Du Già Thập Bát Hội Chỉ Quy Kinh Kim Cang Đỉnh

Đường Bất Không dịch,

Bản Việt dịch của Huyền Thanh

*

Kinh Kim Cương Đỉnh Du Già có 10 vạn bài Kệ, 18 Hội. Hội đầu tiên tên là Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Giáo Vương có 4 Phẩm lớn.Một là Kim Cương Giới, hai là Giáng Tam Thế, ba là Biến Điều Phục, bốn là Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu.

I _ A) Ở trong Phẩm đầu có 6 Mạn Trà La

_ Kim Cương Giới Đại Mạn Trà La: Nói về Thân Thọ Dụng của Tỳ Lô Giá Na Phật, dùng 5 Tướng hiện thành Đẳng chíng Giác (5 Tướng là: Thông Đạt Bản Tâm, Tu Bồ Đề Tâm, Thành Kim Cương Tâm, Chứng Kim Cương Thân, Phật Thân Viên Mãn. Đây là 5 Trí Thông Đạt). Sau khi thành Phật, dùng Kim Cương Tam Ma Địa hiện phát sinh 37 Trí. Rộng nói Nghi Tắc Mạn Trà La. Đệ Tử thọ nhận mau chứng Bồ Đề Địa, Phật Địa.

_ Thứ hai là Đà La Ni Mạn Trà La: Nói đủ 37 (Tôn). Thánh Chúng trong đây đều trụ Hình Ba La Mật. Rộng nói Nghi Tắc vào Mạn Trà La, vì Đệ Tử nhận 4 loại mắt, nói Nghi Quỹ của nhóm Kính Aùi, Câu Triệu, Giáng Phục, Tức Tai.

_ Thứ ba là Vi Tế Kim Cương Mạn Trà La Cũng có đủ 37 Thánh Chúng, vẽ ở trong Chày Kim Cương đều trì Định Ấn. Rộng nói Nghi Tắc Mạn Trà La. Vì Đệ Tử khiến cho Tâm kham nhậm, khiến cho Tâm điều nhu, khiến cho Tâm tự tại. Nói Vi Tế Kim Cương Tam Ma Địa, tu 4 Pháp Tĩnh Lự, tu 4 Tâm Vô Lượng với 3 Môn Giải Thoát.

_ Thứ tư là Nhất Thiết Như Lai Quảng Đại Cúng Dường Yết Ma Mạn Trà La cũng đủ 37 Tôn. Thánh Chúng trong đó đều cầm Bản Tiêu Xí (Vật tiêu biểu của mình) cúng dường rồi trụ. Rộng nói Pháp vào Mạn Trà La, vì Đệ Tử nói 16 Pháp nhận cúng dường, 4 loại Pháp Cúng Dường Bí Mật.

Thứ năm là Tứ Ấn Mạn Trà La Vì Đệ Tử thọ nhận 4 loại Pháp mau thành tựu. Dùng Mạn Trà La này cầu Tất Địa thành tựu. Tượng như Tất Địa sở cầu trong 4 Mạn Trà La trên, ở trước Tượng này cầu thành tựu.

Thứ sáu là Nhất Ấn Mạn Trà La Nếu trì Tỳ Lô Giá Na Như Lai Chân Ngôn với Kim Cương Tát Đỏ Bồ Tát Chân Ngôn có đủ 37 Tôn, ngoài ra đều đủ 13 (Tôn). Cũng nói Nghi Tắc vào Mạn Trà La, vì Đệ Tử nhận Pháp Tiên Hành (Pháp Hành trước tiên) tu tập Bản Tp6n Tam Ma Địa.

B) Tiếp nói Giáng Tam Thế Đại Phẩm có 6 Mạn Trà La

Đức Như Lai thành Đẳng Chính Giác xong , ở đỉnh núi Tu Di Lô (Sumeru) chuyển bánh xe Kim Cương Giới ban cho Bồ Tát danh hiệu thọ chức. Xong hàng Ma Hê Thủ La (Mahe’svara _ Đại Tự Tại) cang cường khó hóa độ, chẳng thể dùng Pháp Tịch Tĩnh mà thọ hóa được. Tất cả Như Lai khắp cả Pháp Giới cùng tận Hư Không khác miệng cùng lời, Thỉnh dùng bài Tán 108 tên, lễ Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasatva). Chư Thiên như vậy chẳng thể dùng Pháp Tịch Tĩnh mà thọ hóa được.

Thời Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajrapànïi bodhisatva) nhận lời Thỉnh của tất cả Như Lai xong, liền nhập vào Phẫn Nộ Kim Cương Tam Ma Địa hiện thân Đại Uy Đức, dùng mọi loại phương tiện điều phục cho đến chết, tự thấy ở phương dưới vượt qua 62 hằng hà sa Thế Giới có cõi tên là Tro Trang Nghiêm, Bậc Thành Đẳng Chính Giác trong Thế Giới ấy tên là Bố Úy Tự Tại Vương Như Lai (Bhaye’svara ràja Tathàgata), Chấp Kim Cương Bồ Tát (Vajradhàra Bodhisatva)dùng chân đè lên trên (Ma Hê Thủ La) tụng Kim Cương Thọ Mệnh Chân Ngôn (thì Ma Hê Thủ La) liền được sống lại. Khi đã thọ hóa xong, Kim Cương Tát Đỏa liền nói Đại Mạn Trà La, dẫn vào chư Thiên, thọ nhận danh hiệu Kim Cương.Chư Thiên có 5 loại

Thứ nhất là Cư Thượng Giới Thiên Vương có vô lượng chư Thiên với vợ thuộc hàng Ma Hê Thủ La

Thứ hai là Du Hư Không Chư Thiên có vô lượng chư Thiên với vợ thuộc hàng Nhật Thiên Tử (Àditya Devaputra)

Thứ ba là Cư Hư Không Thiên có vô lượng chư Thiên với vợ thuộc hàng Ma Vương (Màrà Ràja)

Thứ tư là Địa Cư Thiên có vô lượng chư Thiên với vợ thuộc hàng Sinh Tạng Thiên (Jiva garbha Deva)

Thứ năm là Địa Hạ có vô lượng chư Thiên với vợ thuộc hàng Phộc La Tư Tiên (Vàrahi Rïsïì)

Thảy đều dẫn vào xong, Sắc Lệnh cho chư Thiên xây dựng Mạn Trà La. Các ngươi phó hội, mong cầu tất cả Tất Địa đều cho thành biện. Nhóm này đều là Ngoại Kim Cương Bộ

_ Thứ nhất nói về Nghi Tắc Đại Mạn Trà La đều có đủ 37 (Tôn) nói Pháp Giáng Phục với Pháp tu Thần Thông

_ Thứ hai nói về Bí Mật Mạn Trà La có đủ 37 (Tôn) nói Nghi (Nghi Tắc) Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói các âm thanh với Kim Cương ca múa

_ Thứ ba nói về Pháp Mạn Trà La có đủ 37 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói dùng Từ, Bi, Hỷ, Xả tác Pháp A Tỳ Già Lỗ Ca (Abhicàruka_ Điều Phục), Nghi Quỹ điều tâm của Vi Tế Kim Cương.

_ Thứ tư nói về Yết Ma Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) nói Nghi nhập vào Mạn Trà La khiến cho Đệ Tử học Nghi Quỹ Hộ Ma, ở nơi vô lượng Phật Bồ Tát thành Cúng Dường rộng lớn, mau được Tất Địa hiện tiền. Nói 25 loại lò Hộ Ma tùy thuận Pháp sở cầu.

_ Thứ năm nói về Tứ Ấn Mạn Trà La đủ 21 (Tôn) thành tựu các nhóm Thuốc, Pháp Thành Tựu trong 4 Mạn Trà La trên. Pháp Thành Tựu ở trong Mạn Trà La này cầu ở trước Tượng của Mạn Trà La này.

_ Thứ sáu nói về Nhất Ấn Mạn Trà La đủ 17 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử với Pháp Tiên Hành.

Tiếp theo vì chúng Ngoại Kim Cương Bộ nói 4 loại Mạn Trà La. Đều nói Bản Chân Ngôn, Bản Ấn Khế hiến Phật.

1_ Đức Phật vì Chúng nói Giáo Sắc Đại Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Vì Đệ Tử nói Nghi Tắc sai khiến Ngoại Kim Cương Bộ. Trong đây nói Chân Ngôn với Ấn Khế của Đại Phật Đỉnh và Quang Tụ Phật Đỉnh. Cũng thông với Pháp Nhất Tự Đỉnh Luân

2 _ Nói về Giáo Sắc Tam Muội Gia Mạn Trà La. Nhóm các Thiên Hậu ấy đều hiến Bản Chân Ngôn. Đức Phật vì Chúng nói Mạn Trà La có đủ 3 7 (Tôn) vì Đệ Tử nói Pháp Tu Dược Xoa Nữ, rộng nói Nghi Tắc

3 _ Nói về Giáo Sắc Pháp Mạn Trà La. Chư Thiên nói Chân Ngôn hiến Phật. Đức Phật vì nhóm ấy nói Mạn Trà La có đủ 3 7 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, nói Pháp Ấn của chư Thiên, do Ấn này chẳng nghịch vượt Bản Thệ

4 _ Nói về Giáo Sắc Yết Ma Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Chư Thiên của nhóm ấy đều nói Bản Chân Ngôn. Đức Phật vì Chúng nói Mạn Trà La, nói Nghi múa của chư Thiên, nói Pháp mau chóng thành tựu các sự nghiệp.

C) Tiếp nói Biến Điều Phục Đại Phẩm có 6 loại Mạn Trà La

1_ Đại Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) đều là biến hiện của Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokite’svara Bodhisatva) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói Nghi của 16 loại Thành Tựu Tốc Tật (Mau chóng) Thần Thông Tam Ma Địa.

2 _ Tam Muội Gia Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) đều là biến hiện của Quán Tự Tại Bồ Tát, nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói Câu Triệu, Kính Aùi, 16 loại Tam Ma Địa

3 _ Pháp Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) đều là biến hiện của Quán Tự Tại Bồ Tát, nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói Tu Tâm với 16 Pháp cầu Trí Tuệ Biện Tài

4 _ Yết Ma Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) đều là biến hiện của Quán Tự Tại Bồ Tát, nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói Nghi Cúng Dường của Liên Hoa Bộ (Padma Kùlaya) với chuyển Tội Chướng Báo, Pháp Chướng Cái Triền (ràng buộc) Nghiệp Chướng

5 _ Liên Hoa Bộ Tứ Ấn Mạn Trà La đủ 21 (Tôn) đều là biến hiện của Quán Tự Tại Bồ Tát, nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói thành tựu Pháp Tiên Hành với Thành Tựu như Pháp của 4 Mạn Trà La trên

6 _ Liên Hoa Bộ Trung Nhất Ấn Mạn Trà La đủ 13 (Tôn) đều là biến hiện của Quán Tự Tại Bồ Tát, nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Trong đây nói tu Pháp của Bản Tôn thông đạt Pháp Thế Gian Xuất Thế Gian.

D) Tiếp nói Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Đại Phẩm có 6 Mạn Trà La

1 _ Đại Mạn Trà La đủ 37 (Tôn). Trong đây nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Do vào Mạn Trà La này trừ Nghiệp nghèo túng. Nói Pháp cầu tài, cầu Phật Bồ Tát Vị với Thế Gian Vinh Vị (Địa vị vinh hoa của Thế Gian)

2 _ Bí Mật Tam Muội Gia Mạn Trà La đủ 37 (Tôn). Trong đây nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, nói Pháp cầu Phục Tàng (Kho tàng bị che lấp) mau mãn Đàn Na Ba La Mật (Dàna Pàramità _ Bố Thí Ba La Mật) Pháp tụ Phước Đức

3 _ Pháp Mạn Trà La đủ 3 7 (Tôn). Trong đây nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, nói Pháp tu Tam Ma Địa trong Bảo Bộ (Ratna Kùlaya) khiến cho Tâm an trụ, khiến cho Tâm kham nhậm, khiến cho tâm điều nhu, khiến cho tâm tự tại, thấy Pháp của Hư Không Tạng Bồ Tát (Àkà’sa garbha Bodhisatva)

4 _ Yết Ma Mạn Trà La đủ 37 (Tôn). Trong đây nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, nói Gia trì khuất phục tàng sự nghiệp Pháp và nói Nghi cúng dường chư Phật rộng lớn.

5 _ Tứ Ấn Mạn Trà La đủ 37 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Nói Pháp Tiên Hành với tu Pháp Tất Địa trong 4 Mạn Trà La

6 _ Nhất Ấn Mạn Trà La đủ 13 (Tôn) nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử. Nói Pháp của một Tôn với tu Tam Ma Địa của các hàng Bồ Tát đều là biến hóa của Bạc Già Phạm (Bhagavan), Chấp Kim Cương (Vajradhàra), Hư Không Tạng (Àkà’sa garbha). Tiếp đều nói Bí Mật trợ thành, phương tiện, tán thán trong mỗi một Mạn Trà La. Sau cùng là Thích Ca Mâu Ni Phật giáng ở Diêm Phù Đề, Biến Hóa Thân, 8 Tướng thành Đạo đều là huyễn hóa của Phổ Hiền Bồ Tát. Tất cả Như Lai quay lại dùng 108 Tên tán dương Kim Cương Tát Đỏa.

Như vậy là Hội Thứ Nhất

II _ Tiếp nói Hội Thứ Hai tên là Nhất Thiết Như Lai Bí Mật Chủ Du Già. Hội này nói ở Trời Sắc Cứu Cánh (Akanïisïtïha) đủ 4 Đại Phẩm. Rộng nói về Lý Thật Tướng vi tế và rộng nói về giáng Ma Hê Thủ La Thiên, dùng Kệ thù đáp với Kim Cương Bồ Tát (Vajra Bodhisatva)

III _ Tiếp nói về Hội Thứ Ba tên là Nhất Thiết Giáo Tập Du Già. Hội này nói ở cung điện Pháp Giới. Tất cả Như Lai khác miệng cùng lời hỏi Kim Cương Tát Đỏa Bồ Tát 108 câu. Kim Cương Tát Đỏa Bồ Tát mỗi mỗi trả lời. Trong Kinh này nói Đại Mạn Trà La Ngũ Bộ. Trong mỗi một Bộ có 5 Mạn Trà La đều có đủ 37 (Tôn) đều thành một Đại Mạn Trà La. Mỗi một Tôn đều nói 4 Ấn là: Đại Ấn (Mahà Mudra), Tam Muội Gia Ấn (Samaya Mudra) Pháp Ấn (Dharma Mudra) Yết Ma Ấn (Karma Mudra) đều nói Pháp thành tựu. Trong Kinh này nói 125 lò Hộ Ma, mỗi một lò đều có sở cầu khác nhau.

IV _ Tiếp nói Hội Thứ Tư tên là Giáng Tam Thế Kim Cương Du Già. Hội này nói ở đỉnh núi Tu Di Lô. Nói 8 vị Bồ Tát của hàng Kim Cương Tạng (Vajra garbha), mỗi một Tôn đều nói 4 loại Mạn Trà La. Hội đầu nói giáng phục Ma Hê Thủ La với chư Thiên, vào Mạn Trà La nhận chức vị, nhận danh hiệu. 4 loại Mạn Trà La là Đại Mạn Trà La (Mahà Manïdïala) Tam Muội Gia Mạn Trà La (Samaya Manïdïala) Pháp Mạn Trà La (Dharma Manïdïala) Yết Ma Mạn Trà La (Karma Manïdïala) với tất cả các Tôn. Nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử với Pháp thành tựu. Sau cùng nói Tam Muội Gia (Samaya) thứ tự kết Ấn của các Tôn và nói Cấm Giới bí mật với Tu Hành bí mật.

V _ Hội Thứ Năm tên là Thế Gian Xuất Thế Gian Kim Cương Du Già. Hội này nói ở trong Không Giới của nước Ba La Nại. Lược nói Ngũ Phật Mạn Trà La với các Bồ Tát, các Ngoại Kim Cương Bộ Mạn Trà La.Mỗi một Mạn Trà La có đủ 4 loại, đều nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử với Pháp Cầu Tất Địa.

VI _ Hội Thứ Sáu tên là Đại An Lạc Bất Không Tam Muội Gia Chân Thật Du Già. Hội này nói ở cung Trời Tha Hóa Tự Tại. Trong Kinh này nói Phổ Hiền Bồ Tát Mạn Trà La. Tiếp nói Tỳ Lô Giá Na Mạn Trà La. Sau đó nói về hàng Kim Cương Tạng đến Kim Cương Quyền Bồ Tát (Vajra Samïdhi Bodhisatva) và Ngoại Kim Cương Bộ. Nói Lý Thú của Bát Nhã, mỗi một Tôn nói đủ 4 loại Mạn Trà La, đều nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, nhận Pháp Lý Thú Bát Nhã Ba La Mật Đa và nhận 4 loại Ấn Pháp Phẩm. Trong Phẩm đều nói Pháp cầu Tất Địa Thế Gian Xuất Thế Gian.

VII _ Hội Thứ Bảy tên là Phổ Hiền Du Già. Hội này nói ở trong cung điện của Phổ Hiền Bồ Tát (Samanta Bhadra Bodhisatva). Trong Kinh này nói hàng Phổ Hiền Bồ Tát đến Kim Cương Quyền Bồ Tát và Ngoại Kim Cương Bộ, mỗi một Tôn đều nói 4 loại Mạn Trà La. Nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, nói nhận 4 loại Ấn, tu Tất Địa Thế Gian Xuất Thế Gian. Trong Kinh này nói người tu hành không có Thời, có phương, chẳng y theo Cấm Giới của Thế Gian. Dùng Tâm Bồ Đề làm trước tiên, Giới Vô Vi làm gốc.

VIII _ Hội Thứ Tám tên là Thắng Sư Du Già.Hội này nói ở cung điện Phổ Hiền. Nói hàng Phổ Hiền Bồ Tát đến Ngoại Kim Cương Bộ, mỗi mỗi đều nói 4 loại Mạn Trà La, nói Lý Thật Tướng và phân biệt Nghi Tắc các Mạn Trà La, hơi rộng hơn Hội Thứ Bảy nói, còn đại lược thì giống nhau.

IX _ Hội Thứ Chín tên là Nhất Thiết Phật Tập Hội Noa Cát Ni Giới Võng Du Già. Hội này nói ở cung điện Chân Ngôn. Trong đây nói lập ngay thân của mình làm Bản Tôn Du Già, từ bên ngoài thân đến hình tượng Du Già, rộng nói Lý Thật Tướng và nói cội nguồn của 5 Bộ với nói Pháp Du Già, có đủ 9 vị là:

1) Hoa Lệ (Kim Cương Tát Đỏa)

2) Dũng Kiện (Tỳ Lô Giá Na)

3) Đại Bi (Trì Kim Cương)

4) Hỷ Tiếu (Quán Tự Tại)

5) Sân Nộ (Kim Cương Quang _ Vajra Teja)

6) Bố Úy (Giáng Tam Thế _ Trailokya Vijaya)

7) Yêm Hoạn (Thích Ca Mâu Ni Phật)

8) Kỳ Đặc (Kim Cương Tiếu _ Vajra Hasa)

9) Tịch Tĩnh (Tỳ Lô Giá Na trong Du Già)

Nói hàng Phổ Hiền Bồ Tát đến Kim Cương Quyền đều nói 4 loại Mạn Trà La với Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử và nhận 4 loại Ấn với nói Nghi Ca, Tán, Múa trong 5 Bộ.

X _ Hội Thứ Mười tên là Đại Tam Muội Gia Du Già. Hội này nói ở cung điện Pháp Giới, nói hàng Phổ Hiền Bồ Tát đến Kim Cương Quyền Bồ Tát, 16 vị Đại Bồ Tát, mỗi mỗi đều nói 4 loại Mạn Trà La, nói Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử và nhận 4 loại Ấn Pháp. Trong đây nói Kệ là:

Ngu Đồng: Vô Trí che

Chẳng biết Lý Thú này

Nơi khác mà cầu Phật

Chẳng ngộ nơi này có

Trong mười phương Thế Giới

Nơi khác chẳng thể được

Tâm tự làm Đẳng Giác

Nơi khác chẳng nói Phật.

XI _ Hội Thứ Mười Một tên là Đại Thừa Hiện Chứng Du Già. Hội này nói ở Trời A Ca Nị Tra (Sắc Cứu Cánh) nói hàng Tỳ Lô Giá Na Phật đến Tỳ Thủ Yết Ma Bồ Tát (Vi’sva Karma Bodhisatva), 8 Đại Cúng Dường, 4 Nhiếp, Xuất Sinh Đồng Chân Thật Nhiếp Du Già.Mỗi một Tôn nói đủ 4 loại Mạn Trà La, 4 loại Ấn. Rộng nói Lý Thật Tướng, nghi tắc xây dựng Mạn Trà La Tâm

XII _ Hội Thứ Mười Hai tên là Tam Muội Gia Tối Thắng Du Già. Hội này nói ở Không Giới Bồ Đề Tràng, nói hàng Tỳ Lô Giá Na, Bồ Tát thượng thủ trong 4 Bộ, hàng Kim Cương Quyền, 8 vị Bồ Tát Nội Ngoại, Kim Cương Bộ. Mỗi mỗi đều nói 4 loại Mạn Trà La, 4 Ấn. Trong Kinh này xây dựng Mạn Trà La ở trên thân của mình. Nói Tự Thân Bản Tôn Du Già. Rộng nói A Tự Môn, thông đạt nơi nhiễm tịnh, Hữu Vi Vô Vi không ngại.

XIII _ Hội Thứ Mười Ba tên là Đại Tam Muội Gia Chân Thật Du Già. Hội này nói ở Kim Cương Giới Mạn Trà La Đạo Trường. Tất cả chư Phật 10 phương khác miệng cùng lời, Thỉnh Kim Cương Tát Đỏa:” Nguyện xin nói Giáo Pháp Tam Muội Gia Chân Thật. Chúng Ta trước tiên đã thọ ký. Nguyện xin Kim Cương Tát Đỏa và các Bồ Tát đã thọ ký”. Thỉnh xong, nói Chân Ngôn 17 chữ của Phổ Hiền Bồ Tát. Nói Thích Duyệt Bất Không Mạn Trà La có đủ 17 (Tôn) cũng nói 4 loại Mạn Trà La, nói 108 Đạo Khế, nói thông đạt cầu Tất Địa Thế Gian Xuất Thế Gian.Tùy các Bồ Tát này với Ngoại Kim Cương Bộ,mỗi mỗi đều nói Bản Mạn Trà La, Bản Chân Ngôn, Bản Ấn Khế. Xong, Phổ Hiền Bồ Tát nói chi phần 17 Tôn của Mạn Trà La trong bí mật đều lại vào thân Bản Tôn, cộng thành 5 Tôn cùng ngự ở Đài của một hoa sen, nói Chân Ngôn một chữ. Từ mắt, miệng với tất cả chi phần biến dị liền thành Ấn. Chỉ trụ Đại Ấn kết Yết Ma Ấn chẳng đợi Tiên Hành, chẳng bừa bãi kết Hộ gia trì, cũng chẳng mượn Ngưỡng Thỉnh. Tội Chướng của Nghiệp lúc xưa (Túc Nghiệp) chẳng thể lấn bức cũng chẳng gây chướng ngại, mau chóng thành tựu.

XIV _ Hội Thứ Mười Bốn tên là Như Lai Tam Muội Gia Chân Thật Du Già. Trong Kinh này: Phổ Hiền Bồ Tát, 16 vị Đại Bồ Tát, 4 Nhiếp thành một Thân. Nói 4 loại Mạn Trà La, 4 Ấn, rộng nói 5 Bộ trợ nhau viên dung, Như Lai Bộ tức Kim Cương, Liên Hoa Bộ tức Bảo Bộ, hỗ trợ nhau cùng vào, Pháp Giới tức Chân Như, Bát Nhã tức thật tế. Nơi mượn thi thiết (ra công làm việc) có khác, ở gốc tức một Thể. Tiếp sau Phổ Hiền, các Bồ Tát với Ngoại Kim Cương Bộ mỗi mỗi đều nói Bản Chân Ngôn, Bản Mạn Trà La, Bản Ấn Khế.

XV _ Hội Thứ Mười Lăm tên là Bí Mật Tập Hội Du Già. Hội này nói ở xứ Bí Mật, ấy là xứ Dụ Sư Bà Già, hiệu là cung Bát Nhã Ba La Mật. Trong đây nói Giáo Pháp, Đàn, Ấn Khế, Chân Ngôn, trụ Cấm Giới tựa như lời tương ứng tham nhiễm của Thế Gian.

Trong Hội có Trừ Cái Chướng Bồ Tát từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật rồi bạch rằng:” Thế Tôn! Đại Nhân chẳng nên nói ra lời thô thiển, lời tương ứng với tạp nhiễm”

Đức Phật bảo:” Này các ông! Lời tương ứng thanh tĩnh có tướng trạng thế nào ? Ta nói lời này, gia trì văn tự ứng hóa duyên phương tiện dẫn vào Phật Đạo cũng không có tướng trạng, lại thành lợi ích lớn. Các ông chẳng nên sinh nghi ngờ”

Từ đây rộng nói chân tướng Tam Ma Địa. Các Bồ Tát mỗi mỗi đều nói 4 loại Mạn Trà La, 4 Ấn.

XVI _ Hội Thứ Mười Sáu tên là Vô Nhị Bình Đẳng Du Già. Hội này nói ở cung Pháp Giới. Tỳ Lô Giá Na Phật, các vị Bồ Tát và Ngoại Kim Cương Bộ, mỗi mỗi đều nói 4 loại Mạn Trà La, đủ 4 Ấn. Trong đây nói sinh tử, Niết Bàn, Thế Gian Xuất Thế Gian, Tự Tha đều bình đẳng không có hai, đồng với Chân Như Pháp Giới, đều thành tất cả Thân Phật.

XVII _ Hội Thứ Mười Bảy tên là Như Hư Không Du Già. Hội này nói ở cung điện Thật Tế. Tỳ Lô Giá Na Phật, Phổ Hiền Bồ Tát và Ngoại Kim Cương Bộ, mỗi mỗi đều nói 4 loại Mạn Trà La, đủ 4 loại Ấn. Trong đây người tu hành cùng với mỗi một Tôn tương ứng, đều ngang bằng với Hư Không, tương ứng với Pháp Thân, lìa tất cả vạn vật. Pháp Thể Quang Minh ngang bằng với Hư Không, không đến không đi. Trong Kinh này nói Hư Không Tam Ma Địa Tương Ứng Pháp.

XVIII_ Hội Thứ Mười Tám tên là Kim Cương Bảo Quan (cái mão) Du Già. Hội này nói ở Đệ Tứ Tĩnh Lự Thiên (Trời Tứ Thiền) Kim Cương Tát Đỏa thỉnh Phật vì Đại Phạm Thiên, Chủ của Thế Giới Sa Ha (Thế Giới Ta Bà) nói 5 Bộ Du Già Mạn Trà La, Nghi Dẫn Nhập Đệ Tử, có đủ 37 Tôn, cũng nói 4 loại Mạn Trà La, đủ 4 Ấn. Bên dưới đến Ngoại Kim Cương Bộ, vì Đệ Tử học Tâm niệm tụng. Ở trên vành trăng, chuyển theo bên phải bày chữ của Chân Ngôn, chú tâm ở mỗi một chữ, tương ứng Lý Chân Tướng, vòng quanh rồi lại bắt đầu, cũng thông thành tựu Tất Địa Thế Gian Xuất Thế Gian, chẳng mượn biến số Trì Châu (Lần tràng hạt đếm số) dùng làm bờ hạn định. Chỉ chứng Lý Môn, Tâm chẳng tán động, trụ Bản Tôn Du Già làm hạn định. Trong Kinh này, vi diệu nói 20 loại Tướng chẳng thành tựu và nói Tất Địa lân cận có nhiều Chủng Tướng.

18 Hội của Du Già hoặc có 4 ngàn bài Kệ, hoặc 5 ngàn bài Kệ, hoặc 7 ngàn bài Kệ đều thành 10 vạn bài Kệ. Đủ 5 Bộ, 4 loại Mạn Trà La, 4 Ấn, đủ 37 Tôn. Mỗi một Bộ có đủ 3 Ấn trợ nhau cùng vào như lưới châu ngọc của Đế Thích tỏa chiếu ánh sáng đan chéo nhau triển chuyển vô hạn.

Người tu hành khéo đạt đại ý trong Du Già này như Biến Chiếu Phật: Mỗi một thân phần, mỗi một lỗ chân lông, mỗi một tướng, mỗi một tùy hình tốt đẹp, mỗi một tư lương Phước Đức, mỗi một tư lương Trí Tuệ, trụ ở Quả Vị diễn nói Du Già Nhị Thừa Bất Cộng Phật Pháp. Nói Mạn Trà La Tam Muội Gia Pháp Môn Sự Nghiệp ngang bằng với Hư Không. Người chứng như trên đã nói, mỗi một phân ranh đều chẳng tán loạn. Viên Chứng 4 Thân là: Tự Tính Thân, Thọ Dụng Thân, Biến Hóa Thân, Đẳng Lưu Thân. Là hay thuận làm lợi lạc cho tất cả Hữu Tình, các Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và các Ngoại Đạo, tên gọi là Du Già Kim Cương Thừa Pháp

    Xem thêm:

  • Tâm Yếu Kim Cang Đỉnh Du Già Lược Thuật Ba Mươi Bảy Tôn Vị - Kinh Tạng
  • Kinh Chư Phật Cảnh Giới Nhiếp Chơn Thực - Kinh Tạng
  • Kinh Phổ Hiền Mạn Noa La - Kinh Tạng
  • Nghi Quỹ Nhứt Thiết Bí Mật Tối Thượng Danh Nghĩa Đại Giáo Vương - Kinh Tạng
  • Bồ Tát Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Luân Du Già - Kinh Tạng
  • Kinh Kim Cang Đỉnh Nhứt Thiết Như Lai Chơn Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương - Kinh Tạng
  • Kinh Nghi Quỹ Kim Cang Đỉnh Du Già Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Tu Hạnh - Kinh Tạng
  • Chơn Ngôn Đà La Ni Phật Đỉnh Tôn Thắng - Kinh Tạng
  • Pháp Niệm Tụng Đà La Ni Kim Cang Thọ Mạng - Kinh Tạng
  • Liệt Kê Các Bộ Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Văn Thù Sở Thuyết Tối Thắng Danh Nghĩa - Kinh Tạng
  • Nghi Quỹ Thành Tựu Tụng Niệm Cúng Dường Bồ Tát Cam Lộ Quân Đồ Lợi - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Phương Quảng Phổ Hiền Sở Thuyết - Kinh Tạng
  • Kinh Diệu Cát Tường Bồ Tát Đà La Ni - Kinh Tạng
  • Kinh Đà La Ni Kim Cang Thọ Mạng - Kinh Tạng
  • Pháp Niệm Tụng Du Già Liên Hoa Bộ - Kinh Tạng
  • Mười Sáu Tôn Phật Trong Kiếp Hiền - Kinh Tạng
  • Nghi Thức Tụng Niệm Đại Lạc Kim Cang Tát Đỏa Lược Trích Từ Kinh Kim Cang Đỉnh Thắng Sơ Du Già - Kinh Tạng
  • Kinh Nghi Quỹ Đại Minh Thành Tựu Trì Minh Tạng Du Già Đại Giáo Tôn Na Bồ Tát - Kinh Tạng
  • Kinh Pháp Bí Mật Bồ Tát Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại - Kinh Tạng