Kinh Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai Trang Nghiêm Đà La Ni

Tống Thi Hộ dịch,

Bản Việt dịch của Huyền Thanh

*

Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn ngựở Hộinơi Thiện Pháp Đường trong Cung Đế Thích thuộc cõi Trời Đao Lợi. Khi ấy, đột nhiên có vua A Tu La đemcác bộ quyến thuộc, thống lãnh binh chúng, mỗimỗi thân mặc áo giáp, tay cầm khí trượng, trước sau vây quanh đi đến chiến đấu, nhằm chinh phạt cung Trời Đao Lợi.

Bấy giờ, Đế Thích Thiên Chủ dẫn các Thiên Chúng, thân khoác áo giáp báu, tay cầm khí trượng cùng nhau chiến đấu. Thời binh chúng của vua A Tu La thắng trận, chúng Thiên Đao Lợi thấtbại, sợ hãi đánh xebỏ chạy.

Lúc đó, Đế Thích Thiên ChủNndấu dung nghi của vua Trời, hiện thành hình tướng dân thường, mau chóng dong xe đếngặp Đức Thế Tôn. Đến nơi liền cúi đầulễ dưới chân Đức Phậtrồibạch rằng:” Thế Tôn! Nay con bị các tướng, các binh chúng củavua A Tu La đến đánh phạt. Thiên Chúng Đao Lợi lui tan, sợ hãi đánh xebỏ chạy.

Vậy có thể dùng phương tiện nào mớicứu đượcnạn này cho con?”

Bấy giờ, Đức Phậtbảo:”Ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà nói. Có Đà La Ni tên là Vô Năng Thắng Phan Trang Nghiêm. Thuở xa xưa khi Ta là Bồ Tát, có Đức Phật hiệu là Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai.

Nơi Đức Phật ấy, Ta được nghe Đà La Ni này. Từđóvề sau Ta cũng vì người khác, rộng nói Pháp ấy được đại trưng tường mà trong khoảng búng tay chưatừng có việcsợ hãi nào cả”

Khi ấy, Đức Phậtlạibảo Đế Thích rằng: Nay Ta vì ông mà nói Vô Năng Thắng Phan Trang Nghiêm Đà La Ni ấy là:

1_ Đát nễ dă tha 2 _ Nhạ dă, nhạ dă 3_Vĩ nhạ dă, vĩ nhạ dă 4 _ Nhạ dã phộc hê 5 _Tăng yếtlị 6_ Bát-la bạn nhạ ninh-khánh 7_ Tátlật-phộc thiết đốtlỗ hách_ 8_Nhân-cữu bà dã, thâm bà dã 9 _Tát-đam bà dã, tát-đambà dã 10 _ Mô hạ dă 11_ Mô hạ dã 12 _ Bà nghiệt phộc để 13_ Nhạ dã phộc hê 14_ Ma tha, ma tha 15_ Bát-la ma tha 16_ Bát-la ma tha 17_ Cật-la tát 18_ Cật-la tát 19_ Hạ sa, hạ sa 20_ Hồng, hồng 21_ Lam mạo na lị 22_ Đát-lị mật đát-lê 23_ Tạt đổ lật-phộc khất-đát-lê 24_ Tạt đổ lật-năng sắt-trí-lê 25_ Tạt đổ lật-bộ te 26_ Yết thủymẫu thiết la 27_ Đát-lị thú la 28_ Phộc nhật-la đà la ni 29_ La khất-sái, la khất-sái, hàm 30_ Bà nghiệt phộc đe 31_ Hạ nẵng, hạ nẵng 32_ Na hạ, na hạ 33_ Bát tả, bát tả 34_ Ma tha, ma tha 35_ Bát-la ma tha 36_ Bát-la ma tha 37_ Án 38_ Phát tra, phát tra, phát tra 39_ Bạn nhạ,bạn nhạ 40_ Tát lật-phộc tát đát-la lê 41_ Đặc-phộc nhạ cật-lệ 42_ Kế thâu lê, để sắt-xá, để sắt-xá 43_ Đát-lị tra ô lăng-yết 44_ Đà la ni 45_ Đát-lạtlộ cát-dă 46_ Ma tha, vĩ đặt-vật tát dã 47_ Ba la hàn ninh 48_ Tả la, tả la 49_ Tức lý, tức lý 50_ Ngu lăng, ngu lăng 51_ Yết la, yết la 52_ Chỉ lư, chỉ lư 53_ Củ lăng, củ lăng 54_ Mẫutả tra dă hạ sa 55_ Vĩ đặc-vật tát dã 56_ Ba la tát đát-la phộc 57_ Bột-la ma dã 58_ Một đà, tát để-dựng 59_ Đạtlật-ma, tát để-dựng 60_ Tăng già, tát để-dựng 61_ Mạt để, thác-la ma 62_ Tát để-dã, phộcnễ nẵng 63_ Tát đế-duệ nẵng 64_ Phù để ngật-la mạc 65_ Lam lăng nại lê 66_ Củ tra, củ tra 67_ Củ-tri-dạ,củ tri-dạ 68_ Lỗ nại-ninh ma nẵng dã 69 _ Vĩ sắt-nĩnh , ma nẵng dã 70 _ Tán nại-lam, tố lật-dụ , ma nẵng dã 71 _ Đát-lạtlộ cát-dã 72 _ Địa bát để-dựng, ma nẵng dã 73 _ Tát lật-phộcnễ vật, ma nẵng dã 74 _ Tát lật-phộcdược khất-xoa 75 _ La khất-sát sa 76 _ Nghiệtlộ trà 77 _ KhAn na la 78 _ Ma hộ la nghiệt, ma nẵng dã 79 _ Vị đặc-vật thiết-dược 80 _ Ma ma 81 _ Tát lật-phộc thiết đát-la phộc 82 _ Lam nga, lam nga 83 _ Lamnga bá dã 84 _ Lamnga bá dã 85 _ Nhạ-phộc la 86 _ Nhạ-phộc la 87 _ Bộ sắt-ba, mạt lý nĩnh 88 _ Lị chi, lị chi 89 _ Đát-lị tra, đát-lị tra 90 _ Bột-lị củ trí m?c khư 91 _ Ba la tắc niếtcủ lệ lê 92 _ Nạinẵng yết la ni 93 _ Hạ hạ 94 _ Hê hê 95 _ Hổ hổ 96 _ Tứ tứ 97 _ Lị ni, lị ni 98 _ Lị noa ma đế 99 _ Nhận-hội độ đặc-phộc nhân-tễ 100 _ Một đà, phộclộ ch? đế 101 _ La khất-sái, la khất-sái 102 _ Ma ma 103 _ Bà nga phộc đế 104 _ Phộclộ cát đế 105 _ Sa-phộchạ 106 _ Ngu noa la nhạ 107 _ Bát-la bà tế 108 _ Sa-phộchạ 109 _ Tố lật-chiếtlật-yết 110 _ Vĩ ma lê 111 _ Sa-phộchạ 112 _ Tátlật-phộccật-la nhạ 113 _ Nhược khất-sát đát-la, 114_ Ðà nhĩ yết la noa 115 _ Sa-phộchạ

Đức Phậtbảo Đế Thích Thiên Chủ rằng: “Vô Năng Thắng Phan Trang Nghiêm Đà La Ni này thường ở trong ngoài gia hộ cho Ta. Ông nên trì Đà La Ni này. Dùng lụatạpsắc làm cái bao để bọcrồi để trên tinh kỳ (Cây cờ trên gù có cắm lông) khiến cho nơi ông đi qua, hoặcnơi cùng đấu cùng đánh xe cùng giếtvớikẻ địch khác ( tha địch ), hoặc tranh giành ngôn từ vớikẻ oán khác ( tha oán) thì tấtcả chốn không có gì không thắng được.

Ông nên tô vẽĐà La Ni này, dùng bao đựng rồicột trên cổ hộ trì cho ông. Tà cũng vì đờivị lai, tấtcả xứ của Nhân Vương làmvệ hộ. Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai ấy hiện ratướng Thiên Nữở ngay trướcmặt ban cho vô úy, hộ trì được thắng, khiến cho quân chúng oán địch bị thất bại.

Nếu Nhân Vương ấylại hay viết chép, luu bố, thọ trì, đọctụng Ðà La Ni này thường được việctốt lành thanh tịnh. Các oán địch bên ngoài không thể thắng được.

Đức Phật nói Kinh này xong thì Đế Thích Thiên Chủ với các Thiên Chúng nghe lời Phật nói đềurất hoan hỷ, tin nhận phụng hành, làm lễ rồi lui ra.