1
2

Kinh Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Sí Thạnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà La Ni

Đường Bất Không dịch,

Bản Việt dịch (1) của Huyền Thanh,

Bản Việt dịch (2) của Thích Viên Đức

*

Kinh Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Sí Thạnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà La Ni

Việt dịch: Huyền Thanh

QUYỂN 1: TỰA

PHẨM THỨ NHẤT

Như vậy tôi nghe : Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự tại Lầu gác trên đỉnh Đại Kim Cang Tu Di Lô, an trụ trong Đại Kim Cang Tam Ma Địa, dùng cây Kiếp Thọ Đại Kim Cang trang nghiêm, nơi hoa sen báu trong cái ao Đại Kim Cang, chiếu soi cát Kim Cang mà rải bày trên mặt đất. Ở cung điện Đế Thích trong Đạo Trường Kim Cang của Đại Kim Cang gia trì, dùng câu đê na dữu đa trăm ngàn tòa Đại Kim Cương Sư Tử trang nghiêm, nói pháp Thần Thông Xứ là nơi gia trì thần lực của tất cả Như Lai, nhập vào Nhất Thiết Pháp Bình Đẳng Xuất Sinh Tát Bà Nhã Trí cùng với 84 câu đê na dữu đa Bồ Tát Chúng đến dự. Các Vị này đều là Bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, được Bất thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đều có thế lực lớn, thảy đều thị hiện Đại Kim Cương Giải Thoát Tam Ma Địa, thần thông của cõi Phật, trong khoảng sát na tùy tiện vào Tâm hạnh của tất cả Hữu tình, thành tựu mọi thứ đẹp đẽ màu nhiệm rộng lớn thâm sâu, khéo nói các Pháp, biện tài vô ngại, được đại thần thông đều hay cúng dường vô lượng Như Lai trong thế giới của Phật, thần thông tự tại của Đại cúng dường vân hải giải thoát Tam Ma Địa, Bất Cộng Giác Phần Đạo Chi, tất cả Địa Ba La Mật, thiện xảo tứ nhiếp, Từ Bi Hỷ Xả lực viễn ly, cùng gom chứa trong Tâm thanh tĩnh. Các Vị ấy tên là : Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tạng, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Nhãn, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thân, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tuệ, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thủ, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tương Kích, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Na La Diên, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Du Hý, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tích, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Kế, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Diệu, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tràng… Các Bậc Thượng Thủ như vậy cùng với chúng Bồ Tát Ma Ha Tát đền dự hội.

Lại có Chúng Đại Thanh Văn đều là Bậc Đại A La Hán đã đoạn trừ Hữu Kết, chấm dứt tất cả các Lậu, được Thiện Giải Thoát của Tâm Thiện Chính Tri, đều hay thị hiện Du Hý Thần Cảnh Thông của sức thần thông chẳng thể luận bàn, đều được thế lực lớn, không chấp trước vào sự thấy (Kiến vô trước) xa lìa tất cả cấu nhiễm, thiêu đốt hạt giống Tập Khí. Các Vị ấy tên là : Cụ Thọ Ca Diệp Ba, Cụ Thọ Đại Ca Diệp Ba, Cụ Thọ Ưu Lâu Tần Loa Ca Diệp Ba.. .Các Bậc Thượng Thủ như vậy cùng với chúng Đại Thanh Văn đến dư hội.

Lại có Đại Tự Tại Thiên Tử là Bậc Thượng Thủ cùng với vô lượng vô biên bất khả thuyết a tăng kỳ chúng Thiên Tử Tịnh Cư đến dự. Lại có Sa Ha Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương là Bậc Thượng Thủ cùng với Thiên Tử Phạm Chúng đến dự . Lại có Thiên Tử Tô Dạ Ma, Thiên Tử Hóa Lạc, Thiên Tử Tha Hóa Tự Tại, Thiên Đế Thích cùng với các Thiên Tử quyến thuộc đến dự.

Lại có A Tô La Vương Tỳ Ma Chất Đa La, A Tô La Vương Mạt La, A Tô La Vương Linh Hoan Hỷ, A Tô La Vương Chiếu Diệu, A Tô La Vương La Hầu. Các A Tô La Vương Thượng thủ như vậy cùng với vô lượng vô biên A Tô La Vương quyến thuộc đến dự.

Lại có Long Vương Sa Già La, Long Vương Đức Xoa Ca, Long Vương Tô Phộc Chỉ, Long Vương Thương Khư Ba La, Long Vương Yết Cú Tra Ca, Long Vương Liên Hoa, Long Vương Đại Liên Hoa. Các Long Vương Thượng thủ như vậy cùng với vô lượng vô biên a câu đê Long Vương chúng đến dự.

Lại có Thọ Khẩn Na La Vương cùng với vô lượng vô biên Khẩn Na La Vương quyến thuộc đến dự.

Lại có Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Trì Minh Tiên Vương cùng với vô lượng vô biên Trì Minh Tiên Vương quyến thuộc đến dự.

Lại có Ngũ Kế Càn Đạt Bà Vương cùng với vô lượng vô biên Càn Đạt Bà Vương quyến thuộc đến dự.

Lại có Kim Ngân Nghiệt Lộ Trà Vương cùng với vô lượng vô biên Nghiệt Lộ Trà Vương quyến thuộc đến dự.

Lại có Dược Xoa Vương Đa Văn, Dược Xoa Vương Bảo Hiền, Dược Xoa Vương Mãn Hiền, Dược Xoa Vương Bán Chi Ca cùng với vô lượng vô biên Dược Xoa Vương quyến thuộc đến dự.

Lại có Ha Lợi Đế Mẫu cùng với 500 người con là quyến thuộc đến dự.

Lại có 7 Vị Hộ Thế Mẫu Thiên , 7 vị Đại La Sát Mẫu, 7 vị Tiên Thiên dạo chơi trên hư không, 9 vị Chấp Diệu Thiên, Địa Thiên Phương Ngung, Thiên Nữ Biện Tài cùng với quyến thuộc đến dự.

Lại có loài gây chướng, Tỳ Na Dạ Ca, Tất Lệ Đa, Bộ Đa. Tất cả đều là Bậc có Đại uy đức cùng với quyến thuộc đến dự.

Lại có tất cả Sơn Vương, tất cả Hải Vương, Hộ Thế Vương, Thủy Thiên, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Aùc Mục, La Sát Chủ Trì Bổng, 7 vị Phong Thiên, Y Xá Na Thiên với các bà vợ cùng với 1000 câu đê na dữu đa quyến thuộc đến dự.

Lại có Thiên Na La Diên cùng với quyến thuộc đến dự.

Lại có Nại Đa Ca, Na Ma Ca, Lô Hạ Ca, Đại Già Na Bát Đề, Di Cù La Ca. Tỳ Na Dạ Ca Vương như vậy cùng với vô lượng vô biên Tỳ Na Dạ Ca quyến thuộc đến dự .

Lại có 60 vị Du Hành chư Thành Aáp Vương với quyến thuộc đến dự. Lại có bốn chị em Thần Nữ với các người anh là quyến thuộc đến dự.

Lại có Kim Cương Thương Yết La Nữ cùng với 64 vị Kim Cương Nữ là quyến thuộc đến dự. Lại có Kim Cương Quân Đồng Tử, Tô Ma Hô Đồng Tử, Đỉnh Hạnh Đồng Tử cùng với vô lượng vô biên Kim Cương Tộc là quyến thuộc đến dự.

Lại có hàng tin tưởng trong sạch nơi Phật Pháp Tăng là Trời, Rồng, Dược Xoa, Càn Đạt Bà, A Tô La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hộ La Già, Bộ Đa, Tất Xá Già, A Bát Sa Ma La, Ổn Ma Na, Sa Đình Sa, Tứ Lý Ca, Ô Tát Đa La Ca, Thiên Tử Nhật Nguyệt, Thiên Thần Triêu, Thiên Nhật Ngọ, Thiên Hoàng Hôn, Thiên Trung Dạ, Thiên Nhất Thiết Thời cùng với vô lượng vô biên a tăng kỳ quyến thuộc đến dự.

Bấy giờ Đức Thế Tôn khéo chuyển bánh xe Pháp, làm xong việc Phật, viên mãn Phước Đức Trí Tuệ cứu cánh, khéo nhiếp thọ Nhất Thiết Trí Đại Bồ Đề, đắc được Ba La Mật Xí Thịnh Địa, dùng 32 tướng trang nghiêm Pháp Thân, dùng 84 vẻ đẹp trang nghiêm tất cả chi phần, Nhất thiết hữu tình vô sở quán đỉnh Tướng vượt hơn hẳn tất cả Ma La, thông đạt Nhất Thiết Trí Trí, đầy đủ năm loại mắt, thành tựu tất cả Tướng, thành tựu Nhất Thiết Trí Trí, thành tựu tất cả Phật Pháp, đập nát dị luận của tất cả Ma, hiển cao danh xưng Đại Hùng Mãnh Sư Tử Hống, phá hoại vô minh hắc ám, dùng sự gom chứa về : Thí, Giới, Nhẫn, Cần Dũng, Tĩnh Lự, Bát Nhã, Phương Tiện, Nguyện, Lực, Trí Ba La Mật, khổ hạnh khó hành trong vô lượng vô biên a tăng kỳ trăm ngàn câu đê na dữu đa kiếp, chuyển được 32 tướng Đại Nhân, 84 vẻ đẹp trang nghiêm. Thân đó ngồi trên Tòa Đại Bảo Kim Cương Liên Hoa Tạng Sư Tử. Tòa ngồi đó được trang nghiêm bằng vô lượng viên ngọc báu, võng lưới báu khi gió nhẹ thổi qua đều phát ra âm thanh vi diệu. Dùng vô lượng Kim Cương Giới an trụ Thần Túc. Dùng vô lượng báu Kim Cương trang nghiêm cho viên ngọc đỏ do con cá Ma Kiệt phun ra và dùng miệng ngậm lại. Dùng vô lượng báu trang sức cánh hoa sen. Dùng Hổ phách, đại Hổ phách, Đế Thanh, đại Đế Thanh, Bổ Sa La Già trang nghiêm cái võng, ánh sáng rộng lớn đoan nghiêm. Dùng vô lượng báu Kim Cương trang nghiêm cái cán của cây phan cây lọng. Dùng bóng mát của vô lượng câu đê na dữu đa trăm ngàn cây Kiếp Thọ trang nghiêm Tòa ngồi rộng lớn như Tu Di ấy, giống như ngọn núi vàng tỏa ánh hào quang rực rỡ sáng chói vượt hẳn 1000 mặt trời. Mặt đất của nơi ấy tròn đầy giống như mặt trăng thanh tĩnh khiến cho các Hữu tình vui thích ngắm nhìn như Pháp của Như Lai, như hoa hé nở của cây Đại Kiếp Thọ ấy. Pháp màu nhiệm đã nói : Ban đầu, khoảng giữa, chặng cuối đều tốt lành. Lời nói về nghĩa thâm sâu mau chóng của Pháp ấy rất khéo léo, thanh tĩnh, tinh khiết, thuần nhất không pha tạp.

Khi ấy từ Đỉnh đầu và Hào Tướng của Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn. Aùnh sáng này chiếu khắp 3000 Đại Thiên Thế Giới cho đến như hằng hà sa số Thế Giới của Phật. Hết thảy Như Lai ở Thế Giới đó ngồi trên Tòa Sư Tử được trang nghiêm bằng vô lượng báu, ngự bên trong lầu gác đại trang nghiêm, nói Pháp cùng với tất cả Bồ Tát, Đại Thanh Văn, Tỳ Khưu, Tỳ Khưu ni, Tịnh Tín Nam, Tịnh Tín Nữ, Trời, Rồng, Dược Xoa, Càn Đạt Bà, A Tố La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hộ La Già thảy đều được chiếu diệu mà hiển hiện rõ ràng.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì khắp tất cả mà nói Già Đà là :

Nay Ta nói Tùy Cầu Thương xót các Hữu tình

Đại Đà La Ni này Hay đập kẻ khó phục

Các tội nặng cực ác Nếu có duyên nghe qua

Đà La Ni Tùy Cầu Tất cả tội tiêu diệt

An vui các Hữu tình Giải thoát tất cả bệnh

Đại Bi vì chúng sinh Nên Đức Thế Tôn nói

Làm cho được giải thoát Mau lìa các nẻo ác

Nếu vào cung Tu La Cung Dược Xoa, La Sát

Bộ Đa, Rồng, Quỷ Thần Các cung điện như vậy

Tùy ý vào được cả Đều dùng Đại Minh này

Mà làm nơi gia hộ Nơi chiến đấu hiểm nguy

Chẳng bị oán trớ hại Với các hàng Quỷ Mỵ

Do xưng Đà La Ni Các Mỵ đều hoại diệt

Sa Kiến, Ổn Mạt Na Tất Xá, Noa Cát Nễ

Mãnh ác đoạt tinh khí Loại hữu tình ác độc

Hết thảy đều tiêu diệt Do uy đức Tùy Cầu

Kẻ địch đều hoại diệt Hết thảy Pháp Chú Trớ

Yểm đảo đều vô hiệu Định nghiệp chẳng thọ báo

Chẳng bị trúng trùng độc Nước, lửa với đao, gậy

Sấm sét, sương, mưa đá Gió bão, mưa bạo ác

Các nạn đều được thoát Oán địch đều giáng phục

Nếu người trì Minh này Hoặc đeo cổ, đeo tay

Mọi nguyện cầu đều thành Tất cả điều mong ước

Thảy đều được như ý Thiên Vương đều gia hộ

Với các Đại Long Vương Bồ Tát, Đại Cần Dũng

Duyên Giác và Thanh Văn Tất cả các Như Lai

Minh Phi, Đại Uy Đức Thảy đều cùng ủng hộ

Người thọ trì Tùy Cầu Kim Cương Bí Mật Chủ

Bốn Thiên Vương Hộ Thế Đối với người Trì Minh

Ngày đêm thường gia hộ Đế Thích, Chúng Đao Lợi

Phạm Vương, Tỳ Lữu Thiên Với Ma Hê Thủ La

Chúng sinh Câu Ma La Đại Hắc, Hỷ Tự Tại

Tất cả chúng Thiên Mẫu Với các Ma Chúng khác

Khổ Hạnh Uy Đức Tiên Cùng với Mật Ngữ Thiên

Thảy đều đến ủng hộ Người trì Tùy Cầu này

Minh Phi, Đại Bi Tôn Dũng mãnh đủ thần lực

Ma Ma, Tỳ Câu Đê Đa La, Ương Câu Thi

Cùng với Kim Cương Tỏa Bạch Y, Đại Bạch Y

Thánh Ma Ha Ca Ly Sứ Giả, Kim Cương Sứ

Diệu Sách, Kim Cương Sách Chấp Luân Đại Lực Giả

Kim Cương Man, Đại Minh Cam Lộ Quân Trà Lợi

Vô Năng Thắng Minh Phi Hắc Nhĩ, Cát Tường Thiên

Đại Phước Uy Đức Tôn Liên Hoa Quân Trà Lợi

Hoa Xỉ với Châu Kế Kim Man Chất Nghiệt La

Đại Uy Đức Cát Tường Với Điển Trang Nghiêm Thiên

Nhất Kế Đại La Sát Với Phật Địa Hộ Tôn

Ca Ba Lợi Minh Nữ Lăng Già Tự Tại Tôn

Với nhiều loại chúng khác Hết thảy đều ủng hộ

Do Đại Minh tại tay Ha Lợi Đế và con

Bán Chi Ca Đại Tướng Thương Diệp Ni, Tích Xỉ

Cát Tường và Biện Tài Do trì Mật Ngôn này

Ngày đêm thường tùy toại Nếu có các người nữ

Trì Đà La Ni này Kẻ ấy đều thành tựu

Trai gái ở trong thai Thai an ổn tăng trưởng

Sinh nở đều an vui Tất cả bệnh đều trừ

Các tội đều tiêu diệt Phước lực thường đầy đủ

Lúa gạo với tài bảo Thảy đều được tăng trưởng

Lời nói khiến người nghe Nơi nơi đều cung kính

Nam tử với nữ nhân Thanh tịnh hay thọ trì

Thường ôm Tâm Từ Bi Cứu giúp các Hữu tình

Nguyện họ được an vui Khiến xa lìa bệnh tật

Quốc Vương và Hậu Cung Đều sinh tâm cung kính

Cát tường thường xí thịnh Các phước đều tăng trưởng

Tất cả Pháp Chân Ngôn Thảy đều được thành tựu

Thành nhập tất cả Đàn Được thành Tam Muội Gia

Như Lai thành thật nói Chẳng hay gặp mộng ác

Đều diệt trừ các tội Phiền não và oán địch

Diệt tai họa Chấp Diệu Đại Trí Tự Tại nói

Hay mãn nguyện ước khác Vì thế nay Ta nói

Đại Chúng đều lắng nghe

– Nẳng mô tát phạ đát tha nga đa nam (NAMO SARVA TATHÀGATANÀM) Nẵng mô nẵng mạc tát phạ một đà mạo địa tát đa-phạ- Một đà, đạt ma, tăng khế tỳ dược (NAMO NAMAH SARVA BUDDHA BODHISATVA- BUDDHA, DHARMA, SAMGHE BHYAH) .

AÙn (OM) Vĩ bổ la nghiệt beä (VIPULA GARBHE) Vĩ bổ la, vĩ

ma lê, nhạ dã nghiệt bệ (VIPULA VIMALE JAYA GARBHE) Phạ nhật-la nhập-phạ la nghiệt bệ (VAJRA JVALA GARBHE) Nga để nga hạ nãnh (GATI GAHANE) Nga nga nẵng vĩ thú đà ninh (GAGANA VI’SODHANE) Tát phạ bá bả vĩ thú đà ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE).

Án (OM) – Ngu noa phạ để (GUNA VATI) Nga nga lị ni (GAGARINI) Nghĩ lị, nghị lị (GIRI GIRI) Nga ma lị, nga ma lị (GAMÀRI GAMÀRI) Ngược hạ, ngược haï (GAHA GAHA) Nghiệt nga lị, nghiệt nga lị (GARGÀRI GARGÀRI) Nga nga lị, nga nga lị (GAGARI GAGARI) Nghiêm bà lị, nghiêm bà lị (GAMBHARI GAMBHARI) Nga để, nga để (GATI GATI) Nga ma nãnh, nga lệ (GAMANI GARE) Ngu lỗ, ngu lỗ, ngu lỗ ni (GÙRU GÙRU GÙRUNE) Tả lệ, a tã lệ, mẫu tả lệ (CALE ACALE MUCALE) Nhạ duệ, vĩ nhạ duệ (JAYA VIJAYA) Tát phạ bà dã, vĩ nga đế (SARVA PÀPA VIGATE) Nghiệt bà tam bà la ni (GARBHA SAMBHARANI) Tất lị, tất lị (SIRI SIRI) Nhĩ lị, nhĩ lị (MIRI MIRI) Chi lị, chi lị (GHIRI GHIRI) Tam mãn đá ca la-sái ni (SAMANTA AKARSANI) Tát phạ thiết đốt-lỗ , bát-la ma tha nãnh (SARVA ‘SATRÙ PRAMATHANI) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA) Ma ma (Tôi, họ tên….) (MAMA …..) Tát phạ tát đa-phạ nan tả (SARVA SATVANÀMCA) Vĩ lị, vĩ lị (VIRI VIRI) Vĩ nga đá (VIGATA) Phạ la noa bà dã nẵng xả nãnh (AVARANI BHAYA NÀ’SANI) Tô lị, tô lị (SURI SURI) Tức lị (CILI) Kiếm ma lê, vĩ ma lê, nhạ duệ (KAMALE VIMALE JAYE) Nhạ dã phạ hề (JAYA VAHE) Nhạ dã phạ để, Bà nga phạ để (JAYA VATI BHAGAVATI) La đát-nẵng ma củ tra, ma la đà lị (RATNA MAKUTA DHÀRI) Ma hộ, vĩ vĩ đà , vĩ tức đát-la, phệ sái, lỗ bạt, đà lị ni (BAHU VIVIDHA VICITRA VESA RÙPA DHÀRANI) Bà nga phạ để (BHAGAVATI) Ma hạ vĩ nễ-dã nê vĩ (MAHÀ VIDYA DEVI) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA) Ma ma (Tôi, tên là…..) (MAMA…..)

Tát phạ tát đa-phạ nan taû (SARVA SATVANÀMCA) Tam mãn đá tát phạ đát-la (SAMANTA SARVATRÀ) Tát phạ bá bả, vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) Hộ lỗ, hộ lỗ (HULU HULU

Nhược khất-sát đát-la, ma la, đà lị ni (NAKSATRA MÀLÀ DHÀRANI) La khất-sái hàm (RAKSA MÀM) Ma ma (Tôi, tên là….) (MAMA……) A nẵng tha tả (ANÀTHA SYA) Đát-la noa bả la gia noa tả (ATRÀNA PARÀYANA SYA) Bả lị mô tả, dã minh (PARIMOCA YA ME) Tát phạ nậu khế tỳ dược (SARVA DUHKHE BHYAH) Chiến ni, chiến ni, tán nị nãnh (CANDI CANDI CANDINI) Phệ nga phạ để (VEGA VATI) Tát phạ nột sắt-tra, nãnh phạ la ni (SARVA DUSTA NIVARANI) Thiết đốt-lỗ bạc khất-xoa (‘SATRÙ PAKSA) Bát-la mạt tha nãnh (PRAMATHANI) Vĩ nhạ dã phạ tứ nãnh (VIJAYA VÀHINI) Hộ lỗ, hộ loã (HURU HURU) Mẫu lỗ, mẫu lỗ (MURU MURU) Tổ lỗ, tổ lỗ (CURU CURU) A dục, bá la nãnh, tô la (AYUH PÀLANI SURA) Phạ la mạt tha nãnh (VARA MATHANI) Tát phạ nê phạ đá (SARVA DEVATA) Bố tỉ đế (PÙJITE) Địa lị, địa lị (DHIRI DHIRI) Tam mãn đá phạ lộ chỉ đế bát la bệ (SAMANTA AVALOKITE PRABHE) Bát-la bệ, tô bát-la bà (PRABHE SUPRABHE) Vĩ truật đệ (VI’SUDDHE) Tát phạ bá bả, vĩ thú đà ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE ) Đạt la, đạt la, đạt la ni (DHARA DHARA DHARANI) La la đạt lệ (RARA DHARE)

Tô mẫu, tô mẫu (SUMU SUMU) Lỗ lỗ tả lê (RURU CALE) Tả la gia, nô sắt-lãng (CALÀYA DUSTA) Bố la dã mính, a thiêm, thất-lị (PÙRAYA ME À’SAM ‘SRÌ) Phạ bổ đà nam (VAPUDHANAM) Nhạ dã, kiếm ma lê (JAYA KAMALE) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) Tát la ni, tát la năng củ thế (VARADE VARADA ANÕKU’SE).

Án (OM) – Bát nột-ma vĩ truật đệ (PADMA VI’SUDDHE) Thú đà dã, thú đà dã (‘SODHAYA ‘SODHAYA) Thuấn đệ (‘SUDDHE) Bạt la, bạt la (BHARA BHARA) Tỷ lị, tỷ lị (BHIRI BHIRI) Bộ lỗ, bộ lỗ (BHURU BHURU) Mộng nga la, vĩ thuấn đệ (MAMGALA VI’SUDDHE) Bạt vĩ đát-la, mục khế (PAVITRA MUKHI) Khát nghĩ ni, khát nghĩ ni (KHARGANI KHARGANI) Khư la, khư la (KHARA KHARA) Nhập-phộc lý đa thủy lệ (JVALITA ‘SIRE) Tam mãn đa bát-la sa lị đá, phộc bà tất đa, truật đệ (SAMANTA PRASARITA VABHASITA ‘SUDDHE) Nhập-phộc la, nhập-phộc la (JVALA JVALA) Tát phộc nê phộc nga noa, tam ma đa ca la-sái ni (SARVA DEVAGANA SAMA AKARSANI) Tát để-dã phộc đế (SATYA VATI) La hộ, la hộ (LAHU LAHU) Hộ nộ, hộ nộ (HUNU HUNU) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) Tát phộc nghĩ-la hạ bạc khất-sái ni (SARVA GRAHA BHAKSANI

Vĩnh nga lý, vĩnh nga lý (PIMÏGALI PIMÏGALI) Tổ mẫu, tổ mẫu (CUMU CUMU) Tô mẫu, tô mẫu (SUMU SUMU) Tổ mẫu tả lệ (CUVI CARE) Đa la, đa la (TARA TARA) Nẵng nga vĩ lộ chỉ nãnh đa la dã đổ hàm (NÀGA VILOKITE TÀRÀYA TUMAM) Bà nga phộc để (BHAGAVATI) A sắt-tra ma hạ bà duệ tỳ dược (ASTA MAHÀ BHAYE BHYAH) Tam muộn nại-la (SAMUDRA) Sa nga la (SÀGARA) Bát lị-dần đảm, bá đá la, nga nga nẵng, đát lãm (PRATYANTÀM PÀTÀLA GAGANA TALAM) Tát phộc đát la (SARVATRÀ) Tam mãn đế nẵng (SAMANTENA) Nễ xả mãn đệ nẵng (DI’SA BANDHENA) Phộc nhật-la bát-la ca la (VAJRA PRÀKÀRA) Phộc nhật-la bá xả mãn đà mật nẵng (VAJRA PA’SA BANDHANE) Phộc nhật-la,nhập phộc-la, vĩ truật đệ (VAJRA JVALA VI’SUDDHE) Bộ lị, bộ lị (BHURI BHURI) Nghiệt bà phộc để (GARBHA VATI) Nghiệt bà vĩ thú đà nãnh (GARBHA VI’SODHANE) Câu khất-sử tam bố la ni (KUKSI SAPÙRANI) Nhập phộc-la, nhập phộc-la (JVALA JVALA) Tả la, tả la (CALA CALA) Nhập phộc-lý nãnh (JVALANI) Bát-la vạt sát đổ, nê phộc (PRAVASATU DEVA) Tam mãn đế nãnh (SAMANTENA) Nễ miễu ná kế nãnh (DIDHYODAKENA) A mật-lật đa phộc la-sái ni (AMRTA VARSANI) Nê phộc đá phộc đá la ni (DEVA DEVA DHÀRANI) A tỵ tru giả mính (ABHISIMCA TUME) Tô nga đa (SUGATA) Phộc tả nẵng mật-lật đa (VACANA AMRTA) Phộc la phộc bổ sái (VARA VAPUSPE) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA RAKSA) Ma ma (Tôi tên là…) (MAMA…) Tát phộc tát đa-phộc nan tả (SARVA SATVÀNÀMCA) Tát phộc đát-la (SARVATRÀ) Tát phộc ná (SARVADÀ) Tát phộc bà duệ tỳ-dược (SARVA BHAYE BHYAH) Tát mạo bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVOPADRAVE BHYAH) Tát mạo bả tăng nghê tỳ-dược (SARVOPASAGRE BHYH) Tát phộc nột sắt-tra bà dã tỵ đát tả (SARVA DUSTA BHAYA BHÌTA SYA) Tát phộc ca li, ca la hạ, vĩ nghiệt la hạ (SARVA KÀLI KALAHÀ VIGRAHA) Vĩ phộc ná (VIVÀDA) Nậu tát-phộc bả-nan nột nãnh nhĩ đá (DUHSVAPNÀM DURNI MINTA) Mộng nga la (AMAMGALLYA) Bá bả (PÀPA) Vĩ nẵng xả nãnh (VINA’SANI) Tát phộc dược khất-xoa (SARVA YAKSA) La khất-sái sa (RAKSASA) Nẵng nga (NÀGA) Nãnh phộc la ni (NIVARANI) Tát la ni sa lệ (SARANI SARE) Ma la , ma la, ma la phộc để (BALA BALA – BALA VATI) Nhạ dã, nhạ dã (JAYA JAYA) Nhạ dã đổ hàm (JAYA YUMAM) Tát phộc tát-la (SARVATRÀ) Tát phộc la lam (SARVA KÀRAM) Tất đệ đổ mính (SIDDHE TUME) Ế hàm, ma hạ vĩ niệm, sa đà dã (IMAM MAHÀ VIDYA SÀDHAYA) Sa đà dã tát phộc mạn noa la (SADHAYA SARVA MANDALA) Sa đà nãnh già đa dã (SÀDHANI GHÀTAYA) Tát phộc vĩ cận-nãnh (SARVA VIGHNAM) Nhạ dã, nhạ dã (JAYA JAYA) Tất đệ, tất đệ (SIDDHE SIDDHE) Tô tất đệ (SUSIDDHE) Tất địa-dã, tất địa-dã (SIDDHYA SIDDHYA) Một địa-dã, một địa-dã (BUDDHYA BUDDHYA) Bố la dã, bố la dã (PÙRAYA PÙRAYA) Bố la ni, bố lani (PÙRANI PÙRANI) Bố la dã, mính, a thiêm (PÙRAYA ME À’SAM) Tát phộc vĩ nễ dã (SARVA VIDYA) Địa nga đa (ADHIGATA) Một lật-đế (MÙRTTE) Nhạ dụ đa lị (JAYOTTARI) Nhạ dạ phộc để (JAYA VATI) Để sắt-xá, để sắt-xá (TISTA TISTA) Tam ma dã ma nỗ bá la dã (SAMAYAM ANUPÀLAYA) Đát tha nghiệt đa, ngật-lị nãi dã (TATHÀGATA HRDAYA) Thuấn đệ (‘SUDDHE) Nhĩ-dã phộc lộ ca dã hàm (VYAVALOKAYA MAM) A sắt-tra tỵ ma hạ ná lỗ noa bà (ASTA MAHÀ DÀRUNA BHAYE) Tát la, tát la (SARA SARA) Bát-la sa la, bát-la sa la (PRASARA PRASARA) Tát phộc phộc la noa tỵ thú đà nãnh (SARVA AVARANA VI’SODHANE) Tam mãn đá ca la man noa la vĩ thuấn đệ (SAMANTA KÀRA MANDALA VI’SUDDHE) Vĩ nga đế, vĩ nga đế, vĩ nga đa, ma la vĩ thú đà nãnh (VIGATE VIGATE VIGATA MALA VI’SODHANE) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) Tát phộc bá bả vĩ thuấn đệ (SARVA PÀPA VI’SUDDHE) Ma la vĩ nghiệt đế (MARA VIGATE)

Đế nhạ phộc để (TEJA VATI) Phộc nhật-la phộc để (VAJRA VATI) Tát-lạt lộ chỉ-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (TRAILOKYA ADHISTITE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha, một đà, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀ BUDDHA ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phộc mạo địa tát đa-phộc, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA BADHISATVA ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phộc nê phộc đa, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA DEVATÀ ABHISIKTE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nga đa cật-lị nãi dạ, địa sắt xỉ đa, hột-lị nãi duệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA HRDAYE SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nga đa tam ma dã tất đệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA SAMAYA SIDDHE SVÀHÀ) Ấn nại-lệ, ấn nại-la phộc để, ấn nại-la nhĩ-dã phộc lộ chỉ đế, sa-phộc hạ (INDRE INDRAVATI INDRA VYAVALOKITE SVÀHÀ) Một-la hám-mính, một-la hám-ma để-dữu sử đế, sa-phộc hạ (BRAHME BRAHMA ADHYUSTE SVÀHÀ) Vĩ sắt-nỗ nẵng mạc tắc cật-lị đế, sa-phộc hạ (VISNU NAMASKRTE SVÀHÀ) Ma hệ thấp-phộc la mãn nễ đa, bố nhĩ đá duệ, sa-phộc hạ (MAHE’SVARA VANDITA PÙJITAYE SVÀHÀ) Phộc nhật-la đà la, phộc nhật-la bá ni, ma la vĩ lị-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (VAJRADHÀRA VAJRAPÀNI BALA VÌRYA ADHISTITE SVÀHÀ) Địa-lã đa la sắt-tra-la dã, tát-phộc hạ (DHRTARÀSTRÀYA SVÀHÀ) Vĩ lỗ trà ca dã, tát-phộc hạ (VIRÙDHAKÀYA SVÀHÀ) Phệ thất-la ma noa dã, tát-phộc hạ (VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ) Tạt đốt ma hạ la nhạ nẵng mạc tắc-cật-lị đá dã, tát-phộc hạ (CATUR MAHÀ RÀJA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Diễm ma dã, tát-phộc hạ (YAMMÀYA SVÀHÀ) Diễm ma bố nhĩ đa, nẵng mạc tắc-cật-lị đá dã, tát-phộc hạ (YAMMA PÙJITA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Phộc lỗ noa dã Tát-phộc hạ (VARUNÀYA SVÀHÀ) Ma lỗ đá dã Tát-phộc hạ (MARÙTÀYA SVÀHÀ) Ma ha ma lỗ đá dã Tát-phộc hạ (MAHÀ MARÙTÀYA SVÀHÀ) A ngân-nẵng duệ Tát-phộc hạ (AGNAYE SVÀHÀ) Nẵng nga vĩ lộ chỉ đá dã Tát-phộc hạ (NÀGAVILOKITÀYA SVÀHÀ) Nê phộc nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (DEVA GANE BHYAH SVÀHÀ) Nẵng nga nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (NÀGA GANE BHYAH SVÀHÀ) Dược khất-sái nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (YAKSA GANE BHYAH SVÀHÀ) La kất-sái sa nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (RÀKSASA GANE BHYAH SVÀHÀ) Ngạn đạt phộc tát nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (GANDHARVA GANE BHYAH SVÀHÀ) A tô la nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (ASURA GANE BHYAH SVÀHÀ) Nga lỗ noa nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (GARUDA GANE BHYAH SVÀHÀ) Khẩn na la nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (KINNARA GANE BHYAH SVÀHÀ) Ma hộ la nga nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (MAHORAGA GANE BHYAH SVÀHÀ) Ma nộ sái tỳ-dược Tát-phộc hạ (MANU SYE BHYAH SVÀHÀ) A ma nộ sái tỳ-dược Tát-phộc hạ (AMANU SYE BHYAH SVÀHÀ) Tát phộc nghiệt-la hệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (SARVA GRAHE BHYAH SVÀHÀ) Tát phộc bộ đế tỳ-dược Tát-phộc hạ (SARVA BHÙTE BHYAH SVÀHÀ) Bật lị đế tỳ-dược Tát-phộc hạ (PRETE BHYAH SVÀHÀ) Tỳ xả tế tỳ-dược Tát-phộc hạ (PI’SACE BHYAH SVÀHÀ) A bả sa-ma lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (APASMARE BHYAH SVÀHÀ) Cấm bạn nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (KUMBHÀNDE BHYAH SVÀHÀ)

Án- Độ lỗ, độ lỗ Tát-phộc hạ (OM- DHURU DHURU SVÀHÀ

Án- Đổ lỗ, đổ lỗ Tát-phộc hạ (OM- TURU TURU SVÀHÀ)

Án- Mẫu lỗ, mẫu mẫu Tát-phộc hạ (OM- MURU MURU SVÀHÀ) .

Hạ nẵng, hạ nẵng, tát phộc thiết đổ-lỗ nẫm Tát-phộc hạ (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM SVÀHÀ) Ná hạ, ná hạ tát phộc nột sắt-tra, bát-la nột sắt-tra nẫm Tát-phộc hạ (DAHA DAHA SARVA DUSTA PRADUSTANÀM SVÀHÀ) Bát tá, bát tá tát phộc bát-la để dã dịch ca, bát-la để-dã nhĩ đát-la nẫm (PACA PACA SARVA PRATYARTHIKA PRATYÀMITRANÀM) Duệ ma ma (YE MAMA) A tứ đế sử noa (AHITESINA) Đế sam, tát phệ sam, xả lị lãm, nhập-phộc la dã, nột sắt-tra tức đá nẫm Tát-phộc hạ (TESAM SARVESÀM ‘SARIRAM JVALÀYA ADUSTA CITTÀNÀM SVÀHÀ) Nhập-phộc lý đá dã Tát-phộc hạ (JVALITÀYA SVÀHÀ)

Bát-la nhập-phộc lý đá dã Tát-phộc hạ (PRAJVALITÀYA SVÀHÀ) Nễ bát-đá nhập-phộc la dã Tát-phộc hạ (DÌPTA JVALÀYA SVÀHÀ) Tam mãn đa nhập-phộc la dã Tát-phộc hạ (SAMANTA JVALÀYA SVÀHÀ) Ma ni bạt nại-la dã Tát-phộc hạ (MANI BHADRÀYA SVÀHÀ) Bố la-noa bả nại-la dã Tát-phộc hạ (PÙRNA BHADRÀYA SVÀHÀ) Ma hạ ca la dã Tát-phộc hạ (MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ) Ma để-lị nga noa dã Tát-phộc hạ (MATRANÀYA SVÀHÀ) Dã khất-sử ni nẫm Tát-phộc hạ (YAKSANÌNÀM SVÀHÀ) La khất-ma tỷ nẫm Tát-phộc hạ (RAKSASÌNÀM SVÀHÀ) A ca xả ma để-lị nẫm Tát-phộc hạ (ÀKA’SA MÀTRNÀM SVÀHÀ) Tam mẫu nại-la phộc tỷ nãnh nẫm Tát-phộc hạ (SAMUDRA VÀSINÌNÀM SVÀHÀ) La để-lị, tả la nẫm Tát-phộc hạ (RÀTR CARÀNÀM SVÀHÀ) Nễ phộc sa, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (DIVASA CARÀNÀM SVÀHÀ) Để-lị tán-đình, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (TRISANTYA CARÀNÀM SVÀHÀ) Vĩ la, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (VELA CARÀNÀM SVÀHÀ) A vĩ la, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (AVELA CARÀNÀM SVÀHÀ) Nghiệt bà ha lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (GARBHA HÀRE BHYAH SVÀHÀ) Nghiệt bà tán đá la ni. Hộ lỗ, hộ lỗ Tát-phộc hạ (GARBHA SANDHÀRANI HURU HURU SVÀHÀ)

Án- Tát-phộc hạ (OM- SVÀHÀ) Tát phộc Tát-phộc hạ (SVÀH SVÀHÀ) Bộc Tát-phộc hạ (BHÙH SVÀHÀ) Bộ phộc Tát-phộc hạ (BHÙVÀH SVÀHÀ) Án, bộ la-bộ phộc, tát-phộc Tát-phộc hạ (OM- BHÙRBHÙVÀH SVÀH SVÀHÀ) Tức trưng, tức trưng Tát-phộc hạ (CITI CITI SVÀHÀ) Vĩ trưng, vĩ trưng Tát-phộc hạ (VITI VITI SVÀHÀ) Đà la ni Tát-phộc hạ (DHÀRANÌ SVÀHÀ) Đà la ni Tát-phộc hạ (DHARANI SVÀHÀ) A ngận-nãnh Tát-phộc hạ (AGNI SVÀHÀ) Đế tổ, phộc bổ Tát-phộc hạ (TEJO VAPU SVÀHÀ) Tức lị, tức lị Tát-phộc hạ (CILI CILI SVÀHÀ) Tất lý, tất lý Tát-phộc hạ (SILI SILI SVÀHÀ) Một đình, một đình Tát-phộc hạ (BUDDHYA BUDDHYA SVÀHÀ) Tất đình, tất đình Tát-phộc hạ (SIDDHYA SIDDHYA SVÀHÀ) Mạn noa la tất đệ Tát-phộc hạ (MANDALA SIDDHE SVÀHÀ) Man noa la mãn đệ Tát-phộc hạ (MANDALA BANDHE SVÀHÀ) Tỷ ma mãn đà nãnh Tát-phộc hạ (‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ) Tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm, tiệm bà tiệm bà Tát-phộc hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM JAMBHA JAMBHA SVÀHÀ) Sa đảm-bà dã, sa đảm-bà dã Tát-phộc hạ (STAMBHÀYA STAMBHÀYA SVÀHÀ) Thân ná, thân ná Tát-phộc hạ (CCHINDHA CCHINDHA SVÀHÀ) Tẫn ná, tẫn ná Tát-phộc hạ (BHINDHA BHINDHA SVÀHÀ) Bạn nhạ, bạn nhạ Tát-phộc hạ (BHANÕJA BHANÕJA SVÀHÀ) Mãn đà, mãn đà Tát-phộc hạ (BANDHA BANDHA SVÀHÀ) Mãng hạ dã, mãng hạ dã Tát-phộc hạ (MOHAYA MOHAYA SVÀHÀ) Ma nĩ vĩ thuấn đệ Tát-phộc hạ (MANI VI’SUDDHE SVÀHÀ) Tố lị-duệ, tố lị-duệ, tố lị-dã, vĩ thuấn đệ, vĩ thú đà nãnh Sa-phộc hạ (SÙRYE SÙRYE SÙRYA VI’SUDDHE VI’SODHANE SVÀHÀ) Chiến niết-lệ, chiến niết-lệ, bố la-noa chiến niết-lệ Tát-phộc hạ (CANDRE CANDRE PÙRNA CANDRE SVÀHÀ) Nghiệt-la nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (GRAHE BHYAH SVÀHÀ) Nhược khất-sát để-lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (NAKSTRE BHYAH SVÀHÀ) Thủy phệ Tát-phộc hạ (‘SIVE SVÀHÀ) Phiến để Tát-phạ hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ) Tát phạ sa để-dã Dã nãnh Tát-phạhạ (SVASTYA YANE SVÀHÀ) Thủy noan yết-lị. phiến để yết lị, bổ sắt-trí yết lị, ma la mạt đạt nãnh Tát-phạ hạ (‘SIVAM KARI ‘SÀNTI KARI PUSTI KARI BALA VARDHANI SVÀHÀ) Thất-lị yết lị Tát-phạ hạ (‘SRÌ KARI SVÀHÀ) Thất-lị dã mạt đạt nãnh Tát-phạ haï (‘SRÌYA VARDHANI SVÀHÀ) Thất-lị dã nhập-phạ la nãnh Tát-phạ haï (‘SRÌYA JVALANI SVÀHÀ) Nẵng mẫu tỷ Tát-phạ haï (NAMUCI SVÀHÀ) Ma lỗ tỷ Tát-phạ haï (MARUCI SVÀHÀ) Phệ nga phạ để Tát-phạ haï (VEGA VATI SVÀHÀ).

* Án- tát phạ đát tha nga đa một lị-đeá (OM- SARVA TATHÀGATA MÙRTTE) Bát-la phộc la vĩ nga đa (PRAVARA VIGATI) Bà duệ xả ma dã (BHAYE ‘SAMAYA) Tát-phộc mính (SVAME) Bà nga phộc để (BHAGAVATI) Tát phộc bá bế tỳ-dụ sa-phộc sa-để bà phộc đổ (SARVA PÀPE BHYAH SVÀSTIRBHAVATU) Mẫu nãnh, mẫu nãnh, vĩ mẫu nãnh (MUNI MUNI VIMUNI) Tả lệ tả la ninh (CARE CALANE) Bà dã vĩ nga đế (BHAYA VIGATE) Bà dã ha la ni (BHAYA HÀRANI) Mạo địa, mạo địa (BODHI BODHI) Mạo đà dã, mạo đà dã (BODHIYA BODHIYA) Một địa lý, một địa lý (BUDHILI BUDHILI) Tát phộc đát tha nga đa hột-lã nãi dã, túc sắt tai Tát-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA JUSTAI SVÀHÀ).

* Án- phộc nhật-la phộc để (OM- VAJRA VATI) Phộc nhật-la bát-la đề sắt-xỉ đế (VAJRA PRATISTITE) Thuấn đệ (‘SUDDHE)

Đát tha nga đa mẫu nại-la, địa sắt xá-nẵng, địa sắt xỉ-đế (TATHÀGATA MUDRA ADHISTANA ADHISTITE) Tát-phộc hạ (SVÀHÀ) .

* Án- mẫu nãnh, mẫu nãnh, mẫu nãnh phộc lệ (OM- MUNI MUNI MUNI VARE) A tị tru tá đổ hàm (ABHISIMCA TUMAM) Tát phộc đát tha nghiệt đa (SARVA TATHÀGATA) Tát phộc vĩ nễ-dã tị sái kế (SARVA VIDYA ABHISEKAI) Ma hạ phộc nhật-la ca phộc tá mẫu nại-la (MAHÀ VAJRA KAVACA MUDRA) Mẫu nại-lị đới (MUDRITEH) Tát phộc đát tha nga đa khất-lã nãi dạ, địa sắt-xỉ đa (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA) Phộc nhật-lê Sa-phộc hạ (VAJRE SVÀHÀ) .

Bấy giờ Đức Bạc Già Phạm nói Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Xí Thạnh Như Ý Bảo Tấm Ấn Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Tùy Cầu Đại Đà La Ni này xong, lại bảo Đại Phạm Thiên rằng : “Này Đại Phạm ! Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện nào vừa mới nghe qua Đà La Ni này thì hết thảy tội chướng đã tạo, đều được tiêu diệt. Nếu hay đọc tụng, thọ trì tại tâm thì nên biết người đó là thân kiên cố của Kim Cương, lửa chẳng thể đốt, đao chẳng thể hại, độc chẳng bị trúng.

Này Đại Phạm ! Vì sao biết là lửa chẳng thể thiêu đốt được? Ở thành Ca Tỳ La, lúc Đồng tử La Hầu La còn nằm trong thai mẹ. Mẹ Ngài tên là Gia Du Đà La, vốn là người nữ thuộc dòng Thích Ca, bà bị ném vào hầm lửa. Lúc đó La Hầu La nằm trong thai mẹ, nhớ niệm Đà La Ni này nên hầm lửa ấy liền tự trong mát biến thành ao sen. Tại sao thế ? Vì Đà La Ni này là lực gia trì của tất cả Như Lai vậy. Đại Phạm, Ông nên biết, do nhân duyên ấy mà lửa chẳng thể thiêu đốt được.

Lại nữa Đại Phạm ! Độc chẳng thể hại. Như thành Thiện Du có người con của Trưởng giả Phong Tài, trì tụng Mật Ngôn do Thế Thiên nói. Người đó dùng lực Trì Minh câu triệu Long Vương Đức Xoa Ca mà quên Kết Giới Hộ Thân. Vị Long Vương ấy giận dữ nghiến răng, làm cho người kia chịu nỗi đau khổ nặng nề và sắp sửa mất mạng. Rất nhiều người Trì Minh trợ giúp nhưng chẳng thể cứu hộ được. Lúc ấy trong Thành có một vị Ưu Bà Di (Cận Sự Nữ) tên là Vô Cấu Thanh Tĩnh thường trì Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh này. Vị Ưu Bà Di đó đã thành tựu Đại Bi, khởi lòng thương xót, đi đến nơi ấy dùng Đà La Ni này gia bị cho. Vừa mới tụng một biến, thì chất độc kia liền bị tiêu diệt và người con của vị Trưởng Giả được hồi phục. Khi đó, người ấy ở bên vị Vô Cấu Thanh Tĩnh thọ nhận Đà La Ni này và ghi nhớ trong tâm. Đại Phạm nên biết, đó là chất độc chẳng thể hại được.

Lại nữa Đại Phạm ! Ở thành Phiệt La Nại Ky,ø có vị vua tên là Phạm Thí . Vua nước lân cận là kẻ có thế lực lớn nên đã khởi 4 loại binh đến chinh phạt Phạm Thí. Thời, vị cân thần liền tâu với vua Phạm Thí rằng: “Đại Vương! Nay quân địch đi đến chiếm đoạt thành ấp của chúng ta. Mong Đại Vương ban lệnh cho chúng tôi phải dùng kế sách nào để đẩy lui quân địch ấy?” Bấy giờ Phạm Thí bảo quần thần rằng : “Nay các ngươi đừng vội chống cự. Ta có Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh Vương. Do uy lực của Đà La Ni này, hay đập tan quân địch khiến cho chúng giống như đám tro tàn vậy ”.

Các quần thần liền cúi đầu tâu rằng : “Đại Vương ! Bọn hạ thần chúng tôi chưa từng nghe qua điều này”. Đức vua bảo rằng: “Nay các ngươi sẽ thấy sự hiệu nghiệm ngay lập tức.” Lúc đó Phạm Thí liền dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch, y theo Pháp viết chép Đà La Ni này, bỏ vào trong cái hộp rồi đặt ở trong búi tóc. Nhà vua dùng Đà La Ni này hộ thân, mặc áo giáp rồi đi ngay vào quân trận. Một mình nhà vua đánh nhau với 4 loại binh, giáng phục và khiến chúng quy hàng. Đại Phạm nên biết, Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này là nơi gia trì của tất cả Như Lai Tâm Ấn nên có sự thần nghiệm to lớn. Ông nên thọ trì và phải biết Đà La Ni này ngang bằng với chư Phật. Sau này, vào thời Mạt Pháp sẽ vì những hữu tình : đoản mệnh, kém phước, không có phước, chẳng chịu tu phước mà làm lợi ích cho họ vậy.

Này Đại Phạm ! Đà La Ni Đại Tùy Cầu này, y theo Pháp viết chép rồi cột trên cánh tay hoặc đeo dưới cổ. Nên biết người đó là nơi gia trì của tất cả Như Lai, là thân kiên cố của Kim Cương. Nên biết người đó là Tạng Thân của tất cả Như Lai, nên biết người đó là con mắt của tất cả Như Lai, nên biết người đó là Thân Quang Minh Xí Thịnh của tất cả Như Lai, nên biết người đó là giáp trụ bất hoại, nên biết người đó hay đập nát tất cả oán địch, nên biết người đó hay thiêu đốt tất cả tội chướng, nên biết người đó hay làm cho nẻo Địa Ngục được thanh tịnh. Này Đại Phạm ! Vì sao lại biết được như thế ? Khi xưa có một vị Bật Sô (Tỳ khưu) mang tâm hoại niềm tin trong sạch (Tĩnh Tín), làm nhiều điều vi phạm Chế Giới của Như Lai, ăn trộm tài vật của Tăng hiện tiền với vật của Tăng Kỳ Chúng, vật của Tứ Phương Tăng đem dùng làm của riêng, sau đó bị tội nặng phải chịu sự khổ não lớn lao. Thời vị Bật Sô ấy không có người cứu tế nên kêu gào to tiếng. Bấy giờ ở xứ đó, có một vị Ưu Bà Tắc (Cận Sự Nam) thuộc dòng Bà La Môn nghe tiếng kêu gào liền đi đến chỗ vị Bật Sô bị bệnh kia, khởi tâm xót thương rộng lớn, liền vì vị Tăng ấy viết chép Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh Vương Đà La Ni này rồi đeo dưới cổ vị Tăng. Vị Bật Sô ấy liền dứt hết mọi sự khổ não, chết ngay và bị đọa vào Địa Ngục Vô Gián. Thi hài của vị Bật Sô được đưa vào trong cái Tháp, nhưng trên thân vẫn đeo Đà La Ni đó. Do nhân ấy, khi vị Bật Sô vừa mới đọa vào Địa Ngục thì bao nhiêu sự đau khổ của kẻ thọ tội đều được chận đứng, hoặc đều được an vui. Bao nhiêu ngọn lửa mạnh mẽ của Địa Ngục A Tỳ do lực công đức của Đà La Ni này, thảy đều tiêu diệt.

Bấy giờ, Ngục Tốt của vua Diêm La nhìn thấy hiện tượng đó thì rất kinh ngạc, liền đến trình báo với vua Diêm La và nói Già Đà rằng :

Nay Đại Vương nên biết Việc này rất đặc biệt

Ở nơi hiểm ách lớn Khổ não đều ngưng nghỉ

Nghiệp ác của chúng sinh Ngọn lửa mạnh đều diệt

Cưa cắt tự dừng đứng Đao kiếm chẳng thể hại

Cây đao và rừng kiếm Các nỗi khổ giết mổ

Nồi nước nóng, ngục khác Khổ não đều ngưng trừ

Diêm Ma là Pháp Vương Dùng Pháp trị Hữu Tình

Nhân duyên này chẳng nhỏ Xin giúp tôi trừ nghi “.

Thời Đức vua Diêm La Từ Vô Bi ngục tốt

Nghe việc như vậy xong Liền nói lên lời là :

“ Việc này thật kỳ lạ ! Đều do nghiệp sở cảm

Ngươi đến thành Mãn Túc Xét xem việc thế nào ? “

Ngục tốt nhận sắc lệnh Ngay vào lúc đầu đêm

Phía Nam thành Mãn Túc Nhìn Tháp của Bật Sô

Liền thấy trên thi hài Đeo Chú Đà La Ni

Đại Minh Vương Tùy Cầu Tỏa ánh hào quang lớn

Rực rỡ như đám lửa Trời, Rồng với Dược Xoa

Tám Bộ Chúng vây quanh Cung kính mà cúng dường

Thời ngục tốt Diêm La Đặt hiệu Đại Tùy Cầu

(Đây là tên cái Tháp chứa thi hài của vị Tăng)

Khi ấy Ngục Tốt Diêm La quay về nơi vua ngự, trình bày đầy đủ sự việc trên. Vị Bật Sô kia nương theo uy lực của Đà La Ni này mà tội chướng đều được tiêu diệt và tái sinh về cõi Trời Tam Thập Tam Thiên. Nhân vì thân trước, mà vị Trời này có hiệu là Thiên Tử Tùy Cầu.

Đại Phạm nên biết Đà La Ni này có uy lực to lớn . Ông nên thọ trì, viết chép, đọc tụng, y theo Pháp mà đội đeo, ắt sẽ mau được xa lìa tất cả khổ não, tất cả nẻo ác và chẳng bị sấm sét gây thương hại. Làm sao mà biết ? Này Đại Phạm ! Ở thành Hình Ngu Mật Đàn có vị Trưởng Giả tên là Vĩ Ma La Thương Khư. Ông là nhà cự phú, kho tàng cất chứa đầy dẫy vàng bạc với rất nhiều tiền gạo. Khi ấy, vị Trưởng giả đó là một vị thương chủ. Ông dùng chiếc thuyền lớn đi vào biển để tìm kiếm báu vật. Lúc ở giữa biển lớn, ông gặp con cá Đề Di muốn phá nát thuyền. Vị Long Vương trong biển ấy lạisinh tâm giận dữ, khởi sấm sét lớn, gào thét tạo ra mây sấm và mưa đá Kim Cương. Thời các thương nhân nhìn thấy cơn mưa đá sấm sét này, đều buồn rầu phiền não và rất sợ hãi liền gấp rút kêu gọi cầu cứu nhưng vẫn không có ai đến cứu giúp. Bấy giờ, chúng thương nhân đến gặp vị thương chủ, khóc lóc bi than và nói rằng : “Nhân Giả có kế sách nào cứu giúp cho chúng tôi xa lià khỏi nỗi lo âu sợ hãi này chăng ? ! “

Lúc đó, vị thương chủ không hề sợ hãi. Nhờ chí tính kiên cố, có đại Trí tuệ nên khi thấy các thương nhân bị sợ hãi bức bách, ông liền bảo rằng: “Hỡi các thương nhân ! Các ông đừng sợ mà hãy khởi tâm mạnh mẽ cứng cáp. Nay tôi sẽ giúp các ông miễn trừ sự sợ hãi”. Các thương nhân sinh tâm cứng mạnh, lại nói rằng : “Đại thương chủ ! Nguyện xin mau chóng nói phương cách trừ tai nạn, khiến cho chúng tôi bảo tồn được mạng sống”. Vị thương chủ ấy liền bảo các thương nhân rằng : “Tôi có Đại Minh Vương tên là Đà La Ni Tùy Cầu, có thần thông to lớn hay giáng phục các điều khó điều phục. Nay tôi giải thoát các sự ưu não này cho “.

Vị thương chủ liền viết chép Đà La Ni Tùy Cầu này đặt trên đầu cây phướng. Tức thời con cá Đê Di nhìn thấy chiếc thuyền này tỏa ánh sáng rực rỡ như đám lửa mạnh mẽ. Do đại uy lực Trí Hỏa của Đà La Ni này thiêu đốt , con cá Đê Di liền tiêu tan. Các hàng Long Vương nhìn thấy tướng này đều khởi tâm từ, liền bay từ trên hư không xuống, tác cúng dường rộng lớn và đưa chiếc thuyền này đến bãi chứa vật báu. Này Đại Phạm ! Điều này đều do Đại Trí Đại Minh Đại Tùy Cầu dùng nơi thần lực gia trì của tất cả Như Lai, cho nên có tên là Đại Minh Vương. Nếu có người viết chép Đà La Ni này, đặt ở đầu cây phướng trên thuyền thì hay chận đứng tất cả gió ác, mưa đá, nóng lạnh không đúng thời tiết, sấm chớp, sét đánh. Hay chận đứng sự kiện cáo tranh đấu của tất cả chư Thiên. Hay trừ tất cả muỗi mòng, hoàng trùng (loài sâu ăn lúa mạ) với các loài ăn lúa mạ khác. Hay làm cho tất cả loài thú mạnh ác có móng vuốt sắc bén đều lui tan. Hay khiến cho tất cả lúa mạ, hoa quả tăng trưởng hương vị và có thân thể tốt đẹp trơn láng. Nếu đất nước bị nạn khô hạn chẳng thể điều phục, do uy lực của Đà La Ni này thì Long Vương vui vẻ tuôn mưa đúng thời tiết.

Lại nữa Đại Phạm ! Nếu có nơi lưu bố Đà La Ni Đại Tùy Cầu này thì các hữu tình đã biết điều này, nên dùng hương hoa, phướng, lọng, mọi thứ cúng dường thượng diệu. Phải dùng vải lụa thù thắng bao bọc Kinh lại, đặt ở trong cái Tháp hoặc đặt trên đầu cây phướng. Dùng mọi loại âm nhạc ca vịnh tán thán, nhiễu quanh cúng dường, chân thành lễ bái; ắt mọi việc suy tư, ước vọng mong cầu trong tâm của các Hữu Tình ấy đều được mãn túc. Nếu có thể y theo Pháp viết chép rồi đeo giữ trên thân thì mọi mong cầu đều được. Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, thai nhi an ổn lớn dần tròn đủ và sinh nở an vui. Này Đại Phạm ! Làm sao mà biết được ? Xưa kia ở thành Ma Già Đà có vị vua tên là Thí Nguyện Thủ (Prasàrita – Pani). Do nhân duyên gì mà có tên là Thí Nguyện Thủ ? Lúc vị vua ấy sinh ra, liền giơ tay nắm bầu vú của mẹ. Do bàn tay chạm vào vú mẹ, thì bầu vú mẹ biến thành màu vàng, vú mẹ tăng trưởng tự nhiên và tuôn chảy sữa. Nếu có chúng nhân đi đến cầu xin thì nhà vua duỗi bàn tay phải, khởi niềm tin trong sạch nơi Phật, Bồ Tát, Chư Thiên rồi nghiêng úp xuống, thì mọi thứ trân bảo màu nhiệm đã được ghi chép đều tuôn vào bàn tay của nhà vua mà ban cho người cầu xin. Tùy theo sự tu hành của người ấy, mà đều được đầy đủ và đều thành tựu mọi sự an vui. Do nguyên nhân ấy nên có tên là Thí Nguyện Thủ. Vị vua ấy vì cầu con nên cúng dường chư Phật với các Tháp Miếu, nhưng cầu con chẳng được. Nhà vua giữ gìn Tế Giới rộng bày Vô Giá Thí Hội, rộng tu phước nghiệp, hộ trì Tam Bảo, tu sửa chùa chiền bị phá hoại, trong tương lai làm một kho cất chứa.

Có điều Đại Phạm ! Ta nhớ về thời quá khứ, ở quốc cảnh Ma Già Đà này, trong thành Câu Thi Na, phần lớn tụ lạc Đại Lực Sĩ đều theo giáo Pháp của Như Lai. Khi ấy có một vị Trưởng Giả tên là Pháp Tuệ (Dharma Mati) đối với tất cả chúng sinh khởi tâm Đại Bi, vì các hữu tình nói Pháp yếu của Đà La Ni Đại Tùy Cầu này. Ngay lúc ấy, ở trong nhà Trưởng Giả có một người nghèo nghe được Pháp màu nhiệm này, thì nói với Trưởng Giả Tử rằng : “Trưởng Giả Tử ! Tôi ở trong nhà của ông làm việc, thường vui nghe Pháp, tôi sẽ cúng dường Pháp này”. Người nghèo túng này ở nhà Trưởng Giả làm đủ mọi việc, lại cúng dường Pháp. Về sau, lúc Trưởng Giả Tử ấy trao cho một đồng tiền vàng. Nhận xong, người đó phát tâm Bồ Đề, muốn cứu giúp chúng sinh, rồi dùng phước này hồi thí cho tất cả hữu tình. Người ấy liền đem đồng tiền vàng cúng dường Đà La Ni Đại Tùy Cầu này và phát nguyện rằng : “Dùng Phước xả thí này, nguyện cho tất cả hữu tình cắt đứt được nghiệp nghèo túng “. Do nhân duyên này, mà Phước xả thí ấy không hề chấm dứt. Như vậy phần lớn nhân duyên của Chủng Phước là cúng dường chư Phật, Bồ Tát.

Vì phước nghiệp này, Thiên Tử Tĩnh Cư hiện ở trong mộng báo cho nhà vua rằng : “Nay Đại Vương có thể y theo Pháp, viết chép Đà La Ni Tùy Cầu này, khiến cho Đại Phu Nhân giữ Tế Giới và đeo giữ, ắt có con ngay”. Khi tỉnh giấc, nhà vua cho triệu thỉnh một người xem tướng với chúng Bà La Môn có Trí, chọn ngày trực của Tú Diệu tốt y theo Pháp giữ Tế Giới, viết chép Đà La Ni này khiến cho Phu Nhân đeo dưới cổ. Lại sai cúng dường Tháp Suốt Đổ Ba, chư Phật Bồ Tát, rộng hành xả thí nên liền có mang. Đầy đủ ngày tháng sinh ra một đứa con đầy đủ sắc tướng đoan nghiêm thù thắng, người nhìn thấy đều vui vẻ. Đại Phạm nên biết, đó là uy lực của Đà La Ni Vô Năng Thắng Vô Ngại Đại Tùy Cầu Bảo Ấn Tâm Minh Vương, là nơi cúng dường của tất cả Như Lai, ai có mong cầu đều được vừa ý.

Này Đại Phạm ! Người nghèo làm công cho nhà Trưởng Giả Tử Pháp Tuệ lúc ấy chẳng phải ai xa lạ, mà chính là Vua Thí Nguyện Thủ vậy. Do đời quá khứ xả thí một đồng tiền vàng cúng dường Đà La Ni Đại Tùy Cầu này, rồi hồi thí cho tất cả hữu tình. Do nhân duyên ấy mà được Phước vô tận, nên thân đời sau được làm quốc vương, tin tưởng trong sạch nơi Tam Bảo, tâm chẳng thoái lui, rộng hành xả thí, thành tựu Đàn Ba La Mật.

QUYỂN 2

Lại nữa Đại Phạm ! Lúc Thiên Đế Thích đánh nhau với A Tô La thì Thiên Đế Thích đem Đà La Ni này đeo giữ ở trong búi tóc trên đỉnh đầu, nên chúng của Trời Đế Thích chẳng bị thương tổn, thường đắc thắng và an ổn quay về Cung. Bồ Tát Sơ phát Tâm cho đến Bồ Tát ở Cứu Cánh Địa đeo trì thì hay xa lìa mọi thứ chướng nạn, nghiệp Ma.

Nếu có người đeo Đà La Ni này tức là nơi gia trì của tất cả Như Lai, là nơi hộ niệm của tất cả Bồ Tát. Tất cả người, Trời, Quốc vương, Vương tử, Đại thần, Bà La Môn, trưởng giả luôn luôn cung kính, lễ bái thừa sự. Tất cả hàng Trời, Rồng, A Tô La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân Phi Nhân đều cung kính người đeo trì ấy. Tám Bộ Trời Rồng của nhóm ấy đều tin rằng người đó là bậc Đại Trượng Phu.

Đức Như Lai lại nói : “Kẻ trai lành, người nữ thiện ấy đều hay đập nát tất cả Ma chướng, xa lìa tất cả bệnh tật, xa lìa tất cả não hoạnh, trừ tất cả ưu não, luôn là nơi thủ hộ của tất cả Trời Rồng”.

Đức Phật bảo : “Này Đại Phạm ! Lại có 4 Đà La Ni gọi là Chân Ngôn Vô Năng Thắng Phi Đại Tâm. Nếu có ai viết chép, hay đeo trên thân, thì thường nên tụng trì, thâm tâm suy tư Quán Hạnh, ắt hay trừ bỏ mộng ác, việc chẳng lành, đều được thành tựu tất cả sự an vui.

* Án – A mật-lị đa, phộc lệ, phộc la phộc la, bát-la phộc la, vĩ thú đệ, hồng hồng, phả tra phả tra. sa-phộc haï

(OM- AMRÏA VARE VARA VARA PRAVARA VI’SUDDHE HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ)

* Án- A mật-lị đa vĩ lô chỉ nãnh, nghiệt bà tăng la khất-sái ni, a yết lị-sái ni, hồng hồng, phả tra phả tra, sa-phộc hạ

(OM- AMRTA VILOKINI GARBHA SAMRAKSANI AKARSANI

HÙM HÙM PHAT PHAT SVÀHÀ)

* Án- Vĩ ma lê, nhạ dã, phộc lệ. A mật-lị đế. Hồng hồng hồng hồng, phả tra phả tra phả tra phả tra, sa-phộc hạ.

(OM- VIMALE JAYA VARE AMRTE HÙM HÙM HÙM HÙM PHAT PHAT PHAT PHAT SVÀHÀ)

* Án- Bả la, bả la, tam bả la tam bả la, ấn nại-lị dã, vĩ thú đà nãnh, hồng hồng, lỗ lỗ tả lệ, sa-phộc hạ.

(OM- BHARA BHARA SAMBHARA SAMBHARA INDRIYA VI’SODHANE RURU CALA SVÀHÀ).

Vừa mới nói 4 Đại Đà La Ni này xong, thì tất cả chư Phật, chư Đại Bồ Tát, Thanh Văn khác miệng cùng lời nói Đại Tùy Cầu Đại Minh Vương Vô Năng Thắng Đà La Ni Giáp Trụ Mật Ngôn Cú này. Dùng Ấn của tất cả Như Lai, ấn lên. Đà La Ni này rất khó được nghe huống chi viết chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác diễn nói. Chính vì thế cho nên biết đó là Đại Phật sự, Như Lai khen ngợi khôn cùng, nói lời tùy hỷ, rất khó được nghe. Tên của Đà La Ni Đại Tùy Cầu Đại Vô Năng Thắng này rất khó được nghe, rất ư khó được, hay diệt các tội. Đại lực dũng kiện, cụ đại uy đức thần lực, hay sinh vô lượng công đức, hay đập nát tât cả Ma chúng, hay cắt đứt tất cả các tập khí với Ma chướng. Hay trừ tất cả Chân ngôn khác, chất độc, yểm đảo, dược pháp, tăng pháp, giáng phục pháp hoặc khiến cho chúng sinh có tâm ác khởi tâm Đại Bi. Hay giúp đỡ, yêu thích người cúng dường chư Phật Bồ Tát Thánh chúng. Hay hộ giúp kẻ viết chép thọ trì đọc tụng, chân thành nghe Kinh Điển Đại Thừa, lại hay mãn túc việc tu Phật Bồ Đề.

Này Đại Phạm! Trì Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng Đại Minh này chẳng bị hoại nát, ở tất cả nơi được đại cúng dường giống như Phật Đại Sư Lưỡng Túc Tôn. Làm sao biết được Minh Vương này hay nghiền nát tất cả Ma? Đại Phạm ! Vào thời quá khứ có Đức Phật tên là Quảng Bác Vi Tiếu Diện Ma Ni Kim Bảo Quang diễm Chiếu Diệu Cao Dũng Vương (Vipùla Pratita Vadana Sùktva Mani Kanaka Ratna Jvala Ra’smi Prabha Abhyunõgata Ràja) Như Lai Ứng Chính Giác, lúc vừa mới thành Đạo đi đến Bồ Đề Trường muốn chuyển Pháp Luân, tất cả Như Lai xưng tán.

Bấy giờ tất cả Ma với vô lượng câu đê na dữu đa quyến thuộc vây quanh, thị hiện mọi loại Ma cảnh, hiển tác thần thông, tuôn mưa đủ loại khí trượng tràn khắp 4 phương để gây chướng nạn. Khi ấy Như Lai Quảng Bác Vi Tiếu Diện Ma Ni Kim Bảo Quang Diễm Chiếu Diệu Cao Dũng Vương trong phút chốc tịch nhiên an trú, ý tụng Đại Tùy Cầu Đà La Ni này, chỉ khoảng sát na thì tất cả Thiên Ma Ba Tuần nhìn thấy từ mỗi một sợi lông của Đức Như Lai ấy tuôn ra vô lượng câu đê trăm ngàn na dữu đa Kim Cương Sứ giả, thân mặc giáp trụ tỏa ánh hào quang lớn, đều cầm đao kiếm, búa, dây, gậy, côn, Tam Cổ Xoa cùng nhau nói là: “Bắt trói ác Ma, nghiền nát tâm ác, chém đứt mạng chúng, tán nát chư Ma đã gây chướng nạn cho Đức Như Lai, tức là tất cả ác Ma khó điều phục ấy”. Dùng Đại uy lực của Như Lai, ở trong lỗ chân lông hiện ra vị Đại Trượng Phu. Các Chúng Ma ấy buồn thảm té lăn ra đất, đều bị mất: tự tính, thần thông, biện tài…. bỏ chạy tứ tán. Đức Như Lai dùng cây kiếm Đại Bi thắng được Ma cảnh, thành Vô Thượng Bồ Đề, liền chuyển tất cả Như Lai Pháp Luân giống như tất cả Phật. Tất cả loài gây chướng, Tỳ Na Dạ Ca, các Ma ác… thảy đều bị tồi hoại. Đức Như Lai liền chuyển Pháp Luân, vượt khỏi biển lớn sinh tử đến được bờ kia (bờ Giác Ngộ). Như vậy, Đại Phạm! Đà La Ni này có thế lực lớn hay đắc thần thông đi đến bờ kia. Nếu vừa mới khởi ý niệm thì ở nơi hiểm nguy đều được giải thoát, vui thích thanh tịnh, Hữu Tình có tâm ác liền khởi tâm Đại Bi. Vì thế Đại Phạm nên ghi nhớ, tác ý như lý, y theo Pháp viết chép mà thường đeo giữ.

Lại nữa Đại Phạm! Tại thành Ô Thiền Na (Ujayanì) có vị vua tên là Phạm Thí. Thời ấy có một người phạm vào tội nặng, nhà vua ra lệnh giết chết kẻ ấy. Người nhận lệnh đem tội nhân vào trong núi hành tội. Khi vào hang núi, người áp giải tội nhân liền vung đao tính chém chết. Tội nhân kia, lúc trước có đeo Đà La Ni Tùy Cầu Vô Năng Thắng này ở cánh tay phải, nay tâm lại ghi nhớ. Do uy lực của Đại Minh này, nên cây đao ấy lóe ra ánh sáng giống như đám lửa rồi gãy ra từng mảnh như bụi nhỏ. Khi nhìn thấy hiện tượng này, người đao phủ lấy làm kinh ngạc, liền trình báo đầy đủ cho nhà vua hay. Đức vua nghe xong, rất tức giận, lại sai sứ giả đem tội nhân ấy đẩy vào hang Dược Xoa khiến cho chúng Dược Xoa ăn thịt. Người áp lãnh liền đem tội nhân đẩy vào trong hang. Khi tội nhân mới vào hang thì chúng Dược Xoa vui vẻ thích thú chạy ra phía trước, muốn ăn thịt ngay. Do tội nhân ấy đeo Đại Tùy Cầu Uy Đức Lực cho nên chúng Dược Xoa nhìn thấy trên thân thể của tội nhân ấy có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, chúng rất sợ hãi đều nghĩ rằng : “Lửa này muốn thiêu cháy chúng ta”. Do vậy, chúng Dược Xoa liền đẩy tội nhân ra ngoài của hang rồi vây quanh lễ bái. Sứ giả lại trình báo đầy đủ cho vua hay. Nghe xong, nhà vua càng giận dữ hơn nữa, lại sai sứ giả cột tội nhân lại ném xuống sông sâu. Sứ giả vâng lệnh thi hành. Lúc tội nhân ấy vừa rơi xuống sông thì nước sông liền khô cạn giống như bờ đất và tọâi nhân kia liền đứng trên bờ, mảnh lụa trên tay từ từ đứt đoạn. Khi nhà vua nghe qua việc này thì rất kinh ngạc, vui vẻ mỉm cười, sinh đại kỳ đặc liền kêu tội nhân đến hỏi: “Vì sao ngươi lại thoát được nạn ?”. Tội nhân đáp : “Đại Vương ! Sở dĩ tôi được thoát nạn, vì trên thân của tôi có đeo Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng Đại Minh Vương”. Vua liền khen ngợi: “Thật là lạ lùng ! Đại Minh này quả là vi diệu, hay dẹp tan tội chết “, rồi nói Già Đà rằng :

Đại Minh thật vi diệu ! Hay phá tan tội chết

Nơi chư Phật gia trì Cứu giúp các hữu tình

Hay giải thoát bệnh khổ Uy Đức của Đại Minh

Giải thoát sự chết yểu Đại Bi Tôn đã nói

Hay chận bệnh tật lớn Mau chứng Đại Bồ Đề

Bấy giờ, nhà vua vui mừng hớn hở liền lấy Đà La Ni Tùy Cầu đó cúng dường, lễ bái và đem vải lụa cột trên đầu người bị tội, ban cho phép quán đỉnh và xưng là Thành Chủ (5 Pháp của nước Thirên Trúc. Nếu nhận quan vinh, đều dùng vải lụa cột trên đầu, quán đỉnh, sau đó mới nhận chức),

Như vậy Đại Phạm ! Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này. Nếu có người đeo hay cột trên người, thì ở tất cả nơi đều được đại cúng dường. Nếu có chúng sinh tâm ác khó điều phục, liền khởi sanh tâm từ và cùng thuận phục. Vì thế, nên thường đeo giữ Đại Đà La Ni này. Lại nữa Đại Phạm ! Nếu muốn đeo Đà La Ni này thì nên lựa ngày tốt, sao tốt, giờ tốt y theo Pháp viết Đà La Ni ” .

Khi Đại Phạm Vương nghe lời dạy xong thì rất vui vẻ, cúi 5 vóc sát đất đỉnh lễ dưới chân Đức Phật, rồi bạch rằng : “Bạch Thế Tôn ! Dùng phương pháp nào để viết chép Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này ? “

Bấy giờ Đức Như Lai liền nói Già Đa,ø bảo Đại Phạm rằng :

Đại Phạm ! Ông nên biết Nay Ta vì ông nói

Thương xót các hữu tình Khiến được an vui lớn

Mau lìa nghiệp bức bách Giải thoát các bệnh tật

Phụ nữ được mang thai (Cầu con được như ý)

Hữu tình lìa nghèo túng Nghiệp khốn khó đều trừ

Nên vào lúc cát Tú (Sao Tú trực tốt)

Bày sa tú tương ứng (Tinh tú làm bằng cát)

Cần phải giữ Tế Giới Mà cúng dường chư Phật

Phát Tâm Đại Bồ Đề Lại sinh tâm Bi Mẫn

Và khởi Tâm Đại Bi Nghĩ lợi ích cho người

Khắp các loại hữu tình Dùng nước cốt của hương

Long Não, Chiên Đàn hương Mặc quần áo mới sạch

Liền đốt hương xông ướp Nên dùng Cù Ma Di

Tôâ Man Trà La nhỏ Nên lấy năm Hiền Bình

Đều chứa đầy nước thơm Cắm các loại hoa quả

Đặt ở bốn góc Đàn Còn một cái giữa Đàn

Trành hoa và hương đốt Với hương xoa màu nhiệm

Nên đốt Ngũ Vị hương Đàn hương, Táp Tất Ca

Tô Hợp, Trầm, Thạch Mật Hòa hợp rồi thiêu đốt

Đủ mọi thứ diệu hoa Các hoa quả, hạt giống

Tùy thời đem cúng dường Hương xoa dùng nghiêm sức

Tô, Mật và nhũ lạc Miến, lúa và sữa mè

Chứa đầy vật cúng dường Ưùng lượng đều cát tường

Dùng chén bát sành sứ Bốn góc đầy mùi thơm

Cọc gỗ Khư Đà La Đóng ở bốn góc Đàn

Dùng chỉ ngũ sắc cột Nếu cầu xin Tất Địa

Nên ăn Tam Bạch Thực Vẽ Tùy Cầu Nhân này

Nên ngồi chính giữa Đàn Trải chiếu bằng tranh cói

Y Pháp mà tô vẽ Hoặc lụa trắng, lụa màu

Hoặc dùng vỏ cây hoa Hoặc lá hoặc vật khác

Viết Đà La Ni này Người nữ cầu xin con

Nên dùng Ngưu hoàng vẽ Chính giữa đặt Đồng Tử

Anh lạc trang nghiêm thân Bát chứa đầy trân bảo

Dùng tay trái cầm giữ Ngồi ngay trên hoa sen

Lá sen đều nở rộng Lại ở góc phía Tây

Tô vẽ bốn núi báu Dùng vàng báu tô núi

Nghiêm cần nên tô vẽ Hay khiến thai an ổn

Trượng phu cầu xin con Nên dùng Uất Kim vẽ

Ắt việc mong cầu ấy Thảy đều được thành tựu

Ở bốn mặt Chân Ngôn Nên vẽ mọi loại Ấn

Lại vẽ đóa hoa sen Hoặc hai, hoặc ba, bốn

Cho đến năm hoa sen Hoa ấy đều hé nở

Tám cánh đủ râu nhụy Cuống sen dùng lụa buộc

Trên hoa vẽ Tam Kích Trên kích lại treo lụa

Lại vẽ cây búa lớn (Phủ việt) Cũng ở trên hoa sen

Lại vẽ hoa sen trắng Bên trên vẽ cây kiếm

Lại ngay trên hoa sen Tô vẽ ngay Thương Khư

Các hoa sen đã vẽ Đều ở trong ao báu

Nếu trượng phu đeo giữ Chẳng nên vẽ Đồng Tử

Nên vẽ hình Thiên nhân Mọi thứ báu trang nghiêm

Nếu Đế Vương đeo giữ Chính giữa nên tô vẽ

Bồ Tát Quán Tự Tại Lại ở nơi bốn mặt

Vẽ mọi loại Ấn Khế Nếu là Bật Sô đeo

Nên vẽ Trì Kim Cương Phải, cầm chày Kim Cương

Quyền trái dựng ngón trỏ Lại nên ở bốn góc

Tô vẽ bốn Thiên Vương Bà La Môn đeo giữ

Tô vẽ Y Xá Na Nếu Sát Lợi đeo giữ

Vẽ Ma Hê Thủ La Nếu Tỳ Xá đeo giữ

Tô vẽ Thiên Đế Thích Hoặc vẽ Tỳ Sa Môn

Nếu Thị Đà đeo giữ Nên vẽ Na La Diên

Đồng nam hoặc đồng nữ Vẽ Ba Xà Ba Đề

Nữ nhân đeo màu xanh Vẽ Thiên Lô Đà La

Nữ nhân đeo màu trắng Nên vẽ Danh Xưng Thiên

Nếu nữ nhân mập béo Nên vẽ Bảo Hiền Tướng

Người nữ gầy ốm đeo Vẽ Dược Xoa Mãn Hiền

Nếu phụ nữ mang thai Nên vẽ Đại Hắc Thiên

Hoặc vẽ Phạm Thiên Vương Như vậy các loại người

Đều vẽ Bản Sở Tôn Y Pháp mà vẽ chép

Thường đeo ở trên thân Mong cầu đều như ý

Kim Cương làm Hoa Sen Ở trên đặt Bảo Châu

Như Ý, hình Hỏa Diễm Đặt trên đầu cây phướng

Ở trong viên ngọc này Đặt bản Đại Tùy Cầu

Ở trong Tùy Cầu này Vẽ Ấp Thành Chủ kia

Nếu nhà cửa của mình Dựng Tùy Cầu Sát nầy

(tức cõi của Tùy Cầu) Thì vẽ Bản gia chủ

Ở bốn mặt Tùy Cầu Chung quanh vẽ hoa sen

Ở trên nhụy thai hoa Vẽ một sợi dây lụa

Chày Kim Cương, bánh xe Cây côn, Xước Khất Để

(‘sakti) Các Khế Ấn như vậy Đều ngay trên hoa sen

Trên Sát treo phan lụa Y như Pháp cúng dường

Do Tùy Cầu Sát này Hay hộ quốc thành ấp

Và hộ giúp gia tộc Ôn dịch, các bệnh tật

Đói khát chẳng lưu hành Kẻ địch khó xâm hại

Quốc thổ đều an vui Nếu gặp trời quá nắng

Hoặc lúc mưa ứ trệ Nên vẽ Rồng chín đầu

Trên đầu có bảo châu Tỏa ra ánh lửa mạnh

Ngay trên tim của Rồng Vẽ một chày Kim Cương

Ở bốn mặt thân Rồng Vẽ Đại Tùy Cầu này

Đặt ở trong cái rương Cũng đặt trên phướng sát

Tùy thời giáng mưa ngọt (Cam vũ)Mưa ứ trệ liền hết

Thương Chủ dẫn mọi người Hoặc dưới nước trên bờ

Các thương nhân đeo giữ Nên vẽ hình thương chủ

Như trước đặt trên Sát Lìa giặc cướp, sợ hãi

Thảy đều đến bờ kia Vì thế nên siêng năng

Đeo giữ và đọc tụng Cát tường diệt các tội

Nếu là người niệm tụng Nên vẽ Tôn của mình

Nếu Nhật, Nguyệt, Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh)

Thần Tinh với Tuế Tinh Thái Bạch và Trấn Tinh

Tuệ và La Hầu Diệu Nhóm Cửu Chấp như vậy

Lấn bức Bản Mệnh Tú Gây ra các tai họa

Thảy đều được giải thoát Hoặc có người Thạch Nữ

(Phụ nữ không thể sinh con) Phiến Xá Bán Xá Ca

Các loại người như vậy Do đeo Đại Tùy Cầu

Liền có thể có con Nếu loại này đeo giữ

Nên vẽ Cửu Chấp Diệu Hai mươi tám Tú Thiên

Giữa vẽ hình người đó Mong cầu đều như ý

Như Thế Tôn đã nói Đắc được nơi tối thắng

Đời này và đời khác Hay được vui thù thắng

Ba Mươi Ba Thiên Cung Tùy ý liền sinh vào

Vui thích Thiểm Bộ Châu Nhà Tộc Tính tối thắng

Được sinh vào Tộc ấy Hoặc sinh Sát Lợi Thiên

Hoặc nhà Bà La Môn Do đeo Đại Tùy Cầu

Sinh nơi thù thắng này Vẽ chép, giữ, đọc tụng

Y Pháp mà đeo giữ Sinh về cõi An Lạc

Hóa sinh trong hoa sen Quyết định chẳng nghi ngờ

Tất cả chư Như Lai Khen ngợi công đức này

Xưng dương không cùng tận Đóng chặt cửa Địa Ngục

Hay mở lối chư Thiên An lạc đều thành tựu

Trí Tuệ đều viên mãn Chư Phật và Bồ Tát

Thường an ủi người ấy Thân thường thọ khoái lạc

Mạnh khỏe có Đại lực Như Lai thành thật nói

Sẽ được Chuyển Luân Vị An ủi chúng Trời người

Khiến loài tâm ác sợ Tu Đà La Ni này

Chẳng lâu sẽ đắc được Chẳng bị đao gây thương

Thuốc độc và nước lửa Thảy đều chẳng thể hại

Phi mệnh và chết yểu Các tội đều mau lìa

Thấy nghe và chạm thân Ở tất cả thời xứ

Quỷ mỵ và đấu tranh Sợ hãi… đều tiêu diệt

Trùng ác với rắn độc Ngục tù đều giải thoát

Mọi loại tật bệnh nặng Thảy đều trừ diệt hết

Do tu trì Minh này Ở các chúng Ma La

(Mara: chướng, ma chúng) Không ngại được thông đạt

Hay ở tất cả thời Đều được cúng dường lớn

Trong người được tối thắng Gia hộ tu Chân Ngôn

TU HÀNH TÙY CẦU ĐẠI HỘ MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI

PHẨM THỨ HAI

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Đại Phạm, nói Già Đà rằng:

Nay Ta vì ông nói

Việc tu hành Trì Minh

Nói nghi tắc gia hộ

Thương nhớ các hữu tình

Do sự ủng hộ này

Đắc được thành tựu lớn

Các phương sở cư ngụ

Dùng tác gia trì này

Đắc được vô chướng ngại

Tâm quyết định không nghi

Không sợ không nhiệt não

Trừ diệt tất cả Mỵ

Tùy thuận nơi tú diệu

Hay đoạn nghiệp câu tỏa

Aùc thực, ác khiêu mạch (tự nhảy múa)

Yếm thư… đều tiêu diệt

Chẳng bị các oan gia

Lấn hiếp gây thương tích

Ác thị và yếm đảo

Chú dược và trùng độc

Nơi nguy hiểm, địch quân

Nơi oán địch đáng sợ

Tất cả đều tiêu dung

Do lực Đại Tùy Cầu

Chư Phật đều ủng hộ

Nhất Thiết Trí Bồ Tát

Thảy đều tác gia hộ

Duyên Giác và Thanh Văn

Với nhiều chủng loại khác

Trời Rồng đại uy đức

Đều cùng nhau ủng hộ

Người tụng Mật Ngôn này

Do mới vừa nghe qua

Minh Vương Tối Thắng Tôn

Tất cả nơi Vô úy

Mâu Ni nói điều này

Mộng ác, việc làm ác

Sự bức bách cực ác

Bệnh tật vây quấn thân

Bệnh gầy tiêu xương thịt

Với nhiều loại bệnh khác

Đinh sang, các độc thũng

Ác chú với tai họa

Cắn nhai các hữu tình

Làm hữu tình tổn hại

Việc đáng sợ, hại lớn

Thảy đều được trừ diệt

Do gia hộ Đại Minh

Dùng Minh này gia hộ

Sắp chết, được giải thoát

Nếu dùng giấy lụa đen

Đem đến cung Diêm Ma

Mệnh lại tăng tuổi thọ

Do vẽ đeo Đại Hộ

Nếu có người hết mạng

Sau bảy ngày sẽ chết

Vừa vẽ đeo Minh này

Vô Thượng Đại Gia Hộ

Hoặc nếu vừa nghe qua

Y theo pháp gia trì

Nơi nơi được an ổn

Tùy ý thọ an vui

Sáu mươi tám Câu Chi

Một trăm Na Dữu Đa

Ba Mươi Ba chư Thiên

Trợ giúp cho Đế Thích

Đến hộ giúp người này

Tùy toại tác gia hộ

Bốn Đại Hộ Thế Vương

Kim Cương Thủ, Đại Lực

Một trăm Minh Tộc Chúng

Thường gia hộ người ấy

Nhật Thiên và Nguyệt Thiên

Phạm Vương và Tỳ Nữu

Tự Tại, Dạ Ma Thiên

Bảo Hiền với Lực Thiên

Mãn Hiền, Đại Dũng mãnh

Ha Lị Đế cùng con

Bán Già La, Bán Chi

Câu Ma La chúng Chủ

Cát Tường Đại Minh Phi

Đa Văn và Biện Tài

Thương Khí Ni, Hoa Xỉ

Nhất Kế, Đại Uy Đức

Đại Dược Xoa như vậy

Thường thường sẽ ủng hộ

Thạch nữ ngưng sinh con

Mang thai đều tăng trưởng

Thường gia hộ người ấy

Cho đến giữ thọ mệnh

Trượng phu thường được thắng

Nơi chiến đấu sợ hãi

Do mãn các nguyện này

Do y Tịnh Tín Thiên

Các tội đều tiêu diệt

Do vẽ đại minh này

Chư Phật thường quán sát

Đại uy đức Bồ tát

Danh xưng ấy tăng trưởng

Phước thọ cũng như thế

Tài cốc đều phong thịnh

Đắc được thảy không nghi

Ngủ nghỉ và thức tỉnh

Thảy đều được an lạc

Oan gia và quỉ thần

Đều chẳng dám hủy hoại

Lúc đang ở chiến trường

Thường đều được đắc thắng

Nếu lúc tu Mật Ngôn

Hộ này là tối thắng

An vui tu các Minh

Đều được không chướng ngại

Tất cả Mật Ngôn Giáo

Thảy đều được thành tựu

Thâm nhập tất cả Đàn

Mau thành Tam muội gia

Cho đến ở đời sau

Chư phật đều ủy ký

Do trì Đại Hộ này

Các Cát tường đều mãn

Ý nguyện đều thành tựu

Do mới viết Minh này

Tất cả vui (lạc) phong thịnh

An lạc mà xả thọ

Ắt sinh về nẻo lành

Muốn sinh Cực Lạc quốc

Trì đeo Minh Vương này

Quyết định không nghi hoặc

Đấu tranh nơi kiện cáo

Trong chiến trận đáng sợ

Đều mau lìa sợ hãi

Lời Phật nói chân thật

Thường được Túc Mệnh Trí

Đời đời đều không nghi

Quốc vương đều vui vẻ

Quyến thuộc với Hậu Cung

Hết thảy thường cung kính

Thường hoà cùng người thiện

Thảy đều sinh thương xót

Chư Thiên cùng với người

Khiến chở che giúp đỡ

Suốt cả ngày lẫn đêm

Đại Hộ Thành Tựu Minh

Đẳng Chính Giác đã nói.

Bấy giờ Đức Bạc Già Phạm liền nói Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương Đại Tâm Đà La Ni :

Nẵng mô mẫu đà gia (NAMO BUDDHÀYA )

Nẵng mô Đạt Ma dã (NAMO DHARMÀYA)

Ná mạc Tăng Già daõ (NAMO SAMGHÀYA)

Nẵng mô Bà nga phộc đế, xả chỉ-dã mẫu nẵng duệ, ma ha ca lỗ ni ca dã, đát tha nghiệt đá dạ la-ha đế, tam miệu tam mẫu đà dã (NAMO BHAGAVATE ‘SAKYAMANAYE MAHÀ KARUNIKÀYA TATHÀGATÀYA ARHATE SAMYAKSAMBUDDHÀYA Ná mạc táp đáp tỳ-dược tam miệu tam một đệ tỳ-dược (NAMAH SAPTA BHYAH SAMYAKSAMBUDDHE BHYAH) Ế sam, ná mạc sa khất-lị đát-phộc (ESÀM NAMAH SKRTVA) Mẫu đà xả bà nẵng vật-lã đà duệ (BUDDHA ‘SASANA VRDHAYE) A hạ nhĩ ná nãnh-dần (AHAMIDÀNYÀM) Tam bát-la phộc khất-sái mính (SAMPRAVA KSA ME) Tá phộc tát đát-phộc nộ kiếm bả daï (SARVA SATVÀ DAKAMPAYA) I hàm vĩ niệm, ma hạ đế nghệ (IMÀM VIDYA MAHÀ TEJÌ) Ma hạ ma la bả la khất-la hàm (MAHÀ MALA PARÀKRA MÀM) Duệ thấp bà sử đam ma đát-la diễm (YE SYAM BHISITAM MÀTRÀYAM) Phộc nhật-la sa nẵng ma nãnh sử tị (VAJRÀSANA MANÌSIBHI) Cật-la hạ tát phệ vĩ nẵng dã ca (GRAHA SARVE VINÀYAKA) Thất-chế phộc đắc khất-sái noa, vĩ la dựng tát đá (‘SCA VATA KSANA VIRAYAM GATA)Ï Đát nễ dã tha (TADYATHÀ) :

Nghi lị, nghi lị, nghi lị ni (GÌRI GÌRI GIRINI) Nghi lị phộc để (GIRI VATI) Ngu noa phộc để (GUNA VATI) A ca xả phộc để (ÀKÀ’SA VATI) A ca xả truật đệ (ÀKÀ’SA ‘SUDDHE) Bá bả vĩ nga đế (PÀPA VIGATE) A ca thế nga nga nẵng đát lê (ÀKÀ’SE GAGANA TALE) A ca xả vĩ tá lị ni (ÀKÀ’SA VICÀRINI) Nhập-phộc lý đa thất lệ (JVALITA ‘SIRE) Ma ni mục khất-để khư (MANI MUKTI KHA) Tức đa mạo lý đà lệ (CITTA BOLI DHARE)

Tô kế thế (SUKE’SE) Tô phộc khất-đát-lê (SOVAKTRA) Tô mật đát-lệ (SUNÌTRÌ) Tô vạt la-noa mạo lý (SUVARNA BOLI) A để đế , a nỗ đáp-bán ninh ma nẵng nghiệt đế (ATÌTE ANATMAMNI MANA GATE) Bát-la để-luật đáp-bán ninh (PRATYUTMAMNI) Nẵng mạc tát phệ sam mẫu đà nam (NAMAH SARVASÀM BUDDHÀNÀM) Nhập-phộc lý đa đế nhạ tam mẫu đệ (JVALITA TEJA SAMBUDDHE ) Tố mẫu đế (SUBUDDHE) Bà nga phộc để (BHAGAVATE) Tố la khất-sái mính (SURA KSANI)

Tố khất-sái mính (SUKSA ME) Tố bát-la bệ (SUPRABHE) Tố ná mính (SUDAME) Tố nan đế (SUNÀMTE) Tả lệ (CARE) Bà nga phộc để (BHAGAVATE) Bả nại-la phộc để (BHADRA VATI) Bả nại-lệ, tố bả nại-lệ (BHADRE SUBHADRE) Vĩ ma lê nhạ dã bạt nại-lệ (VIMALE JAYA BHADRE) Bát-la tán noa tán nị (PRACANDA CANDI) Phộc nhật-la tán nị (VAJRA CANDI) Ma hạ tán nị (MÀHÀ CANDI) Kiểu lị (GAURI) Hiến đà lị (GANDHÀRI)

Chế tán noa lý (CERI CANDALI) Ma đặng nghĩ (MATAMGI) Phó yết tư xả phộc lị nại-la nhĩ nị (PUKASI ‘SAVARI DRAMINDI) Lao nại-lị ni (RAUDRINI) Tát phộc la-tha sa đà nãnh (SARVÀRTHA SÀDHANE) Hạ nẵng hạ nẵng, tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM) Nhược hạ nhược ha (DAHA DAHA) Tát phộc nột sắt-tra nam (SARVA DUSTANÀM) Tất lệ đa (PRETA) Tỷ xá tả (PI’SACA) Noa chỉ nãnh nam (DAKININÀM) Ma nộ sái (MANUSA) Ma nộ sái nẫm (AMANUSYANÀM) Bả tả bả tả (PACA PACA) Hột-lị nãi diêm vĩ đà-võng sa dã nhĩ vĩ đam (HRDAYA VIDHVAM ‘SAYA JÌVITAM) Tát phộc nột sắt-tra ngật-la hạ nẫm (SARVA DUSTA GRAHÀNÀM) Nẵng xả dã nẵng xả dã (NÀ’SAYA NÀ’SAYA) Tát phộc bá bả nãnh mính (SARVA PÀPAN IME) La khất-sái, la khất-sái hàm (RAKSA RAKSA MÀM Tát phộc tát đát-phộc nan tả (SARVA SATVANÀM CA) Tát phộc bà dữu bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVA BHAYOPADRAVE BHYAH) Tát phộc nột sắt-tra nam (SARVA DUSTANÀM) Mãn đà năng củ lỗ (BANDHANAM KURU) Tát phộc chỉ lý-vĩ sái nẵng xả nãnh (SARVA KILISA NÀ’SANI) Mạt đa nan nị ma nãnh nãnh, tả lê để trí để trí nãnh (MÀTA NANDI MÀNINI CALE TITÏI TITINI) Đốt lai cụ la ni vị la ni (TUTAI GHORANI VÌRANI) Bát-la vạt la tam ma lệ (PRAVARA SAMMARE) Tán noa lý (CANDRI) MA đặng kỳ (MATAMGI) Vạt tạt tư, tố mẫu lỗ yết tư xả phộc lị hướng ca lị nại-la vĩ nị (VACASI SUMURU PUKASI ‘SAVARI ‘SAMKARI DRAVINDI) Nhược hạ nãnh bả tả nãnh mạt ná nãnh (DAHANI PACANI MADANI) Tát la tát la lê (SARA SARALE) Tát la lãm bệ tứ nẵng (SARALAMBHE HÌNA) Mạt địa-dữu đắc-khất sắt-tra (MADHYOKRSTA) Vĩ ná lị ni vĩ đà lị ni ma tứ lý (VIDÀRINI VIDHÀRINI MAHÌLI) Ma hộ ma hộ lý nãnh (MAHO MAHOLINI) Nghiệt nãi nãnh, nghiệt noa bạn tể (GANENI GANA PACE) Mãn đế mãn đế nãnh (BATI BATINI) Mãn đế chước khất-la chỉ nãnh (BATI CAKRA KINI) Nhạ lê tổ lê (JALE CULE) Xả phộc lị xả ma lị xả phộc lị (‘SAVARI ‘SAMARI ‘SAVARI) Tát phộc nhĩ-dã địa hạ la ni (SARVA VYADHI HARANI) Tổ nị tổ nị nãnh (CONDI CONDINI) Nãnh nhĩ nãnh nhĩ nãnh một (NIMI NIMINI NIMIM) Đà lị để-lị lộ ca nhạ hạ nãnh ( DHARI TRILOKA JAHANI) Để-lị lộ ca lộ ca yết lị (TRILOKA LOKA KARI) Đát-lạt đà đổ ca (TRAIDHÀTUKA ) Nhĩ-dã Phộc lộ chỉ nãnh (VYAVALOKINI) Phộc nhật-la bả la thú bả xả khát nga chước khất-la để-lị thú la chấn đá ma ni (VAJRA PARA’SU PÀ’SA KHANÕGA CAKRA TRI’SÙLA CINTAMANI) Ma hạ vĩ nễ-dã đà la ni (MAHÀ VIDYA DHÀRANI) La khất-sái, la khất-sái hàm (RAKSA RAKSA MÀM) Tát phộc tát đát-phộc nan tả (SARVA SATVANÀM CA) Tát phộc đát-la , tát phộc sa-tha nẵng nghiệt đát tả (SARVATRÀ SARVA STHANA GATA SYA Tát phộc nột sắt-tra bà duệ tỳ-dược (SARVA DUSTA BHAYE BHYAH) Tát phộc ma nộ sái ma nộ sái bà duệ tỳ-dược (SARVA MANUSYA AMANUSYA BHAYE BHYAH) Tát phộc vĩ-dã địa tỳ-dược (SARVA VYADHI BHYAH) Phộc nhật-lệ phộc nhật-la phộc để (VAJRE VAJRA VATI) Phộc nhật-la bá ni đà lệ (VAJRAPÀNI DHÀRE) Tứ lý tứ lý (HILI HILI) Nhĩ lý nhĩ lý (MILI MILI) Tức lý tức lý (CILI CILI) Tất lý (SILI) Phộc la phộc la phộc la nễ (VARA VARA VARANI) Tát phộc đát-la nhạ dã lạp đệ Sa-phộc hạ (SARVATRÀ JAYA LAMDHI SVÀHÀ). Bá bả vĩ ná la ni (PÀPA VIDÀRANI) Tát phộc nhĩ-dã địa ha la ni Sa-phộc hạ (SARVA VYADHI HÀRANI SVÀHÀ). Tát phộc đát-la bà dã hạ la ni Sa-phộc hạ (SARVATRÀ BHAYA HARANI SVÀHÀ) . Bổ sắt-trí sa-phộc sa-để bà phộc đổ ma ma (….) Sa-phộc haï (PUSTI SVASASTIRBHAVATU MAMA (…) SVÀHÀ) . Phiến để Sa-phộc hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ) . Bổ sắt-trí Sa-phộc hạ (PUSTI SVÀHÀ) . Nhạ dã đô nhạ duệ nhạ dã phộc để (JAYA TUJAYE JAYAVATI) Nhạ dã vĩ bổ la vĩ ma lê Sa-phộc hạ (JAYA VIPULA VIMALE SVÀHÀ) . Tát phộc đát tha nghiệt đa, địa sắt-xá nẵng, bố la-để Sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA ADHISTANA PURTI SVÀHÀ) . Án- Bộ lị bộ lị phộc nhật-la phộc để (OM- BHURI BHURI VAJRAVATI) Đát tha nghiệt đa hột-lị nãi dã bố la ni tán đà la ni (TATHÀGATA HRDAYA PURANI SANDHÀRANI) Mạt la mạt la nhạ dã vĩ nễ-duệ (BALA BALA JAYA VIDYE ) Hồng hồng (HÙM HÙM) Phát tra phát tra (PHAT PHAT) Sa-phộc hạ (SVÀHÀ).

Nếu có người dùng câu cú cuả Như Lai Thân Minh Đà La Ni tác cứu tế nhiếp thọ gia hộ, hay làm pháp Tức Tai, pháp Cát Tường che chận sự trách phạt, thành Đại Gia Hộ.

Nếu có người sắp hết thọ mệnh, tụng Chân Ngôn này lại được diên mệnh tăng thọ, mạng sống kéo dài, thường được an vui, được Đại niệm trì.

Nếu dùng chày Kim Cương vừa tụng niệm gia trì, giả sử có bị tai họa, đại tật phi mệnh đều được giải thoát. Tất cả bệnh tật đều được trừ diệt. Người bị bệnh hoạn lâu ngày, tụng Chân Ngôn này gia trì vào góc áo Cà Sa rồi đem phủi phất lên người đó, thì bệnh liền được trừ khỏi.

Người trì tụng hàng ngày sẽ được đại thông tuệ, thành tựu được uy lực, đại cần dũng, biện tài. Tất cả tội chướng đã định theo nghiệp báo thảy đều trừ diệt. Tất cả Phật, Bồ Tát, Trời, Rồng, Dược Xoa… đối với người thọ trì Đà La Ni này sẽ khiến cho Tinh Khí nhập vào thân để gia tăng uy lực, làm cho thân tâm thường được vui thích.

Này Đại Phạm ! Đại Minh Vương Đại Hộ Đà La Ni này. Nếu có người cho đến loài bàng sinh, cầm thú được nghe qua tai thì hết thảy các loại ấy vĩnh viễn chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề, huống chi kẻ trai lành, người nữ thiện có tịnh tín (niềm tin trong sạch), Bật Sô, Bật Sô Ni, Ô Bà Tố Ca, Ô Bà Tư Ca, Quốc Vương, Vương Tử, Bà La Môn, Sát Lợi với các loại khác một lần nghe qua Đà La Ni Đại Tùy Cầu Đại Hộ này. Nghe xong, thân tâm tịnh tín, cung kính viết chép, đọc tụng, sinh tâm ân trọng tu tập, vì người khác rộng diễn lưu bố. Đại Phạm ! Ông nên biết người này thảy đều mau chóng xa lìa 8 loại Phi Mệnh. Trong thân người đó chẳng sinh bệnh tật, người đó chẳng bị lửa, độc, đao, gậy, trùng độc, yểm đảo, chú trớ, các pháp thuốc ác gây tổn hoại, đồng thời chẳng bị đau nhức thân thể, đau nhức đầu, các bệnh sốt rét phát theo chu kỳ 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày cho đến 7 ngày phát ra một lần và cũng chẳng bị các bệnh điên cuồng, thần kinh. Do người này chính niệm ngủ nghỉ, chính niệm giác ngộ nên mau chóng chứng Đại Niết Bàn. Đời này được đại phú quý tự tại. Khi sinh ra, ở khắp mọi nơi thường được Túc Mệnh. Tất cả Người, Trời thảy đều yêu kính, dung nghi đoan chính, đều được thoát khỏi tất cả nẻo Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sinh, giống như mặt trời tỏa sáng chiếu soi tất cả hữu tình, hay như mặt trăng đem nước Cam Lộ rưới vẩy lên thân của tất cả hữu tình, khiến cho yêu thích người đó. Dùng pháp Cam Lộ nhập vào trong tâm tương tục của tất cả hữu tình, khiến cho Từ Trạch hoan hỷ.

Đối với tất cả hàng Dược Xoa, La Sát, Bộ Đa, Tất Lệ Đa, Tất Xá Già, Điên Giản Quỷ (Quỷ điên cuồng) Noa Chỉ Ninh (Dakini) chư Mỵ, Tỳ Na Dạ Ca hung ác … thảy đều dùng uy lực đại hộ của Đại Tùy Cầu, khiến cho chúng chẳng dám xâm não.

Nếu đến vùng lân cận, ghi nhớ Đại Hộ Minh Vương này thì tất cả loài có tâm ác đối với người trì tụng, sẽ phát sinh lòng vui vẻ, thọ giáo rồi bỏ đi. Do uy lực của Đại Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương này, cuối cùng không có oán địch sợ hãi vì các oán địch đó chẳng dám lấn bức. Hoặc nếu có người lỡ bị phạm tội với Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn mà bị xử tội chết. Vào lúc thọ hình sắp bị đao kiếm chặt chém, nếu vừa ghi nhớ Đại Hộ Minh Vương thì cây đao ấy sẽ gẫy nát từng đoạn giống như bụi nhỏ. Người thọ tội ấy liền được gặp tất cả Pháp bình đẳng và được lực Đại Niệm”.

Bấy giờ Đức Như Lai nói Già Đà rằng:

Đại Hộ gia trì này

Thanh tĩnh diệt các tội

Hay tác Tuệ cát tường

Tăng trưởng các công đức

Hay mãn các Cát Khánh

Hay gặp mộng tươi đẹp

Hay tĩnh các mộng ác

Đại Minh Đại Hộ này

Giúp trượng phu, người nữ

Trong khoảng khắc giải thoát

Nơi trống vắng hiểm nguy

Được các nguyện mong ước

Như Chính Đẳng Giác nói

Nếu bị mất lối đi

Niệm Đại Minh Vương này

Mau chóng được Chính Đạo

Được ăn uống thù thắng

Dùng Nghiệp thân khẩu ý

Thời trước gây các tội

Chẳng hề làm nghiệp lành

Vừa nhớ đến Minh này

Thảy đều được tiêu diệt

Viết chép và thọ trì

Chuyển đọc và niệm tụng

Vì người khác diễn nói

Các Pháp đều thông đạt

Như vậy được Pháp Vị

Các tội đều tiêu diệt

Tâm Ý cầu niềm vui

Các việc đều thành tựu

Trong cái chết, sợ hãi

Thảy đều được cứu hộ

Vua, Quan với nước, lửa

Sương, mưa đá, trộm cướp

Chiến đấu và kiện cáo

Nạn thú răng vuốt bén

Tất cả đều tiêu dung

Ở núi tụng lạc xoa

Liền thành tựu Minh này

Tất cả chư Phật nói

Xưng tụng đều hoan hỷ

Mãn tư lương Bồ Đề

Tất cả nơi trú ngụ

Nếu dùng Đại Minh này

Tạo tác nơi gia trì

Muốn làm các sự nghiệp

Nên lợi ích ta, người

Nhậm vận được thành tựu

Dùng Đại Hộ không ngại

Đại Phạm ! Ông nên biết

Nay Ta lại diễn nói

Vì người bị bệnh nặng

Nên làm bốn Đàn vuông

Cù Ma hòa bùn đất

Dùng phấn ngũ sắc vẽ

Mà làm Man Noa La

Đặt bốn bình bốn góc

Bậc Trí y nghi quỹ

Rải các hoa trên Đàn

Nên đốt hương thù thắng

Dâng mọi thức ăn uống

Khiến người thấy tịnh tín

Như vậy dùng hương hoa

Y theo pháp phụng hiến

Bốn góc cắm bốn (mũi) tên

Dùng chỉ ngũ sắc quấn

Khiến người bệnh tắm gội

Mặc quần áo thanh tịnh

Toàn thân bôi dầu thơm

Dẫn vào chính giữa Đàn

Ngồi đối mặt phương Đông

Bấy giờ người Trì Minh

Tụng Đại Minh này trước

Khiến đầy đủ bảy biến

Tự gia trì thân mình

Tiếp tụng hăm mốt biến

Gia trì cho người bệnh

Do tụng Đại Hộ này

Các bệnh đều ngưng trừ

Liền lấy một bình nước

Đầy hương hoa ẩm thực

Tác gia hộ bảy lần

Mau ném về phương Đông

Tiếp lấy bình phương Nam

Hương hoa, thực như giáo

Như trước tụng bảy biến

Mau ném về phương Nam

Tiếp dùng bình phương Tây

Hương hoa, thức ăn uống

Y Pháp gia trì trước

Phương Bắc cũng như vậy

Bấy giờ người trì tụng

Ngửa mặt hướng phương trên

Tụng Minh này một biến

Thành gia trì thù thắng

Đại Phạm ! Làm xong rồi

Tất cả khổ đều trừ

Pháp gia trì như vậy

Thích Sư Tử đã nói

Trong tất cả các Pháp

Không có gì sánh bằng

Hộ thắng trong ba cõi

Người đó không chết yểu

Không già cũng không bệnh

Khổ : Oán Tằng, Ly Biệt

Nếu hay lại Lý Quán

Tâm xa lìa buồn khổ

Chúng Diêm Ma cúng dường

Pháp Vương cõi Diêm Ma

Cung kính mà thừa sự

Bảo người Trì Minh ấy

Mau qua nơi Thiên Thú

Do Đại Minh này nên

Địa Ngục đều hết sạch

Ắt ngự Cung Điện diệu

Đủ uy lên trời cao

Tất cả Người và Trời

Chúng Dược Xoa, La Sát

Hết thảy đều cúng dường

Thường sẽ được phước này

Vì thế thường thọ trì

Bồ Tát Kim Cương Thủ

Bí Mật Dược Xoa Tướng

Đế Thích, Xá Chi, Hậu

Chúng Ha Lị Đế Mẫu

Bán Chi Ca Dược Xoa

Hộ Thế Thiên Uy Đức

Nhật, Nguyệt và Tinh Tú

Chấp Diệu, loài mãnh ác

Tất cả Đại Long Vương

Chư Thiên và Tiên Chúng

A Tu La và Rồng

Kim Xí, Càn Đạt Bà

Khẩn Na, Ma Hầu La

Do viết đeo Minh này

Luôn luôn theo tùy toại

Do y Pháp tụng trì

Đắc được đại vinh ích .

Khi Đức Thế Tôn nói Kinh này xong, các Đại Bồ tát, Đại Thanh Văn chúng và Đại Phạm Thiên, tất cả hàng Trời, Rồng, Dược Xoa, A Tu La, Càn Đạt Bà, Nghiệt Lệ Trà, Khẩn Na La, Ma Hô La Già, Nhân, Phi nhân … đều rất vui vẻ, tin nhận phụng hành.

Chân Ngôn sau đây y theo Bản đời Minh (c.f- P.618b)

Nẵng mô tát phộc tát tha nga đa nam (NAMAH SARVA TATHÀGATÀNÀM) . Nẵng mô nẵng mạc (NAMO NAMAH) Tát phộc một đà mạo độc tát đa phộc (SARVA BUDDHA BODHISATVA) Một đà đạt ma, Tăng khế tỳ dược (BUDDHA DHARMA SAMGHE BHYAH).

Án- (OM) Vĩ bổ la nghiệt bệ (VIPULA GARBHE) Vĩ bổ la vĩ ma lê (VIPULA VIMALE) Nhạ dã nghiệt bệ (JAYA GARBHE) Phộc nhật la nhập phộc la nghiệt bệ (VAJRA JVALA GARBHE) Nga đễ nga hạ ninh (GATI GAHANE) Nga nga nẵng vĩ thú đã ninh (GAGANA VI’SODHANE) Tát phộc bá bả vĩ thú đã ninh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) . Án- (OM) Ngu noa phộc để (GUNA VATI) Nga nga lị nê ni (GAGARININI) Nghĩ lị nghĩ lị (GIRI GIRI) Nga ma lị, nga ma lị (GAMÀRI GAMÀRI) Ngược hạ ngược hạ (GAHA GAHA) Nghiệt nga lị, ngược nga lị (GARGÀRI GARGÀRI) Nga nga lị, nga nga lị (GAGARI GAGARI) Nghiêm bà lị, nghiêm bà lị (GAMBHARI GAMBHARI) Nga để nga để (GATI GATI) Nga ma nãnh nga lệ (GAMARI GARE) Ngu lỗ ngu lỗ (GÙRU GÙRU) Ngu lỗ ni (GÙRUNE) Tả lê (CALE) A tả lê (ACALE) Mẫu tả lê (MUCALE) Nhạ duệ (JAYE) Ni nhạ duệ (VIJAYE) Tát phộc bà dã vĩ nga đế (SARVA BHAYA VIGATE) Nghiệt bà tam bà la ni (GARBHA SAMBHARANI) Tất lị tất lị (SIRI SIRI) Nhĩ lị nhĩ lị (MIRI MIRI) Kỳ lị kỳ lị (GHIRI GHIRI).

– Tam mãn đá ca la sái ni (SAMANTA AKARSANI) – Tát phộc thiết đốt lỗ bát la mạt tha nãnh (SARVA ‘SATRÙ PRAMARTHANI) – La khất sái, la khất sái, ma na (mỗ giáp) tát phộc tát đa phộc nam tá (RAKSA RAKSA MAMA (….) SARVA SATVANÀM CA) – Vĩ lị vĩ lị (VIRI VIRI) – Vĩ nga đá phộc la noa (VIGATA AVARANA) – Bà dã nẵng xả nãnh (BHAYA NÀ’SANI) – Tô lị tô lị (SURI SURI) – Tức lị kiến ma lê (CILI KAMALE) – Vĩ ma lê (VIMALE) – Nhạ duệ (JAYE) – Vĩ nhạ duệ (VIJAYE) – Nhạ dạ phộc hề (JAYA VAHE) – Nhạ dạ phộc để (JAYA VATI) – Bà nga phộc để tha đát nẵng ma củ tra nha đà lị (BHAGAVATI RATNA MAKUTA MALA DHÀRI) – Ma hộ vĩ vĩ đà vĩ tức đát la (BAHU VIVIDHA VICITRA) – Phệ sái lỗ bả đà lị ni (VESA RÙPA DHÀRANI) – Bà nga phộc để ma hạ vĩ nễ dã nê vĩ (BHAGAVATI MAHÀ VIDYA DEVI) – La khất sái, la khất sái ma ma (Tôi tên là….) (RAKSA RAKSA MAMA….) – Tát phộc tát đa phộc nam tá (SARVA SATVANÀM CA) – Tam mãn đá tát phộc đát la (SAMANTA SARVATRÀ) – Tát phộc bá bả vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) – Hộ lỗ hộ lỗ (HURU HURU). Nặc khất sát đát la ma la đà lị ni (NAKSATRA MÀLÀ DHÀRINI) – La khất sái, la khất sái Hàm, ma ma (Tôi tên là…) (RAKSA RAKSA MAMA…..) – A nẵng tha tả (ANÀTHA SYA). Đát la noa bả la gia noa tả (ATRÀNA PARÀYANA SYA) – Bả lị mô tá dã ninh (PARIMOCA YA ME) – Tát phộc nậu khế tỳ dược (SARVA DUHKHE BHYAH) – Chiến ni chiến ni ( CANDI CANDI) – Chiết nị nẵng phệ nga phộc để (CANDINI VEGA VATI) – Tát phộc nột sắt-tra nãnh phộc la ni (SARVA DUSTA NIVARANI) – Thiết đốt lỗ, bác khất xoa bát la mạt tha nãnh (‘SATRÙ PAKSA PRAMATHANI) – Vĩ nhạ dã phộc tứ nãnh (VIJAYA VÀHINI) – Hộ lỗ , Hộ lỗ (HURU HURU) – Mẫu lỗ, Mẫu lỗ (MURU MURU) – Tổ lỗ, Tổ lỗ (CURU CURU) – A dục Á la nãnh (AYUH PÀLANI) – Tô la phộc la mạt đà nãnh (SURA VARA MATHANI) – Tát phộc nê phộc đá bố tỷ đế (SARVA DEVATA PÙJITE) – Địa lị, địa lị (DHIRI DHIRI) – Tam mãn đá phộc lộ chỉ đế ( SAMANTA AVALOKITE) – Bát la bê, Bát la bệ (PRABHE PRABHE) – Tô bát la bà vĩ truật đệ (SUPRABHA VI’SUDDHE) – Tát phộc bá bả vĩ thú đà nãnh (SARVA PÀPA VI’SODHANE) – Đạt la đạt la (DHARA DHARA) – Đạt la ni đà la đạt lệ (DHÀRANI DHARA DHARE) – Tô mẫu tô mẫu (SUMU SUMU) – Lỗ lỗ tá lê (RURU CALE) – Tá la gia nộ sắt-tra (CALÀYA DUSTA) – Bố la dã mính, A Thiêm (PÙRAYA ME À’SAM) – Thất lị phộc bổ đà nan nhạ dã kiếm ma lê (‘SRÌ VAPUDHANAM JAYA KAMALE) – Khất sử ni khất sử ni (KSINI KSNI) – Tát phộc nê phộc la năng củ thế (SARVA VARADE VARA ANÕKU’SE).

Án- Bát nột ma vĩ truật đệ (OM- PADMA VI’SUDDHE) – Thú đà dã thú đà dã (‘SODHAYA ‘SODHAYA) – Thuấn đệ (‘SUDDHE) – Bả la bả la (BHARA BHARA) – Tị lị tị lị (BHIRI BHIRI) – Bộ lỗ bộ lỗ (BHURU BHURU) – Mộng nga la vĩ thuấn đệ (MAMGALA VI’SUDDHE) – Bả vĩ đát la mục nghiệt (PAVITRA MUKHI) – Khất nghĩ ni Khất nghĩ ni (KHARGANI KHARGANI) – Khư la khư la (KHARA KHARA) – Nhập phộc lý đá Thủy khát lệ (JVALITA ‘SIRE) – Tam mãn đa bát-la sa lị đá phộc bà tất đa truật đệ (SAMANTA PRASARITA VABHASITA ‘SUDDHE) – 101. Nhập-phộc la, nhập-phộc la (JVALA JVALA) – Tát phộc nê phộc nga noa tam ma ca la-sái ni (SARVA DEVAGANA SAMA AKARSANI) – Tát để-dã phộc đế đá la đát la đá lị dã hàm (SATYA VATI TARA TARA TÀRÀYA MAM) – Nẵng nga vĩ lộ chỉ đế (NÀGA VILOKITE) – La hộ la hộ (LAHU LAHU) – Hộ nỗ hộ nỗ (HUNU HUNU) – Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) – Tát phộc nghĩ-la hạ bạc khất-sái ni (SARVA GRAHA BHAKSANI) – Nga lị băng nga lị (GALI PIMGALI) – Tổ mẫu tổ mẫu (CUMU CUMU) – Tô mẫu tô mẫu (SUMU SUMU) – Tổ mẫu tả lệ (CUVI CARE) – Đa la đa la (TARA TARA ) – Nẵng nga vĩ lộ chỉ nãnh đá la dã đổ hàm (NÀGA VILOKINA TÀRÀYA TUMAM) – Bà nga phộc để a sắt-tra ma hạ bà duệ tỳ-dược (BHAGAVATE ASTA MAHÀ BHAYE BHYAH) – Tam muộn nại-la sa nga la bát lị-dần đảm (SAMUDRA SÀGARA PRATYANTÀM) – Bá đá la nga nga nẵng đát-lam tát phộc đát-la (PÀTÀLA GAGANA TALAM SARVATRÀ) – Tam mãn đế nẵng nễ xả mãn đệ nẵng (SAMANTENA DI’SA BANDHENA) – Phộc nhật-la bát-la ca la. Phộc nhật-la bá xả mãn đạn mật nẵng (VAJRA PRÀKÀRA VAJRA PA’SA BANDHANE) – Phộc nhật-la nhập-phộc la vĩ truật đệ (VAJRA JVALA VI’SUDDHE) – Bộ lị bộ lị (BHURI BHURI) – Nghiệt bà phộc để, nghiệt bà vĩ thú đà nãnh (GARBHA VATI GARBHA VI’SODHANE) – Quynh khất-sử tam bố la ni (KUKSI SAMPÙRANI) – Nhập-phộc la, nhập-phộc la (JVALA JVALA) Tá la tá la (CALA CALA) – Nhập-phộc lý nãnh, bát-la vạt sái đỗ nê phộc (JVALANI PRAVASATU DEVA) – Tam mãn đế nẵng nễ miễu ná kế nẵng (SAMANTENA DIDHYOKENA) – A mật-lật đa phộc la-sái nê (AMRTA VARSANI) – Nê phộc đá phộc đá la ni (DEVATÀ DHÀRANI) – A tỵ tru giả đổ minh (ABHISIMCA TUME) – Tô nga đa phộc la phộc tá nẵng mật-lật đa (SUGATA VARA VACANA AMRTA) – Phộc la phộc bổ lệ la khất-sái la khất-sái ma ma (Tôi tên là….) (VARA VAPUSPE RAKSA RAKSA MAMA…..) – Tát phộc tát đa phộc nan tá (SARVA SATVÀNÀM CA Tát phộc đát-la tát phộc ná tát bà duệ tỳ-dược (SARVATRÀ SARVADÀ SARVA BHAYE BHYAH) -Tát mạo bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVOPADRAVE BHYAH) – Tát mạo bả tăng nghê tỳ-dược (SARVOPASARGE BHYAH) – Tát phộc nột sắt-tra bà dã tị đát tả (SARVA DUSTA BHAYA BHÌTA SYA) – Tát phộc ca lý ca la hạ vĩ nghiệt-la hạ vĩ phộc ná nậu tát-phộc bả-nan (SARVA KÀLI KALAHÀ VIGRAHA VIVÀDA DUHSVAPNÀM) – Nột nãnh nhĩ đá mộng nga la bá bả vĩ nẵng xả nãnh (DURNI MINTA AMAMGALLYA PÀPA VINA’SANI) – Tát phộc dược khất-xoa, la khất-sái sa (SARVA YAKSA RAKSASA) – Nẵng nga nãnh phộc la ni (NÀGA NIVARANI) – Ma la ma la (BALA BALA) – Ma la phộc để (BALA VATI) – Nhạ dã nhạ dã (JAYA JAYA) – Tát phộc đát-la, tát phộc ca lam (SARVATRÀ SARVA KÀRAM) – Tất điền đổ minh ế hàm, ma hạ vĩ niệm sa đà dã, sa đà dã (SIDDHYAM TUME IMAM MAHÀ VIDYA SÀDHAYA SÀDHAYA) – Tát phộc mạn noa la sa đà nãnh (SARVA MANDALA SÀDHANI) – Già đa dã, tát phộc vĩ-cận nẵng (GHÀTAYA SARVA VIGHNAM) – Nhạ dã nhạ dã (JAYA JAYA) – Tất đệ, tất đệ, tô tất đệ (SIDDHE SIDDHE SUSIDDHE) – Tất địa-dã, tất địa-dã (SIDDHYA SIDDHYA) – Một địa-dã, một địa-dã (BUDDHYA BUDDHYA) – Bố la dã, bố la dã (PÙRAYA PÙRAYA) – Bố la ni, bố la ni (PÙRANI PÙRANI) Bố la dạ, a thiêm (PÙRAYA À’SAM) – Tát phộc vĩ nễ-dã (SARVA VIDYA) – Nhạ dã đa lị nhạ dạ phộc để (JAYOTTARI JAYAVATI) – Để sắt-tra, để sắt-tra (TISTA TISÏTÏA) – Tam ma dã ma noa bá la dã (SAMAYAM ANUPÀLAYA) – Đát tha nghiệt đa hột-lị nãi dã thuấn đệ nhĩ-dã phộc lệ ca dã hàm (TATHÀGATA HRDAYA ‘SUDDHE VYAVALOKAYA MAM) – A sắt-tra tị ma hạ ná lỗ noa bà thường (ASTA BHI MAHÀ DÀRUNA BHAYAM) – Tát la tát la (SARA SARA) – Bát-la tát la, bát-la tát la (PRASARA PRASARA) – Tát phộc phộc la noa vĩ thú đà nãnh (SARVA AVARANA VI’SODHANE) – Tam mãn đá ca la mạn noa la vĩ thuấn đệ (SAMANTA KÀRA MANDALA VI’SUDDHE) – Vĩ nga đế, vĩ nga đế (VIGATE VIGATE) – Vĩ nga đa ma la vĩ thú đà nãnh (VIGATA MALA VI’SODHANE) – Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI KSINI) – Tát phộc bá bả vĩ thuấn đệ (SARVA PÀPA VI’SUDDHE) – Ma la vĩ nghiệt đế (MARA VIGATE) – Đế nhạ phộc để, phộc nhật-la phộc để, đát-lại lộ chỉ-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (TEJAVATI VAJRAVATI TRAILOKYA ADHISTITE SVÀHÀ). Tát phộc đát tha nghiệt đa một đá tỳ sắc khất-đế, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA BUDDHA ABHISIKTE SVÀHÀ). Tát phộc mạo địa tát đa-phộc tỳ sắc khất-đế, sa-phộc hạ (SARVA BODHISATVA ABHISIKTE SVÀHÀ). Tát phộc nê phộc đá tỳ sắc khất-đế, sa-phộc hạ (SARVA DEVATÀ ABHISIKTE SVÀHÀ). Tát phộc đát tha nga đa hột-lị nãi dạ địa sắt-xỉ đa hột-lị nãi duệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA HRDAYE SVÀHÀ). Tát phộc đát tha nga đa tam ma dã tất đệ, sa-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA SAMAYA SIDDHE SVÀHÀ). Ấn nại-lệ, ấn nại-la phộc để, ấn nại-la nhĩ-dã phộc lộ chỉ đế, sa-phộc hạ (INDRA INDRAVATI INDRA VYAVALOKITE SVÀHÀ). Một-la hám-minh. Ba-la hám-ma để-dữu sử đế, sa-phộc hạ (BRAHME BRAHMA ADHYUSTE SVÀHÀ). Vĩ sắt-nỗ nẵng mạc tắc-khật-lị đế, sa-phộc hạ (VISNU NAMASKRTE SVÀHÀ). Ma hê thấp-phộc la mãn nễ đa bố nhĩ đá duệ, sa-phộc hạ (MAHE’SVARA VANDITA PÙJITAYE SVÀHÀ). Phộc nhật-la đà la, phộc nhật-la bá ni, ma la vĩ lị-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (VAJRADHARA VAJRAPÀNI BALA VÌRYA ADHISTITE SVÀHÀ). Địa-lã đa la sắt tra-la dã, tát-phộc hạ (DHRTARÀSTRÀYA SVÀHÀ). Vĩ lỗ trà ca dã, tát-phộc hạ (VIRÙDHAKÀYA SVÀHÀ). Vĩ lỗ bá khất-sái dã, tát-phộc hạ (VIRÙPAKSAYA SVÀHÀ). Phệ thất-la ma noa dã, tát-phộc hạ. Tạt đốt ma hạ la nhạ nẵng mạc tắc-khất-lị đa dã, tát-phộc hạ (VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ. CATUR MAHÀ RÀJA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ). Diễm ma dã, tát-phộc hạ (YAMMÀYA SVÀHÀ). Diễm ma bố nhĩ đa nẵng mạc tắc-khất-lị đa dã, tát-phộc hạ (YAMMA PÙJITA NAMASKRTÀYA SVÀHÀ). Phộc lỗ noa dã, tát-phộc hạ (VARUNÀYA SVÀHÀ). Ma lỗ đá dã, tát-phộc hạ (MURÙTÀYA SVÀHÀ). Ma hạ ma lỗ đá dã, tát-phộc hạ (MAHÀ MARÙTÀYA SVÀHÀ). A ngân-nẵng duệ, tát-phộc hạ (AGNAYE SVÀHÀ). Nẵng nga vĩ lộ chỉ đá dã, tát-phộc hạ (NÀGAVILOKITÀYA SVÀHÀ). Nê phộc nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (DEVAGANE BHYAH SVÀHÀ). Nẵng nga nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (NÀGAGANE BHYAH SVÀHÀ). Dược khất-sái nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (YAKSAGANE BHYAH SVÀHÀ). La khất-sái sa nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (RAKSASAGANE BHYAH SVÀHÀ). Ngạn đạt phộc nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (GANDHARVAGANÏE BHYAH SVÀHÀ). A tô la nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (ASURAGANE BHYAHÏ SVÀHÀ). Nga lỗ noa nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (GARUDAGANE BHYAH SVÀHÀ). Khẩn na la nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (KINNARAGANE BHYAH SVÀHÀ). Ma hộ la nga nga nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (MAHORAGAGANE BHYAH SVÀHÀ). Ma nộ sái tỳ-dược, tát-phộc hạ (MANU SYE BHYAH SVÀHÀ). A ma nộ sái tỳ-dược, tát-phộc hạ (AMUNU SYE BHYAH SVÀHÀ). Tát phộc nghiệt-la hệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (SARVA GRAHE BHYAH SVÀHÀ). Tát phộc bộ đế tỳ-dược, tát-phộc hạ (SARVA BHÙTE BHYAH SVÀHÀ). Tát-lị đế tỳ-dược, tát-phộc hạ (PRETE BHYAH SVÀHÀ). Tỉ xả tế tỳ-dược, tát-phộc hạ (PI’SACE BHYAH SVÀHÀ). A bả sa-ma lệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (APASMARE BHYAH SVÀHÀ). Cấm bạn nãi tỳ-dược, tát-phộc hạ (KUMBHÀNDE BHYAH SVÀHÀ). Án, độ lỗ độ lỗ, tát-phộc hạ (OM-Ï DHURU DHURU SVÀHÀ). Án, đổ lỗ đổ lỗ, tát-phộc hạ (OM- TURU TURU SVÀHÀ). Án, mẫu lỗ mẫu lỗ, tát-phộc hạ (OM- MURU MURU SVÀHÀ). Hạ nẵng hạ nẵng tát phộc nột đổ-lỗ nẫm, tát-phộc hạ (HANA HANA SARVA ‘SATRÙNÀM SVÀHÀ). Ná hạ ná hạ tát phộc nột sắt-tra bát-la nột sắt-tra nẫm, tát-phộc hạ (DAHA DAHA SARVA DUSTA PRADUSTANÀM SVÀHÀ). Bát tá bát tá tát phộc bát-la để-dã vẫn ca, bát-la để-dã nhĩ đát-la nẫm (PACA PACA SARVA PRATYARTHIKA PRATYÀMITRANÀM) – Duệ, ma ma, a tứ đế sử noa nhập , đế sam tát phệ sam xả lị lam, nhập-phộc la dã, nột sắt-tra tức đa nẫm, tát-phộc hạ (YE MAMA…. AHITESINA TESAM SARVESÀM ‘SARIRAM JVALÀYA ADUSTA CITTÀNÀM SVÀHÀ). Nhập-phộc lý đá dã, tát-phộc hạ (JVALITÀYA SVÀHÀ Bát-la nhập-phộc lý đá dã, tát-phộc hạ (PRAJVALITÀYA SVÀHÀ). Nễ bả-đa nhập-phộc la dã, tát-phộc hạ (DÌPTA JVALÀYA SVÀHÀ). Tam mãn đa nhâïp-phộc la dã, tát-phộc hạ (SAMANTA JVALÀYA SVÀHÀ). Ma ni bạt nại-la dã, tát-phộc hạ (MANI BHADRÀYA SVÀHÀ). Bố la-noa bả nại-la dã , tát-phộc hạ (PÙRNA BHADRÀYA SVÀHÀ). Ma hạ ca la dã, tát-phộc hạ (MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ). Ma để-lị nga noa dã, tát-phộc hạ (MATRGANÀYA SVÀHÀ). Dã khất-sử ni nẫm, tát-phộc hạ (YAKSANÌNÀM SVÀHÀ). La khất-sái tỷ nẫm, tát-phộc hạ (RAKSASÌNÀM SVÀHÀ). A ca xả ma để-lị nẫm, tát-phộc hạ (ÀKA’SA MATRNÀM SVÀHÀ). Tam mẫu nại-la phộc tỷ nãnh nẫm, tát-phộc hạ (SAMUDRA VÀSINÌNÀM SVÀHÀ). La để-lị tạt la nẫm, tát-phộc hạ (RÀTR CARÀNÀM SVÀHÀ). Nễ phộc sa tạt la nẫm, tát-phộc hạ (DIVASA CARÀNÀM SVÀHÀ). Để-lị tán đình tạt la nẫm, tát-phộc hạ (TRISANTYA CARÀNÀM SVÀHÀ). Vĩ la tạt la nẫm, tát-phộc hạ (VELA CARÀNÀM SVÀHÀ). A vĩ la tạt la nẫm, tát-phộc hạ (AVELA CARÀNÀM SVÀHÀ). Nghiệt bà hạ lê tỳ-dược, tát-phộc hạ (GARBHA HÀRE BHYAH SVÀHÀ). Nghiệt bà tán đà la ni, tát-phộc hạ (GARBHA SANDHÀRANI SVÀHÀ). Hộ lỗ hộ lỗ, tát-phộc hạ (HULU HULU SVÀHÀ). Án-tát-phộc hạ (OM- SVÀHÀ). Tát-phộc, tát-phộc hạ (SVÀH SVÀHÀ). Bộc, tát-phộc hạ (BHÙH SVÀHÀ). Bộ-phộc, tát-phộc hạ (BHÙVÀH SVÀHÀ). Án- bộ la-bộ phộc sa-phộc, tát-phộc hạ (OM- BHÙRBHÙVÀH SVÀH SVÀHÀ). Tức vi tức vi, tát-phộc hạ (CITI CITI SVÀHÀ). Vĩ vi vĩ vi, tát-phộc hạ (VITI VITI SVÀHÀ). Đà la ni, tát-phộc hạ (DHÀRANÌ SVÀHÀ). Đà la ni, tát-phộc hạ (DHARANI SVÀHÀ). A ngân-nãnh, tát-phộc hạ (AGNI SVÀHÀ). Đế tổ phộc bổ, tát-phộc hạ (TEJO VAPU SVÀHÀ). Tức lý tức lý, tát-phộc hạ (CILI CILI SVÀHÀ). Tất lý tất lý, tát-phộc hạ (SILI SILI SVÀHÀ). Một đình một đình, tát-phộc hạ (BUDDHIM BUDDHIM SVÀHÀ). Tất đình tất đình, tát-phộc hạ (SIDDHIM SIDDHIM SVÀHÀ). Mạn noa la tất đệ, tát-phộc hạ (MANDALA SIDDHE SVÀHÀ). Mạn noa la mãn đệ, tát-phộc hạ (MANDALA BANDHE SVÀHÀ). Tỷ ma mãn đà nãnh, tát-phộc hạ (‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ). Tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm tiệm bà tiệm bà, tát-phộc hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM JAMBHA JAMBHA SVÀHÀ Sa-chiêm bà dã, sa-chiêm bà dã, tát-phộc hạ (STAMBHÀYA STAMBHÀYA SVÀHÀ). Đổ ná đổ ná, tát-phộc hạ (CCHINDHA CCHINDHA SVÀHÀ). Tẫn ná tẫn ná, tát-phộc hạ (BHINDHA BHINDHA SVÀHÀ). Bạn nhạ bạn nhạ, tát-phộc hạ ( BHANÕJA BHANÕJA SVÀHÀ). Mãn đà mãn đà, tát-phộc hạ (BANDHA BANDHA SVÀHÀ). Mãng hạ dã, mãng hạ dã, tát-phộc hạ (MOHAYA MOHAYA SVÀHÀ). Ma ni vĩ thuấn đệ, tát-phộc hạ (MANI VI’SUDDHE SVÀHÀ). Tố lị-duệ, tố lị-duệ, tố lị-dã vĩ thuấn đệ vĩ thú đà nãnh, sa-phộc hạ (SÙRYE SÙRYE SÙRYA VI’SUDDHE VI’SODHANE SVÀHÀ). Chiến niết-lệ, tố chiến niết-lệ, bố la-noa chiến niết-lệ, tát-phộc hạ (CANDRE SUCANDRA PÙRNA CANDRE SVÀHÀ). Nghiệt-la hệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (GRAHE BHYAH SVÀHÀ). Nhược khất-sát để-lệ tỳ-dược, tát-phộc hạ (NAKSATRE BHYAH SVÀHÀ). Thủy phệ, tát-phộc hạ (‘SIVE SVÀHÀ). Phiến để, tát-phộc hạ (‘SÀNTI SVÀHÀ). Tát phộc sa để-dã dã ninh, tát-phộc hạ (SVASTYA YANE SVÀHÀ). Thủy noan yết lị, phiến để yết lị, bổ sắt-trí yết lị. Ma la mạt đạt nãnh, tát-phộc hạ (‘SIVAM KARI – ‘SÀNTI KARI- PUSTI KARI – BALA VARDHANI SVÀHÀ). Thất-lị yết lị, tát-phộc hạ (‘SRÌ KSRI SVÀHÀ). Thất-lị dã (‘SRÌYA) Tát-phộc hạ (SVÀHÀ). Nẵng mẫu thử, tát-phộc hạ (NAMUCI SVÀHÀ). Ma lỗ thử, tát-phộc hạ (MURUCI SVÀHÀ). Phệ nga phộc để, tát-phộc hạ (VEGA VATI SVÀHÀ). Án- Tát phộc đát tha nga đa một đế. Bát-la phộc la vĩ nga đa bà duệ xả ma dã- Tát-phộc minh bà nga phộc để- Tát phộc bá bế tỳ-dụ sa-phộc sa-để bà phộc đổ (OM- SARVA TATHÀGATA MÙRTTE – PRAVARA VIGATA – BHAYE ‘SAMAYA – SVAME BHAGAVATI – SARVA PÀPE BHYAH SVÀSTIRBHAVATU) – Mẫu nãnh mẫu nãnh (MUNI MUNI) – Vĩ mẫu nãnh, tả lê tả la ninh bà dã, vĩ nga đế bà dã hạ la ni (VIMUNI CARE CALANE BHAYA VIGATE BHAYA HÀRANI) – Mạo địa mạo địa (BODHI BODHI) – Mạo đà dã, mạo đà dã (BODHIYA BODHIYA) – Một địa lý, một địa lý (BUDHILI BUDHILI) – Tát phộc đát tha nga đa hột-lý nãi dã túc sắt-lai, tát-phộc hạ (SARVA TATHÀGATA HRDAYA JUSTAI SVÀHÀ) . Án- Phộc nhật-la phộc để, phộc nhật-la bát-la để sắt xỉ đế thuấn đệ (OM- VAJRAVATI VAJRA PRATISTITE ‘SUDDHE) – Đát tha nga đa mẫu nại-la địa sắt-xá nẫm, địa sắt-xỉ đế, tát-phộc hạ (TATHÀGATA MUDRA ADHISTITE SVÀHÀ) . Án- Mẫu nãnh mẫu nãnh (OM- MUNI MUNI) – Mẫu nãnh phộc lệ, a tỵ tru tá đổ hàm (MUNI VARE ABHISIMCA TUMAM) – Tát phộc đát tha nghiệt đá, tát phộc vĩ nễ-dã tỵ sái kế (SARVA TATHÀGATA SARVA VIDYA ABHISEKAI) – Ma hạ phộc nhật-la ca phộc tá mẫu nại-la mẫu nại-lị đới (MAHÀ VAJRA KAVACA MUDRA MUDRITEH) – Tát phộc đát tha nga đa khất-lị nãi dạ địa sắt-xỉ đa, phộc nhật-lệ, sa-phộc hạ. (SARVA TATHÀGATA HRDAYA ADHISTITA VAJRE SVÀHÀ).

*