1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25

Vi Diệu Pháp – Bộ Ngữ Tông

Dịch giả: Dịch giả: Tâm An – Minh Tuệ

***

Lời Giới Thiệu (Abhidhammatthasangaha)

Cô Tâm An có cho tôi xem tập “Những điểm dị biệt” dịch từ bản tiếng Anh “Points of Controversy” – dịch từ bản Pāli “Kathāvatthu”.

Như vậy tập này là một trong 7 tập thuộc “Abhidhamma Piṭaka” tức là Luận tạng, có thể dịch là Thắng pháp hay Vi diệu pháp. Tập này theo truyền thống Thượng Tọa bộ (Theravāda) được hình thành trong kỳ kết tập thứ ba vào năm 246 trước Tây Lịch, dưới thời vua A Dục và đặt dưới sự chủ tọa của Ngài Moggaliputta Tissa.

Ðây là một tập, vừa ghi chép các quan điểm của các bộ phái không thuộc phái Thượng Tọa bộ (Theravāda) vừa trình bày quan điểm của phái Thượng Tọa bộ về những điểm ấy. Như vậy, tập này là những tư liệu để những ai muốn tìm hiểu sự hình thành các bộ phái, các quan điểm dị đồng và những tranh cãi không thể nào tránh khỏi giữa các bộ phái ấy, có thể có những tư liệu quí giá về sự sai biệt giữa các bộ phái Phật giáo.

Tập này chỉ lưu hành nội bộ dành cho Phật tử, Tăng ni, những nhà nghiên cứu về luận A-tỳ-đàm (Abhidhamma). Tôi xin giới thiệu bản dịch của Tâm An và Minh Tuệ, tán thán nhiệt tình hoằng pháp của hai Phật tử này.

T.P Hồ Chí Minh, ngày 11-03-1987

Tỷ Kheo THÍCH MINH CHÂU.

Lời nói đầu

Bộ Kathavatthu dịch là “Những điểm dị biệt” (Points of Controversy) là bộ thứ năm trong bảy bộ của Luận tạng thuộc hệ thống Pāli tạng [*].

Tác giả của bộ sách này là Ðại Ðức Trưởng lão Moggaliputta Tissa thời vua A Dục, chính ngài làm chủ tọa kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ ba tại Palalipputta vào năm 246 trước Tây Lịch. Và tại hội nghị này, bộ sách của Ngài được đưa vào Luận tạng.

Bản chú giải tập Athāsālini ghi nhận rằng thời đại Vua A Dục có tám tông phái khác nhau, về sau lại phát triển thêm và đến thế kỷ thứ hai sau Phật lịch, người ta tìm thấy có 18 tông phái. Tập “Những điểm dị biệt” gồm có 216 luận điểm, liên hệ đến các vấn đề Phật đà quan, về các bậc Thánh, về Thánh đạo, về nhân sinh quan, phàm phu – Chư thiên, về vũ trụ quan, trạng thái hiện hữu, hư không, địa ngục v.v..

Chúng tôi dịch tập kinh này từ tác phẩm Points of Controversy của bà Rhys Davis do hội Pāli Text Society bảo trợ [**]. Trong quá trình dịch thuật chúng tôi gặp nhiều khó khăn về các danh từ Abhidhamma chuyên môn, với thuật ngữ Anh văn chuyển sang Việt văn còn tương đối quá mới trong văn học Abhidhamma, chúng tôi nương vào quyển Guide Through the Abhidhamma Pitakas của Ngài Nyanatiloka, quyển A Manual of Abhidhamma của Ngài Narāda do Phạm Kim Khánh dịch từ Anh sang Việt văn (với tựa đề “Vi Diệu Pháp toát yếu”), quyển Thắng pháp tập yếu luận của Hòa Thượng Thích Minh Châu. Chúng tôi còn dùng một số thuật ngữ chuyên môn trong văn học Abhidhamma của Hòa Thượng Tịnh Sự.

Ngoài ra, khi dẫn chứng các đoạn kinh chúng tôi dựa theo một số Kinh Tạng Pāli trong Trung bộ kinh, Tăng chi bộ kinh, Tương ưng bộ kinh,…, do Ngài Thích Minh Châu dịch thuật.

Với dịch phẩm đầu tiên, chúng tôi e ngại và dè dặt là với thuật ngữ chuyên môn trong văn học Abhidhamma còn quá mới, đã không diễn đạt hết ý pháp tinh hoa, thâm thúy, cách lý luận sắc bén của toàn bộ tác phẩm nầy. Rất mong chư vị độc giả bổ khuyết thêm. Vì lý tưởng phục vụ đạo pháp, chúng tôi có ý nguyện sách được ấn tống chỉ tặng, mà không bán, cho Chư Tăng ni, Phật tử, những nhà nghiên cứu về A Tỳ Ðàm Luận.

Xin tỏ lòng tri ân Hòa Thượng Thích Minh Châu và ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo Việt Nam đã nâng đở bằng cách bảo trợ để dịch phẩm này ra mắt chư vị độc giả.

Xin chân thành cảm tạ chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Tăng ni Phật tử, nhất là Hòa Thượng Tịnh Sự, Ðại Ðức Giác Chánh, Ðại Ðức Giác Nhân đã khích lệ chúng tôi hoàn thành dịch phẩm này và chư vị Phật tử như Cô Diệu Hỷ, Cô Diệu Trí, Cô Hồng Cúc, Cô Thoại, em Ðỗ Thành Phong… đã góp công giúp sức để tác phẩm sớm hoàn thành.

Xin cảm ơn các Phật tử Việt Kiều tại Anh và Pháp: Phạm Ngọc Sâm, Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Từ Thiện, Trần Quỳnh Như, bà Nguyễn Văn Hiểu, Nguyễn Tối Thiện, Nguyễn Tuyết Hương, Võ Xuân Huyên, Nguyễn Thị Ngọc Liên, bà Trần Văn Nhơn, bà Trần Văn Bạch, cô Lưu Văn Lang, Sư Tín Hỷ, và anh Lê đã đóng góp tiền cúng dường để in tập kinh này.

Cuối Thu, Năm Ðinh Mão – Mùng 1 tháng 9 Âl

Phật Tử Tâm An – Minh Tuệ

(Trần Quỳnh Hương – Ðỗ Thành Minh)

[*] Hòa thượng Tịnh Sự dịch là “Bộ Ngữ Tông”, và chúng tôi xin ghi tựa đề nầy để nhất quán với các bộ khác của tạng Vi Diệu Pháp [Bình Anson, 09-2003].

[**] Các phần ghi chú và sắp xếp trong bản dịch Anh ngữ đã dựa theo bộ Chú Giải Ngữ Tông của ngài Buddhaghosa [Bình Anson, 09-2003].

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT:

Trong các trang chú thích, chúng tôi có dùng chữ viết tắt, để Quý vị tiện việc tra cứu, chúng tôi xin ghi rõ như sau:

A. Anguttara Nikāya (Tăng chi bộ)

Abhi. Sang. Abhidhammatthasangaha (Thắng pháp tập yếu luận)

Bud. Psy. Eth. Buddhist Psychological Ethics

(bản dịch Anh ngữ của Dhammasangani – bộ Phân tích)

Comp.,

Compendium Compendium of Philosophy (bản dịch Anh ngữ của Abhidhammatthasangaha – Thắng pháp tập yếu luận).

Dl. Dialogues of the Buddha (bản dịch Anh ngữ của Trường Bộ)

Dhp. Dhammapada (Pháp cú)

Ds. Dhammasangani (bộ Pháp tụ)

D. Digha Nikāya (Trường bộ)

M. Majjhima Nikāya (Trung bộ)

Pss. Bret. Psalms of the Brethren – Trưởng lão tăng kệ

Pss. Sis. Psalms of the Sisters – Trưởng lão ni kệ

S. Samyutta Nikāya (Tương ưng bộ)

Sn. Sutta Nipāta (Kinh tập)

Thig. Therigatha (Trưởng lão ni kệ)

Thag. Theragatha (Trưởng lão tăng kệ)

Ud. Udāna (Phật tự thuyết)

K. Khuddaka Nikāya (Tiểu bộ)

Iti. Itivuttaka (Phật thuyết như vậy)

Vbh. Vibhanga (bộ Phân tích)

V., Vin. Vinaya (Luật tạng)

HỆ THỐNG QUAN ÐIỂM PHÂN LOẠI THEO ÐỀ TÀI

I. – VỀ ÐỨC PHẬT:

Ngôn ngữ hằng ngày của Ngài, II. 10.

Như Lai lực, III. 1,2.

Sự giác ngộ, IV. 6.

Tướng hảo, IV. 7.

Cúng dường đến Ngài. XVII. 10.

Ngài sống ở cõi nhân loại chỉ bằng sự thị hiện? XVIII. 1.

Ngài thuyết pháp chỉ bằng sự thị hiện? XVIII. 2.

Tâm Ðại bi của Ngài, XVIII. 3.

Chất bài tiết của Ngài, XIII. 4.

Thần thông của Ngài, XXI. 4.

Sự khác nhau của: Chư Phật, XXI. 5.

Chư Phật thị hiện mười phương, XXI. 6

Sự thị hiện của Bồ-Tát, XXIII. 3.

Sự chứng đạo của Bồ-Tát, IV. 8 ; XIII. 4.

II. – VỀ CÁC BẬC THÁNH:

A. A-LA-HÁN:

Bậc A-la-hán có thể hoại lìa quả vị không? I. 2

Thiên ma có thể làm ô nhiễm bậc A-la-hán không? II. 1

Tri kiến II. 2. IV. 10. XXII. 1.

Bậc A-la-hán có hoài nghi hay không? II. 3.

Sự siêu phàm của bậc A-la-hán có do người khác không? II. 4.

A-la-hán và cư sĩ. IV. 1.

Sự chứng quả A-la-hán. IV. 2. XXII. 5.

A-la-hán và cảnh lậu. IV. 3.

A-la-hán và lục xã. IV. 5.

Ðoạn tận triền cái của bậc A-la-hán. IV. 10.

Bậc vô học. V. 2.

Nghiệp có ảnh hưởng đến bậc A-la-hán không? VIII. 11.

Sự tích trữ phước báu. XVII.1.

Sự chết bất đắc kỳ tử. XVII.2.

Tâm tử của bậc A-la-hán. XXII.2,3.

A-la-hán giả hiệu. XXIII.2.

Sự giải thoát của bậc A-la-hán có hoàn hảo không? XXI.3, XXII.1.

B. CÁC TẦNG THÁNH THẤP HƠN.

Người thứ tám. III.5,6.

Bậc Hữu học có thể có Tuệ của bậc Vô học không? V.2.

Giới hạn của bảy lần tái sanh. XII.5, 9.

C. THÁNH ÐẠO:

Lực của bậc Thánh. III.2.

Nghiệp quả của bậc Thánh, VII.9.

Biểu hiện bên ngoài của bậc Thánh. X.2.3; XIV.4.

Khổ đế và Thánh đạo. XVII.5.

Tiếng “Khổ” và Thánh đạo. II 5,6, XI.4.

Thánh đạo duy nhất, CVIII.5.

Thánh đạo 5 chi, XX.5.

Thánh đạo nhất định, IV.8; V.4, VI.1, XX.7.

Pháp bất liên quan luân hồi, XIV.9.

III. – VỀ NGƯỜI PHÀM PHU:

Người phàm phu có thanh lọc được Ái dục và Sân hận không? I.5.

Người phàm phu có thể có một định mệnh nhất định không? XIX.7.

Người phàm phu có Tuệ không? XX.2.

Người phàm phu có thể thoát khỏi định nghiệp trong tam giới không? XXI.2.

IV. – VỀ CHƯ THIÊN:

Chư thiên có đời sống Phạm hạnh không? I.3.

Chư thiên có thực hành sự thu thúc không? III.10.

Chư thiên vô tưởng có thể có tưởng không? III.11.

V. – VỀ TĂNG BẢO:

Tăng bảo không thể thọ nhận của bố thí, XVII.6.

Tăng bảo là phước điền của sự bố thí, XVII.7.

Tăng bảo còn “thích thú”, “ăn uống”, XVII.8.

Cúng dường Tăng bảo đem đến lợi ích to lớn, XVII.9.

VI. – VỀ GIÁO PHÁP:

Giáo pháp có thể được sửa đổi không? XXI.1.

VII. – VỀ CÁ NHÂN:

Tự ngã tuyệt đối và hằng hũu, I.1.

Sự hiện hũu trường cửu của các pháp quá khứ, hiện tại và vị lai. I.6 – 8. IX.12.

Các trạng thái hiện hữu của các pháp quá khứ, hiện tại và vị lai, I.10.

Tâm thức; Tiến trình tâm thức, H7; IX.6,7,12; X1; XV.3.4, XVI.4, XXII.8.

Lục thức, lục nhập, V.3; VI.8; VIII.4.5.7, IX.9; X.5, XII.4, XIV.3.

Sở hữu tâm. VII.1 – 3; IX.8; XVII.4, XVIII.9; XIX.2.

Tuệ. V.6.9.10, XVI.4.

Tuệ giải thoát III.9; V.5,8,10; IX.5; XI.2.3, XX.2.6.

Ái, VIII.4; XIII.8 – 10,XIC.7,XVI.10.

Hành động có tác ý III.10; VI.8, IX.8.11; XII.1.2, XVI.1 – 3.

Thần thông, III.7 – 9,:V.7,XI.5; XVII.2, XXI.4.

Sự tăng trưởng (vật chất) XIV.2; XXII.4,5; (đạo đức tinh thần) I.4; II.9, III.4; IV.4,9; VII.5; X.9; XIV.2.

Mạng quyền, VIII.10.

Bào thai, XIV.2; XXII.4,5.

Chiêm bao, XXII.5,6.

Tâm giả hiện, XXIII.4.

Ngôn ngữ II.5,6;IX 9,10.

Diệt thọ tuởng định, VI.5; X.1, XV.7.10.

Thiền, II.5;V.3; VI.6, XI.6, XIIi.7; Z\XVIII.6 – 8.

Giải thoát. III.3,4; IV.10, XIII.6.

VIII. – VỀ VŨ TRỤ

(A)

Những trạng thái hiện hữu. I.6 – 9; III.11, VII. 12; IX.12.

Những cảnh giới hiện hữu, VIII.1.2; XVI.10; Dục giới. I.3.5; VIII.3; Sắc giới, Vô Sắc giới, I.3 – 5; III.11,12; VI.4; VIII.5 – 8, XVI.10.

Ðịa ngục, XIII.1; XX.3.

Hư không. VI.6.7.

Thời gian IX.6,7, XV.3,4; XXII.8.

Sắc pháp, VI.8, VII.5 – 10; IX.3, XVI.5 – 9.

Âm thanh. II.5; IX.9 – 10. XII.3.

Có phải các pháp đều cố định, không thay đổi? XXI.7.

Bàng sanh có tái sanh trong cõi Chư thiên không? XX.4.

(B)

Chủ thể và khách thể (Nội xứ và ngoại xứ.) I.9; IX.3.

Lý duyên khởi. XV.1,2; XXII.7.

Vô thường. XI.8; XV.6.

Sự thống khổ của thế gian, II.8.

Tứ đế. II.11; VI,3; XI.4; XVII.4.

Y tương sinh, VI.2; XI.7; XV.1,2; XXIII.5.

Nghiệp: Có phải sắc pháp là quả dị thục của nghiệp? VII.7; XVI.8.

Có phải Lão và Tử là quả dị thục của nghiệp? VII.8.

Pháp quả có khả năng cho những quả khác không? VII.11.

Nghiệp có thể làm hoại lìa A-la-hán quảù không? VII.11.

Có phải tất cả nghiệp đều cho quả? XII.2.

Có phải Thinh là quả của nghiệp không? XII.3.

Có phải Lục nhập là quả của nghiệp không? XII.4.

Nghiệp và bào thai, XIV.2.

Nghiêp và sự tích trữ nghiệp, XV.11.

Có phải tất cả đều do nghiệp? XVII.3.

Tất cả nghiệp có cố định không?

Ðịnh luật cố nhiên. IV.8; V.4; XII.7,8, XIII.4: XIX.7; XX.1.

Chơn đế (Ðệ nhất nghĩa là đế). XIX.5.

IX. – VỀ VÔ VI:

Có phải Tứ đế, cõi Vô sắc, Diệt thọ tưởng định, Hư không là vô vi không? VI.3 – 6.

Có phải Niết bàn là tâm đối tượng của Tâm câu hữu với Triền không? IX.2.

Có phải Niết bàn giới là thiện không? XIX.6.

Sự trống rỗng, XIX.2.

X. – MỘT SỐ VẤN ÐỀ KHÁC:

Thế nào là bố thí? VII.4.

Phước báu có được tăng trưởng không? VII.5.

Quả của sự bố thí. VII.6; XVII.11.

Sự tăng trưởng, I.4; II.9; II.4; IV.5,9; VII.5; X.9. XIV.2.

Sự đoạn tận triền cái, IX.1; SI.4.

Một bậc thánh có thể tu tập song song hai loại giới luật không? X.6.

Ngũ thức có tính cách đạo đức không? X.4.

Có phải giới không là một sở hữu tâm? X.7.8.

Có phải hành động biểu tri là giới không? X.10.

Có phài hành động vô biểu tri là bất thiện không? X.11.

Có phải tùy miên là pháp vô ký không? IX.4; XI.1; XIV.5.

Sự thu thúc có phải là nghiệp không? XII.1.

Chúng sanh nơi đọa xứ có thể có tâm thiện không? XIII.2.

Người xúi giục, XIII.3.

Sự căn thiện, căn bất thiện và sự hòa hợp hỗ tương. XIV.1,

Cái bất lương với tâm, XIV.6.

Có phải lậu không là cảnh lậu? XV.5.

Có phải tà kiến là pháp vô ký không? XIV? XIV.8.

Có phải Sắc pháp là thiện không? XVI.5.6.7.

Có phải Sắc pháp là quả của nghiệp không? XVI.8.

Sư đoạn tận phiền não. XIX.1.

Có phải Niết bàn là pháp thiện? XIX..6.

Ngũ quyền chỉ là pháp siêu thế, XIX.8.

Tội lỗi không cố ý, XXIII.1.

Có phải tâm chiêm bao là vô ký không? XXII.6.

Lời nguyện kết giao, XXIII,1.

18 TÔNG PHÁI

(theo bản Chú giải Bộ Ngữ Tông của Ngài Buddhaghosa)

1) THERAVĀDINS: Thượng Tọa bộ

2) MAHIṂSĀSAKAS: Hóa Địa bộ, Di Sa Tắc bộ

3) DHAMMAGUTTIKAS: Pháp Tạng bộ

4) SARVATTHIVĀDINS: Nhất Thiết Hữu bộ

5) KASSAPIKAS: Ca Diếp bộ, Ẩm Quang bộ

6) SANKANTIKAS: Thuyết Chuyển bộ

7) SUTTAVĀDINS: Kinh Lượng bộ

8) VAJJIPUTTAKAS: Ðộc Tử bộ

9) GOKULIKAS: Kê Dận bộ

10) EKABBOHĀRIKAS: Nhất Thuyết bộ

11) DHAMMUSTARIYAS: Pháp Thượng bộ

12) BHADRAYĀNIKAS: Hiền Trụ bộ

13) CHANNAGARIKAS: Mật Lâm Sơn bộ

14) SAMMITIYAS: Chánh Lượng bộ

15) PANNATTIVĀDINS: Thi Thiết bộ

16) BAHULIKAS (BAHUSSUTIYAS): Ða Văn bộ

17) CETIYAVĀDINS: Chế Đa Sơn bộ

18) MAHĀSANGHIKAS: Ðại Chúng bộ

Bốn bộ phái Andhakas (Án-đa-la) [*]:

1) RAJAGIRIYAS: Vương Sơn Trú bộ

2) SIDDATTHAKAS: Nghĩa Thành bộ

3) PURVASELIYAS: Đông Sơn Trú bộ

4) APARASELIYAS: Tây Sơn Trú bộ

Các bộ phái khác được đề cập trong Chú giải [*]:

HETUVADINS: Thuyết Nhân Chấp bộ

VETULLAKAS: Phát Triển bộ

VAJIRIYAS: Kim Cương bộ

UTTARAPATHAKAS: Bắc Sơn Trú bộ

[*] Bổ sung theo quyển “Các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa”, André Bareau, Pháp Hiền dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003 (Bình Anson ghi chú).

-ooOoo-

HỆ THỐNG QUAN ÐIỂM PHÂN LOẠI THEO TÔNG PHÁI

I- PHÁI VAJJIPUTTAKAS

và (cùng với) phái Sammitiyas:

Ngã có một tự ngã tuyệt đối và hằng hữu, I.1

và (cùng với) các phái Sammitiyas, Sabbatthivādins, Mahāsanghikas:

Bậc A-la-hán có thể bị hoại lìa quả vị, I.2

II- PHÁI SAMMITIYAS

Không có đời sống Phạm hạnh được tu tập ở cõi Chư thiên, I.3

Phiền não được đoạn trừ từng phần, I.4

Người phàm phu đoạn trừ ái dục và sân hận, I.5

và phái Vajjiputtakas:

Có một tự ngã tuyệt đối và hằng hữu, I.1

và phái Mahāsanghikas:

Những hành động biểu tri là giới, XI.10.

Tuỳ miên là pháp vô ký, XI.1.

và các phái Andhakas nói chung:

Nhục nhãn có thể trở thành thiên nhãn, III.7

Lục xứ vẫn hiện hữu trong cõi sắc giới, VIII.7

Có Sắc aí trong sắc giới, XIV.7

Nghiệp và sự tích trữ nghiệp là những pháp khác nhau, XV.11

Sắc pháp là quả của nghiệp, XVI.8

và một vài phái thuộc Andhakas:

Thiền có năm tầng, không phải bốn, XVIII.7

và phái Pubbaseliyas:

Không có pháp nào là sắc mạng quyền. VIII.10

Tiền nghiệp có thể làm một bậc A-la-hán bị hoại lìa quả vị. VIII.11

Có trung hữu. VIII.2.

và các phái Rājagirikas và Siddhattikas:

Phước báu tăng trưởng tùy theo cách hưởng dụng. VII.5

và phái Mahimsāsakas:

Những hành động biểu thị có tính chất đạo đức, VIII.9

Sắc pháp có tính chất đạo đức, XVI.7

và các phái Mahimsasakas và Mahāsanghikas:

Trong Bát chánh đạo, có ba chi thuộc sắc pháp, không thuộc danh pháp, X.2

và các phái Vajjiputtiyas, Sabbatthivādins và một số phái Mahāsanghikas:

Bậc A-la-hán có thể hoại lìa quả vị, I.2.

III- PHÁI SABBATTHIVĀDINS

Tất cả các pháp đều hiện hữu một cách bền vững, I.6,7

Sự chứng đạt theo thứ lớp, II.9

và phái Uttarāpathakas:

Sự liên tục của tâm được gọi là tâm định, XI.6

và các phái Vajjiputtiyas, Sammitiyas và một số phái Mahāsanghikas:

Bậc A-la-hán có thể hoại lìa quả vị, I.2

III.a CÁC PHÁI SABBATTHIVĀDINS, KASSAPIKAS:

Một phần quá khứ và vị lai hiện hữu. I.8

IV- PHÁI MAHĀSANGHIKAS

Những quan niệm sai lầm về thức, XVIII.9, X.5. quả nghiệp, XII.2,3,4, và Tuệ, XI.2

Những quan niệm sai lầm về Ðạo và thức, X.3. và Ðạo và giới luật, X.6

Một người có thể chế ngự hay giúp đỡ tâm người khác, XVI.1,2

Tâm và giới khác nhau, X7.8, và sự tăng trưởng của giới tùy theo cách thọ nguyện, X.9

Hành động không biểu tri thì bất thiện, X.11.

(Hành động không thiện phải là bất thiện)

Bậc có thần thông lực có thể sống trong một đại kiếp, XI,5

Sự thu thúc là nghiệp, XII.1

Căn thiện và căn bất thiện có thể nối tiếp liên tục, XIV.1

Các pháp liên hệ với nhau chỉ trong một loại duyên nhất định, XV.1, và không hổ tương, XV.2.

Chư Phật có thể thị hiện mười phương, XX1,6, và bằng thần thông, các Ngài có thể làm đình chỉ, ngưng lại một số luật tự nhiên, XXI,4

Lão tử của pháp siêu thế tự nó cũng là pháp siêu thế, XV.6. chứng ngộ A-la-hán không cần đoạn tận triền, XX1.3

Bậc A-la-hán có thể hoại lìa quả vị, I.2

và phái Sammitiyas:

Hành động biểu tri là thiện, X.10

Tuỳ miên là pháp vô ký, XI.1

và các phái Sammitiyas và Mahimsāsakas:

Ba chi của Bát Chánh đạo thuộc về sắc pháp, X.2.

và Vajjiputtiyas, Sammitiyas và Sabbatthivādins:

Bậc A-la-hán có thể hoại lìa quả vị. I.2

V- PHÁI ANDHAKAS NÓI CHUNG:

(i) PUBBASELIYAS, (ii) APARASELIYAS. (iii) RĀJACIRIKAS, (iv) SIDDHATTHIKAS:

Những quan niệm sai lầm về khách thể và chư thể (trong tứ niệm xứ) I.9, về những trạng thái hiện hữu, I.10, Sự liên tục của tâm, X.1, về sự giải thoát V.1, Iv.10, ” về sự trống rỗng ” XIX.2, về Niết bàn giới, XIX.6

Một sát na tâm đình trụ cả ngày. II.7

Khi phát âm “Ðây là khổ”, tuệ nhận thức khổ vẫn đang hiện hữu, XI.4

Sự giải thoát vẫn thành tựu với tâm có ái, X11.3 tâm giải thoát vẫn còn nằm trong tiến trình giải thoát, IX.4

Có tưởng trong cõi vô tưởng, III.11, nhưng không có tưởng ở cõi phi tưởng phi phi tưởng, 111.12

Hư không có thể thấy được, IV.7, cũng như tứ đại, ngũ quyền và thân nghiệp, IV.8.

Có Tuệ hiện tại và tuệ vị lai, V.8,9.

Kinh nghiệm của quá khứ vẫn hiện hữu IX.12, trong A-la-hán đạo, quả cùa ba đạo thấp hơn vẫn còn hiện hữu, IV.9

Ảo giác trong thiền, V.3

Tất cả Tuệ đều là tuệ phân tích, V.5, phàm tuệ chỉ có để làm đối tượng, V.6.

Tha tâm thông chỉ có tâm làm đối tượng, V.7

Ðoạn trừ tất cả triền cái là bậc A-la-hán, IV.10, chứng ngộ A-la-hán không cần đoạn tận triền, XXII, 1.

Ðại địa là quả của nghiệp, VII.7, cũng như lão tử, VII.8

Pháp quả tự nó có khả năng cho quả VII.10, nhưng Thánh nghiệp thì không có quả tương ứng, VII.9

Ðịnh luật cố nhiên là Vô vi, VI, 1 cũng như, Diệt thọ tưởng định, Vi.5

Những pháp trong cõi sắc giới đều là sắc pháp, VIII.5, có sắc pháp ở cõi vô sắc, VIII.8, cũng như cõi sắc giới, XVI.9 và có ái trong cả hai cõi này, XVI.10.

Sự phát âm “Ðây là khổ”, tuệ nhận thức khổ vẫn hiện hữu, XI.4

Vị thánh Ðệ tử có thể có tuệ quả, V.10

Các pháp được tiên liệu trước, cũng như vô thường XI.7,8

Hành giả nhập thiền có thiền làm đối tượng, XIII.7

Tùy miên khác với pháp biểu hiện tương ứng, XIV.5, và những phiền não được biểu hiện không có sự ác ý, XIV.6

Có trạng thái giả hiện của tâm, XXIII.4

Bậc A-la-hán tích trữ phước báu, XVII.1, và chết với tâm thiện, XXII.2

Không có diêm vương ở cõi địa ngục, và bàng sanh được tái sanh ở cõi trời, XX.3,4

Chư Phật thị hiện mười phương, XXI.5, chọn những sự thống khổ để chịu đựng khi là Bồ tát, XXIII.3, Như lai lực là những lực chung của các bậc thánh, III 2, và là lực chung cho các thánh Ðệ tử, III.1

Ngôn ngữ hằng ngày của Ðức Phật là pháp siêu thế, II.10

Người thứ tám (người Ðạo Dự lưu) không có ngũ quyền III.6

và phái Sammitiyas:

Nhục nhãn và nhục nhĩ có thể trở thành “thiên nhĩ” khi có pháp hỗ trợ, III.7,8

Bậc chứng đạo Dự lưu, có quả dự lưu, có quả dự lưu, III.5

Lục xứ và sắc ái tồn tại trong cõi sắc giới, VIII.7, XIV.8

Nghiệp và nghiệp tích trữ là những pháp khác nhau, XV.11

Sắc pháp là quả của nghiệp, XVI.8

Một số phái thuộc hệ Andhakas:

Thiền có năm tầng, không phải bốn, XVIII.7

và phái Mahimsasakas:

Có hai loại diệt, II.11

Một số phái thuộc Andhakas và phái Mahimsasakas:

Có sự chuyển bậc trong thiền, XVIII.6

và phái Uttarāpathakas:

Atula là hình thức tái sanh thứ sáu, VIII.6

Có lục xứ trong cõi sắc giới, VIII.7

Diệt thọ tưởng định là vô vi, VI.5

Tà kiến là pháp vô ký, XIV.8

Các pháp cố nhiên không thay đổi, XXI.7, nghiệp cũng như vậy, XXI.8

Chỉ có một thánh đạo, không phải bốn, XVIII.5

Chất bài tiết của Ðức Phật thù thắng, XVIII.4

Bồ tát đã chứng đạo trong kiếp sống trước, IV.8

Các quả vẫn còn từng hiệp, IV.9

Tùy miên là pháp không biết cảnh. IX.4

và phái Vetulyakas:

Sự liên hệ tình dục có thể xảy ra đối với hai người có lời nguyện kết giao XXIII.1.

và phái Sabbatthivādins, Sammitiyas và Bhadravanikas:

Sự chứng đạt theo thứ lớp, II.9

V.a PHÁI PUBBASELIYAS:

Bậc nhập thiền có thể nghe được (cảnh thinh), XVIII.8

Âm thanh chỉ đơn thuần là sự rung động của tâm và Tứ, IX.9, không phù hợp với tư tưởng, IX.10

Hành động không phù hợp với tư tưởng, IX.11

Tiếng “Khổ” được kêu lên khi Ðạo Dự lưu được chứng đạt, II.5, và thành tựu Tuệ giải thoát, II.6

Ðối tượng của pháp ái là pháp vô ký, XIII, 9

Tuệ bất tương ưng với tâm, XI.3

Dục giới có nghĩa là dục lạc, VIII.3

Tà kiến là pháp bất liên quan luân hồi, XIV.9

Tri kiến là bậc A-la-hán vẫn còn bất toàn, II.2

Pháp ái không phải là tập đế, XIII.10

Bậc hữu học có thể phạm giới sát sanh, XII.7

Sự chứng ngộ và quả của thánh đạo đều là vô vi, XIX.4.3

Tuệ có 12 loại là Tuệ siêu thế, XX.6

Tứ đế là vô vi, VI.3

Ngũ căn và ngũ trần tạo thành dục, VIII.4

Bất tử là đối tượng của tâm cầu hữu với triền, IX.2

và phái Sammitiyas:

Mạng quyền chỉ là danh pháp, VIII.10

Có trung hữu, VIII.2

Nghiệp có thể làm cho bậc A-la-hán bị hoại lìa quả vị, VIII.11

và phái Mahimsāsakas:

Y tương sinh là vô vi, VI.2

V.b – PHÁI PUBBASELIYAS và APARASELIYAS:

Tất cả các pháp chỉ hiện hữu trong một sát na tâm, XII.8

Lục nhập sanh khởi cùng một lúc trong thai mẹ, XIV.2

Một người có thể tác ý đến các pháp trong cùng một lúc, XVI.5

Bậc A-la-hán có thể bị ô nhiễm bởi thiên ma, II.1

Bồ tát nhất định chứng ngộ đạo quả, XIII.4

V.c – PHÁI RĀJAGTRIKAS

Hình phạt trong vô gián địa ngục kéo dài suốt cả một đại kiếp, XIII.1

Một người nhập thiền Diệt thọ tưởng định có thể chết, XV.9

V.d- PHÁI RĀJAGIRIKAS và SIDDHATTHIKAS

Sự xếp loại và tương ứng của các pháp là một ảo tưởng, VII.1, 2 và sở hữu tâm không hiện hữu, VII.3

Bố thí là sở hữu tâm, VII.4, bố thí ở một nơi, thọ dụng ở một nơi khác, VII.6

Bậc A-la-hán không thể chết bất đắc kỳ tử, XVII.2

Tất cả đều do nghiệp, XVII.3

Nghiệp gây đại tội phải bị đọa vào vô gián địa ngục trong cả một đại kiếp.

và phái Sammitiyas:

Phước báu tăng trưởng tùy theo cách hưởng dụng, VII.5

VI- PHÁI GOKULIKAS

Thế gian như một hầm lửa II.8

VII- PHÁI BHADKAYANIKAS

và phái Sammitiyas, Sabbatthivadins và Andhakas.

Sự chứng ngộ được thành tựu theo thứ lớp, II.9

VIII- PHÁI MAHIMSĀSAKAS

Thánh đạo chỉ có 5 chi, XX.5

và phái Andhakas:

Có hai loại diệt, II.11

và một số phái Andhakas:

Từ tầng thiền này chuyển sang tầng thiền khác không có giai đoạn trung gian, XVIII.6

và phái Pubbaseliyas, phái Uttarāpathakas:

Hư không là vô vi, VI.6

và phái Sammitiyas:

Hành động biểu tri là nghiệp, VIII.9, do đó sắc pháp có giá trị đạo đức (thiện và bất thiện), XVI.7

và phái Sammitiyas và Mahasanghikas:

Ba chi thuộc Bát Thánh Ðạo là sắc pháp, không là danh pháp, X.2., vì vậy Thánh Ðạo chỉ có năm chi, XX.5

và phái Hetuvādins:

Ngũ quyền không có trong pháp hiệp thế, XIX.8

IX- PHÁI UTTARĀPATHAKAS

Có sự liên tục sanh khởi của các thức, XIV.3

Có pháp có ái đối với đối tượng bất khả ái, XIII.8

Tâm có cảnh quá khứ và cảnh vị lai là pháp không biết cảnh, IX.6.7

Tầm liên quan đến tất cả tâm, IX.9

Sắc pháp có thề vừa là cảnh, vừa là pháp nhận biết cảnh IX.3

Tâm chiêm bao là vô ký, XXII.6

Ngũ nghịch đại tội dù không cố ý vẫn bị đọa vào Vô gián địa ngục, XX.1

Người xúi giục tạo nghiệp vô gián cơ thể chứng ngộ đạo quả thánh XIII.3

Chúng sanh trong đọa xứ không thể có tâm thiện, XIII.2

Uẩn, Xứ, Giới đều là khổ và bất định, XXIII.5

Chánh kiến loại trừ khuynh hướng tà kiến, XII.8

Chướng ngại được đoạn tận bởi người đang bị hệ lụy với chúng, XIII.5, bị trói buộc, XIII.6

Người phàm phu có thể có tuệ nhất định, V.4, XIX.7

Bậc hữu học có tuệ của bậc vô học, V.2

Bậc bất lai chỉ có thể chứng đạt A-la-hán quả sau bảy lần tái sanh, XII.5,6

Một người chứng đạt quả vị vẫn tùng hiệp những quả thấp. IV.4,9.

Chúng sanh trong bào thai, người đang chiêm bao có khả năng chứng ngộ, Tứ đế, XXII.4.5.

Phiền não quá khứ vị lai và hiện tại có thể được đoạn tận, XIX.1

Cư sĩ có thể là bậc A-la-hán, IV.1, người mới tục sinh cũng vậy, IV.2

Những biểu hiện về thân và khẩu của bậc A-la-hán nương vào sắc tứ đại, XIV.4

Các pháp của bậc A-la-hán đều phi cảnh lậu, IV.3

A-la-hán tịch diệt giống đức Phật XXII.2

Có những bậc A-la-hán giả hiệu, XXIII.2

Trở thành một vị Phật qua Tuệ giác ngộ, IV.6

Người có tướng hảo phải là một vị Bồ tát, IV.7

Vị Bồ tát thị hiện trong những khổ cảnh XXIII.3

Ðức Phật không có tâm đại bi, XVIII.3

Giáo pháp có thể được sửa đổi, XXI.1

Bố thí chỉ trong sạch về phía người cho, không trong sạch về phía người nhận, XVII.11

Không có cố hưởng duyên, XXII.7

Chơn đế, XIX.5

và một số phái thuộc Uttarāpathakas:

Bậc A-la-hán trước khi chết vẫn có tâm thiện, XXII.2

và phái Andhakas:

Atula là hình thức tái sanh thứ sáu, VIII.1

Có lục xứ trong cõi sắc giới, VIII.7

Diệt thọ tưởng định là vô vi, IV.5

Tà kiến là pháp vô ký, XIV.8

Tất cả các pháp đều là cố nhiên, không thay đổi, XXI.7, nghiệp cũng vậy, XXI.8

Chỉ có một thánh đạo duy nhất, không phải bốn, XVIII.5

Chất bài tiết của Ðức Phật thù thắng, XVIII.4

Bồ tát đã chứng đạo trong kiếp sống trước, IV.8

Quả vẫn tùng hiệp, IV.9

Tùy miên là pháp không biết cảnh, IX.4

và phái Sabbatthivādins:

Tâm định chỉ là sự liên tục của tâm, XI.4

và phái Mahimsāsakas:

Hư không là vô vi, VI.6

và phái Hetuvadins:

Tất cả các pháp trừ khổ đế, đều là bất định, XXIII.5

X- PHÁI HETUVADINS

“Khổ đế” bị ràng buộc bởi sự thống khổ của cảm giác XVII.4, và tất cả các pháp hữu vi, trừ thánh đạo, đều là khổ XVII.5

Tuệ không có đối với người phàm phu, XX.2

Diệt thọ tưởng định là chẳng những pháp siêu thế, XV.7, mà còn là nhân tái sanh vào cõi vô tưởng, XV.10

Tứ lậu không thành cảnh lậu, XV.5

Một người có thể ban hạnh phúc cho một người khác, XVI.3

và phái Mahimsāsakas:

Ngũ quyền không có trong pháp hiệp thế, XIX.8

và phái Uttarāpathakas:

Tất cả các pháp, trừ Khổ đế, đều là bất định, XXIII.5

XI- PHÁI VETULYAKAS

Ðức Phật không bao giờ sống trong thế giới nhân loại, XVIII.1

Ðức Phật không hưởng thọ vật bố thí, vì vậy sự cúng dường đến Ngài không mang lại lợi ích to lớn, XVII.10

Tăng bảo không thọ nhận của bố thí, XVII.6.7.8.9

và phái Andhakas:

Sự liên hệ tình dục có thể xảy ra đối với người có lời nguyện kết giao, XXIII.1

XII- MỘT SỐ QUAN NIỆM KHÔNG XÁC ÐỊNH HỆ PHÁI CỤ THỂ

Tuệ giải thoát vẫn còn nằm trong tiến trình giải thoát, III.4

Thiên nhãn có nghĩa là tuệ thấy được số phận tùy theo hạnh nghiệp, III.9

Có sự thu thúc ở cõi Chư thiên, III.10

Bậc A-la-hán tùng hiệp với lục xả, IV.5

Không vô biên xứ là vô vi, VI.4

Những pháp ở cõi vô sắc giới đều phi sắc pháp, VIII.6 (Andhakas?)

Ngũ thức có tính cách đạo đức, X.4

Trong lần tái sanh thứ 7 đối với bậc Thất lai, không có khuynh hướng tà kiến, XII.9

Thời gian được tiên liệu trước, XV3.4

Diệt thọ tưởng định là pháp hiệp thế, XV.8

Sắc pháp là hữu nhân, XVI.6

Người phàm phu không thể thoát khỏi định nghiệp trong tam giới, XXI.2

Bậc A-la-hán vẫn còn hoài nghi, II.3, đạt được siêu phàm bởi người khác, II.4 (Pubbaseliyas?).

Trích từ bản Anh ngữ “Points of Controversy”: