm ấy bốn canh qua hết ba

Còn một canh sau, sao mai mọc

Các loài sinh sống đều chưa thức

Lúc ấy Đại Thánh Vô Thượng Tôn

Diệt hết các khổ chứng Giác ngộ

Bậc Nhất Thiết Trí trong thế gian.

Khi Đức Thế Tôn chứng tri kiến, tất cả trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn, cung điện Phạm thiên và cung điện ma ở nơi thế gian này hết sức sáng chói. Những núi Tiểu thiết vi và Đại thiết vi, trong những núi này từ xưa đến nay luôn luôn tối tăm, chưa từng thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Tuy rằng mặt trời mặt trăng có công năng to lớn như vậy, có ánh sáng như vậy, có oai lực như vậy, mà ánh sáng chói lọi ấy không thể chiếu sáng nơi đây. Nhưng ngày nay nơi đây tự nhiên trong suốt, ánh sáng tràn ngập. Tất cả chúng sinh ở đây đều thấy lẫn nhau, đều biết lẫn nhau, đều nói với nhau: “Nơi đây cũng có chúng sinh ư? Nơi đây cũng có chúng sinh ư!”

Tất cả cây cối ở thế gian ra hoa kết quả rồi liền theo đó chín muồi rơi xuống đất. Do thế lực của Thế Tôn, bầu trời đang trong sáng, không có bụi mù, không có khói ráng, bỗng nhiên kéo mây thành trận mưa nhẹ rưới đất, lại thổi cơn gió mát, điều hòa lạnh nóng, rồi các phương lại trong sáng hiển hiện rõ ràng. Trên hư không, tất cả chư Thiên trổi nhạc trời, dùng giọng chư Thiên ca ngợi tán thán và mưa xuống vô lượng các loại hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha mạn-đà-la…; lại mưa xuống các loại thiên y như y Kiều-xá-đa…; lại mưa xuống các loại bảo vật như vàng, bạc, lưu ly…; lại mưa xuống các thứ hoa sen như hoa sen xanh, hoa sen trắng và hoa sen trắng lớn; lại rải nhiều lớp các thứ hương bột, hương thoa trên mình Đức Phật. Chung quanh nơi đây một do-tuần, các loại hoa, hương bột và hương hoa ngập lên đến đầu gối. Bấy giờ cõi đại địa chấn động sáu cách, tất cả chúng sinh đều thọ hưởng cực kỳ an lạc, không có các khổ làm não loạn. Ngay lúc bấy giờ không có một chúng sinh nào sinh tâm dục não, sân hận, tham lam, ngu si; lại cũng không có tâm công cao, ngã mạn, sợ sệt, không tạo các tội lỗi, không có các bệnh tật, các hoạn nạn đều hết, không phát khởi trở lại. Tất cả chúng sinh đói khát đều được no nê, những chúng sinh say sưa đều được tỉnh táo, lại không uống rượu. Những chúng sinh điên cuồng đều trở lại tâm bình thường. Những chúng sinh đui mù đều được thấy, chúng sinh điếc lại được nghe. Những chúng sinh thân thể khiếm khuyết đều được đầy đủ. Những chúng sinh bần cùng đều được của quý. Những chúng sinh gầy ốm đều được mập mạp. Những chúng sinh bị trói buộc trong lao ngục thì tất cả gông cùm tự nhiên tháo gỡ. Những chúng sinh trong địa ngục đều được khỏi khổ. Những sự khủng bố của loài súc sinh đều được tiêu diệt. Loài ngạ quỷ hết cái khổ đói khát…, tất cả đều được no nê.

Có kệ nói:

Lúc ấy chúng sinh diệt phiền não

Đều rất an lạc, khổ không còn

Say sưa điên dại được bình thường

Những người đang sợ, được bình an.

Khi Đức Thế Tôn chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi, liền nói kệ với giọng Sư tử rống:

Thuở xưa tạo nghiệp công đức lợi

Ý muốn việc chỉ đều thành tựu

Mau chóng chứng thành tâm thiền định

Niết-bàn bờ giác, lại đến nơi.

Tất cả bao nhiêu kẻ thù nghịch

Ba-tuần quyền lực khắp Dục giới

Không thể hại Ta, đều quy phục

Do sức trí tuệ đầy phước đức.

Ai luôn dũng mãnh siêng tinh tấn

Muốn cầu Thánh trí nào có khó

Các khổ lập tức được diệt trừ

Bao nhiêu tội nghiệp đều diệt sạch.

Sau khi Như Lai thành đạo, đầu tiên Ngài cảm hứng nói bài kệ này.

***

Phẩm 34: TRONG QUÁ KHỨ MA VƯƠNG TRANH VỚI BỒ-TÁT

Bấy giờ, vào đầu đêm, Bồ-tát dùng tay chỉ xuống đất để thu phục quyến thuộc ma Ba-tuần, thì quả đất chấn động sáu cách, cho đến tiếng chấn động lớn như tiếng chuông đồng. Lúc ấy dân chúng đang sống ở các xóm làng, thành ấp, quốc gia, thấy quả đất chuyển động vang dậy nên đều sinh nghi, đều đi đến các bốc sư, các nhà thiên văn, hoặc các vị Tiên nhân, hoặc các nhà am tường về chiêm tinh để hỏi họ về việc này. Họ hỏi:

-Vì sao quả đất này chấn động và phát ra tiếng động lớn như vậy? Sa-môn cùng với Ma vương, ai thắng, ai bại? Các ngài đều là bậc có tài bàn về các hiện tượng, xin vì chúng tôi giải rõ điềm chấn động này.

Khi ấy, tất cả các Tiên nhân, nhà thiên văn… trả lời dân chúng:

-Tại làng Già-da, thuộc nước Ma-già-đà có hai sức mạnh đang chiến đấu với nhau: một bên cầu Tối Đại Pháp vương, vượt khỏi thế gian bên kia cầu làm vua phi pháp ở thế gian. Hai bên cạnh tranh chiến đấu với nhau, trong đó vị cầu Pháp vương đánh bại vị cầu Phi pháp. Sự tranh đấu đã kết thúc, trong cuối đêm đó, vị Sa-môn đã chứng Đại Pháp vương, chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ chuyển bánh xe pháp Vô thượng.

Có kệ:

Tất cả mọi người nghe chấn động

Đều đến toán số để hỏi thăm

Hỏi rằng: Chiêm gia người phải biết

Thế gian các ngài là Thánh trí

Quả đất này cớ sao rung động?

Cúi xin các ngài quan sát kỹ

Sớm xin giãi thích cho chúng tôi.

Các vị bói toán bảo thế này:

Vua pháp, phi pháp ở nơi kia

Oai thần hai vị đấu tranh nhau

Thử xem oai đức ai thù thắng

Nước Ma-già-đà nơi thôn họ

Bồ-tát, Thiên ma chiến đấu nhau

Chánh pháp xô dẹp được ma quân

Thu phục xong rồi, Ngài thành đạo

Thành Phật, Pháp Vương không còn sợ.

Vào cuối đêm ấy khi sao mai mọc, Đức Như Lai thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ngay khi ấy, nơi thế gian bỗng nhiên sáng rực, quả đất chấn động sáu cách. Sau khi thế gian được chiếu sáng, quả đất chuyển động, Đại vương Tịnh Phạn ở nơi vương cung, đang ngủ giật mình thức dậy. Nhà vua cho mời các tướng sư và những nhà thiên văn Bà-la-môn đến hỏi:

-Này các vị Bà-la-môn, việc ấy như thế nào? Hãy vì trẫm mà giải thích.

Nhà vua vừa nói lời ấy, các nhà thiên văn và tướng số Bà-la- môn liền tâu Đại vương:

-Cúi xin Đại vương chờ cho giây lát, để cho chúng tôi chiêm nghiệm rồi sau sẽ giải thích.

Thuở ấy Thánh mẫu Ma-da phu nhân đã sinh lên cõi trời, hiện mang thân ngọc nữ, từ Thiên giới giáng xuống hoàng cung, báo cho Đại vương Tịnh Phạn và Gia-du, mẹ của La-hầu-la:

-Đại vương phải biết, đêm nay Vương tử Tất-đạt-đa đã thành Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì lý do này cõi đại địa chấn động. Như Lai đã thu phục ma quân, không còn oán thù, trong thế gian không còn gì đáng sợ.

Khi ấy chư Thiên Tịnh cư cõi sắc vẫn còn phân vân Như Lai đã chứng Vô thượng Bồ-đề hay chưa. Đức Như Lai biết tâm niệm chư Thiên, liền bay lên hư không để cho họ dứt tâm nghi ngờ. Ngài dùng giọng Sư tử rống nói như thế này:

-Ta đã đoạn các kết sử ái dục, tất cả nước tâm dục phiền não hoàn toàn khô cạn, không còn chảy nữa, không còn tái sinh, không còn vào phiền não nữa, diệt sạch các khổ không còn sót.

Khi ấy tất cả chư Thiên sắc giới nghe lời nói này đều suy nghĩ: “Như Lai thật sự thành Bậc Vô Thượng Bồ-đề”, nên vui mừng hớn hở tràn ngập toàn thân, không thể tự chế. Họ đem các loại hoa trời thật đẹp, hương hoa, hương bột gỗ thơm chiên-đàn cõi trời, các loại bột hương ngưu đầu chiên-đàn, hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha mạn-đà-la rải nhiều lớp trên mình Như Lai. Sau đó, họ lại rải hương hoa lên ma Ba-tuần.

Thấy chư Thiên sắc giới đem các đồ cúng dường hiến cúng Như Lai, ma Ba-tuần ngồi trên đất, đối trước Như Lai chẳng gần chẳng xa, buồn bã không vui, tâm rất ưu sầu, dùng cọng cỏ lau vẽ trên đất, nghĩ thế này: “Thế gian thật hy hữu, không thể nghĩ bàn.

Các Tiên tu khổ hạnh, ta có thể làm tâm họ thoái chuyển. Đế Thích, chư Thiên… ta còn có thể khuyên họ khởi tâm tham dục.

Tại sao ngày nay Sa-môn họ Thích này nhất tâm chánh định, chỉ trải qua một thời gian ngắn như vậy, đã khiến binh mã của ta quy phục?”

Về sau, khi Như Lai hành Phật sự, thuyết pháp giảng giáo pháp vi diệu, các Tỳ-kheo bạch Phật:

-Thế Tôn! Hy hữu thay! Thế Tôn dùng sức tinh tấn thế nào chứng được Thất đạo phần, đầy đủ pháp bảo, thành tựu Vô thượng Bồ-đề?

Các Tỳ-kheo bạch như vậy rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, các ông phải biết, sức tinh tấn của Ta chẳng chỉ do một đời này để chứng Thất đạo phần, thành Vô thượng Bồ-đề, mà thuở xưa Ta cũng do sức tinh tấn, được ngọc Ma-ni.

Chư Tỳ-kheo liền bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, việc ấy như thế nào, xin Ngài vì chúng con kể lại cho rõ ràng.

Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, các ông chí tâm lắng nghe. Ta nhớ vào thời quá khứ có một thương chủ vào biển cả để tìm ngọc quý. Người này ở nơi biển khơi tìm được một viên ngọc Ma-ni, giá trị đến trăm ngàn lượng vàng. Được rồi, bỗng nhiên viên ngọc bị rơi lại trong biển. Khi ấy, thương chủ phát tâm dũng mãnh tinh tấn, liền lấy một cái muỗng tát nước biển cả trông mong nước biển khô cạn để tìm lại viên ngọc Ma-ni. Thần biển thấy người này đem muỗng tát nước biển để mong thành đất liền, nên nghĩ: “Người này ngu si không trí tuệ, nước biển cả vô lượng vô biên, làm sao dùng muỗng tát cạn nước biển để thành đất liền?”

Vị Thần liền nói kệ:

Thế gian có lắm hạng chúng sinh

Vì ham tài lợi làm đủ việc

Ta nay thấy kẻ quá ngu si

Không ai ngu hơn kẻ buôn này.

Biển sâu tám vạn bốn do-tuần

Nay muốn đem muỗng tát khô biển

Khốn khổ tự hại, uổng một đời

Tát chưa bao nhiêu bỏ thân mạng

Nước kia tát được bằng giọt nhỏ

Đại dương mênh mông lại sâu thẳm.

Ông nay vô trí, chẳng nghĩ suy

Muốn lấy vòng tai bọc Tu-di.

Lúc ấy lái buôn hướng về Thần biển nói kệ:

Thiên thần nói ra lời bất thiện

Ý muốn ngăn ta tát cạn biển

Thần nên chú ý theo đổi ta

Tát chẳng bao lâu biển khô cạn.

Ngày đêm Thần trụ ỗ nơi đây

Do vậy tâm buồn rất lo lắng

Ta thề siêng năng, tâm chẳng chuyển

Quyết tát biển cả khiến khô cạn.

Ngọc quý của ta rơi trong đó

Do vậy, biển cả quyết tát khô

Nước khô tận đáy, lượm lại ngọc

Ngọc ấy được rồi mới về quê.

Khi ấy Thần biển nghe lời quyết định như vậy, tâm rất sợ hãi, suy nghĩ thế này: “Người này thật dũng mãnh, tinh tấn, nước biển này quyết định sẽ bị tát cạn.”

Thần biển suy nghĩ như vậy rồi liền trả lại ngọc quý cho người lái buôn. Trả rồi, Thần biển nói kệ:

Phàm người phải có tâm dũng mãnh

Chịu đựng gian lao chớ từ nan

Ta thấy tinh tấn sức như vậy

Được lại ngọc quý trở về nhà.

Lúc ấy Đức Thê Tôn nói kệ:

Tinh tấn lúc nào cũng toại nguyện

Lười biếng luôn luôn gặp khổ to

Do vậy cần phát tâm dũng mãnh

Người trí do đó chứng Bồ-đề.

Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Phải biết, người lái buôn thuở trước là thân Ta ngày nay. Khi người lái buôn vào biển tìm được bảo châu vô giá rồi lại đánh rơi trong biển, nhờ tâm dũng mãnh mà được lại bảo châu. Ngày nay, Ta cũng vậy, do tinh tấn nên được bảy phần Giác đạo, chứng Vô thượng Bồ-đề.

Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:

-Đức Thế Tôn thật hy hữu, quá ư đặc biệt, không thể nghĩ bàn. Một mình Ngài đơn độc mà thu phục được tất cả ma quân.

Nói xong, các Tỳ-kheo đều im lặng. Khi ấy Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, các ông phải chú ý lắng nghe. Ta chẳng chỉ một đời này độc thân thu phục ma quân mà trong quá khứ cũng một mình thu phục ma quân như vậy.

Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, việc hàng phục đó như thế nào? Cúi xin Ngài vì chúng con nói rõ.

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

-Các ông hãy lắng nghe. Ta nhớ vào thời cách đây vô lượng kiếp, có hai anh em chim Anh võ, con thứ nhất tên là Ma-la-kỳ-lê (nhà Tùy dịch là Mạn Sơn), con thứ hai tên là Tất-đà-kỳ-lê (nhà Tùy dịch là Dữ Sơn). Thuở ấy hai con chim Anh võ đang đậu trên cây, bỗng nhiên có một con chim nhạn bay nhanh đến chụp lấy chim Anh võ nhỏ, rồi vụt lên hư không. Khi ấy chim Anh võ anh vì em mà nói kệ:

Cô đơn một mình cũng bị khổ

Cô đơn một mình cũng được vui

Em mổ chỗ yếu nơi mình nhạn

Nhạn bị đau đớn liền thả em

Em thì thân nhỏ, anh sức yếu

Em nên tinh cần, chớ trễ nải.

Chim em nghe anh nói như vậy

Dũng mãnh ra sức sắp hành sự

Nghĩ đem toàn lực như vậy rồi

Liền mổ chỗ yếu nơi thân nhạn

Thân nhạn đau nhức khổ khống chế

Vội vã thả liền chim Anh võ.

Do vì chim nhạn thân đau nhức

Vội bay mọi nơi cầu che chở.

Do kế Anh võ, em được thoát

Mổ nhằm chỗ yếu thân chim nhạn

Chim nhạn khốn cùng không nơi trốn

Anh võ phấn khởi lướt hư không.

Nhạn thấy Anh võ đuổi sau mình

Lánh xa bay đi tìm lối sống.

Anh võ mổ nhạn lúc bấy giờ

Tức nay thân Ta hiệu Thích-ca

Chim nhạn tức là ma Ba-tuần

Thuở ấy duy nhất một mình Ta

Đã thu phục được chim nhạn nọ

Huống chi ngày nay đủ công đức

Thu phục chẳng được Ma vương sao?

Này chúng Tỳ-kheo nên phải biết.

Bấy giờ các vị Tỳ-kheo lại bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, tại sao Ma vương Ba-tuần luôn luôn khi dễ, dối gạt Như Lai mà không được, còn Như Lai thường thoát khỏi tai ách của Ma vương?

Nghe nói như vậy rồi, Đức Thế Tôn bảo các vị Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, nên chú ý lắng nghe, Ta sẽ vì các vị mà nói:

-Chẳng phải chỉ một đời này bị Ma vương dối gạt mà Ta thoát khỏi, chưa từng bị chúng làm não loạn, mà trong đời quá khứ Ma vương Ba-tuần dối gạt, mê hoặc Ta, Ta cũng không bị rối loạn.

Khi ấy các Tỳ-kheo bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, trong quá khứ Ma vương Ba-tuần não hại Ngài như thế nào? Cúi xin Thế Tôn vì chúng con nói rõ cho.

Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-Ta nhớ trong quá khứ có một con sông tên là Ba-lợi-da-đa (nhà Tùy dịch là Độ Bĩ Tiết). Thuở ấy bên cạnh dòng sông này có một người thợ kết tràng hoa. Người này có một vườn hoa bên cạnh sông. Dưới dòng sông này, lúc bấy giờ có một con rùa, theo nước trồi lên, bò đến vườn hoa tìm thức ăn. Nơi nào rùa bò qua thì nơi đó bị giậm đạp hư nát. Khi ấy, chủ vườn hoa thấy nơi nào rùa này tìm thức ăn thì nơi ấy bị giậm nát nên tìm cách bắt con rùa. Sau khi bắt được, đựng rùa trong một giỏ hoa chờ ngày giết ăn thịt. Lúc ấy rùa nghĩ thế này: ‘Ta phải làm sao? Dùng cách gì, hiểu biết gì thoát khỏi nạn này?.” Nó nghĩ kế thế này: “Ta có thể dối gạt chủ vườn hoa.”

Nghĩ như vậy rồi, nó hướng về chủ vườn hoa nói kệ:

Ta từ nước lên thân dính bùn

Ông nên rửa sạch giỏ đựng hoa

Thân ta dính bùn chẳng được sạch

E sợ dơ đến giỏ cùng hoa.

Bấy giờ chủ vườn hoa suy nghĩ: “Hay thay! Con rùa này bảo ta những lời tốt đẹp. Ta không được không nghe lời. Ta nên rửa sạch nó, chớ nên để bùn làm dơ giỏ hoa ta.” Nghĩ như vậy rồi, tay liền nắm lấy con rùa, đem đến mé nước để rửa. Người này đặt con rùa trên tảng đá, rồi múc nước rửa. Khi ấy con rùa dùng hết sức mạnh, bỗng lao sâu trong nước.

Khi người thợ kết tràng hoa thấy rùa lặn sâu vào trong nước, nên nghĩ thế này: “Lạ thay! Con rùa này có tài gạt ta như vậy. Ta nên lừa gạt lại con rùa này ra khỏi nước.”

Khi ấy người thợ kết tràng hoa hướng về con rùa, nói kệ:

Rùa hiền lắng nghe ý ta nói

Thân thuộc của ngươi có rất nhiều

Ta kết tràng hoa đeo cổ ngươi

Mặc ngươi trở về chúng vui mừng.

Khi ấy rùa suy nghĩ: “Người thợ kết tràng hoa này dối gạt ta, vì hiện giờ mẹ ông ta lâm trọng bệnh nằm tại giường. Chị ông đi hái hoa kết thành tràng, sắp đem đi bán để nuôi sống, mà nay ông ta nói lời như vậy, nhất định là dối gạt ta để ăn thịt, nên lừa gạt ta ra khỏi nước mà thôi!”

Khi ấy rùa nói kệ với người kết hoa:

Nhà ông nấu rượu họp người thân

Sắm các món ăn đủ mùi vị

Ông về trong nhà nói thế này:

Thịt rùa nấu xong canh thượng hạng.

Bấy giờ Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, các ông phải biết, con rùa lao vào trong nước lúc ấy tức là Ta ngày nay. Người thợ kết tràng hoa thuở nọ là ma Ba-tuần ngày nay. Khi ấy ma Ba-tuần gạt Ta mà Ta không lầm kế, Nay lại muốn dối gạt Ta, làm sao mà gạt được.

Lúc bấy giờ các vị Tỳ-kheo lại bạch Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, Hy hữu thay! Thật khó nghĩ bàn, oai thế của Ma vương Ba-tuần rất mạnh, thống lãnh Dục giới, dùng bao nhiêu kế để dối gạt Thế Tôn mà vẫn không làm động đến chỗ ngồi của Ngài.

Nghe chư Tỳ-kheo nói lời này rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

-Các ông phải biết, chẳng phải chỉ ngày nay ma Ba-tuần đem thế lực muốn dối gạt Ta, mà trong quá khứ cũng vậy, không dối gạt Ta được.

Khi ấy các vị Tỳ-kheo liền bạch Phật:

-Hay thay! Thưa Thế Tôn, việc ấy như thế nào? Cúi xin vì chúng con kể rõ ràng.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các vị Tỳ-kheo:

-Ta nhớ vào thời quá khứ ở đại dương nọ có một con rồng khổng lồ có người vợ đang mang thai. Bỗng nhiên, con rồng cái chửa này thèm ăn tim khỉ. Vì lý do ấy mà thân thể nó ốm gầy, da dẻ vàng vọt, tê liệt, nằm trăn trở, run rẩy chẳng an.

Bấy giờ con rồng đực thấy vợ ốm gầy, mất nhan sắc như vậy, nên hỏi vợ:

-Hiền thê, em đau bệnh gì? Thèm ăn những gì? Sao anh chẳng nghe nói. Vì sao như vậy?

Lúc ấy rồng cái im lặng không đáp. Rồng chồng lại nói:

-Tại sao em không trả lời?

Rồng vợ nói với rồng chồng:

-Nếu anh cho phép em tùy ý nói thì em sẽ nói. Nếu anh không đồng ý thì em không dám nói.

Rồng chồng lại nói:

-Em nói thử xem. Nếu thấy có lý, anh sẽ đem mọi phương tiện tìm cho được.

Rồng vợ liền thưa với chồng:

-Em đang thèm ăn tim khỉ, anh có thể tìm được không?

Rồng chồng liền đáp:

-Điều em muốn, việc này thật khó. Vì sao? Vì chúng ta ở trên mặt nước trong đại dương, còn khỉ thì ở trên cây, nơi rừng núi. Làm sao có thể tìm được.

Rồng vợ nói:

-Không biết tại sao em muốn ăn tim khỉ như vậy. Nếu không tìm ra tim ấy, thì sẽ bị sảy thai và chẳng bao lâu nữa em cũng bỏ mạng.

Khi ấy, rồng chồng lại bảo vợ:

-Này hiền thê, em nên tạm thời chịu đựng. Anh nay sẽ tìm kiếm. Nếu việc này thành công, thật là điều không thể nói, anh và em vui sướng vô cùng.

Khi ấy rồng đực từ dưới biển vọt lên bờ, thấy cách bờ biển chẳng bao xa có một đại thọ tên là Ưu-đàm-bà-la (nhà Tùy dịch là Cầu Nguyện). Thuở ấy trên cây này có một con khỉ lớn đang hái trái ăn. Thấy con khỉ ngồi ăn trên cây, rồng lần hồi đi đến dưới gốc cây. Khi đến nơi nó đem lời hoa mỹ cám dỗ và hỏi thăm:

-Lành thay! Lành thay! Đại ca ở trên cây này làm việc gì? Có cực nhọc, khổ sở lắm không? Tìm thực phẩm có dễ dàng không? Có mỏi mệt bệnh tật gì chăng?

Khỉ trả lời:

-Thưa nhân giả, tôi đang không bị khổ não.

Rồng lại hỏi:

-Anh ở đây lấy thức ăn uống ở đâu?

Khỉ trả lời:

-Tôi ở trên cây ưu-đàm-bà-la và ăn quả của nó.

Rồng lại nói với khỉ:

-Tôi thấy anh, lòng hớn hở tràn ngập cả thân, không thể tự chế. Tôi muốn cùng anh kết làm bạn tốt cùng ái kính lẫn nhau, anh nên nhận lời tôi, cần gì phải ở đây. Lại nữa, cây này quả ít, không được nhiều, tại sao anh lại chịu ở nơi đây? Xin anh vui lòng xuống đây theo tôi, tôi sẽ đưa anh qua bờ biển, nơi đó có khu rừng lớn, cây cối um tùm, quả Lê-câu, quả Na-ta, quả Trân đầu ca… của vô lượng vô số cây.

Khỉ nói:

-Tôi làm sao qua được bên kia? Biển thì rộng, nước thì sâu, thật khó lội qua. Tôi phải làm gì để bơi qua được.

Khi ấy rồng lại bảo khỉ:

-Tôi dùng lưng để chở anh, đưa anh qua đến bờ bên kia. Anh nay chỉ có việc là xuống cây, cỡi lên lưng tôi.

Lúc ấy con khỉ tâm không bình tĩnh, nhỏ hẹp, thấp hèn, ngu si, hiểu biết cạn cợt, nghe lời đường mật của rồng trong lòng hớn hở, nên từ trên cây leo xuống cỡi trên lưng rồng muôn đi theo rồng. Rồng nọ thầm nghĩ: “May lắm, may lắm! Ý muốn của ta nay đã thành công”, nên cùng nhau đi về chỗ của mình. Thân rồng và khỉ đều ngập trong nước.

Khi ấy khỉ hỏi rồng:

-Này thân hữu, vì cớ gì bỗng nhiên ngập trong nước?

Rồng liền đáp:

-Người không biết sao?

Khỉ hỏi:

-Việc ấy thế nào? Muốn làm gì đây?

Rồng liền đáp:

-Vợ ta có mang, nó thèm muôn ăn trái tim khỉ. Vì lý do đó ta đưa ngươi đến đây.

Bấy giờ khỉ suy nghĩ: “Ta đang gặp điều chẳng may, bất lợi vô cùng, tự chuốc lấy cái chết vào thân. Ôi thôi! Ta phải làm cách gì mau thoát tai nạn này khỏi mất thân mạng?” Rồi nó lại nghĩ: “Phải gạt con rồng này mới được.”

Thầm nghĩ như vậy rồi, nó lại nói với rồng:

-Này anh bạn lành nhân từ, trái tim tôi còn để lại trên cây Ưu-đàm-bà-la, không mang theo đây. Tại sao lúc ấy bạn không nói đúng sự thật cho ta biết là “Ta đang cần tim ngươi”, để lúc ấy ta mang theo. Bạn nên quay trở lại để ta lấy tim, rồi sẽ trở về.

Khi ấy rồng nghe khỉ nói lời như vậy, cả hai đều ngoi lên khỏi mặt nước. Thấy rồng sắp vượt khỏi mặt nước, gần bên bờ, khỉ phấn khởi, nỗ lực nhảy vọt thật nhanh, chuyển hết sức lực từ trên lưng rồng nhảy sang mặt đất, rồi phóc lên trên đại thọ Ưu-đàm-bà-la.

Rồng ở dưới gốc cây chờ giây lâu, thấy con khỉ lẩn trốn không xuống, nên nói với khỉ:

-Này anh bạn lành thân mật! Anh mau xuống đây cùng tôi về nhà.

Con khỉ lặng thinh không chịu leo xuống. Thấy khỉ ở mãi không chịu xuống, rồng nói kệ:

Anh khỉ bạn hiền đã lấy tim

Xin anh trên cây mau leo xuống

Tôi sẽ đưa anh đến rừng kia

Là nơi đầy dẫy quả cùng hoa.

Bấy giờ con khỉ nghĩ: “Con rồng này thật vô trí.” Nghĩ như vậy rồi, khỉ hướng về con rồng nói kệ:

Mưu kế anh rồng tuy cao rộng

Nhưng mà tâm lượng quá hẹp hòi

Anh nên chín chắn tự nghĩ lại

Tất cả mọi loài, ai không tim.

Rừng kia tuy cây trái sum suê

Kể cả Am-la cùng quả ngọt

Thật ra, ta nay không muốn đến

Ta thà ở đây ăn Ưu-đàm.

Bấy giờ Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo phải biết, con khỉ thuở ấy là Ta ngày nay. Con rồng thuở nọ nay là ma Ba-tuần vậy. Thuở ấy ma Ba-tuần vẫn đem lời-dối trá để gạt Ta mà không được. Huống ngày nay muốn đem việc năm dục thế gian mà dụ dỗ Ta, đâu có thể làm rung động chỗ ngồi!

Đức Phật nói lời này rồi, các thầy Tỳ-kheo lại bạch Phật:

-Thế Tôn thật hy hữu! Thế Tôn quá ư đặc biệt, không thể nghĩ bàn. Tại sao ma Ba-tuần đem ma quân hình dạng xấu xí khác nhau đến bên Như Lai mà Như Lai quán sát biết rõ từng việc?

Bấy giờ Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Các Tỳ-kheo phải biết, chẳng những ngày nay Ma vương đem đại quân với hình dạng xấu xí này đến bên Ta, mà Ta cũng quán biết rõ.

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

-Đức Thế Tôn thật hy hữu, việc này như thế nào? Xin Ngài kể lại, chúng con muốn nghe.

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo các vị Tỳ-kheo:

-Ta nhớ thuở xưa có một người thợ săn biết khu rừng nọ có nhiều chim thường tụ tập đến đó. Ông ta đến đấy dựng một lều cỏ, dùng đủ loại cành cây phủ lên lều, rồi ẩn thân ngồi trong lều ấy. Khi ấy các loài chim cho đây là cành cây thật, nên chúng bay đậu trên cành này. Tên thợ săn thấy chim đậu trên túp lều rồi, lần hồi giết chúng bằng cách bắn hoặc chụp lấy. Khi ấy, có một con chim khác thấy túp lều này nên suy nghĩ: “Túp lều này di động được mọi nơi, còn bao nhiêu cây khác lại đứng yên một chỗ, nhất định trong lều này chẳng phải trống không!” Biết như vậy, nó bay lánh xa tấp lều nên không bị thợ săn bắt, mà nói kệ:

Ta thấy tất cả cây trong rừng

Như cây A-thuyết, Tỷ-ê-la

Cây A-lê-la và Diêm-phù

Cây Vô-chỉ La-ba-chân-đầu

Đều dừng đứng yên tại một chỗ

Khi mọc đến nay không di động,

Cây này di chuyển khắp mọi nơi

Nhất định trong đó chăng trống không

Hoặc là ác vật ở bên trong.

Ta hãy cấp tốc bỏ rừng này

Trong tâm ta rất là ngờ vực

Hoặc là điều ác không từ mẫn

E rằng trong đó sát hại ta.

Lại ta thuở trước ở tha phương

Đã từng bị lưới bay đến đây

Người trí biết rồi nên xa lánh.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-Các thầy phải biết, con chim thuở ấy chính là Ta ngày nay. Người thợ săn kia là ma Ba-tuần. Thuở ấy ông ta làm hình dạng đáng sợ muốn sát hại Ta, lúc ấy Ta vẫn khám phá ra. Ngày nay ma Ba-tuẫn lại đem ma quân hình dạng xấu xí đáng sợ đến bên Ta, Ta cũng biết từ lâu.

Lúc ấy Đức Thế Tôn nói kệ:

Người đời suy nghĩ chẳng sâu xa

Làm sao chứng được pháp thượng nhân?

Ta nay bằng tư duy thù thắng

Thoát được ràng buộc, chứng vô vi.

***

Phẩm 35: HAI THƯƠNG GIA CÚNG PHẬT

Khi Đức Thế Tôn mới thành đạo, ngồi kiết già dưới gốc cây Bồ-đề bảy ngày đêm không đứng dậy, lấy an lạc giải thoát làm thức ăn. Sau khi trải qua bảy ngày, Ngài nhất tâm chánh niệm, xuất khỏi chánh định, ngồi nơi tòa Sư tử, đêm đầu tiên Ngài quán sát mười hai nhân duyên: từ chi cuối quán sát đến chi đầu, rồi từ chi đầu quán sát đến chi cuối. Khéo nghĩ, khéo quán sát, thấy rõ không khác, nhân nơi chi này sinh ra chi kia, nhân có chi kia mới có chi này. Nghĩa là duyên vào vô minh mới có các hành, duyên vào các hành mới có thức, duyên vào thức mới có danh sắc, duyên vào danh sắc mới có lục nhập, duyên vào lục nhập mới có xúc, duyên vào xúc mới có thọ, duyên vào thọ mới có ái, duyên vào ái mới có thủ, duyên vào thủ mới có hữu, duyên vào hữu mới có sinh, duyên vào sinh mới có các khổ lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não.

Đức Thế Tôn biết các pháp này rồi, lại nói kệ:

Người tu phạm hạnh quán các pháp

Thì biết các pháp là tương sinh

Nếu biết các pháp nhân duyên sinh

Thì biết các pháp nhân duyên có.

Đức Thế Tôn vào nửa đêm ấy quán mười hai pháp nhân duyên, quán từ chi ban đầu cho đến chi cuối cùng, rồi chí tâm không thất niệm, không tán loạn, khéo quán sát, khéo suy nghĩ ngược lại: do không có chi kia thì chi này không có, do chi kia diệt nên chi này tự diệt. Nghĩa là vô minh diệt thì hành tự diệt, hành diệt thì cho đến sinh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não tất cả đều diệt.

Khi ấy Đức Thế Tôn quán biết các pháp này rồi, Ngài liền nói kệ:

Người tu phạm hạnh quán các pháp

Thì biết các pháp nhân duyên sinh

Nếu biết các pháp nhân duyên sinh

Thì biết các pháp nhân duyên diệt.

Đức Thế Tôn vào nửa đêm ấy quán mười hai nhân duyên, quán từ chi cuối cùng đến chi ban đầu, không thất niệm, không tán loạn, khéo suy nghĩ, khéo quán sát cái kia đã sinh thì sinh cái này, nhân có cái kia nên có cái này. Cái kia không thì cái này cũng không, cái kia diệt thì cái này cũng diệt. Nghĩa là duyên vô minh thì hành sinh, duyên các hành rồi thì tất cả các chi: sinh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não đều tương sinh. Chi kia không sinh thì chi này cũng không. Chi kia diệt rồi thì chi này cũng diệt.

Khi ấy Đức Thế Tôn biết sự thật này rồi, Ngài nói kệ:

Như người phạm hạnh quán thế gian

Liền biết tương sinh cho đến diệt

Đã phá ma quân lập đạo tràng

Như mặt trời chiếu sáng hư không.

Bầy giờ Đức Thế Tôn từ nơi tòa Sư tử đứng dậy rời cây Bồ-đề chẳng bao xa, Ngài lại ngồi kiết già bất động trong bảy ngày, lấy hạnh giải thoát làm niềm an lạc. Trong bảy ngày ở bên cạnh cây Bồ-đề, chăm chú quán sát, mắt không nhắm, Ngài nghĩ thế này: “Ta ở nơi đây diệt cùng tận vô biên phiền não, đã xả bỏ gánh nặng!”

Sau khi trải qua bảy ngày chánh niệm, chánh tri, Ngài ra khỏi Tam-muội.

Về sau có người ở nơi Ngài ngồi quán sát, bên cạnh Bồ-đề này, xây một ngôi tháp, đặt tên là tháp Không nháy mắt và nói kệ:

Ở đạo tràng này diệt các khổ

Lại ngồi nơi đây quán tòa kia

Đạt được sở nguyện đến bờ giác

Ta chứng Bồ-đề tại nơi đây.

Bấy giờ Đức Thế Tôn từ tháp Không nháy mắt đứng dậy, ung đung đi đến Ma-lê-chi (nhà Tùy dịch là Dương Diệm) nơi đi kinh hành. Sau khi đi kinh hành rồi, Ngài ngồi kiết già trải qua bảy ngày thọ hưởng niềm vui giải thoát. Trải qua bảy ngày rồi, chánh niệm, chánh tri, Ngài ra khỏi Tam-muội. Ngay lúc ấy có Long vương Ca-la (nhà Tủy dịch là Hắc sắc) đến trước Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài rồi lui đứng về một bên, bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, tại cung điện này, thuở xưa con đã từng cúng dường chư Phật trong quá khứ. Chư Phật vì thương xót con nên đều nhận lấy và ở nơi cung điện này. Chư Phật đó là Đức Thế Tôn Câu-lưu-tôn, Đức Thế Tôn Câu-na-hàm Mâu-ni và Đức Thế Tôn Ca-diếp. Ngày nay gặp Thế Tôn, lành thay! Thật đúng lúc. Xin Ngài thương xót con, ở nơi đây một thời gian ngắn. Tại sao như vậy? Vì con đã đem cung điện này cúng dường ba Đức Phật trong quá khứ. Ngày nay đến Thế Tôn là vị thứ tư vì con mà nhận lấy cung điện này, tức gọi là “cung điện đầy đủ công đức của con được bốn Đức Phật nhận lấy.”

Lúc ấy Đức Thế Tôn nhận lời Long vương Ca-la, vào trong cung điện ngồi kiết già, trải qua bảy ngày an định không động, hưởng thọ niềm vui giải thoát.

Đức Thế Tôn trải qua bảy ngày chánh niệm, chánh tri rồi ra khỏi Tam-muội, bảo Đại long vương Ca-la:

-Này Long vương, ông đến với Ta thọ pháp Tam quy: Phật… và ngũ giới. Ông sẽ hưởng thụ đại an lạc mãi mãi.

Long vương Ca-la liền bạch Phật:

-Xin vâng lời Đức Phật dạy, tâm không chống trái, con theo lời Thế Tôn đã bảo.

Long vương Ca-la nghe lời Đức Phật dạy như vậy rồi, liền chắp tay hướng về Đức Phật lãnh thọ ba pháp Tự quy y: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, rồi lãnh thọ năm giới cấm, là cận sự nam đầu tiên trong thế gian. Trong loài súc sinh, tự nói ba pháp Tam quy và ngũ giới, đó là Long vương Ca-la.

Thuở ấy, lại có một Long vương khác tên là Mục-chân-lân-đà, đang hướng về chỗ Đức Phật. Khi đã đến nơi, Long vương lễ dưới chân Đức Phật rồi lui về một bên. Sau khi đứng về một bên, Long vương bạch Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, cung điện này của con, thuở xưa đã từng cúng dường tất cả chư Phật. Quý Ngài nhận lấy và ở trong đó.

Chư Đức Phật đó là Đức Thế Tôn Câu-lưu-tôn, Đức Thế Tôn Câu-na-hàm Mâu-ni và Đức Thế Tôn Ca-Diếp. Hay thay! Ngày nay gặp được Thế Tôn, xin cũng vì con nhận lấy cung điện này, thì con sẽ được bốn Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác thọ nạp cung điện này, con sẽ được lợi ích hoàn toàn.

Bấy giờ Đức Thế Tôn tùy thuận Long vương Mục-chân-lân-đà nhận lấy cung điện. Ngài ngồi kiết già trong cung điện này trải qua bảy ngày không đứng dậy, để hưởng niềm vui giải thoát. Trong thời gian bảy ngày này, trên hư không kéo mây tuôn mưa, thổi cơn gió rất lạnh, mưa suốt bảy ngày không ngớt, không khí trở thành giá lạnh. Khi ấy Long vương Mục-chân-lân-đà ra khỏi cung điện, hiện thân to lớn, cuộn thành bảy ngày vòng che chở Đức Phật, lại hiện bảy đầu cúi xuống làm chiếc lọng lớn che trên đầu Đức Phật. Tâm Long vương nghĩ thế này.: “Chẳng để thân Thế Tôn bị gió rét lạnh và bụi bặm dính vào. Cũng đừng để các loài trùng, muỗi mòng chích Thế Tôn.”

Đã qua bảy ngày, bấy giờ trời trong sáng không có mây mù, Đức Thế Tôn chánh niệm chánh trí ra khỏi Tam-muội. Khi ấy Long vương Mục-chân-lân-đà thu hình rồng, hiện hình Bà-la-môn trẻ tuổi, đứng trước Phật, chắp tay lễ sát đất bạch Phật:

-Vừa rồi không phải con muốn nhiễu loạn Như Lai, con hiện hình rồng cuộn quanh Như Lai bảy vòng, lại hiện bảy đầu che trên đảnh Như Lai là muốn Như Lai được an ổn, chỉ sợ Thế Tôn bị gió nước thấm lạnh, đất bụi dính vào người, cùng côn trùng, muỗi mòng chích vào thân. Bạch Đức Thế Tôn, do con nghĩ như vậy nên mới che phủ Thế Tôn.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì nhân duyên này, tự nói kệ tán thán:

Biết đủ tịch định rất an lạc

Biết đủ quán sát rất sâu xa

An lạc không phiền não trong đời

Lại không sát hại các chúng sinh.

Nếu muốn ở đời thật an lạc

Tất cả tham dục phải xa lìa

Xả bỏ ngã mạn, tánh kiêu căng

Vui này tối thắng rất an lạc

Bao nhiêu dục lạc ở nhân gian

Nếu bỏ được hết không còn ái

Vui đời so sánh với vui đạo

Đạo mười sáu phần, đời không một.

Khi Đức Thế Tôn nói kệ này rồi, bảo Long vương Mục-chân- lân-đà:

-Đại vương hãy đến đây thọ pháp Tam quy và Ngũ giới. Đại vương sẽ mãi mãi thọ hưởng an lạc.

Long vương Mục-chân-lân-đà bạch Phật:

-Đúng như lời Thế Tôn đã dạy, con luôn tuân theo.

Mục-chân-lân-đà nghe lời dạy của Đức Phật, liền đến bên Đức Thế Tôn thọ pháp Tam quy và Ngũ giới.

Khi Đức Thế Tôn còn tu Bồ-tát hạnh, có một người chăn dê, trong thời gian sáu năm Bồ-tát tu khổ hạnh, người này đối với Đức Thế Tôn đem tâm thanh tịnh, tôn trọng cung kính cúng dường, lại đem sữa dâng cúng Thế Tôn và bẻ cành Ni-câu-đà cắm che mát Thế Tôn. Khi ấy cành cây này biến thành đại thọ, người chăn dê này tùy theo nhân duyên thiện căn tín tâm ít nhiều này, sau khi qua đời sinh lên cõi trời Đao-lợi làm Thiên tử, có đại oai lực thần thông tự tại. Người chăn dê sau khi sinh lên cõi trời, lại suy nghĩ: “Ta nay được quả báo, do nghiệp nhân gì mà được thân này?” Lại nghĩ: “Nhớ thuở xưa khi Đức Thế Tôn còn là Bồ-tát, ta đích thân tạo nghiệp như thế này: Khi Bồ-tát tu khổ hạnh, ta đem sữa dâng cúng cho Ngài. Nơi Ngài ngồi, ta bẻ cành Ni-câu-đà cắm vào đất để che mát Bồ-tát. Nhờ thiện nghiệp đó, ta nay được quả báo vi diệu này.” Thiên tử lại nghĩ thế này: “Nhờ khi Đức Thế Tôn còn là Bồ-tát, ta gần gũi cúng dường nên nay được quả báo này. Ta cắm cành cây Ni-câu-đà che mát Đức Thế Tôn, nên nay được quả báo và có những thần thông vô ngại này. Huống chi ngày nay Đức Thế Tôn đã chứng quả Vô thượng Bồ-đề, Ngài vì ta mà trở lại nghỉ mát dưới bóng cây này.”

Vào nửa đêm, thân phóng hào quang rực rỡ, chiếu sáng đến cây Bồ-đề, Thiên tử với ánh sáng cõi trời ấy đi đến chỗ Đức Phật.

Đến nơi, vị ấy đảnh lễ dưới chân Phật rồi lui về một bên. Khi ấy Thiên tử liền bạch Phật:

-Hay thay, Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn vì thương xót con, nhận cây này, được an lạc theo ý muốn.

Khi ấy Đức Thế Tôn vì thương xót Thiên tử, nhận cây Ni-câu- đà mà thuở xưa người chăn dê đã cắm vào đất. Nhận lời rồi, Ngài ngồi kiết già bất động dưới cây này, trải qua bảy ngày để cảm thọ sự giải thoát an lạc.

Sau khi trải qua bảy ngày, Ngài chánh niệm chánh tri, ra khỏi Tam-muội, bảo Thiên tử:

-Này Thiên tử, lại đây! Đến bên Ta thọ lãnh pháp Tam quy và Ngũ giới. Người sẽ thọ hưởng an lạc lâu dài.

Thiên tử thọ ba pháp Tự quy y và Ngũ giới rồi, trong thế gian. Đây là vị trời đầu tiên được Đức Phật trao cho ba pháp Quy y và Ngũ giới, làm người Ưu-bà-tắc. Tiền thân vị này là người chăn dê, do cúng dường cây, sữa… cho Bồ-tát, nên được quả báo thân chư Thiên.

Bấy giờ Đức Thế Tôn từ rừng “Người chăn dê trồng cây” đứng dậy, ung dung đi dần đến một khu rừng phía dưới, tên là Sai-lê-ni-ca (nhà Tùy dịch là rừng Chảy sữa). Đến khu rừng này, Ngài ngồi kiết già trải qua bảy ngày, vì muốn thọ an lạc giải thoát.

Trải qua bảy ngày, Ngài xuất định, chánh niệm chánh tri. Đức Thế Tôn trải qua bảy lần bảy ngày như vậy là do có sức thiền định an trụ liên tục. Được nàng Thiện sinh, con chủ thôn nọ cúng cháo sữa, Ngài chỉ thọ dụng một lần rồi sau đó không ăn gì nữa và sống đến ngày hôm nay.

Thuở ấy, ở phía Bắc xứ Ấn độ có hai thương chủ, một người tên là Đế-lê-phú-sa (Tùy dịch là Hồ Qua). Người thứ hai tên là Bạt-lê-ca (Tùy dịch là Kim Đỉnh). Hai thương chủ này có nhiều trí tuệ, ngay thẳng, chín chắn. Hai người này từ Trung Ấn độ xuất phát, với nhiều hàng hóa, chở đầy năm trăm xe, rất thuận lợi. Khi ấy, hai thương chủ từ Trung Ấn quay trở về Bắc Ấn. Trên con đường trở về phải đi qua khu rừng Sai-lê-ni-ca, cách đó không xa, đoàn lái buôn tuần tự đi tới.

Nhóm thương chủ ấy có một con trâu được huấn luyện đặc biệt, luôn luôn đi trước đoàn xe. Chỗ nào có chướng ngại khủng bố thì con trâu được huấn luyện tốt này, dù có đánh đập, lấy dây cột kéo cũng không chịu đi.

Bấy giờ ở rừng Sai-lê-ni-ca có vị thần giữ rừng. Vị thần này ẩn thân giữ hai con trâu đã được huấn luyện, đứng yên không cho tiến bước. Hai thương chủ đều cầm cọng sen xanh đánh hai con trâu này, nó vẫn không chịu đi. Năm trăm cỗ xe khác đều đứng yên, bánh xe cũng không di chuyển, các dây đai đều tự đứt đoạn, còn bao nhiêu những biến đổi kỳ lạ không tốt như càng, ách, trục, chốt, bầu, tăm, thành, thùng, dây cổ, móc câu, hoặc gãy, hoặc vỡ, hoặc nát, hoặc rách…

Lúc ấy hai thương chủ Đế-lê và Bạt-lê-ca hết sức sợ hãi, vô cùng khổ não, toàn thân dựng chân lông, bàn với nhau:

-Chúng ta đang gặp phải tai họa khác thường và chịu lấy tai ương gì đây!

Hai người rời cách xe vài ba bước, chắp tay trên đầu đảnh lễ tất cả chư Thiên, tất cả thần linh, đứng yên chí tâm khấn vái: “Nguyện xin tất cả những tai ương kỳ lạ khủng bố ngày hôm nay của hai con sớm được tiêu diệt, mau được điều lợi ích an ổn tốt đẹp.” Bấy giờ Thần thủ hộ khu rừng hiện nguyên hình, an ủi hai thương chủ:

-Này các thương chủ, chớ nên sợ hãi, các ông ở đây hoàn toàn không có tai ương hiểm họa. Này các thương chủ, ở đây chỉ có Đức Như Lai Thế Tôn Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, mới thành Phật Vô thượng Bồ-đề, đang ở trong rừng này. Từ khi Ngài thành đạo đến nay, trải qua đúng bốn mươi chín ngày chưa từng ăn uống. Này các thương chủ, nếu thấy đúng lúc, hai người nên đi đến chỗ Đức Vô Thượng Chánh Giác, đem bánh bột sữa mật đến cúng dường trước tiên. Các ông sẽ được an lạc, nhiều sự lợi ích lớn mãi mãi.

Hai thương chủ nghe lời Thần hộ rừng nói như vậy, bạch:

-Như lời Thần dạy, chúng con xin làm theo.

Hai thương chủ mỗi người đem bánh bột sữa mật cùng một số thương nhân đồng đi đến chỗ Đức Phật. Khi gần đến nơi, hai thương chủ từ xa trông thấy Đức Phật dung nghi đoan chánh khả ái, trong thế gian không ai sánh bằng, cũng như các vì sao trên bầu trời, các tướng trang nghiêm trên thân. Thấy rồi đem tâm rất kính trọng, lòng tin thanh tịnh, họ hướng đến trước Thế Tôn. Khi đến nơi, họ lễ dưới chân Đức Phật rồi, lui đứng về một bên. Khi ấy hai thương chủ đồng bạch Đức Phật:

-Nguyện Đức Thế Tôn vì thương xót chúng con mà nhận lấy bánh bột sữa mật ngon sạch này.

Bấy giờ Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Thuở xưa tất cả chư Phật Thế Tôn Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đều có thọ trì bát hay không?” Trong tâm Thế Tôn liền biết: “Tất cả chư Phật Thế Tôn Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đều thọ trì bát.”

Khi ấy Thế Tôn lại nghĩ: “Ta nay phải dùng bát gì để nhận bột sữa mật của hai thương chủ này?” Khi Thế Tôn muốn nhận bát, thì bốn vị Thiên vương đều từ bốn phương cấp tốc cùng mang bốn bình bát bằng vàng bay đến chỗ Đức Phật. Đến nơi, bốn vị đảnh lễ dưới chân Đức Phật rồi lui đứng một bên. Khi bốn vị Thiên vương đứng về một bên, liền đem bốn bát bằng vàng dâng lên Thế Tôn, bạch:

-Cúi xin Thế Tôn thương xót chúng con, nhận bát này để đựng bột sữa mật của hai vị thương chủ, để chúng con được nhiều an vui, lợi ích lớn lâu dài.

Đức Thế Tôn không nhận, vì người xuất gia không nên chứa dùng bát bằng vàng. Bốn vị Thiên vương bỏ bốn bát bằng vàng, lại đem bốn bát bằng bạc dâng cúng Thế Tôn và bạch:

-Thưa Thế Tôn, Ngài có thể dùng bát này đựng thức ăn để chúng con được nhiều an vui, lợi ích lớn lâu dài.

Thế Tôn không nhận.

Như vậy, bốn vị Thiên vương lại đem bốn bát bằng pha lê, Thế Tôn cũng không nhận.

Như vậy, bốn vị Thiên vương lại đem bốn bát bằng lưu ly, Thế Tôn cũng không nhận.

Như vậy, bốn vị Thiên vương lại đem bốn bát bằng ngọc bảo mà Thế Tôn cũng không nhận.

Như vậy, bốn vị Thiên vương lại đem bốn bát bằng mã não, Thế Tôn cũng không nhận.

Kế đến, bốn vị Thiên vương lại đem bốn bát bằng xa cừ dâng cúng Thế Tôn. Thế Tôn lại cũng không nhận bốn bát này.

Khi ấy, Tỳ-sa-môn vương thuộc phương Bắc, nói với ba vị Thiên vương kia:

-Ta nhớ thuở xưa chư Thiên màu xanh đem bát bằng đá đến hiến dâng cho chúng ta và thưa với chúng ta: “Quý Ngài có thể đựng thức ăn trong bát đá này mà ăn.” Lại lúc đó có một Thiên tử khác tên là Tỳ-lô-giá-na thưa với chúng ta: “Quý vị nhân giả Thiên vương cẩn thận, chớ nên đựng đồ ăn trong bát này mà ăn. Quý nhân giả chỉ có thể cùng cúng dường như cúng dường tháp vậy. Tại sao? Đời tương lai sẽ có một Đức Như Lai ra đời, tên của Đức Như Lai là Thích-ca Mâu-ni. Lúc ấy quý nhân giả nên đem bốn bát đá này dâng cúng cho Ngài.” Các nhân giả Thiên vương, nay đã đến lúc chúng ta đem bốn bát ấy dâng cúng cho Thế Tôn.

Bấy giờ bốn vị Thiên vương trấn bốn phương, đều đem theo quyến thuộc chung quanh, vội đi vào cung điện của mình, mỗi vị lấy một cái bát đá màu xanh biếc đẹp đẽ, thoa các thứ hương thơm vào bát rồi đựng đầy các thứ hoa trời, lại đem tất cả âm nhạc cõi trời cúng dường chiếc bát này, hướng về chỗ Đức Phật. Sau khi đến nơi, họ đồng đem bốn bát dâng cúng Thế Tôn, bạch:

-Cúi xin Đức Thế Tôn nhận chiếc bất này, dùng bát này để đựng bánh bột sữa mật của hai thương chủ. Xin Ngài thương xót chúng con, để cho chúng con được nhiều điều lợi ích an lạc lâu dài. Bấy giờ Thế Tôn lại nghĩ: “Bốn vị Thiên vương này đem lòng tin thanh tịnh cúng cho Ta bốn cái bát, Ta không thể dùng cả bốn cái. Nếu Ta nhận bát một người thì ba người còn lại sẽ giận. Nếu Ta nhận bát hai người, thì hai người còn lại sẽ giận. Nếu ta nhận bát ba người thì một người còn lại sẽ giận. Ta hãy nhận bốn bát rồi đem sức thần thông biến thành một bát.”

Lúc ấy Đức Thế Tôn nhận bát của Thiên vương Đề-đầu-lại-tra rồi nói kệ:

Khéo cúng Thế Tôn bình bát tốt

Người quyết sẽ thành diệu pháp khí

Đã cứng cho Ta bát thanh tịnh

Quyết tăng trí tuệ, tâm chánh niệm.

Đức Thế Tôn cũng nhận bát của Thiên vương Tỳ-lâu-lặc-xoa thọ nhận một bát, rồi nói kệ:

Ta quán chân như ai cúng bát

Người ấy chánh niệm tâm tăng trưởng

Nhờ bát nuôi lớn đời an lạc

Mau được an lạc thân thanh tịnh.

Đức Thế Tôn cũng nhận bát của Thiên vương Tỳ-lâu-bát-xoa, rồi nói kệ:

Ông đem tịnh tâm cúng tịnh bát

Thật tâm thanh tịnh cúng Như Lai

Tương lai mau chứng tâm thanh tịnh

Thế gian người trời đều vừa ý.

Đức Thế Tôn cũng nhận một bát của Thiên vương Tỳ-sa-môn, rồi nói kệ:

Chư Phật Thế Tôn trì tịnh giới

Điều phục các căn cúng bát lành

Tâm không khuyết hoại ân trọng cúng

Đời sau ông được ruộng thanh tịnh.

Khi ấy Đức Thế Tôn nhận bốn bình bát rồi, theo thứ lớp chồng trên bàn tay trái, rồi dùng bàn tay phải đè xuống. Do sức thần thông, bốn bát hợp thành một bát mà thành bát có bốn lớp, Ngài nói kệ:

Xưa tu công đức nay quả nhãn

Nhờ phát tâm thanh tịnh từ mẫn

Do vậy hôm nay Tứ Thiên vương

Thanh tịnh kiên cố cúng Ta bát.

Có kệ nói:

Thuở ấy Thế Tôn muốn thọ thực

Thiên vương bốn hướng mang bát đến

Tỏ lòng dâng cúng Phật Thế Tôn

Thọ rồi thần thông biến một bát.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì lòng thương hai vị thương chủ Đế-lê phú-sa và Bạt-lê-ca Bắc Ấn độ nên nhận bánh bột sữa mật đựng trong bát mới sạch của bốn vị Thiên vương vừa cúng, đúng như pháp mà thọ thực. Khi Ngài thọ trai xong, bảo hai vị thương chủ cùng hàng thương nhân:

-Này các thương chủ, các người nhận với Ta ba pháp Quy y: Phật, Pháp, Tăng và thọ năm giới cấm, sẽ làm cho các ông được an lạc, nhiều lợi ích lớn lâu dài.

Hai vị thương chủ cùng quyến thuộc nghe Đức Phật nói như vậy, cùng nhau bạch Phật:

-Chúng con theo lời Phật dạy, không làm trái.

Họ cùng nhau thọ ba pháp tự quy y. Ở trong nhân gian người đầu tiên thọ Tam quy và Ngũ giới làm vị Ưu-bà-tắc là hai thương chủ Đế-lê-phú-na và Bạt-lê-ca.

Lúc ấy Đức Thế Tôn vì hai thương chủ nói kệ tùy hỷ:

Vật thí đầy đủ sắc, hương, vị

Phương tiện thọ rồi lìa phiền não

Trong đó hòa hợp đủ thức ăn

Nên được gọi là bột sữa mật.

Ăn xong, thân thể mịn tươi sáng

Mặt sáng như hoa, dung nhan đẹp

Khí lực dồi dào, được lợi ích

Trừ được đói khát, tâm an ổn.

Cúng Phật Thế Tôn cháo như vậy

Khiến hàng phạm hạnh được no đủ

Ta đã thọ thực được no nê

Hai vị thương chủ cúng bánh bột.

Ta họ Cam Giá, dòng Nhật Chủng

Ca ngợi người này là tối thượng

Do vì công đức bố thí này

Sẽ đạt Thánh trí quả cùng cực

Các lậu tất cả đều diệt sạch,

Do vì nhân duyên tạo nghiệp này

Sau lại dần dần không sợ sệt

Giải thoát dần phiền não ràng buộc

Chứng được vô lậu, được thảnh thơi.

Thí như ruộng tốt, rất bằng phẳng

Hạt giống, mầm, mạ đều tươi tốt

Mưa thuận, gió hòa đúng thời tiết

Lúa mạ mọc nhiều tăng trưởng tốt

Bởi do hạt giống tốt như vậy

Mọc rồi phát triển thật sum suê

Dé lúa nặng quằn tăng gấp bội

Thâu hoạch sản lượng vô số kể.

Cũng như thành tựu các giới hạnh

Bố thí thật nhiều thức ăn uống

Sau được quả bảo tốt không lường

Do xưa, nay lợi, lẽ dĩ nhiên.

Nếu người muốn cầu đời sau lợi

Hy vọng chuyển thành nhiều quả tốt

Chỉ việc cúng dường Bậc Nhân Trí

Sẽ thành diệu quả chứng Bồ-đề

Và thành Thiện Thệ, Thế Gian Giải

Tâm mình đã được nhiều lợi ích

Rồi lại vì người nói các pháp

Người được tự lợi, lợi chúng sinh

Như vậy tôn xưng Bậc Đại Trí

Muốn được tự lợi, lợi tất cả

Muốn chứng đạo quả để độ sinh.

Đối với Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng

Tâm phải phát sinh hạnh chánh tín

Nhờ tín tâm nên được quả báo

Tín hạnh được rộng lớn hoàn hảo

Thì được giới hạnh khó nghĩ bàn

Tức chứng Tối thắng Vô thượng đạo

Bố thí được quả Tối thắng này

Thấy được chân thật của thế giới.

Lại chứng đạo quả trí viên mãn

Thánh quả phải chánh kiến như vậy

Thấy được như vậy là chánh niệm

Trần lao phiền não đều tan biến,

Chứng được Vô úy đại Niết-bàn

Giải thoát các khổ ở thế gian

Như vậy các pháp được đầy đủ

Chư Thánh khen đây là tối thượng.

Sinh, già, bệnh, chết đều không còn

Buồn khổ biệt ly đều diệt sạch

Thập lực Thế Tôn khen lạc này

Sẽ đến nơi thường, không sinh tử.

Bấy giờ hai vị thương chủ Đế-lê-phú-sa và Bạt-lê-ca cùng các thương nhân đồng bạch Phật:

-Bạch đại Đức Thế Tôn, đoàn người chúng con đang trên đường về, cúi xin Thế Tôn vì chúng con chú nguyện an lành, để cho chúng con không gặp điều chướng ngại, sớm trở về nước mình.

Lúc ấy Đức Thế Tôn vì hai thương chủ và đoàn thương gia nói lời nguyện an lành bằng kệ:

Nguyện loài hai chân lợi lạc lớn

Cả loài bốn chân cũng bình an

Trên đường về quê nhiều điềm tốt

Đi đến các nơi đều như ý,

Ngày đêm đi, nghỉ được vừa lòng

Trong ngày ở đâu cũng nhiều lợi

Các nơi đều được theo ý nguyện

Thương chủ, thương nhân đều khỏe mạnh.

Muốn có giống tốt để sạ ruộng

Sạ rồi hy vọng thu hoạch nhiều

Tất cả thương nhân đi cầu lợi

Vào biển tìm ngọc thật gian nan

Các ông hy vọng nên lên đường

Sở nguyện được lợi mau thành tựu.

Ta nay thành đạo thật vui mừng

Nguyện ông đến đâu đều tốt đẹp

Tất cả tài lợi theo nhu cầu

Những gì ông muốn chóng vừa lòng

Tất cả các phương ông đi đến

Nguyện đều không có các tai ương.

Bấy giờ hai thương chủ đồng bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, xin Ngài cho chúng con một vật làm kỷ niệm, để khi về quê hương không còn thấy Thế Tôn, chúng con lấy vật này xây tháp, lễ bái để tỏ lòng thương nhớ Đại Thánh Thế Tôn. Chúng con tôn trọng cúng dường trọn đời.

Bấy giờ Đức Thế Tôn đem tóc, móng trên thân minh cho các thương chủ làm vật kỷ niệm và bảo họ:

-Này các thương chủ, móng tóc này Ta đem cho để các ông làm vật kỷ niệm, thấy vật này cũng như thấy Ta. Sau này sẽ có một tảng đá từ trên hư không rơi xuống nơi quê hương các ông. Nếu các ông thấy, phải xây tháp nơi đó tôn trọng cúng dường.

Khi ấy hai thương chủ Đế-lê-phú-sa và Bạt-lê-ca nhận tóc, móng nơi Đức Phật rồi thầm nghĩ: “Tóc, móng này là vật đào thải trên thân, không phải pháp thắng diệu, không nên đem tôn trọng cúng dường.”

Lúc ấy Đức Phật biết tâm niệm của các thương nhân nên bảo họ:

-Này các thương chủ, chớ nên có ý nghĩ như vậy! Ta nhớ thuở xưa trải qua vô lượng vô biên kiếp số không thể nghĩ bàn, có Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời hiệu là Nhiên Đăng Như Lai Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trong Tâm, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thuở ấy Ta là đồng tử Bà-la-môn thông suốt bốn bộ luận Tỳ-đà. Khi thấy Đức Thế Tôn đi vào thành Liên hoa, Ta đem năm cành hoa sen xanh rải trên Đức Phật, liền khi đó phát tâm Bồ-đề. Đức Thế Tôn Nhiên Đăng liền thọ ký cho Ta: “Này Đồng tử, ở đời vị lai trải qua số kiếp a-tăng-kỳ ông sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni Vô Thượng Chánh Đẳng Chanh Giác.”

Bấy giờ Ta lìa gia đình, cạo bỏ râu tóc xuất gia, ở trong pháp của Thế Tôn Nhiên Đăng. Sau khi Ta xuất gia, tất cả chư Thiên lấy hết tóc của Ta mà chia ra, cứ mười muôn chư Thiên thì được một sợi tóc cùng nhau đem về cùng cúng dường. Từ đó đến nay, Ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bằng Phật nhãn, Ta thấy các chúng sinh ấy không một ai không vào Niết-bàn. Ta lúc đó chưa thoát khỏi tham dục, sân si mà ngàn vạn ức vô lượng vô số chúng sinh cúng dường tóc của Ta vẫn còn chứng Niết-bàn.

Huống chi ngày nay, tất cả phiền não, tham, sân, si kết hoặc tất cả đều trừ diệt hết. Các ông vì lý do gì không hết lòng tôn trọng móng, tóc thanh tịnh không ô nhiễm này?

Hai thương chủ và các thương nhân nghe Đức Thế Tôn nói sự việc nhân duyên quá khứ liền đối với móng, tóc ấy sinh tâm hy hữu, hết sức tôn trọng cung kính, đảnh lễ đầu sát chân Phật, đi quanh Phật ba vòng rồi lui bước lên đường.

Có kệ nói:

Thương nhân các phương qua lối này

Thọ thần hay được bảo họ:

Đây có Thế Tôn được tự lợi

Các ông lễ cúng các thức ăn.

Đức Thế Tôn trải qua bốn mươi chín ngày không ăn uống, đầu tiên nhận vật thực nơi các thương nhân. Thế Tôn sau khi ăn xong, do nghiệp lực quá khứ nên thức ăn không tiêu, bỗng nhiên đau bụng. Lúc ấy, ở núi này có một Dược thần đem quả A-lê-lặc mới có, ngon ngọt vô cùng, đi đến chỗ Đức Phật, khi đến nơi đảnh lễ dưới chân Phật rồi lui về một bên, bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, nếu Ngài có đau bụng, trái A-lê-lặc vừa mới ra đầu tiên vô cùng ngon ngọt, con đem đến đây dâng cúng Thế Tôn. Nếu Ngài thấy hợp thời, xin vì con mà nhận quả A-lê-lặc này. Xin Ngài thương xót con mà dùng. Nếu Thế Tôn trong bụng có bệnh, sau khi ăn quả A-lê-lặc này rồi, bệnh liền hết.

Đức Thế Tôn vì thương xót vị Dược thần liền nhận quả A-lê-lặc. Nhận rồi, bảo thọ thần:

-Này Dược thần, hãy đến đây quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và thọ giới năm giới cấm, ông sẽ ở được nhiều điều an lạc lợi ích lớn lâu dài.

Dược thần nghe Đức Phật dạy, liền bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, tốt lắm! Con không trái lời Phật dạy.

Dược thần thọ ba pháp quy y và năm cấm giới.

Đương thời, trong tất cả Dược thần Thiên nữ được thọ Tam quy và Ngũ giới, làm vị Ưu-bà-di đầu tiên là vị Dược thần Thiên nữ ở chung quanh núi của các đại Dược thần.

Đức Thế Tôn nhận quả A-lê-lặc từ nơi thiên nữ Dược thần dâng cúng, Ngài ăn quả, còn hạt đem gieo xuống đất. Nhờ thần lực tự tại của Đức Phật, hạt A-lê-lặc nội trong ngày đó liền phát triển thành rễ. Thân, cây, cành, nhánh của đại thọ liền đâm chồi nảy lộc, ra hoa, kết quả, rồi thành quả chín. Bệnh đau bụng của Đức Thế Tôn cũng hết.

***

Phẩm 36: PHẠM THIÊN KHUYẾN THỈNH

Khi ấy Đức Thế Tôn rời khỏi rừng Sai-lê-ni-ca, chậm rãi trở lại dưới cội cây Bồ-đề. Lúc ấy trong nước có kẻ nam, người nữ bị bệnh nặng, gầy ốm, vàng võ, khốn khổ nằm trên giường, không thể chữa trị, khó qua khỏi. Những người này chẳng bao lâu nữa lâm chung, hơi thở chỉ còn thoi thóp, nên bị đưa vào thi lâm, coi như mai táng. Khi Bồ-tát còn tu khổ hạnh nơi rừng kia, cách cây Bồ-đề chẳng bao xa có một phụ nữ tên là La-sa-da vẫn chưa tắt thở mà gia quyến đem bỏ nằm trên đất. Người phụ nữ này trông thấy Bồ-tát ngồi dưới cây Bồ-đề tu khổ hạnh, nên sinh tâm rất tín kính, vì kính tín nên lấy áo trên mình để một bên, bạch Bồ-tát:

-Thưa Đại thánh Tôn giả, nếu Tôn giả tu khổ hạnh xong, vượt khỏi bờ biển phiền não đến bờ kia, tự nguyện đã đầy đủ, lúc ấy e thân Ngài không còn y phục. Xin Bồ-tát thương xót con, có thể thu nhận chiếc áo phấn tảo của con, tùy ý Ngài sử dụng.

Người phụ nữ ấy sau một thời gian ngắn thì qua đời, do đối với Bồ-tát sinh tâm chánh tín nên sau khi tắt thở, nhờ thiện căn này, thần thức sinh lên cõi trời Đao-lợi làm ngọc nữ có nhiều oai đức, mang thân chư Thiên, hào quang sáng rực, thần thông tự tại.

Sau khi sinh lên cõi trời, tự nghĩ: “Ta do nghiệp nhân gì mà ngày nay thành tựu báo thân này?” Vị ấy tư duy, biết đời trước của mình: Thuở xưa, khi ta còn ở nhân gian làm người phụ nữ, đem áo phấn tảo cúng dường Đức Thế Tôn, tùy ý Ngài sử dụng. Nhờ thiện nghiệp đó mà ngày nay ta được quả báo này. Vị ấy lại nghĩ: “Ngày nay Đức Thế Tôn chưa dùng áo phấn tảo ấy mà mình còn được phước báo, có sức thần thông như vậy, huống chi nếu Thế Tôn nhận dùng áo của ta thì chắc rằng sẽ vượt hơn quả báo này?”

Ngọc nữ thân phóng hào quang sáng rực, vào khoảng nửa đêm đi đến chỗ Đức Phật, hào quang chiếu sáng cả khu rừng, khi đến nơi, đảnh lễ sát chân Phật rồi lui về đứng một bên. Ngọc nữ bạch Phật:

-Lành thay! Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài thương xót con lấy chiếc áo phấn tảo, tùy ý sử dụng.

Đức Thế Tôn vì thương ngọc nữ nên nhận lấy chiếc áo phấn tảo. Như Lai nhận rồi, bảo ngọc nữ:

-Này ngọc nữ, người lại đây thọ ba pháp quy y: Phật, Pháp, Tăng và thọ năm giới cấm. Người sẽ ở thọ hưởng nhiều điều lợi ích an lạc lâu dài.

Thiên nữ nghe Đức Phật nói như vậy, bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn, con y lời Ngài dạy, không dám trái.

Ngọc nữ thọ Tam quy và Ngũ giới. Ngọc nữ thấy Đức Thế Tôn nhận dùng chiếc áo phân tảo của mình, nên rất vui mừng hớn hở, tràn ngập châu thân không thể tự chế. Sau đó, ngọc nữ đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng, ngay nơi đây ẩn thân biến mất.

Thuở ấy Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Ta nay đem chiếc áo phấn tảo này giặt ở đâu?” Vừa nghĩ như vậy, vua trời Đế Thích vì Đức Như Lai liền đi đến một khu rừng cách Như Lai không xa, biến ra một dòng sông nước trong trẻo không vẩn đục. Vua trời Đế Thích biến ra ba tảng đá lớn bên bờ sông: Tảng đá thứ nhất để Đức Như Lai ngồi, tảng đá thứ hai để giặt chiếc áo phấn tảo, tự tay Đế Thích tạt nước và tảng thứ ba để phơi khô chiếc áo sau khi đã giặt xong. Tảng đá phơi áo phấn táo này do oai thần của Đức Phật, sau đó bay lên hư không, hướng về xứ Bắc Ấn độ, hạ xuống chỗ ở của các thương chủ Đế-lê-phú-sa… để họ xây tháp cùng nhau cúng dường.

Sư Ma-ha Tăng-kỳ nói: “Cứ như vậy trải qua bốn mươi chín ngày”; hoặc lại có sư cho rằng việc này trải qua mười bốn ngày, hoặc có sư cho rằng việc này trải qua hai mươi mốt ngày, hoặc có sư cho rằng việc này trải qua hai mươi tám ngày, bảy ngày thứ nhất lắng tâm dưới gốc Bồ-đề, bảy ngày thứ hai lần lần đi đến tháp Mắt không nháy.

Bấy giờ Đức Thế Tôn từ tháp Mắt không nháy đứng dậy, rồi Ngài đi đến dưới cây La-xà-na. Đến dưới cây này, Đức Phật ngồi kiết già bảy ngày ở trong thiền định để thọ hưởng an lạc giải thoát.

Bấy giờ Đức Thế Tôn qua bảy ngày, ra khỏi Tam-muội, chánh niệm chánh tri. Khi ấy hai thương chủ Đế-lê-phú-sa và Bạt-lê-ca từ thành Ca-phu-tra lần lần đi đến chỗ Đức Phật. Đến chỗ Phật rồi, cho đến đi nhiễu ba vòng, từ biệt Đức Phật ra đi.

Bấy giờ Đức Thế Tôn từ dưới cây La-xà-na đứng dậy, chậm rãi đi dần về ngồi dưới cây Mục-chân-lân-đà. Cho đến nói kệ.

Bấy giờ trải qua bảy ngày, vào một buổi sớm mai Đức Thế Tôn đắp y, mang bình bát đi thẳng đến nhà chủ thôn Nan-đề-ca, khi đến nơi, Ngài đứng một bên, yên lặng để cầu vật thực. Cô gái, con vị chủ thôn khi thấy Đức Thế Tôn đứng yên lặng khất thực bên ngõ, thấy rồi nàng liền đến thỉnh bình bát từ trong tay Ngài, quay vào trong nhà đem đủ thức ăn trăm vị đựng trong bình bát rồi trở ra dâng cúng Đức Thế Tôn và bạch:

-Cúi xin Đức Thế Tôn thương xót con, nhận thức ăn này.

Đức Thế Tôn nhận thức ăn của nàng Thiện Sinh con chủ thôn, rồi bảo Thiện Sinh:

-Thiện Sinh, hãy lại đây thọ pháp Tam quy và Ngũ giới, người sẽ được nhiều sự an lạc lợi ích lâu dài.

Nàng Thiện Sinh nghe Đức Phật nói như vậy, bạch Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, con sẽ làm đúng như lời Thế Tôn dạy, không dám trái.

Nàng liền thọ Tam quy và Ngũ giới. Như vậy, nàng Thiện Sinh là người thọ Tam quy và Ngũ giới, làm vị Ưu-bà-di đầu tiên trong nhân loại. Đức Thế Tôn nhận vật thực từ nàng Thiện Sinh, con gái người chủ thôn, thọ thực xong, Ngài ngồi dưới cây Bồ-đề lại trải qua bảy ngày để thọ an lạc giải thoát.

Bấy giờ Đức Thế Tôn trải qua bảy ngày, ra khỏi Tam-muội, chánh niệm, chánh tri, rồi vào một buổi sáng Ngài đắp y, mang bình bát ung dung đi về hướng nhà Bà-la-môn Tư-da-na-đa. Đến nơi, Ngài đứng yên lặng một bên ngõ để khất thực. Thấy vậy, Tư-da-na-đa liền ra thỉnh bình bát từ nơi tay Thế Tôn, rồi trở vào trong nhà lấy đủ thứ canh thịt, thức ăn trăm vị đựng đầy trong bát, đem dâng cung cho Đức Phật, lại bạch:

-Cúi xin Đức Thế Tôn vì thương xót con nhận món ăn này.

Đức Thế Tôn nhận thức ăn từ nhà Tư-da-na-đa rồi bảo:

-Này Bà-la-môn, hãy đến đây thọ pháp Tam quy và Ngũ giới.

Vị Bà-la-môn nghe lời Đức Phật nói như vậy, y theo lời Đức Phật dạy mà thọ Tam quy và Ngũ giới.

Khi ấy Đức Thế Tôn nhận thức ăn từ nhà Bà-la-môn Tư-da-na- đa rồi ung dung trở về tháp Mạn-tha-na (nhà Tùy dịch là Giảo Lạc Mộc). Ăn xong, y như pháp, Ngài thâu cất y bát rồi trở lại dưới cây Bồ-đề ngồi kiết già trải qua bảy ngày… cho đến thọ an lạc giải thoát.

Bấy giờ Đức Thế Tôn trải qua bảy ngày, ra khỏi Tam-muội, chánh niệm, chánh tri, rồi vào một buổi sáng Ngài đắp y, mang bình bát dần dần đi hướng về bốn chị em thân quyến của Tư-da-na-đa. Bốn chị em này là: người thứ nhất tên là Bà-la (nhà Tùy dịch là Lực). Người thứ hai là Ma-để-bà-la (nhà Tùy dịch là Cực Lực). Người thứ ba tên Tung-đà-lê (nhà Tùy dịch là Đoan chánh nữ) và người thứ tư tên là Kiềm-bà-ca-lê (nhà Tùy dịch là Ngõa Sư). Khi Ngài đến nhà những người này rồi, đứng về một bên, im lặng khất thực. Bốn chị em thấy Đức Thế Tôn đứng yên lặng, liền ra thỉnh chiếc bát nơi Đức Thế Tôn rồi vào nhà lấy đủ các thứ canh thịt, thức ăn trăm vị, màu sắc tuyệt hảo đựng đầy trong bát, đem dâng lên Đức Phật, bạch:

-Cúi xin Đức Thế Tôn thương chúng con, nhận món ăn này.

Đức Thế Tôn vì lòng thương, nhận thức ăn trăm vị của bốn chị em. Nhận rồi, Ngài bảo bốn chị em:

-Chị em các ngươi lại đây, nhận nơi ta pháp Tam quy và Ngũ giới, các ngươi sẽ ở được an ổn, lợi ích lâu dài.

Bốn chị em nghe lời Phật dạy rồi liền bạch Phật:

-Y như lời Thế Tôn dạy, chúng con không dám trái ý.

Họ cùng nhau thọ pháp Tam quy và Ngũ giới.

Đức Thế Tôn đã thọ thức ăn của bốn chị em kia rồi, Ngài ung dung trở lại tháp Mạn-tha-na. Đến nơi, Ngài y như pháp thọ trai, rồi quay trở về ngồi dưới cây Bồ-đề trải qua bảy ngày thọ an lạc giải thoát.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn trải qua bảy ngày, ra khỏi Tam-muội, chánh niệm, chánh tri, rồi vào một buổi sáng Ngài đắp y, mang bình bát ung dung đi về phía cây Ni-câu-đà của người chăn dê trồng. Trên khoảng giữa đường đi từ cây Bồ-đề đến cây Ni-câu-đà, Ngài thấy có một người phụ nữ chăn trâu đang khuây lạc thành tô. Bấy giờ Thế Tôn từ từ đi đến bên người phụ nữ này. Khi đến cách người phụ nữ chẳng xa, Ngài đứng yên lặng khất thực. Người phụ nữ thấy Ngài đứng yên lặng chẳng xa, thấy rồi liền đến thỉnh bình bát, đem đựng đầy lạc dâng cúng Thế Tôn, bạch:

-Thưa Đại thánh Tôn giả, xin Ngài thương con, nhận món lạc này.

Đức Thế Tôn thọ nhận món lạc này nơi mục nữ và bảo:

-Này chị mục nữ, hãy đến đây thọ pháp Tam quy và Ngũ giới, người sẽ ở được nhiều lợi ích an lạc lớn lâu dài.

Lúc ấy mục nữ vâng lời dạy của Phật, thọ pháp Tam quy và Ngũ giới. Đức Thế Tôn tùy ý thọ thực, ăn xong, rửa bát rồi đi đến ngồi dưới gốc cây Ni-câu-đà của người chăn dê trồng, trải qua bảy ngày thọ hưởng an lạc giải thoát.

Bấy giờ Đức Thế Tôn sau khi trải qua bảy ngày, ra khỏi Tam-muội, chánh niệm, chánh định, lúc ấy bỗng có một Bà-la-môn dối nịnh tìm lỗi đi đến bên Đức Phật. Đến nơi, nói những lời hỏi thăm, rồi lui về đứng một bên, bạch Phật:

-Thưa Sa-môn Cù-đàm, tại sao gọi là Bà-la-môn? Bà-la-môn tu những pháp gì có bao nhiêu pháp?

Đức Như Lai biết rồi, liền phát ra tiếng Sư tử nói kệ:

Diệt trừ tất cả các nghiệp tội

Do vậy gọi là Bà-la-môn.

Tâm ý thanh tịnh, không dua nịnh

Trong ngoài chánh định, thường an trụ

Như pháp tu hành các phạm hạnh

Lời nói, ý nghĩ cũng như vậy

Đối với các nơi, đều không tham

Hiệu Bà-la-môn mới thành tựu.

Trong thời gian tám tuần, trong ba tuần đầu Ngài đều không ăn, năm tuần sau mới khất thực.

Thuở ấy Đức Thế Tôn an tọa trong Tam-muội tên là Biến quán thế gian. Khi đó Đức Thế Tôn dùng Phật nhãn Vô thượng quán sát thấy nơi thế gian: Hoặc có chúng sinh ra khỏi địa ngục rồi đọa vào địa ngực, hoặc có chúng sinh ra khỏi địa ngục rồi đọa làm thân súc sinh, hoặc có chúng sinh ra khỏi địa ngục đọa làm thân ngạ quỷ, hoặc có chúng sinh ra khỏi địa ngục sinh làm thân người, hoặc có chúng sinh ra khỏi địa ngục sinh làm thân chư Thiên.

Hoặc có chúng sinh ra khỏi súc sinh đọa làm thân địa ngục, hoặc có chúng sinh ra khỏi súc sinh lại sinh vào súc sinh, hoặc có chúng sinh ra khỏi súc sinh đọa làm thân ngạ quỷ, hoặc có chúng sinh ra khỏi súc sinh được sinh vào nhân gian, hoặc có chúng sinh ra khỏi súc sinh được sinh lên cõi trời.

Hoặc có chúng sinh ra khỏi ngạ quỷ đọa vào địa ngục, hoặc có chúng sinh ra khỏi ngạ quỷ lại đọa vào ngạ quỷ, hoặc có chúng sinh ra khỏi ngạ quỷ đọa vào súc sinh, hoặc có chúng sinh ra khỏi ngạ quỷ được sinh vào nhân gian, hoặc có chúng sinh ra khỏi ngạ quỷ được sinh lên các cõi trời.

Hoặc có chúng sinh ở nhân gian chết rồi đọa vào địa ngục, hoặc có chúng sinh ở nhân gian chết rồi đọa vào súc sinh, hoặc có chúng sinh ở nhân gian chết rồi đọa vào ngạ quỷ, hoặc có chúng sinh ở nhân gian chết rồi lại sinh vào nhân gian, hoặc có chúng sinh ở trong nhân gian chết rồi được sinh lên các cõi trời.

Hoặc có chúng sinh từ trên cõi trời đọa vào địa ngục, hoặc có chúng sinh từ trên cõi trời đọa vào súc sinh, hoặc có chúng sinh từ trên cõi trời đọa làm thân ngạ quỷ, hoặc có chúng sinh từ trên cõi trời sinh xuống trần gian, hoặc có chúng sinh chết ở cõi trời rồi sinh trở lại cõi trời.

Bấy giờ Đức Thế Tôn thấy các chúng sinh bị các kiến chấp trói buộc. Hoặc có chúng sinh bị lửa dục thiêu đốt thân thể, hoặc có chúng sinh bị lửa sân hận, hoặc lửa ngu si, thiêu đốt thân thể; hoặc có chúng sinh lệ thuộc ái dục, bị ái dục não hại lại sinh khoái lạc. Đối với tất cả phiền não khác như sân hận, ngu si cũng như vậy.

Đức Thế Tôn thấy các chúng sinh bị lửa ba độc thiêu đốt liền phát ra tiếng Sư tử rống:

-Các loại chúng sinh trong thế gian này bị cảnh giới nó ràng buộc, hăng say tạo các nghiệp nên có quả báo hình thể như vậy, thân chịu khổ não lớn, đắm trước các cánh nên phát sinh các tà ý. Tà ý luôn luôn tăng trưởng, do sự tăng trưởng đó tức thành cõi này là do chấp trước về hữu. Ở trong thế gian có các chúng sinh chấp trước về hữu, nên nghĩ đến cánh giới, liền sinh đến cảnh giới đó. Tất cả chúng sinh ở trong bao nhiêu cảnh giới, tức liền thọ khổ trong cảnh giới đó. Nếu chúng sinh nào diệt được các khổ đó, là nhờ tu học phạm hạnh trong pháp này. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn biết cái khổ đắm trước cảnh giới rồi biết cách ra khỏi cảnh giới.

Những hạng người này gọi là không đắm các cõi. Biết như vậy rồi có thể ra khỏi các cõi.

Ta nói như thế này: Nếu có các Sa-môn, Bà-la-môn dựa vào cảnh giới mà nói muốn thoát các cõi, tất cả hạng người này không được gọi là thoát khỏi các cõi.

Ta nói những người như vậy như đọa vào tà đạo gọi là chịu cảnh khổ lớn. Ta nói thế này: Xả bỏ tất cả tà đạo ở thế gian thì diệt hết tất cả nghiệp báo khổ quả, đã diệt hết các khổ rồi thì gọi là không có cảnh giới. Tất cả ngã kiến của chúng sinh ở thế gian đều do vô minh lừa dối, nên ưa đắm các cảnh giới. Đắm các cảnh giới rồi thì không thoát khỏi các khổ của cảnh giới ấy. Nếu có người đối với tất cả chỗ quán sát các cõi, đối với tất cả chỗ vẫn chưa xa lìa được cảnh giới, phải ở trong cảnh giới. Đã còn ở trong cảnh giới rồi thì gọi là vô thường, là khổ, là không thật. Đối với pháp không thật biết đúng như vậy, chánh trí như thật, cần phải quán biết.

Nếu ai chánh trí quán biết như vậy thì diệt sạch các cảnh giới và lòng tham ái cũng diệt sạch, đối với chỗ không có cảnh giới, cũng không sinh tâm niệm, như vậy được gọi là tịch diệt. Tỳ-kheo đã tịch diệt rồi, không còn sinh vào các cõi, không thọ thân đời sau, thì có thể đối với tất cả các trận chiến với ma, đều được đánh thắng và thu phục được ma quân, đối với tất cả mọi nơi đều được lợi ích lớn, đối với các cảnh giới không còn nghĩ tưởng.

Bấy giờ Đức Thế Tôn suy nghĩ: ‘Tháp mà Ta chứng được rất cao siêu, khó thấy, khó biết, giống như vi trần khó trông thấy, là nơi không thể nghĩ bàn, là đạo không thể suy nghĩ. Ta không có thầy, không phải người có trí tinh xảo dạy Ta chứng pháp ấy. Nhưng các chúng sinh vướng mắc trong dục ý A-la-da nghĩa là dục lạc của ý (nhà Tùy dịch trước xứ), thích sống trong dục ý này, họ ở trong dục ý ưa thích lệ thuộc. Do tâm tham đắm này, họ khó thấy được pháp của Ta. Pháp ấy gọi là mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên là pháp tương sinh, tất cả chúng sinh không thể hiểu pháp này được, chỉ có Phật mới biết. Lại đối với nhiều nghi khó trừ và tất cả tà kiến Ta đều diệt sạch không còn. Đối với chỗ ái nhiễm, Ta đều lìa ham muốn, được tịch diệt Niết-bàn. Ta tuy đem những pháp như vậy nói với họ thì những chúng sinh ấy cũng chưa có khả năng chứng pháp này. Ta có nói ra cũng uổng công vô ích!”

Lúc ấy Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy là vì những pháp này xưa chưa từng nghe, chưa từng đạt được từ người khác, chưa có người nói ra mà chỉ tự mình biết rõ.

Ngài liền nói kệ:

Ta đã cực nhọc chứng pháp này.

Không thể vội vàng tuyên dương được

Ái dục, sân si nó buộc ràng

Tất cả chúng sinh bị nạn ấy.

Tâm trí tinh tế, lại ngược dòng

Vì điều thấy được như vi trần

Kẻ tham dục lạc khó thấy biết

Vì bị vô minh phủ tối tăm.

Do Như Lai thấy pháp rất cao siêu như vậy nên Ngài muốn vui cảnh vắng lặng, không muốn nói cho chúng sinh nghe. Có kệ:

Thấy các chúng sinh phiền não nặng

Tà kiến, tà đạo, nhiều lỗi lầm

Các pháp giải thoát sâu xa, khó

Biết vậy, muốn ở nơi thanh vắng.

Bấy giờ chủ thế giới Ta-bà là Đại phạm Thiên vương đang ở cung Phạm thiên, từ xa biết được Thế Tôn có tâm niệm như vậy. Biết rồi, Phạm thiên liền nghĩ: “Tất cả chúng sinh trong thế giới này mất nhiều lợi ích, vì ngày nay Đức Như Lai Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đã chứng được pháp bảo như vậy, thành tựu hoàn hảo như vậy mà thế gian chưa hay biết, nhưng ý Ngài lại muốn vui cảnh thanh vắng, không muốn thuyết pháp!”

Khi ấy Phạm thiên vương trong thời gian ngắn như lực sĩ duỗi cánh tay, liền ẩn thân nơi cung trời Đại phạm, giáng xuống trước mặt Đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng về một bên, chắp tay hướng về Đức Phật mà bạch:

-Lành thay! Đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh ở nơi thế gian đều mất hết điều lợi ích lớn, không có chỗ nương tựa. Hiện nay, Thế Tôn đã thật chứng Pháp bảo Vô thượng. Đã chứng rồi, bỗng nhiên Ngài muốn vui cảnh thanh vắng, không thích thuyết pháp. Con xin khuyến thỉnh Thế Tôn vì các chúng sinh chớ trụ trong cảnh tịch tĩnh. Cúi xin Đức Thiện Thệ từ bi thuyết pháp. Hiện nay có nhiều chúng sinh ít trần cấu, thiện căn thuần thục, kết sử yếu kém, lợi căn, dễ giáo hóa, không được nghe pháp, tất nhiên bị tổn giảm. Nếu bây giờ được Đức Như Lai thuyết giáo pháp thì để họ chứng được pháp tướng của thế gian.

Bấy giờ Đại phạm Thiên vương, chủ thế giới Ta-bà, nói lời như vậy rồi, lại dùng kệ thỉnh Phật:

Thế Tôn đang ở nước Ma-già

Nói pháp nguyên nhân của chúng sinh

Trước mở cửa pháp diệu cam lộ

Sau theo thứ lớp nói tịnh pháp.

Như người không lên đảnh Tu-di

Làm sao thấy được toàn thế giới?

Đại Thánh đã thành đạo Bồ-đề

Mau lên pháp đường dùng mắt trí

Hướng dẫn đám mù lìa các khổ

Thương xót tất cả các chúng sinh,

Thế nên mau rời cội Bồ-đề

Du hành nhân gian tế độ khắp

Đã dược tự lợi hơn người, trời

Các khổ diệt sạch dược an lạc

Thiện căn chư Phật không tăng giảm

Chứng pháp thanh tịnh đến bờ kia

Thế gian không ai sánh bằng Phật

Huống chỉ muốn hơn làm gì có.

Ba cõi độc nhất xưng Thế Tôn

Tu-la chẳng phải là núi chúa

Thế gian đau khổ khởi từ bi

Nay Ngài không nên bỏ chúng sinh.

Đầy đủ năng lực không sợ hãi

Chỉ có Thế Tôn độ hàm linh

Chúng sinh từ lâu bị tên độc

Nghĩa là người, trời khắp thế gian

Gặp được Thế Tôn được nhổ khỏi

Nguyện vì họ làm chỗ quy y

Chư Thiên, nhân loại ở thế gian

Phát tâm muốn nghe pháp bí mật.

Nay Ngài thành tựu, họ cầu mong

Xin thuyết đừng để họ bị đọa.

Thế Tôn, theo như con biết được

Nếu nay chúng sinh biết pháp này

Nghe do người khác hay tự nghe

Liền đến Thế Tôn lễ sát chân.

Giả sử cha mẹ cùng nam nữ

Chết rồi xương rã, tóc phân tán

Mà chẳng sầu thấy mình qua đời

Và không khóc cho các người kia,

Họ chưa biết được Ngài thanh tịnh

Từ trời Đâu-suất giáng trần gian

Do vậy con nay thỉnh Thế Tôn.

Từ lâu lạc đường nay được hướng

Chẳng nghe chánh pháp vô lượng kiếp

Như người gầy ốm có được thịt

Như đất khô ran được tưới nước

Cúi xin Thế Tôn tuôn mưa pháp.

Pháp bảo, chư Phật đâu có tiếc

Chư Thánh ba đời ưa thí pháp

Chư Phật quá khứ nhập Niết-bàn

Không phải là không thuyết chánh pháp.

Tôn giả nay cũng dòng tối thượng

Độ khắp chúng sinh vô số lượng

Cùng Phật quá khứ không khác nhau

Ngày nay đứng lúc thuyết pháp lành

Mở mắt trong sáng cho nhân loại

Để cho họ thấy đường chân chánh

Rừng gai tà kiến Ngài xông pha

Chỉ bày đường thẳng lìa nguy hiểm

Đi trên đường này được cam lộ.

Thế Tôn, người mù sắp xa hố

Người khác cứu vớt đều không được

Chỉ Phật dẫn dắt mới an toàn

Lại dùng phương tiện dạy phát tâm

Nay đã đến lức nguyện chớ từ.

Nhiều kiếp mới gặp xin đừng hẹn

Như hoa Ưu-đàm lâu mới nở

Chư Phật xuất thế thật khó gặp

Bỗng nhiên nay gặp Đại Đạo Sư

Ngài có sức tinh tấn vô biên

Thân thể trang nghiêm đủ tướng tốt

Chưa dạy vì chưa người phát tâm.

Kim khẩu không nói lời sai khác

Pháp ấy ba đời Phật thành tựu

Do vậy hôm nay Ngài đã ngộ

Phát tâm tinh tấn để độ người

Phát nguyện đúng thời lời chân thật

Thế Tôn soi sáng diệt vô minh

Nguyện Phật sớm dựng cờ đại pháp

Tuyên dương chánh pháp thật hợp thời

Rống tiếng Sư tử như trống trời

Con nguyện Như Lai ngồi thuyền pháp

Vào đời hướng dẫn vô lượng chúng.

Thế Tôn qua khỏi biển phiền não

Chúng sinh chìm đắm cần ra khỏi

Như người gặp được kho của báu

Làm giàu kẻ khác mình không dùng

Thế Tôn đắc pháp kho vô tận

Nguyện vì chúng sinh thuyết rõ ràng.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nghe bài kệ khuyến thỉnh của Đại Phạm vương, vì chúng sinh khởi lòng từ bi, quán sát trong thế gian, dùng Phật nhãn quán sát rồi, thấy có chúng sinh sinh ra và lớn lên trong thế gian: Có kẻ thông minh, có kẻ đần độn. Những chúng sinh như vậy, có người dễ thành tựu đạo quả, có người thấy tất cả tội khổ đời vị lai, nên sợ sệt không dám phóng dật, thì ở đời vị lai cũng có thể thành đạo.

Ví như có ao sen xanh, ao sen hồng, ao sen trắng và ao sen trắng lớn, trong đó có các loại hoa: hoặc xanh, hoặc hồng, hoặc trắng, hoặc hoa trắng lớn, từ dưới đất mọc lên chưa ra khỏi nước còn chìm trong nước chưa xuất hiện, cần bốn đại hòa hợp nuôi dưỡng, rồi sau đó mới ngoi lên khỏi mặt nước. Hoặc có những hoa sen xanh, hoa sen trắng… lên ngang mặt nước. Hoặc có những hoa sen xanh, hoa sen trắng… nở vượt lên trên mặt nước, không còn dính nước.

Đức Thế Tôn dùng Phật nhãn quán sát tất cả chúng sinh trong thế gian cũng như vậy. Hoặc có chúng sinh sinh trong thế gian, lớn lên nơi thế gian: Hoặc có kẻ thông minh, hoặc có người đần độn, hoặc có kẻ dễ giáo hóa, hoặc có kẻ dễ đắc đạo… Ngài biết như vậy rồi, nói kệ với Phạm thiên vương:

Vua trời Đại phạm lắng nghe rõ

Ta đang sắp mở cửa cam lộ

Nếu có thính giả hoan hỷ đến

Chí tâm nghe Ta nói pháp mầu.

Khi Phạm vương nghe kệ rồi, suy nghĩ: “Đức Như Lai Thế Tôn sẽ thuyết pháp, muốn thuyết pháp! Đức Thế Tôn thương ta mà nhận lời thuyết pháp.” Vì việc này mà Phạm vương rất vui mừng hớn hở tràn ngập toàn thân không thể tự chế, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu ba vòng rồi biến mất.

Thuở ấy Đức Thế Tôn nghĩ: “Ta nên bắt đầu thuyết pháp ở đâu? Ai là người như ý của Ta? Biết được pháp thể của Ta để khi chứng rồi không làm phiền Ta?”

Khi ấy, Đức Thế Tôn nghĩ: “Người ấy là Ưu-đà-la Ca-la-ma tử, có tâm trí khôn lanh, biện giải thông minh, từ lâu đã thành tựu. Tâm tuy còn có ít trần cấu, các phiền não kết sử đã yếu kém, căn tánh thuần thục, trí tuệ mẫn tiệp. Ta nên đến gặp ưu-đà-la Ca-la-ma-tử, vì người này mà nói pháp đầu tiên. Giáo pháp Ta nói ra, người ấy có thể mau chứng ngộ.”

Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy rồi, khi ấy có một Thiên tử ở trên hư không, ẩn thân hướng đến nơi Đức Phật mà thưa:

-Bạch Thế Tôn, Ca-la-ma tử đã chết cách đây bảy ngày.

Trong tâm Thế Tôn thấy Ưu-đà-ma tử thật sự qua đời cách đây bảy ngày. Đức Thế Tôn lại nghĩ: “ưu-đà-ma-tử sau khi qua đời sẽ sinh vào cõi nào? Sẽ sinh lên cõi trời Phi phi tưởng.”

Khi ấy Đức Thế Tôn lại nghĩ: “Tuổi thọ chúng sinh cõi trời Phi phi tưởng được bao nhiêu?”, thì tâm Thế Tôn liền biết tuổi thọ chúng sinh cõi trời Phi phi tưởng là tám vạn bốn ngàn đại kiếp.

Khi ấy tâm Thế Tôn suy nghĩ: “Ưu-đà-la Ca-la-ma tử nay đang ở cõi trời Phi phi tưởng. Sau khi xả tuổi thọ này lại sinh cõi nào?” Đức Thế Tôn dùng tâm biết được ông ta sau khi mạng chung đọa vào cõi Ta-bà làm loài chồn bay, mà sau khi thọ thân chồn bay rồi, hoặc sống trên nước, hoặc sống trên đất liền, hoặc bay trên hư không, thường ở trong đó sát hại các loài chúng sinh, hoặc cùng với các loài chúng sinh ấy hành dâm dục, sau khi báo thân hết, đói khát mà chết.

Khi ấy Đức Thế Tôn lại suy nghĩ: “Không biết ưu-đà-la Ca-la-ma-tử sau khi bỏ báo thân loài chồn bay sẽ thọ sinh vào cảnh giới nào?.” Lúc ấy tâm Thế Tôn liền biết ưu-đà-la Ca-la-ma tử sau khi mạng chung, bỏ thân chồn bay sẽ sinh vào trong địa ngục.

Rồi trong tâm Đức Thế Tôn lại suy nghĩ: “Ôi thôi, ôi thôi! ưu-đà-la Ca-la-ma tử, người nay không còn thọ sắc thân, mất lợi ích lớn, không được thọ báo thân tốt đẹp tuyệt hảo ở thế gian nên người không nghe diệu pháp này. Nếu nghe được diệu pháp của Ta, ngươi sẽ mau chứng pháp ấy.”

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lại nghĩ: “Lần đầu tiên Ta nên vì ai thuyết pháp? Khi Ta thuyết pháp, họ không chống lại pháp của Ta, chẳng làm Ta phiền não mà mau chứng pháp Ta nói?”

Lúc ấy trong tâm Đức Thế Tôn tư duy biết thế này: “A-la-la Ca-la-ma từ lâu đã thành tựu trí tuệ hết sức khôn ngoan, tâm vi tế thông minh, ít cầu nhiễm, kết sử yếu kém, căn tánh lanh lợi. Ta nay đến nơi A-la-la Ca-la-ma thuyết pháp đầu tiên, nếu ông ta nghe được pháp này, quyết định sẽ mau chứng biết.”

Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy rồi, liền khi ấy có một Thiên tử ẩn thân đến nơi Thế Tôn bạch:

-Thưa Đức Thế Tôn, A-la-la Ca-la-ma vừa chết ngày hôm qua. Lúc ấy Đức Thế Tôn lại suy nghĩ: “Người dòng A-la-la sau khi từ bỏ xác thân cõi này, không biết sẽ sinh về nơi nào?”

Ngay Lúc ấy trong tâm Thế Tôn liền biết: “A-la-la sau khi mạng chung ở cõi này sẽ sinh về cõi Bất dụng xứ.”

Đức Thế Tôn lại thầm nghĩ: “Không biết chư Thiên cõi trời Bất dụng xứ thọ mạng dài ngắn thế nào?.” Lúc bấy giờ trong tâm Thế Tôn liền biết chư Thiên cõi trời Bất dụng xứ thọ mạng có giới hạn, thọ mạng ấy là sáu muôn ba ngàn đại kiếp.

Đức Thế Tôn lại nghĩ: “A-la-la sau khi ở cõi trời Bất dụng xứ mạng chung, lại sinh vào cõi nào?.” Lúc ấy Đức Thế Tôn lại biết: “A-la-la sau khi ở cõi trời Bất dụng xứ mạng chung sẽ sinh trở lại cõi Ta-bà này, làm vua tại vùng biên địa không biết chánh pháp.”

Đức Thế Tôn lại nghĩ thế này: “A-la-la sau khi làm vua cõi biên địa không biết chánh pháp mạng chung lại thọ sinh vào cõi nào?” Lúc ấy trong tâm Thế Tôn lại biết: “A-la-la làm vua cõi biên địa, sau khi mạng chung sẽ sinh vào đại địa ngục.”

Đức Thế Tôn lại suy nghĩ thế này: “Ôi thôi, ôi thôi! Người dòng họ Ca-la-ma không thọ thân người là một sự mất mát lớn, không được điều thiện lợi, vì không được nghe diệu pháp của Ta. Nếu người nghe được pháp này, liền sẽ mau chứng pháp ấy.

***

Phẩm 37: CHUYỂN DIỆU PHÁP LUÂN

Bấy giờ Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Trong thế gian có chúng sinh nào thân khẩu thanh tịnh ít trần cấu, các kết sử yếu kém, căn tánh thuần thục, trí tuệ lanh lợi? Khi Ta thuyết pháp đầu tiên không làm phiền não Ta, lại mau chứng pháp của Ta, để khỏi phí công Ta chuyển bánh xe pháp.”

Lúc ấy Đức Thế Tôn nghĩ: “Có năm vị Tiên nhân thuở trước cùng với Ta tu khổ hạnh, khi Ta tu khổ hạnh, họ phục vụ Ta, đem lại cho Ta nhiều điều lợi ích lớn. Họ đều là bậc ít trần cấu, các kết sử yếu kém, trí tuệ lanh lợi. Năm người này có thể lãnh thọ diệu pháp của Ta từ lần chuyển bánh xe pháp đầu tiên. Ta nay đến đó làm nơi thuyết pháp đầu tiên.”

Đức Thế Tôn lại nghĩ thế này: “Không biết năm vị Tiên nhân này ngày nay ở đâu?.” Liền khi Ấy, Đức Thế Tôn dùng Thiên nhãn thanh tịnh vượt hơn mắt người thường để quán sát, thấy năm vị Tiên nhân này đang sống trong vườn Nai, thuộc thành Ba-la-nại.

Bấy giờ Đức Thế Tôn ở lại chỗ cây Bồ-đề thời gian ngắn, định đi về hướng Ba-la-nại Có kệ:

Phật muốn thuyết pháp độ Ma-na

Đem tâm xem họ ở nơi nào ?

Mới biết mạng chung, sinh Thiên giới

Nhớ năm vị tiên, lần đến họ.

Bấy giờ Ma vương Ba-tuần thấy Đức Phật đứng dậy, sắp rời cây Bồ-đề, tâm rất khổ não, vội vã đến chỗ Đức Phật; đến nơi, bạch Phật:

-Lành thay! Thưa Thế Tôn, cúi xin Thế Tôn đừng rời khỏi nơi đây. Xin Ngài an tọa, chẳng nên di động. Thế Tôn ở nơi đây tùy ý hành động.

Đức Thế Tôn bảo Ma vương Ba-tuần:

-Này Ma vương Ba-tuần, ông không biết xấu hổ, không biết thẹn thùng. Trước kia ông muốn não hại Ta, lúc ấy Ta còn đầy đủ tham dục, sân hận, si mê, chưa dứt sạch, ông còn chưa não hại được, huống ngày nay Ta đã chứng quả Vô thượng Chí chân Bình đẳng Giác ngộ. Tất cả con đường tà Ta đã xa lìa, đã được chân chánh giải thoát.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ dưới cây Bồ-đề đứng dậy, ung dung chậm rãi đi về hướng thôn Chiên-đà-la (nhà Tùy dịch là Nghiêm Xí), rồi từ thôn Chiên-đà-la Ngài đi đến làng Thuần-bà-tư-di-la. Trên đường đi, Ngài gặp một khất sĩ Bà-la-môn tên là Ưu-ba-dà-ma (nhà Tùy dịch là Lai Sự), đi ngược chiều gặp nhau. Vị khất sĩ Bà-la-môn thấy Bà-la-môn Đức Phật liền thưa:

-Bạch Nhân giả Cù-đàm, thân Ngài da dẻ hết sức sạch sẽ, tốt đẹp, không có cáu bẩn, diện mạo nhân giả tròn đầy, cực kỳ trang nghiêm, các căn tịch định. Thưa Nhân giả Cù-đàm, thầy của Ngài là ai? Ngài theo ai cầu xuất gia? Làm Ngài vui thích đó là pháp gì?

Bấy giờ Đức Thế Tôn vừa đi vừa dùng kệ đáp lời hỏi của vị khất sĩ Bà-la-môn:

Ta đã thu phục pháp thế gian

Thành tựu đầy đủ tất cả trí

Ở trong các pháp, không dính mắc

Thoát hẳn tất cả lưới khát ái

Hay vì kẻ khác nói thần thông

Do vậy gọi là Nhất Thiết Trí.

Ta nay đáng nhận thế gian cúng

Vô thượng Tối tôn Đấng Tự Tại

Tất cả người trời trong thế giới

Chỉ Ta thu phục các ma quân.

Ta không có thầy dạy giác ngộ

Thế gian không có ai sánh bằng

Tất cả trời, người, Ta độc nhất

Thân tâm thanh tịnh, đại giải thoát,

Tất cả thần thông đều thông đạt

Những điều đáng chứng đã chứng xong

Những nơi cần đến, Ta đã đến.

Cho nên xưng Ta: Thế Tôn thượng.

Giống như sen trắng nơi đầm nước

Hoa sen tuy mọc ở trong đầm

Nhưng chẳng bao giờ hoa dính nước

Ta ở thế gian cũng như vậy

Không bị thế gian làm ô nhiễm

Nên gọi Ta là Bậc Giác Ngộ.

Lúc bấy giờ Bà-la-môn ưu-ba-dà-ma lại bạch Phật:

-Thưa Trưởng lão Cù-đàm, Ngài đang đi về đâu?

Đức Thế Tôn đáp:

-Ta nay sắp đi về nước Ba-Ia-nại. Bà-la-môn lại hỏi:

-Thưa Trưởng lão Cù-đàm, Nhân giả đến đó để làm gì?

Đức Thế Tôn lại dùng kệ đáp lời Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma:

Ta đang sắp chuyển diệu pháp luân

Do đó đến nước Ba-la-nại

Khiến kẻ mắt mù đều được sáng

Mở cửa đánh vang trống cam lộ.

Lúc bấy giờ Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma lại bạch Đức Phật:

-Theo như ý của tôi, Trưởng lão Cù-đàm tự xưng đã chứng A-la-hán, dẹp tan các phiền não, nghĩa ấy như thế nào?

Đức Thế Tôn lại dùng kệ đáp Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma:

Cần phải biết Ta dẹp các oán

Tất cả các lậu đều dứt sạch

Pháp ác thế gian đều diệt sạch

Nên Ta được xưng Chân Chánh Tôn.

Lại có kệ:

Cớ gì được lợi tự nuôi mình

Không làm ích lợi cho kẻ khác?

Thấy kẻ mù lòa không thương xót

Được đạo hơn người cùng sử dụng

Mình vượt lên bờ, thấy kẻ đuối

Nếu không cứu vớt chẳng người thiện

Mình được kho tàng thấy người khổ

Mà không bố thí đâu người trí

Trong tay có sẵn thuốc cam lộ

Thấy người mắc bệnh không chữa trị

Đồng hoang đáng sợ được đường đi

Thấy kẻ lạc đường nên hướng dẫn.

Như chốn tối tăm làm đèn sáng

Sáng cả, tâm Ta nào keo kiết

Phật thuyết ánh sáng cũng như vậy

Với sự việc này không chấp trước.

Bấy giờ khất sĩ Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma nói lớn:

-Thôi, Trưởng lão Cù-đàm!

Ông ta đập tay vào đùi, vế, tránh Đức Phật, rẽ xuống bên đường đi về hướng Đông.

Bấy giờ, ở nơi đó có một Thiên thần thuở xưa là bạn thân của Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma từng sống bên nhau. Thiên thần muốn khất sĩ Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma làm điều lợi ích, được sự lợi ích, được sự an lạc, giải thoát không còn sợ sệt, nên dùng kệ khuyên Bà-la-môn Ưu-ba-dà-ma:

Nay gặp Vô thượng Thầy trời người

Không biết Thế Tôn chí chân giác

Lõa thân tà kiến muốn đi đâu?

Ông sẽ bị khổ nạn gần kề.

Gặp Ngài Điều Ngự Sư như vậy

Bỏ đi chẳng phát tâm cúng dường

Tay chân cho ông công đức gì?

Hãy phát tín tâm cung kính Phật.

Bấy giờ Đức Thế Tôn từ Châu Lang Na-sa-đà-la (nhà Tùy dịch là Vô Dốc Chùy) ung dung hướng về xóm Ca-lan-na-phú-la (nhà Tùy dịch là Nhĩ Thành), rồi từ xóm Ca-lan-na-phú-la chậm rãi đi về làng Sa-la-di (nhà Tùy dịch là Ngự Thành), rồi từ làng Sa-la-di ung dung đi về làng Lô-ê-đa-kha-tô-đâu (nhà Tùy dịch là Bế Tắc thành), rồi từ thành Bế Tắc hướng về sông Hằng. Khi đến bờ sông rồi, Ngài hướng về người lái đò. Đến nơi, Ngài nói với người lái đò:

-Lành thay, nhân giả! Xin người giúp cho tôi sang bên kia sông.

Người lái đò nói:

-Xin Ngài cho tiền đò, rồi sau đó tôi sẽ đưa Tôn giả qua sông.

Đức Thế Tôn nói với người lái đò:

-Ta nay không có gì để đưa tiền đò, vì Ta đã bỏ tất cả của báu, dù cho có thấy nó, Ta xem giống như sỏi, đá, đất cát. Dù có người cắt lấy một tay của Ta và ngược lại có kẻ khác đem bột thơm chiên-đàn thoa trên tay Ta, tâm Ta đối với hai người này ngang nhau. Do vậy, Ta không có của để trả tiền đò cho ngươi.

Người lái đò lại nói:

-Thưa Tôn giả, nếu Ngài cho tiền đò, thì tôi liền đưa Ngài qua sông. Vì sao? Vì tôi chỉ nhờ vào nghề này để sinh sống và nuôi lấy vợ con.

Bấy giờ Đức Thế Tôn dùng Thiên nhãn vượt mắt người thường, thấy một bầy nhạn năm trăm con bay trên hư không, từ bờ phía Nam sông Hằng hướng về phía Bắc. Thế Tôn thấy rồi, liền nói với người lái đò nói kệ:

Bầy nhạn bay qua khỏi sông Hằng

Nào từng hỏi giá người lái đò?

Mỗi thân chim nhạn tung sức mình

Bay trên hư không tùy ý đến

Ta nay cần phải dùng thần thông

Bay lên hư không như chim nhạn

Qua đến phía Nam bờ sông Hằng

An ổn đứng vững như Tu-di.

Khi ấy người lái đò thấy Đức Phật qua khỏi sông, hết sức ăn năn hối hận, nghĩ thế này: “Ôi thôi! Ôi thôi! Ta gặp được ruộng phước Bậc Đại Thánh mà không biết đưa qua sông để cúng dường. Ôi thôi! Ôi thôi! Ta mất điều lợi ích lớn!.” Nghĩ như vậy rồi, ông ta ngã nhào trên đất chết giấc.

Người lái đò hôn mê một giây lâu rồi tỉnh lại, đứng dậy, vội chạy đốn chỗ vua Tần-đầu, là lãnh chúa nước Ma-kiệt-đà, tâu lên sự việc này. Vua Tần-đầu-sa-la, nước Ma-kiệt-đà nghe việc như vậy rồi liền nói:

-Khanh là kẻ phàm phu làm sao biết người nào có thần thông, người nào không thần thông! Do vậy, từ nay về sau hễ tất cả người xuất gia đến bến muốn qua đò, khanh không được hỏi phải quấy. Hễ có ai đến, chớ nên lấy tiền đò, tùy ý họ muốn qua thì chở họ qua.

Khi Đức Thế Tôn bay qua sông Hằng, đến bờ bên kia rồi, lại dùng thần thông bay từ bờ sông về thành Ba-la-nại. Thuở ấy thành này có một ao nước, dưới ao này có một con rồng, Long vương này tên là Thương Khư (nhà Tùy dịch là Loa). Thế Tôn bay đến, hạ xuống bên ao. Nơi bàn chân Đức Phật hạ xuống, sau này Long vương xây một ngôi tháp tên là Di-trì-già (nhà Tùy dịch là Thổ Tháp). Đức Như Lai trải qua ở đây một đêm, chờ đến giờ khất thực ngày hôm sau. Ở chỗ chờ này về sau có xây một ngôi tháp đặt tên là Tháp Chờ qua một đêm.

Có kệ:

Chư Phật ban đêm không vào làng

Chờ đúng giờ ăn mới khất thực

Đi không đúng lúc bị họa lớn

Chúng Thánh làm việc phải hợp thời.

Bấy giờ Đức Thế Tôn y theo pháp khất thực, giờ ăn nước Ma-kiệt-đà sắp đến, Ngài đi vào cửa Tây thành Ba-la-nại, ở trong thành theo thứ tự khất thực. Khất thực xong, theo cửa Đông ra khỏi thành. Ra khỏi thành, Ngài tiến đến bờ sông, ngồi ngay ngắn mà ăn. Ăn xong, Ngài tắm rửa rồi hướng mặt về phương Bắc chậm rãi đi đến rừng Nai.

Có kệ:

Vườn Nai chim thú cất tiếng kêu

Là nơi chư Thánh đời trước ở

Thế Tôn thân phóng hào quang sáng

Tiến đến rừng Nai như mặt nhật.

Năm vị Tiên nhân từ xa trông thấy Đức Thế Tôn tiến dần đến chỗ mình, cùng nhau bàn bạc cam kết:

-Này các Trưởng lão, kẻ đến kia là Sa-môn Cù-đàm dòng họ Thích, sắp đến chỗ chúng ta. Đây là người giải đãi đánh mất thiền định, toàn thân bị ràng buộc nên chúng ta không cung kính người, không lễ bái người, không tiếp rước người, không bố trí chỗ ngồi cho người ấy. Tuy nhiên vẫn để tùy ý muốn ông ta, ngồi đâu tự ý.

Chỉ riêng Kiều-trần-như, tâm không chịu cam kết như vậy, nhưng không tỏ lời phán kháng. Họ cùng nhau nói kệ:

Cù-đàm, giải đãi nay bỗng đến

Năm tiên chúng ta đều nhất trí

Hoàn toàn không kính, không lễ bái

Người trái lời thề, không nên tiếp.

Bấy giờ Đức Thế Tôn tiến đến chỗ năm vị tiên. Khi Ngài đến gần, các Tiên nhân không thể ngồi yên, không thể giữ được lời thề, tự nhiên muốn đứng dậy, như chim Xà-câu-ni ở trong lồng sắt, mà bên ngoài có người đốt lửa dữ dội. Vì lưới nóng, chim không thể đứng yên, muốn bay muốn chạy. Năm vị Tiên nhân giống như vậy, thấy Đức Thế Tôn, bỗng nhiên hoảng hốt, từ chỗ ngồi đứng dậy. Khi ấy, năm vị Tiên nhân này, có người trải tòa ngồi, có người mang nước đến để Phật rửa chân, có kẻ mang đá rửa chân và dép da đến, có người bưng bồn đầy nước đến, hoặc sau khi Đức Phật rửa chân rồi, đem ván đến để lót chân, hoặc có người tiếp lấy ba y và bình bát, cùng xướng lên:

-Lành thay, Trưởng lão Cù-đàm đến! Mời Ngài ngồi trên tòa này.

Có kệ:

Hoặc người tiếp bát và ba y

Hoặc lại đảnh lễ dưới chân Phật

Hoặc người sửa soạn trải tòa ngồi

Hoặc đem bình nước và bình rửa.

Lúc ấy Đức Thế Tôn ung dung an tọa trên tòa đã bày sẵn. Thế Tôn ngồi xong, suy nghĩ: “Những người này đều là kẻ ngu si, đều phát lời thề như vậy, rồi tự trái lại, không giữ lời.”

Khi thấy Đức Thế Tôn ngồi rồi năm vị Tiên nhân, bạch Phật: -Thưa Trưởng lão Cù-đàm, thân thể sắc da của Ngài tươi sáng

thanh tịnh, khuôn mặt tròn đầy, quang minh rực rỡ, các căn tịch định. Chắc có lẽ Trưởng lão Cù-đàm gặp được pháp cam lộ tuyệt hảo, hay chứng được Thánh đạo cam lộ thanh tịnh?

Khi ấy Đức Thê Tôn liền bảo năm vị Tiên nhân:

-Này các Tiên nhân, chẳng nên gọi Như Lai là Trưởng lão. Tại sao như vậy? Tiên nhân các ông ở tương lai sẽ gặp nhiều đau khổ lâu dài. Vì sao? Vì Ta đã chứng pháp cam lộ. Ta đã chứng đạo cam lộ. Các ông theo điều Ta dạy, các ông nghe điều Ta nói. Ta sẽ chỉ dạy các ông, các ông nghe lời Ta nói, không được trái lại. Nếu nghe lời Ta dạy thì sống thanh tịnh. Nếu có kẻ thiện nam và tín nữ nào y theo lời Ta dạy, chánh tín xuất gia, xa lìa gia đình, cạo bỏ râu tóc, chí cầu phạm hạnh vô thượng, phạm hạnh trọn vẹn thì hiện tại thấy được các pháp, thần thông tự tại, chứng được các hạnh, tự xướng lên: “Ta nay đã đoạn sinh tử, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn thọ thân đời sau.” Các ông phải biết như vậy.

Có kệ:

Năm vị tiên gọi họ của Phật

Thế Tôn ban ân thương họ dạy:

Các ông chớ có ý kiêu căng

Dẹp bỏ ngã mạn, cung kính Ta

Ngã mạn hay không, Ta bình đẳng

Ta muốn chuyển hóa nghiệp các ông

Ta nay thành Phật, hiệu Thế Tôn

Vì các chúng sinh làm lợi ích.

Đức Thế Tôn nói kệ rồi, năm vị Tiên nhân bạch Phật:

-Ngày xưa Trưởng lão Cù-đàm tu hạnh này, cầu đạo này, hành khổ hạnh như vậy mà chưa chứng pháp Thượng nhân, chẳng đồng tri kiến với các bậc Thánh nhân; huống chi ngày nay Ngài giải đãi, đánh mất thiền định, giải đãi buộc chặt lấy thân.

Đức Thế Tôn lại quở trách năm vị Tiên nhân:

-Các ông đã thành Tiên nhân, chớ nói lời như vậy! Như Lai chẳng phải giải đãi, chẳng phải mất thiền định. Ta chẳng phải bị giải đãi trói buộc. Này cấc Tiên nhân, Ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta đã chứng pháp cam lộ. Ta đã được đạo cam lộ. Này năm vị Tiên nhân, các ông nên nhận lời dạy của Ta, nghe pháp của Ta. Này các ông, nếu các ông chịu nghe lời dạy của Ta, Ta sẽ chỉ dạy các ông. Các ông y theo giáo pháp của Ta, chớ nên chống trái, thực hành giáo pháp ấy thì tương lai các ông khỏi thọ thân đời sau.

Năm vị Tiên nhân lại bạch:

-Thưa Trưởng lão Cù-đàm, ngày xưa Ngài tu hành như vậy, cầu đạo như vậy, hành khổ hạnh như vậy mà không chứng pháp Vô thượng, chẳng đồng trì kiến với các bậc Thánh nhân. Cho đến hôm nay bị giải đãi ràng buộc lấy thân!

Bấy giờ, Thế Tôn lần thứ ba bảo năm vị Tiên nhân:

-Này các Tiên nhân, các ông hãy nhớ lại thuở trước, Ta đã từng nói lời dối gạt các ông chưa?

Năm vị Tiên nhân trả lời:

-Thưa Tôn giả, Ngài chưa từng nói dối.

Lúc ấy Đức Thế Tôn đưa lưỡi ra khỏi miệng, đụng đến hai lỗ tai, đến hai lỗ mũi. Chiếc lưỡi phủ kín hai lỗ mũi, rồi dùng lưỡi tự liếm lấy mặt, lại phủ cả mặt. Sau khi phủ mặt rồi, lưỡi thu về vị trí cũ. Sau khi lưỡi đã trở về trạng thái bình thường như cũ rồi, Đức Phật lại bảo năm vị Tiên nhân:

-Này các Tiên nhân, mắt của các ông đã từng thấy, hoặc tai của các ông đã từng nghe: Người vọng ngữ mà có chiếc lưỡi thần thông như vậy không?

Năm vị Tiên nhân đáp:

-Thưa Tôn giả, không có như vậy.

Đức Phật dạy:

-Vì vậy các ông không nên cho Như Lai là giải đãi, Như Lai cũng không mất thiền định, Ta cũng không bị giải đãi ràng buộc. Này các Tiên nhân phải biết: Ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đã chứng pháp cam lộ, đã biết đạo cam lộ, các ông nên thọ lãnh giáo pháp của Ta chỉ dạy. Nghe giáo pháp của Ta, các ông phải y vào pháp ấy mà tư hành không trái giáo pháp của Ta. Nếu có thiện nam tín nữ nào muốn xả tục xua\ất gia… thì không còn thọ thân đời sau nữa.

Khi Đức Thế Tôn dạy bảo các vị Tiên nhân bằng những lời như trên thì tất cả y phục, hình thức của ngoại đạo, ý nghĩ của ngoại đạo và những gì của ngoại đạo của các vị ấy chất chứa đều bị tiêu diệt hết. Đồng thời y phục trên thân của năm vị Tiên nhân biến đổi thành pháp y, tay bưng bình bát, râu tóc tự nhiên rụng sạch giống như vừa mới cạo cách đây bảy ngày, đầy đủ oai nghi, hình dung giống như vị Tỳ-kheo một trăm hạ. Mọi cử chỉ, oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi đều theo đúng pháp.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, tùy theo sức của mỗi người, hãy quán sát phương Đông.

Khi ấy các Tỳ-kheo muốn quán sát phương Đông, mà ngược lại liền thấy phương Tây.

Biết tâm họ, Đức Thế Tôn lại bảo:

-Này các Tỳ-kheo, tùy theo sức của mỗi người, hãy quán sát phương Tây.

Khi ấy các Tỳ-kheo muốn quan sát phương Tây, lại thấy phương Bắc.

Đức Thế Tôn lại bảo:

-Này các Tỳ-kheo, hãy quán sát phương Bắc.

Các Tỳ-kheo muốn quán sát phương Bắc mà ngược lại liền thấy phương Nam.

Đức Thế Tôn lại bảo:

-Này các Tỳ-kheo, hãy quán sát phương Nam.

Các Tỳ-kheo liền thấy phương Bắc.

Đức Thế Tôn lại bảo:

-Này các Tỳ-kheo, các ông hãy quán sát phương trên.

Các Tỳ-kheo liền thấy phương dưới.

Đức Phật lại bảo:

-Này các Tỳ-kheo, các ông hãy quán sát phương dưới.

Ngược lại, họ liền thấy phương trên.

Đức Thế Tôn liền bảo các Tỳ-kheo:

-Các ông cũng tùy sức mình, quán sát các phương.

Các Tỳ-kheo muốn quán sát các phương, ngược lại liền thầy phương chính giữa.

Đức Thế Tôn liền bảo các Tỳ-kheo:

-Các Ông hãy quán sát phương chính giữa.

Các Tỳ-kheo muốn quán sát phương chính giữa, ngược lại, liền thấy các phương khác.

Đức Thế Tôn đem lời dạy bảo năm vị Tỳ-kheo, khiến tất cả đều được hoan hỷ, khiến họ tùy thuận, chứng được chân lý, hết sức vui mừng.

Khi ấy năm vị Tỳ-kheo tâm đã được khai ngộ, luôn luôn theo bên Thế Tôn để học hỏi, lắng nghe lời Thế Tôn chỉ dạy, tùy thuận ý Thế Tôn, không còn chống trái, chăm chú lắng nghe lời Thế Tôn, hầu hạ bên mình, không chút xa cách.

Bấy giờ Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Không biết chư Phật Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ ở tại nơi nào thuyết vô thượng vi diệu pháp?” Ngay khi Đức Thế Tôn nghĩ như vậy, vùng đất ở nơi đây bỗng nhiên nổi cao lên khác hẳn các vùng khác.

Đức Thế Tôn lại nghĩ: “Không biết chư Phật Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ thuyết vô thượng diệu pháp dưới hình thức nằm hay ngồi?” Khi Đức Thế Tôn nghĩ như vậy, thì ở nơi đấy hiện năm trăm tòa Sư tử cao rộng. Đức Thế Tôn thấy năm trăm tòa này sinh tâm cung kính. Do Đức Thế Tôn cung kính chư Phật thời quá khứ, nên nhiễu quanh ba vòng, khi nhiễu quanh tòa thứ ba rồi, đến tòa thứ tư Ngài liền lên ngồi kiết già trên đó, giống như sư tử không kinh động sợ hãi.

Khi ấy năm vị Tỳ-kheo Kiều-trần-như… liền bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn, hy hữu thay! Không biết hôm nay có bao nhiêu Đức Thế Tôn đồng đến thuyết pháp mà có số tòa cao như vậy!

Đức Phật liền bảo năm vị Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, nay các thầy phải biết trong hiền kiếp này có năm trăm Đức Phật xuất hiện ở đời, ba Đức Phật qua rồi đã nhập Niết-bàn, nay Ta là Đức Phật thứ tư xuất thế, còn bao nhiêu vị nữa tiếp tục ra đời.

Bấy giờ Đức Phật suy nghĩ: “Không biết chư Phật Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ thuyết pháp bằng cách chuyển Kim luân, hay Ngân luân, hay Pha lê luân, hay Lưu ly luân, hay Xích châu luân, hay Mã não luân, hay Xa cừ luân, hay Hổ phách luân, hay San hô luân, hay Thất bảo luân, hay Mộc luân?”

Liền khi đó, trong tâm Như Lai tự biết chư Phật Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ căn cứ vào bốn chân lý và mười hai nhân duyên theo thứ lớp chuyển ba lần pháp luân vô thượng, mà trong thế gian, không có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc Trời, hoặc Người, hoặc Ma, hoặc Phạm thiên hay một chúng sinh nào có thể chuyển pháp luân không sợ sệt, được tự tại như vậy.

Thuở ấy vào ngày mười hai trong mười lăm ngày đầu thuộc tháng sao Ky, khi mặt trời lên cao quá nửa bóng người, lúc ấy gọi là Tỳ-xa-da (nhà Tùy dịch là Nan Thắng), Đức Thế Tôn ngồi mặt hướng về phương Bắc, nhằm giờ sao Quỷ và sao Phòng, Ngài chuyển vô thượng thanh tịnh diệu pháp luân, mà tất cả các hàng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên ở trong thế gian không thể thuyết được pháp luân như vậy. Lấy ngày sao Phòng thuyết pháp, thuyết pháp thì không có chướng ngại, theo thế tục nên lấy ngày này.

Đức Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo, những âm thanh mà Như Lai nói ra đều là khéo dạy bảo khéo an ủi giáo hóa mà không khuyết điểm; lời dạy cung kính không trắc ẩn, không dua nịnh, không hoa mỹ mà cũng không thô lỗ, không ủy mị, không cộc cằn; lời nói hòa nhã êm dịu khiến người nghe pháp sinh thiện nghiệp; lời nói không nhanh không chậm; lời nói không ngăn ngại chân chánh vi diệu; khéo léo rõ ràng, lưu loát trôi chảy làm vừa lòng người. Lời nói không cấu trược, không bị phá hoại; không ai sánh bằng, lời nói thanh tịnh không ô nhiễm, từ xưa đến nay thường hỷ xả không hẹp hòi; không sai lầm; lời nói không câu chấp, trong sáng khoan dung; lời nói không vụng về lắp bắp; lời nói không yếu hèn có công năng làm chúng sinh sinh tâm an lạc, lời nói làm tất cả thân chúng sinh cảm thấy tươi mát; lời nói có năng lực đoạn tâm ái dục, sân nhuế, ngu si của tất cả chúng sinh, lời nói có công năng thu phục các ma, hay phá các tội, thu phục tất cả ngoại đạo. Âm thanh của Đức Thế Tôn có năng lực giáo hóa chúng sinh. Tiếng nói của Đức Phật giống như tiếng trống, tiếng Phạm thiên, tiếng chim Ca-lăng-tần-già, tiếng Đế Thích, tiếng hải triều âm, tiếng động đất, tiếng núi Côn lôn, tiếng chim Khổng tước, tiếng chim Câu-sí-la, tiếng chim Mạng mạng, tiếng Nhạn chúa, tiếng chim Hạc, tiếng Sư tử chúa loài mãnh thú. Tiếng Phật giống như tiếng các nhạc cụ không hầu, tỳ bà, đàn tranh, sáo…

Ai nghe được lời chỉ dạy rõ ràng của Đức Phật, đều hoan hỷ ưa thích muốn nghe.

Lời nói của Đức Phật vi diệu thậm thâm không một chút khuyết điểm, làm cho chúng sinh phát khởi căn lành, người nghe đều được lợi ích; lời nói của Phật văn nghĩa rõ ràng, câu văn sáng sủa, nghĩa lý thâm thúy, là pháp tạng chân thật; lời nói hợp thời tiết, hợp căn cơ, không trao lời không đúng lúc, biết căn tánh chúng sinh, câu văn thuận pháp, dùng các pháp bố thí để trang nghiêm, trì giới thanh tịnh, chịu đựng nhẫn nhục, tinh tấn dũng mãnh, các thiền tịch định, thần thông phân tấn, trí tuệ phân biệt các pháp thiện ác thế gian, lòng từ thành tựu an lạc, lòng bi không thấy mệt nhọc, xa lìa hoan hỷ xả ly, thành lập Tam thừa, nối truyền Tam bảo, phân biệt ba tụ, ba cửa giải thoát thanh tịnh, lời răn dạy chân thật vô lượng vô biên, kẻ trí vui mừng, Thánh nhân vừa ý, giống như hư không ở khắp bao gồm tất cả.

Đức Thế Tôn dùng tiếng nói như vậy bảo năm vị Tỳ-kheo:

-Này các thầy, Tỳ-kheo xuất gia luôn luôn phải xả bỏ hai việc thế gian. Hai việc xả bỏ đó là gì?

Điều xả bỏ thứ nhất là hưởng thọ dục lạc. Phàm ở nơi xóm làng thọ hưởng dục lạc, đó là điều phàm phu ca ngợi. Điều này người xuất gia phải xa lìa.

Điều xả bỏ thứ hai là gây khổ cho thân mình, chịu các khổ đau, không phải là điều Thánh nhân ca ngợi, đối với mình không lợi, đối với người không ích. Đây là điều người xuất gia phải xa lìa.

Rồi Đức Phật nói kệ:

Mau tránh xa nơi tổn hại thân

Cảnh giới các căn phải loại trừ

Nếu xa lìa được hai pháp ấy

Liền chứng Thánh đạo thật cam lộ.

Lúc ấy Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-Các thầy phải biết, Ta đã bỏ cái chấp hai bên như vậy, có một Trung đạo mà Ta đã chứng, nên được mở con mắt tuệ, được sinh chánh trí, được tịch tịnh, được các thần thông, được giác ngộ, được quả Sa-môn, được Niết-bàn nên được thành tựu.

Này các thầy Tỳ-kheo, nếu các thầy muốn biết pháp Trung đạo ra ngoài các cõi, như Ta đã chứng để được mở con mắt tuệ, được sinh chánh trí, được tịch định cho đến… Niết-bàn đó là Bát thánh đạo…

Bát thánh đạo gồm có Chánh tri kiến, Chánh phân biệt, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.

Này các Tỳ-kheo, Trung đạo này Ta đã chứng biết, nên Ta đã mở con mắt tuệ, được sinh chánh trí, được tịch định, được sinh các thần thông, được hiểu biết rõ ràng, được quả Sa-môn, được thành tựu Niết-bàn.

Rồi Thế Tôn nói kệ:

Tám đường chân chánh này là nhân

Khủng bố không còn, sinh tử hết

Tất cả nghiệp chướng đã diệt xong

Vĩnh viễn không tái sinh các cõi.

Bấy giờ Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Các thầy chí tâm lắng nghe, có bốn chân lý. Bốn chân lý đó là chân lý về khổ, chân lý về nguyên nhân của khổ, chân lý về diệt khổ, chân lý về sự đạt đạo. Như vậy là bốn chân lý.

Này các Tỳ-kheo, các chân lý về khổ có những tướng trạng như thế nào?

Những tướng trạng khổ đó là: Sinh, già, bệnh, chết, buồn lo, thương nhau bị xa cách, ghét nhau lại gặp mặt, mong cầu không toại ý. Các khổ như vậy gọi là chân lý khổ.

Này các Tỳ-kheo, chân lý về nguyên nhân của khổ gồm có những gì?

Nghĩa là lòng khát ái luôn luôn làm động tâm suy nghĩ phát sinh dục lạc, rồi tư tưởng khắp nơi. Như vậy là nguyên nhân sinh ra khổ.

Này các Tỳ-kheo, chân lý về diệt khổ gồm những gì?

Nghĩa là vứt bỏ, xa lìa lòng khát ái, tư tưởng của tâm đều diệt sạch, không còn sót mảy may, tất cả đều được tịch định. Như vậy gọi là chân lý về diệt khổ.

Này các Tỳ-kheo, chân lý đắc đạo gồm những gì?

Nghĩa là thực hiện tám Thánh đế: Chánh kiến, Chánh phân biệt, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Như vậy gọi là chân lý diệt khổ đắc đạo.

Chân lý về khổ này từ xưa đến nay Ta chưa từng được nghe từ người khác, ngay trong các pháp tự sinh con mắt trí, sinh ý hiểu biết rõ ràng, sinh trí tuệ, sinh thệ nguyện. Chân lý khổ này phải biết như vậy, cho đến… chưa nghe ngay trong các pháp sinh con mắt trí tuệ. Chân lý về Khổ đó đã biết rõ ràng. (Bản Phạn ngữ thì lập lại, bản Hán ngữ lược lấy chỗ cốt yếu.)

Chân lý về nguyên nhân của khổ này, Ta không nghe từ người khác, ngay trong các pháp sinh con mắt trí tuệ… Pháp nguyên nhân của khổ này đều phải diệt. Như vậy cho đến… Nguyên nhân khổ đã diệt sạch.

Chân lý về diệt khổ này, Ta không nghe từ người khác, ngay trong các pháp sinh con mắt trí tuệ. Chân lý về diệt khổ này nay phải chứng. Như vậy cho đến… đã sinh trí tuệ, chứng biết chân lý về diệt khổ rồi.

Nguyên nhân khổ như vậy đã diệt rồi sẽ được chân lý về sự đạt đạo. Chân lý này Ta không nghe từ người khác, ngay trong các pháp sinh con mắt trí tuệ, diệt được nguyên nhân khổ, chứng được chân lý về sự đạo, cho đến… sinh trí tuệ trở lại diệt khổ chứng đạo (bốn chương trên đều lập lại chữ Đạo).

Này các thầy Tỳ-kheo, bốn chân lý cho đến mười hai hành tướng, Ta thuyết ba lần. Thật sự nếu Ta chưa chứng mười hai hành tướng, thì Ta chưa thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, không thể gọi Ta đã giác ngộ hoàn toàn.

Này các thầy Tỳ-kheo, bốn chân lý này, Ta nói ra ba lần, thật sự Ta đã chứng biết mười hai tướng chân lý này, rồi sau đó mới thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy mới gọi Ta đã giác ngộ hoàn toàn.

Này các thầy Tỳ-kheo, Ta lúc bấy giờ sinh chánh trí, chánh kiến, tâm không tán loạn, chính được giải thoát.

Này các thầy Tỳ-kheo, đây là đời sau cùng của Ta, Ta không còn tái sinh trở lại.

Khi Đức Phật nói các pháp như vậy, Trưởng lão Kiều-trần-như ngay tại tòa xa lìa trần cấu diệt hết triền phược, tẩy sạch phiền não ngay trong các pháp được trí nhãn thanh tịnh, tất cả các nguyên nhân của khổ đều diệt sạch. Biết các phiền não diệt rồi, biết các pháp đúng như thật, ví như chiếc áo trắng sạch không chút bụi nhơ, không một vết đen, tùy ý muốn nhuộm màu gì thì thành màu đó.

Đúng như vậy! Đúng như vậy! Kiều-trần-như liền ngay tại chỗ ngồi trừ các trần cấu, diệt sạch các phiền não, được pháp nhãn thanh tịnh, biết đúng pháp như thật.

Lúc ấy, trong hội có sáu muôn Thiên tử cũng lìa các trần cấu, ngay trong các pháp được trí nhãn thanh tịnh.

Bấy giờ Đức Thế Tôn dùng giọng sư tử nói kệ:

Diệu pháp sâu xa không thể tả

Chân như vắng lặng không danh tự

Kẻ chứng trước tiên Kiều-trần-như

Chẳng uổng công Ta đã chứng đạo.

Lại có kệ:

Khi thuyết pháp ấy rất sâu xa

Thế Tôn từ bi hơn tất cả

Pháp nhãn thanh tịnh Trần-như chứng

Ngàn vạn chư Thiên đồng đắc pháp.

Lúc bây giờ chư Thiên Địa cư nghe Thế Tôn nói những pháp như vậy, đồng thanh hô to:

-Này các vị phải biết, hôm nay Đức Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở nước Ba-la-nại tại vườn Nai, là nơi chư Tiên đời trước ở, Ngài chuyển pháp luân vô thượng mà các Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm thiên, Ma vương… thật không thể chuyển được pháp luân như vậy.

Lại có kệ:

Hay thay Thế Tôn chứng như thật

Vì chúng sinh chuyển pháp luân cam lộ

Căn trì giới, thiền định vững chắc

Tàm quý, tinh tấn là trục, vành

Giảng pháp chân chánh rất sâu xa

Kiến lập pháp luân vượt ba cõi

Hiện nay thuộc thành Ba-la-nại

Ngài đang thuyết pháp tại vườn Nai.

Khi chư Thiên Địa cư xướng lên lời như vậy, tiếng này vang đến cõi trời Tứ Thiên vương. Trời Tứ Thiên vương nghe rồi, lại tiếp tục xướng lên truyền rao thế này: “Ngày nay Đức Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở trong vườn Nai thuộc nước Ba-la-nại đang chuyển pháp luân vô thượng mà Sa-môn, Bà-la- môn, Phạm thiên, Ma vương, tất cả trong cõi đời thật không ai thuyết được pháp như thế.”

Khi trời Tứ Thiên vương nói lên lời như vậy, thì trời Đao-lợi nghe được. Vua trời Đao-lợi nghe rồi cũng xướng lên lời như vậy, thì trời Dạ-ma nghe được. Trời Dạ-ma nghe rồi cũng xướng lên lời như vậy, thì trời Đâu-suất nghe được. Trời Đâu-suất nghe rồi cũng xướng lên lời như vậy, thì trời Hóa lạc nghe được. Trời Hóa lạc nghe rồi cũng xướng lên lời như vậy, thì trời Tha hóa nghe được. Trời Tha hóa nghe rồi cũng xướng lên lời như vậy, thì trời Phạm thiên vương nghe được. Khi ấy Phạm thiên vương liền nói thế này: “Ngày nay Đức Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hiện đang chuyển vô thượng pháp luân tại vườn Nai mà tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, Ma, Phạm ở trong thế gian này thật không thể thuyết được.”

Tuần tự như vậy chỉ trong thời gian khoảnh khắc truyền rao lần lên, lời ấy biết khắp cho đến cõi trời Đại phạm.

Khi ấy Đại phạm Thiên vương chủ thế giới Ta-bà nghe lời như vậy, lại dùng Phạm âm xướng lên thế này: “Ngày nay Đức Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đang chuyển vô thượng pháp luân tại vườn Nai thuộc thành Ba-la-nại, mà tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, Ma, Phạm thật sự không một người nào trong thế gian này, có khả năng thuyết pháp như vậy.”

Cứ tuần tự như vậy cho đến trời Hữu đảnh.

Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp, lúc ấy tất cả cảnh giới của chư Thiên, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn… đều được chiếu sáng rực rỡ. Có những chúng sinh bị tội báo rất nặng ở giữa hai núi Thiết vi và Đại thiết vi u ám tối tăm, dù mặt trời mặt trăng có ánh sáng như vậy, có năng lực to lớn như vậy, có sức phóng ánh sáng như vậy, có oai thế như vậy, có quyền lực như vậy, mà không chiếu đến nơi đây được, không thể làm sáng tỏ được. Nhưng oai thần của Đức Phật làm khắp nơi đây được chiếu sáng. Chúng sinh ở trong đó được ánh sáng, nên họ đều trông thấy nhau, biết nhau. Họ nói với nhau: “Nơi đây cũng có chúng sinh khác ư?”

Bấy giờ tất cả trăm loại cây cối, thảo mộc trên mặt đất này, đều thuận thời, tùy theo mỗi loại lớn nhỏ, đều tự đâm chồi nảy lộc ra hoa kết quả. Có những cây ra hoa rồi tự nhiên rải trên mình Đức Phật. Trên bầu trời trong sáng không chút bụi mù khói ráng, lại thoáng hiện mây nhẹ tạo thành cơn mưa nhỏ rưới trên mặt đất, trong mát đủ tám thứ công đức. Sau khi mưa tạnh bầu trời trở nên trong sáng, tiếp theo là làn gió mát nhẹ thật là dễ chịu. Bốn phương đều trong sáng không chút bụi mù. Chư Thiên tập trung trên hư không, tấu những bản nhạc trời hòa lẫn lời ca vi diệu, đồng thời rải các loại hoa như hoa Mạn-thù-sa, Ma-ha mạn-thù-sa; các loại y trời mịn mỏng tuyệt đẹp; các hoa bằng bảy báu vàng, bạc, lưu ly…ệ, vô lượng hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen trắng và hoa sen trắng lớn trên mình Đức Như Lai; rải đi rải lại trên mình Đức Như Lai đủ các loại hương thơm. Chung quanh nơi Đức Như Lai ngồi, vuông vức chừng một do-tuần tràn ngập đủ các loại hoa, không sót một nơi nào. Lại quả đất chấn động sáu cách, động khắp và động đều, rung khắp và rung đều, nổi lên khắp và nổi đều, rống khắp và rống đều, gây cảm giác khắp và đều. Lúc ấy tất cả chúng sinh hết sức khoái lạc, không sợ hãi; không có một chúng sinh nào bị tham dục, sân hận, ngu si, ngã mạn, cống cao làm não hại; không một chúng sinh nào tạo các tội. Nếu có chúng sinh bị bệnh hoạn thì liền hết; nếu có chúng sinh say sưa liền được tỉnh táo; nếu có chúng sinh điên cuồng thì được tâm bình thường; nếu có chúng sinh đui thì được thấy; nếu có chúng sinh điếc thì được nghe; nếu có chúng sinh sáu căn không được hoàn bị thì đều được vẹn toàn; nếu có chúng sinh nghèo nàn rách rưới thì được giàu có dư dật; nếu có chúng sinh tiều tụy thì được khỏe mập; nếu có chúng sinh bị giam cầm trói buộc đều được phóng thích; những chúng sinh bị gông cùm xiềng xích thì tự nhiên được tháo gỡ, chúng sinh trong địa ngục liền được hết khổ; loài súc sinh không còn khủng bố; loài ngạ quỷ đói khát được no nê. Nhờ những nhân duyên như vậy Kiều-trần-như được gọi là chứng tri. Bấy giờ Trưởng lão Kiều-trần- như thấy các pháp một cách như thật, vượt qua con đường hiểm phiền não, qua sa mạc phiền não một cách như thật, không còn nghi ngờ, trong tâm quyết định không còn ngăn ngại, đã đạt vô úy, không học từ người khác.

Khi biết các pháp như vậy rồi, Kiều-trần-như từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, quỳ gối chắp tay bạch Phật:

-Lành thay! Bạch Thế Tôn, con đã vào được trong pháp Phật, Ngài đã độ cho con làm Sa-môn, trao cho giới Cụ túc, con nguyện sống đời Tỳ-kheo.

Bấy giờ Đức Phật bảo Kiều-trần-như:

-Thiện lai Tỳ-kheo! Vào trong pháp của Ta, tu phạm hạnh, dứt các khổ.

Khi ấy Trưởng lão Kiều-trần-như thành người xuất gia, được giới Cụ túc. Còn bốn người kia, Đức Phật tùy căn cơ của mỗi người, nói pháp để chỉ dạy.

Năm vị Tỳ-kheo này, có ba vị đi khất thực nơi khác, chỉ có hai vị nhận lãnh lời Đức Phật. Ba người này khi mang vật thực về, cả sáu người cùng ăn.

Hai người không đi khất thực, ở nhà lãnh thọ lời giáo hóa của Như Lai là:

Trưởng lão thứ nhất tên Bạt-đề-lê-ca (nhà Tùy dịch là Tiểu Hiền).

Trưởng lão thứ hai tên Bà-sa-ba (nhà Tùy dịch là Khởi Khí).

Hai người này ngay tại chỗ ngồi, xa lìa trần cấu, dứt sạch các kết hoặc, không còn phiền não, đối với các pháp được con mắt thanh tịnh, bao nhiêu kết hoặc phiền não đều được diệt sạch, biết được các pháp vô thường, chứng biết như thật. Ví như áo trắng không một sợi chỉ đen, không có vết nhơ, tùy ý muốn nhuộm màu gì thì thành màu ấy. Đúng như vậy! Đúng như vậy! Trưởng lão Bạt-đề-lê-ca và Trưởng lão Bà-sa-ba ngay tại chỗ ngồi xa lìa trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, tóm lược… thành người xuất gia, được giới Cụ túc.

Lần lượt như vậy, đến những người khất thực về sau, Đức Thế Tôn cũng như pháp khai thị, y như pháp giáo hóa, y như pháp truyền trao. Những Trưởng lão đó là Ma-ha Na-ma (nhà Tùy dịch là Đại Danh), A-sa-du-thời (nhà Tùy dịch là Điều Mã).

Tại chỗ ngồi, cả hai đều xa lìa trần cấu, đối với các pháp, được pháp nhãn thanh tịnh.

Đúng như vậy! Như vậy! Hai Trưởng lão Đại Danh và Điều Mã ngay tại chỗ ngồi diệt sạch trần cấu phiền não, chứng biết như thật, thấy được thật tướng các pháp, vượt qua các pháp tướng, tâm không còn nghi ngờ, đạt đến địa vị vô úy, không nghe từ người khác, đã chứng biết pháp Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, ở trước Thế Tôn, quỳ gối chắp tay bạch Phật:

-Cúi xin Đức Thế Tôn cho con được xuất gia, cho con giới Cụ túc.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo hai vị Tỳ-kheo:

-Này các Tỳ-kheo, các thầy hãy vào trong pháp của Ta, tu hành thanh tịnh diệt sạch các khổ.

Lúc ấy hai vị Trưởng lão liền đắc giới Cụ túc thành người xuất gia.

Rồi nói kệ:

Tiểu Hiền, Khởi Khí, Kiều-trần-như

Ma-ha Na-ma và Điểu Mã

Là người đầu tiên chứng thấy biết

Như Lai đánh trống pháp cam lộ.

Lúc ấy Đức Như Lai bảo năm vị Tỳ-kheo:

-Này các thầy Tỳ-kheo, ngày trước do Ta luôn luôn tu chánh niệm, tu chánh hạnh, thành tựu được giải thoát vô thượng chân chánh, chứng biết đầy đủ, nên các thầy phải học và thực tập chánh niệm cùng tu chánh hạnh này, thì các thầy sẽ được giải thoát vô thượng chân chánh một cách thực tiễn và đầy đủ.

Lúc ấy lại có Ma vương Ba-tuần đến bên Đức Phật dùng kệ bạch:

Cù-đàm dục ái trói buộc thân

Tất cả dục lạc cõi trời người

Nay đã bị nó trói buộc chặt

Ta quyết chẳng thả! Này Sa-môn.

Khi ấy Đức Thế Tôn suy nghĩ, biết Ma Ba-tuần nói kệ như vậy nên dùng kệ đáp Ma vương:

Gút ái từ lâu Ta đã mở

Ta lìa ái dục cõi trời người

Gút lớn ái dục Ta mở xong

Huống chi Ta đã thu phục ngươi.

Khi Ma vương Ba-tuần nghe Đức Phật nói bài kệ này, đứng yên lặng suy nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm biết được ý niệm ta, Sa-môn dòng họ Thích ấy thấy được tâm tánh ta.” Ma vương bực tức buồn bã khổ não chẳng vui, liền biến thân mất dạng.

Lúc ấy Đức Thế Tôn lại bảo năm vị Tỳ-kheo:

-Này các thầy Tỳ-kheo, nếu biết các sắc không có ngã, thì từ sắc không sinh các tướng hoại diệt, phiền não, sẽ không bị khổ về sắc, phải thấy, phải biết như vậy.

Có sắc như vậy, vì sắc không có ngã. Do vậy, tất cả sắc sinh ra phiền não, sinh ra khổ. Tuy sắc sinh ra khổ não, nhưng sắc cũng không có tánh nhất định, sắc đã không nhất định, thì cũng không thể mong muốn sắc là có như vậy, cũng không thể muốn sắc là không như vậy.

Sắc đã vậy thì thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.

Này các Tỳ-kheo, các thầy phải biết thức cũng không có ngã. Nếu thức có ngã, thức ấy lẽ ra không tạo não hại, không tạo các khổ. Vì thể của thức là không nắm bắt được thì làm sao phải làm cho có như thế này mà cũng không thể mong muổn rằng không có như thế kia.

Vì thức không có ngã, nên thức hay sinh phiền não và các khổ. Do vì thức không có ngã, nên không thể nói là thức có như vậy hay không có như vậy.

Đức Phật lại bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Các thầy nghĩ thế nào, thức là thường hay vô thường?

Năm vị Tỳ-kheo liền bạch Đức Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, Thức là vô thường.

Đức Phật lại hỏi:

-Nếu thức là vô thường thì khổ hay vui?

Năm vị Tỳ-kheo trả lời:

-Thưa Đức Thế Tôn, thức này là khổ.

Đức Phật lại bảo:

-Thức đã là khổ, là vô thường, là hoại diệt, chẳng phải chánh pháp, chẳng phải thường trụ. Nếu người thấy thức được như vậy, mà có thể nghĩ thế này: “Thức là ngã, hay ngã là thức, hoặc ta thấy, ta là đều thuộc về ngã hay không?

Năm vị Tỳ-kheo đáp:

-Thưa Đức Thế Tôn, không phải như vậy.

Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Các thầy phải biết, tất cả các sắc, hoặc sắc quá khứ, hiện tại hoặc vị lai, hoặc trong hoặc ngoài, hoặc to hoặc nhỏ, hoặc trên hoặc dưới, hoặc gần hoặc xa. Đối với những sắc ấy, không thể nghĩ thế này: “Sắc là ngã, ngã là sắc” Đúng vậy! Đúng vậy! Chánh trí như thật cần phải biết như vậy. Đố. với tất cả thọ, tưởng, hành, thức ở quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, lớn nhỏ, trên dưới, gần xa, không thể nghĩ thế này: “Ngã là thọ, tưởng, hành, thức hay các thứ đó là ngã,… hoặc ta là ngã.” Đúng như vậy! Đúng như vậy! Chánh kiến như thật phải biết như vậy.

Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Các thầy phải biết, nếu có bậc Thanh văn đa văn, tư duy quán sát, thấy được như vậy thì họ xa lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Xa lìa được rồi, đối với tất cả thức đó họ không còn Ưa thích, đã không ưa thích nên họ được giải thoát. Đã được giải thoát rồi, họ sẽ sinh trí tuệ biết rằng: “Sinh tử ta đã dứt, phạm hạnh ta đã lập, việc làm ta đã xong, không thọ thân đời sau.”

Khi Đức Thế Tôn nói pháp này rồi, năm vị Tỳ-kheo đối với các pháp hữu vi, các lậu diệt sạch, tâm được giải thoát. Ngay lúc ấy, trong thế gian có sáu vị A-la-hán, mà Đức Phật là một và năm vị Tỳ-kheo.

Sau đó, Đức Phật bảo:

-Này các Tỳ-kheo, các thầy phải biết, đây là lần đầu tiên Ta chuyển pháp luân, thuyết pháp, người đầu tiên không trái lại giáo pháp của Ta, Tỳ-kheo Kiều-trần-như là người đứng đầu trong năm vị Tiên nhân.

Năm vị Tỳ-kheo nghe Đức Phật nói lời này, bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Tỳ-kheo Trưởng lão Kiều-trần-như trồng thiện căn gì, do nhân duyên gì Như Lai đầu tiên thuyết pháp vô thượng, không trái chống lại?

Đức Phật nghe lời này, bèn bảo các Tỳ-kheo:

-Này các thầy, nên chí tâm lắng nghe! Ta nhớ thời quá khứ cũng tại thành Ba-la-nại này có một người thợ làm đồ gốm.

Thuở ấy, có một vị Bích-chi-phật bị bệnh, vào xóm làng để điều trị mà mùa an cư sắp đến. Vị Bích-chi-phật vì trị bệnh muốn đến ở trọ nhà thợ gốm. Ngài đến nhà thợ gốm nói:

-Thưa Nhân giả, nếu người không từ chối, tôi xin an cư mùa hạ này nơi nhà Nhân giả để trị bệnh được mau khỏe mạnh.

Người thợ gốm với tâm thanh tịnh bạch vị Bích-chi-phật:

-Tốt lắm Đại Tiên! Con vâng lời Ngài, tùy ý Ngài ở, tùy theo khả năng, con sẽ cung cấp bốn sự cúng dường cho Đại Tiên.

Sau đó, người thợ gốm dựng một thảo am cách nhà mình chẳng xa, bài trí các dụng cụ: giường nằm, chổi đuổi muỗi, dầu đèn… để cho Bích-chi-phật an cư.

Một đêm nọ, vị Bích-chi-phật nhập vào định Hỏa Quang. Người thợ gốm thấy ánh lửa lớn, suy nghĩ: “Không biết lý do gì ngọn đèn ấy sáng rực lâu như vậy mà không tắt? Không lẽ thảo am này bị phát hỏa hay sao?”

Lúc ấy người thợ gốm rón rén bước đến thảo am, lén nhìn, thấy vị Bích-chi-phật ngồi kiết già như đống lửa lớn bốc cháy sáng chói, nhưng thân Ngài vẫn an nhiên không bị lửa đốt. Thợ gốm thấy vậy liền nhắm mắt vội vã chạy về. Hôm sau, tín tâm của người thợ gốm tăng gấp bội, vì thấy điều chưa từng có. Tôn giả Bích-chi-phật yên tịnh an cư tại nhà thợ gốm qua một mùa hạ. Người thợ gốm cung cấp bốn sự nhu cầu đều đầy đủ. Thợ gốm còn mời lương y đến trị bệnh, cung cấp thuốc thang đầy đủ, nhưng bệnh của Bích-chi-phật không thuyên giảm. Do thân bệnh nặng nên Ngài qua đời.

Bấy giờ, thấy vị Bích-chi-phật nhập Niết-bàn, người thợ gốm thương tiếc buồn rầu kêu la khóc lóc chẳng vui. Vô số dân chúng nghe tiếng khóc lóc, đồng đên hỏi thợ gốm:

-Này anh thợ gốm, vì cớ gì kêu khóc như vậy?

Người thợ gốm nói về thần thông của vị Bích-chi-phật này, tinh tấn như vậy, trì giới như vậy, thường hành diệu pháp. Ngài bệnh, ông ta có mời lương y đến điều trị nhưng không qua khỏi.

Bấy giờ, có những vị Bích-chi-phật chỉ thiếu một là đủ năm trăm vị, dùng thần thông bay trên hư không, mang theo gỗ chiên-đàn đến làm lễ trà tỳ vị Bích-chi-phật này và an ủi thợ gốm:

-Này Nhân giả, người nên vui mừng hớn hở tràn ngập toàn thân. Vì sao như vậy? Vì người đã cúng dường vị Tiên nhân này. Nhờ công đức ấy, ở đời vị lai người sẽ hưởng lợi ích lớn. Ông có thấy thần thông của chúng ta hay không?

Người thợ gốm đáp:

-Dạ thưa, có thấy.

Các vị Bích-chi-phật bảo người thợ gốm:

-Thần thông của chúng ta hiện ra ngày hôm nay, cũng như thần thông của vị Bích-chi-phật đã tịch. Trong hàng Tiên nhân chúng ta thì vị ấy cao tuổi nhất.

Người thợ gốm lại hỏi các vị Bích-chi-phật:

-Thưa chư Tôn giả, hiện giờ quý Ngài ở đâu?

Các vị Bích-chi-phật đáp:

-Này bác thợ gốm, từ đây đi nữa có một ngôi làng gọi là thành Vương xá. Cách thành này chẳng xa, có một hòn núi tên là núi Tiên ở, chúng tôi đang ở trên đó.

Người thợ gốm lại thưa các vị Bích-chi-phật:

-Lành thay! Mời chư Tiên dùng cơm tại nhà con rồi tùy ý ra đi. Các vị Bích-chi-phật đều dùng cơm tại nhà của người thợ gốm. Sau khi dùng cơm, các vị nói với người thợ gốm:

-Ở đời vị lai có Đức Phật xuất hiện, ông sẽ ở nơi Đức Phật này phát tâm nguyện cầu giáo pháp, là nhờ công đức phát tâm thanh tịnh ngày hôm nay.

Người thợ gốm nghe rồi liền bạch các vị Tiên nhân Bích-chi: -Vị thầy trước đây của con là vị già nhất trong các vị Bích-chi, con nguyện cũng vậy. Trong đời vị lai được gặp Đức Phật Thích-ca, được xuất gia ở trong pháp của Ngài, được làm bậc Đại trưởng lão thuộc hàng thượng tọa lớn nhất.

Các vị Tiên nhân nói:

-Lời thệ nguyện này của ông nhất định sẽ được thành tựu.

Sau khi các vị Bích-chi-phật đã xác nhận lời thề của người thợ gốm, liền từ giã bay lên hư không mà đi. Người thợ gốm thấy các vị Bích-chi-phật vận dụng thần thông đi trong hư không, nên đem tâm thanh tịnh chiêm ngưỡng chắp tay, hướng về hàng chư Tiên đảnh lễ.

Người thợ gốm thấy thân Tôn giả Bích-chi-phật đã vào Niết-bàn nên thâu nhặt xá-lợi xây tháp, trang trí bằng những vòng bánh xe đẹp, trong vòng bánh xe có những chiếc linh cùng có phướn bằng lụa sặc sỡ và các loại hoa thơm, xông các bột hương, tố các sáp hương để cúng dường tháp. Ông ta phát lời thệ nguyện: “Nhờ thiện căn này, nguyện đời sau tôi được gặp Đức Thích-ca Như Lai, những giáo pháp của Ngài nói ra, tôi nguyện chứng biết, tôi ở bên Phật, nguyện thành bậc Đại trưởng lão trong hàng Thanh văn.”

Đức Phật bảo:

-Này các Tỳ-kheo, người thợ gốm nọ nay là Đại trưởng lão Tỳ-kheo Kiều-trần-như. Thuở trước, nhờ nhân duyên thiện căn cúng dường Bích-chi-phật, mà nay ở bên Ta là người chứng được giáo pháp nói ra lần đầu tiên. Ta lại xác nhận Tỳ-kheo Kiều-trần-như ở trong hàng chư Tăng là người xuất gia đầu tiên, không trái ý Ta, là người giác ngộ pháp của Ta trước nhất.

***

Phẩm 38: LÝ DO ĐẶT TÊN DA-DU-ĐÀ (THƯỢNG TÁN)

Thuở ấy, tại nước Ba-la-nại, ngoài thành này chẳng bao xa có một cây Ni-câu-đà tươi tốt, cành lá rậm rạp. Tất cả dân chúng, các vương tử, tể tướng, bá quan, trong và ngoài thành đều đến cây này để cúng tế khấn vái cầu nguyện. Những người đến cầu nguyện nơi cây này, thường nguyện: “Tôi được toại ý, bao nhiêu việc làm của tôi được thành tựu. Nếu việc làm của tôi được thành tựu như ý, tôi sẽ đến cúng tế đền đáp công ân.”

Những người này, hoặc trong quá khứ đã trồng thiện nghiệp thanh tịnh, hoặc do sức mạnh của phước đức, nay nhân ấy thành tựu, hoặc do hiện báo, tùy theo tâm niệm lại cho rằng cây này cho họ được mãn nguyện, nên họ đến cúng tế long trọng để báo ân thọ thần. Có người đến cầu nguyện tùy theo sở nguyện cũng được thành tựu.

Có người đến cây này cầu xin con trai hoặc con gái. Những người này do nhân duyên phước đức đời trước nên được con trai hay con gái. Nhưng họ không biết, lại có tâm niệm: “Cây này ban cho ta con trai hay con gái.” Do đó, mọi người đến cầu đều tổ chức cúng tế long trọng để đền ân. Vì vậy người đương thời gọi rừng cây này là “Cây thần cầu gì được nấy.”

Bây giờ, trong thành ấy có một trưởng giả rất giàu có tên Thiện Các. Trưởng giả này có nhiều tài sản, thế lực khắp nơi, rất nhiều lục súc: Voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, la lừa… không thiếu loài nào. Ngũ cốc dư dật, nhiều tôi trai tớ gái, thê thiếp tài giỏi âm nhạc, khách hàng buôn bán, chân châu, hổ phách, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, bạch ngọc, kha bối, vàng bạc, đồng sắt, mọi thứ đều đầy đủ không thiếu gì cả. Tòa nhà trưởng giả giống như cung điện Thiên vương Tỳ-sa-môn ở phương Bắc. Trưởng giả như vậy mà không có con trai con gái, nên thân bằng quyến thuộc nói với trưởng giả:

-Thưa Nhân giả, ngài tự biết mình là nhà cự phu, có nhiều thế lực, nói lược sơ… mọi sự đều được đầy đủ, nhưng Nhân giả không có con cái. Ngoài thành này có một cây thần mệnh danh là “Cây thần cầu gì được nấy.” Nếu có đàn ông hay đàn bà đến cầu con trai hay con gái đều được như ý. Trưởng giả không đến cây thần ấy cầu sinh con trai hay con gái. Nếu ngài đến cầu, quyết định sẽ được sinh trai gài, chớ để dòng họ Nhân giả bị đoạn tuyệt.

Khi ấy trưởng giả đáp lại lời các thân tộc:

-Làm gì có việc ấy! Cây cối là loài không tình thức, nếu có khả năng cho người cầu nguyện, được sinh con trai hay con gái thì đó là phi lý! Phàm sinh con trai hay con gái là do nhân duyên tạo nghiệp đời trước của cha mẹ, hoặc nhờ sức mạnh của phước đức mà được trai hay gái, nhưng họ không biết lại nói: “Chúng ta đích thân cầu xin cây này nên được con trai hay con gái.” Do mãn nguyện nên họ đến cây thần cúng tế linh đình để báo ân.

Lúc ấy thân bằng quyến thuộc đôi ba phen ân cần khuyến thỉnh trưởng giả:

-Thưa Đại trưởng giả, ngài không thể không tin, thật sự cây thần ban cho ta như nguyện, cho người này sinh con trai, cho người kia sinh con gái. Trưởng giả hãy đến đó tỏ bày tâm nguyện với cây thần, thì cầu nam được nam, cầu nữ được nữ, nhất định không nghi.

Bấy giờ đại phú trưởng giả Thiện Giác bị thân thuộc luôn luôn ân cần cùng nhau nài nỉ cho đến lần thứ ba, tha thiết khuyến dụ, nên trưởng giả cực chẳng đã, phải đem gia nhân cùng các dụng cụ búa rìu lớn, giỏ, cào cỏ, mai, xẻng, dao, cưa… đi đến cây Ni-câu-đà. Đến nơi, trưởng giả đứng trước cây thần nói:

-Này cây phải biết, ta nghe người ta đồn rằng ngươi là cây thần được mệnh danh “Nguyện cầu gì đều được như ý.” Người nào đến cầu con trai hay con gái đều được kết quả. Hiện nay, ta không có một mụn con, ta ao ước mà chưa toại nguyện, nay ta đến cây thần nguyện cầu. Nếu cho ta sinh được một cậu con kháu khỉnh, ta sẽ trở lại đây thiết lễ cúng dường để báo đáp. Nếu ngươi không cho ta sinh con trai, ta sẽ dùng búa lớn, mai xẻng, chặt đào tất cả gốc rễ cành cây này, quyết không dung thứ, cho đến những rễ to rễ nhỏ còn sót, ta cũng đào bới tới nơi, hoặc bầm vụn cọng rễ, hoặc chặt chẻ cành nhánh ra từng mảnh, sau khi chặt chẻ đem đi phơi khô từng miếng, rồi dùng lửa đốt thân ông ra tro bụi, sau khi thành tro đem vãi xuống chỗ nước chảy xiết, hoặc đem tro thân ông tung vãi trước ngọn gió mạnh, để thổi tứ tán.

Lúc bấy giờ vị thần nương ở cây này, nghe lời của trưởng giả, hết sức sợ sệt, buồn rầu khổ não chẳng vui. Vị này suy nghĩ: “Thật sự ta không cho những người đến cầu sinh con trai hay con gái, chỉ vì những người đến cầu, do nghiệp nhân của họ, do sức phước đức của họ mà sinh con trai hay con gái. Nhưng mọi người không biết nên nói cây thần ban cho con trai hay con gái. Vì được toại nguyện, nên sau đó họ đến tạ ân.” Nghĩ như vậy, thần cây buồn khóc rơi lệ nói:

-Cây này là chỗ của ta ở từ xưa đến nay, nếu trưởng giả không sinh được con chắc chắn người sẽ quyết định phá nát cây này.

Vị thần nơi cây Ni-câu-đà thường phụng sự trời Đế Thích, nên vội vã đến gặp Thiên chủ Đế Thích nơi cung trời Đao-lợi. Đến nơi, thần cây quỳ mọp trước Đế Thích tâu lên y những lời thiện ác phước họa của trưởng giả cầu con nói ở trước:

-Lành thay! Thưa Thiên chủ, cúi xin Đại thiên dùng phương tiện trí tuệ cấp tốc sớm cho trưởng giả sinh một cậu con trai kháu khỉnh, đừng để cây này của con bị tàn phá.

Lúc ấy Đại vương Thiên chủ Đế Thích bảo Thọ thần:

-Này Thọ thần chớ nói lời như vậy. Vì cớ sao? Vì ta cũng không thể vì người thế gian mà quyết định cho họ sinh con trai hay con gái. Những người ấy có con trai hay con gái là do nhân làm phước của họ. Này Thọ thần, lý ấy tuy nhiên như vậy, phải nhẫn nại một chút thử xem, chớ nên ưu sầu khổ não, ta sẽ quán sát vị trưởng giả kia có nhân duyên gì chăng?

Đế Thích liền quán sát thấy cõi trời Đao-lợi có một Thiên tử tướng ngũ suy hiện ra, biết chắc chẳng bao lâu sẽ đọa trần gian.

Tướng ngũ suy hiện ra là:

1. Hoa đẹp trên đầu bỗng nhiên úa vàng.

2. Ở dưới nách bỗng nhiên đổ mồ hôi.

3. Y phục dính bụi bặm chẳng sạch.

4. Thân thể tự biến đổi, mất hào quang.

5. Bỗng nhiên không ưa thích giường bằng ngọc đẹp đẽ là nơi mình nằm mà lại bỏ đi đây đó.

Lúc đó Thiên chủ Thích Đề-hoàn Nhân bảo Thiên tử:

-Này Thiên tử, may mắn thay! Nếu người biết phải lúc, người có thiện duyên, đã trồng các nhân lành, thường không phóng dật, cẩn thận biết sợ tội, không có tội lỗi, không tạo các đều sai trái, lại cũng chưa từng tạo các ác nghiệp sâu nặng, cho đến tật đố. Người sẽ rời bỏ chốn này, quyết định sinh trong một nơi tốt đẹp dưới trần gian.

Vị Thiên tử bạch Đế Thích:

-Tôi muốn biết nơi ấy?

Thích Đề-hoàn Nhân đáp:

-Ở hạ phương cõi Diêm-phù-đề có một thành lớn tên Ba-la-nại, thành này có một vị đại trưởng giả tên Thiện Giác, gia đình trưởng giả giàu có, rất nhiều của cải, có nhiều thế lực, không có gì thiếu hụt, nhưng không có con, Thiên tử nên phát tâm đến thành Ba-la-nại làm con trưởng giả.

Vì vị Thiên tử này trong đời quá khứ làm thân Thiên tử, trồng các căn lành, tạo nhân duyên giải thoát sinh tử, bỏ phiền não hướng về Niết-bàn, không thọ sinh trong các hữu vi nơi tam giới. Nên sự tái sinh một lần nữa của Thiên tử là muôn dứt sạch hữu lậu, muốn chứng Thánh đạo, nên Thiên tử thưa:

-Thiên vương hoàn hảo! Tôi nay không muốn sống ở gia đình để thọ hưởng dục lạc thế gian. Lại nữa chẳng bao lâu Đức Đại Sĩ Hộ Minh Bồ-tát sẽ từ cung trời Đâu-suất giáng thần xuống cung vua Tịnh Phạn thuộc dòng họ Thích thành Ca-tỳ-la, vào thai bằng hông bên phải của Đại phu nhân. Đủ tháng Ngài sinh ra và sau đó rời bỏ vương vị mà xuất gia, chứng Vô thượng Bồ-đề. Sau khi đắc đạo, Ngài sẽ chuyển pháp luân vô thượng. Ý tôi muốn tu hành phạm hạnh ở chỗ bậc Bồ-tát ấy. Nhưng trưởng giả kia có nhiều tài sản quý giá, nhiều thế lực, đầy đủ không thiếu gì cả. Vả lại, gia đình như vậy là nơi phóng dật, nên ý tôi không muốn sinh vào nhà ấy.

Thiên chủ Đế Thích bảo vị Thiên tử:

-Ngươi chỉ cầu mong sinh vào nhà ấy. Không lâu nữa, Bồ-tát Hộ Minh sẽ thành Chánh giác, rồi chuyển pháp luân vô thượng. Khi ấy ta sẽ tạo thiện duyên đầy đủ cho ngươi xuất gia và cũng giúp đỡ cho việc xuất gia của ngươi.

Vị Thiên tử nói với Đế Thích:

-Lành thay! Thưa Thiên vương, nếu lúc ấy ngài giúp đỡ cho tôi có điều kiện phát tâm và được xuất gia thì tôi sẽ sinh vào nhà ấy. Thiên chủ Đế Thích bảo thần cây Ni-câu-đà:

-Này thần cây hiền thiện, đã đến lúc, ngươi hãy báo cho trưởng giả ấy biết với lời thế này: “Lành thay trưởng giả! Theo lời cầu xin của ông, không bao lâu nữa sẽ sinh được một bé trai đẹp, sau đó không lâu sẽ xuất gia làm Sa-môn.”

Nghe lời của Đế Thích, vị thần cây vô cùng vui mừng, vội đến nhà trưởng giả, ẩn thân trên không trung, bảo:

-Rất tốt! Này trưởng giả, chắc chắn ông sẽ sinh một bé trai xinh đẹp, Có phúc đức trí tuệ. Nhưng khi sinh ra rồi, chẳng bao lâu nhất định sẽ xuất gia làm Sa-môn.

Khi ấy, trưởng giả thưa thọ thần:

-Lành thay Thiên thần! Tôi chỉ mong được sinh con, sẽ dùng phương tiện ngăn không cho nó xuất gia làm Sa-môn.

Thiên tử ấy từ cung trời Đao-lợi giáng xuống trần gian đầu thai vào bụng của vợ Đại trưởng giả. Khi người vợ trưởng giả biết mình mang thai, liền nói với trưởng giả:

-Này trưởng giả, rất tốt đẹp! Hãy vui mừng vì thiếp đã mang thai.

Khi trưởng giả nghe vợ mình báo tin như vậy, liền vì vợ sắm đủ thứ tiện nghi: giường nằm thật đẹp, mền chăn tuyệt hảo, trang hoàng lộng lẫy, người hầu hạ rành nghề, thức ăn cao lương mỹ vị, phục sức hàng hảo hạng…, cung cấp cho phu nhân, mặc tình nàng sử dụng.

Khi ấy bên ngoài bốn cửa thành Ba-la-nại, nơi ngã tư đường đông người qua lại trưởng giả lập hội Vô giá, hễ có ai cầu xin thức ăn cho thức ăn, xin nước uống cho nước uống, xin tràng hoa cho tràng hoa, xin hương cho hương, cần sáp thơm cho sáp thơm, cần đồ nằm cho đồ nằm, cần đồ nuôi dưỡng thân… tất cả đều được cung cấp đầy đủ. Lúc bấy giờ bao nhiêu tài vật trong nhà đều thâu cất vào kho, tất cả quán rượu và lò sát sinh đều giải tán.

Khi vợ trưởng giả mang thai chín đến mười tháng, thai nhi đã đầy đủ, hạ sinh một bé trai hết sức kháu khỉnh thật dễ thương trong thế gian ít có người thứ hai, thân thể màu vàng giống như thỏi vàng, đầu tròn trịa giống như chiếc lọng, như chim Anh võ, cánh tay duỗi dài, chi tiết trên người đều xinh đẹp, sáu giác quan toàn vẹn, bắp thịt mềm mại giống như khối bơ. Sau khi cậu bé chào đời, tự nhiên xuất hiện một chiếc lọng bằng bảy báu tuyệt vời, che trên thân hài nhi. Bấy giờ mọi người thấy vậy đều lớn tiếng nói:

-Thật kỳ lạ! Từ xưa đến nay chưa từng thấy!

Lúc ấy vị trưởng giả vì đồng tử thuê bốn bà vú: Một bà bồng bế, một bà tắm rửa, một bà cho bú mớm, một bà làm trò vui. Sau khi đồng tử sinh ra, trưởng giả lập hội Vô giá (như đã nói ở trên) ở đầu các ngã đường ngoài bốn cửa thành, lại nhóm họp quyến thuộc nội ngoại thưa:

-Tôi sinh được một cháu trai như vậy, xin quý vị đặt tên cho cháu bé.

Họ hàng quyến thuộc cùng nhau bàn luận: “Đứa trẻ này khi mới sinh, tự nhiên xuất hiện một chiếc lọng bằng bảy báu che trên người. Vì sự việc này tiếng đồn khắp tất cả mọi nơi.” Do vậy, đứa bé được tên là Da-du-đà (nhà Tùy dịch Da-du-đà là Thượng Tán). Thượng Tán sống bên cha mẹ, vì là con một nên cha mẹ rất thương yêu chẳng rời một chút, mắt luôn luôn theo dõi sự nuôi dưỡng hàng ngày, làm cho cậu ta lớn lên như ý muốn.

Có kệ:

Người đầy phước đức mau khôn lớn

Như hạt mọc ở đất phì nhiêu

Bạc phận thiếu duyên không nơi dựa

Giống tự cây con trồng đầu đường.

Đồng tử lần lần biết đi, biết chạy lớn khôn, sau đó y gia pháp học tập các nghề, như là văn chương, toán số, ấn lý, xuất của cho người, thu nạp của bên ngoài, trao đổi buôn bán, nhuộm các màu sắc, cắt may y phục, phân biệt các loại hương thơm biết rõ ngũ cốc, bảy loại ngọc quý và bảo vật. Tất cả đều lão luyện, thông suốt các nghề, thông minh lanh lợi, đều vẹn toàn, không ai sánh bằng. Khi đến tuổi trưởng thành, anh ta thích ở riêng.

Bấy giờ trưởng giả vì con xây ba tòa nhà: Một tòa để nghỉ trong mùa đông; một tòa để nghỉ trong hai mùa xuân, thu; một tòa để nghỉ trong mùa hạ. Tòa nhà nghỉ về mùa đông hoàn toàn ấm áp. Tòa nhà nghỉ về mùa hạ hoàn toàn gió mát. Tòa nhà nghỉ về hai mùa xuân, thu, được xây dựng ở nơi không nóng không lạnh.

Những dụng cụ trang trí trong ba tòa đều bằng vật quý, những thức ăn uống ngon ngọt rất thích khẩu vị, y phục toàn bằng hàng tốt đẹp, lại bày biện các thứ phấn sáp hương thơm, chọn những cô gái nhan sắc kiều diễm dễ thương, để giúp vui cho đồng tử. Trong cung ấy, mặt trước tòa nhà chính đều có cầu thang, mỗi cầu thang đều có năm trăm người, bày năm trăm bậc thang quý báu, sáng sớm thì bày ra chiều tối thu dọn mang đi. Chung quanh mỗi tòa nhà đều bố trí năm trăm người, bảo vệ mặc chiến giáp kiên cố, tay cầm đủ loại binh khí: dao, gậy, thiết luân, chĩa ba, giáo mác… để canh phòng, vì sợ đồng tử Thượng Tán thình lình bỏ nhà xuất gia. Các cửa ngõ ra vào trong cung đều có cánh cửa chốt khóa kiên cố. Mỗi khi đóng hay mở các cửa này, tiếng động vang đến nửa do-tuần.

Thuở ấy, đồng tử Thượng Tán ở trong nhà ấy tiêu dao vui đùa, thọ hưởng đầy đủ năm thứ dục lạc.

Khi Thế Tôn lần đầu tiên ở thành Ba-la-nại chuyển vô thượng pháp luân, thì vua trời Đế Thích giáng xuống trong cung điện đồng tử Thượng Tán, đến nơi thức tỉnh đồng tử:

-Này Nhân giả Thượng Tán, đã đến lúc, không bao lâu nữa quyết phải xuất gia.

Đồng tử Thượng Tán khi nghe lời kêu gọi của vua trời Đế Thích, im lặng nhận lời. Sáng sớm hôm sau, sai người đánh xe ngựa giỏi đi đến vườn cây, để ngắm nhìn chỗ đất xinh đẹp.

Buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bình bát ung dung đi vào thành Ba-la-nại khất thực, với Trưởng lão Điều Mã làm thị giả. Đồng tử Thượng Tán từ xa trông thấy Đức Như Lai đi về phía trước, dáng đi trầm lặng, oai nghi đoan chánh, thân thể đầy đủ, các tướng trang nghiêm, giống như bầu trời ban đêm đầy các vì sao sáng. Thấy rồi, chàng sinh tâm thanh tịnh vui mừng, do trong tâm hoan hỷ thanh tịnh, Thượng Tán bước xuống xe đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đi quanh Đức Phật ba vòng, nhiễu xong lên xe mà đi. Đồng tử Thượng Tán được gặp Đức Phật và ra đi trong thời gian ngắn.

Khi ấy, thấy được tâm đồng tử thanh tịnh, Đức Phật mỉm cười tỏa ra ánh sáng. Bấy giờ Trưởng lão Điều Mã sửa y, trịch áo vai bên phải, đầu gối phải quỳ sát đất, chắp tay hướng về Đức Như Lai bạch:

-Hy hữu thay! Bạch Đức Thế Tôn, do nguyên nhân gì Ngài mỉm cười phóng ánh sáng?

Đức Phật bảo:

-Này Tỳ-kheo, thầy có thấy đồng tử Thượng Tán đến đảnh lễ dưới chân Ta, đi quanh ba vòng, rồi lui bước lên xe hay không?

Điều Mã bạch Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, con có thấy.

Đức Phật lại bảo:

-Thầy nên lắng nghe, Đại thiện nam tử Thượng Tán này, đêm nay nhất định bỏ nhà xuất gia, đến xin Ta làm Sa-môn, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.

Khi ấy đồng tử Thượng Tán vào trong khu vườn ngắm nhìn chỗ đất xinh đẹp, đi tản bộ. Lúc ấy Đế Thích dùng sức thần thông biến ra một thây đàn bà chết, sình chương to gần rã nát, bị các thứ côn trùng ruồi giòi rúc rỉa khắp thân. Đồng tử thấy tử thi hôi thúi tan rã, nên sinh tâm nhờm gớm tự nghĩ: “Cái thân thúi rã này, không có gì đáng vui thích để tham đắm phóng dật! Tại sao ở trong đó tưởng là khoái lạc, nay đã tan rã.” Đồng tử liền nói lên:

-Ta nay không ham thích khoái lạc xú uế như vậy, muốn trở về nhà.

Sau khi Thượng Tán ra khỏi khu vườn, về tại cung điện của mình. Đầu hôm đêm ấy, khi chàng sắp ngủ, trời Đế Thích dùng sức thần thông khiến các cô gái đẹp đều ngủ say, mà trong nhà chỗ nào cũng thắp đèn, ngọn đèn to như cánh tay, chiếu khắp mọi nơi trong nhà, ánh sáng không gián đoạn.

Vào đêm ấy, Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Đêm nay Đại thiện nam tử Thượng Tán nhất định dũng mãnh bỏ nhà xuất gia, cầu làm Sa-môn.” Nghĩ như vậy, Ngài đến sông Ba-la-na (nhà Tùy dịch là Đoạn Trừ), vượt qua sông đến bờ bên kia, tự lấy cỏ làm tòa, sau khi trải tòa rồi, ngồi kiết già trên đó. Vì lòng Từ bi thương tưởng đến Thượng Tán, nên Ngài muốn ngủ ở đây một đêm.

Đêm đó, đồng tử Thượng Tán đang ngủ say, bỗng nhiên thức giấc, thấy mọi nơi trong nhà thắp nhiều ngọn đèn sáng lớn và các cô gái đẹp đang ngủ say. Có nàng cổ gác trên chiếc trống nhỏ, có nàng cặp nách chiếc đàn sắt hay tỳ bà, có nàng cặp nách ngũ huyền cầm, có nàng ôm lấy đàn không hầu, có nàng ôm lấy chiếc trống, có nàng ôm lấy những nhạc cụ khác như ống địch, ống sáo…, có nàng để lộ bán thân thở khò khè mà ngủ, có nàng xõa tóc, nằm nghiêng mà ngủ, có nàng chảy ra những bất tịnh như mũi, dãi… mà ngủ, có nàng nghiến răng mà ngủ, có nàng úp mặt mà ngủ, có nàng ngửa mặt mà ngủ. Đồng tử Thượng Tán thấy các cô gái nằm ngủ ngổn ngang dưới đất, giống như thây chết. Thấy rồi, đồng tử ghê tởm xa lìa, lại tưởng đến cái vui Niết-bàn, ý hướng đến Niết-bàn đã được phát sinh. Đồng tử suy nghĩ: “Nơi đây là chỗ khủng bố lớn! Nơi đây thật là nhiễu loạn chẳng an!”

Đồng tử Thượng Tán thấy vậy, từ giường nằm ngồi dậy, chân xỏ vào đôi giầy da được nạm bằng ngọc quý, đáng giá hai trăm ngàn. Mang giày rồi, đồng tử thầm nghĩ từ nền nhà bước xuống sân không có cầu thang, liền khi ấy Đế Thích hiện chiếc cầu thang bắt trước nhà, thân Đế Thích tỏa ánh sáng khắp nhà.

Lúc ấy đồng tử Thượng Tán theo ánh sáng ra khỏi nhà, dần dần đi đến phòng của cha và phòng các thể nữ. Đến trong phòng thấy cha mình đang nằm ngủ, dùng dầu thật thơm làm đèn thắp sáng, tim đèn lớn như cánh tay, đặt mọi nơi dưới đất và bên cái trụ. Chàng nhìn sang thể nữ, thấy chúng ôm lấy các nhạc cụ nằm ngủ say… giống như tử thi ngoài bãi tha ma (như đã nói ở trên). Thấy vậy đồng tử rất nhàm chán… đến nổi hết sức sợ sệt.

Thượng Tán rời khỏi phòng phụ thân tiến lần đến cửa ngoài, thấy cửa đóng, chốt khóa kiên cố, mà mỗi khi mở cánh cửa thì tiếng động vang đến nửa do-tuần. Khi ấy Đế Thích vội vã mở cửa, làm cho không phát sinh tiếng động, vì sợ làm trở ngại việc xuất gia của đồng tử.

Khi Thượng Tán ra khỏi nhà đi đến cửa lớn của thành, cửa này được gọi là Bạt-đà-la-bà-đề (nhà Tùy dịch là Hiền Chủ), thấy cửa thành Hiền chủ đóng khóa cẩn thận, mở cửa tiếng động cũng vang xa nửa do-tuần. Khi ấy Đế Thích trong thời gian ngắn, mở được cửa này, không làm người khác nghe được tiếng động. Đế Thích nghĩ rằng: “Chớ có để người làm trở ngại sự xuất gia của Thượng Tán.”

Thượng Tán ra khỏi thành này, lần lần đi đến sông Ba-la-na. Lúc ấy nước sông bổng nhiên dâng cao tràn ngập đến bờ sông, tất cả các loài chim uống nước không phải cúi đầu. Khi ấy Đế Thích thâu mất ánh sáng. Thượng Tán đến dừng lại bên bờ sông, than: “Tai hại to lớn này, ôi thật khủng khiếp!”

Khi ấy Đức Thế Tôn đang đi kinh hành tại khoảng đất trống bên kia bờ sông. Vì thương đồng tử nên thân phóng hào quang, Ngài đưa cánh tay sắc vàng hướng về phía Đồng tử vẫy tay nói:

-Lành thay đến đây! Lành thay đến đây! Này Thượng Tán, nơi đây không có hoạn nạn, nơi đây không có sợ sệt, nơi đây an lạc, nơi đây tự do.

Có kệ rằng:

Như Lai biết rõ tâm đồng tử

Ngài cất tiếng gọi như thế này:

Đồng tử Thượng Tán người lại đây

Đi đường Niết-bàn không sợ sệt.

Thế Tôn không gì mà chẳng thấy

Thế Tôn không gì mà chẳng biết

Do vậy nên biết tâm niệm người

Nên nói Thế Tôn đủ các minh.

Khi Thượng Tán nghe Đức Thế Tôn nói như vậy, trút hết nỗi lo khổ âu sầu, tâm được an tịnh. Ví như lữ hành đi trong mùa hạ, bị nắng đốt, thêm đói khát khổ cực vô cùng, bỗng nhiên gặp được ao nước trong mát, người này vào ao uống nước và tắm rửa, tất cả các khổ nóng bức đều tiêu tan. Đúng vậy! Đúng vậy! Đại thiện nam tử Thượng Tán này nghe được lời an ủi của Đức Phật, tất cả ưu tư khổ não đều tiêu diệt, tâm được an định.

Bấy giờ Đại thiện nam tử Thượng Tán hớn hở vui mừng vô cùng, tràn ngập toàn thân không thể tự chế, cởi bỏ đôi giầy da nạm quý báu trị giá hai trăm ngàn, lội xuống sông Ba-la-na, giống như người khạc nhổ đàm dãi, không chút luyến tiếc quay lưng bỏ đi. Đúng vậy! Đúng vậy! Đồng tử vứt bỏ đôi giày cũng lại như vậy. Khi đồng tử lội qua sông, lúc ấy nước sông cạn thấp.

Đồng tử Thượng Tán sau khi lội qua sông, đến được bờ bên kia rồi, trông thấy Đức Thế Tôn oai đức đoan nghiêm, dung mạo đẹp đẽ, các căn tịnh tĩnh, tâm ý chánh định, cho đến ba mươi hai tướng tốt hết sức trang nghiêm, giống như bầu trời ban đêm đầy tinh tú. Thấy rồi, chàng sinh tâm thanh tịnh hoan hỷ, hướng đến trước Đức Phật đầu mặt đảnh lễ sát chân Ngài, rồi lui đứng về một bên.

Đức Thế Tôn thấy Thượng Tán lui đứng về một bên rồi liền tuần tự thuyết các pháp như bố thí, trì giới luật, lại nói pháp nhân duyên sinh vào cõi trời, các tội khổ của ngũ dục, các lậu hoặc chưa hết thì còn sinh phiền não, tán thán pháp xuất gia thanh tịnh. Đức Thế Tôn biết đồng tử đã sinh tâm hoan hỷ nhu hòa, không chướng ngại, nên có thể thọ lãnh các pháp này. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn đem lời hoan hỷ, chân thật thuyết pháp về bốn chân lý Khổ, Tập, Diệt và Đạo… cho đồng tử nghe.

Đức Phật thuyết những pháp như vậy, đồng tử Thượng Tán ngay tại chỗ ngồi lìa trần cấu, diệt sạch phiền não. Sau khi diệt sạch phiền não rồi, đối với các pháp sinh pháp nhãn tịnh, bao kết hoặc đều được tiêu trừ, biết các pháp đúng như thật, như áo trắng sạch không chút nhơ, rất dễ nhuộm màu. Đúng vậy! Đúng vậy! Thiện nam Thượng Tán ngồi ngay tại chỗ lìa trần cấu, hết các phiền não… đối với tất cả các pháp đều biết như thật.

Nói về vợ đồng tử Thượng Tán, đêm ấy thức vậy nằm trên giường bỗng nhiên không thấy chồng mình. Nàng nghĩ đến đồng tử càng thêm khát ngưỡng ân ái nhớ mong, nên vội vã đến báo tin cho mẹ chồng:

-Thưa thánh mẫu, mẹ có biết Thượng Tán, ái tử của mẹ đang ở đâu chăng? Đêm hôm, con mới thức giấc bỗng nhiên không thấy đồng tử, không biết chàng đi đâu?

Thánh mẫu nghe như vậy, vì lòng thương yêu nghĩ nhớ đến con, nên kêu khóc thảm thiết. Bà ta vội vã chạy đến chỗ đại trưởng giả cha của Thượng Tán, đến nơi thưa:

-Thưa đại trưởng giả, nay ngài có biết ái tử của ngài ở đâu chăng?

Bà thuật lại tất cả lời của nàng dâu mới thưa. Trưởng giả nghe nói trong cung mất Thượng Tán, vì lòng thương nhớ con, liền bảo các sứ giả:

-Các ngươi phải cấp tốc đi đến các nơi, chỗ của hàng trí thức, nhà toán số, nơi sòng bạc, các thanh lâu, tìm kiếm con ta đem về đây.

Lúc ấy sứ giả đi đến ngã tư đường trong thành Ba-la-nại rung linh rao lên:

-Nếu có ai đến báo với ta: “Tôi thấy Thượng Tán, tôi biết chỗ và làm việc của Thượng Tán” để ta thấy được và tìm biết được Thượng Tán, sẽ ban cho người này vật có giá trị trăm ngàn.

Vào cuối đêm đó, trưởng giả ra lệnh mở cửa thành, cho sứ giả cấp tốc đi loan tin khắp mọi nơi: “Này mọi người ngoài thành, mau mau đi tìm Thượng Tán cho ta.”

Đêm ấy trời vừa mờ sáng, vị trưởng giả, thân phụ Thương Tán, đang ưu Sầu khổ não, kêu khóc lệ trào, vội vã đi về cửa thành Bạt-đà-la-đề. Khi ra khỏi cửa thành, trưởng giả đi tới phát hiện được dấu chân giày da của đồng tử, rồi lần theo dấu chân giày, tận cùng dấu chân giày thì thấy đôi giày da giá trị hai trăm ngàn để bên bờ sông. Trưởng giả an tâm phần nào, thầm nghĩ: “Thượng Tán đứa con yêu dấu của ta, hiện nay có lẽ chưa chết.”

Ông ta thở phào nhẹ nhõm, suy nghĩ: “Nếu con ta chết thì đôi giày có lẽ mất từ lâu.” Khi thấy được đôi giày da, trưởng giả chẳng quan tâm đến, bỏ đó mà đi, giống như người ta thấy đờm dãi, không nghĩ tưởng, vội vàng đi qua. Đúng vậy! Đúng vậy! Thân phụ thiện nam tử Thượng Tán thấy đôi giày da làm bằng bảy báu, bỏ lại đi qua, vội vã lội qua sông Ba-la-na đi tìm đồng tử.

Lúc ấy Đức Thế Tôn ở trên bờ sông trông thấy thân phụ thiện nam tử Thượng Tán đang đi hướng về mình.

Thấy rồi, Đức Thế Tôn liền nghĩ: “Thân phụ thiện nam tử Thượng Tán này đã đến đây tìm con, do vì lòng thương nhớ, sẽ vội vàng ôm lấy thân thiện nam tử Thượng Tán mà không để ý gì đến tốt xấu. Vậy Ta có thể vận dụng thần thông biến hóa làm cho thân phụ thiện nam tử Thượng Tán chỉ ở tại chỗ nhìn thấy đồng tử, mà không thể nào đụng đến đồng tử được.”

Khi thân phụ thiện nam tử Thượng Tán trông thấy Đức Thế Tôn oai nghi tề chỉnh, đẹp đẽ thật dễ mến… như trên hư không các vì tinh tú tô điểm vầng nhật nguyệt, thì rất hoan hỷ. Khi đó trưởng giả đến bên Đức Phật, bạch Phật:

-Lành thay! Lành thay! Đại Sa-môn có thấy Thượng Tán con tôi đến đây không?

Đức Phật bảo trưởng giả:

-Này Đại trưởng giả, nếu ngài vui lòng an tọa trong giây lát, chẳng bao lâu ngài sẽ thấy được Thượng Tán.

Nghe Đức Phật nói, trưởng giả thầm nghĩ: “Vị Đại Sa-môn này có lẽ không nói dối, lời nói chân thật”, nên vui mừng hớn hở tràn ngập toàn thân không thể tự chế, liền đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui về một bên.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì trưởng giả nên dùng phương tiện tuần tự thuyết pháp như thật, như thuyết pháp bố thí, làm cho các pháp kết sử của vị ấy đều diệt sạch, biết các pháp đúng như thật, ví như chiếc áo trắng sạch dễ nhuộm các màu… Đúng như vậy! Đúng như vậy! Trưởng giả liền ngay tại chỗ ngồi, xa lìa trần cấu, biết các pháp đúng như thật, đối các pháp chứng pháp nhãn thanh tịnh, qua khỏi biển phiền não sinh tử, vượt các chướng ngại, tâm nghi không còn, chứng được vô úy, không phải nghe giáo pháp từ người khác mà từ nơi Đức Phật, rồi thọ ba pháp quy y: Phật, Pháp, Tăng và thọ năm cấm giới.

Bấy giờ ở trong loài người, đại trưởng giả Thiện Giác là vị Ưu-bà-tắc đầu tiên. Với ba lần bạch liền thành tựu ba pháp quy y là thân phụ thiện nam tử Thượng Tán này. Trong khi nghe Đức Phật thuyết pháp, vị ấy chứng biết như vậy, quán hạnh như vậy, đắc đạo tích như vậy, thấy các kết lâu dứt sạch, đối với các pháp tâm được giải thoát.

Thế Tôn thầm nghĩ: “Thân phụ thiện nam tử Thượng Tán nghe pháp chứng biết, các kết lậu dứt sạch, tâm được giải thoát, không còn thọ năm thứ dục lạc như khi còn tại nhà, Ta hãy thu thần thông lại.”

Khi ấy Đức Thế Tôn liền thu thần thông. Sau khi Đức Phật thu nhiếp thần lực, thân phụ Thượng Tán đang ngồi tại chỗ, thấy được con mình. Thấy rồi, trưởng giả bảo Thượng Tán:

-Này con Thượng Tán, mẹ con nhớ con nên khổ não vô cùng, vì con mà buồn khóc, không nên để bà vì con mà bỏ mạng, con nên về đem lại sự sống cho mẹ con.

Trưởng giả nói như vậy rồi, thiện nam tử Thượng Tán đưa mắt nhìn Như Lai.

Đức Thế Tôn bảo phụ thân Thượng Tán:

-Này Đại trưởng giả, ý ông nghĩ sao, nếu như có người là bậc hữu học, đã học các trí, đã học thấy các pháp, khi nghe pháp chứng biết, các kết lậu diệt sạch, tâm được giải thoát, người này có thể thoái tâm trở về nhà mà thọ hưởng thú vui ngũ dục lại hay không?

Trưởng giả đáp:

-Thưa Thế Tôn, không có như vậy.

Đức Thế Tôn lại bảo trưởng giả:

-Thiện nam tử Thượng Tán này đã có tri kiến của bậc hữu học, đã chứng các pháp như trưởng giả không khác. Ngày nay, Thượng Tán khi nghe thuyết pháp, chứng được đạo tích, kết lậu đã diệt sạch, tâm được thanh tịnh giải thoát.

Đức Phật lại bảo trưởng giả:

-Thiện nam tử Thượng Tán này ngày nay không thể trở về nhà thọ hưởng ngũ dục như thuở trước.

Bấy giờ trưởng giả liền bạch Phật:

-Hay lắm Thế Tôn! Nay Thượng Tán khéo ở trong đời được nhiều lợi ích, khéo sống trong thế gian mà các kết lậu đã diệt sạch, tâm được giải thoát.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn thấy trên thân thiện nam tử Thượng Tán còn trang điểm bằng các chuỗi ngọc anh lạc, liền nói kệ:

Thân trang sức bằng ngọc anh lạc

Nhưng tâm chứng pháp được tịch định

Điều phục các căn đều thanh tịnh

Khởi lòng đại bi thương chúng sinh

Đạt được hạnh chân thật như vậy

Thì được gọi là chân phạm hạnh

Cũng gọi Sa-môn dòng họ Thích

Như vậy cũng gọi Tỳ-kheo Tăng.

Thân phụ thiện nam tử Thượng Tán liền bạch Phật:

-Hay thay! Bạch Thế Tôn, con nguyện cúng dường ẩm thực cho Đức Thế Tôn và thiện nam tử Thượng Tán…, xin Ngài nhận lời.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì thương tưởng trưởng giả, nên im lặng nhận lời mời. Trưởng giả Thiện Giác thấy Đức Thế Tôn im lặng nhận lời mời, từ chỗ ngồi đứng vậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh ba vòng từ tạ ra về.

Trưởng giả Thiện Giác ra về chưa được bao lâu, đại thiện nam tử Thượng Tán từ chỗ ngồi đứng vậy đảnh lễ dưới chân Phật, quỳ gối chắp tay, bạch:

-Lành thay! Bạch Đức Thế Tôn, cúi xin Đức Thế Tôn cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Thượng Tán:

-Lành thay! Đến đây Tỳ-kheo! Người hãy ở trong giáo pháp của Ta, tu phạm hạnh dứt sạch các kết lậu.

Đức Phật nói lời như vậy rồi, Trưởng lão Thượng Tán liền thành người xuất gia, được giới Cụ túc làm vị Sa-môn. Lúc bấy giờ, trong thế gian có bảy vị A-la-hán: Đức Thế Tôn là một, năm anh em Kiều- trần-như và Thượng Tán.

Buổi mai hôm sau, Đức Thế Tôn đắp y mang bình bát, bảo Thượng Tán làm thị giả, đi thẳng về nhà trưởng giả Thiện Giác, đến nơi trải tòa an tọa. Khi ấy mẹ và vợ của Trưởng lão Thượng Tán, đồng đến lễ dưới chân Đức Phật, đảnh lễ xong lui về một bên. Sau khi hai mẹ con đứng về một bên rồi, Đức Phật vì họ mà tuần tự thuyết các pháp bố thí… thanh tịnh. Đức Như Lai đều biết họ sinh tâm hoan hỷ, thanh tịnh, ôn hòa, không có chướng ngại.

Đức Thế Tôn thuyết các pháp làm cho chư Phật hoan hỷ đó là: chân lý về khổ, chân lý về nguyên nhân của khổ, chân lý về diệt khổ và chân lý về sự diệt khổ đắc đạo. Nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp, hai vị ấy tại chỗ ngồi xa lìa các trần cấu, được trí thanh tịnh, bao nhiêu câu trược bị diệt trừ, tất cả kiến chấp thảy đều tiêu diệt. Đúng vậy! Đúng vậy! Những quyến thuộc này ngay tại tòa xa lìa trần cấu, bao nhiêu cấu trược diệt sạch, chứng biết như thật. Hai vị ấy đã thấy các pháp, chứng biết một cách sâu xa. Đối với các pháp vượt qua phiền não nhiều kiếp, không nghi ngờ sợ sệt, pháp này không phải nghe do từ người khác nói, mà ở trong giáo pháp Thế Tôn chứng được tri kiến, quy y Phật, Pháp, Tăng cùng thọ năm giới cấm.

Bấy giờ ở thế gian, ngay ngày ấy, người trước tiên trong loài người thọ Tam quy và Ngũ giới thành Ưu-bà-di đó là mẹ và vợ của Trưởng lão Thượng Tán cùng tất cả quyến thuộc của họ.

Bấy giờ Đại phú trưởng giả Thiện giác thấy Đức Thế Tôn vì hàng quyến thuộc tùy căn cơ mà thuyết pháp nên hết sức hoan hỷ, bày biện các món ăn. Trưởng giả và vợ trưởng giả cùng nàng dâu, tự tay bưng lấy thức ăn cao lương mỹ vị dâng lên cho Đức Phật và Thượng Tán…, đủ các thức ăn mềm, dẻo. Thức ăn uống… đều đầy đủ, tự ý thọ dụng no đủ.

Lúc ấy trưởng giả Thiện Giác, cha của Trưởng lão Thượng Tán, cùng vợ và nàng dâu, thấy Đức Phật ăn xong, thâu cất y bát, rửa tay chân, rồi an tọa một cách thanh tịnh, mỗi người lấy một chiếc nệm ngồi nhỏ theo thứ lớp ngồi trước Đức Phật.

Thấy trưởng giả Thiện Giác cùng quyến thuộc đúng như pháp đến ngồi phía trước xong, Đức Như Lai từ mẫn muốn độ họ thoát kết sử, lìa khổ não, nên thuyết các pháp thích hợp với họ. Các vị ấy nghe pháp rồi, sinh hoan hỷ, tín tâm vững mạnh, oai đức tăng trưởng.

Khi nghe pháp xong, tất cả mọi người đều hoan hỷ, biết đúng như pháp. Đức Thế Tôn rời tòa đứng vậy ra về, có Thượng Tán đi theo sau.

***

Phẩm 39: NHÂN DUYÊN ĐỜI TRƯỚC CỦA DA-DU-ĐÀ

Thuở ấy, tại thành Ba-la-nại thuộc xứ Thiên trúc có bốn thiện nam đặc biệt hơn người, là nhà đại phú trưởng giả. Những vị đó là:

Người thứ nhất tên là Tỳ-la-ma (nhà Tùy dịch Vô cấu).

Người thứ hai tên là Tu-bà-đầu (nhà Tùy dịch Thiện Tý).

Người thứ ba tên là Phú-lan-na (nhà Tùy dịch Mãn Túc).

Người thứ tư tên là Già-bà-bạt-đế (nhà Tùy dịch Ngưu Chủ).

Bốn vị này nghe người ta nói đại thiện nam Da-du-đà (Thượng Tán) theo Sa-môn tu phạm hạnh. Nghe vậy, họ suy nghĩ: “Việc này thật hy hữu, phạm hạnh trong pháp của Đại Sa-môn Cù-đàm này phải hội đủ sự bền vững không lay động và vượt trên các pháp khác, thật là bậc nhất! Đó là lý do tại sao đại thiện nam Da-du-đà theo Sa-môn xuất gia tư phạm hạnh. Chúng ta ngày nay cũng đến Sa-môn cầu tu phạm hạnh.”

Cùng nhau thảo luận xong, họ rủ nhau đến chỗ Da-du-đà. Gặp mặt nhau, họ dùng lời tốt đẹp hỏi han chúc tụng, tâm ý mỗi người đều hoan hỷ cung kính, rồi ngồi qua một bên. Bốn vị Trưởng lão cùng nhau thưa Da-du-đà:

-Hạnh thanh tịnh này quyết phải bền vững, nhất định vượt hơn các pháp khác. Pháp này hội đủ những đặc tính như vậy, nên đáng kính đáng quý. Như Tôn giả ngày nay ở nơi Đại Sa-môn Cù-đàm tu hạnh thanh tịnh, chúng tôi cũng biết cầu Đại Sa-môn xin tu hành phạm hạnh.

-Bấy giờ Trưởng lão Da-du-đà liền cùng với bốn vị trưởng giả thành Ba-la-nại đồng đi đến Đức Phạt, đảnh lễ dưới chân Phật, sau khi đảnh lễ xong rồi, liền ngồi một bên. Da-du-đà liền bạch Đức Phật:

-Thưa Đại Giác Thế Tôn, bốn vị trưởng giả này đều là bạn cũ hết sức thân mật của con khi còn tại gia. Các vị thiện nam tử này là Vô Cấu, Thiện Ý, Mãn Túc và Ngưu Chủ, ngày nay đến đây quy y Thế Tôn. Lành thay Thế Tôn! Cúi xin Ngài theo căn cơ bốn trưởng giả này, mà thuyết pháp giáo hóa chỉ dạy.

Đức Thế Tôn vì bốn vị trưởng giả này mà thuyết các pháp vi diệu. Những pháp đó là Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục… thuyết các pháp môn. Những trưởng giả này được dạy các pháp như vậy, liền ngay tại chỗ ngồi xa lìa trần cấu, cho đến tất cả bao nhiêu pháp tập khởi đều biết rõ và tướng pháp tịch diệt cũng biết như thật. Như chiếc áo trắng sạch không vết nhơ, dễ nhuộm màu sắc.

Đúng vậy! Đúng vậy! Bốn vị trưởng giả này ngay tại chỗ ngồi… biết tất cả về tướng pháp tập khởi và tịch diệt các phiền não, chứng biết đúng như thật. Bốn vị trưởng giả này đều thấy tướng các pháp, được tướng các pháp, chứng tưởng các pháp, thể nhập tướng các pháp, vượt qua phiền não, tâm không chướng ngại, vượt khỏi lưới nghi, trừ diệt kết sử, được sự vô úy, chẳng phải biết từ người khác, hành theo Phật pháp. Họ đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, ở trước Phật, họ quỳ gối chắp tay thưa Đức Phật:

-Bạch Đấng Đại Giác Thế Tôn, ngày nay chúng con đến cầu xin Thế Tôn cho chúng con được xuất gia, nương theo Phật pháp, thọ giới Cụ túc.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền bảo bốn vị trưởng giả:

-Này các Tỳ-kheo, thanh tịnh đến đây, vào trong giáo pháp của Ta tu phạm hạnh để diệt các khổ.

Khi Đức Thế Tôn nói những lời như vậy, bốn vị trưởng giả ở thành Ba-la-nại, tóc và râu đều rụng giống như vừa mới cạo cách đây bảy hôm, trên thân tự nhiên mặc ba pháp y, tay cầm bình bát. Bốn vị này liền thành người xuất gia thọ giới Cụ túc.

Bốn vị trưởng giả xuất gia thọ giới Cụ túc như vậy chưa được bao lâu, ở yên một chỗ, bỏ các việc thế gian, giữ gìn thân khẩu không dám phóng dật, siêng năng tinh tấn, ở nơi vắng lặng tu các thiện pháp, đứng ngồi một mình chưa từng gián đoạn như cứu lửa cháy đầu.

Bấy giờ, bốn vị thiện nam tử ở chỗ vắng lặng, vì chánh tín nến xuất gia cầu đạo, chẳng bao lâu liền được vô thượng phạm hạnh, tự thấy tướng các pháp, tự chứng thần thông, vô úy, tự xướng lên: “Đã đoạn sinh tử, đã được quả báo phạm hạnh, việc làm đã xong, không còn tái sinh đời sau.” Họ tự biết, tự chứng. Bốn vị trưởng giả này đồng một lúc chứng quả A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát. Bấy giờ, ở thế gian có mười một vị A-la-hán: Thứ nhất là Thế Tôn, thứ hai là anh em Kiều-trần-như, thứ ba là Da-du-đà và bốn vị thiện nam tử đại trưởng giả bằng hữu thân thiết của Da-du-đà khi còn tại gia.

Bấy giờ có năm mươi bạn bè khi xưa còn ở tại nhà của Da-du-đà, từ các nước hợp lại, trong đó có những người từ nhỏ đến lớn cùng sống chung với Da-du-đà, nghe Da-du-đà theo Đại Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh. Họ cùng nhau thảo luận: “Phạm hạnh này quyết phải là pháp tinh anh thù thắng, gồm đủ sự bền vững, nên Da-du-đà mới theo Đại Sa-môn Cù-đàm cầu tu phạm hạnh.” Năm mươi người này bàn luận như vậy, rồi cùng nhau kéo đến chỗ Da-du-đà. Sau khi họ gặp nhau, cung kính chào hỏi lẫn nhau, dùng những lời tốt đẹp đàm luận với nhau. Sau khi chào hỏi xong rồi, họ liền lui về một bên. Năm mươi vị bạn hữu này đều là hàng lối đại trưởng giả của mỗi nước khác nhau, là bạn cũ thân thiện của Da-du-đà khi còn ở tại nhà. Bấy giờ họ cùng thưa Da-du-đà:

-Bạch Nhân giả Da-du-đà, ngày nay phạm hạnh này chắc có lẽ là pháp tốt đẹp thù thắng hơn những pháp khác, nên Trưởng lão mới theo Đại Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh. Ý chúng tôi cũng hoan hỷ cùng nhau đồng muốn đến chỗ Đại Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh.

Lúc ấy Da-du-đà cùng năm mươi vị thiện hữu ngày xưa khi còn ở tại nhà đồng đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi lui về ngồi một bên. Da-du-đà bạch Đức Thế Tôn:

-Bạch Đại Thiện Thế Tôn, con thuở xưa ở nhà có năm mươi vị bằng hữu tri thức, người lớn, người nhỏ, tất cả đều là hàng thiện nam tử, ý họ đều muốn quy y Như Lai. Xin Đức Thế Tôn đại từ thương mến mà nói pháp yếu, giáo hóa chỉ dạy cho họ.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì họ, tùy thuận nói các pháp. Những vị trưởng giả này nghe những lời giáo hóa của Đức Phật nói ra…, đối với tất cả các pháp đều biết như thật. Các vị trưởng giả này đều thành lậu tận A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát.

Thời ấy, ở trong thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán. Đó là: Thế Tôn, năm vị Tỳ-kheo Kiều-trần-như…, Da-du-đà, bốn vị thiện hữu của Da-du-đà ở thành Ba-la-nại: Vô cấu, Thiện Tý, Túc Mãn và Ngưu Chủ, cùng các vị Đại trưởng lão bằng hữu tại gia của Da-du-đà là năm mươi vị đều từ các nước khác nhau hợp lại, là những thiện nam tử hoặc lớn hoặc nhỏ.

Tại Lộc uyển thuộc thành Ba-la-nại đã độ những người như vậy, Đức Thế Tôn muốn du phương hóa độ, nên bảo Trưởng lão Da-du-đà:

-Này Da-du-đà, thầy ở lại đây, chớ nên theo Ta. Tại sao? Vì thầy từ nhỏ đến giờ thân chưa từng chịu khổ, lại nữa da thịt của thầy mịn màng, không thể ăn khổ, mặc áo thô, thầy ở lại đây thọ sự cúng dường của cha mẹ, tùy ý thọ dụng đồ ăn mặc tốt đẹp. Cha mẹ thầy có thể cúng dường cho thầy.

Da-du-đà vâng lời Đức Phật dạy, đứng cung kính bạch Phật:

-Y theo lời Thế Tôn chúng con không dám trái.

Da-du-đà vâng lời Đức Phật dạy ở lại trong thành Ba-la-nại, nhất định không dời bước.

Thuở đó, ở thành Ba-la-nại thuộc xứ Thiên trúc, có năm trăm vị thương nhân trưởng giả cũng lại là bạn bè của Da-du-đà khi còn ở nhà. Các thương nhân này vào biển tìm ngọc quý, sau khi trở về cùng hỏi thăm chỗ ở Da-du-đà. Họ hỏi thăm biết Da-du-đà ngày nay theo Đại Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh. Nghe như vậy, họ cùng nhau bàn luận: “Phạm hạnh này phải là giáo pháp vô thượng vi diệu hơn những pháp khác. Nếu chẳng phải như vậy thì tại sao thiện nam tử Da-du-đà ngày nay hướng về Đại Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh. Chúng ta ngày nay cũng nên cùng nhau đến Đại Sa-môn Cù-đàm cầu tu phạm hạnh.”

Lúc ấy năm trăm vị thương nhân đại trưởng giả cùng nhau đến chỗ Da-du-đà, Đến nơi, họ đồng bạch Da-du-đà:

-Thưa nhân giả Da-du-đà, từ lâu chúng ta không gặp mặt nhau, anh em chúng tôi đi vào biển, nay mới trở về nhà, nghe Nhân giả xuất gia, cho nên cùng nhau kéo đến đây vấn an. Nhân giả có được an ổn khoái lạc không? Có phiền não hay không?

Bao lời niềm nở tốt đẹp cùng nhau an ủi như vậy. Chào hỏi qua lại xong rồi, họ cùng nhau cung kính đứng lui về một bên.

Năm trăm vị thương nhân trưởng giả bạch Trưởng lão Da-du-đà:

-Thưa nhân giả Da-du-đà ở đây rất tốt đẹp.

Da-du-đà liền trả lời:

-Đúng vậy, đúng vậy. Ở đây hết sức tốt đẹp.

Lúc bây giờ, năm trăm vị thương chủ trưởng giả liền theo Trưởng lão Da-du-đà bỏ tục xuất gia thọ giới Cụ túc. Nhưng họ trải qua thời gian khá lâu mà không đắc đạo.

Đức Thế Tôn du hóa các nước, rồi quay về ngự tại tinh xá vườn cây Kỳ-đà thuộc thành Xá-bà-đề. Khi ấy Trưởng lão Da-du-đà đã trải qua thời gian ở Lộc Uyển khá lâu, sau khi mãn hạ cùng năm trăm Tỳ-kheo rời khỏi vườn Nai. Nghe Đức Phật hiện ngự tại tinh xá Kỳ-đà, muốn yết kiến Đức Phật, các khách tăng này đi đến vườn Kỳ-đà. Bấy giờ, các Tỳ-kheo cựu trú nơi đây, có người tiếp bát, có người tiếp y, khăn, nên trong căn phòng lúc này xôn xao ồn ào lớn tiếng.

Lúc ấy, tuy Đức Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi Trưởng lão A-nan:

-Này A Nan, trong căn phòng ấy hôm nay vì cớ gì to tiếng xôn xao ồn ào như vậy?

Tôn giả A-nan bạch Phật:

-Bạch Như Lai Thế Tôn, hiện có năm trăm Tỳ-kheo khách đến, mà Trưởng lão Da-du-đà là vị thủ chúng. Chúng con thấy Tỳ-kheo khách đến, các vị Tỳ-kheo cựu trụ nơi đây cùng nhau hỏi thăm qua lại và tiếp rước y bát cất trong phòng, nên phát ra tiếng nói lớn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:

-Này Trưởng lão A-nan, đã đúng lúc vì Ta mời các Tỳ-kheo khách đến đây.

Trưởng lão A-nan nghe theo lời Phật dạy, liền đến báo các Tỳ-kheo khách:

-Thưa các vị Tỳ-kheo khách, hiện giờ Đức Thế Tôn gọi tất cả chư vị Tỳ-kheo khách đến.

Tất cả Tỳ-kheo khách nghe A-nan nói như vậy, liền thưa với Tôn giả A-nan:

-Như lời Ngài dạy, chúng tôi xin vâng.

Năm trăm vị khách Tăng vâng lời chỉ dạy của Tôn giả A-nan cùng nhau đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, lễ bái xong, lui về đứng một bên. Các Tỳ-kheo khách lui về một bên rồi, đều đứng im lặng.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo khách:

-Này các thầy, vì cớ gì các thầy nói lớn tiếng như vậy, giống như người thế gian cãi nhau la lên: “Hô hô! Ha ha! Tiếng ấy giống như người câu cá la lên mỗi khi họ cùng nhau theo rượt đuổi bắt cá. Này các thầy Tỳ-kheo, các thầy nên trở về chỗ cũ, không được ở nơi đây cùng Ta, Ta đuổi các thầy ra khỏi chỗ này.

Bấy giờ, năm trăm vị tân Tỳ-kheo khách nghe Đức Phật nói như vậy, đồng bạch Phật:

-Chúng con xin y theo lời Phật dạy.

Năm trăm Tỳ-kheo khách này nghe lời Phật đuổi, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, rồi từ tạ ra đi. Họ mang y bát ra khỏi tinh xá, đi đến một bờ sông, sông này tên là Bà-la-cù-ma-đế (nhà Tùy dịch là Tú-mị-chủ) Họ ở tại bờ sông Tú-mị này ngày đêm siêng năng không nghỉ, đầu đêm cuối đêm không nằm không ngủ, dụng tâm dũng mãnh chí nguyện mong cầu tu tập, để chứng được các pháp trụ đạo. Họ dụng tâm không ngừng nghỉ, trong thời gian chẳng bao lâu sự tu tập được kết quả. Những thiện nam tử này đều chánh tín xả tục xuất gia, lại chuyên tu tập phạm hạnh vô thượng, công năng tu tập đã xong, hiện tiền thấy được thật tướng các pháp, chứng được các phép thần thông, liền đoạn trừ tất cả kết sử, tự xướng lên: “Sinh tử đã dứt, được hoàn tất phạm hạnh, việc làm đã xong, lại không thọ sinh đời sau, tự chứng tự biết.” Tất cả những Trưởng lão này đều thành A-la-hán, tâm giải thoát hoàn toàn, không còn lo sợ.

Thuở ấy, Đức Thế Tôn đang ngự tại tinh xá Xá-bà-đề-kỳ-đà trong thời gian ngắn, Ngài sắp du hóa các thôn xóm còn lại, từ xóm làng này dần đến xóm làng khác. Khi đến thành Tỳ-da-ly, hướng về ao Di-hầu, trên bờ ao có tinh xá bằng cỏ, Ngài dừng nghỉ ở nơi đây.

Vào một hôm, mặt trời đã xế bóng, Đức Thế Tôn từ thiền định dậy, ra khỏi thảo tinh xá, đến chỗ đất trống trải tọa cụ ngồi. Các vị Tỳ-kheo bao vây chung quanh tả hữu trước sau. Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Trưởng lão A-nan:

-Này Trưởng lão A-nan, Ta thấy các Tỳ-kheo ở bờ sông Bà-la-cù-ma-đế, nơi đấy có hào quang rực rỡ, mà ở trên bờ sông Bà-la-cù-ma-đế là năm trăm vị Tỳ-kheo.

Đức Phật nói như vậy ba lần. Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: -Thầy hãy đến gọi các Tỳ-kheo ấy tới gặp Ta.

Tôn giả A-nan nghe Đức Phật sai như vậy, liền đến chỗ một Tỳ-kheo niên thiếu, đến nơi bảo Tỳ-kheo đó:

-Lành thay! Này Trưởng lão, thầy mau đến bờ sông Bà-la-cù-ma-đế, nơi đó đang có các Tỳ-kheo. Thầy đến thưa các vị Trưởng lão đó: “Đức Thế Tôn muốn gặp các vị Trưởng lão. Nếu các vị thấy đúng lúc, nên mau đến yết kiến Thế Tôn.”

Vị Tỳ-kheo niên thiếu nghe Trưởng lão A-nan dặn như vậy, liền thưa Tôn giả A Nan:

-Y như Tôn giả dạy, tôi xin vâng lời.

Khi ấy Tỳ-kheo trưởng lão niên thiếu, cấp tốc đi trong khoảnh khắc như tráng sĩ duỗi cánh tay. Đúng vậy, đúng vậy, khi vị Tỳ-kheo-niên thiếu mất dạng từ thành Tỳ-da-ly để đi đến bờ sông Bà-la-cù-ma-đế, xuất hiện nơi các Tỳ-kheo đó. Đến nơi, vị Tỳ-kheo niên thiếu liền thưa các vị Tỳ-kheo kia:

-Lành thay! Các vị Trưởng lão, ngày nay nếu các vị thấy hợp thời, Đức Thế Tôn muốn gặp các vị Trưởng lão, quý vị nên biết, mau đến hầu Thế Tôn.

Khi ấy, các vị Tỳ-kheo ở bên bờ sông kia thưa vị Tỳ-kheo niên thiếu:

-Như Trưởng lão dạy, chẳng dám sai lời.

Bấy giờ, các vị Tỳ-kheo nghe vị Tỳ-kheo niên thiếu nói như vậy, trong thời gian như tráng sĩ duỗi cánh tay, đều khuất bóng tại bờ sông Bà-la-cù-ma-đế và xuất hiện tại thảo tinh xá bên bờ ao Di-hầu trong thành Tỳ-da-ly.

Khi ấy, Đức Thế Tôn đang nhập vào Bất động tam-muội, Trưởng lão Da-du-đà và năm trăm Tỳ-kheo cũng nhập vào Bất động tam-muội. Canh một đêm ấy, Tôn giả A-nan đứng dậy, trịch áo vai bên phải, sửa sang y phục chấp tay hướng về Đức Thế Tôn thưa:

-Cúi xin Đức Thế Tôn biết cho, đêm nay đã đến canh một, Ngài có thể hỏi chuyện an ủi các Tỳ-kheo khách.

Đức Thế Tôn như vậy cho đến nửa đêm, Tôn giả A-nan lại thỉnh:… Đức Thế Tôn im lặng không nói. Lúc bấy giờ, đã hết canh ba, Tôn giả A-nan lại thưa thỉnh:… Đức Thế Tôn vẫn im lặng.

Cho đến cuối đêm, sắp đến giờ điểm trống thức, sao mai sắp mọc, Trưởng lão A-nan lại đứng dậy, trịch áo vai bên phải, sửa sang y phục chắp tay hướng về Đức Thế Tôn, bạch:

-Xin Đức Thế Tôn biết cho, đã đến cuối đêm, chẳng bao lâu nữa trống canh báo thức sẽ điểm, sao mai sắp mọc, bạch Thế Tôn nay có thể giáo huấn an ủi các Tỳ-kheo khách, lại e chư Tỳ-kheo ngồi đã lâu nên thân thể mệt mỏi.

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:

-Này Trưởng lão A-nan, người không biết sự việc này. Vì lý do gì? Này Trưởng lão A-nan, nếu thầy biết sự việc này thì không nên thưa thỉnh vì chánh định này không phải là cảnh giới của thầy. Tại sao? Này A-nan, Ta đang nhập vào chánh định Bất động, năm trăm vị Tỳ-kheo khách này cũng như Trưởng lão Da-du-đà đều nhập vào chánh định Bất động, mà Da-du-đà là người đứng đầu. Ta tự biết việc này là như vậy.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bằng giọng sư tử rống nói kệ:

Đã vượt vũng bùn dục phiền não

Các gai kết sử đã nhổ xong

Đến chỗ tham si đều diệt sạch

Chẳng ở trong vòng khổ với vui.

Vượt qua được đến bờ bên kia

Như vậy mới thật là dũng mãnh

Cũng gọi Tỳ-kheo phá hết ác

Cũng gọi người giải thoát hoàn toàn.

Khi Đức Thế Tôn nói kệ rồi, năm trăm vị Tỳ-kheo cho là việc hy hữu chưa từng có. Do sinh tâm hy hữu chưa từng có, họ cùng nhau nói:

-Các vị Trưởng lão, việc này thật hy hữu! Trưởng lão Da-du-đà này có thần thông lớn nên mới khiến tất cả năm trăm Tỳ-kheo chúng ta, như Da-du-đà. Xưa ở tại nhà là bằng hữu nay cũng như nhau. Cha mẹ thân tộc của vị ấy đều có phước đức.

Bấy giờ năm trăm vị Tỳ-kheo đều sinh nghi, muốn hỏi Đức Thế Tôn để giải bày, nên cùng nhau bạch Phật:

-Thưa Đức Thế Tôn, Trưởng lão Da-du-đà này trong quá khứ trồng các căn lành gì mà thời hiện tại sống trong nhà giàu có phước đức như vậy? Nhiều tài sản như vậy? Nhiều ngọc quý như vậy? Gia súc đầy đủ như vạy? Sinh trong nhà đầy đủ như vậy? Khi mới sinh có chiếc lọng báu che trên thân ngài như vậy? Cha mẹ vì ngài kiến tạo ba tòa nhà như vậy? Xưa trồng nghiệp gì mà nay được quả báo như vậy? Lại đối với các cô gái đẹp lại tưởng như thây ma và nhân gì được gặp Đức Phật xuất gia thọ cụ túc giới thành A-la-hán? Nhân gì mà mẹ và vợ ngài đều được Thánh pháp? Nhân duyên gì thân bằng quyến thuộc cùng thương chủ triều đình các nước thành năm trăm Tỳ-kheo, ở tại bờ sông Bà-la-cù-ma-đế đồng chứng quả A-la-hán?

Thưa hỏi như vậy rồi, họ đều yên lặng.

Khi ấy, Đức Thế Tôn liền bảo năm trăm vị Tỳ-kheo khách: -Này các thầy Tỳ-kheo, chú ý lắng nghe! Ta nhớ thuở quá khứ ở thành Ba-la-nại này, có một người sắp kinh doanh nhiều sự nghiệp, nghĩ thế này: “Nếu sự việc này của ta thành tựu, ta lại làm việc khác, Việc khác này được thành tựu rồi, ta lại làm việc khác nữa. Nếu tất cả những sự việc đều được thành tựu rồi thì sau đó sẽ ta sắm sửa đầy đủ thức ăn uống cao lương mỹ vị, như đồ ăn uống mềm, cứng…, mỗi thứ đều được đầy đủ, đem cúng dường Sa-môn, hay Bà-la-môn, để họ ăn uống thật no đủ.”

Người này do nhân duyên thiện nghiệp ý chí dũng mãnh, lại được nhiều phước đức, nên tất cả các việc kinh doanh nhờ đó đều được thành tựu. Người này thấy sự nghiệp đã thành tựu, nên vào một buổi sáng mai nọ, thức dậy sửa soạn đầy đủ các thức ăn uống cứng mềm và mang đầy đủ thức ăn uống này đi đến cửa thành. Đến nơi bày biện xong xuôi, ông ta thầm nghĩ: “Nơi cửa thành này, nếu gặp Sa-môn hay Bà-la-môn đầu tiên, ta sẽ đem nhiều thức ăn uống… cứng mềm để hiến dâng.”

Thuở ấy, ngoài cửa thành có vị Bích-chi-phật hiệu là Na-dà-la Thi-khí (nhà Tùy dịch là Thạnh Kế) thường ở tại thành Ba-la-nại. Vị Tôn giả Bích-chi-phật này vào buổi sáng sớm hôm ấy, đắp y mang bình bát, đi bộ chậm rãi hướng về thành Ba-la-nại để khất thực.

Vị thương gia này thấy vị Bích-chi-phật oai nghi khoan thai, đi đứng trang nghiêm, bước đi thong thả không có nghiêng lệch, không liếc nhìn hai bên, bước đi chậm rãi nhìn thẳng về trước, giữ gìn oai nghi không nhanh không chậm, phục sức tương xứng, trong ngoài nghiêm chỉnh, ai cũng thích chiêm ngưỡng. Vị thương gia này thấy rồi, tâm sinh thanh tịnh, hết sức hoan hỷ, đem thức ăn dâng cúng vị Bích-chi-phật.

Bấy giờ, vị Bích-chi-phật thầm nghĩ: “Ta được bố thí thức ăn mỹ vị, mà giờ thọ trai chưa đến, còn thì giờ trống, cần phải tọa thiền nhất tâm buộc niệm.” Suy nghĩ như vậy rồi, ngài liền lui bước hướng thẳng đến bờ sông. Nơi đấy có một tàng cây, ngài liền ngồi kiết già dưới gốc cây ấy, thân thể ngay ngắn ý tưởng chánh định, nhất tâm tịch tĩnh không lay, không động, an trú như vậy.

Thuở ấy, vị vua cai trị thành Ba-la-nại tên là Bà-lam-ma-đạt-đa (nhà Tùy dịch là Phạm Đức) sửa soạn bốn binh xe cộ, kéo ra khỏi cửa thành. Ngay lúc ấy bỗng nhiên có một người từ trong xóm tay cầm chiếc lọng đi ngược chiều nhà vua. Người này từ xa trông thấy Quốc vương Phạm Đức từ trước đi lại, nên thầm nghĩ: “Ta phải lánh mặt đừng để vua trông thấy.”

Người này suy nghĩ như vậy rồi, liền lánh xuống mé đường, rẽ đi một lối khác, đường rẽ này dẫn đến bờ sông Ba-la-nại. Người ấy đi xuôi theo dòng sông, chưa được bao xa, bỗng nhiên thấy một vị Bích- chi-phật đang ngồi kiết già dưới tàng cây nọ bên bờ sông, chánh niệm tư duy, thân không lay động. Thân vị Bích-chi-phật bị ánh nắng nên cả mình đều ướt đẫm mồ hôi. Người này thấy vậy, suy nghĩ: “Vị Tiên này chắc có lẽ là người trì giới thanh tịnh, nhất định người sẽ chứng thật tướng các pháp, nay ánh sáng rọi vào thân thể, làm nóng bức khó chịu.” Nghĩ như vậy rồi, người này tay cầm chiếc lọng đến che mát trên thân Bích-chi-phật.

Lúc ấy vị Bích-chi-phật biết giờ thọ trai sắp đến, nên suy nghĩ: “Giờ ăn của ta đã đến, nên phải xả thiền đứng dậy.”

Khi vị Bích-chi-phật xuất thiền, bỗng thấy có người cầm lọng che mát thân mình. Thấy rồi vì thương tưởng người này, ngài bay vọt lên hư không hiện mười tám sự biến hóa, ở trong hư không biến dạng những hành động tới lui: hoặc quỳ, hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc bốc khói nóng, hoặc phóng hào quang, hoặc khi biến ra nước, lúc vọt lên, khi chìm xuống, lđc ẩn lúc hiện… Vị Bích-chi-phật thị hiện vô lượng, vô biên những thần thông như vậy.

Bấy giờ, người này liền đối với vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí sinh tín tâm thanh tịnh, chắp tay chí thành đảnh lễ, phát nguyện: “Tôi nguyện đời sau được gặp Thánh nhân như thế này hay hơn thế này. Gặp rồi, những giáo pháp ngài nói ra, tôi nguyện ở trong giáo pháp ấy được mau chứng biết, nguyện đời vị lai không đọa vào ác đạo.” Rồi người này lại thưa thỉnh vị Bích-chi-phật:

-Xin thỉnh ngài dùng cơm.

Liền đó vị ấy lại thưa hỏi:

-Tôn giả hiện giờ ở đâu?

Đáp:

-Ta ở chỗ đó… Ta đi xứ kia…

Sau đó, vị ấy lại tìm đến thảo am, chỗ vị Bích-chi-phật ở. Tới nơi vị ấy rưới nước quét dọn trong ngoài, dùng bùn tô đắp, dọn dẹp cỏ rác xong, rồi thỉnh ý Bích-chi-phật:

-Ý con muốn dâng bốn sự nhu cầu cúng dường, những gì ngài cần con sẽ cung cấp đầy đủ tất cả y phục, thực phẩm…

Cung phụng vị Bích-chi-phật như vậy rồi, về nhà đối với cha mẹ, vợ con, thân tộc, vị ấy trình bày lại sự việc như trên:

-Ta thấy một vị Tiên nhân như vậy, giới hạnh như vậy, thanh tịnh chứng diệu pháp như vậy. Thưa các vị, nếu thấy hợp thời các vị nên đến đó cúng dường tôn trọng.

Bấy giờ cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc nghe xong, liền đồng nhau đi đến chỗ vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí, đem tâm thanh tịnh cung kính cúng dường.

Vị ấy trải qua một thời gian ngắn phát sinh thiện niệm thế này: “Ở tại gia bị nguy hiểm lớn vì phiền não trói buộc, xuất gia được an lạc lớn và giải thoát vô vi; tại gia không thể hoàn tất việc giải thoát, cũng không thể hoàn toàn vô cấu, cũng không thể hoàn toàn vô nhiễm cho đến cả cuộc đời này, muốn thanh tịnh vô cấu hoàn toàn cũng không thể được, vậy ta nên đến vị Tiên nhân kia xin xuất gia.” Nghĩ như vậy rồi, vị ấy đi đến thưa vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí:

-Lành thay! Thưa Đại tiên, xin ngài cho con được xuất gia.

Vị Bích-chi-phật không đồng ý. Vị ấy lại thưa thỉnh lần thứ hai, rồi cho đến lần thứ ba:

-Lành thay! Thưa Đại tiên, xin ngài cho con được xuất gia.

Bấy giờ, vị Bích-chi-phật Thi-khí thương tưởng vị ấy vì đã ba lần thưa thỉnh, liền bảo:

-Này thiện nam tử, hôm nay ông muốn xuất gia, thì cách đây chẳng bao xa có vị ngoại đạo tên Ba-lê-bà-la-xà (nhà Tùy dịch Hành Hành Phục Hành) ông nên đến đó tu tập điều phục thân tâm, lấy đó làm nhân duyên để đời sau xuất gia ở trong chánh pháp. Ông nên nguyện cầu, ở đời vị lai có một Đức Phật xuất hiện, hiệu là Thích-ca Mâu-ni Như Lai, nguyện gặp được Phật, gặp rồi chớ bỏ lỡ cơ hội, ở trong giáo pháp của Như Lai, được xuất gia thệ nguyện lìa xa các khổ.

Bấy giờ vị ấy vâng lời vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí, tuân hành không dám trái ý, thỉnh vị Bích-chi-phật trọn đời nhận tứ sự cúng dường. Bấy giờ Tôn giả Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí, tùy duyên trụ ở đời, thọ mạng đã mãn, nhập vào Niết-bàn. Vị ấy thấy vị Bích-chi-phật nhập Niết-bàn, liền cùng tất cả quyến thuộc nhóm họp liệm thân ngài làm lễ hỏa táng cúng dường đúng như pháp. Nghĩa là xây tháp thờ xá-lợi, trên đảnh tháp xây bánh xe hình tròn úp xuống, treo các bảo linh, phướn lọng, hoa thơm và các ngọn đèn thắp sáng liên tục để cúng dường.

Vị ấy trải qua thời gian cúng dường chư Phật, liền xuất gia ở trong pháp ngoại đạo Bà-la-bà-la-xà. Sau khi xuất gia, vị ấy trở vào rừng tu tập, thường vào mỗi buổi sáng đi vào thành Ba-la-nại khất thực độ nhật.

Một hôm, khi vào Ba-la-nại khất thực, tới nơi khu rừng nọ, vị ấy bỗng thấy một tử thi nữ vì bệnh nặng mà chết, da ngã màu xanh gần tan rữa, giòi tửa chui rúc khắp các lỗ trên thân. Thấy rồi, đứng gần bên đường quan sát tường tận, vị ấy sinh tưởng bất tịnh, rồi đi. Vị ấy buột niệm thân bất tịnh như vậy, nghĩ nhớ chẳng quên, lại luổn quán tưởng cực nhọc thành tựu, tâm đắc tứ thiền. Vị ấy lại phát lời nguyện: “Nguyện đời vị lai gặp được Đức Phật Thích-ca xuất hiện ở đời, ngày ấy tôi gặp Phật, nguyện làm đồng tử ở bên Phật xuất gia tu phạm hạnh, những giáo pháp Đức Như Lai nói ra, nghe rồi tôi nguyện mau chứng biết.”

Vị ấy tùy tuổi thọ sống ở đời một thời gian rồi tạ thế. Sau khi qua đời sinh lên cung Phạm thiên. Vị ấy từ cõi Phạm thiên giáng sinh xuống nhân gian, trải qua nhiều kiếp số như vậy, thân tối hậu sinh vào nhà trưởng giả cự đại phú trong thành Ba-la-nại, mà vị trưởng giả này có nhiều tiền của tài sản, y phục ngọc ngà, cho đến tất cả không có gì thiếu hụt.

Bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Lại còn các nhân duyên khác Ta sẽ nói đầy đủ.

Cũng tại thành Ba-la-nại này, có một nước tên là Ca-thi, vua nước này tên là Kỳ-lê-thi (nhà Tùy dịch là Tổn sấu). Sau khi Đức Phật Thi-khí nhập Niết-bàn, vua Kỳ-lê-thi dùng bảy báu: vàng, bạc, pha lê, lưu ly, mã não, san hô, hổ phách xây tháp cúng dường, bên ngoài xây thành bằng đá bao bọc bảo tháp, tháp cao một do-tuần, rộng nửa do-tuần. Tháp mà Quốc vương Kỳ-lê-thi xây tên là Đà-xa-bà-lê-dà (nhà Tùy dịch là Thập Tướng). Luân tướng của tháp: Tầng thứ nhất vua Kỳ-lê-thi làm. Tầng thứ hai do đại phi của vua làm. Tầng thứ ba do trưởng tử của vua làm. Tầng thứ tư do công chúa của vua tên là Ma-lê-ni (nhà Tùy dịch Tiểu Man) làm. Tầng thứ năm do con trai thứ hai của vua Kỳ-lê-thi làm. Tầng thứ sáu do con trai thứ ba của vua Kỳ-lê-thi làm. Tầng thứ bảy do con trai thứ hai của vua Kỳ-lê-thi làm.

Này các Tỳ-kheo, phải biết lúc bấy giờ con thứ ba của vua Kỳ lê-thi vì thờ xá-lợi của Đức Phật Ca-diếp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà xây tầng tháp thứ sáu, nay là Tỳ-kheo Da-du-đà vậy.

Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

-Trong thời quá khứ, vị ấy cầm lọng che mát Bích-chi-phật và trang nghiêm luân tướng trên tầng tháp xá-lợi của Phật Ca-diếp sáng rực, nên nay thành tựu quả báo, vừa mới sinh tự nhiên có lọng báu che trên đầu.

Lại nữa, thuở xưa Da-du-đà tạo nghiệp cất thảo am cho Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí và đem đủ thứ tài vật: Y phục, đồ ăn uống… cúng dường vị Bích-chi-phật này, nên nay hưởng quả sinh trong nhà giàu có, khi tuổi thành niên cha mẹ kiến tạo ba tòa nhà, thọ hưởng phước báo một cách tự tại.

Lại nữa, trong quá khứ Da-du-đà do vì tạo thiện nghiệp: Từng ở trong rừng thấy nữ tử thi, sinh tưởng bất tịnh tâm hồn luôn tưởng nhớ thân bất tịnh, nên ngày nay được quả báo sống tại gia đối với hàng gái đẹp mà tưởng như bãi tha ma.

Lại nữa, trong quá khứ Da-du-đà do vì gây thiện duyên đối trước vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí phát lời thệ nguyện: “Ta nguyện đời đời về sau không sinh trong ác đạo.” Do sức thiện nghiệp này nên các đời về sau không trải qua các ác thú, chỉ từ cõi trời sinh xuống cõi người, hoặc từ cõi người sinh lên cõi trời hưởng quả báo an lạc.

Lại nữa, trong quá khứ Da-du-đà do vì nhân duyên ở trước vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí phát lời thệ nguyện vị lai: “Gặp bậc Tôn giả đại tiên như thế này, hoặc gặp các bậc Tối thắng hơn. Nếu Đức Tôn nói ra các pháp yếu vi diệu, ta nguyện nghe là thọ trì tất cả, nghe rồi đều chứng biết.” Nhờ phước lực đó, nên nay được phước báo gặp Ta là Đức Thế Tôn Tối Thắng, lại ở trong giáo pháp của Ta xuất gia chứng quả lậu tận A-la-hán.

Lại nữa, trong quá khứ Da-du-đà do vì nhân duyên lần đầu tiên gặp vị Bích-chi-phật Na-dà-la Thi-khí, tâm sinh hoan hỷ, vì hoan hỷ nên trở về nhà truyền lại cho cha mẹ, vợ con, lục thân quyến thuộc, xưng dương tán thán vị Bích-chi-phật đại tiên Na-dà-la Thi-khí có nhiều công đức. Thân bằng quyến thuộc nghe lời tán thán này, tâm sinh hoan hỷ kính tín cung kính bội phần. Họ cùng nhau sắm sửa các thứ cúng dường, đến chỗ Bích-chi-phật lễ bái thiết lễ tứ sự cúng dường đầy đủ. Nhờ thiện nghiệp đó nên nay được phước báo là cha mẹ vợ con cùng thân bằng quyến thuộc của Tỳ-kheo Trưởng lão Da- du-đà, ở trong pháp của Ta đều được Thánh pháp; lại hàng thiện hữu tri thức của Da-du-đà khi còn tại nhà, đến bên bờ sông Bà-la-cù-ma- đế, năm trăm vị Tỳ-kheo ở đây một thời gian lâu đều chứng A-la-hán. Những người trong quá khứ gặp vị Bích-chi-phật, mỗi người đều đồng nguyện, đồng tâm phát lời thệ rằng ở chỗ bậc Đại tiên Thánh nhân trồng các thiện nghiệp như vậy, nên nay họ được quả báo ấy.

Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ:

Cúng dường chân Thánh như thế ấy

Được đại quả báo số vô lượng

Bích-chi Thi-khí cùng Thế Tôn

Cùng bậc lậu tận A-la-hán,

Lại còn cúng dường Bậc Thập Lực

Đầy đủ Vô uý đầy tướng tốt

Các Bậc Thánh trí đại từ bi

Hưởng được quả báo không cùng tận.

Cúng dường ruộng phước Phật Duyên giác

Và các Thanh văn chúng giải thoát

Hiện thọ quả báo cõi trời người

Sau chứng tịch diệt đại Niết-bàn.

***

Phẩm 40: PHÚ-LÂU-NA XUẤT GIA

Trong thời quá khứ, cách thành Ca-tỳ-la-bà-tô chẳng bao xa có làng Kiều-tát-la, trong làng này có một xóm, xóm ấy có vị đại Bà-la-môn, là vị Quốc sư của vua Tịnh Phạn, gia đình rất giàu có nhiều của báu, cho đến phòng nhà đều giống như cung trời của Tỳ-sa-môn ở phương Bắc. Vị Bà-la-môn này có một người con tên là Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử (đời Tùy dịch là Mãn Túc Từ) hết sức khôi ngô tuấn tú, có tướng Đại trượng phu, hiếm có người thứ hai, mọi người đều ưa thích ngắm nhìn, trí tuệ lanh lợi thông minh, tâm ý chín chắn, thấu triệt tất cả luận Phệ-đà, tự mình thông hiểu rồi dạy lại cho người khác. Vị ấy thông suốt ba bộ Phệ-đà, thông suốt luận Ni-càn-đà, thông suốt luận Kỳ-chu-bà và thông suốt luận Phá tự; lại giảng giải luận Ngũ minh, dầu là một câu nửa câu hay một bài kệ đều phân tích rõ ràng, lại thông suốt luận Thọ ký, thông thạo sáu mươi cách biện giải trong thế gian, có tướng của bậc Đại nhân.

Ngày Đại vương Tịnh Phạn sinh Thái tử Tất-đạt-đa, cũng chính là ngày Di-đa-la-ni Tử chào đời. Bản tánh của Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử nhàm chán thế gian, chí cầu giải thoát, luôn kinh sợ phiền não, tâm thường tịch định. Người đã nhiều đời trong quá khứ từng gặp chư Phật ra đời, trồng các căn lành ở chỗ các Đức Phật, tạo nhiều phước nghiệp, huân tập trong tâm, chí cầu pháp môn Niết-bàn, không thích phiền não. Đối với tất cả pháp sinh tử, vị này đều xa lìa, việc làm đã xong, phiền não tiêu diệt. Do sức nhân duyên này, căn tánh được thuần thục, chứng được Thánh pháp.

Phú-lâu-na ngồi một mình, tư duy: “Cha ta làm Quốc sư cho Đại vương Du-đầu-đàn (Tịnh Phạn), phải lo đủ mọi việc, tài ba đa diện, đối với vương pháp thì thay vua xử đoán. Rồi đây, Thái tử Tất-đạt-đa nhất định sẽ như Đại vương Du-đầu-đàn, nghĩa là nhất định làm Chuyển luân thánh vương. Đến khi thân phụ ta qua đời, ta chắc chắn sẽ thay cha làm Quốc sư cho Chuyển luân thánh vương Tất-đạt-đa. Cha ta làm Quốc sư cho một Tiểu vương mà còn bận rộn không chút thì giờ rảnh rang huống chi làm Quốc sư của Đại vương Chuyển luân thánh vương, mà hoàn tất mọi việc trong nước để được rảnh rang thì không có việc như vậy! Ngày nay ta phải tính toán trước, phải làm việc gì đây? Phải có giải pháp gì? Ta chỉ có một việc duy nhất là xả tục xuất gia!”

Phú-lâu-na quyết định như vậy rồi, ngay đêm Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia, vào lúc nửa đêm, chàng không thưa cha mẹ, cùng bằng hữu ba mươi người bỏ nhà ra đi, trực chỉ Tuyết sơn, đến nơi Tiên nhân Ba-lê-bà-giá-ca cầu xin xuất gia, ở trong pháp của Tiên nhân này tu khổ hạnh. Những vị ấy tinh tấn dũng mãnh không tạm dừng nghỉ, nên ba mươi người đồng một lúc chứng được Tứ thiền và năm pháp thần thông.

Bấy giờ, Tiên nhân khổ hạnh Phú-lâu-na suy nghĩ: “Ta phải quán sát Thái tử Tất-đạt-đa đã chứng Thánh vị nào chưa?” Phú-lâu-na liền dùng Thiên nhãn quán sát thấy Đức Thế Tôn đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đang ở trong vườn Nai thuộc nước Ba-la-nại, chuyển phấp luân vô thượng vi diệu, Ngài vì chư Thiên nhân loại diễn thuyết các pháp. Phú-lâu-na thấy rồi, liền đi đến các bằng hữu nói với họ:

-Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia nay đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đang ở trong vườn Nai thuộc thành Ba-la-nại, vì khai thị cho chư Thiên nhân loại, nên đã chuyển pháp luân vô thượng thanh tịnh. Ngày nay các vị phải hết sức vui mừng hớn hở, chúng ta nên cùng nhau đến cầu Ngài xin tu phạm hạnh.

Bấy giờ, các vị bằng hữu của Phú-lâu-na đều hoan hỷ và nói: -Hay thay lời nói của Nhân giả! Chúng tôi đều tùy thuận.

Khi ấy, Tiên nhân tu khổ hạnh Phú-lâu-na cùng với ba mươi bằng hữu, từ dưới chân Tuyết sơn bay lên hư không, giống như nhạn chúa bay bổng lên trời, đến vườn Nai trong thành Ba-la-nại. Đoàn người đến trước Đức Phật, đồng đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, hai tay ôm và đặt đầu vào chân Phật một cách thành kính, ngước đầu nói: -Ôi bàn chân Như Lai!

Họ quỳ trước Đức Phật dùng kệ tán thán:

Thuở xưa, Ngài ở trời Đâu-suất

Chánh niệm hiện hình làm Bạch tượng

Thân nương thai tạng Thánh Ma-da

Sinh nhà họ Thích làm Thái tử.

Như hoa sen đẹp chẳng dính bùn

Thai trong bụng mẹ không ô uế

Thánh mẫu hoan lạc thật vô biên

Ngũ dục chẳng màng chỉ vui pháp

Chỉ làm việc thiện bỏ điều ác.

Thấy Ngài trong thai như vàng luyện

Vui mừng hớn hở không biết chán

Ngắm không thấy chán rồi lại nhìn

Ở trong thai tạng thường thuyết pháp

Khởi tâm thương xót chúng trời người

Tất cả vui mừng uống pháp dược.

Thế Tôn mới sinh, nói diệu ngữ:

Ta vượt sinh tử độ chúng sinh.

Sinh hông bên phải, đi bảy bước

Tợ sư tử chúa thật oai hùng

Ta là Như Lai diệt sạch khổ.

Ao tắm Thiện Thệ lúc đản sinh

Nước không lạnh, nóng vừa tràn đầy

Tắm xong thoa hương trang phục sức

Bỗng nhiên tàn lọng hiện che thân

Thế gian thấy việc chưa từng có

Do vậy chúng con đảnh lễ Ngài.

Phú-lâu-na cùng với các vị Tiên nhân nói kệ rồi, đồng thanh thưa Đức Phật cầu xin xuất gia:

-Cúi xin Đức Thế Tôn thương tưởng chúng con, tâm nguyện chúng con muốn được xuất gia, xin Ngài thương tưởng độ cho chúng con.

Đức Phật bảo Phú-lâu-na:

-Này Phú-lâu-na, các ông hãy đứng dậy, tùy theo ý các ông, ta sẽ cho các ông được toại nguyện.

Phú-lâu-na cùng hai mươi chín người bạn được Phật cho phép xuất gia thọ giới Cụ túc. Các vị Trưởng lão này sau khi được xuất gia thọ giới Cụ túc rồi, sau đó chẳng bao lâu mỗi người đi, đứng, nằm, ngồi một mình, dũng mãnh tinh tấn, kinh hành thiền tọa nơi vắng vẻ, mỗi người đều dụng tâm cẩn thận, chưa từng phóng dật, luôn luôn ở chỗ yên tĩnh. Các vị thiện nam vì cầu điều lợi ích lớn, chánh tâm chánh tín, bỏ tục xuất gia, vì muốn tu phạm hạnh vô thượng, nên trải qua thời gian ngắn diệt sạch ái dục, thấy được thật tướng các pháp, muốn tu thần thông liền được chứng đắc, đã đoạn tái sinh, được quả báo phạm hạnh, việc làm đã xong, không còn thọ thân đời sau. Các Trưởng lão này chứng biết được thật tướng các pháp, đều thành quả A-la-hán. Với tâm hoàn hảo được giải thoát hoàn toàn, thành bậc Đại đức, làm tất cả đại sự, lợi ích cho chúng sinh.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn tuyên bố trước chúng Tỳ-kheo:

-Này đại chúng, các vị phải biết, trong hàng thuyết pháp, Phú-lâu-na là người đứng đầu.

Có kệ nói:

Thế Tôn ở thành Ba-la-nại

Dùng lời vi diệu bảo Tỳ-kheo:

Chân thật Tỳ-kheo Mãn Từ Tử

Trong hàng Giảng sư, người bậc nhất.

Lúc bấy giờ, trong thế gian gồm có chín mươi mốt vị A-la-hán. Đó là Đức Thế Tôn, năm vị Tỳ-kheo Kiều-trần-như…, Trưởng lão Da-du-đà, bốn vị trưởng giả tuyệt vời: Tỳ-ma-la, Thiện Ký, Mãn Túc và Ngưu Chủ, bạn cũ đồng sinh tại thành Ba-la-nại của Da-du-đà, là năm mươi thương nhân bạn cũ của Da-du-đà, Trưởng lão Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử và hai mươi chín người bạn.


Mục Lục Đầu trang

Lục

[contact-form-7 id=”113724″ title=”Mục Lục Kinh Phật Bản Hạnh Tập”]