1
2

Kinh Liễu Nghĩa Bát Nhã Ba La Mật Đa

Tống Thi Hộ dịch

Bản Việt dịch (1) của Thích Nữ Tịnh Hiền

Bản Việt dịch (2) của Thích Nữ Tịnh Nguyên

***

Kinh Liễu Nghĩa Bát Nhã Ba La Mật Đa

Tống Thi Hộ dịch

Bản Việt dịch của Thích Nữ Tịnh Hiền

***

Bấy giờ, Thế Tôn bảo tôn giả Xá-lợi-phất:

– Này Xá-lợi-phất! Nay ông phải biết, có các đại bồ-tát muốn tu tập hạnh tương ưng Bát-nhã ba-la-mật-đa, thì đối với các pháp phải hiểu rõ như thật, nếu có hành động gì thì nên lìa tất cả tướng.

Lúc ấy, tôn giả Xá-lợi-phất, ở trước Phật chấp tay cung kính thưa:

– Bạch Thế Tôn! Như lời Thế Tôn nói, có các đại bồ-tát muốn tu tập hạnh tương ưng Bát nhã ba-la-mật-đa, vậy làm thế nào để hiểu rõ tự tính các pháp? Đối với các hành động, làm thế nào để lìa tướng?

Đức Phật dạy:

– Này Xá-lợi-phất! Nếu các đại bồ-tát muốn trọn vẹn các thắng hạnh tương ưng và đối với các pháp lìa tướng sở tác, thì phải biết rõ các pháp trụ mà vô sở trụ. Như thế mới có thể đầy đủ thắng hạnh tương ưng.

Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Nếu có các đại bồ-tát, nơi các pháp mà thực hành bố thí, thì phải biết không có năng thí, không có sở thí, thí cũng không thật có, thì mới trọn vẹn thí ba-la-mật. Lại nữa tu tập các giới pháp thì phải biết không có năng trì, không có sở trì, không tạo tác thì mới trọn vẹn giới ba-la-mật. Lại nữa tu tập pháp nhẫn nhục, thì đối với các pháp không động chuyển, lìa các sự tạo tác thì mới trọn vẹn nhẫn nhục ba-la-mật. Lại nữa, phải ở trong tương ưng hành mà tinh tấn tu tập, hoặc thân hoặc tâm, không biếng nhác, cũng không có tướng tạo tác; nếu như thế thì mới trọn vẹn tinh tấn ba-la-mật. Lại nữa nếu đối các pháp, tâm không tán loạn, lìa tướng sở đắc thì mới trọn vẹn định ba-la-mật.

Đức Phật nói tiếp:

– Này Xá-lợi-Phất! Nếu có các đại bồ-tát muốn an trụ trong pháp tương ưng Bát-nhã ba-la-mật-đa thì nên phải trọn vẹn bốn niệm xứ, bốn chính đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám chính đạo pháp.

Lại quán tưởng không tam-ma-địa, vô tướng tam-ma-địa, vô nguyện tam-ma-địa. Bốn pháp thiền định, bốn vô lượng, bốn định Vô sắc, tám giải thoát, chín pháp tiên hành, chín tưởng. Chín tưởng: quán tưởng pháp bên trong, quán tưởng vĩ-bố-dã-ca, quán tưởng lìa màu đỏ, quán tưởng lìa màu xanh, quán tưởng vĩ-khư-nĩ-đa, quán tưởng vô trụ, quán tưởng li tán, quán tưởng không nhiễm phiền não, quán tưởng lìa ăn uống.

Lại nữa niệm Phật tưởng, niệm pháp tưởng, niệm tăng tưởng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên tưởng, lìa phiền não tưởng, niệm sinh diệt tưởng, niệm vô thường, khổ, vô ngã tưởng, niệm các thế gian không cứu cánh tưởng, niệm khổ trí tưởng, tập trí tưởng, diệt trí tưởng, đạo trí tưởng, tận trí tưởng, vô sinh trí tưởng, pháp trí tưởng, vô ngã trí tưởng, hòa hợp trí tưởng, như thật trí tưởng, ngôn ngữ phân biệt trí tưởng, lìa ngôn ngữ phân biệt trí tưởng, chưa biết sẽ biết nguồn gốc tưởng, đã biết nguồn gốc của tưởng, biết đầy đủ nguồn gốc tưởng, tưởng bất tịnh, tưởng thanh tịnh, dừng tất cả tạp niệm tì-bát-xá-na tưởng, tam minh tưởng, tứ liễu tri tưởng, tứ vô úy tưởng, ngũ thần thông tưởng, lục ba-la-mật tưởng, thất chủng trụ tâm tưởng, bát đại nhân pháp tưởng, cửu chúng sinh trụ tưởng, Như Lai thập lực tưởng, mười tám pháp bất cộng tưởng, đại từ tưởng, đại bi tưởng cho đến nhất thiết trí trí tưởng. Đối với các pháp như trên nên quán tưởng như thế.

Lại nữa này Xá-lợi-phất! Nếu có các đại bồ-tát muốn trọn vẹn nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí, nên đúng như thật quán tưởng Bát nhã ba-la-mật-đa.

Lại nữa, nếu muốn trọn vẹn đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí, hiểu rõ tướng tâm hành của tất cả chúng sinh, đoạn trừ các tạp nhiễm của tất cả chúng sinh, thì phải nên tu tập thắng hạnh tương ưng Bát nhã ba-la-mật-đa.

Đức Phật dạy tiếp:

– Này Xá-lợi-phất! Các đại bồ-tát nên học các pháp tưởng mà Ta đã nói trên.

Bấy giờ tôn giả Xá-lợi-phất thưa Phật:

– Bạch Thế Tôn! Các đại bồ-tát tu Bát nhã ba-la-mật-đa thì nên đoạn pháp nào?

Đức Phật dạy:

– Này Xá-lợi-phất! Nếu có bồ-tát nào tu Bát nhã ba-la-mật-đa, thì nên đoạn trừ mười nghi hoặc. Đó là: Nghi có tính, nghi không có tính, nghi các pháp sai biệt, nghi hủy báng, nghi một pháp, nghi nhiều pháp, nghi có đồng có khác, nghi thượng phẩm, nghi như danh, nghi như danh nghĩa. Nếu được như thế thì đại bồ tát đối với tất cả tướng không có sở quán. Vì tướng không có chỗ quán, tên cũng không chỗ quán, Bát nhã ba-la-mật-đa cũng không có chỗ quán, sắc cũng không chỗ quán; thụ, tưởng, hành và thức đều không chỗ quán. Vì sao? Vì tự tính của sắc là không, không cũng lìa tính. Thể của sắc tức không, lìa sắc thì chẳng có không; thể của không là sắc, lìa không thì chẳng có sắc. Nghĩa này thế nào? Đó gọi là nghĩa phân biệt sắc.

Đức Phật dạy tiếp:

– Này Xá-lợi-phất! Ông phải biết tự tính của sắc pháp không sinh-không diệt, chẳng nhiễm-chẳng tịnh. Tự tính ấy cũng chẳng duyên pháp, lìa các nghi hoặc, không từ đâu đến cũng không có chỗ trụ, như thật mà sinh, vì lìa ba đời. Sắc pháp như thế, thụ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế. Cho nên các đại bồ-tát đối với các danh tướng đều không có sở quán; do không có sở quán, cho nên không sở nhập; không sở nhập tức trọn vẹn các thắng hạnh tương ưng Bát nhã ba-la-mật-đa.

    Xem thêm:

  • Nghi Quỹ Pháp Thiên Thủ Quán Âm Tạo Thứ Đệ - Kinh Tạng
  • Tịnh Lưu Ly Tịnh Độ Tiêu - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Thừa Lí Thú Lục Ba La Mật Đa - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Trưởng Giả Nữ Yêm Đề Giá Sư Tử Hống Liễu Nghĩa - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Phật Mẫu Xuất Sinh Tam Pháp Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa - Kinh Tạng
  • Kinh Ưu Bà Di Tịnh Hạnh Pháp Môn - Kinh Tạng
  • Phạn Ngữ Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - Kinh Tạng
  • Kinh Nhân Duyên Của Vua Đảnh Sinh - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Phương Quảng Nhập Như Lai Trí Đức Bất Tư Nghì - Kinh Tạng
  • Pháp Mật Yếu Trị Bệnh Thiền - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Diệu Kim Cang Đại Cam Lộ Quân Nã Lợi Diệm Man Sí Thạnh Phật Đỉnh - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán - Kinh Tạng
  • Kinh A Di Đà - Kinh Tạng
  • Kinh Ca Diếp Tiên Nhơn Nói Phương Thuốc Cho Người Nữ - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Thuyết Diệu Cát Tường Bồ Tát Sở Vấn Đại Thừa Pháp Loa - Kinh Tạng
  • Pháp Hà Da Yết Lợi Bà Tượng - Kinh Tạng
  • Kinh Nhơn Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa tập 16 - Kinh Tạng
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật (Phẩm 76 đến 90) - Kinh Tạng
  • Kinh Bồ Tát Thánh Đa La - Kinh Tạng