1
2
3
4
5
6
7
8

QUYỂN 6

Giới thứ 28 BIỆT THỈNH TĂNG

Phật tử là những hàng Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, cho đến tất cả đàn việt, lúc muốn thỉnh Tăng để cúng dường, cầu nguyện, nên vào trong Tăng phường thưa với vị Tri sự. Tri sự mới bảo rằng: “Theo thứ tự mà thỉnh thời được thập phương hiền thánh Tăng, nhưng người đời thỉnh riêng, 500 vị Tăng Bồ Tát, A la hán cũng chẳng bằng Tăng sai một phàm phu Tăng. Nếu biệt thỉnh Tăng thì đó là pháp của ngoại đạo. Trong 7 Phật không có pháp biệt thỉnh Tăng, vì không thuận theo đạo hiếu, nếu Phật tử cố thỉnh riêng thời phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Trái với tâm vô tướng, mất phước bình đẳng, Tam luân chưa không, chẳng phải Pháp đàn Ba-la-mật của bậc Đại sĩ. Hiền, Thánh có Quyền và Thật. Thật là những vị đã chứng Tứ quả,Tam Hiền, Thập Thánh. Quyền tuy là phàm phu nhưng đã thọ Đại giới Tâm địa Bổn nguyên, tu học chánh đạo của Hiền, Thánh, nên cũng gọi là Hiền, Thánh. Vì thế, Tăng là gồm cả Phàm và Thánh, thí khắp mười phương, tâm hành bình đẳng, phước như hư không, nếu tâm còn sanh lựa chọn thì phước quả có giới hạn, huống gì Thánh và Phàm khó rõ, hơn kém khó lường, vì thế mà ngài Tân Đầu Lô bị đánh. Sa-di không được nhận cúng y, nên biết không lựa chọn, thì thỉnh được Hiền, Thánh, huống gì đức Như Lai đã sai 16 vị đại A La Hán, mỗi người lãnh trăm ngàn đồ chúng đều chứng Tứ quả, thị hiện đồng phàm phu, người thường đâu biết được, để làm bậc phước điền cho đàn việt.

Xét trong Thập Tụng Luật, Giới Nhơn Duyên Kinh, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư, thỉnh riêng 500 vị A La Hán, Phật bảo mẹ ngài Tỳ Xá Khư là người vô trí, không khéo léo, không được đại phước, nếu ở trong Tăng, theo thứ lớp thỉnh một vị, được công đức rất lớn, lợi ích phước báo rất thù thắng.

Hỏi: Như vậy thì 500 vị Thánh Tăng không bằng một phàm phu Tăng ư?

Đáp: Nên biết luận về phước điền, thì vượt hơn trăm ngàn vạn, nhưng vẫn chưa bằng Thánh.

Cho nên, ngài A Na Luật đem dâng một bửa ăn cho vị Độc Giác, từ đó đến nay trải qua 91 kiếp, dù ở trên trời hay dưới nhân gian, Ngài luôn hưởng phước điền.

Như Kinh Tứ Thập Nhị Chương chép: “Cúng thí cho kẻ ác nhẫn đến cúng dường Như Lai, phước kia rất rõ. Luận về tâm, nếu tâm bình đẳng thì phước lớn; vì thế, đức Như Lai sai Xá Lợi Phất, đem cơm thí cho con chó, nhưng xét về lý thì tùy thời mà chọn cúng, chớ có chấp nê vào một pháp, thì sẽ được không ngăn ngại, ở đây luận về tâm thí bình đẳng, chứ không luận về cầu pháp, cầu pháp phải đủ con mắt trạch pháp, không thể không biết rõ tà chánh, không phân biệt được hiền, ngu, mê mất đạo lớn, việc chẳng phải nhỏ.

Kinh này ghi: “Khi đức Như Lai mới ngồi dưới cội cây Bồ đề, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư chưa sanh, làm sao nói thỉnh riêng 500 vị Tăng ư?” Đây là Như Lai nói về thời quá khứ, việc xảy ra trước thời Phật, hoặc là thọ ký trước, sau quả nhiên, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư có việc như vậy.

Tin theo giáo pháp ngoại đạo là không tuân theo lời Phật dạy, là trái lại giáo pháp Phật, trái lại nhơn địa phàm thánh, nên nói không thuận đạo hiếu.

Bảy Phật đều ứng hóa ở thế giới Ta bà này, dấu tích trong cả 100 kiếp, cõi Trường thọ thiên, đều đã từng thấy, nên chỗ nào cũng dẫn 7 Phật để làm chứng, khiến cho mọi người dễ biết rõ.

91 kiếp về quá khứ, có một vị Phật ra đời, tên là Tỳ Bà Thi, cũng gọi là Duy Vệ, các kiếp trong khoảng kế tiếp không có Phật ra đời, đến kiếp thứ 31 có hai vị Phật ra đời là:

1. Phật Thi Khí

2. Phật Tỳ Xá Phù

Đến kiếp thứ 91, gọi là Hiền kiếp. Lúc này có ngàn Phật ra đời như: Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp, Phật Thích Ca Mâu Ni, v.v… cho đến vị Phật sau cùng trong 1000 Phật này ra đời tên là Lâu Chí Phật.

Trước riêng thọ lợi dưỡng, không sai khách Tăng đi phó thỉnh, là mắc tội, sau thọ biệt thỉnh là tự mình thọ nhận người khác thỉnh riêng, nên mắc tội. Nay giới này tự lựa chọn thỉnh Tăng, nên kết tội. Không phải cầu phước mà cúng trai Tăng, hoặc biết rõ thân bằng quyến thuộc, thì không phạm.

Giới thứ 29 TÀ MẠNG NUÔI SỐNG

Nếu Phật tử dùng ác tâm vì lợi dưỡng buôn bán nam sắc, nữ sắc, tự tay làm đồ ăn, tự xay, tự giã, xem tướng nam nữ, giải điểm kiết hung, bùa chú, pháp thuật, nghề nghiệp, phương pháp nuôi chim và chó săn, hòa hiệp trăm thứ thuốc độc, ngàn thứ thuốc độc, rắn độc, kim ngân độc, cổ độc, đều không có tâm từ mẫn, tâm hiếu thuận. Nếu cố ý làm các điều như thế, thì Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Nương vào tà pháp được lợi dưỡng nuôi thân mạng, tổn thương sanh vật làm lợi cho mình, đều chẳng phải tâm từ bi thanh tịnh của Đại sĩ.

Ác tâm là chẳng phải thiện tâm, vì lợi dưỡng mà chẳng phải vì lợi tha.

Buôn bán nam sắc nữ sắc, nghĩa là mua bán nam nữ tuổi nhỏ, đem đến cho người để thoả mãn việc ham muốn (dục vọng).

Tự tay làm đồ ăn là đích thân mình thổi nấu.

Tự xay, tự giã là xay giã ngũ cốc.

Xem tướng nam nữ, tức là bói xem hình dáng, khí sắc rồi bảo cho họ biết chết yểu hay là giàu nghèo.

Giải điềm kiết hung là đem điềm mộng để đoán tốt xấu, họa phước, đã có thai nam hay nữ.

Chú thuật là phù phép tà chú của ngoại đạo.

Công xảo là 100 thứ kỹ nghệ. Nuôi chim và chó là dạy chim, chó để đi săn.

Trăm thứ ngàn thứ thuốc độc là tất cả thứ thuốc độc ở thế gian, hòa hợp lại, nấu thành cao hoàn tán để hại sanh vật.

Rắn độc là lấy nọc độc của rắn ở đầu, ở đuôi, hoặc ở não, hoặc tinh dịch để hại người khác. Kim ngân độc là thứ độc uống vào chết ngay. Cổ độc là hòa hợp thuốc độc uống vào thì sình trướng.

Đều không có tâm từ mẫn, nghĩa là bậc Đại sĩ phải dùng tâm từ thương xót tất cả chúng sanh cũng như con mình, phải thường nhớ nghĩ tổn hại mình để làm lợi cho người, nhưng trái lại tự nuôi sống mình bằng cách làm hại người, chẳng khác nào ăn thịt con mình, cho nên không có tâm từ mẫn là thế. Bồ Tát coi chúng sanh như Cha mẹ mình, mà trái lại vì lợi dưỡng riêng mình mà thương tổn đến thân nhân, ngỗ nghịch không ai bằng, đó là không có tâm hiếu thuận.

“Cố ý làm” rõ ràng không phải là nhầm lẫn, lấy tà nghiệp để mưu cầu mạng sống cho mình, nên phạm khinh cấu tội. Nếu việc làm khiến chúng sanh phải chết thì phạm trọng tội. Nếu Bồ Tát tại gia dùng chú thuật công xảo y dược, đúng như pháp tự nuôi sống, không thương tổn sanh vật thời không phạm. Bồ Tát xuất gia dùng chú thuật công xảo, cứu nguy bạt khổ cho chúng sanh, không có tâm cầu lợi thì cho phép.

Hỏi: Xay giã nấu ăn, người tại gia làm sao tránh khỏi?

Đáp: Đây có hai nghĩa, một là tự nuôi sống bản thân, không phải là việc làm của bậc đại nhân. Hai là trong ngũ cốc phần nhiều có trùng, nếu không tổn hại đến chúng sanh, không phải dùng tà nghiệp để sanh sống. Hai chúng nhỏ xuất gia, Phật cũng khai cho. Xét trong Kinh Luận, dùng tà nghiệp để mưu cầu mạng sống có 5 loại hoặc 4 loại, nay xin đưa ra cùng với các giới:

1. Vì lợi dưỡng, nên trá hiện những điều kỳ đặc.

2. Vì lợi dưỡng, nên tự nói công đức của mình.

3. Vì lợi dưỡng, xem tướng tốt xấu.

4. Vì lợi dưỡng, lớn tiếng ra uy, khiến cho người sợ.

5. Vì lợi dưỡng, nên nói lợi ích của việc cúng dường để kích động lòng người khác.

Người xuất gia có 4 thứ tà mạng nuôi sống:

1. Hạ khẩu thực, nghĩa là nói về thuốc men trị bệnh, xem địa lý, gieo trồng các thứ cây trái ruộng vườn.

2. Ngưỡng khẩu thực, nghĩa là xem thiên văn, mặt trăng, mặt trời, 5 thứ tinh tú, v.v…

3. Phương khẩu thực, nghĩa là nịnh hót nhà giàu, kẻ có thế lực, đi sứ 4 phương, nói năng khéo léo để mưu cầu nhiều lợi.

4. Duy khẩu thực, nghĩa là học các thứ chú thuật bói toán kiết hung, nếu trái với những thứ trên đây gọi là Tịnh mạng thực.

Tịnh mạng cũng có 4 thứ:

1. Ở trong núi sâu, ăn rau trái

2. Thường đi khất thực

3. Thọ dụng đàn việt cúng dường

4. Ăn món ăn thanh tịnh trong Tăng.

Dùng các thứ này để nuôi sống thân mạng cho mình thì không làm nhiễm ô tâm địa nên gọi là Tịnh mạng.

Giới thứ 30 BẤT KÍNH TRỌNG NHỮNG NGÀY TRAI GIỚI

(Ngày tốt)

Nếu Phật tử vì ác tâm tự mình hủy báng Tam bảo, giả tuồng kính mến, miệng thì nói không, mà hành vi ở trong lại có, làm quản lý cho hàng Bạch y, vì hàng bạch y làm mai làm mối cho nam nữ giao hội dâm sắc, gây thành các nghiệp kiết phược; sáu ngày trai trong mỗi tháng, ba tháng trường trai trong mỗi năm, làm việc sát sanh, trộm cắp, phá trai phạm giới, người này phạm tội khinh cấu.

Mười giới như thế hết lòng kính trọng, phụng trì.

Giải thích:

Những ngày tốt mà không có tâm cung kính là chẳng có tín tâm hiếu tâm. Lời nói và việc làm trái nhau, chẳng phải là chánh tâm chơn chánh. Sáu ngày trai trong một tháng và ba tháng trường trai trong một năm, những ngày này là ngày Phật hiện Đại thần thông, nhẫn đến Phật Đản sanh và ngày thành đạo, nhập Niết Bàn, ngày Tự tứ, v.v… đều là ngày giờ tốt.

Ác tâm, nghĩa là đối với Tam bảo, không sanh tâm cung kính phụng sự, khéo dẫn dắt mọi người, lại dối gạt, trá hiện tướng thân cận Tam bảo, khiến cho người khác tin kính. Miệng thốt ra lời nói lý Bát nhã, thực tế trong tâm lại chấp có, lời nói và việc làm trái nhau, trái với chơn chánh, nên nói là phỉ báng Tam bảo.

Kinh lý, nghĩa là kinh doanh lo liệu công việc cho hàng Bạch y, thậm chí làm việc mai mối cho nam nữ, tư thông dâm ái với nhau, hoặc làm môi giới, hoặc những việc uế ác, xấu xa khác.

Gây nên các nghiệp kiết phược, nghĩa là làm các việc dơ xấu như trên, cả mình và người cùng bị trói buộc trong 3 đường ác (địa ngục, ngạ quỷ súc sanh) trôi lăn trong sáu đường sanh tử, khổ không được giải thoát.

Sáu ngày trai, trong kinh Thiên Vương ghi: “Chư Thiên dò xét xem trong những ngày trai này, con người làm thiện hay ác. Mỗi vị trời cõi Tứ Thiên vương trấn giữ một phương, thường chọn 3 ngày trong tháng là mồng một, mồng 8 và 20 để sai sứ giả xuống nhân gian xem xét việc làm của chúng sanh là thiện hay ác. Còn ngày 14 và 29 sai Thái tử xuống, ngày 15 (rằm) và 30, Tứ Thiên vương đích thân xuống, ra lịnh cho nhựt nguyệt và tinh tú, 28 tinh chủ cần quán sát xem chúng sanh thiện hay ác, thấy rồi trở về Thiên đình tâu với trời Đế Thích, để thi hành kiết lành hay dữ.”

Ba tháng trường trai, là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Trời Đế Thích dùng gương Đại Bảo, chiếu soi cõi Nam Thiệm Bộ Châu để quán sát tội phước của chúng sanh cõi này. Trời Tứ Thiên vương mỗi vị đều phân chia trấn giữ giữa tháng ở cõi Tứ Đại Bộ Châu.

Nay 3 tháng này, là Đa Văn Thiên Vương ở phương Bắc, trấn giữ phía Nam Châu, quán sát tháng thiện hay ác. Ngày này tháng này, tất cả quỷ thần thường thừa cơ, cũng là thời gian tốt để các vị Thiên vương cùng nhau đi tuần thú, thế nên cần tránh ác tu thiện. Thời điểm tốt như thế mà chúng Bồ Tát, Phật tử không biết, trái lại đem tâm mạn nghịch, sai phạm giới luật, không sanh tâm hổ thẹn lo sợ, điều này gọi là ác tâm.

Sát sanh trộm cắp, 2 giới này đã lược nêu trong mười giới trọng, nay nêu 2 giới này thời đã bao gồm 10 trọng giới, tùy theo việc sai phạm mà kết tội Ba-la-di. Hơn nữa, trong 10 trọng giới lại kết thêm tội khinh cấu. như người phạm tội tử hình lại dùng roi đánh thêm. Nếu phạm trong 48 giới khinh, tức là thêm một tội bất kính trong những ngày trai giới.

Phá trai, là trong sáu ngày trai của Phật tử tại gia, trường trai một tháng thọ trì Bát quan trai giới, quá ngọ không ăn (gọi là trai), nếu phạm là phi thời thực, nên nói là phá trai. Người xuất gia trọn đời không phạm phi thời, cũng như trong các ngày trai, nếu phạm là phi thời thực, tội càng nặng thêm.

Kinh Anh Lạc ghi: “Nếu có Bồ Tát Ma Ha Tát, tu tập pháp lục độ thanh tịnh, gồm tu cả Bát trai giới của chư Phật, thiện nam tử thiện nữ nhơn này đối với việc hành sáu pháp này đầy đủ hạnh thanh tịnh.” Đúng như kinh đã chép, lại có thể khinh bỏ trai giới, bỏ tám pháp trai giới không thọ trì, cam tâm làm người phá giới chăng?

Mười giới như thế hết lòng kính trọng phụng trì. Phần còn lại như trong phẩm Chế Giới có ghi rõ.

Giới thứ 31 KHÔNG MUA CHUỘC

Là Phật tử, sau khi Phật nhập diệt, ở trong đời ác nếu thấy tất cả hàng ngoại đạo, kẻ ác trộm cướp, cùng tất cả người ác đem bán hình tượng Phật, Bồ Tát, Cha mẹ, đem bán kinh luật, đem bán Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người hành đạo Bồ Tát, kẻ phát tâm Bồ đề, để làm tay sai cho các quan, hay làm tôi tớ cho mọi người, v.v… nên có lòng từ bi cứu hộ, tìm cách cứu vớt, nếu không đủ sức, Phật tử phải đi quyên tiền các nơi để chuộc hình tượng Phật, Bồ Tát cùng tất cả kinh luật, chuộc Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người tu hạnh Bồ Tát, kẻ phát tâm Bồ đề. Nếu không chuộc, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Thấy người khổ mà không cứu giúp thì không có tâm từ bi, biết người bị người khác bán mà không chuộc thì trái với đạo hiếu thuận.

Sau khi Phật diệt độ, là nói rõ đời mạt pháp. Khi Phật còn tại thế, phần đông người ta làm lành lánh dữ, nên không có tệ nạn như trên xảy ra.

Ảnh tượng, hoặc là điêu khắc, hoặc tự họa, nếu bị người khác cưỡng đoạt chiếm lấy, hoặc bị giặc cướp, hoặc trộm lấy đem bán. Nay chỉ nêu 2 chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thời đã bao gồm cả 7 chúng rồi.

Người phát tâm Bồ đề, là người mới phát đạo tâm. Đạo nhơn, là người hành Bồ Tát đạo. Đại Trí Độ Luận ghi: “Người đắc đạo gọi là Đạo nhơn, ngoài ra, người xuất gia tuy chưa đắc đạo, nhưng do tu đạo xuất thế nên cũng gọi là Đạo nhơn. Quan sử là người sai khiến phục dịch những việc quan sai. Tất cả mọi người, là kẻ sĩ, nhà nông, thợ thuyền, thương buôn, v.v…

Tượng Phật là Phật bảo. Kinh luật là Pháp bảo. Người phát đạo tâm là Tăng bảo. Hình tượng Bồ Tát là Đại thừa Tăng bảo. Tỳ kheo, Tỳ Kheo Ni là Tiểu thừa Tăng bảo. Cha mẹ là Ân điền.

Phật tử cũng là Đại sĩ trong trời đất, đang ở trong đời mạt kiếp ác thế này, hộ trì Phật pháp, nối dòng Tam bảo, rộng làm việc lành hóa đạo chúng sanh, đâu có thể thấy người khổ mà ngồi nhìn những việc hủy nhục vậy sao? Bởi vậy phải cứu vớt nỗi khổ cho họ. Nếu tự mình không có khả năng tiền của để chuộc lại, phải dùng các thứ phương tiện khuyến hóa người khác chuộc lại. Nếu tâm biếng nhác hoặc cố ý không chuộc, đều phạm.

Giới thứ 32 TỔN HẠI CHÚNG SANH

Là Phật tử, không được chứa hay buôn bán dao, gậy, cung, tên, những khí cụ sát sanh, không được dùng cân non, giạ thiếu để đong, không được nương thế lực quan quyền mà lấy tài vật của người, không được ác tâm trói buộc người, phá hoại việc thành công của người, không được nuôi mèo, chồn, heo, chó. Nếu cố làm các điều trên đây, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ngăn ngừa nhơn xa tổn hại, lìa nghiệp kiết phược về sát sanh, trộm cắp, v.v… mới không trái với tâm từ bi, tâm lợi ích của bậc Đại sĩ.

Đao trượng, cung tên, trói buộc, mèo chồn heo chó, ấy là tổn hại chánh báo thân mạng của chúng sanh, ngoài ra các thứ vật nhỏ, v.v… đều là tổn hại y báo các vật thọ dụng của chúng sanh. Dùng cân non bán ra, tất dùng đấu lớn mua vào, thước đo dài ngắn cũng vậy.

Hình thế, hoặc tự dụng thế lực quan quyền, hoặc ỷ thế lực người khác. Trói buộc là dùng thế lực ác độc riêng tư mà trói buộc người, làm tổn hại thân thể chúng sanh, chứ không phải dùng tâm công bằng trói buộc. Tuy là tội nhơn, cũng cần nên sanh tâm thương xót, nhớ nghĩ họ ngu si không biết, nên phương tiện khuyến dụ, khiến cho họ phát khởi tâm tốt, sửa đổi lỗi quấy trước.

Phá hoại sự thành công của người, nghĩa là người khác muốn thành tựu sự nghiệp mà mình do vì ác tâm, trái lại muốn cho họ bỏ phế hư hoại việc ấy.

Trưởng dưỡng là nuôi dưỡng. Mèo chồn đều là loài thú bắt chuộc. Heo, chó là tham tài hại mạng, nếu mua bán thì phạm tội khinh cấu.

Sát sanh là phạm giới trọng đầu. Đấu là đồ đong đếm, cho đến ỷ vào thế lực để lấy tài vật của người và phá hoại sự nghiệp của người khác, đều phạm vào giới trọng thứ hai, gọi là khi dối cưỡng đoạt, nên phạm.

Kinh Ưu Bà Tắc Giới ghi: “Cũng không cho nuôi chó, heo, dê, v.v…” Trong Luật ghi: “Vì đề phòng, giữ gìn tài sản của chùa nên khai cho phương tiện nuôi chó.”

Kinh Tạp Tạng chép: “Có một con quỷ thưa ngài Mục Liên rằng: Âm hoàn của tôi to lớn như là cái hũ, khi đi phải vác lên vai, khi đứng phải ngồi lên trên âm hoàn ấy, đi lại rất là khổ sở, không biết vì nhơn duyên gì? Ngài Mục Liên đáp: Khi ngươi còn ở đời, bán thì dùng cân thiếu, mua thì dùng cân nặng, chỉ muốn lợi nhiều mà thôi, do cắt xẻn người khác, nên thọ tội này, đây là họa báo, khổ quả ở địa ngục sau này phải chịu.”

Giới thứ 33 TÀ MẠNG GIÁC QUÁN

Là Phật tử, không được vì ác tâm đi xem nam nữ đánh nhau, hay quân trận, binh tướng giặc cướp, v.v… đánh nhau, cũng không được đi xem hát, nghe nhạc, chơi cờ, đánh bạc, đá cầu, đá bóng, v.v…, cho đến bói quẻ, không được làm tay sai cho kẻ trộm cướp, nếu cố làm các điều trên, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ác tâm thúc đẩy, nghĩa là lấy việc được thua thắng bại của người làm trò vui giải trí cho mình. Có khi mình vui thích trong cái đau khổ của người khác mà không hay. Khi họ đánh nhau, gây nhau, v.v… Xảy ra những việc trái với thiện tâm, mình không có khả năng phương tiện can gián cho họ mà trái lại còn trực tiếp coi xem lấy đó làm vui thích, thật là trái với tâm từ bi của Đại sĩ, thật là ác tâm, tà tư tà giác. Gồm có năm việc như sau: coi đôi bên đấu tranh, coi người vui chơi, coi đánh cờ, đánh bạc, bói quẻ, v.v…Tất cả những việc trên đều làm cho ta rối loạn tâm trí, dễ manh nha ác tâm, đệ tử Bồ Tát giới cần tránh. Tất cả chỗ vui chơi đều khiến cho người ta buông lung phóng túng, quên mất chánh niệm. Như hiện nay, các thứ trò chơi đều khiến cho người ta mê tâm loạn trí, đều là tà nghiệp, không phải chỗ tăng trưởng Đại bi tâm của Đại sĩ.

Bị giặc cướp sai khiến, đây thuộc về tánh nghiệp và giá nghiệp, còn giá tội, tùy vào việc sai phạm mà kết thành tội khinh.

Kinh Giới Bản chép: “Nếu Bồ Tát lười biếng buông lung, ham vui, ham ngủ, nghỉ, đều là phi thời, không phải hạnh xuất ly, đây là phạm tội nhiễm ô tâm địa. Không phạm là khi bệnh hoặc vì đoạn mạng, giới này nhiếp tất cả, vì khi muốn khởi tâm phương tiện nhiếp thủ đối trị, phiền não tánh thường sanh khởi.

Giới thứ 34 TẠM BỎ BỒ ĐỀ TÂM

Nếu Phật tử ngày đêm sáu thời đọc tụng giới Bồ Tát này, nên giữ gìn giới luật, trong cả khi đi đứng nằm ngồi vững chắc như kim cương, như đeo phao để qua biển khổ. Như các Tỳ kheo bị cột bằng dây cỏ, thường có tín tâm Đại thừa. Đối với Đại thừa, tự biết rằng mình là Phật chưa thành, còn chư Phật là Phật đã thành, rồi phát Bồ đề tâm và giữ vững không thối chuyển. Nếu có một tâm niệm xu hướng theo Nhị thừa, hay ngoại đạo, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tâm muốn trái bỏ giáo pháp Đại thừa, hướng về Tiểu thừa, ý còn do dự chưa quyết định hẳn, liền phạm như giới thứ 8 trước. Nếu tâm đã quyết thì liền mất giới, phạm giới trọng.

Nay giới này nói tâm chưa muốn trái bỏ Đại thừa, mà chỉ nói giáo pháp Đại thừa dễ tu dễ học. Hơn nữa, trước cần đoạn Kiến, Tư, Hoặc để chứng Niết Bàn, rồi sau hóa sanh chưa muộn, mà tạm dấy khởi niệm này, thì đã phế bỏ Đại nguyện rồi, rốt cuộc đọa vào pháp Thanh văn, đâu biết Đại sĩ còn nguyện mang Hoặc nghiệp, mà vẫn có thể làm lợi quần sanh. Nên Luận Chỉ Quán ghi: “Thối tâm Đại thừa, thủ chấp Tiểu thừa bị các Thánh quở trách.” Bồ Tát thì không như vậy, thấy chúng sanh khổ, coi như mình khổ, khởi tâm đại bi, thương chúng sanh như con một. Như khi người mẹ được món ăn, thường nhớ đến đứa con. Nếu Bồ Tát cầu trụ nơi Thiên không Niết bàn, thì có lỗi xả bỏ chúng sanh, đâu thể làm thanh tịnh quốc độ Phật. Giáo hóa chúng sanh phải có đầy đủ Phật Pháp. Tất cả chưa có thể làm xong, tuy vào thế gian sanh tử phiền não, nhưng nếu có đủ đạo lực, thì không bị tổn hại trí tuệ của mình. Dầu đạo Phật dài xa, cũng không lấy làm xa, tuy chúng sanh số nhiều, mà có ý chí dõng mãnh, tâm kiên cố không thối khuất, tinh tấn phát tâm thú hướng về giác ngộ, trước hết tâm không mệt mỏi biếng nhác. Nên nói Bồ Tát ở trong sanh tử mà có tâm dõng mãnh, đối với cảnh Niết Bàn mà không đắm trước. Dõng mãnh ở nơi sanh tử, vô sanh mà sanh, không bị sanh tử làm nhiễm ô, như hoa sen ở trong bùn, không bị bùn làm ô nhiễm.

Trong Phụ Hành Sao ghi: “Ở nơi cao nguyên không sanh hoa sen, ở chốn bùn lầy đất ướt mới sanh hoa sen.” Nên biết Niết bàn Cao nguyên không thể sanh hoa Đại bi của Bồ Tát, mà nơi sanh là bùn sanh tử, mới là lực dụng thù thắng của Bồ Tát. Tuy ở trong sanh tử mà không bị sanh tử làm nhiễm ô, bởi vì chí dõng mãnh và thệ nguyện kiên cố của bậc Đại sĩ, huống gì Tiểu thừa giới không lìa Bồ Tát giới. Sức của giới Bồ Tát, hay thành tựu chí nguyện độ sanh. Đây là lấy Đại nhiếp Tiểu. Tiểu thừa không có Đại dụng, làm sao hóa sanh được?

Trong 58 giới này, đều là đức Xá Na chế, nên nói cấm giới, như sắc lệnh cấm của nhà vua, không ai dám cố ý sai phạm. Thế nên bậc Đại sĩ ở trong tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) hộ trì cấm giới, không để cho sai phạm, ngày đêm phải chuyên cần học tập, đọc tụng cho thông làu, khiến cho đừng quên.

Kim cang, dụ cho giới hay phá trừ được giặc kiết sử phiền não, cũng dụ cho tâm kiên cố giữ gìn cấm giới của Đại sĩ vững như kim cang.

Phao là đồ vật mà người ở Thiên Trúc sử dụng để vượt qua biển, hoặc dùng lông cừu, cánh chim để làm thành, hoặc làm bằng da dê, hoặc mang phao nổi, thường mang theo bên mình. Khi thuyền đi biển, nếu bị hư, liền thổi hơi cho nổi lên để vượt qua biển cả sanh tử. Nếu không nương vào cấm giới của Phật thì không thể sang bờ bên kia được. Nên Kinh Niết Bàn ghi: “Có một con quỷ La-sát theo người qua biển, ân cần xin cái phao, người qua biển trả lời quỷ rằng:”Thà giết thân mạng ta, còn phao không thể cho được, quỷ La-sát nói: Nếu không bằng lòng cho ta hết thì xin vui lòng cho ta một nửa thôi, người kia cũng từ chối.” Đây là dụ cho khi Bồ Tát giữ gìn cấm giới, quỷ phiền não La-sát xúi Bồ Tát, khiến cho phạm 10 giới trọng, còn giới khinh thì hộ trì. Bồ Tát không thuận theo, như thế, lần lần quỷ La-sát (vô minh phiền não) xúi phạm Bồ Tát khởi tâm tạo các tội cấu ác, Bồ Tát cũng nhất định không thuận theo, vì cớ sao? Vì Bồ Tát giữ mười giới trọng của Phật và các tội khinh cấu, ác tác, kính trọng giữ gìn hết sức kiên cố, giới trọng cũng như giới khinh, không khác.

Các Tỳ kheo bị buộc bằng cỏ, nghĩa là Phật chế giới, Tỳ kheo không được làm tổn hại cỏ cây. Xưa có các Tỳ kheo đi ngoài đồng vắng, bị giặc cướp đoạt hết quần áo, giặc sợ các Tỳ kheo vào tụ lạc báo cho dân biết, họ muốn giết hết các Tỳ kheo. Trong số bọn giặc có một người, biết Tỳ kheo không làm thương tổn cỏ cây, bèn cột họ vào cây cỏ rồi bỏ đi. Ngày hôm đó, các Tỳ kheo bị muỗi mòng, bọ chét chích đốt, từ sáng đến tối, ác thú liên tiếp tung hoành, rất đáng lo sợ. Các Tỳ kheo cùng nhau nhắc nhở chỉ lo giữ gìn cấm giới, thà chết không sai phạm. Mỗi người đều giữ yên thân mình không để dao động. Ngày hôm sau, nhà vua đi săn bắn, thấy các Tỳ kheo thọ trì giới cấm, nguyện thà chết không sai phạm, nhà vua thấy thế rất lấy làm hoan hỷ, liền sai người cởi trói cho các Tỳ kheo.” Phần này trong Kinh Nhơn Duyên và luận Đại Trang Nghiêm nêu rõ.

Hỏi: Nay theo giới kinh này, khi ấy, đức Như Lai mới ngồi dưới cội Bồ đề nói giới kinh này, lúc đó chưa có chúng Tỳ kheo, làm sao bị cột bằng cỏ được?

Đáp: Đây hoặc Như Lai dự ký, hoặc là các việc của Tỳ kheo từ thời Phật quá khứ, dẫn ra để chứng minh. Như vào thời Phật Ca Diếp, có vị Tỳ kheo ngồi thiền, bẻ cành lá của cây Y La Thối, bị đọa trong loài rồng, cây có mùi xú uế sanh ở trên đầu, gió thổi diêu động, mủ tràn khắp làm nhơ biển cả, trăm ngàn muôn năm chịu các thống khổ, cho đến khi đức Phật Di Lặc ra đời, mới thoát khỏi thân rồng, nên trong Tam tạng kinh điển, mỗi mỗi đều dẫn tích này để chứng minh.

Thời nay, các kẻ cuồng thiền bảo rằng tông môn giải thoát, giữ giới cho là chấp tướng, đẵn cây đào đất nào có thương tổn gì. Nhưng chưa đủ lực dùng tay chém rắn độc như Quy Tông, chưa có cái đức của Sơ Quả cày ruộng trùng đứt thành 4 khúc, xem quả báo của con rồng này, dám cho mình là giải thoát chăng? Là chấp trước chăng? Làm tổn hại một lá cây, còn phải thọ báo như thế, lẽ đâu những việc ấy không làm cho ta phải ớn lạnh đến vỡ mật chăng !

Mặc dầu, trước có thể hộ trì cấm giới kiên cố, mà không có tâm chánh tín Đại thừa, còn e rằng sa vào pháp Nhị thừa, chung quy mất cực quả thành Phật, mà đại nguyện độ sanh theo đó cũng mất. Cần phải phát tâm sanh chánh tín, tin ta và chúng sanh là Phật sẽ thành, chư Phật là Phật đã thành. Mặc dù đủ lòng tin, nhưng không phát tâm Bồ đề, thì lòng tin kia cũng không có chỗ nương tựa, nên phải phát đại tâm, để lập lòng tin kiên cố. Phải biết tâm ta tức là tâm Phật, vì thế trước cầu Phật đạo, và cũng phải biết tâm ta chính là tâm chúng sanh, nên dưới thì hóa độ chúng sanh. Đối với tâm này trong từng giây, từng phút không thể xa lìa, nên nói niệm niệm không lìa tâm, nếu lìa niệm trong giây phút liền rơi vào pháp Nhị thừa tự độ.

Hạ hoá, nghĩa là chẳng phải chỉ hóa độ chúng sanh trong một thế giới, mà phải hóa độ đến chúng sanh trong trăm ngàn hằng hà sa thế giới.

Thượng cầu, nghĩa là chẳng phải chỉ thừa sự chư Phật một thế giới, mà phải phụng thờ đến chư Phật trăm ngàn hằng hà sa thế giới để cầu đạo vô thượng. Nên Kinh Hoa Nghiêm chép: “Bồ Tát không phải vì giáo hóa chúng sanh trong một thế giới mà phát Bồ đề tâm, nhẫn đến không phải vì giáo hóa tất cả chúng sanh vi trần thế giới trong Tam thiên Đại thiên mà phát Bồ đề tâm, không phải chỉ cúng dường Như Lai trong một thế giới mà cúng dường tất cả Như Lai trong các thế giới thứ lớp xuất hiện nơi đời phát Bồ đề tâm, không những chỉ cúng dường bất khả thuyết, bất khả thuyết Phật trong vi trần thế giới, mà muốn giáo hóa, điều phục tất cả chúng sanh không sót một ai nên phát Bồ đề tâm, vì muốn thờ phụng cúng dường tất cả Phật chẳng sót vị nào nên phát Bồ đề tâm.”

Hỏi: Tâm đại Bồ đề từ đâu lưu xuất ra?

Đáp: Từ Đại bi tâm mà sanh. Kinh Vô Tận Ý ghi: “Vì muốn cứu độ tất cả chúng sanh hữu tình, khởi sức bi niệm, v.v… hướng đến cầu vô thượng Bồ đề, nếu không vì hóa độ chúng sanh thì Ta không phát tâm Bồ đề.”

Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Từ Sơ địa đến Thập địa, ở trong các địa đều dùng tâm đại bi làm chủ.”

Bồ đề Tâm luận ghi: “Tâm từ bi phát sanh ra tâm đại Bồ đề, tất cả Phật pháp tối thắng, đều do bi tâm làm cội gốc.”

Vô Sai Biệt Luận ghi: “Nhơn tu tức là Bồ đề tâm, quả đức viên mãn tức là Chánh Giác. Pháp Bồ đề không thể nghĩ bàn, chư Phật Như Lai đều khen ngợi tán thán pháp này.” Kinh Vô Úy Thượng Thọ Vấn ghi: “Khi phát tâm Bồ đề đã sanh các phước, sánh bằng cõi hư không, cao tột rộng khắp không có cùng tận. Giả sử có người đem trân bảo trong hằng hà sa số cõi Phật cúng dường đức Thế Tôn, nếu có người chí thành chắp tay chỉ trong một niệm phát tâm Bồ đề vô thượng chánh đẳng, chánh giác, thì phước đức này vượt hơn phước đức cúng dường trân bảo cho đức Thế Tôn, phước cầu vô thượng, không thể tính kể được.”

Kinh Thành Phật ghi: “Các pháp vô tướng, là tướng hư không, khi khởi lên quán chiếu rồi, gọi là Thắng nghĩa Bồ đề tâm. Phải biết tất cả pháp không, do đã tỏ ngộ pháp vốn không sanh, không diệt, vì tâm thể vốn tự như vậy chẳng thấy thân tâm trụ nơi tịch diệt, rốt ráo bình đẳng, trí chơn thật thường không bị thối mất. Nếu khi vọng tâm khởi lên, biết thì chớ có rong ruổi theo, khi vọng niệm dứt, nguồn tâm tĩnh lặng, vạn đức đầy đủ, bấy giờ diệu dụng không cùng tận, bởi vì mười phương chư Phật dùng hạnh nguyện thắng nghĩa làm giới. Nếu người đầy đủ tâm này, hay chuyển bánh xe pháp, cả mình và người đều lợi lạc, như Kinh Hoa Nghiêm quyển thứ 64 ở phẩm Phát Bồ Đề Tâm nói rõ.

Giới thứ 35 KHÔNG PHÁT NGUYỆN

Là Phật tử, nên phát những điều nguyện lớn: nguyện ở hiếu thuận với Cha mẹ, Sư tăng, nguyện gặp được thầy lành, thiện hữu tri thức, thường dạy bảo cho ta các kinh luận Đại thừa, dạy cho ta về Thập Phát thú, Thập Trưởng dưỡng, Thập Kim cang và Thập địa, khiến cho ta hiểu rõ để tu hành đúng chánh pháp và nguyện giữ vững giới của Phật, thà chết chứ không chịu thay lòng. Nếu Phật tử không phát những điều nguyện trên đây thì phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Nguyện là nghĩa mong cầu, ưa muốn. Tất cả nhơn thú thắng quả vi diệu vô lượng thiện pháp mà không có tâm mong cầu, ưa muốn thì do đâu được toại nguyện, nên phải phát Đại nguyện.

Tất cả nguyện bao gồm 10 nguyện sau:

1. Nguyện hiếu thuận, chính là nguyện trì giới. Lấy hiếu làm giới, nên hiếu là cội gốc của mười nguyện, cội gốc nếu thiếu khuyết thì chín giới sau không chỗ nương.

2. Mong gặp được thầy tốt, thầy tốt là hạnh giải song toàn, nếu có hiểu biết thông suốt mà không có đức hạnh thì đâu có thể dắt dẫn ta tinh tấn tu hành được, nếu có hạnh đức nhưng không thấu hiểu, thì làm sao khai mở tâm địa cho ta được. Vì để báo ân hai đấng song thân, nối dòng Tam bảo đều nhờ vào lực dạy dỗ của Sư trưởng, nên trong mười Đại nguyện, ân Sư là quan trọng nhất. Dẫu đủ tín tâm, nếu không có thầy lành dẫn dắt, cũng không thành bậc pháp khí. Nay nhằm thời mạt pháp, người giới đức, hạnh giải đầy đủ thật là hiếm gặp, có hiểu mới tu, y vào hiểu biết mà hành trì, tự mình phải gia công cố gắng tấn tu, cuối cùng mới hy vọng đạt đến vô sanh, thẳng đến Bảo sở. Nếu có hạnh mà không hiểu kinh điển và phương pháp tu hành thì hạnh kia không phải là chánh hạnh, rất tối kỵ, khi nương tựa người như thế, chẳng khác nào như người không có mắt mà dẫn đường, ắt sẽ đọa vào đường hiểm, vĩnh viễn không ra khỏi. Nay cầu chánh kiến, chánh giải, cũng không phải là dễ gặp minh sư thiện hữu, huống chi bậc hạnh giải song toàn ư?

Trước nói về Sư Tăng là phải hiếu thuận với thầy, sau nói về thầy tốt là cần phải lựa chọn gặp vị minh sư để dẫn dắt, mới tránh khỏi sự lầm đường lạc lối.

3. Nguyện được đồng học với bậc thiện hữu tri thức, đồng học chánh tông Đại thừa, gặp bạn lành khéo hiểu Tâm địa pháp môn. Dù gặp được minh sư nhưng nếu không có bạn hiền, thì đánh mất đi sự lợi ích tha thiết trên bước đường tu học của ta.

4. Nguyện gặp người khéo dẫn dắt dạy bảo, nghĩa là nguyện trước là thầy lành, bạn tốt, thường dạy ta về nghĩa lý kinh luật Đại thừa, để phát tâm chánh tín, thú hướng tấn tu đến Thập Phát thú vị, khỏi rơi vào Thiên không Nhị thừa, kiến giải tà chấp ngoại đạo.

5. Nguyện tu Thập trụ nên nói Thập Phát thú.

6. Nguyện tu Thập hạnh nên nói Thập Trưởng dưỡng.

7. Nguyện tu Thập Hồi hướng, nên nói Thập Kim cang.

8. Nguyện tu chứng Thập thánh nên nói Thập địa.

9. Nguyện tu hành tất cả như pháp. Nghĩa là như pháp Đại thừa trước đã nói cần phải vâng lời thầy bạn giúp cho tiến tu, nguyện theo chánh pháp đã lãnh thọ, khiến cho tâm ta mở mang kiến giải thù thắng, tùy hiểu rồi tu hành, thể nhập chứng đắc quả vị Tam Hiền, Thập Thánh.

10. Nguyện kiên cố trì giới. Trước lấy hiếu thuận làm giới, sau lấy nguyện thứ mười, là trì giới, làm tóm kết. Phải biết từ xưa đến nay đều lấy Tâm địa chánh giới làm tông thú Đại thừa, bởi vậy vô lượng pháp môn, trăm ngàn thắng Định, vô lậu Diệu Huệ, đều từ giới mà lưu xuất ra. Tam Hiền, Thập Thánh cho đến Diệu giác cực quả, đều do giới mà được thành tựu, nên giới pháp này, đặc biệt cần phải tôn trọng.

Thà bỏ thân mạng không niệm nào xa lìa giới này, nghĩa là mười nguyện trước phát tâm kiên cố, niệm niệm không quên, dù gặp phải nạn duyên mất mạng, nguyện xả thân tứ đại giả tạm này, nhưng nếu xả tâm này, thật là trái phạm tâm giới.

Tất cả Bồ Tát không phát nguyện này, nghĩa là từ lúc mới đắc giới, cho đến Thập địa, nếu không phát Thập Đại nguyện này thì chí nguyện không kiên cố, gia hạnh tấn tu cũng e rằng bị ma làm chướng ngại, giữa đường thành trệ mà Quả hải Diệu giác cũng không biết dựa vào đâu để chứng đắc, nên nói rằng: “Trang nghiêm cõi Phật là việc lớn”. Nếu chỉ một mình làm việc công đức, thì không thể thành tựu, nên cần phải có nguyện lực để hành trì. Thí như sức con trâu, tuy có thể kéo được cỗ xe, nhưng cần phải có người điều khiển, mới có thể đi đến đích. Nên biết, người có chí mà không kiên cố thì nguyện khó viên mãn. Bởi vậy Kinh Viên Giác chép: “Phải phát Đại nguyện thanh tịnh của Bồ Tát.” Nên suy nghĩ như vầy: “Mong cho con đời này trụ ở quả Viên giác của Phật, cầu thiện tri thức, chẳng gặp ngoại đạo, Nhị thừa, nương nguyện tu hành, dần dần đoạn hết các chướng, chướng hết thì nguyện viên mãn, liền lên điện bảo pháp giải thoát thanh tịnh, chứng đắc cảnh giới Đại viên giác vi diệu trang nghiêm.”

Giới thứ 36 KHÔNG PHÁT THỆ

Là Phật tử, khi đã phát mười điều nguyện lớn trên đây rồi, phải giữ gìn giới cấm của Phật. Tự thệ rằng: “Thà nhảy vào đống lửa hố sâu, núi dao, quyết không cùng với tất cả khác phái, làm điều bất tịnh, để phạm điều cấm trong Kinh luật của Tam thế Chư Phật.

Lại thệ rằng: “Thà lấy lưới sắt nóng quấn thân mình cả nghìn lớp, quyết không để thân này phá giới mà thọ những đồ y phục của tín tâm đàn việt. Thà chịu nuốt hoàn sắt nóng cháy đỏ và uống nước đồng sôi mãi đến trăm nghìn kiếp, quyết không để miệng này phá giới mà ăn các thứ thực phẩm của tín tâm đàn việt. Thà nằm trên đống lửa lớn, trên tấm sắt nóng, quyết không để thân này phá giới mà nhận lấy các thứ giường ghế của tín tâm đàn việt, thà trong một hai kiếp chịu cho cả trăm gươm giáo đâm vào mình, quyết không để thân này phá giới mà thọ các thứ thuốc men của tín tâm đàn việt. Thà nhảy vào vạc dầu sôi trong trăm ngàn kiếp, quyết không để thân này phá giới mà thọ lãnh phòng xá, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai của tín tâm đàn việt.”

Lại phát thệ rằng: “Thà dùng chày sắt đập thân này từ đầu tới chân, nát như tro bụi, quyết không để tâm này phá giới mà thọ sự cung kính lễ bái của tín tâm đàn việt.”

Lại phát thệ rằng: “Thà lấy trăm nghìn lưỡi gươm đao khoét đôi mắt mình, quyết không đem tâm này phá giới mà nhìn xem sắc đẹp của người. Thà lấy trăm ngàn dùi sắt đâm thủng lỗ tai mình, trải qua trong một hai kiếp, quyết không đem tâm này phá giới mà nghe tiếng tốt giọng hay. Thà lấy trăm ngàn lưỡi dao cắt bỏ lỗ mũi mình, quyết không đem tâm này phá giới mà ngửi các thứ mùi thơm. Thà lấy trăm ngàn lưỡi dao cắt đứt lưỡi mình, quyết không đem tâm này phá giới mà ăn các thứ tịnh thực của người. Thà lấy búa bén chặt đứt thân thể mình, quyết không đem tâm này phá giới mà mặc các thứ đồ tốt.”

Lại phát nguyện: “Nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo.”

Nếu Phật tử không phát những điều nguyện trên đây, thì phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Thệ là trong tâm quyết đoán mười lời nguyện, ý chí, dõng mãnh, lấy thệ hỗ trợ cho nguyện, để khiến cho tâm không sanh khởi một niệm khiếp nhược thối lui, bậc Đại sĩ mới thành tựu ý nguyện sở trì, sở cầu, mãn nguyện như ý.

Đại sĩ trì cấm giới của Phật, trước tiên lấy 10 nguyện làm người dẫn đường, sau dùng 5 thệ để làm cho nguyện được kiên cố, khiến cho không sanh khởi một niệm khiếp nhược, tấn tu trọn đời. Năm lời thệ ấy là:

1. Lìa nhiễm dục

2. Thọ nhận của cúng dường

3. Thọ nhận sự cung kính

4. Làm thanh tịnh sáu căn

5. Độ chúng sanh.

Thà đem thân này, nghĩa là lời phát thệ kiên cố, ý nói là nát thân chứ không phạm giới. Chúng sanh bị lưu chuyển trong sanh tử, ái dục là thứ nhất. Làm nhiễm ô tâm địa bổn nguyên, hạnh bất tịnh đứng đầu, bởi vậy trước phải phát đại thệ rằng: “Thà đem thân nhảy vào hầm lửa, chịu các khổ thiêu đốt nát như tro bụi, chịu cái khổ rơi trong địa ngục, trong núi đao, rừng kiếm, chịu nỗi thống khổ cắt lóc da thịt chân tay, ruột gan, v.v…. trăm ngàn muôn thứ thống khổ bức bách, trọn không dám vi phạm kinh luật của Phật, làm hạnh bất tịnh với người khác phái, vì sao vậy? Vì như lửa dữ, núi đao chỉ hoại sắc thân trong một đời, còn như làm hạnh bất tịnh thì muôn kiếp tan thân mất mạng. Cho nên tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, trầm luân trong biển khổ, không ra khỏi được, đều do nữ sắc, ái dục trói buộc. Như người mù không có con mắt trí tuệ, không thấy được hố sâu sanh tử, khiến cho không biết bao sinh mạng phải bị vùi lấp.

Kinh Niết Bàn chép: “Nếu Bồ Tát tuy không hòa hợp với người nữ nhưng cùng họ nói năng, đùa giỡn cười cợt, hoặc là ngoài vách nghe tiếng vòng xuyến, nhẫn đến thấy nam nữ đuổi bắt nhau, Bồ Tát này đã hủy phá tịnh giới, làm nhiễm ô phạm hạnh, khiến cho giới tạp uế, không được gọi là tịnh giới cụ túc, nghe tiếng, thấy sắc còn khiến cho tạp uế, huống gì Bồ Tát khởi niệm bất tịnh, lẽ đâu được giới cụ túc ư?

Đoạn trước ghi: “Lập thệ như vầy”, còn đoạn này nói: “Lại nguyện như vầy” nên biết Thệ là ý chí quyết đoán trong Nguyện, tất cả y phục, ăn uống, thuốc men, giường chiếu, ngọa cụ, nhà cửa, ruộng vườn, đều là do tín tâm đàn việt, mong cầu phước mà cúng dường cho ta. Giới của ta được vẹn toàn cũng cần phải kiểm xét tâm mình sanh lòng hổ thẹn, dùng Bi điền và Kỉnh điền triển chuyển để sanh phước thiện. Nếu khuyết giới thì một hạt gạo cũng khó tiêu, huống gì có thể đền đáp chỗ mong cầu của thí chủ được, nên lập trước lời thệ này để tự răn nhắc và ngăn ngừa.

Lễ bái tuy không hao tổn tiền của nhưng mà tín tâm đàn việt chí thành. Bởi vậy có người đem tâm cung kính Tam bảo, một lần chiêm ngưỡng, một lần lễ lạy, vô lượng tội diệt, vô biên phước sanh.

Kinh Anh Lạc chép: “Bồ Tát khi mới sanh, đi bảy bước, kế đó giở chân trái, thế nhưng vô lượng chúng sanh trong tam thiên thế giới chẳng hay chẳng biết. Nếu có chúng sanh thấy tướng túc luân, đều phát tâm Vô thượng chánh đạo, phước báo này là do xưa kính lễ đức Như Lai, phải biết được phước đã nhiều nhưng nếu sai phạm mắc tội cũng không phải ít. Nay đem thân phá giới, thọ nhận người khác cung kính lễ bái, thì tự tổn phước không ít, đâu có thể khiến cho họ tăng thêm phước lành. Người có tâm hổ thẹn cần nên nghĩ kỹ. Trước là thệ thân khẩu không nhận tứ sự cúng dường của người khác. Nay thệ sáu căn, không nên phóng túng nhiễm đắm ngũ trần, mà không nói về ý căn là vì trong ngũ căn đều nói: “Tâm phá giới”, tâm chính là ý, huống gì ý căn vô hình, pháp trần vô thể, không thể dụ giống như ngũ căn, nhưng ý căn duyên cảnh trong năm trần phân biệt tốt xấu, tức là pháp trần, nên không thể lập thêm một pháp trần khác. Như vậy sáu căn nhiễm sáu trần, như con ruồi dính nơi đờm dãi, nay đã hoại mất giới thân, thì vĩnh viễn mất huệ mạng, cần phải phát thệ nghiêm trọng và lập ra cái nạn nghiêm trọng để ngăn ngừa. Bởi vậy thà chịu sự thống khổ trăm ngàn dao nhọn kiếm bén đâm vào tim mình, quyết không nhìn sắc đẹp, nhẫn đến không ham đắp mặc y phục mịn màng, nằm nơi êm ấm, v.v… Nay dùng tâm thệ này, cắt đứt nguồn gốc ác mới có thể sanh căn lành. Nên Kinh Di Giáo chép: “Tai họa của năm căn gây tai ương đến nhiều đời, gây hại không kể xiết, không thể không thận trọng. Bởi vậy người trí ngăn ngừa mà không theo, giữ nó như giữ giặc, giả sử có buông lung nó thì chỉ trong khoảnh khắc, liền phải trừ diệt.”

Luận Đại Trí Độ chép: “Như Phật dạy, thà dùng sắt nóng dí lên mắt mình, chứ không đem tâm nhiễm liếc nhìn nữ sắc. Người trí không nên nhìn sắc đẹp, nếu muốn quán, phải coi người ấy như mẹ, như chị của mình, v.v… nhìn kỹ, quán xem bất tịnh dẫy đầy, lửa dâm chẳng dứt thì bị nó thiêu đốt. Cái họa của sắc đã như vậy, còn thanh, hương, vị, xúc có thể tự rõ.

Bốn thệ nguyện trên đây, tuy nói là tự độ, nhưng cũng gồm cả độ tha, vì sao vậy? Vì Bồ Tát tu hành vốn vì chúng sanh, nếu không tự độ thì làm sao độ người?, Không giống như Nhị thừa, chỉ tự độ, nên nay phát thệ nguyện này, nguyện chúng sanh thành Phật, chính là bổn hoài của Bồ Tát, là đại thệ tự lợi và lợi tha cùng thành Phật đạo. Người không phát nguyện này là do không lập năm thệ trước. Nếu không lập mười nguyện và năm thệ, dẫu có tu trì, chỉ là không rơi vào Nhị thừa, được hưởng phước báu ở cõi trời, cõi người mà thôi.

Giới thứ 37 KHÔNG ĐƯỢC DU HÀNH NƠI MẠO HIỂM, CÓ NẠN

Là Phật tử, thường nên hai mùa tu hạnh Đầu đà, mùa đông mùa hạ ngồi thiền, kiết hạ an cư, thường dùng nhành dương, nước tro, ba y, bình bát, tọa cụ, tích trượng, hộp lư hương, đãy lược nước, khăn tay, con dao, đá lửa, cái nhíp, giường giây, kinh luật, tượng Phật, tượng Bồ Tát. Khi Bồ Tát tu hạnh Đầu đà, du phương qua lại trong trăm dặm, ngàn dặm, 18 vật này thường mang theo bên mình. Hành hạnh Đầu đà từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba và từ rằm tháng tám đến rằm tháng mười, trong hai kỳ hành hạnh Đầu đà luôn mang theo mình mưới tám thứ ấy, như chim hai cánh.

Nếu đến ngày bố tát, Bồ Tát tân học mỗi nửa tháng phải thường bố tát tụng 10 giới trọng và 48 giới khinh.

Lúc tụng giới nên ở trước tượng Phật và tượng Bồ Tát mà tụng, chỉ có một người bố tát thì một người tụng, nếu có hai người, ba người, cho đến trăm ngàn người thì cũng chỉ một người tụng. Người tụng ngồi trên tòa, người nghe ngồi dưới tòa, tất cả đều đắp y hoại sắc chín điều, bảy điều và năm điều, lúc kiết hạ an cư mỗi mỗi việc đều phải như pháp.

Lúc hành hạnh Đầu đà, chớ đi đến chỗ có tai nạn, như cõi nước hiểm ác, nhà Vua hung bạo, đất đai gập ghềnh, cỏ cây rậm rạp, chỗ có sư tử, cọp, sói cùng lụt bão, nạn cháy, giặc cướp, đường xá có rắn độc; tất cả những nơi hiểm ác ấy đều không được đến, chẳng những lúc hành hạnh Đầu đà, mà lúc kiết hạ an cư cũng không được vào những chỗ hiểm nạn ấy. Nếu cố vào nơi ấy, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Nghiệp đã kết nhiều đời nhưng sở dĩ chưa thọ quả báo thì chưa nhất định gặp duyên liền như vang theo tiếng, như bóng theo hình, nếu chưa gặp duyên phải đợi đến lúc khác.

Du hành nơi hiểm nạn, như con thiêu thân lao đầu vào lửa, huống gì thân người khó được như rùa mù gặp lỗ cây. Giả sử gặp ác duyên tạm quên huệ nhãn, sanh ra đại thống khổ, do đây phải đọa ba đường ác, hiện tại đánh mất phước duyên với đạo, vĩnh viễn trôi dạt trong bến mê, hơn nữa các tai nạn lớn nhỏ nào ai biết trước, tự chuốc lấy tai vạ chết yểu, thật đáng thương thay.

Hai mùa là mùa xuân và mùa thu, khí hậu dễ chịu, không bị nóng và lạnh trở ngại, việc hành hóa của Bồ Tát trở nên thuận tiện.

Đầu đà, cũng gọi là Đỗ đa (Trung Hoa dịch là Đẩu tẩu), nghĩa là phủi sạch các phiền não tham, sân, si trong ba cõi ra khỏi sự trói buộc, thương ghét của sanh tử. Hành Đầu đà có 12 thứ như kinh Đại Bát Nhã nêu rõ:

1. Ở chốn A Lan Nhã (Trung Hoa dịch là chỗ tịch tĩnh), cách thôn ấp khoảng sáu dặm.

2. Thường đi khất thực.

3. Mặc áo bá nạp, chính là áo phấn tảo.

4. Ăn một bữa.

5. Tiết chế sự ăn uống.

6. Sau giờ ngọ không ăn, chỉ uống nước trái cây.

7. Ngồi nơi gò mả.

8. Ở dưới gốc cây.

9. Ngồi nơi đất trống.

10. Thường ngồi không nằm.

11. Theo thứ lớp khất thực (không lựa nhà giàu sang)

12. Chỉ mặc 3 y (không chứa y dư thừa).

Đối với việc ăn uống, y phục và chỗ ngủ, nghỉ, không đắm nhiễm là lìa chướng ngại, mau được giải thoát.

Đại Luận chép: “Giới mà Phật đã kiết, đệ tử phải thọ trì.” Mười hai hạnh Đầu đà không gọi là giới, nếu người hay thực hành thì giới được trang nghiêm, không hành trì thì cũng không phạm giới, thí như người bố thí hay thực hành thì được phước, không bố thí thì cũng không mắc tội.

Mùa đông, mùa hạ thì ngồi thiền, mùa đông thì tuyết lạnh, mùa hạ thì nóng bức, lại nhiều thứ côn trùng giun dế, muỗi mòng, nếu đi du hành thời thường gặp khi trời lạnh nóng làm thương tổn thân thể, lại tổn hại thân mạng chúng sanh nên tọa thiền an cư.

Mười tám thứ vật mang theo bên mình như chim có hai cánh, mặc tình bay lượn, dạo đi trăm dặm, ngàn dặm, thọ dụng không thiếu, về sự thì như vậy, nhưng về lý có hơn có kém.

Nhành dương để tẩy sạch khẩu nghiệp. Nước tro dùng để tẩy sạch thân nghiệp. Nước tịnh bình để tẩy sạch ý nghiệp. Một bình bát tiêu biểu biết đủ để lìa tà mạng. Ba y để trừ ba độc, là đắp mặc áo giáp hoằng thệ. Tọa cụ để an ổn ngũ phần pháp thân. Tích trượng là tiêu biểu dựng lập cờ xí của Thánh, Hiền. Hương là tiêu biểu cho mùi thơm giới đức. Lò là tiêu biểu trì giới kiên cố. Hộp là vật để hương có đáy bằng phẳng, tiêu biểu tâm địa Bồ Tát bình đẳng. Đãy lược nước là hạnh từ cứu độ chúng sanh. Khăn tay là để lau chùi mồ hôi vô tàm, vô quý. Dao là hàng phục bốn ma. Đá lửa tiêu biểu ánh sáng trí tuệ, để phá trừ vô minh si mê tối tăm. Nhíp dùng để nhổ sạch cội rễ phiền não. Giường giây tiêu biểu cho tòa pháp không.

Kinh luật để xiển dương cội nguồn Đại thừa tâm tông. Tượng Phật tiêu biểu cực quả Như Lai.

Tượng Bồ Tát là tiêu biểu cho nhơn vi diệu của Bồ Tát, muốn chứng quả cao tột phải cần có nhơn vi diệu, muốn xây dựng thềm bậc của nhơn vi diệu, trước hết phải rõ tâm địa, mười tám thứ vật dụng như thế, sự và lý đầy đủ, dù trong tích tắc không được lìa khỏi thân, nếu lìa thì chẳng phải thực hành đại đạo của Bồ Tát.

An cư kiết hạ, từ ngày 16 tháng 4 kiết đến rằm tháng 7 (âm lịch ) giải, là ba tháng cấm túc, đó là thời gian cần thiết để 3 tháng sách tấn tu hành.

Thường bố tát, nghĩa là trong một năm, mỗi nửa tháng (tháng có trăng và không trăng) thường tụng giới kinh, không nên bỏ kỳ nào. Nay chỉ nêu hàng tân học Bồ Tát, nghĩa là hàng cựu học đã biết rõ phép thường của Chư Phật mỗi nửa tháng tụng giới một lần, vì sợ rằng hàng tân học Bồ Tát chưa rõ nghi thức định kỳ tụng giới hàng tháng, chứ không phải ý nói cựu học Bồ Tát không tụng, nên văn trước nêu rõ: “Phật Lô Xá Na tụng, ta cũng tụng như thế, ba đời Chư Phật Bồ Tát cũng tụng như thế”, đủ biết không phải chỉ riêng tân học Bồ Tát mới tụng.

Khiến ở trước tượng Phật và Bồ Tát tụng, thấy rõ là hàng tân học Bồ Tát tụng cũng không khác với Phật và Bồ Tát. Một người bố tát thì một người tụng, cho đến trăm ngàn người cũng chỉ một người tụng mà thôi, đây là khiến cho đại chúng nghe không bị huyên náo ồn ào, mỗi mỗi đều được nhứt tâm, người tụng ngồi tòa cao, tụng cho rõ ràng để hiển rõ giới pháp phải tôn sùng, người nghe ngồi tòa thấp, để được nghe hết, cũng để rõ khiêm tốn đem tâm kính giới.

Ca sa, tiếng Phạn nói đủ là Gia-sa-giả (Trung Hoa dịch là Hoại sắc) cũng gọi là màu đỏ, dùng ba thứ phẩm xanh, đen, mộc lan nhuộm thành y hoại sắc, như lá dâu vàng, để khác với năm sắc chính, còn như nêu rõ công năng, thì tên gọi và nghĩa của nó không chỉ có một, danh nghĩa của nó chẳng phải một.

Năm điều gọi là An Đà Hội (Trung Hoa dịch là Hạ Trước Y). Bảy điều gọi là Uất Đa La Tăng (Trung Hoa dịch là Thượng Trước Y). Chín điều gọi là Tăng Già Lê, Trung Hoa dịch là Trùng y, y này có chín phẩm, từ 9 điều đến 25 điều, nay chỉ lược nêu phẩm thứ nhất, cũng là biểu trưng cho nửa tháng tụng giới, là cửa ngỏ đầu tiên làm lợi ích cho cửu giới (chín cõi).

Mỗi nửa tháng như pháp, nghĩa là chẳng những mỗi nửa tháng tụng giới, mà ngay trong mùa an cư kiết hạ cũng phải nhất nhất như pháp, mỗi nửa tháng tụng giới, không được thiếu sót.

Nếu gặp lúc an cư mà không an cư, mạo hiểm du hành đây đó, thì đây gọi là mạo hiểm du hành chỗ có nạn, có ngại. Thời nay cách Phật quá xa, chánh pháp và tượng pháp đã qua rồi, đang thời kỳ mạt, bỏ phế việc bố tát, chánh giáo ít được nghe. Các chốn tòng lâm, mười người hết chín người không thực hành, hoặc có người vào ngày mùng một, ngày rằm thăng tòa dạy chúng, gọi đó là bố tát. Thậm chí ban đêm uống trà, nói chuyện cho đó là yết ma. Than ôi! Pháp sắp diệt rồi, ai là người chánh đây ! chỉ nhờ bậc Đại nhơn hữu lực, nối dòng Thánh chủng, tiếp nối quy củ giới luật, cứu vãn mối tệ nơi thời mạt này, mở mang chánh giáo cho hậu học, tuy nói là cách Thánh đã xa, nhưng đồng với thời chánh pháp không khác, nếu phế bỏ việc bố tát để bổ sung vào nghĩa dựng lập, bèn bị quỷ thần quở trách, hàng La Hán tự cho là thanh tịnh, đức Thế Tôn còn đích thân mời đến vân tập bố tát, chúng ta là hạng người gì mà dám coi thường giới luật? nay chỉ nêu một hai điểm trong đó để tự hổ thẹn mà răn nhắc lấy mình.

Xưa Tăng Phạm ở chùa Đại Giác, huyện Nghiệp Đông, nước Tề, vốn là người giới đức thanh cao, giữ giới rất cẩn mật, không sai phạm, từng nghỉ ở chùa khác ý muốn nghe giới, đến đêm ngày 15, chúng bàn nghĩ việc tụng giới bố tát, để bàn nghĩa thẳng tắt, mới sai một vị Tăng thăng tòa nói: “Bàn thẳng về pháp tướng, để hiểu sâu Thánh ý, cần gì phải lao nhọc cực khổ bố tát làm gì”. Chúng Tăng đều đồng ý như vậy, bỗng thấy một vị thần hình dáng cao hơn một trượng vọt lên làm người ta khiếp sợ, hỏi người bày ra nghĩa thẳng tắt: “Hôm nay là ngày gì?” Người kia đáp: “Ngày bố tát” Thần liền đánh và xô vị ấy xuống tòa, vị Tăng ngã lăn sắp chết. Kế đó, vị thần hỏi hai, ba vị thượng tọa, các vị này cũng đáp như vậy, thần mỗi mỗi quở trách và hành hạ rồi đánh cho thừa sống chí chết, vị thần khoác áo ra đi. Cả Tăng cả tục ai nấy đều thấy. Tăng Phạm thấy vậy tự gắng một đời cung kính giới. Lại nữa, Tăng Vân ở chùa Bảo Minh, huyện Nghiệp Hạ, nước Tề, là người lãnh đạo đại chúng, ngày 15 tháng 4, chúng vân tập muốn thuyết giới, Tăng Vân là bậc thượng thủ, bạch đại chúng rằng: “Giới vốn ngăn quấy dứt lỗi, người người tụng được, cần gì phải tụng nhiều lần, chỉ cần sai một ông Tăng tụng lược là được rồi để người đời sau được khai ngộ. Tăng Vân là người có tiếng tăm đương thời nên không ai dám phản đối, phải đợi đến cuối mùa hạ. Trong mùa hạ đó, chúng Tăng thường bỏ việc thuyết giới. Đến ngày 15 tháng 7 âm lịch đại chúng muốn nhóm họp, muốn tự tứ, bỗng chẳng thấy Tăng Vân ở đâu, đại chúng bèn đi tìm khắp bốn phía. Cách bên chùa hơn ba dặm, Tăng chúng tìm thấy Tăng Vân ở trong một ngôi mộ cổ, toàn thân máu ra đầm đìa như bị ai cắt thịt, nghe chúng hỏi, Tăng Vân đáp: “Có một trượng phu cầm dao dài hơn ba thước, lớn tiếng hỏi ta sao dám cải đổi ngày giờ bố tát, bày ra chuyện tụng lược. Dao chém vào thân ta đau đớn vô cùng.” Đại chúng dìu Tăng Vân trở về chùa, dốc lòng sám hối. Từ đó về sau, cả thảy mười năm, Tăng Vân thường lấy việc thuyết giới bố tát làm bổn phận của mình. Bởi vậy, đến lúc lâm chung có mùi hương lạ hoằng quyện bên thân Ngài.

Cõi nước có hiểm ác, chính là người và cảnh bất thiện, vị Quốc chủ tâm bất thiện thời không có lòng tôn kính Tam bảo, ắt có sự khinh hủy Sa môn. Cõi nước cao thấp thời núi đồi gồ ghề, đất thấp ẩm ướt, nơi ở không an, rừng cây sâu thẳm thì phần nhiều thú dữ, ác quỷ tụ tập nhiều, sư tử, sói lang chính là ác thú hại người, nạn nước nhận chìm, nạn lửa thiêu đốt, nạn gió làm gảy đổ, giặc cướp thì cướp phá, rắn độc làm hại người. Tất cả nạn là chỉ nêu sơ lược tám thứ, còn lại rất nhiều không thể kể hết, nên nói “tất cả”. Hễ nơi nào có nạn, làm mất mạng và mất hạnh thanh tịnh thì không được vào, nếu biết mà cố vào thì phạm. Có người cho rằng: “Bồ Tát còn đem thân thí cho cọp đói, đâu được bỏ những nơi xa, lời nói này thật là chưa thấu đạt chánh lý. Xả thân thí cho cọp ăn là cứu giúp cho cọp đói khỏi chết, đem thân thay thế chim bồ câu, để cứu mạng nó, mạo hiểm đi vào cõi nước hung dữ, nạn nước, nạn lửa lao mình đến chỗ giặc cướp rắn độc, đã không có lợi cho bọn họ thì có ích gì cho pháp môn? huống gì người mới hành Bồ Tát hạnh, nhẫn lực chưa đủ, bỏ mạng một cách oan uổng, ngã kiến chưa bỏ, mất luôn chánh niệm, vả lại đợi cho thân ngũ uẩn không thần thông liền phát, hoặc vào vạc dầu, lò than chịu thay khổ, hoặc biến toàn thân thành núi thịt mà cứu đói cho chúng sanh. Đây là diệu dụng của Bồ Tát hành pháp lục độ, đâu thể so sánh với người có tâm mạo hiểm đi du hành các nơi hiểm nạn ư?

Hỏi: Trừ các nạn trên không được đến, giả sử ngẫu nhiên gặp nạn ấy thì phải định liệu như thế nào?

Đáp: Bồ Tát Học Luận ghi: “Nếu vì nhơn duyên gặp các việc nạn, phải chánh niệm mà đối trị, không sanh tâm kinh sợ. Nên Kinh Bát Nhã Phật dạy Xá Lợi Phất: “Giả sử Bồ Tát ở trong nạn thú dữ, không sanh tâm khiếp sợ buồn rầu, cũng không sợ hãi, vì sao? Vì khởi niệm như vậy, ta nên làm lợi ích cho chúng sanh, tất cả đều phải xả hết, nếu các ác thú muốn ăn thịt ta, ta sẽ thí cho mau chóng thành tựu viên mãn bố thí Ba-la-mật, nguyện khi ta thành Vô thượng chánh đẳng, chánh giác, cõi nước thanh tịnh, không còn nghe tên ác thú, độc thú nữa, dầu gặp nạn giặc cũng không sanh tâm kinh hãi, buồn rầu lo sợ, vì cớ sao? Vì Bồ Tát này đã xả bỏ tất cả những gì mình có và suy nghĩ rằng: “Nếu giặc cướp đến, muốn lấy, ta sẽ đem cho, cho đến giặc cướp muốn lấy thân ta, ba nghiệp của ta cũng không sân hận, để mau thành tựu viên mãn giới Ba-la-mật và được đầy đủ nhẫn Ba-la-mật. Nguyện lúc ta sắp thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cõi nước thanh tịnh, không còn nghe tên giặc cướp như thế nữa, như kinh đã chép: “Lìa tất cả sự buồn rầu, sợ hãi, v.v… không mất chánh niệm mà còn hay thành tựu các công đức.”