Kinh Đà La Ni Phật Đỉnh Tôn Thắng

Đường Đỗ Hành ỷ dịch,

Bản Việt dịch của Thích Quảng Trí

*

Kinh lễ hết thảy trí (Phật).

Ta nghe như vầy một thời Phật ở tại nước Xá Vệ rừng cây Kỳ Đà vường Cấp Cô Độc cùng với các Đại tỳ kheo tám ngàn người đầy đủ các vị Bồ tát ba vạn hai ngàn đầy đủ chánh trí hiểu biết các pháp rõ ràng. Các vị đó là : Bồ tát Quán Tự Tại, Bồ tát Đắc Đại Thế, Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi Đồng Chơn, Bồ tát Liên Hoa Thắng Tạng, Bồ tát Kim Cang Thủ, Bồ tát Trì Địa, Bồ tát Hư Không Tạng, Bồ tát Trừ Nhất Thiết Chướng, Bồ tát Phổ Hiền, làm thượng thủ (đứng đầu), như vậy ba vạn hai ngàn các vị Bồ tát. Lại có một vạn Phạm ma Thiên, Thiện Tra Phạm Ma làm thượng thủ ngoài ra còn có các loài khác đều đến trong hội.

Khi đó bốn chúng vi nhiễu Thánh Tôn, cung kính cúng dường vì muốn nghe pháp. Lúc đó trong Thiện pháp đường nơi Tam thập tam thiên có vị trời tên là Thiện Trụ ở trong cung thọ hưởng các điều vui sướng, ca múa hát xướng, vui vẻ dạo chơi. Bỗng nhiên trong đêm có tiếng gọi: “Thiện Trụ mạng ông trong bảy ngày nữa sẽ hết, sau đó ở trong cõi Diêm Phù bảy lần vào địa ngục, hoặc làm người bần cùng thọ các khổ não.” Thiện Trụ nghe xong hoảng hốt sợ sệt, lông tóc dựng đứng, liền vội đi đến chỗ Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhơn, lạy nơi chân Thiên Đế khóc mà thưa rằng: “Thỉnh Thiên Đế thương xót cứu khổ ách cho tôi. Tôi đương thọ hưởng các điều vui sướng cõi trời, bỗng nhiên có tiếng bảo rằng trong bảy ngày nữa sẽ chết, sanh bảy lần nơi cõi Diêm Phù Đề, vào trong địa ngục, sau đó làm người bần cùng chịu các điều khổ não. Tôi nay phiền muộn không biết làm sao. Cúi xin Thiên Đế thương xót cứu khổ độc cho tôi”

Thích Đế Hoàn Nhơn nghe như vậy xong, lấy làm kinh ngạc, yên lặng suy xét thấy Thiên Trụ Thiên tử khi mạng chung phải thọ thân heo, thân heo xong lại làm thân chó, thân chó xong lại thọ thân độc (đười ươi), thân độc xong thọ thân khỉ, thân khỉ xong thọ thân rắn, thân rắn xong thọ thân khứu (chim hung dữ), thân khứu xong thọ thân chim. Trong bảy lần sanh ra đều ăn các thứ dơ uế. Thích Đề Hoàn Nhơn thấy như vậy rồi, lấy làm thương xót. Suy nghĩ không biết kế gì để cứu bạt khổ nạn cho Thiện Trụ, chỉ trừ Đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Bồ Đề, ngoài ra không ai có thể cứu được. Tức thời Thiên Đế sau đêm, đem các tràng hoa, các thứ hương bột, hương đốt, thiên y, anh lạc các thứ trang nghiêm đầy đủ, đến chỗ Phật, đảnh lễ chân Phật đi nhiễu bảy vòng, tác đại cúng dường xong ngồi ở trước Phật đem các chuyện của Thiện Trụ mà bạch cùng Phật.

Khi đó Đức Như Lai trên đảnh phóng ra ánh sáng lớn, đủ các màu sắc chiếu khắp mười phương các cõi chúng sanh, lại trở về chỗ Phật xoay vòng bên phải xong nhập vào trong miệng Thế Tôn. Đức Phật mỉm cười bảo Thích Đề Hoàn Nhơn rằng: “Có Phật Quán Đảnh Thanh Tịnh Các Thú Phật Đảnh Tôn Thắng đà la ni hay diệt tất cả nghiệp chướng, địa ngục, súc sanh, Diêm ma lô ca, các khổ não sanh tử, phá đường địa ngục, dẫn đến Phật đạo. Thiên Đế, Thanh Tịnh Chư Thú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni nầy nếu người được nghe, các rằng buộc sanh tử nghiệp chướng bệnh hoạn khổ não thảy đều tiêu trừ, được quả báo lành, được trí túc mạng, được sanh nơi cõi Phật nầy đến cõi Phật khác, trong cõi trời nầy qua cõi trời khác cho đến ba mươi ba cung trời thường được túc mạng. Người hay tu trì sống được trăm tuổi, thân khẩu ý trong sạch, tâm thường vui vẻ, các khổ nơi thân tiêu trừ, được các việc lành chư Phật nhớ ngó, chư Thiên hộ trì, chư Bồ tát thương xót hộ niệm. Người trì tụng, các tội địa ngục, súc sanh, Diêm ma lô ca và các ngã quỉ thảy đều tiêu sạch không còn dư sót, như hư không. Tất cả cõi Phật, Bồ tát, Thiên cung, các nhà sang quý thảy đều được thanh tịnh”

Tức thời Thích Đế Hoàn Nhơn lại bạch Phật rằng: “Cúi mong Thế Tôn thương xót nhiếp hộ tất cả chúng sanh nói ra Thanh Tịnh Chư Thú Phật Đảnh tôn Thắng Đà Ra Ni”

Khi đó Đức Thế Tôn nhận lời Thiên Đế cầu thỉnh nói đà la ni rằng:

– Nam mô bạt đà phạt đế lệ lô chỉ dả bát ra để tì thỉ sắc tra dạ bột đà dạ đát điệt tha. Ô hồng tì du đà dạ ma ma ( tên mình….) sa mạn đà bá bà sa võng ra nõa da đế da ha na tỏa bà bá vủ đề a tì sắc dã dạ tát da đa bà dã na mật lật đa tì san kết a ha ra a ha ra a du san đà ra ni du đà dạ du đà dạ da da na tì vũ đề ô sắc nị sa tì xà dạ vũ đề sa ha sa ra ra thấp nhị tam châu địa đệ tát ra bá đa tha dà đa địa sắc tra na địa sắc sỉ đế a địa lị bạt xà ra ca dạ tăng ha đa na vũ đề tát ra bá bá ra nõa tì vũ đề bát ra dạ nễ dạ đa bà dã a du vũ đề sa ma da địa sắc sỉ đề ma nễ ma nễ ma ma nễ đa tha đa phổ đa cu trí bạt lợi vũ đề, tì sa phổ tra bột địa vũ đề xà dạ xà dạ tì xà dạ tì xà dạ sa ma ra sa ma ra bột đà địa sắc sỉ đa vũ đề bạt xà lê bạt xà ra yết ra tì bạt xà lam bà bá đỏ ma ma ma ha da na bát ra bà ca dạ tì vũ đề tát ra bá da đệ bạt lê vũ đề tát ra bá đa da đa sa ma thú a sa địa sắc sỉ đế bột đà dạ bột đà dạ tì phổ đà dạ sa mạn đa bạt lợi vũ đề tát ra bá đa tha da đa địa sắc tra na địa sắc sĩ đệ sa ha.

Thiên Đế! Thanh Tịnh Chư Thú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni nầy tịnh các tội chướng, trừ các ác thú, tám mươi tám cu chi trăm ngàn hằng hà sa chư Phật đều nói ra, tự giữ gìn và khen ngợi. Tất cả Như Lai đều ấn khả, vì muốn trừ tất cả các ác thú, tất cả địa ngục, súc sanh, Diêm ma lô ca, các loại tội ác khiến chìm đắm trong biển khổ, thọ các bệnh độc khiến được giải thoát. Vì muốn cho kẻ đoản mạng bạc phước hạ tiện, nô tì, giặc cướp, các ác nghiệp chúng sanh bị đọa vào địa ngục mất bản tâm quay về đường chánh, nói Đà la ni nầy trong cõi Diêm Phù Đề tịnh trừ các tội chướng, khiến được giải thoát.

Thiên Đế, ông nên trì đà la ni nầy nói cho Thiện Trụ Thiên tử và các chúng sanh trong cõi Diêm Phù, các chư Thiên, Thiên tử, các loài hàm thức, khen ngợi, đọc tụng, suy nghĩ nhớ niệm, cung kính cúng dường, thọ trì tu hành. Ta nay đem đà la ni nầy giao cho ông giữ gìn, ông nên thọ trì . Người nghe được đà la ni nầy trong trăm ngàn kiếp các tội chướng thảy đều thanh tịnh, không đọa địa ngục, không sanh vào hàng súc sanh, Diêm ma lô ca, ngạ quỉ, ác thú, không thọ các thân A tu la, La sát, Dạ xoa, Bố đơn na, Ca tra Bố đơn, na, Quỉ thần, cho đến chó, lừa, chim, cầm thú, muỗi mòng, rắn độc, các loài đi bằng bụng, các loài trùng kiến nhỏ nhít cũng không thọ. Cùng ở chỗ của chư Phật; hoặc sanh vào dòng Bồ tát, Bà la môn, Đại Sát đế lợi, đại tánh cư sĩ, đại gia, do lực đà la ni nầy mà được sanh, cho đến ngồi nơi Bồ đề thành Chánh đẳng Chánh giác.

Thiên Đế! Thanh Tịnh Chư Thú Tôn Thắng Đa La Ni oai thần rộng lớn đầy đủ công đức, có sức lực mạnh mẽ, hay cho đại cát tường, như Nhật tạng ma ni châu xen chiếu lẫn nhau, không cấu tịnh như hư không, để ở nơi nào nơi đó tức sáng sủa, nơi để đà la ni nầy oai thần cũng như vậy. Người trì đà la ni nầy không bị các tội chướng làm nhiễm, sạch sẽ vắng lặng, thanh tịnh không nhơ như vàng ròng Diêm Phù Đàn. Người chép viết tu tập thọ trì cúng dường đà la ni, nên biết nơi đó các địa ngục, ác thú, tội chướng thảy đều thanh tịnh. Viết chép đà la ni nầy an trí trên ngọn phướn, trên cây, trên núi cao hoặc trên lầu các, chỗ cao hoặc trong phù đồ, nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Thiện nam tử, Thiện nữ nhơn v.v… được thấy phướn gần gũi, hoặc hình bóng ngã vào gió thỏi qua phướn, cát bụi dính vào thân đều tiêu các tội chướng, không còn bị đọa vào địa ngục, súc sanh, Diêm ma lô ca, ngạ quỉ, A tu la, các ác thú, thường được chư Phật, Như Lai thọ ký, được bất thối chuyển cho đến chứng được Chánh đẳng Chánh giác. Dùng các thứ hương hoa, tràng phan, tán cái, anh lạc các thứ nghiêm sức đầy đủ cúng dường rộng lớn, ở nơi ngã tư đường tạo tháp an trí đà la ni nầy hành đạo lễ ấn, nên biết người nầy là Đại Bồ tát, là Pháp tử của Phật, là Tháp Xá lợi thường trụ”.

Khi ấy Diêm La Pháp Vương trong đêm đi đến chỗ Phật dung các món hoa trời, các thư hương, tạp hương, thiêu hương, thiên y, anh lạc cúng dường, nhiễu Phật bảy vòng, lễ nơi chân Phật và bạch Phật rằng: “Con chịu ân Phật mà không biết ân, nay vì muốn báo ân Phật ủng hộ tất cả. Xin nguyện phụng sự sức oai lực, sức công quả to lớn của đà la ni nầy, đóng bít cửa địa ngục tịnh các ác thú.”

Khi đó Tứ Thiên Vương nhiễu Phật ba vòng rồi đến trước Phật bạch rằng: “Cúi mong Thánh Tôn nói pháp tu hành đà la ni nầy.”

Phật bảo: “Tứ Thiên Vương, hãy lắng nghe ta nay sẽ nói. Nếu có người đoản mạng cầu sống lâu nên ở tháng bạch nguyệt ngày rằm, tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới sạch, thọ tám trai giới, tụng đà la ni nầy một ngàn biến, các chướng bệnh thảy đều trừ diệt, được sống lâu, được đại an lạc, giải thoát các khổ địa ngục, súc sanh, ác thú v.v… cho đến các loài súc sanh, các ác thú được nghe đà la ni nầy, về sau không còn thọ thân trong ác thú nữa, các bệnh lở loét thảy đều tiêu tan, thanh tịnh các thú. Sau khi mạng chung, được sanh về các cõi Phật; sanh trong hoa sen không vào bào thai, thường biết túc mạng. Nếu có cúng sanh bị các tội nghiệp, sau khi chết sanh vào ác thú, nên dùng đà la ni nầy chú đất hai mốt biến, tán rãi nơi thân chúng, hoặc là địa ngục, súc sanh, Diêm ma lô ca, ngạ quỉ, A tì địa ngục, cầm thú, côn trùng, đều được bỏ thân khổ não sanh lên cõi trời, hưởng các điều vui sướng. Nếu ngày ngày tụng đà la ni nầy hai mốt biến tội tiêu, phước tăng, mọi người cung kính, sau khi chết được sanh về Cực Lạc. Nếu thường niệm đà la ni nầy, sau khi chết được sanh về các cõi tịnh, từ cõi Phật nầy qua cõi Phật khác, ở trong các cõi Phật có hào quang rộng lớn, được các Phật thọ ký cho đến chứng đại niết bàn.

Người tu đà la ni nầy nên lập đàn vuông bốn mặt bằng phẳng, rải các hoa sạch thiêu các hương thơm, gối phải sát đất, hồ qùi, một lòng niệm mười phương chư Phật, chắp tay để nơi tâm, hai ngón trỏ, hai ngón cái co lại an trong lòng bàn tay, đọc sa độ tụng đà la ni nầy một trăm tám biến, tức như cúng dường thừa sự tám mươi tám cu chi hằng ha sa na do tha trăm ngàn chư Phật, như cúng dường Phật mà làm cúng dường, lại cúng dường Tứ Đại Thiên Vương tất cả đều khen là chơn Phật tử, dùng lại Bồ Đề trang nghiêm tâm, được trí vô ngại. Phàm người muốn tụng niệm đà la ni nầy, nên chí tâm như pháp kết ấn, chắp mười ngón tay lại như trên, đây là pháp tu hành đà la ni.”

Phật bảo Thích Đề Hoàn Nhơn: “Thiên Đế, ông nên đem pháp nầy cứu vớt chúng sanh nơi địa ngục và các khổ não nơi ác thú, tịnh các nghiệp khiến được sống lâu, ông hãy lui về trao đà la ni nầy cho Thiện Trụ Thiên tử qua bảy ngày ông hãy cùng Thiện Trụ đến đây gặp ta.”

Thích Đề Hoàn Nhơn nghe lời Phật dạy, trở về cung Rrời đem Tôn Thắng Phật Đảnh Đà La Ni trao lại cho Thiện Trụ Thiên tử. Thiện Trụ thọ xong tu hành cúng dường sáu ngày sáu đêm, đến ngày thứ bảy các ác nghiệp đều được giải thoát, được sống lâu, ở tại cõi trời hưởng phước, hớn hở vui mừng mà nói lớn rằng: “A hồ Phật đà da, A hồ Đạt ma da, A hồ Tăng già da, A hồ Đà la ni cứu bạt tất cả khổ nạn cho chúng sanh, nay con đã được giải thoát các khổ ác thú.”

Bấy giờ Thích Đề Hoàn Nhơn cùng quyến thuộc vây quanh dẫn Thiện Trụ Thiên tử đem các món hoa hương, thiêu hương, đồ hương, tràn phan, tán cái, y phục, anh lạc, cỡi xe trời báu trang nghiêm đến chỗ Phật, tác đại cúng dường, nhiễu Phật vạn vòng, xong ở trước Phật khen tán Phật, rồi ngồi một bên nghe Phật nói pháp. Phật duỗi cánh tay phải màu vàng, an ủi Thiện Trụ Thiên tử và thọ ký cho.

    Xem thêm:

  • Kinh Tạp A-Hàm Quyển 23 - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 1 - Kinh Tạng
  • Kinh Bổn Nguyện Công Đức Của Bảy Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai – Thích Nữ Tâm Thường dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Tôn Thắng Phật Đảnh Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Duyên Khởi Từ A Nan - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Thích Trí Quang dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bảo Tích tập 1 – HT Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn – Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 18 - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 21 - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 20 - Kinh Tạng
  • Kinh Hoa Chánh Pháp - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 22 - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Đại Phật Đỉnh Quảng Tụ - Kinh Tạng
  • Kinh Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Quỹ Nghi - Kinh Tạng
  • Kinh Trường Thọ Diệt Tội Và Thần Chú Bảo Hộ Các Em Bé - Kinh Tạng
  • Kinh Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai Trang Nghiêm Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 23 - Kinh Tạng
  • Kinh Nhân Duyên Đồng Tử Quang Minh - Kinh Tạng