1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36

Quyển thứ sáu

8. PHẨM TỨ Y (BỐN NƯƠNG)

– Ðức Phật lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

– Này thiện nam tử! Trong Kinh vi diệu Ðại Bát Niết Bàn này, có bốn thứ người có thể hộ trì Chánh pháp, kiến lập Chánh pháp, nhớ nghĩ Chánh pháp, có thể đem nhiều lợi ích, thương xót thế gian, làm chỗ nương tựa cho thế gian, đem an vui cho người, trời. Những gì là bốn? Có người ra đời đủ tính phiền não, đó là thứ nhất. Người Tu đà hoàn, người Tư đà hàm, đó là thứ hai. Người A na hàm, đó là thứ ba. Người A la hán, đó là thứ tư. Bốn thứ người đó xuất hiện ở đời thì họ có thể đem nhiều lợi ích và thương xót thế gian, làm chỗ nương tựa cho thế gian, đem an vui cho trời.

Sao gọi là đủ tính phiền não? Nếu có người có thể phụng trì cấm giới, uy nghi đầy đủ, kiến lập Chánh pháp, từ chỗ Phật nghe giải ý nghĩa ấy, rồi chuyển vì người khác phân biệt tuyên nói. Như nói rằng, ít dục chính là đạo, đa dục chẳng phải đạo, rộng nói tám điều giác ngộ của bậc đại nhân như vậy. Có người phạm tội thì dạy bảo khiến cho họ phát lộ sám hối, diệt trừ. Giỏi biết hành động phương tiện, pháp bí mật của Bồ tát. Ðó gọi là phàm phu, chẳng phải người thứ tám. Người thứ tám (?) thì chẳng gọi là phàm phu mà gọi là Bồ tát, chẳng gọi là Phật.

Người thứ hai gọi là Tu đà hoàn, Tư đà hàm. Nếu người này được Chánh pháp, thọ trì Chánh pháp, theo Phật nghe pháp, theo đúng như điều đã nghe ấy mà ghi chép, thọ trì, đọc tụng, rồi chuyển vì người khác giảng nói. Nếu nghe pháp rồi mà người ấy chẳng ghi chép, chẳng thọ trì, chẳng giảng nói mà nói rằng, nô tỳ… những vật bất tịnh được Phật cho phép nuôi thì không có điều này. Ðó gọi là người thứ hai. Người như vậy chưa được trụ xứ thứ hai, thứ ba thì gọi là Bồ tát đã được thọ ký.

Người thứ ba gọi là A na hàm. A na hàm mà bài báng Chánh pháp, hoặc nói rằng cho phép nuôi nô tỳ, người sai khiến… vật bất tịnh, thọ trì sách luận, điển tịch của ngoại đạo và bị sự ngăn che của khách trần phiền não, bị sự che phủ của các nghiệp phiền não, hoặc che giấu xá lợi chân thật của Như Lai và bị sự não hại của ngoại bệnh, hoặc bị sự lấn lướt của bốn con rắn độc lớn, luận nói về ngã… thì đều không có điều này. Nếu nói vô ngã thì có điều này. Nói đắm trước thế pháp thì không có điều này. Nếu người này nói Ðại Thừa nối tiếp nhau chẳng dứt thì có điều này. Người này nếu đã thọ thân thì có tám vạn loài trùng cũng không có điều này. Người đó vĩnh viễn lìa khỏi dâm dục, thậm chí trong mơ cũng chẳng mất bất tịnh thì có điều này. Ngày lâm chung, người ấy sinh ra sợ hãi cũng không có điều này. A na hàm là nghĩa làm sao? Nghĩa là người này chẳng trở lại. Như trên đã nói, những lỗi hoạn sẵn có vĩnh viễn chẳng thể nhiễm ô, qua lại xoay vòng thì gọi là Bồ tát đã được thọ ký, chẳng bao lâu được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó gọi là người thứ ba vậy.

Người thứ tư gọi là A la hán. A la hán thì đoạn tuyệt các phiền não, bỏ được gánh nặng, đạt được lợi mình, việc phải làm đã hoàn thành, trụ ở Ðệ Thập Ðịa, được trí tự tại, tùy theo sự ưa thích của người mà hiện đủ thứ sắc tượng, đều có thể thị hiện đúng như sự trang nghiêm của họ, muốn thành Phật đạo thì liền có thể được thành. Người có thành tựu vô lượng công đức như vậy thì gọi là A la hán. Tên bốn người này xuất hiện ở đời thì có thể lợi ích, thương xót nhiều cho thế gian, làm chỗ nương tựa của thế gian, đem an vui cho người trời, ở trong người trời là tối tôn, tối thắng, giống như Như Lai gọi là bậc Nhân Trung Thắng, là chỗ qui y.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Con nay chẳng nương vào bốn thứ người này. Vì sao vậy? Vì như trong Kinh Cù Sư La, đức Phật vì Cù Sư Ca nói rằng: “Nếu Thiên ma, Phạm thiên vì muốn phá hoại mà biến làm hình dáng Phật với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm, với vòng sáng tròn một tầm, mặt viên mãn giống như vầng trăng tròn sáng, tướng bạch hào ở mi gian trắng vượt cả ngọc kha trắng như tuyết. Chúng trang nghiêm như vậy hướng đến ông thì ông phải kiểm nghiệm định liệu xem hình tướng ấy hư hay thật. Ðã hiểu biết rồi thì ông phải hàng phục”. Thưa đức Thế Tôn! Ma.v.v… còn có thể biến làm hình dáng đức Phật, huống gì chúng chẳng có thể biến làm thân bốn thứ người, A la hán.v.v… nằm ngồi trong không, hông trái tuông ra nước, hông phải phát ra lửa, toàn thân phát ra khói lửa giống như đám cháy. Do nhân duyên này, con ở trong hoàn cảnh đó, lòng chẳng sinh ra niềm tin, hoặc có điều nói ra, con chẳng thể bẩm thọ, cũng không có ý niệm cung kính mà tạo tác sự y chỉ!

Ðức Phật dạy rằng:

– Này thiện nam tử! Ðối với lời nói của ta nếu còn sinh nghi hoặc thì chẳng nên tín thọ, huống gì là lời của những bọn như vậy. Vậy nên ông phải khéo phân biệt biết là thiện hay bất thiện, là có thể làm hay chẳng thể làm. Tạo tác được như vậy rồi thì mãi hưởng thụ niềm vui. Này thiện nam tử! Ví như chó trộm đang đêm vào nhà người. Nô tỳ, người làm của gia đình ấy nếu hay biết thì nên xua đuổi mắng rằng: “Người mau đi ra! Nếu chẳng ra thì ta giết chết ngươi!” Chó trộm nghe rồi liền đi khỏi, chẳng quay trở lại. Các ông từ nay cũng nên hàng phục ma Ba Tuần như vậy. Các ông nên nói rằng: “Này Ba Tuần! Ngươi nay chẳng nên biến làm hình tượng như vậy! Nếu cố tình làm thì ta sẽ dùng năm trói buộc để trói buộc ngươi!” Ma nghe thế rồi liền phải đi trở về, như con chó trộm kia chẳng quay trở lại nữa.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật vì ông trưởng giả Cù Sư La nói mà nếu có thể hàng phục ma như vậy thì cũng có thể được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Ðức Như Lai hà tất nói bốn người này là chỗ y chỉ. Như vậy lời nói của bốn người này chưa nhất định đáng tin.

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

– Này thiện nam tử! Như lời nói của ông cũng lại như vậy, chẳng phải là chẳng vậy! Này thiện nam tử! Ta vì hàng Thanh Văn có nhục nhãn, nói về việc hàng ma, chớ chẳng vì người tu học Ðại Thừa mà nói đâu! Người Thanh Văn tuy có thiên nhãn mà gọi là nhục nhã, người học Ðại Thừa tuy có nhục nhãn mà gọi là Phật nhãn. Vì sao vậy? Vì Kinh Ðại Thừa đó gọi là Phật thừa mà như Phật thừa này là tối thượng, tối thắng. Này thiện nam tử! Ví như có người dũng kiện uy mãnh thì có người khiếp nhược thường đến nương cậy. Người dũng kiện ấy thường dạy người khiếp nhược rằng: “Ông phải như vầy cầm cung, nắm tên, tu học đường giáo, câu liêm dài, dây tơ trói…” Người ấy lại bảo rằng: “Phàm chiến đấu thì tuy như giầy xéo chém giết nhưng chẳng nên tự sinh ra ý niệm kinh sợ, phải nhìn người, trời mà sinh tư tưởng khinh thường, nên tự sinh ý dũng kiện ở trong lòng. Hoặc khi có người không can đảm dũng mãnh mà trá làm kiện tướng nắm giữ cung tên, đao kiếm, đủ thứ binh khí để tự trang nghiêm, đi đến trong trận thì tiếng khích lệ hô to. Ông đối với hạng người này cũng lại chẳng nên sinh ra lo sợ”. Hạng người như vậy nếu thấy các ông chẳng kinh sợ. Các ông phải biết, hạng người này chẳng bao lâu sẽ tan hoại như con chó trộm kia. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, bảo các Thanh Văn rằng: “Các ông chẳng nên sợ ma Ba Tuần! Nếu ma Ba Tuần hóa làm thân Phật đến chỗ các ông thì các ông phải tinh cần kiên cố lòng mình khiến cho ma đó hàng phục. Ma liền phải lo buồn chẳng vui, trở lại đường mà đi. Này thiện nam tử! Như người dũng kiện kia chẳng theo người khác tập tành, người học Ðại Thừa cũng lại như vậy, được nghe đủ thứ kinh điển thâm mật, lòng họ hân hoan chẳng sinh ra kinh sợ. Vì sao vậy? Vì người tu học Ðại Thừa như vậy đã từng cúng dường cung kính lễ bái vô lượng vạn ức đức Phật đời quá khứ. Tuy có vô lượng ức ngàn ma chúng muốn đến xâm hại quấy nhiễu, ở trong việc này, nhất định người học Ðại Thừa chẳng kinh sợ. Này thiện nam tử! Ví như có người được thuốc A Kiệt Ðà thì chẳng sợ tất cả rắn độc. Vì rắn sợ dược lực đó nên cũng có thể tiêu trừ tất cả các độc. Kinh Ðại Thừa này cũng lại như vậy, như dược lực kia, chẳng sợ tất cả các ma ác độc, cũng có thể hàng phục khiến cho chúng chẳng khởi lên nữa.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có con rồng, tính rất tệ ác, khi muốn hại người, hoặc dùng mắt nhìn, hoặc dùng cách hà hơi. Vậy nên tất cả sư tử, cọp báo, sài lang, chó dữ…. đều sinh ra sợ hãi. Những loài ác thú đó nghe tiếng, thấy hình, hoặc chạm vào thân ấy không loài nào chẳng táng mạng. Có người giỏi về chú thuật, dùng lực của chú nên có thể khiến cho các rồng, chim cánh vàng ác độc và những ác thú voi, sư tử, cọp beo, sài lang.v.v… trở nên nhu thuận điều thiện, đều mặc cho người điều khiển. Những ác thú như vậy thấy người giỏi chú thuật đó liền điều phục. Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy, thấy ma Ba Tuần đều sinh ra kinh sợ mà ma Ba Tuần thì lại chẳng sinh lòng sợ sệt, còn làm nghiệp ma nữa. Người học Ðại Thừa cũng lại như vậy, thấy các Thanh Văn kinh sợ việc ma, đối với Ðại Thừa này chẳng sinh ra tín lạc thì trước dùng phương tiện hàng phục các ma, khiến cho chúng điều thiện, đủ sức chuyên chở. Rồi nhân đó vì chúng nói rộng rãi đủ thứ diệu pháp. Thanh Văn, Duyên Giác thấy ma điều phục rồi thì chẳng sinh sợ hãi nữa mà đối với Chánh pháp Vô thượng Ðại Thừa này mới sinh ra tín lạc. Họ nói lên như vầy: “Chúng ta từ nay chẳng nên ở trong chánh pháp này mà tạo tác chướng ngại”. Lại nữa, này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác đối với các phiền não mà sinh sợ hãi, còn người học Ðại Thừa thì đều không sợ sệt. Học Ðại Thừa thì có lực như vậy. Do nhân duyên này, như trước đã nói, vì muốn khiến cho Thanh Văn, Duyên Giác kia điều phục các ma, chẳng phải vì Ðại Thừa. Kinh điển vi diệu Ðại Niết Bàn này chẳng thể tiêu phục! Rất lạ kỳ! Rất đặc biệt! Nếu có người nghe mà nghe rồi tín thọ thì có thể tin Như Lai là pháp thường trụ. Người như vậy rất là hy hữu, như hoa Ưu đàm! Sau khi ta Niết Bàn, nếu có người được nghe kinh điển Ðại Thừa vi diệu như vậy mà sinh lòng tin, cung kính thì phải biết rằng, những người này vào đời vị lai, trăm ngàn ức kiếp, chẳng rơi vào đường ác.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

– Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn, sẽ có trăm ngàn vô lượng chúng sinh bài báng, chẳng tin Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này!

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Xa hay gần sau khi đức Phật diệt độ thì những chúng sinh này sẽ bài báng Kinh đó? Thưa đức Thế Tôn! Lại có những chúng sinh thuần thiện nào sẽ có thể cứu vớt những kẻ bài báng pháp này?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

– Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn trong vòng bốn mươi năm thì Kinh này lưu hành trải khắp cõi Diêm Phù Ðề. Nhiên hậu kinh mới ẩn chìm dưới đất. Này thiện nam tử! Ví như mía ngọt, gạo lúa nước (gạo ngon), đường táng, váng sữa, cao sữa, đề hồ… tùy theo chỗ có chúng mà nhân dân nơi ấy đều cho rằng, thứ này là vị ngon đệ nhất trong các vị. Hoặc có người ăn thuần gạo lúa tẻ và hạt kê. Người đó cũng nói rằng, món ăn của ta là tối đệ nhất, đó là người bạc phước chịu nghiệp báo vậy. Nếu là người phước đức thì ngay cả tai họ cũng chẳng nghe đến tên của gạo tẻ, hạt kê mà món ăn của họ chỉ toàn là gạo ngon, mía ngọt, đường, đề hồ… Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, kẻ độn căn, bạc phước chẳng ưa lắng nghe như người bạc phước ghét gạo ngon và đường.v.v… Người của Nhị thừa cũng lại như vậy, ghét kinh Ðại Niết Bàn Vô thượng. Hoặc có chúng sinh mà tâm họ vui thích thính thọ Kinh này nghe rồi vui mừng, chẳng sinh ra bài báng, như người phước đức kia ăn toàn gạo ngon.

Này thiện nam tử! Ví như có vị vua ở tại vùng núi sâu, chỗ ác đầy hiểm nạn, tuy có mía ngọt, gạo ngon, đường, nhưng do khó được chúng nên tham tiếc, gom chứa chẳng dám ăn. Vua sợ hết những thứ ấy nên chỉ ăn gạo tẻ, hạt kê. Có vị quốc vương khác nghe mà thương xót, liền dùng xe chở gạo ngon, mía ngọt mà đem cho vị vua đó. Vị vua ấy nhận được rồi liền đem phân phát cho cả nước ăn chung. Nhân dân đã ăn rồi đều phát sinh vui mừng, đều nói lên rằng: “Nhờ đức vua đó nên khiến cho chúng ta được món ăn hiếm có này”. Này thiện nam tử! Bốn thứ người này cũng lại như vậy, là vị tướng của đại pháp vô thượng này. Trong bốn thứ người đó, nếu có một người thấy vô lượng Bồ tát ở phương xa tuy học kinh điển Ðại Thừa như vậy, hoặc tự ghi chép, hoặc khiến người khác ghi chép vì lợi dưỡng, vì sự ngợi khen, vì lý do tìm hiểu giáo pháp, vì y chỉ, vì dùng để trao đổi (mua bán) những kinh khác mà chẳng thể người khác tuyên nói rộng rãi. Vậy nên người ấy đem kinh điển vi diệu này đưa đến địa phương đó cho vị Bồ tát kia, khiến cho họ phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, an trụ ở đạo Bồ Ðề. Vị Bồ tát đó được kinh này rồi liền vì người khác diễn nói rộng rãi, khiến cho vô lượng chúng sinh được thọ pháp vị Ðại Thừa như vậy. Tất cả đều nhờ sức của một vị Bồ tát này mà kẻ chưa nghe Kinh đều khiến cho được nghe, như nhân dân kia nhờ sức của vị vua nên được món ăn hiếm có. Lại nữa, này thiện nam tử! Chỗ đã lưu bố Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này, ông phải biết, đất chỗ ấy tức là Kim Cương, những người trong chỗ đó cũng như Kim Cương. Nếu có người có thể nghe Kinh như vậy tức là chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, tùy theo sở nguyện của người ấy đều được thành tựu. Như ta hôm nay đã có thể tuyên nói: “Này Tỳ kheo! Các ông nên khéo thọ trì!” Nếu có chúng sinh chẳng thể lắng nghe Kinh điển như vậy thì phải biết rằng, người này rất đáng thương xót. Vì sao vậy? Vì người đó chẳng thể thọ trì nghĩa thậm thâm của kinh điển Ðại Thừa như vậy!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Sau khi đức Như Lai diệt độ, trong vòng bốn mươi năm, Kinh điển Ðại Niết Bàn Ðại Thừa này lưu hành trải rộng ở cõi Diêm Phù Ðề. Qua khỏi thời gian đó về sau kinh ẩn chìm vào đất, lùi sau bao lâu thì Kinh này sẽ xuất hiện trở lại?

Ðức Phật dạy rằng:

– Này thiện nam tử! Nếu chánh pháp của ta còn chừng tám mươi năm thì trước bốn mươi năm, Kinh này lại sẽ ở cõi Diêm Phù Ðề mưa Ðại pháp vũ.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Như vậy khi Kinh điển Chánh pháp diệt, khi Chánh giới (cấm) hủy, khi phi pháp tăng trưởng, khi không có chúng sinh như pháp (theo đúng pháp) thì ai có thể thính thọ, phụng trì, đọc tụng? Khiến cho những người ấy thông lợi, cúng dường, cung kính, ghi chép, giải nói? Kính xin đức Như Lai thương xót chúng sinh mà phân biệt, giảng nói rộng rãi, khiến cho các Bồ tát nghe rồi thọ trì, thọ trì rồi liền được chẳng thoái chuyển tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

– Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Nay ông khéo có thể hỏi nghĩa như vậy! Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Phật nhiều như cát sông Hi Liên phát tâm Bồ Ðề thì mới có thể ở cõi đời ác này thọ trì Kinh điển như vậy mà chẳng sinh ra bài báng. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng một lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, ưa thích Kinh điển đó mà chẳng thể vì người phân biệt diễn nói rộng rãi. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng hai lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng báng pháp này mà chánh giải tin ưa, thọ trì đọc tụng. Nhưng cũng lại chẳng thể vì người giảng nói rộng rãi. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng ba lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành kinh quyển, tuy có vì người khác diễn nói nhưng chưa giải được nghĩa sâu. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng bốn lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề rồi thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, vì người khác giảng nói rộng rãi được nghĩa một phần trong mười sáu phần, tuy có diễn nói những cũng chẳng đầy đủ. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng năm lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề rồi thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, rộng vì người giảng nói được nghĩa tám phần trong mười sáu phần. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng sáu lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, vì người khác rộng nói được mười hai phần nghĩa trong mười sáu phần. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng bảy lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, vì người khác diễn nói được mười bốn phần nghĩa trong mười sáu phần. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng tám lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, cũng khuyên người khác khiến cho được sách chép, tự có thể thính thọ rồi lại khuyên người khác, khiến cho họ được thính thọ, đọc tụng, thông lợi, ủng hộ kiên trì, thương xót các chúng sinh của thế gian, cúng dường Kinh này, cũng khuyên người khác, khiến cho họ cúng dường. Cung kính, tôn trọng, đọc tụng, lễ bái cũng lại như vậy, có thể ý giải đầy đủ hết nghĩa vị của Kinh ấy, như là Như Lai thường trụ, chẳng biến dị, rốt ráo an vui, rộng nói chúng sinh đều có Phật tính, giỏi biết hết pháp tạng sở hữu của Như Lai, cúng dường các đức Phật như vậy rồi, kiến lập Chánh pháp vô thượng như vậy mà thọ trì ủng hộ. Nếu có người mới phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì phải biết người này ở đời vị lai nhất định có thể kiến lập chánh pháp như vậy mà thọ trì, ủng hộ. Vậy nên ông nay chẳng nên chẳng biết là người hộ pháp trong đời vị lai. Vì sao vậy? Vì người phát tâm này nhất định ở đời vị lai có thể hộ trì chánh pháp Vô thượng. Này thiện nam tử! Có vị ác Tỳ kheo nghe ta Niết Bàn, chẳng sinh ra lo buồn mà nghĩ rằng: “Ngày hôm nay đức Như Lai Bát Niết Bàn, sao mà khoái thay! Ðức Như Lai tại thế ngăn lợi dưỡng của chúng ta. Này ngài vào Niết Bàn thì còn có ai sẽ ngăn đoạt ta. Nếu không người ngăn đọat thì ta trở lại được lợi dưỡng như cũ. Ðức Như Lai tại thế cấm giới nghiêm ngặt, nay ngài vào Niết Bàn thì sẽ buông bỏ hết. Việc thọ cà sa vốn là nghi thức của Phật thì nay sẽ phế hoại như cờ phan đầu cây”. Những người như vậy bài báng chống lại Kinh điển Ðại Thừa này. Này thiện nam tử! Ông nay cần phải nhớ giữ như vậy. Nếu có chúng sinh thành tựu đầy đủ vô lượng công đức thì mới có thể tin Kinh điển Ðại Thừa này, tin rồi thọ trì. Bao chúng sinh còn lại, có người ưa pháp, nếu có thể vì họ giảng nói rộng rãi Kinh này. Những người ấy nghe rồi thì những nghiệp ác đã làm trong vô lượng atăngkỳ kiếp đời quá khứ đều trừ diệt hết. Nếu có người chẳng tin Kinh điển này thì hiện tại thân họ sẽ bị sự não hại của vô lượng bịnh khổ, bị nhiều sự hủy nhục, mắng chửi của mọi người nhìn thấy, sau khi mạng chung bị người khác khinh khi, dung mạo xấu xí, hèn hạ, đời sống gian nan, thường chẳng đủ cung cấp. Họ tuy lại ít được thô sáp, tệ ác nhưng đời đời thường ở trong gia đình bần cùng hạ tiện, bài báng Chánh pháp, tà kiến. Nếu khi họ lâm chung thì hoặc gặp sự dấy khởi hoang loạn, đao binh, hoặc bị lấn hiếp, bức bách của đế vương bạo ngược, oán gia thù địch. Tuy có bạn lành mà họ chẳng gặp gỡ, nhu cầu đời sống cầu chẳng thể được. Tuy ít được lợi mà họ thường gặp nạn đói khát. Họ chỉ là hạng hiểu biết tầm thường mà quốc vương, đại thần đều chẳng chọn lấy. Giả sử lại có nghe lời tuyên nói của người ấy cho dù hợp lý đi nữa thì nhất định chẳng ai tín thọ. Người như vậy chẳng đến được chỗ tốt lành. Như con chim gẫy cánh chẳng thể bay đi, người này cũng vậy, vào đời vị lai, chẳng thể được đến chỗ tốt của người, trời. Nếu lại có người có thể tin Kinh điển Ðại Thừa như vậy thì dù trước đã thọ hình hài thô bỉ nhưng nhờ công đức của Kinh điển liền trở nên đoan chính, uy nhan, sắc lực ngày lại càng thêm nhiều, thường được sự ưa nhìn của người trời, được cung kính, ái niệm, tình không lìa bỏ. Quốc vương, đại thần và gia đình quyến thuộc nghe lời nói của người ấy đều cung kính, tín thọ. Nếu trong đệ tử Thanh Văn của ta muốn làm việc hy hữu đệ nhất thì phải vì thế gian rộng tuyên nói Kinh điển Ðại Thừa như vậy.

Này thiện nam tử! Ví như sương mù tuy muốn trụ lại nhưng chẳng qua khỏi mặt trời mọc. Mặt trời đã mọc rồi thì nó liền tiêu diệt không còn. Này thiện nam tử! Nghiệp ác sở hữu của những chúng sinh này cũng lại như vậy, thế lực, trụ thế của chúng chẳng qua được khi thấy mặt trời Ðại Niết Bàn. Mặt trời này mà đã xuất hiện thì có thể trừ diệt tất cả ác nghiệp.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, tuy mặc cà sa mà chưa được thọ mười giới Sa di. Hoặc có ông trưởng giả đến thỉnh chúng Tăng, người chưa thọ giới liền cùng với đại chúng đều chung nhận lời mời. Người này tuy chưa thọ giới nhưng đã rơi vào tăng số. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh phát tâm bắt đầu học Kinh điển Ðại Niết Bàn Ðại Thừa, chép, trì, đọc tụng cũng lại như vậy. Tuy họ chưa đầy đủ ngôi bậc Thập Trụ nhưng đã rơi vào trong số Thập Trụ. Hoặc có chúng sinh là đệ tử của Phật hoặc chẳng phải là đệ tử của Phật nếu nhân tham tiếc hoặc nhân lợi dưỡng mà thính thọ Kinh này thậm chí chỉ một câu kệ, nghe rồi chẳng bài báng thì ông phải biết rằng, người đó tức là đã gần với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Như vậy bốn hạng người như Phật đã nói mà cho rằng chẳng phải Phật nói thì không có điều này. Vậy nên ta nói bốn hạng người như vậy là chỗ nương của thế gian. Này thiện nam tử! Ông nên cúng dường bốn hạng người như vậy.

– Thưa đức Thế Tôn! Con sẽ làm sao biết được người đó mà vì họ cúng dường.

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

– Nếu có sự kiến lập, hộ trì chánh pháp thì nên theo khải thỉnh những người như vậy và phải xả bỏ thân mạng mà cúng dường họ, như ta đối với Kinh điển Ðại Thừa này nói rằng:

Có người biết pháp

Hoặc trẻ hoặc già

Nên cúng dường họ

Cung kính lễ bái

Như Bà la môn

Phụng sự thần lửa.

Có người biết pháp

Hoặc trẻ hoặc già

Nên cúng dường họ

Cung kính lễ bái

Cũng như chư thiên

Phụng sự Ðế Thích.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật thì cúng dường sư trưởng chính nên như vậy. Nhưng nay có điều nghi, nguyện xin đức Thế Tôn giảng nói rộng rãi! Nếu có bậc trưởng túc hộ trì cấm giới mà theo hàng niên thiếu hỏi han thọ lấy thì con chưa nghe thì làm sao người già đó phải kính lễ? Nếu phải kính lễ thì tức là họ chẳng gọi là trì giới vậy. Nếu là hàng niên thiếu hộ trì cấm giới mà theo những kẻ già cả phá giới hỏi han, thọ lấy thì con chưa nghe, thì có nên lễ bái không? Nếu người xuất gia theo người tại gia hỏi han thọ lấy thì con chưa nghe thì có phải lễ bái không? Nhưng mà người xuất gia chẳng nên lễ kính người tại gia, còn trong Phật pháp thì trẻ con ít tuổi cần phải cung kính bậc già cả trưởng túc. Do bậc trưởng túc này trước thọ đủ giới luật, thành tựu uy nghi nên cần phải cúng dường cung kính. Như đức Phật nói rằng, người phá giới ấy, là đã chẳng dung nạp, giống như ruộng tốt có nhiều cỏ bông kê. Lại nữa, như đức Phật nói, có người biết pháp hoặc già hoặc trẻ nên cúng dường như phụng sự Ðế Thích. Như vậy nghĩa của hai câu ấy ra sao? Chẳng phải là đức Như Lai nói hư vọng sao? Như đức Phật nói rằng, Tỳ kheo trì giới cũng có điều hủy phạm, vì sao đức Như Lai nói lời nói đó? Thưa đức Thế Tôn! Cũng ở trong các kinh khác nói cho phép sửa trị kẻ phá giới. Như vậy ý nghĩa ấy của lời nói, con chưa hiểu rõ!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

– Này thiện nam tử! Ta vì các vị Bồ tát, những người học Ðại Thừa đời vị lai mà nói kệ như vậy, chứ chẳng vì các đệ tử Thanh Văn mà nói! Này thiện nam tử! Như trước ta đã nói, khi chánh pháp diệt, chánh giới hủy hoại, khi phá giới tăng trưởng phi pháp thịnh, khi tất cả Thánh nhân ẩn chẳng hiện, khi kẻ tu hành nhận nuôi nô tỳ, vật bất tịnh… thì trong bốn hạng người này sẽ có một người xuất hiện ở thế gian, cạo bỏ râu tóc, xuất gia tu đạo. Người ấy thấy các Tỳ kheo mỗi mỗi đều nhận nuôi nô tỳ, người sai bảo, vật bất tịnh… tịnh cùng bất tịnh tất cả chẳng biết, đúng luật, chẳng phải luật cũng lại chẳng nhận biết. Người này vì muốn điều phục những Tỳ kheo như vậy nên cùng chung hòa quang nhưng chẳng đồng trần với họ (hòa quang đồng trần: một hạnh tu nhập thế). Sự hành xử của mình và hành xử của Phật giỏi có thể phân biệt biết được. Người ấy tuy thấy những người phạm Ba la di nhưng mặc nhiên chẳng cử tội. Vì sao vậy? Vì ta ra đời là vì muốn kiến lập sự hộ trì chánh pháp. Vậy nên ta mặc nhiên mà chẳng bắt bẻ, sửa trị. Này thiện nam tử! Người như vậy là hộ pháp, tuy có chỗ phạm nhưng chẳng gọi là phá giới.

Này thiện nam tử! Ví như vị quốc vương mắc bệnh băng hà, vua kế vị còn nhỏ dại chưa đủ sức kế vị. Có người Chiên đà la giàu to, của cải thừa thãi không lường, có nhiều quyến thuộc, liền dùng sức mạnh, nhân đất nước hư nhược, soán đọat ngôi vua. Hắn cai trị chưa lâu thì người trong nước, cư sĩ, bà la môn.v.v… làm phản lánh xa, sang nước khác làm ăn. Tuy có người còn ở lại nhưng thậm chí mắt họ chẳng muốn nhìn vị vua đó. Hoặc có trưởng giả, Bà la môn.v.v… chẳng rời nước mình thì ví như các cây theo chỗ sinh sống của mình liền bị chết trong đó. Vua Chiên Ðà La biết người của nước mình đào tẩu làm phản, muốn mọi người trở về nên sai các Chiên đà la canh giữ các con đường. Rồi ở trong bảy ngày, ông cho đánh trống, xướng lệnh rằng: “Các Bà la môn có thể vì ta làm lễ quán đảnh thì sẽ phân nửa nước để phong thưởng cho!” Các Bà la môn tuy nghe lời nói đó nhưng đều không đến mà đều nói rằng: “Làm gì sẽ có hạng Bà la môn làm việc như thế?” Vua Chiên đà la lại nói lên rằng: “Trong hàng Bà la môn không có một người vì ta làm thầy thì ta cần phải làm cho các Bà la môn cùng với Chiên đà la sống chung, ăn ở, sự nghiệp đồng nhau. Nếu có người đến làm lễ quán đảnh cho ta thì phong cho nửa nước, lời này chẳng hư dối. Chú thuật, việc đạt đến trời thứ ba mươi ba, thuốc cam lộ bất tử thượng diệu, ta cũng sẽ chung nhau phân chia ăn uống.

Lúc bấy giờ, có con của một Bà la môn, ở tuổi đội mũ mềm (tuổi nhỏ), sửa trị tịnh hạnh, tướng để tóc dài, giỏi biết chú thuật, đi đến chỗ vua tâu rằng: “Thưa đại vương! Lời truyền của nhà vua, tôi đều có thể làm!”. Bấy giờ lòng vua ấy sinh ra vui mừng nhận đồng tử này làm quán đảnh sư. Các Bà la môn nghe việc này rồi đều sinh ra giận dữ, trách đồng tử này rằng: “Này Bà la môn! Sao ông nhận làm thầy của Chiên đà la?” Bấy giờ, vị vua ấy liền chia nửa nước cho đồng tử đó. Rồi cùng nhau cai trị nước trải qua một thời gian dài. Bấy giờ đồng tử nói với vị vua kia rằng: “Tôi bỏ gia pháp đến làm thầy của vua, đã dạy hết cho đại vương chú thuật vi mật mà nay đại vương còn chẳng thấy gần gũi”. Nhà vua đáp rằng: “Ta nay làm sao mà chẳng gần gũi với ngài vậy?” Ðồng tử đáp rằng: “Thuốc bất tử sở hữu của nhà vua trước đây còn chưa ăn chung với nhau”. Nhà vua nói rằng: “Hay thay! Hay thay! Thưa đại sư! Tôi thật chẳng biết! Nếu thầy cần thì tôi xin đem đến liền”. Khi đó, đồng tử nghe lời của vua nói rồi liền mang về nhà mời các vị đại thần cùng nhau ăn uống thuốc đó. Các đại thần ăn rồi chung tâu với vua rằng: “Khoái thay! Vị Ðại sư có thứ thuốc cam lộ bất tử đó!” Nhà vua đã biết rồi liền nói với vị sư ấy rằng: “Tại sao đại sư riêng cùng với các đại thần ăn uống cam lộ mà chẳng thấy phân chia cho ta!”. Bấy giờ đồng tử liền đem thuốc tạp độc còn lại cho nhà vua và bảo uống. Nhà vua uống rồi, trong giây lát thuốc phát làm mê loạn, ngã lăn xuống đất, không hay biết gì cả, giống như người chết. Lúc bấy giờ, đồng tử lập tự quân cũ trở lại làm vua và nói như vầy: “Sư tử ngự tòa pháp chẳng nên khiến cho Chiên đà la thăng lên! Ta từ xưa đến nay, chưa từng nghe thấy dòng Chiên đà la mà làm vua. Nếu Chiên đà la cai trị nước, quản lý dân thì không có điều này. Ðại vương nay nên trở lại nối dõi tiên vương, đem chánh pháp cai trị nước”. Lúc bấy giờ, đồng tử kinh qua việc xử lý đó rồi, lại đem thuốc giải cho người Chiên đà la khiến cho ông ấy tỉnh dậy. Tỉnh dậy rồi, ông bị đuổi ra khỏi nước. Lúc đó, vị đồng tử tuy làm việc đó nhưng chẳng mất pháp của Bà la môn. Kỳ dư những cư sĩ, Bà la môn.v.v… nghe việc làm của ông ấy đều than chưa từng có và khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Ngài giỏi có thể xua đuổi được vua Chiên đà la”. Này thiện nam tử! Việc hộ trì chánh pháp sau khi ta Niết Bàn đối với các Bồ tát cũng lại như vậy. Bồ tát dùng sức phương tiện cùng với hạng tăng phá giới giả danh nhận nuôi tất cả vật bất tịnh kia, đồng chung sự nghiệp của họ. Bấy giờ, Bồ tát nếu thấy có người tuy phạm nhiều giới nhưng có thể sữa trị các ác Tỳ kheo hủy phạm cấm giới. Họ liền đến chỗ những người phạm cấm ấy cung kính, lễ bái, tứ sự cúng dường, kinh sách, đồ lặt vặt đều đem dâng lên. Như người ấy tự mình không có gì thì cần phải phương tiện theo các đàn việt (người bố thí) cầu xin để cho người đó. Vì làm việc này nên cần nuôi tám thứ vật bất tịnh. Vì sao vậy? Vì người này vì sửa trị các ác Tỳ kheo như đồng tử kia xua đuổi Chiên đà la vậy. Bấy giờ, Bồ tát tuy lại cung kính lễ bái người nhận nuôi tám thứ vật bất tịnh nhưng đều không có tội. Vì sao vậy? Vì do Bồ tát này vì muốn ruồng đuổi, sửa trị các Tỳ kheo ác, khiến cho tăng thanh tịnh được ở yên ổn, lưu bố Kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa, đem lợi ích cho tất cả những trời, người vậy. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này, ở trong Kinh ta nói hai bài kệ đó, khiến cho các vị Bồ tát đều chung khen ngợi người hộ trì pháp, như những cư sĩ, Bà la môn kia khen ngợi vị đồng tử hay thay! Hay thay! Bồ tát hộ pháp chính nên như vậy. Nếu có người thấy người hộ pháp cùng với người phá giới đồng sự nghiệp với nhau mà nói có tội thì phải biết người nói đó tự nhận lấy tai ương ấy, còn người hộ pháp thật ra không có tội. Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo phạm cấm giới rồi, vì lòng kiêu mạn nên che giấu, chẳng hối lỗi thì phải biết người đó gọi là Chân phá giới. Ðại Bồ tát vì hộ pháp nên tuy có phạm mà chẳng gọi là phá giới. Vì sao vậy? Vì không kiêu mạn nên là hối lỗi vậy. Này thiện nam tử! Vậy nên ta ở trong kinh che tướng nói kệ như vậy:

Có người biết pháp

Hoặc trẻ hoặc già

Nên cúng dường họ

Cung kính làm lễ

Như Bà la môn

Phụng sự thần lửa

Như đệ nhị thiên

Phụng sự Ðế Thích.

Do nhân duyên này, ta cũng chẳng vì người học Thanh Văn mà chỉ vì Bồ tát nói bài kệ này.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Như vậy Ðại Bồ tát đối với giới gấp gáp hay thông thả mà vốn đã giới là tồn tại đủ chăng?

Ðức Phật dạy rằng:

– Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên nói như vậy. Vì sao vậy? Vì vốn đã thọ giới thì như vốn chẳng mất. Giả sử có sự sai phạm thì liền nên sám hối mà sám hối rồi thì thanh tịnh. Này thiện nam tử! Như sự cố con đê thủng vỡ do có lỗ nước rò thấm lậu. Vì sao vậy? Vì không có người sửa trị. Nếu có người sửa trị thì nước chẳng chảy ra. Bồ tát cũng vậy, tuy cùng kẻ phá giới chung bố tát, thọ giới tự tứ, đồng chung tăng sự ấy, sở hữu giới luật nhưng chẳng như con đê thủng vỡ thấm lậu ấy. Vì sao vậy? Vì nếu không có trì giới thanh tịnh thì chúng Tăng tổn giảm, vội vàng, thông thả, lười biếng ngày một thêm lớn. Còn nếu có người trì giới thanh tịnh tức là có thể đầy đủ, chẳng mất giới căn bản. Này thiện nam tử! Người thông thả đối với Thừa thì mới gọi là thông thả (hoãn), còn thông thả đối với giới thì chẳng gọi là thông thả. Ðại Bồ tát đối với Ðại Thừa này lòng chẳng giãi đãi kiêu mạn. Ðó là phụng giới, vì hộ trì chánh pháp mà dùng nước Ðại Thừa tự tắm gội. Vậy nên Bồ tát tuy hiện phá giới nhưng chẳng gọi là thông thả.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

– Trong chúng tăng của đức Phật có bốn hạng người như quả cây Am la sống, chín khó biết, phạm giới, trì giới làm sao có thể nhận biết được?

Ðức Phật dạy rằng:

– Này thiện nam tử! Nhờ vào Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thì dễ có thể biết! sao gọi là nhờ Kinh Ðại Niết Bàn này có thể được biết vậy? Ví như người làm ruộng gieo trồng lúa ngon, làm cỏ trừ hết cỏ lòng vực, bông kê, dùng mắt thường quan sát gọi là ruộng sạch. Ðến ruộng ấy quả thật cây lúa lá cỏ đều khác. Như vậy tám việc có thể làm ô nhiễm tăng, nếu có thể trừ khử thì dùng mắt thịt quan sát biết được thanh tịnh. Hoặc trì giới hay phá giới khi chẳng làm ác mà dùng mắt thịt quan sát thì khó có thể phân biệt. Nếu ác lộ rõ rệt thì dễ có thể biết như cỏ vực bông kê kia dễ có thể phân biệt. Trong chúng Tăng cũng vậy, nếu có thể xa lìa tám thứ pháp rắn độc bất tịnh thì gọi là ruộng phước Thánh chúng thanh tịnh, nên được sự cúng dường của người, trời, quả báo thanh tịnh, chẳng phải là điều có thể phân biệt được của nhục nhãn. Lại nữa, này thiện nam tử! Như rừng Ca La Ca, có rất nhiều loại cây ấy. Ở trong rừng này chỉ có một cây tên là Trấn Ðầu Ca. Trái của hai cây Ca La Ca và Trấn Ðầu Ca này tương tợ nhau, chẳng thể phân biệt. Khi quả ấy chín có một nữ nhân nhặt lấy trái cây Trấn Ðầu La chỉ có một phần còn quả Ca La Ca có đến mười phần. Người đàn bà này chẳng biết mang đến chợ mà bày bán. Trẻ con ngu dại lại chẳng phân biệt được nên mua quả Ca La Ca, ăn rồi mạng chung. Cả bọn người trí nghe chuyện này rồi, liền hỏi nữ nhân: “Chị nhặt được quả này ở đâu mà mang đến đây!” Lúc đó người đàn bà chỉ ra địa phương nhặt quả. Mọi người liền nói rằng: “Như vậy địa phương đó có nhiều cây Ca La Ca không lường mà chỉ có một cây Trấn Ðầu La”. Mọi người biết rồi, cười mà bỏ đi. Này thiện nam tử! Tám pháp bất tịnh trong đại chúng cũng lại như vậy. Ở trong chúng này có nhiều người thọ dụng tám pháp như vậy, chỉ có một người trì giới thanh tịnh, chẳng thọ dụng tám pháp bất tịnh như vậy. Người ấy giỏi biết những người nhận nuôi phi pháp mà vẫn cùng đồng sự, chẳng lìa bỏ nhau như chỉ có một cây Trấn Ðầu La trong rừng kia. Có Ưu bà tắc thấy những người này có nhiều việc phi pháp đều chẳng cung kính cúng dường. Người này nếu muốn cúng dường thì nên trước hỏi rằng: “Thưa đại đức! Tám việc phi pháp như vậy được nhận nuôi không? Ðức Phật có cho phép không? Nếu nói đức Phật cho phép thì người như vậy có được bố tác, yết ma, tự tứ chung không?” Vị Ưu bà tắc hỏi như vậy rồi, chúng đều đáp rằng: “Tám việc như vậy đức Như Lai thương xót đều cho phép nuôi chứa”. Vị Ưu bà tắc nói rằng: “Ở tinh xá Kỳ Hoàn, có các Tỳ kheo, hoặc nói rằng, vàng bạc đức Phật đã cho phép gom chứa, hoặc nói rằng, chẳng cho phép. Người có nói cho, người nói chẳng cho thì họ chẳng cùng ở chung, cùng nói giới, tự tứ, thậm chí chẳng uống chung nước của một dòng sông, đồ vật lợi dưỡng đều chẳng chung với họ. Các ông làm sao nói rằng, đức Phật hứa cho được. Ðức Phật Thiên Trung Thiên tuy có thọ nhân đi nữa, chúng Tăng các ông cũng chẳng nên gom chứa. Nếu có người thọ nhận thì thậm chí các ông chẳng nên cùng chung với họ nói giới, tự tứ, yết ma, đồng chung việc tăng với họ. Nếu cùng chung với họ nói giới, tự tứ, yết ma, đồng chung việc tăng thì các ông sau khi mạng chung liền phải đọa vào địa ngục như những người ăn trái Ca La Ca kia rồi liền mạng chung.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như ở thành thị có người bán thuốc, có thuốc cam lồ vi diệu chứa đầy lấy từ núi Tuyết. Ông cũng lại bán nhiều thứ tạp dược khác có vị ngọt tương tợ. Có những người đều muốn mua mà chẳng biết phân biệt, đến chỗ người bán thuốc hỏi rằng: “Ông có thuốc lấy từ núi Tuyết không?” Người bán thuốc ấy liền đáp rằng: “Có!” Người bán thuốc này dối trá đem tạp dược khác nói với người mua rằng: “Ðây chính là diệu dược ngon ngọt của núi Tuyết. Người mua thuốc dùng mắt thịt nên chẳng thể phân biệt tốt, liền mua về và liền nghĩ rằng: “Ta nay đã được thuốc ngọt núi Tuyết!” Này Ca Diếp! Nếu trong hàng Tăng Thanh Văn, có Tăng giả danh, có Tăng chân thật, có Tăng hòa hợp, hoặc trì giới, hoặc phá giới… thì ở trong chúng đó nên bình đẳng cúng dường, cung kính, lễ bái. Vị ưu bà tắc đó dùng nhục nhãn nên chẳng thể phân biệt, ví như người chẳng thể phân biệt được thuốc ngọt của núi Tuyết kia. Còn ai là trì giới, ai là phá giới, ai là chân Tăng, ai là giả Tăng thì chỉ người có thiên nhãn mới có thể phân biệt. Này Ca Diếp! Nếu vị Ưu bà tắc biết đây là Tỳ kheo, đây là người phá giới thì chẳng nên cấp thí, lễ bái, cúng dường. Hoặc biết được đây là người gom chứa tám pháp thì cũng lại chẳng nên cấp thí đồ cần dùng, lễ bái, cúng dường. Hoặc ở trong Tăng có kẻ phá giới thì chẳng nên vì nhân duyên mặc áo cà sa mà cung kính lễ bái.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Hay thay! Hay thay! Lời nói của đức Như Lai chân thật, chẳng hư dối, con sẽ cung kính thính thọ, ví như Kim Cương vật lạ trân bảo. Như lời đức Phật nói, các vị Tỳ kheo này phải nương vào bốn pháp. Những gì là bốn? Ðó là Y pháp bất y nhân, y nghĩa chẳng y ngữ, y trí chẳng y thức, y liễu nghĩa Kinh chẳng y chẳng liễu nghĩa kinh. Bốn pháp như vậy cần phải chứng biết, chẳng phải bốn hạng người.

Ðức Phật dạy rằng:

– Này thiện nam tử! Y pháp tức là Như Lai Ðại Bát Niết Bàn. Tất cả Phật pháp tức là Pháp tính. Pháp tính này tức là Như Lai. Vậy nên Như Lai thường trụ bất biến. Nếu lại có người nói rằng, Như Lai vô thường, thì người này chẳng biết, chẳng thấy pháp tính. Nếu người chẳng tri kiến pháp tính này thì chẳng nên y chỉ. Như trên đã nói, bốn hạng người ra đời hộ trì pháp cần phải chứng biết mà lấy làm y chỉ. Vì sao vậy? Vì người này giỏi lý giải tạng vi mật thâm áo của Như Lai, có thể biết Như Lai thường trụ bất biến. Nếu nói rằng, Như Lai vô thường biến dị thì không có điều đó. Bốn hạng người như vậy tức gọi là Như Lai. Vì sao vậy? Vì người này có thể lý giải mật ngữ của Như Lai và có thể diễn nói. Nếu có người có thể biết rõ mật tạng thậm thâm của Như Lai và biết Như Lai thường trụ bất biến thì người như vậy nếu vì lợi dưỡng mà nói rằng, Như Lai vô thường biến dị thì không có điều đó. Người như vậy còn có thể y chỉ, huống gì chẳng y chỉ bốn hạng người đó? Y pháp tức là pháp tính, chẳng y nhân tức là Thanh Văn. Pháp tính tức là Như Lai, Thanh Văn tức là hữu vi. Như Lai tức là thường trụ, hữu vi tức là vô thường. Này thiện nam tử! Nếu người phá giới vì lợi dưỡng nên nói rằng, Như Lai vô thường biến dị thì người như vậy chẳng nên y chỉ. Này thiện nam tử! Ðó gọi là định nghĩa.

Y nghĩa chẳng y ngữ thì nghĩa gọi là giác liễu. Giác liễu nghĩa thì gọi là chẳng yếu đuối. Chẳng yếu đuối thì gọi đủ đầy. Ðủ đầy nghĩa thì gọi là Như Lai thường trụ, bất biến. Nghĩa Như Lai thường trụ, bất biến thì tức là pháp thường. Nghĩa pháp thường thì tức là nghĩa Tăng thường. Ðó gọi là y nghĩa chẳng y ngữ vậy. Những ngôn ngữ gì mà chẳng nên y? Ðó là văn từ trau chuốt của các luận. Như lời nói của đức Phật ở vô lượng những Kinh, nào là tham cầu không chán, gian xảo, dua nịnh, trá hiện gần bên cạnh, hiện tướng cầu lợi, kinh lý nhà thế tục và vì họ làm việc… Lại nữa, còn xướng lên rằng, Phật cho phép Tỳ kheo nuôi chứa những nô tỳ, vật bất tịnh, vàng bạc trân bảo, lúa gạo, kho lẫm, trâu dê voi ngựa, buôn bán cầu lợi…. Ở đời đói kém thương xót con nên lại cho phép các Tỳ kheo tích trữ giữ lại, tay tự tạo ra cái ăn, chẳng thọ nhận mà ăn… Những lời như vậy chẳng nên y chỉ.

Y trí chẳng y thức thì sở dĩ nói trí tức là Như Lai. Nếu có Thanh Văn chẳng thể giỏi biết công đức của Như Lai. Thức như vậy chẳng nên y chỉ. Nếu biết Như Lai tức là Pháp thân thì như vậy là chân trí, chỗ nên y chỉ. Nếu thấy thân phương tiện của Như Lai mà nói rằng chính là ấm, giới, các nhập do nhiếp lấy ăn uống mà nuôi lớn thì cũng chẳng nên y chỉ. Vậy nên tri thức chẳng nên y chỉ. Nếu lại có người nói lời nói đó và Kinh sách chép lời ấy thì cũng chẳng nên y chỉ. Y liễu nghĩa Kinh chẳng y chẳng liễu nghĩa Kinh thì, chẳng liễu nghĩa Kinh là gọi Thanh Văn thừa. Những Thanh Văn nghe chỗ thâm mật tạng của Như Lai Phật đều phát sinh nghi hoặc quái lạ, chẳng biết tạng này phát ra biển đại trí giống như trẻ con không có sự phân biệt hiểu biết. Ðó gọi là chẳng liễu nghĩa vậy.

Liễu nghiã thì gọi là trí tuệ chân thật của Bồ tát, tự tâm Bồ tát ấy ẩn giấu Ðại trí vô ngại, giống như bậc đại nhân không gì chẳng biết. Ðó gọi là liễu nghĩa. Lại nữa, Thanh Văn thừa gọi là chẳng liễu nghĩa, Ðại Thừa Vô thượng mới gọi là liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai vô thường, biến dị thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai thường trụ, chẳng biến dị thì đó gọi là liễu nghĩa. Chứng biết lời nói của Thanh Văn thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nên chứng biết lời nói của Bồ tát thì gọi là liễu nghĩa. Nếu nói rằng, đồ ăn đã nuôi lớn Như Lai là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Thường Trụ chẳng biến dị thì đó gọi là liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai vào Niết Bàn như củi hết lửa tắt thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai vào pháp tánh thì đó gọi là liễu nghĩa. Pháp Thanh Văn thừa thì chẳng nên y chỉ. Vì sao vậy? Vì Như Lai vì muốn độ chúng sinh nên dùng sức phương tiện nói lên Thanh Văn thừa, giống như ông trưởng giả dạy cho con “nửa chữ”. Này thiện nam tử! Thanh Văn thừa thì giống như mới cày đất, chưa được kết quả. Như vậy gọi là chẳng liễu nghĩa. Vậy nên chẳng nên y chỉ vào Thanh Văn thừa, còn pháp Ðại Thừa thì nên y chỉ. Vì sao vậy? Vì Như Lai vì muốn độ chúng sinh nên dùng lực phương tiện nói về Ðại Thừa. Vậy nên y chỉ thì đó gọi là liễu nghĩa. Bốn chỗ y chỉ như vậy cần phải chứng biết.

Lại nữa, Y nghĩa thì nghĩa gọi là Chất trực. Chất trực thì gọi là quang minh. Quang minh thì gọi là chẳng yếu đuối. Chẳng yếu đuối thì gọi là Như Lai. Lại nữa, quang minh thì gọi là trí tuệ. Chất trực thì gọi là thường trụ.

Như Lai thường trụ thì gọi là y pháp. Pháp thì gọi là thường trụ, cũng gọi là vô biên, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể nắm giữ, chẳng thể trói buộc mà cũng có thể thấy. Nếu có người nói chẳng thể thấy thì người như vậy đã chẳng nên y chỉ. Vậy nên y pháp chẳng y vào người. Nếu lại có người dùng lời nói vi diệu tuyên nói về vô thường. Lời nói như vậy chẳng nên y chỉ. Vậy nên y nghĩa chẳng y vào lời nói. Y trí thì chúng Tăng là thường trụ, vô vi, chẳng biến dị, chẳng nhận nuôi tám thứ vật bất tịnh. Vậy nên y trí chẳng y vào thức. Nếu có người nói rằng, thức tạo ra ý thức thụ hưởng nên không có hòa hợp tăng. Vì sao vậy? Vì phàm là hòa hợp thì gọi là không sở hữu mà không sở hữu thì sao gọi là thường trụ. Vậy nên thức này chẳng thể y chỉ.

Y liễu nghĩa thì liễu nghĩa gọi là tri túc, nhất định chẳng trá hiện uy nghi thanh bạch, kiêu mạn, tự cao, tham cầu lợi dưỡng, cũng ở trong sự nói pháp phương tiện tùy nghi của đức Như Lai, chẳng sinh ra chấp trước. Ðó gọi là liễu nghĩa. Nếu có người có thể trụ ở trong sự nói pháp của Như Lai như vậy thì phải biết là người này đã được trụ ở đệ nhất nghĩa. Vậy nên gọi là y liễu nghĩa Kinh chẳng y chẳng liễu nghĩa Kinh.

Chẳng liễu nghĩa thì như trong Kinh nói, tất cả đốt cháy, tất cả vô thường, tất cả đều khổ, tất cả đều không, tất cả vô ngã. Ðó gọi là chẳng liễu nghĩa. Vì sao vậy? Vì chẳng thể liễu ngộ nghĩa như vậy nên khiến cho các chúng sinh đọa vào địa ngục A tỳ. Sở dĩ vì sao? Vì thủ trước nên đối với nghĩa chẳng rõ. Tất cả đốt cháy là Như Lai nói Niết bàn cũng đốt cháy. Tất cả vô thường thì Niết Bàn cũng vô thường. Khổ, Không, Vô ngã cũng lại như vậy. Vậy nên gọi là chẳng liễu nghĩa Kinh, chẳng nên y chỉ. Này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, Như Lai thương xót tất cả chúng sinh, khéo biết lúc tùy nghi. Do biết lúc tùy nghi nên ngài nói khinh là trọng, nói trọng là khinh. Ðức Như Lai quan sát biết đệ tử của mình, có những đàn việt cung cấp những điều cần dùng, khiến cho không thiếu thốn. Những người như vậy thì đức Phật cho phép nhận nuôi nô tỳ, vàng bạc, của báu, buôn bán, trao đổi những vật bất tịnh.v.v… Nếu các đệ tử không có đàn việt cung cấp những sự cần dùng thì đời đói kém, đồ ăn thức uống khó được. Vì muốn kiến lập hộ trì chánh pháp nên ta cho phép đệ tử nhận nuôi nô tỳ, vàng bạc, xa cộ, điền trạch, lúa gạo, buôn bán những điều cần dùng. Tuy ta cho phép nhận nuôi những vật như vậy, nhưng phải là hạng đàn việt tịnh thí, dốc lòng tin. Bốn pháp như vậy là chỗ nên y chỉ. Nếu có giới luật A Tỳ Ðàm Tu Ða La chẳng trái với bốn pháp này thì cũng nên y chỉ. Nếu có người nói rằng, có lúc hay chẳng phải lúc có thể hộ pháp hay chẳng thể hộ pháp, đức Như Lai đều cho phép tất cả Tỳ kheo nhận nuôi những vật bất tịnh như vậy thì lời nói như thế chẳng nên y chỉ. Nếu trong giới luật A Tỳ Ðàm Tu Ða La có điều đồng với lời nói đó thì ba phần như vậy cũng chẳng nên y chỉ. Ta vì các chúng sinh mắt thịt mà nói bốn y chỉ này, nhất định chẳng vì kẻ có tuệ nhãn. Vậy nên ta nay nói bốn y chỉ đó. Pháp tức là pháp tánh, Nghĩa tức là Như Lai thường trụ bất biến, Trí là biết tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Liễu nghĩa là liễu đạt tất cả Kinh điển Ðại Thừa.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN

– Quyển thứ sáu hết –

    Xem thêm:

  • Kinh Trung A-Hàm – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 4 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 3 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 2 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường A-Hàm Phần 1 – HT Thích Tuệ Sĩ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức – Tuệ Nhuận dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Tinh Xá Đầu Voi – Thích Nữ Tuệ Thành dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Bảy Giấc Mộng Của A Nan – Thích Nữ Tuệ Thành dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết – HT Thích Tuệ Sỹ dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn – Thích Trí Tịnh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh A Nan Vấn Phật Sự Cát Hung – Thích Nữ Tuệ Thành dịch - Kinh Tạng
  • Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp Tu Dược Sư - Kinh Tạng
  • Kinh Bách Dụ – Thích Tâm Châu dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Văn Thù Sư Lợi Bát Niết Bàn – Thích Nữ Thành Thông dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Văn Thù Sư Lợi Bát Niết Bàn – Huyền Thanh dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – HT Thích Minh Châu dịch (Trọn bộ) - Kinh Tạng
  • Kinh Khai Giác Tự Tánh Bát Nhã Ba La Mật Đa - Kinh Tạng
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn – Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến dịch - Kinh Tạng
  • Kinh Phật Dạy Tu Tập Mười Nghiệp Lành - Kinh Tạng